Ngày nào cũng vậy, từ mờ sáng, những chiếc thám thính Morane và những phi đội oanh tạc B. 26 nối tiếp nhau bay lên quần đảo trên khắp thung lũng Mường Thanh. Tiếng gầm vang không ngớt làm cho bầu trời Điện Biên luôn luôn như sôi lên, quay vòng, rạn nứt. Chốc chốc, một loạt bom lại nổ rung chuyển từ tây sang đông. Những loạt trọng pháo 105 ly, 155 ly cũng luôn luôn dựng lửa trên hầu khắp các cửa rừng, khe suối bốn chung quanh cánh đồng, tạo nên không biết bao nhiêu “cửa tử” nhằm ngăn chặn không cho quân ta từ trên các triền núi ở phía đông và cả ở phía tây tràn xuống.
Trong một căn hầm khá kiên cố đào sâu vào vách núi, phía trước còn có cả một bức tường bằng các thân gỗ lớn ghép lại, đổ đầy đất, để che chắn, Hồng Đăng, một trong các cán bộ cao cấp của hậu cần chiến dịch, đang bồn chồn trước một chiếc bàn làm bằng tre nứa, trên có đặt mấy chiếc máy điện thoại dã chiến. Trong khi đó, ngồi trước mặt anh, trên một chiếc ghế bằng các chạc cây ghép lại sơ sài, một người Âu lại tỏ ra hết sức hào hứng, sôi nổi, như còn muốn được nói thêm nhiều chuyện nữa. Đó là Léon phóng viên một tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp vừa mới sang ta. Cũng dép lốp, cũng áo trấn thủ, cũng mũ nan tre, chàng phóng viên ngoại quốc này đã tỏ ra thích thú với trang phục này, mà anh nói là “đẹp nhất thế giới” xét về giá trị tinh thần và đạo lý.
Sau khi gặp được đồng chí Ngọc (Võ Nguyên Giáp), Tổng chỉ huy mặt trận, và làm việc với cơ quan tham mưu mặt trận, hôm nay, Léon tới cơ quan hậu cần để lấy tài liệu. Vì màn 2 chiến dịch sắp mở, đồng chí chủ nhiệm cùng các phó chủ nhiệm đều đi xuống các cơ sở hết, chỉ có Hồng Đăng ở nhà tiếp Léon. Nhưng chính Hồng Đăng cũng có kế hoạch sáng nay đi xuống các kho vũ khí và lương thực ở phía tây mặt trận. Ngoài ra, trong chuyến đi này, anh còn có cả một việc riêng. Hồng Đăng đã gắng làm việc rất nhanh với Léon để đi được sớm. Anh biết đi càng muộn, càng dễ bị máy bay làm rầy rà ở dọc đường. Câu chuyện coi như đã xong, anh đã cung cấp cho Léon nhiều con số to lớn, cụ thể và cả một vài mẩu chuyện có tính điển hình cho sự hy sinh, kể cả trí sáng tạo của anh chị em cán bộ hậu cần cùng dân công các miến, các giới. Vậy mà Léon vẫn chưa chịu đi cho. Anh hào hứng thực sự, đến mức như mê say:
- ... Tôi hiểu, đồng chí ạ, đây là chiến dịch vĩ đại nhất Đông Dương hiện nay. Vậy mà có một số bạn tôi vẫn cứ băn khoăn chưa thật rõ lắm. Họ cứ hỏi: vì sao có Điện Biên Phủ? Tại sao đôi bên lại kéo nhau hết lên khu vực núi non xa xôi này mà đánh nhau? Đúng là họ đã chưa nhìn thấy rõ toàn cuộc: Pháp đã kiệt sức, không thể kéo dài cuộc chiến này nữa, còn đánh còn thua, chính hai phái đoàn của chính phủ Laniél được phái sang Việt Nam thị sát trở về đã cùng thống nhất nhận định như vậy, chứ không phải ai khác. Do đó, tướng Navarre mới được cử sang Việt Nam. Mà thực chất là để chấm dứt chiến tranh, nhưng trên thế mạnh. Để làm được việc đó, tướng Navarre chủ trương trước hết năm nay tập trung lực lượng quét sạch miền Nam Việt Nam đã. Bắc Bộ thì cầm cự, cố giữ vững. Sang năm mới là Bắc Bộ. Nhưng thu đông này phát hiện thấy các đồng chí đưa chủ lực lên Tây Bắc định đánh Lai Châu, và có thể cả Thượng Lào, Navarre bèn cho rút Lai Châu, vì lượng sức ở đó không cự nổi. Và tương kế tựu kế, ông ta cũng tập trung quân luôn ở đó, và đưa thêm chủ lực lên, lập thành cái tập đoàn cứ điểm này, mà ông ta cho sẽ là cái bẫy, thu hút chủ lực Việt Nam để tiêu diệt. Nhưng sự thể ra sao, chúng ta biết cả rồi: ông ta đã sai lầm chết người...
Từ hai năm nay lên làm cán bộ cấp cao trên Tổng cục Hậu cần, Hồng Đăng đã quá quen với những bản tổng kết, những nhận định có tính chiến lược, kể cả quen nghe những lời ca ngợi, cho nên lúc này anh không chú ý và “sướng tai” bởi những lời ca ngợi sôi nổi của Léon. Anh vẫn bồn chồn vì máy bay địch quần mỗi lúc một nhiều hơn, khi xa, khi gần. Cũng may, Léon đã đứng dậy ra về. Hồng Đăng thở trút. Khoác tấm vải dù lên vai, xốc lại khẩu côn bạt bên hông, anh ra khỏi hầm. Được mấy bước, đã thấy Mạn, anh chiến sĩ cần vụ lớn tuổi, đang ngồi dưới một gốc cây với một chiếc ba lô đồ sộ đang đựng quần áo của Mạn thì ít mà của Hồng Đăng thì chiếm gần hết. Đã quá nhiều quần áo chăn màn, chiếc ba lô còn phải đèo thêm ở chung quanh lủng lẳng đủ thứ: xoong nồi để nấu riêng cho Hồng Đăng ăn, đèn bão cho Hồng Đăng làm việc, cuốc xẻng để đào công sự cho Hồng Đăng trú ẩn, kể cả mấy chai rượu Tây chiến lợi phẩm để cho Hồng Đăng uống giải buồn hoặc tiếp các bạn hẩu. Và không thể thiếu hộp thịt kho tàu là món anh rất thích.
Quay lại, nom thấy Hồng Đăng, bộ mặt đang buồn thiu của Mạn chảy xị xuống:
- Sao mà lâu thế, Ban chỉ huy?
Đã quá thuộc tính nhau. Hồng Đăng biết Mạn thi thoảng thích được gắt “Ban chỉ huy” của mình một tí, nhưng đó là biểu hiện của lòng yêu thương vô bờ bến và đó cũng là sự biểu lộ niềm sung sướng của người nông dân chất phác khi đã biết mình được cấp trên rất tin cậy.
- Ta đi thôi ông Mạn! - Hồng Đăng tươi cười.
- Chờ đến sốt cả ruột! - Mạn vẫn còn cằn nhằn như một đứa con làm nũng mẹ.
- Chà, chà, cái “ông Tây” này ngồi có khí dai! - Hồng Đăng vui đùa.
- Chưa chiến dịch nào em thấy có Tây dân chủ đi với mình như lần này. Dễ có đến chục ông chứ không ít, Ban chỉ huy nhỉ? - Mạn vui vui nói theo.
- Ừ, tám tay. Nhà báo có, quay phim, chụp ảnh có, nhà văn có. Đủ. Chỉ vất vả cho tớ, trên giao cho tớ phải lo ăn, lo ở cho họ. Mà cậu biết đấy: đến cái hố ỉa, tớ cũng phải chỉ đạo. Tây họ có ỉa như ta đâu...
Tuy Mạn lớn tuổi hơn, nhưng Hồng Đăng vẫn cứ cậu cậu tớ tớ, cũng giống như nhiều cán bộ lớn nhỏ khác cho thế là “bình dân”, là “thân mật”, thậm chí có ông còn khái quát lên một cách lý luận: “cách xưng hô ấy biểu thị một mối quan hệ rất dân chủ trong quân đội ta!”.
Hai thầy trò theo một lối mòn ngoắt ngoéo, dần dần đi ra tới một con đường mòn lớn hơn có nhiều nhánh tỏa đi các ngả. Hai người rẽ vào con đường đi sang cánh tây mặt trận, cũng có nghĩa là cả sườn phía tây của cánh đồng Mường Thanh. Tuy đi trong rừng, nhưng thường đi trên các sườn núi cao, và thi thoảng lại gặp một cánh rừng thưa, hoặc rừng mới bị bom, pháo của địch quần nát, xơ xác, nên Hồng Đăng và Mạn vẫn có thể nhìn thấy cánh đồng Mường Thanh mờ xa. Nhiều lúc Hồng Đăng dừng lại, dùng ống nhòm để nhìn. Cánh đồng quả là mênh mông, không thể thấy rõ được các căn cứ, trận địa của địch đã như nấm độc mọc chi chít, dày đặc hai bên bờ sông Nậm Rốm. Chỉ có thể thấy rõ hơn những quả đồi nối liền nhau san sát bên kia sông Nậm Rốm, đỏ loét như cả một bầy voi khổng lồ bị lột hết da. Đó là dãy đổi ở khu đông Mường Thanh mà Bộ chỉ huy mặt trận đã gọi là “cái xương sống” của Điện Biên Phủ, cũng như đã gọi sân bay ở cánh đồng phía tây này là “dạ dày của tập đoàn cứ điểm”. Nếu đánh gãy được cái xương sống ấy, và cắt đứt được cái “dạ dày” ấy thì tập đoàn cứ điểm của địch sẽ sụp đổ hoàn toàn... Cánh đồng Mường Thanh kia. Nhìn càng xa, nó càng mờ mờ sương khói. Nếu không có những chiếc máy bay đang gầm gào ở trên không thì khó có ai nghĩ hơn một vạn quân thù đang tập trung ở đó. Khó có ai có thể nghĩ: cánh đồng bao la, xanh biếc tuyệt đẹp kia đang trở thành biển lửa, biển máu.
Chiếu cố cho người cần vụ mẫn cán, trung thành, Hồng Đăng thi thoảng lại trao ống nhòm cho Mạn coi. Mạn như vồ lấy, hết nhìn trái, nhìn phải lại nhìn trên, nhìn xuống dưới, rồi nhe hàm răng ám khói thuốc lào cười khoan khoái:
- Năm quả đồi ở khu đông thì nom rõ rồi, dưng mà còn cái sân bay của nó đâu. Ban chỉ huy nhỉ? Trên bảo nó sẽ là cái đinh, cái huyệt của mặt trận phía tây phải không, Ban chỉ huy?
- Nó ở giữa cánh đồng kia kìa! Tuy vậy ta ở xa, trên dưới bốn cây số, ống nhòm ở đây cũng không nhìn rõ dược, vì còn có cả sương mù nữa.
- Mẹ kiếp, chỉ có mỗi cái sân bay này, bao giờ mà quân ta phăng teo được thì cha con nhà nó chết ráo cả, Ban chỉ huy nhỉ?
Hồng Đăng cười:
- Cậu cũng hiểu thế hả? Nhưng cũng phải nói cho rõ: cả cái khu đồi phía đông kia nữa, phải đập cho bằng được...
Mạn sung sướng gật đầu lia lịa:
- Vâng, đúng thế, đúng thế!
Hai thầy trò tiếp tục đi. Một quãng đường lầy lội hiện ra phía trước. Dân công, bộ đội đi lại nhiều chỗ này bùn nước sâu tới quá mắt cá chân, thậm chí có đoạn còn ngập tới bắp chân. Hồng Đăng dừng lại, ngần ngại liếc nhìn xuống đôi giày da cao cổ chiến lợi phẩm của mình. Đôi giày còn khá mới và được gìn giữ khá sạch sẽ. Trong lúc đó, Mạn cúi xuống loay hoay xắn quần lên tới sát bẹn. Hồng Đăng bỗng cất tiếng gọi:
- Mạn, ông cõng hộ mình một tí nhá!
Mạn liếc nhìn xuống đôi giày của Hồng Đăng, đoạn lặng lẽ trút chiếc ba lô đồ sộ xuống, ngoan ngoãn bước tới trước mặt Hồng Đăng. Anh khom mình xuống, chống hai tay vào hai đầu gối cho vững. Hồng Đăng tươi cười nhảy lên tấm lưng còn đang đẫm mồ hôi của anh cần vụ, và dang rộng hai chân, đưa thẳng về phía trước. Mạn quài hai tay ra phía sau, ôm lấy hai vế đùi to và còn rắn chắc của anh, cẩn thận nhắc:
- Ban chỉ huy bám chắc vào đấy nhá!
- Cứ yên trí! Có ngã, tớ sẽ ngã trước.
- Nào!
Mạn nói to một tiếng lấy đà bắt đầu bước loạng choạng xuống bùn. Hồng Đăng to lớn, Mạn lại thấp bé thành ra trông giống như một con chuột đang cõng một con mèo. Dân công, bộ đội đi công tác ai nấy đều che miệng trước cảnh tượng khá bất ngờ và độc đáo ấy. Mạn vừa thở phì phò vừa nặng nhọc rút từng bàn chân ra khỏi bùn. Anh không lo mình ngã mà chỉ lo mình làm ngã cấp trên. Tất nhiên, anh chẳng thú gì cái công việc phục dịch như thế này, nhưng anh cứ nghĩ đây là bổn phận tất nhiên mình phải làm. Trong khối óc thuần phác của anh chỉ hơi vẩn lên một chút băn khoăn: cách đây hơn hai năm, khi Hồng Đăng còn ở dưới đơn vị chiến đấu, Mạn đã là cần vụ cho anh, nhưng sao hồi đó Hồng Đăng nhanh nhẹn và xuề xòa đến thế. Qua các chiến dịch, gặp phải những đoạn đường như thế này, thậm chí còn tồi tệ hơn, anh cứ xông băng băng, chân bước miệng nói: “Khẩn trương lên các cậu!”. Hồi đó anh cũng đã thích đi giày cao cổ Mỹ như thế này. Bây giờ anh có phần giữ gìn quá. Nhưng có lẽ cấp cao thì phải như thế chăng? Giữ gìn cả trong ăn uống, không ào ào như trước. Bây giờ cái tăm vót không kỹ, có khi cũng bị cự nự. Quần áo giặt còn sót vết bẩn thì bị “cạo” thẳng thừng... Hay là do có vợ rồi, thì phải thế? Nhưng cô Nguyệt Lệ lại là người hết sức giản dị. Mạn đã nhiều lần nghe thấy cô bảo Hồng Đăng: “Thôi, phiên phiến thôi chứ”. Và mỗi khi về cơ quan gặp chồng vài ngày, thấy Mạn phải quét dọn, giặt giũ, nấu nướng quá vất vả, cô rất thương, đã bảo riêng: “Anh liệu mà làm thôi, cái gì anh ấy nhà tôi có thể làm được cứ để anh ấy tự làm lấy”. Quả thật cũng có lúc tủi thân và đôi khi bực bội, nhưng vốn tính dễ dãi, hồn nhiên, anh lại thường thầm an ủi mình: “Cấp trên ai mà chẳng vậy?”. Rồi lại vui lên, anh tự đùa: “Ấy, không biết chừng mai sau mình cũng được làm cấp trên, khéo mình còn bằng bốn anh ấy”.
Vượt được đoạn đường lầy, hai thầy trò lại vui vẻ đi tiếp. Tới một khu rừng thưa, bỗng thấy mùi na-pan. Hồng Đăng chăm chú quan sát, vẻ mặt trở nên lo lắng:
- Này, cẩn thận đấy nhá! Chỗ này nó hay ném bom đấy!
Anh vừa nói dứt câu thì tiếng máy bay rú lên như ma như quỷ ào tới.
- Mạn!...
Hồng Đăng vừa kịp gọi to một tiếng thì hai trái bom đã rít lên rồi nổ bùng ở gần ngay đó. Hai trái bom đào, chứ không phải na-pan. Trời, đất, rừng cây như tan tành trong khói lửa và những mảnh gang kinh hồn cùng sóng xung kích như bốc cả những gốc cây quăng đi xa... Cũng rất may, cả hai thầy trò đã kịp cùng lăn xuống một khe suối nhỏ. Họ chỉ bị một “cơn hồng thủy” đất đá và cành cây trào qua làm tối tăm cả mặt mũi, bị nâng cao lên khỏi mặt đất và ném xuống tức rực. Hai chiếc máy bay đã đi xa. Khói bom cũng tan dần. Mạn lồm cồm bò dậy. Việc trước tiên là anh nhớn nhác tìm Hồng Đăng. Anh hãi hùng muốn kêu lên khi nhìn sang bên cạnh không thấy Ban chỉ huy của mình đâu. Không kịp giũ đất cát trên đầu, trên cổ, cũng không kịp nhìn xem mình có bị dính mảnh nào không, Mạn vùng chạy lên một chỗ đất cao, gọi to:
- Ban chỉ huy! Ban chỉ huy! - Anh gọi mà như khóc.
Mạn gọi tới lần thứ ba mới thấy Hồng Đăng ở dưới khe bò lên, áo quần đầy đất cát, chiếc mũ bê-rê quen thuộc đã bay đi đâu mất. Anh bước đi thất thểu, vai như lệch hẳn về một bên, miệng há ra. Đang lúc còn bàng hoàng, nhưng nom thấy Hồng Đăng như thế, Mạn không khỏi bật cười. Quả thật nom anh buồn cười quá, Mạn phải cố che miệng lại:
- Ban chỉ huy ở đâu thế, em tìm mãi chẳng thấy?
Hồng Đăng vẫn còn thở hổn hển:
-Tớ lăn đi một quãng, xuống được một chỗ thấp và kín hơn...
Đến lúc ấy, Mạn hết buồn cười, chỉ còn thấy vô cùng xót xa cho cấp trên của mình. Hồng Đăng có vẻ quá mệt và cả quá sợ nữa. Mạn bảo anh ngồi xuống để mình phủi quần phủi áo cho, nhưng Hồng Đăng xua tay, giục:
- Thôi, đi mau! Đi mau khỏi chỗ này ngay! Nhỡ nó quay lại thì khốn.
Mạn lại còng lưng thồ chiếc ba lô đồ sộ, cầm cây tiểu liên, và lần này thì anh đi trước. Vừa đi anh vừa thầm ái ngại cho cấp trên của mình bị một hôm “xuất hành” không may. Tuy nhiên, trong góc sâu kín của lòng anh, dù đó là một tấm lòng đơn giản ngây thơ, cũng lại thấp thoáng nổi lên một nỗi băn khoăn: Trước đây, hồi còn ở đơn vị, anh ấy thường rất bình tĩnh dù có khi bom pháo còn gấp mấy... Thế mới biết bây giờ cái câu “Thân trọng thiên kim” là có thật. Bây giờ Mạn mới thật thông cảm vì sao giờ đây Hồng Đăng thường ngại xuống các đơn vị. Ngồi ở hậu cứ nhiều và có điều kiện tẩm bổ, Hồng Đăng càng ngày càng béo đẹp ra.
Qua một quãng đường nữa. Dân công, bộ đội càng tấp nập. Dân công gồng gánh, tải gạo, đạn. Bộ đội đủ loại: anh đi công tác lẻ, toán rải dây thông tin. Lại có anh chăn cả một đàn lợn. Những con lợn khá béo tốt, có con cũng bị thương vì bom đạn, được băng bó như người. Đó là những con lợn không hiểu đã được “quân ta” huấn luyện thế nào mà tinh khôn như chó. Anh chăn lợn hô nằm là nằm, hô tiến là tiến, hô chạy là chạy, rẽ trái là rẽ trái, rẽ phải là rẽ phải... Mạn thú quá cứ cười nghiêng cười ngả. Riêng Hồng Đăng vẫn chưa hoàn toàn hết bàng hoàng vì trận bom. Màn 1 chiến dịch đã qua, bây giờ màn 2 chiến dịch chưa mở, mà bọn Pháp đã phản ứng ngày đêm bằng phi pháo kinh hồn thế này, mặc dầu cao xạ của ta đã vào được cánh đồng. Màn 2 bắt đầu thì sự ác liệt không rõ sẽ còn tới mức nào, một khi quân ta bắt đầu phải rời rừng núi đánh xuống đồng bằng trống trải ở phía tây này, và “húc” vào cả một loạt ngọn đổi hiểm yếu ở phía đông bên kia tả ngạn sông Nậm Rốm? Khi ấy, tất nhiên Hồng Đăng cũng phải bám theo các đơn vị xuống đồng bằng. Ngồi mãi trong hầm trên núi sao được?
Hồng Đăng cứ loanh quanh mãi với những ý nghĩ rối rắm nặng nề, cho tới khi nhìn thấy một tấm biển gỗ có vẽ mũi tên chỉ rẽ trái với một ký hiệu “QY10”, anh mới như choàng tỉnh và thoắt vui vẻ hẳn lên.
- Mạn ơi, ta dừng lại đã!
Anh cần vụ vẫn đang cắm đầu cắm cổ thồ ba lô đi trước, ngơ ngác quay lại.
Hồng Đăng đang giũ áo, phủi quần, vuốt lại tóc, tươi cười:
- Ta rẽ vào đây một chút cậu ạ!
- Đây là đâu, Ban chỉ huy?
- Quân y tiền phương.
Nhìn vào cặp mắt ngạc nhiên, thoáng cả vẻ nghi hoặc của anh cần vụ, Hồng Đăng thân mật giải thích:
- Tớ muốn tranh thủ vào thăm anh em thương binh một chút, cậu ạ! Đi ngang qua đây mà không vào thăm anh em một tý, áy náy lắm.
Mạn vẫn đứng im, không đáp lại. À, thì ra thế! Ông ấy vào thăm thương binh. Nhưng có thật không, hay là thăm ai? Người ta đồn rằng ông ấy đang “dăng dện” với một cô bác sĩ nào đó bên quân y. Khéo cô ta ở đây, và hai bên đã có hò hẹn nhau cũng nên.
- Đi Mạn, nào, ta đi! Từ đây xuống tổng kho cánh tây cũng không còn xa nữa. Không sợ tối đâu.
Vốn đã quen tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, cuối cùng Mạn chỉ còn biết lặng lẽ xốc ba lô, đi theo Hồng Đăng, rẽ vào một lối mòn, đi sâu mãi vào những khe núi phía trong. Mạn lại thầm nghĩ: khổ cho cô Nguyệt Lệ, cô mà biết chuyện này, cô còn buồn tới đâu. Chỉ nguyên những chuyện về ý ăn ý ở thường ngày cô đã không vui rồi. Còn nhớ không ít lần hai vợ chồng gặp nhau ở cơ quan, không rõ va chạm gì mà Nguyệt Lệ thường bỏ ra về rất sớm. Còn những khi cô về chỗ ở riêng của Hồng Đăng, coi như nhà riêng, Mạn cũng đã thấy nhiều khi cô khóc thầm sau những cuộc cãi cọ mà Mạn không được hiểu rõ. Thấy vậy, bây giờ mà cô ấy còn biết cả chuyện này nữa thì không hiểu rồi sẽ ra sao?
Lát sau, hai thầy trò tới trạm gác đầu tiên. Hồng Đăng bảo Mạn ngồi chờ. Mạn lặng lẽ trút ba lô xuống.
Hồng Đăng đi như gió lướt. Càng vào rừng càng rậm hơn, nhưng cũng nhiều lán trại hơn, những lán trại khá lớn có hàng có lối. Cũng thấp thoáng những tà áo trắng, không khí phảng phất mùi ê-te và cả mùi mủ máu...
- Anh Hồng Đăng!
Một tiếng reo lanh lảnh. Hồng Đăng cũng gần như reo to:
- Kim Oanh!
Từ phía trước, một bóng áo trắng đang như bay lại. Không phải là một chiếc áo trắng nữa mà là một bộ ngực cao vút, nở căng tràn đầy sinh lực đang lao lại phía anh, cùng một cặp mắt long lanh rực sáng, đầy đam mê...
Hai người gần như ôm choàng lấy nhau.
- Ôi, em cứ mong anh mãi. Em đã nhắn tới ba lần...
- Có! Có, anh biết cả. Nhưng lắm việc quá, hôm nay mới đi được...
- Việc! Việc! Lúc nào cũng việc! Còn em thì chỉ là cục đất hả?
Kim Oanh vừa nũng nịu nói, vừa uốn éo, đung đưa tấm thân đầy khêu gợi. Hồng Đăng nhìn quanh:
- Bây giờ ta... vào viện, hay đi đâu ngồi nói chuyện em?
Đôi mắt lúng liếng, Kim Oanh cầm lấy tay anh:
- Thôi, khỏi vào viện. Ta ra chơi ở con suối mà em vẫn thường ra tắm. Xa một tí, nhưng chỗ ấy đẹp lắm anh ơi.
Hồng Đăng đùa:
- Em tắm có đứa nào nhìn trộm không đấy?
Kim Oanh véo một cái vào sườn anh:
- Cái anh này!... Chỗ ấy kín, lại chưa có đứa nào trong viện biết mà mò tới.
- Thế thì ta đi!
Vừa đi, Kim Oanh vừa nhún nhẩy:
- Anh có biết em nhớ anh đến thế nào không?
Hồng Đăng cũng không kém ga-lăng, mỉm cười đáp lại bằng một giọng êm như nhung:
- Chắc chắn không thể nào hơn được với nỗi nhớ của anh...
- Xạo! Anh chỉ nhớ bà vợ “nữ hoàng thầm lặng”, vừa quyến rũ vừa bướng bỉnh của anh thôi.
- Bậy nào!
- Thế sao anh không lôi bà ấy cùng đi chiến dịch cho vui?
- Cô ấy còn đang mải đọc sách ở căn cứ địa Thái Nguyên. Mà dù cô ấy có thích đi anh cũng bảo cô ấy ở lại. Vì ở chiến dịch này đã có em là quá đủ hạnh phúc đối với anh rồi. Không ai được quấy phá hạnh phúc ấy.
- Lại xạo!
Con suối quả là kín đáo và cảnh cũng khá đẹp. Hai người cùng ngồi xuống một vạt cỏ. Sát phía sau họ là một lùm cây rậm. Vừa ngồi xuống, bốn cánh tay đã ngay tức khắc cùng như bốn con rắn quấn chặt lấy nhau, và hai cặp môi cùng tìm nhau mút chặt...
Một cánh tay của Hồng Đăng rời khỏi tấm thân nóng bỏng những thèm muốn của Kim Oanh. Bàn tay anh hấp tấp luồn vào dưới các làn áo, rồi ngược nhanh lên, xoa tròn trên hai bầu vú rắn căng đang như rung lên và trào ra những khoái cảm.
Hai cánh tay Kim Oanh cũng từ từ buông rời. Cặp mắt nhỏ, dài từ từ khép lại, và tấm thân bốc lửa cũng từ từ nằm ngả ra trên bãi cỏ...
Kim Oanh là bác sĩ khoa gây mê hồi sức của viện. Cô là một trong số khá đông bác sĩ ở đây chưa có chồng hoặc chưa có vợ. Nhưng cô là người được chú ý nhiều hơn cả. Cô không đẹp lắm, nhưng vì có một tấm thân với bộ ngực tuyệt vời, một tấm thân mà dường như bất cứ người đàn ông nào đứng trước cũng gần như bị điện giật. Với tấm thân đầy khêu gợi ấy, lại thêm tính táo bạo và sự đam mê, cô đã làm cho nhiều anh liêu xiêu. Tuy vậy không phải bất cứ người đàn ông nào cô cũng có thể dễ dàng chấp nhận hoặc chấp nhận lâu dài. Đã đành phải là những chàng trai cường tráng đủ sức đáp ứng, chưa nói tới thỏa mãn những đòi hỏi mãnh liệt của cô. Nhưng dẫu sao cô vẫn thích những chàng trai có văn hóa và biết chiều nịnh, nếu biết cả những ngón chơi và có bản lĩnh không sợ mọi tai tiếng, lại có nhiều tiền nữa thì càng tuyệt.
Nghe nói, Kim Oanh đã từng yêu một anh đại đội trưởng cực kỳ khỏe mạnh, gân guốc, đen bóng, mà cô vẫn thường gọi yêu là “Chàng mọi đen của tôi”. Nhưng rồi cô đã bỏ anh khá nhanh. “Anh ta chỉ có những bắp thịt vô giá, nhưng cái đầu thì rỗng tuếch”. Người tình thứ hai của cô là một bác sĩ dân y. Cuộc tình này cũng ngắn ngủi, thậm chí còn ngắn hơn cả cuộc trước. “Nom bên ngoài tưởng hùng dũng, vậy mà té ra một tên mới đánh đã phải bỏ chạy!”. Người tình thứ ba là một cậu bé mười sáu tuổi ở một đội văn nghệ. Cậu ta rất xinh trai và đang mơn mởn tuổi phát dục. “Cô ta bế nó lên bụng”. Thiên hạ cười vui nói vậy. Nhưng rồi cậu bé cứ van xin bà chị tha cho, bao nhiêu tháng trời mà không được. Cuối cùng để cứu cậu ta, cấp trên phải điều cậu sang một tỉnh khác. Hồng Đăng là người tình thứ tư và có vẻ là người tình được lâu lâu hơn các anh trước. Hồng Đăng đã có gần đủ mọi ưu thế: sức khỏe, địa vị và cả tiền tài, ngón chiều nịnh phụ nữ cũng tỏ ra là ngưởi khá lão luyện... Biết Hồng Đăng đã có vợ, Kim Oanh vẫn phớt tỉnh: “Ồ, mặc! Ai mạnh thì người đó thắng”. Ngang như cua, lưỡi sắc như dao, cả bệnh viện ai cũng kiêng mặt cô. Nói cho đúng ra ở viện này, cũng như tất cả mọi nơi trên trái đất này, cũng đều có đủ cả thần thánh và ác quỷ, người anh hùng và kẻ hèn mạt, và đã có độc cũng sẽ có cái trị độc. Ở đây không ai dám đụng tới cô chỉ vì cô là con một ông lớn, mà oái oăm thay, một ông lớn đi giảng dạy về đạo đức cách mạng. Ở bệnh viện này, người khổ sở nhất là đồng chí chính ủy viên. Ông gần như võ vàng đi vì phải liên tục làm công tác tư tưởng với Kim Oanh. Nhưng “nước đổ lá khoai hết”. Cô cứ nhơn nhơn. Nhiều khi còn như thách đố cả mọi người, thậm chí giỡn cả với chính ủy: “Nói thật chứ, cuối cùng em là em yêu chính ủy nhất đấy”. Ôi, cái con Thị Mầu...
Trong lùm cây bên bờ suối, hai tấm thân vẫn xoắn chặt lấy nhau, oằn oại và rú rít hồi lâu mới buông nhau ra và cùng ngồi dậy. Hai người nhìn vào mắt nhau cùng cười. Mồ hôi còn đầm đìa, nhưng cả hai khuôn mặt đều rạng rỡ như mặt trời, nụ cười sáng lóa thỏa mãn. Thốt nhiên như có một ánh chớp xanh lướt ngang qua đầu óc Hồng Đăng. Anh thầm nghĩ: “Ôi, Nguyệt Lệ, giá mà em cũng nồng nàn, cũng đam mê như thế này thì có phải là...”. Nhưng Kim Oanh đã cắt đứt ý nghĩ của anh bằng một nụ hôn. Lền này là một nụ hôn cảm ơn, lướt nhanh chứ không phải là những nụ hôn đầy nhục cảm, cháy bỏng lúc trước. Rồi hai người cầm tay nhau cùng đứng dậy, đi trở ra phía trạm gác, nơi người cần vụ trung thành đang bồn chồn, nóng lòng, sốt ruột chờ đợi.
Trước khi chia tay, Hồng Đăng ôm ghì lấy Kim Oanh cho cặp vú nở căng của cô áp chặt vào ngực mình. Anh hôn dài một lần nữa. Bàn tay cô run rẩy, từ từ lần xuống chỗ bụng dưới của anh, làm cho anh suýt tưởng mình không tài nào đi nổi nữa...
Mạn vẫn ngồi đó chờ.
- Gớm, sao mà lâu thế? Thăm gì mà thăm...
Lần này không phải là gắt nhẹ như lúc ra đi, mà là một sự hờn dỗi rõ rệt. Hồng Đăng hết sức làm lành. Giọng anh êm mượt:
- Thông cảm cho mình! Gặp anh em thương binh, xúc động lắm. Không dễ gì mà dứt ra đi được, Mạn ạ!
Thật tuyệt, cũng chỉ cần một câu nói dịu dàng và thái độ biết lỗi như thế là mọi việc xong cả. Mạn lại xốc ba lô lên vai, hăm hở bước trước.
Hồng Đăng vẫn chưa hết lâng lâng, khoan khoái. Anh lại nhớ tới Nguyệt Lệ. Gần như từ khi lấy nhau, Lệ chưa một lần làm cho anh sung sướng, thỏa mãn được đến thế. Không phải chỉ vì cô chưa muốn có con. Không, Hồng Đăng không tin như vậy. Còn những điều khác nữa. Nhưng cô luôn là một người trầm lặng. Nhẹ nhàng cũng thế, mà nổi nóng cũng vậy, cô chỉ im lặng, im lặng lắm lúc như một người xa lạ, không thể chịu nổi.
Vừa chợt ra tới ngã ba có tấm biển chỉ vào quân y viện, Hồng Đăng gặp một nhóm bốn năm người, nhác nom biết ngay là cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị cũng vào trạm. Chắc hẳn họ cũng thăm thương binh, mà là thăm thật. Hồng Đăng nhận ra một người quen: trung đoàn trưởng Lê Thâu ở Đại đoàn cánh tây. Lê Thâu cũng nhận ra Hồng Đăng. Cả hai cùng vui vẻ siết chặt tay nhau.
- Anh bây giờ... đẫy ra đấy - Ông Thâu nói.
- À, vẫn thường thôi. Còn “ông”, xem ra... vất vả tợn hả!
Lê Thâu cười, nụ cười vừa khiêm nhường vừa kiêu hãnh của những người lính chiến. Quả thật ông Thâu dạo này như tóp hẳn đi. Trước đây ông vốn đã không béo tốt, vạm vỡ gì. Lính trung đoàn vẫn đùa: ông không có thớ võ tướng như hai ông trung đoàn trưởng 1 và 3 cũng ở đại đoàn này. Hồng Đăng biết Lê Thâu từ hồi 1947, khi ông còn làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn chủ lực của tỉnh nọ. Dân trong tỉnh đã có câu vè về ông: “Hoan hô bộ đội ông Thâu/ Đánh giặc cũng giỏi mà diệt trâu cũng tài...”.
Số là hồi đó đơn vị ông tác chiến, chống càn cũng khá, nhưng thói tự do cũng ghê, lính thường lén bắn trâu của dân đem về liên hoan rồi đổ cho là “trâu gian” hoặc trâu do Tây bắn chết bỏ lại. Hồi đó ông Thâu như thủ lĩnh cả một vùng, hét ra lửa, đi đâu cũng kiếm Nhật, côn bạt bên hông, ống nhòm trước ngực. Bây giờ về chủ lực, đã đổi khác rất nhiều. Dầu dãi, chiến trận hơn, nói năng cư xử cũng nghiêm ngắn hơn.
- Thế nào, anh xuống với chúng tôi chứ? Lâu tôi không gặp anh.
- Được, để rồi xem! Này, màn 1 “Sông Mã” nó làm cái Him Lam cừ quá, mà “Sông Hồng” các anh làm cái Độc Lập cũng ra trò. Tốt. Nhưng mà này, nghe các anh bên tham mưu mặt trận cho biết đâu như có người bên các anh, tuy vậy vẫn còn chưa thật chịu cách đánh và cả một số điểm về chỉ huy trong trận đó có phải không?
Ông Thâu cười chỉ tay:
- Đây chứ đâu! - Ông quay lại phía một cán bộ trạc hai mươi-hai mươi tám, hơi gày, với bộ áo quần dầu dãi, xộc xệch như không hề bao giờ được chú ý tới, kể cả giặt giũ. Gương mặt cháy nắng hơi tối dưới vành mũ, một chiếc mũ tre y như của chiến sĩ, có bọc vải dù làm anh có vẻ cứng cỏi. Nhất là đôi mắt, đôi mắt màu chì gan góc. Nhưng có lẽ một vết sẹo khá dài ở ngang gò má trái đã làm cho anh thêm vẻ gì đó như hơi dữ dằn nữa.
- Đây là đồng chí Dũng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 của chúng tôi - Ông Thâu giới thiệu.
Hồng Đăng không khỏi chăm chú tới con người này:
- Mấy chiến dịch trước, tôi đã đi với đại đoàn các anh, nhưng không thấy đồng chí này nhỉ?
- À, “ông” này trên bổ sung về cho chúng tôi mới được hơn năm nay.
Vốn người cũng đàng hoàng, e Hồng Đăng có thể nghĩ đây là một anh “sáu chân” (cán bộ văn phòng) mới được hạ phóng, ông Thâu nói rõ thêm:
- Anh này lăn lộn cũng đã nhiều. Đã chiến đấu ở cực Nam Trung Bộ, rồi Tây Nguyên, lại sang cả Lào, gần đây mới trở lại Khu ba thì được Bộ đưa về đại đoàn chúng tôi.
Trong lúc Hồng Đăng và ông Thâu nói về mình, người tiểu đoàn trưởng nọ vẫn nhìn lơ đãng đi nơi khác.
Hồng Đăng cảm thấy mình không bắt tay con người này sẽ có thể bị coi là kém lịch sự. Và thật lạ, khi vừa cầm lấy bàn tay đen đúa và đầy chai sẹo của anh, linh giác của Hồng Đăng bỗng vụt lóe lên rất lạ. Anh nói:
- Tôi muốn sẽ có dịp được nghe ý kiến riêng của đồng chí về các trận trong màn 1.
Dũng bình thản:
- Dạ, thật ra không có gì đáng kể cả.
Khi quay đi được một quãng xa, Dũng mới bỗng bật nói nho nhỏ, giọng anh hơi khàn, có lẽ vì một vết thương nhỏ ở cổ, gần thanh đới:
- Tôi biết ông này.
- Hả? - Ông Thâu ngạc nhiên - Cậu biết ông ta từ hồi nào?
Dũng không đáp, tiếp tục đi. Ông Thâu đã hiểu được phần nào tính nết của anh: rất ít nói, và điều gì anh đã không muốn nói thì cậy răng cũng không nói.