Chỉ mấy ngày sau trận sân bay, đến lượt đồi A1 bị đánh chiếm. Khối bộc phá rất lớn nổ giữa ruột quả đồi như nát ấy đã được dùng làm tín hiệu chung cho đợt tổng công kích cuối cùng.
Trận Điện Biên Phủ toàn thắng. Toàn bộ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm địch cùng trên một nghìn sĩ quan, binh lính còn lại đầu hàng. Cờ trắng mọc khắp khu trung tâm, mảnh đất đẫm máu, cuối cùng Bộ chỉ huy Mặt trận của chúng ta đã trao cho trung đoàn 3 và trung đoàn 2 nhiệm vụ vào tiếp thu trận địa địch.
Đã hai ngày trôi qua mà công việc vẫn ngập đầu. Dũng hết sức mệt mỏi. Tiểu đoàn của anh đã được phân công đảm trách mọi việc ở khu đề kháng Huygette, nơi mà tiểu đoàn cùng trung đoàn và cả đại đoàn cùng lăn lộn chiến đấu ròng rã 55 ngày đêm liên tục. Nào thu bắt tù binh, nào thu gom và cứu chữa thương binh địch, nào tập trung các loại vũ khí lớn nhỏ và đủ các thứ quân trang quân dụng cùng lương thực... Đó là chưa kể tới nhiệm vụ cấp tốc san sửa lại sân bay cho máy bay địch hạ cánh đón nhận thương binh của chúng. Hội nghị Giơ-ne-vơ đang họp. Tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã long trọng tuyên bố: “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho phép chính phủ Pháp được nhận thương binh tại Điện Biên Phủ...”.
Sáng nay, trỗi dậy sau có mấy tiếng đồng hồ chợp mắt dưới một chiếc dù được dựng, căng lên làm mái che. Đây là sở chỉ huy tiểu đoàn. Dũng cho mời cán bộ lên hội ý triển khai công việc trong ngày. Dưới chiếc dù đỏ, mọi người ngồi quây quần chung quanh một chiếc bàn xếp lấy được của dịch, cùng hút thuốc, trò chuyện râm ran, tựa như một đám khách du lịch đang ngồi uống nước trong một chợ phiên kỳ lạ. Bốn chung quanh, đầy dù, dù đỏ, dù xanh, dù trắng, dù vàng... Hầu hết là dù của quân y. Hàng trăm bác sĩ của mặt trận cùng một lực lượng hộ lý, y tá hùng hậu đã được lệnh vào cứu chữa cho thương binh địch để rồi sẽ trao trả. Đúng là một chợ phiên kỳ lạ có một không hai trên một vùng đất mênh mông tàn phá. Tất cả các hầm hố đều đã bị bắn phá sụt lở hoặc san bằng. Dường như không nắp hầm nào còn nguyên vẹn. Ngay cả nóc hầm của De Castries cũng dã bung lên từng mảng. Súng đạn ngổn ngang. Súng trong công sự, súng đầy các chiến hào, súng rơi tung tóe trên khắp mặt đường ngang dọc. Những khẩu 105 ly, 155 ly cái đổ chổng càng, cái vỡ nòng như cuống rau muống chẻ... xe cộ cũng tơi bời. Chỗ này mấy chiếc camion bị đạn nằm gục ngay bên lề đường, chỗ kia một chiếc Jeep tan hết mõm chỉ còn cái khung sau nằm lật ngửa bên những ụ pháo, chỗ nọ một chiếc xe tăng cháy đen như một con voi đồ sộ chết gục cạnh một hàng rào dây thép gai... Quân trang cũng vô kể: Mũ sắt, áo quần, chăn màn, giầy tất... cùng đầy đủ giấy tờ như bươm bướm, tràn ngập khắp nơi. Bước đi một bước là đụng phải không một chiếc ba lô thì cũng một thùng đồ hộp, hoặc một xác lính... Sự bề bộn thật kinh khủng. Nhưng, đối với Dũng và các chiến sĩ, kinh khủng hơn hết là những hố chôn lính tập thể và khu hầm với mấy trăm thương binh nặng, nhẹ. Vừa bước xuống giao thông hào, chưa nói tới chui vào hầm của quân y địch đã muốn lộn mửa vì mùi hôi thối, tanh tưởi. Mùi máu, mùi các vết thương lên mủ thối rữa, mùi cứt đái... Viên Bác sĩ Grawin phụ trách khu quân y địch đã thường xuyên phải cho thắp hương để đỡ mùi uế tạp, nhưng cũng không khắc phục được. Cho tới khi quân ta vào, mùi hương vẫn còn phảng phất, hòa quyện với các mùi xú uế, càng làm cho khu quân y đúng là một địa ngục trần gian...
Cho tới hôm nay việc thu gom thương binh tạm xong, đã chuyển hết bọn chúng vào khu trung tâm để cho các lực lượng quân y ta cứu chữa. Hôm nay, tiểu đoàn bắt đầu bàn tới việc tiếp tục thu gom vũ khí, lương thực địch mà những thứ này còn như núi, có lẽ phải hàng tuần mới có thể tạm vãn.
Mở đầu cuộc hội ý, Dũng mỉm cười tuyên bố:
- Mới cách đây có ít ngày chúng ta có nhiệm vụ phải kiên quyết bằng mọi giá đánh cắt được sân bay. Nhưng hôm nay, đảo ngược lại, chúng ta có nhiệm vụ phải cấp tốc san sửa lại nó để có thể nhanh chóng sử dụng dược.
Tất cả các cán bộ cùng vỗ tay ran. Dũng tiếp:
- Phải cật lực! Cật lực đấy nhá!
- Cật lực! Cật lực!
Các cán bộ lại cùng hô vang. Không khí đầy hào hứng, Dũng chẳng cần phải nói nhiều, ai ai cũng hiểu công việc hôm nay đã khác hôm qua, với một ý nghĩa cao đẹp như thế nào.
Chỉ trong chốc lát, cả tiểu đoàn đã dàn ra trên sân bay. Sau nhiều ngày mưa liên miên, mấy hôm nay nắng ráo. Trời như cũng chiều người. Cánh đồng chan hòa ánh nắng vàng tươi, lấp lánh. Dũng cùng đi với anh em. Ngắm nhìn những người lính cầm xẻng cuốc, giữa ban ngày, dưới nắng ấm, hì hục xúc, đào trên những lớp sóng đất hoặc dưới các hố bom đỏ rực, Dũng không khỏi nhớ tới những đêm đào trận địa vừa qua dưới mưa rơi, pháo sáng và pháo bầy, bom trũi. Cái lao động trong hòa bình khác với cái lao động trong chiến tranh biết bao, như mặt phải khác với mặt trái của một tấm huân chương. Dũng chỉ dẫn cho các đơn vị xong đi ra con mương bên sân bay, nơi cả tiểu đoàn đã mấy ngày đêm giành giật với địch. Anh ngồi bệt xuống những tảng đất lớn. Lại không khỏi nhớ tới Lanh, Niên, Noãn, Quýnh... và tất cả những chiến sỹ mà anh đã quen biết cũng như tất cả những tân binh bổ sung chiều hôm trước mới chỉ kịp nhận rõ mặt, chứ chưa thuộc được tên, tới đêm sau họ đã trở thành tử sĩ. Bây giờ tất cả chỉ còn có mặt đất tan nát, câm lặng. Sự im lặng thật nặng nề. Hồn thiêng có còn ở đây không? Anh em đang thấy gì trong những ngày chiến thắng này? Trước mắt Dũng như hiện ra từng khuôn mặt. Tất cả như đang đứng thành hàng dài, mình mẩy máu me... Họ đang hỏi anh: “Bây giờ anh và đồng đội đang làm gì và mai sau sẽ làm gì trên cánh đồng này, trên đất nước này?...”. Dũng đốt hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác. Miệng anh đắng chát...
Thủy đã ra. Anh đã khỏi hẳn ù tai, con người mảnh mai tươi tắn ấy bây giờ lại như càng tươi tắn hơn. Thủy cho Dũng biết đoàn tù binh sắp bắt đầu rời Mường Thanh. Một sự ham thích tò mò nổi lên, Dũng nói với Thủy:
- Vậy anh ở đây nhá! Tôi chạy vào xem một tí.
Thủy sốt sắng:
- Đi đi.
Dũng chạy như bay vào khu trung tâm. Đoàn tù binh đang bắt đầu lên đường. Ôi chao, sao mà nhiều đến thế! Nhiều quá! Phải tới hàng nghìn. Thành hàng đôi, chúng kéo đi dài dặc, bụi mù. Đủ các sắc lính. Hầu hết là Âu Phi. Suốt tám năm chiến trận, cũng đã từng bắt được tù binh, nhưng quả thật chưa bao giờ Dũng dược chứng kiến một quang cảnh như thế này. Cả một đoàn quân lớn như thế kia mà lại là tù binh! Chúng tiếp tục kéo đi ngang qua trước mặt Dũng, bụi càng bốc cao mù mịt. Không nhìn rõ từng đứa nữa, chỉ còn thấy một hình ảnh như hoàn toàn giống nhau: Mặt mũi võ vàng, râu ria lởm chởm, mệt mỏi, kiệt quệ trong những bộ đồ trận loang lổ dù hoa hoặc vàng khè màu đất, nhàu nát và bẩn thỉu. Đó có lẽ cũng là hình ảnh của chủ nghĩa thực dân già cỗi bại trận.
Một bàn tay nào bỗng đập mạnh vào vai Dũng. Anh quay lại: Hà Giao. Hôm nay Giao mặc một chiếc blouson Mỹ gần như mới nguyên, mang một chiếc dây lưng và một khẩu súng sáu của Mỹ. Thêm một đôi giày da cao cổ có ghệt cũng của Mỹ nốt [1].
- Chào ông! Mình về xuôi đây! - Hà Giao vui vẻ nói, điếu thuốc ngậm lệch ở bên mép.
Dũng nhìn Giao từ đầu tới chân, như chưa hết lạ, Hà Giao đã tiếp:
- Mình được trên cho tham gia ban chỉ huy áp giải tù binh, đưa chúng về Thái Nguyên, Phú Thọ...
À ra thế. Hà Giao chỉ còn thiếu tự giới thiệu thêm: Anh ta đã được dự kiến đưa lên làm tham mưu trưởng trung đoàn, thay cho anh tham mưu trưởng cũ sẽ lên đại đoàn nhận công tác mới.
- Cậu có nhắn gì về dưới ấy không? - Hà Giao vừa hỏi vừa liếc về phía một chiếc Jeep mới được sửa lại, đang đỗ bên đường chờ Giao. Trên xe có hai cán bộ đang ngồi ở băng sau.
388
Một người lạ mặt, còn một người là Bổng. Anh ta đã được trưng dụng lên ban chỉ huy tiếp quản làm trợ lý. Thì ra bây giờ anh ta cũng sắp về xuôi với Hà Giao. Trên xe, chất đầy những két bia rượu và cả những hòm đồ hộp. Bổng quay mặt đi, vờ như không thấy Dũng.
- Mà này, mình báo cho ông biết một chuyện...
Dũng không khỏi chăm chú:
- Gì vậy?
Hà Giao càng hạ thấp giọng hơn và cũng như càng thân mật hơn:
- Mình báo cho ông biết để mà cảnh giác...
- Nhưng mà sao?
Hà Giao gần như ghé hẳn miệng vào tai Dũng:
- Mình vừa được nghe người ta nói là tay Hồng Đăng...
- Hồng Đăng sao?
- Tay ấy đang nói là ông quyến rũ vợ tay ấy và tổ chức cho cô ta đi trốn.
Như có một loạt đạn bắn thẳng vào tai mình, đầu óc Dũng vừa choáng đi vừa như bật bốc lửa. Nhưng anh đã kịp kìm mình, để hỏi lại:
- Nhưng sao có chuyện ấy?
- Nào mình có biết! Chỉ nghe người ta nói vậy.
Rồi có vẻ như đầy cảm thông hoặc độ lượng, Hà Giao lắc đầu:
- Nhưng mình không tin. Vô lý! Phải không ông? Nhưng mà thôi, nói để biết thế, còn vứt cha nó cái chuyện vớ vẩn ấy đi! Bận tâm làm quái gì! Mình đi đây. Hẹn gặp lại ở Thái Nguyên nhé! Sẽ có những “chầu” túy lúy để “báo thù” nhũng ngày vừa qua đấy! Chào!
Nói xong Hà Giao chạy ra xe, nhảy phóc lên, vắt chân, hất hàm với anh chiến sĩ lái:
- Tiến!
Chiếc xe vụt đi, để lại một đám bụi mù. Dũng vẫn đứng đấy như hóa đá. Câu chuyện Hà Giao vừa cho biết có thể là bịa đặt, nhưng có thể là có. Nhưng cơn điên giận đã qua đi khá mau. Anh đã hoàn toàn trở lại bình tĩnh. Lại chỉ thấy thương Nguyệt Lệ. Nguyệt Lệ, em đang ở đâu? Sao em lại hành động như thế? Em còn sống hay không? Cầu mong sao em đừng gặp tai nạn....
Ăn cơm chiều xong, toàn tiểu đoàn chuẩn bị đi xem phim. Đội chiếu phim của Bộ tối nay sẽ chiếu một phim Liên Xô: “Công phá Bá Linh”. Lính hớn hở, nao nức như trẻ em sắp được đi xem hội. Giữa lúc đó, Thủy từ trên trung đoàn trở về, đưa cho Dũng một tấm sơ đồ khái lược có vẽ hai vạch chì đỏ từ khu trung tâm tỏa rộng ra phía Him Lam, bắt vào đường Tuần Giáo - Điện Biên.
- Lệnh: tiểu đoàn ta phải mở thêm hai con đường này, để quân xa của ta vận chuyển các thứ ra được nhanh chóng. Chỉ có một con đường cũ của tụi Pháp, chậm quá - Thủy nói.
Dũng đỡ lấy tấm sơ đồ, xem xong ngẩng lên:
- Chỉ có thế này thôi sao?
Thủy có vẻ không hiểu Dũng định hỏi gì. Dũng tiếp:
- Chỉ có trao nhiệm vụ mà không cho ta một cái gì khác ư? Nhất là bản đồ các bãi mìn. Sau nữa là công binh kỹ thuật tăng cường.
Bấy giờ Thủy mới vỡ nhẽ. Anh lắc đầu:
- Không, thấy chỉ giao có thế.
- Anh có đồng ý với tôi cánh đồng hiện còn đầy mìn không? Chúng ta lại là bộ binh. Nếu không có phương tiện, bản đồ, thì sẽ phải rất lâu đã đành, mà sẽ có thương vong nữa.
Thủy ngẩn người. Dũng quay máy lên trung đoàn. Ông Thâu trực tiếp nói chuyện với anh.
- Báo cáo, tôi đã nhận được nhiệm vụ. Chúng tôi làm sân bay vẫn chưa xong. Anh em rất vất vả. Nhưng cũng không sao. Lính mà! Tuy vậy chúng tôi yêu cầu trung đoàn cho chúng tôi bản đồ bãi mìn của địch....
- Làm gì có!
- Trời, tôi tưởng các anh phải bắt tụi sĩ quan nộp ngay cái ấy rồi chứ?
- Có hỏi. Nhưng tài liệu đã mất sạch vì đạn pháo của ta. Chúng nó không một đứa nào nhớ. Chúng nó xin chịu bắn chết chứ không sao nhớ nổi.
Dũng cắn môi suy nghĩ, rồi lại nói:
- Vậy xin các anh điều cho một chiếc xe tăng còn chạy được xuống chỗ chúng tôi. Phải phá mở các bãi mìn bằng cách ấy mới nhanh và an toàn được.
- Đúng là còn một chiếc xe tăng chạy được. Nhưng đã có kế hoạch ngày mai phải phục vụ quay phim và chụp ảnh.
- Tôi đề nghị hoãn việc ấy lại đã.
- Không được đâu, đã bảo là có kế hoạch rồi.
- Báo cáo, kế hoạch cũng có thể thay đổi chứ!
- Đã bảo không được là không được.
Giọng Dũng bỗng rung lên:
- Hoãn một, hai buổi quay phim, tôi nghĩ sẽ không chết ai. Nhưng không hoãn, không có xe tăng, thì lính sẽ chết.
- Anh nói cái gì vậy?
- Tôi nói là lính sẽ chết thêm. Tôi không muốn lính tôi chết thêm nữa.
- Anh có chấp hành mệnh lệnh hay không đấy? - Ông Thâu như quát lên.
Dũng vẫn không nao núng:
- Chúng tôi chấp hành mệnh lệnh, nhưng chúng tôi cũng được phép yêu cầu cấp trên một số điều tối cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
Thủy lắng nghe cuộc đối thoại dần dần trở thành tranh cãi gay gắt mà thấy ớn lạnh. Anh không nén được tiếng thở dài. Anh đã quá hiểu: như một đôi vợ chồng xung khắc, giữa hai con người này khó có thể chấm dứt hoàn toàn được những cuộc va chạm như thế.
Nhưng rồi Dũng bỏ ống nghe xuống.
- Thế nào? Ý kiến cuối cùng? - Thủy hỏi.
- Ông ấy đã chịu nhận là sẽ báo cáo, thỉnh thị lại cấp trên, sáng mai sẽ trả lời.
Thủy cười nhẹ nhõm:
- Thôi được, vậy ta chờ một tí. Bây giờ đi xem phim đi anh.
Dũng lắc đầu. Anh mệt, không muốn đi. Rủ mãi không được, Thủy đành đưa tiểu đoàn đi.
Chỉ còn mình Dũng ở lại lều dù. Trời cũng đã tối. Ánh đèn điện của khu chiếu bóng và ánh các đèn măng sông ở các dù quân y sáng trưng từ xa xa hắt tới. Lại nhớ đến pháo sáng đèn dù... Đầu óc anh vẫn luôn bị ám ảnh, ám ảnh đến mức như khắc vào, không sao xóa đi được hình ảnh của chiến trận. Tháo bỏ dây lưng và bao súng, cuốn lại, đặt lên chiếc giường khung thu được của địch, rồi tụt đôi giày vải đã gần rách mướp, anh từ từ ngả lưng xuống, đầu gối lên bao súng. Anh kéo mảnh vải dù hoa thường ngày quấn ngang cổ, hoặc trùm sau lưng thay lá ngụy trang, đắp ngang bụng cho đỡ lạnh. Anh mệt mỏi thực sự. Chỉ nằm một lúc, anh đã thiếp đi trong một giấc ngủ mê mệt đầy mộng mị mà hẩu hết lại chỉ thấy những xác chết, và máu me...
Chợt cảm thấy có gì buồn buồn trên mặt, anh choàng tỉnh dậy, vồ vội lấy khẩu súng. Nhưng anh bỗng sững người. Ngồi ở bên mép chiếc giường khung là một cô gái tóc xõa trên vai. Ánh đèn từ xa xa hắt lại, nom rõ một đôi mắt đen lung linh, sâu thẳm.
- Ôi, Nguyệt Lệ!
Không đáp lại tiếng kêu ngạc nhiên và hốt hoảng của Dũng, Nguyệt Lệ sà tới, vươn đôi cánh tay tròn, ấm áp ôm lấy cổ Dũng, rồi đặt lên mặt, lên trán, lên môi anh những nụ hôn như mưa.
Lúng túng mãi Dũng mới gỡ ra được. Anh ngồi dậy. Toàn thân và đầu óc anh vẫn còn bồng bềnh như một con tàu say.
- Nguyệt Lệ sao em lại ở đây?
Ánh đèn xa vẫn chiếu lại. Một hàm răng đều tăm tắp, trắng như ngà hé ra:
- Sao anh lại hỏi vậy? Em đến với anh thế là đủ.
- Nguyệt Lệ, người ta bảo rằng em đã bỏ viện....
- Vâng, em đã bỏ đi.
- Vì sao vậy?
- Thì ra anh vẫn chưa hiểu gì ư? Cũng thật đáng buồn, anh vẫn không thèm hỏi gì dù chỉ một chi tiết nhỏ nhất về em từ khi anh còn nằm điều trị ở viện. Nhưng thôi, không nhắc lại nữa. Rồi anh có dịp hiểu.
- Em bỏ đấy rồi đi đâu?
Nụ cười lại sáng ngời:
- Em tìm đến một kho vũ khí. Ở đó có một vị chỉ huy là dân Tuyên Quang, có biết em. May quá. Em được nhận ở đó, chuyên lau đạn để gửi ra cho các đơn vị...
- Và bây giờ?
- Điện Biên được giải phóng, em tìm về Cục Chính trị Mặt trận. Các anh ấy cho em và hai chị phụ nữ nữa vào đây để làm công tác tiếp nhận... giới đàn bà. Anh buồn cười ư? Nhưng mà có đấy! Một cô y tá: Geveviève De Gala, một số vợ lính Mẹo, một số gái điếm người Việt và Bắc Phi... Sáng nay, cô Geveviève De Gala đã làm đơn gửi qua tụi em lên Bác Hồ xin ân xá. Tin buổi trưa, Bác đã chấp nhận ngày mai hoặc ngày kia nếu sân bay xong, cô ấy sẽ là một trong những người được phóng thích đầu tiên...
Dũng ngắt lời Nguyệt Lệ, dù anh nhận thấy cô rất vui, gương mặt hồng hào, tươi tắn như chưa từng thấy:
- Thôi được, công việc hãy gác đó. Bây giờ muốn hỏi em: bao giờ sẽ gặp lại anh Hồng Đăng? Em không thể xử sự như vậy mãi, cho dù là chuyện gì đi chăng nữa đã xảy ra. Em là vợ anh ấy. Mà là em chắc hiểu: những người vợ Việt Nam...
Có cái gì như vụt tối sầm lại trên gương mặt cô:
- Không! Em không còn là vợ anh ấy nữa.
- Trời! Em nói gì lạ vậy?
- Thật vậy. Pháp luật cũng không cản được em nữa. Mà em tin là pháp luật rồi cũng sẽ ủng hộ em..
Dũng nhìn thẳng vào mắt Lệ:
- Em khác trước nhiều quá. Không thể hiểu nổi nữa...
- Em biết đây chỉ là một cách nói của anh. Em không có gì thay đổi cả. Em chỉ là người không còn cam chịu... nhưng hiểu nghĩa sự đổi thay là như thế, thì đúng như vậy...
- Nguyệt Lệ, liệu anh có thể tin đây là những điều lớn lao, nghiêm chỉnh đã được suy ngẫm thật đầy đủ?...
- Anh hãy tin đi, anh yêu. Anh hãy tin đi! Cuộc đời đã có nhiều thử thách, kể cả khắt khe với anh đã làm cho lòng anh đầy những hoài nghi và chán nản. Nhưng anh hãy tin đi. Vẫn còn ánh sáng trong cuộc sống này, vẫn còn con người để anh tin, yêu, và cả tha thứ. Anh hãy tin, hãy tin em...
Hai cánh tay của cô lại ôm vòng lấy cổ anh, gương mặt cô lại xáp vào mặt anh. Dũng bỗng cảm thấy má mình ướt đẫm. Cô đang khóc. Nước mắt cô trào ra, nóng hổi. Anh hiểu đây có lẽ đây không còn là những giọt nước mắt cay đắng.
- Anh yêu! Em là của anh! Đấy là định mệnh và cũng là chân lý. Em là của anh, của anh. Cho dù Hồng Đăng không một chút xấu xa, em vẫn không còn của anh ấy nữa. Vì cả cuộc đời em chỉ có tình yêu duy nhất, tình yêu mà em từng lầm tưởng là đã bị chôn vùi cùng anh trong lửa đạn...
*
Chiều hôm sau, Dũng ở lại lều một mình. Anh đang lau lại khẩu súng ngắn. Nguyệt Lệ lại bỗng xuất hiện. Dường như vừa chạy một đoạn đường dài, cô thở hổn hển mặt đẫm mồ hôi...
Dũng đứng bật, ngạc nhiên:
- Nguyệt Lệ! Em đi đâu thế này?
- Em đang muốn tránh mặt ông ta.
- Ai? Anh Hồng Đăng ư?
- Vâng. Ông ta đã nom thấy em. Ông ta đang đi tìm...
Dũng lắc đầu.
- Trời ơi, sao lại như vậy? Sao lại như vậy? Sao em lại như vậy? Em nên...
- Không, em không hề sợ gặp ông ta. Em chỉ chán ngấy. Em không muốn gặp lại con người ấy ở đây. Em sẽ chỉ gặp lại ông ấy trước mặt những nhà chức trách lo việc ly hôn. Và khi ấy em sẽ nói tất cả...
- Ông ấy đang tìm?
- Vâng! Nhưng nói rõ hơn ông ấy vừa đi tìm cô Kim Oanh, vừa đi tìm em.
- Em nói sao anh không hiểu?
- Mấy chị cùng đi với em đã gặp ông ta đi tìm Kim Oanh, sau đó lại đi tìm em. Các chị ấy đã gặp ông ta và Kim Oanh trong một căn hầm gần khu quân y...
Dũng lại lắc đầu. Anh càng không thể hiểu ra sao nữa.
- Ông ta sẽ có thể qua đây. Em phải lánh đi đã. Anh hãy đợi em.
Nói đoạn, cô thoắt chạy ra phía sau lều, nơi có những hòm đồ, hòm đạn vứt lổng chổng khá cao, đằng sau đó là một căn hầm nhỏ của địch sụt lở đã bung hết nóc.
Cũng vừa lúc đó, đúng như Nguyệt Lệ đã nói, Hồng Đăng từ phía khu trung tâm chạy lại. Nom thấy Dũng, anh hết sức kinh ngạc. Sững lại trong mấy phút, anh mới tiến lại được, mặt đỏ văng, nước bọt trắng hai bên mép. Dũng sẵn sàng chờ đợi một cơn bão lốc trút xuống. Nhưng, không ngờ, Hồng Đăng lại đưa tay ra bắt tay anh và cất tiếng chào khá tử tế:
- Anh ở đây ư? Anh khỏe chứ anh Dũng?
Dũng nhún mày khẽ gật đầu. Anh chưa thật hiểu con người này đang định làm gì hoặc giở ngón gì đây? Hồng Đăng rụt rè cất tiếng hỏi:
- Xin lỗi, anh có trông thấy... người đàn bà nào chạy qua đây?
Dũng lạnh lùng hỏi lại:
- Anh định hỏi thế nào?
Gương mặt Hồng Đăng trở nên ảo não. Trong ánh mắt của anh ta, Dũng không thể nghi ngờ đó là một sự giả dối.
- Anh Dũng ạ, đó là vợ tôi. Tôi đang tìm cô ấy, thấy đi về phía này. Anh có thấy, làm ơn chỉ giúp.
Rồi như chỉ còn thiếu quỳ xuống, Hồng Đăng tiếp tục hổn hển:
- Anh có thấy, làm ơn chỉ giúp. Tôi thành thật van anh...
Dũng sững sờ. Anh hoàn toàn không ngờ con người đầy kiêu hãnh bây giờ lại thảm hại đến như thế. Anh ta đã như hoàn toàn gục ngã, hoặc đầu hàng. Nhưng thái độ ấy không hề làm cho Dũng cảm thấy kiêu hãnh, cũng không cả ái ngại. Anh chỉ thấy ngạc nhiên. Anh bước ra khỏi lều dù. Không nói gì, cũng chẳng cần hỏi gì thêm, anh giơ tay chỉ về phía những hòm đồ, hòm đạn lổng chổng... Ngón tay anh như tê buốt. Toàn thân anh củng thoắt như tê buốt. Phải chi anh ta nổi xung, tuôn ra những lời thô lỗ, vô lễ, thì có lẽ anh đã xử sự khác, và giây phút này anh đã không đau đớn đến như thế. Nhưng thôi, cũng không sao. Dũng vốn luôn luôn muốn mọi việc trên đời phải sòng phẳng. Anh chịu đau để cho anh ta một cơ hội cuối cùng thử đem hết sức mình níu kéo lại những gì mà anh ta đã mất. Và cũng dành cho cả Nguyệt Lệ một cơ hội, có lẽ cũng cuối cùng, kiểm tra lại chính mình để xem rồi có đứng vững hay không đứng vững, một khi nàng đã muốn đứng dậy...
Anh đi thẳng, không ngoảnh lại. Trên cao, trời Điện Biên đang trong xanh vời vợi. Một vài cụm mây ở các đỉnh núi xa trắng ngần, cao quý.
❀ ❀ ❀
[1] Hồi đó quân Pháp ở Việt Nam dùng hầu hết vũ khí và quân trang do Mỹ viện trợ.