Nam Hải hạm đội của Trung Cộng đảm trách khu vực biển Đông, theo nguyên tắc bao gồm cả khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Đơn vị chủ yếu trú đóng khu vực Quảng Châu, Đam Giang, Du Lâm có khoảng 700 chiến hạm phần lớn là tàu đổ bộ.
Từ khi bình thường hóa quan hệ với Liên Xô, Trung Cộng không còn phải tập trung lực lượng phòng thủ biên giới phía bắc nên đã điều động tăng cường binh lực ở đông và đông nam, chuyển hướng phòng ngự chiến lược từ đất liền sang các hải đảo. Trung Cộng cũng gia tăng quân phí lên một mức đáng kể vì ngoài ngân sách quốc phòng (khoảng 6 tỉ năm 1993), họ còn các lợi tức mà các đơn vị sản xuất của quân đội đem lại, kể cả sản xuất hàng tiêu dùng đến mở khách sạn cho thuê (khoảng 6 tỉ nữa). Việc bán vũ khí cũng đem lại một số tiền đáng kể (vào khoảng 2 tỉ dollar năm 1993). Ngân sách nghiên cứu vũ khí chiến lược lại không nằm trong ngân sách quân sự. Vì thế nếu tính tổng số, người ta ước lượng ngân sách thực sự mà Trung Cộng dùng vào việc quốc phòng phải từ 12 đến 24 tỉ dollar.[1] Quan trọng hơn nữa là giá trị tiêu thụ của đồng dollar ở Trung Hoa cao hơn nhiều so với Mỹ hoặc Nhật (nghĩa là một đồng tại Trung Hoa có thể mua được nhiều gấp năm, gấp sáu lần ở Mỹ) nên sự đầu tư vào binh bị của họ rất đáng kể.
Trong công tác hiện đại hóa quân sự, việc tăng cường sức mạnh hải quân được coi như ưu tiên hàng đầu. Các loại võ khí chiến lược mới, khu trục hạm, và chiến hạm có mang đầu đạn nguyên tử đều nhằm mục đích thao túng và chiếm lĩnh biển Đông.[2] Chủ điểm của họ là tăng cường tính cơ động và tốc độ phản ứng nên sẵn lòng bỏ tiền mua những loại máy bay và tàu chiến. Năm 1995, Trung Cộng đã mua của Liên Xô hai tàu ngầm và vẫn còn đặt mua thêm một số khác. Họ cũng hết sức tìm cách có được hàng không mẫu hạm, không phải chỉ vì tính chất chiến thuật mà coi đó như một biểu trưng của cường quốc trên biển cả. Hồi cuối thập niên 1980, Trung Cộng đã tháo rời một mẫu hạm cũ của Úc bán theo hàng phế thải để học hỏi và nay đang điều đình với hãng Bazan (là hãng Tây Ban Nha đã bán cho Thái Lan một tiểu mẫu hạm hồi tháng giêng 1996). Thế nhưng Trung Cộng muốn tự mình chế tạo hơn là lệ thuộc kỹ thuật vào nước ngoài.[3]
1/ Lực lượng hải quân Trung Cộng tại biển Đông
Biển Đông đối với Trung Cộng là một khu vực quan trọng về mặt chiến lược. Quang Minh Nhật Báo của tỉnh Quảng Đông đã viết như sau:
Vì nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương nên Nam Hải là một vùng chiến lược thiết yếu. Nam Hải là cửa ngõ ra thế giới bên ngoài của lục địa và những đảo ngoài khơi của Trung Quốc. Các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của ta) nằm giữa thủy lộ nối liền Quảng Đông, Manila và Singapore nên vị trí địa lý lại càng cực kỳ quan trọng.[4] Việc chiếm cứ các hòn đảo xa xôi này nhằm 3 mục tiêu chính:
- Yểm trợ các công tác tình báo và thực hiện các dự phóng quân sự trên biển và trên không đối với các khu vực lân cận
- Kiểm soát và yểm trợ ngư nghiệp và các hoạt động gia tăng sản xuất lương thực, khai thác biển cả và thềm lục địa để tìm kiếm khoáng sản và dầu hỏa
- Sử dụng làm những căn cứ để liên lạc, quan sát khí tượng và báo cáo, tiếp cứu trên không và trên biển, kiểm soát ô nhiễm
2/ Thao tác
Hải quân Trung cộng trong những năm gần đây đã chứng tỏ vai trò làm chủ biển Đông của họ bằng những lần thao diễn, một phần chuẩn bị cho việc chiến đấu trên đại dương, mặt khác thị uy với những tiểu quốc. Năm 1980, một lực lượng bao gồm 18 chiến hạm đã thao diễn trên một khu vực 8,000 dặm biển tại Nam Thái Bình Dương, trong đó thí nghiệm các loại hỏa tiễn liên lục địa mà họ mới chế tạo. Paul Kennedy đã tự hỏi là phải chăng đây là lần thứ hai mà Trung Hoa biểu dương lực lượng hải quân kể từ khi hạm đội của Trịnh Hòa diệu võ dương oai hồi thế kỷ thứ 15?[5] Hồi tháng 3 năm 1988, sau cuộc chiến tranh với Việt Nam tại Trường Sa không lâu, tướng Trì Hạo Điền, Tổng tham mưu trưởng Hồng quân, đã cùng một số viên chức cao cấp của Trung Cộng đi quan sát các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong 8 ngày để đưa ra phương lược tại biển Đông. Y ra lệnh cho hải quân Trung Quốc tăng cường phòng thủ và giao trọng trách tiếp ứng cho tỉnh Hải Nam một khi có biến.[6] Sau đây là một số diệu võ dương oai trong vài năm qua.
- 5/93 Sán Đầu (Quảng Châu): tập trận giả đổ bộ
- 7/93 Nam Hải thao luyện phương pháp chống võ khí nguyên tử, tấn công chớp nhoáng các mục tiêu. Có sự tham dự của các khu trục hạm và hộ tống hạm cùng chiến hạm trang bị đầu đạn nguyên tử.
- 7/93 Đông Hải: kế hoạch tác chiến 9320 gồm chiến hạm và khoái đĩnh mang đầu đạn nguyên tử.
- 8/93 khu vực Du Lâm, Hải Nam: phối hợp không quân và hải quân trong kế hoạch mang số 9308. Có sự tham dự của 21 chiến hạm và 5 hải thuyền.
- 7/95 phóng 6 hỏa tiễn cách Đài Loan 85 dặm về hướng bắc.
- 11/95 tập trận đổ bộ trên một hòn đảo cách Đài Loan 200 cây số.
- 2/96 thao dợt đại qui mô tại Phúc Kiến, ngang eo biển Đài Loan.
- 3/96 phóng 4 hỏa tiễn tầm trung M-9 tại vùng biển Đài Loan. Trung Cộng cũng thao dợt trong ba ngày, sử dụng tổng cộng 10 chiến hạm và 10 phi cơ. Hoa Kỳ phải gửi hàng không mẫu hạm Independence, tàu phóng hỏa tiễn Bunker Hill, Mc Clusky và chiến hạm Hewitt tới tuần phòng ngăn ngừa Trung Cộng gây hấn
3/ Tranh chấp tại biển Đông
Tranh chấp quan trọng nhất tại vùng biển Đông của Việt Nam (còn gọi là biển Trung hoa hay Nam Trung Quốc Hải) là tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam tại vịnh Bắc Việt và quyền sở hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc đặt tên là Tây Sa và Nam Sa).
a/ Tại vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf), hai bên không đồng ý trên vấn đề phân định ranh giới. Vịnh Bắc Việt nằm giữa đảo Hải Nam của Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Độ sâu của vùng biển này từ 60 đến 300 mét và có nhiều triển vọng khai thác dầu hỏa.
b/ Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phía đông Đà Nẵng (Việt Nam) và nam Hải Nam (Trung Quốc) đã bị Trung cộng chiếm đóng từ năm 1974. Quần đảo này bao gồm hai nhóm, Amphitrite và Crescent. Ngày 4 tháng 5 năm 1993, vệ tinh Nhật Bản đã chụp được một không ảnh về căn cứ quân sự Trung Cộng đã xây trên đảo Woody, trong đó có một phi đạo dài 2500 mét.[7]
c/ Quần đảo Trường Sa trải dài trên 1000 km, cách bờ biển phía đông Việt Nam khoảng 650 km và khoảng 1000 km nam đảo Hải Nam, Trung Quốc, 160 km tây đảo Sarawak, Mã Lai và 100 km phía tây đảo Palawan ,Philippines.
4/ Diễn tiến tranh chấp tại biển Đông
a/ Vịnh Bắc Việt: Năm 1885, Pháp ký với triều đình Mãn Thanh hòa ước Thiên Tân trong đó có qui định biên giới giữa Đông Dương (thuộc Pháp) và Trung Hoa. Thế nhưng lúc đó lại không nói rõ hải phận giữa hai bên được chia cắt như thế nào. Những điều ước thương mại về sau ký kết giữa hai bên tuy có nói qua về một vài nguyên tắc tổng quát trên mặt biển nhưng lại chỉ đề cập đến việc ký giấy phép và chính sách thủy lộ mà thôi.
Đến năm 1977, hai nước Việt Nam và Trung Quốc đồng ý ngồi lại để quyết định ranh giới trên vịnh Bắc Việt nhưng hai bên không đồng ý về khu vực lãnh hải 12 dặm và 200 dặm giới hạn kinh tế theo qui ước về lãnh hải của Liên Hiệp Quốc. Trung Quốc thì cho rằng toàn thể khu vực biển phía đông kinh tuyến 108 là thuộc quyền họ. Nếu chia như thế, 2/3 vịnh Bắc Việt thuộc về Việt Nam, còn quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn của Trung Cộng. Văn thư của Bộ Ngoại Giao Việt Nam ngày 16 tháng 3 năm 1979 và bài diễn văn ngày 12 tháng 5 năm 1979 của Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Cộng Hàn Niệm Long đều có đề cập đến vấn đề tranh chấp nhưng không bên nào nêu rõ quan điểm của mình. Người ta cho rằng vấn đề vịnh Bắc Việt bị chìm vào trong những tranh chấp to lớn hơn về các quần đảo ngoài khơi. Tuy nhiên, nhiều vụ chạm súng đã xảy ra giữa hai bên trên vùng biển vịnh Bắc Việt và cả hai bên đều tiến hành thăm dò dầu khí trong khu vực đang còn chưa ngã ngũ.
Hồi tháng 9 năm 1992, Trung Cộng đã ngang nhiên đem tàu đến khoan dầu tại khu vực 19 độ 17 phút bắc vĩ tuyến 18 và 107 độ 16 phút đông kinh tuyến, nghĩa là hoàn toàn nằm trong khu vực mà Trung Quốc đồng ý là thuộc Việt Nam. Trung Quốc cũng bắt giữ nhiều thuyền đánh cá Việt Nam qua lại trong vùng và dời một số mốc địa dư trên vùng biên giới Lạng Sơn.[8]
b/ Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: Không biết quần đảo Hoàng Sa được con người tìm ra từ bao giờ nhưng trong bản đồ của Việt Nam vẽ từ năm Canh Tuất (1490) đời Hồng Đức triều Lê Thánh Tông đã có xuất hiện quần đảo Hoàng Sa. Theo Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư giữa thế kỷ thứ 17 thì quần đảo này dài 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển. Quan quân Việt Nam cũng trú đóng tại đây, hàng năm đến cuối mùa đông thì chúa Nguyễn cho một đoàn thuyền 18 chiếc, chở 70 quân nhân ra ở từ tháng giêng đến tháng 8 mang theo 6 tháng lương thực và giao nạp về những thứ thu nạp như hải sản, vàng bạc, súng đạn đổi từ các thương buôn đi qua.[9]
Theo Đại Nam nhất thống toàn đồ của Phan Huy chú vẽ dưới triều Minh Mạng (Giáp Ngọ 1834), trong đó có vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa (xem bản đồ đính kèm). Sách cũng có chép quần đảo này gồm hơn 130 đảo to nhỏ (kể cả hai quần đảo làm một) tên là Đại Trường Sa hoặc Vạn Lý Hoàng Sa hoặc Vạn Lý Trường Sa, dài không biết mấy nghìn dặm chạy từ đông sang nam.
Các quan quân cử ra coi sóc việc trấn thủ và thu thuế ở các hải đảo này gọi là Đội Hoàng Sa, thường là người tình nguyện trong các địa phương thuộc Bình Thuận, Cảnh Dương. Trong thời gian chiến tranh, hoạt động của đội Hoàng Sa bị gián đoạn nhưng từ năm 1787, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc lại tái lập, thăng cai hợp Phan Cảnh Hữu, người xã Phú Nhiêu lên chức cai đội trông coi việc quản trị các hải đảo. Năm 1803 vua Gia Long cũng dùng lại những người của triều Tây Sơn làm đội Hoàng Sa.
Trong An Nam đại quốc họa đồ của giám mục Tabert vẽ năm 1838, tận cùng bên phải cũng có vẽ quần đảo Hoàng Sa với ghi chú là Paracel (Cát vàng), rõ ràng là một bộ phận của nước ta không khác gì Pulo Condor (Côn nôn) hay Pulo Panjang (Thổ Châu), Pulo Ubi (Hòn Khoai)... là những địa danh cũng có ghi trên bản đồ này còn tồn tại đến ngày nay.[10]
Về phương diện trắc họa, bản đồ Tabert vẽ tương đối chính xác khoảng cách quần đảo Hoàng Sa và bờ biển phía đông. Ngoài ra, tất cả những bản đồ cổ khác của người Âu Châu vẽ đều có vẽ chi chít nhiều đảo nhỏ tượng trưng cho những tiểu đảo tại biển Đông và đều vẽ cận kề Việt Nam, minh thị những đảo này là một phần lãnh thổ nước ta.
Về mặt lịch sử, hầu như không quốc gia nào để ý đến các quần đảo này ngoài Việt Nam. Năm 1753, hai người lính cơ trong đội Hoàng Sa trong công tác chẳng may bị gió thổi giạt vào Quỳnh Châu, nhà Thanh cho trả về Đàng Trong. Một lần khác, tàu buôn Anh cát Lợi bị cướp biển nhũng nhiễu có gửi thư lên Thanh đình bắt đền, nhà Thanh trả lời vùng đó thuộc Việt Nam muốn gì liên lạc triều đình Việt Nam. Thành ra cho đến đầu thế kỷ 20, Việt Nam hoàn toàn làm chủ và chịu trách nhiệm về các quần đảo ấy. Các quan chức Việt Nam ngoài việc trú phòng còn làm cả công việc thám sát, đo đạc và vẽ bản đồ quân sự, dựng những mộc bài (bảng gỗ) làm dấu. Năm 1836, quan ta là Phạm quang Ảnh cho dựng 10 bảng gỗ.
Thời Pháp thuộc, người Pháp cũng cho binh lính thủ ngự, khai thác hải sản đặc biệt là phân chim (phosphate) thu hoạch hàng trăm ngàn tấn mỗi năm. Khi Pháp trao trả độc lập, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa và Hải quân Việt Nam thay thế quân đội Pháp trấn giữ.[11]
Trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, quyền tiếp thu Việt Nam được giao cho Trung Hoa và Anh thực hiện. Nhân dịp này, chính quyền Tưởng giới Thạch có công bố những quần đảo trong vùng Nam Hải (tức biển Đông của Việt Nam) là lãnh thổ Trung Hoa.[12] Các tên Trung Sa, Đông Sa, Nam Sa, Tây Sa đẻ ra từ đó. Vào thời kỳ ấy, Việt Nam còn đang đấu tranh giành độc lập, các chính quyền quốc gia chưa ổn định nên cũng không quan tâm nhiều về việc nhận vơ ấy. Vả lại, chính Trung Hoa cũng đang còn phải giải quyết vấn đề Quốc Cộng nên cũng không có hành động nào cụ thể lấn chiếm các hòn đảo này. Và chả cứ gì vài hòn đảo vô danh ở ngoài khơi, Trung Hoa còn công khai tuyên bố nhiều quốc gia khác trong đó có cả bán đảo Đông Dương,[13] Thái Lan, Triều Tiên là những thuộc quốc cũng thuộc về họ cả. Họ mập mờ đánh lận giữa những quốc gia trong thời phong kiến triều cống và thần phục với những chư hầu theo kiểu phiên trấn do vua Tàu ban cho.
Ngoài những văn kiện chính thức và liên tục chứng tỏ chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo ở biển Đông từ thời tự chủ đến thời Pháp thuộc, Thủ tướng Việt Nam, ông Trần Văn Hữu trong bản tuyên bố đọc tại hội nghị San Francisco ngày 6 và 7 tháng 9 năm 1951 đã long trọng xác quyết trước đại biểu thế giới:
... Và cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.[14]
Lời tuyên bố đó không ai trong và ngoài hội nghị phản đối cả.
Tới năm 1954, sau khi tiếp thu từ người Pháp, hải quân Việt Nam đã trú đóng và thiết lập một đài khí tượng nhỏ trên đảo Pattle ở Hoàng Sa. Năm 1956, Trung Cộng đem quân chiếm đảo Boisée (Woody) cách Pattle 50 hải lý về phía Bắc. Từ đó những đảo mạn Đông Bắc thì hải quân Trung Hoa giữ, mạn Tây Nam do hải quân Việt Nam giữ.[15]
Trước đó, vào tháng 5-1950, Trung Cộng trong quan hệ ngoại giao với Phi Luật Tân có minh xác chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Khi ấy, tổng thống Phi Elpidio Quirino đã khẳng định là không thể để cho chủ quyền các hòn đảo này vào tay địch vì như thế sẽ uy hiếp an ninh cho quốc gia Phi Luật Tân. Nhân Dân nhật báo tại Bắc Kinh đã thóa mạ Phi là tay sai của đế quốc Mỹ và hăm dọa ”nếu Mỹ Phi tiếp tục duy trì quan điểm đó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng”[16]. Tháng 8-1951, các quốc gia Đồng Minh họp tại San Francisco ký với Nhật Bản một hiệp định qui định việc tiếp thu các cơ sở của Nhật trên biển Thái Bình Dương. Vì vấn đề Trung Hoa có hai chính phủ nên không được mời tham dự. Trong hiệp ước này có đề cập việc Nhật Bản phải trả lại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng không nêu rõ là trả cho ai. Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai hâm hực phát biểu:
Tây sa, Nam sa quần đảo cũng chẳng khác gì Đông sa, Trung sa quần đảo đều là lãnh thổ Trung Quốc. Trước đây đế quốc Nhật có chiếm đóng thì nay phải trả lại cho Trung quốc. Chủ quyền của Trung quốc với các quần đảo Tây sa (Hoàng sa), Nam Sa (Trường sa), Mỹ Anh có nói đến (trong hiệp định San Francisco) hay không nói đến cũng chẳng ảnh hưởng gì![17]
Tháng 2-1959, nghe tin Trung Cộng lấn chiếm đảo Duncan (thuộc quần đảo Hoàng Sa), trợ chiến hạm HQ-225 của Hải quân Việt Nam cùng 5 chiến hạm khác và 1 đại đội Thủy Quân Lục Chiến được đưa ra, đổ bộ lên bắt 32 tù binh Trung Cộng chở về Đà Nẵng thẩm vấn nhưng sau lại trả về Hoàng Sa. Từ đó Việt Nam để 1 đại đội Thủy quân Lục Chiến trú đóng trên các đảo Duncan, Robert và Drummond đồng thời cho một pháo hạm tuần tiểu vòng quanh để đề phòng bất trắc.[18]
Thành ra, cho tới năm 1974, Trung Cộng chỉ chiếm đóng vài đảo nhỏ trong quần đảo Hoàng Sa, còn gần như toàn bộ các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam, có quân đội bố phòng khai thác tài nguyên. Một phần vì Đệ Thất hạm đội của Mỹ thường xuyên tuần tiễu, phần khác chiến tranh Việt Nam ngày càng lên cao, Trung Cộng không muốn trực tiếp đối đầu với Hoa Kỳ. Từ 5-1959 đến 12-1971, Bộ Ngoại giao Trung Cộng lên tiếng hơn 200 lần về chủ quyền của họ kết án Mỹ dùng phi cơ và chiến hạm xâm phạm hải phận nhưng tuyệt nhiên không dám động binh.
Tháng 7-1971, Phi luật Tân một lần nữa minh xác chủ quyền trên quần đảo Spratly (Trường Sa), tuyên bố đã trấn giữ nhiều hòn đảo ở phía Đông. Ngày 16-7-1971, Hoàng vĩnh Thắng, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Cộng trong một bữa tiệc tiếp Bắc Hàn lại xác quyết ”Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc”.[19]
Tới tháng 9-1973, Việt Nam Cộng Hòa, trong kế hoạch khai thác dầu hỏa ngoài khơi đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Phước Tuy. Bộ Ngoại Giao Trung Cộng ngày 11-1-1974 ra thông cáo lên án Việt Nam và 4 ngày sau, hải quân Trung Cộng tiến chiếm Hoàng Sa. Sau 5 ngày kịch chiến, lực lượng Việt Nam bị đánh bại, một số bị bắt làm tù binh, một số chiến hạm bị đánh đắm. Trung Cộng hoàn toàn làm chủ Hoàng Sa. Quốc tế đều lên án Cộng Sản Trung Hoa dùng võ lực xâm lăng một nước khác. Pháp cung cấp nhiều tài liệu quan trọng trong chứng minh về sự hiện hữu của chính quyền và nhân dân Việt Nam trên các khu vực này.
Hải quân Việt Nam lập tức được điều động đến các hòn đảo còn lại trên quần đảo Trường Sa, cắm cờ trên các hoang đảo ngoài khơi dọc theo bờ biển. Ngày 4-2, Bộ Ngoại Giao Trung Cộng lại lên tiếng :”Nam Sa quần đảo, Tây Sa quần đảo, Trung Sa quần đảo và Đông Sa quần đảo đều là lãnh thổ Trung Quốc. Chủ quyền của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa trên các hòn đảo và hải vực phụ cận không ai có thể chối cãi”[20]
Tháng 4-1975, Bắc Việt chiến thắng miền Nam cũng ra tiếp quản các hải đảo còn lại. Tháng 9-1975, Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất của Cộng Sản Việt Nam trong chuyến viếng thăm Bắc Kinh chính thức đề cập Trung Quốc phải trả lại các hải đảo cưỡng chiếm trước đây. Tuy nhiên, Trung Cộng bác bỏ đề nghị đó.
Trong nhiều năm, vì vấn đề nghiên cứu thềm lục địa, Trung Cộng và các quốc gia Việt Nam, Phi luật Tân, Mã Lai Á có nhiều tranh biện về chủ quyền của quần đảo Trường Sa.
• Ngày 14-6-1976, Trung Cộng chống đối Phi Luật Tân về việc
tìm kiếm mỏ dầu tại ngoài khơi Tây Nam.
• Ngày 26-9-1979, Trung Cộng lên án tổng Thống Marcos cho sáp nhập vùng hải phận Trường Sa vào bản đồ Phi.
• Ngày 30-1-1980, một năm sau ngày Trung Việt chiến tranh, hai bên tiếp tục tranh luận về chủ quyền, khi thì bằng văn thư chính thức, khi thì bằng báo chí, Trung Cộng lại đưa ra một văn kiện khác xác quyết chủ quyền trên các quần đảo ngoài khơi biển Đông. - Tháng 9-1983, Mã Lai chiếm một hòn đảo Nam Trường Sa, gây ra những phản đối cả từ 3 phía Phi, Việt, Hoa.
• Việt Hoa tiếp tục công kích lẫn nhau từ 1984 đến 1988. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, một lần nữa Trung Cộng đem quân tới chiếm Trường Sa, đụng độ với Hải quân Việt Nam, chiếm được vài hòn đảo nhỏ. Việt Nam phải tăng cường phòng thủ trên mặt biển cũng như tại quần đảo Trường Sa.
❀ ❀ ❀
[1] Asia’s Arms Race, The Economist, February 20, 1993 trang 20
[2] Trung Cộng Quân Sự Tân Động Hướng, Trung Quốc Thời Báo 13 tháng 3 năm 1993, trang 12
[3] Asia’s arms racing, The Economist Feb. 3-9, 1996 trang 29
[4] Peter Kien-hong Yu, A Study of The Pratas, Macclesfield Bank, Paracels, and Spratlys in the South China Sea, Defence Asia-Pacific Publications 1988 trang 28
[5] Kennedy Paul, The rise and fall of the great powers, Random House 1987 trang 449
[6] Kim Thiên Lý, Trung Cộng Quân Sự Nhân Vật Bình Truyện, trang 36
[7] Thời Luận ngày 12 tháng 8 năm 1993 (Nhật Công Bố Bức Hình Do Vệ Tinh Chụp Căn Cứ Không Quân Trung Cộng ở Trường Sa) thực ra là Hoàng Sa mà người dịch nhầm là Trường Sa - Ghi chú của người viết
[8] Trung Quốc hoạt động cách cửa sông Hồng Hà 70 hải lý, Nguyệt San Thế Kỷ 21, tháng 10-1992 trang 17
[9] Mãn Khánh Dương Kỵ, Trần Xuân Cầu, Từ Bãi Cát Vàng đến Hoàng Sa và Trường Sa, Lãnh Thổ Việt Nam, Sử Học số 2, Nhà Xuất Bản Đại Học và Trung học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1981 trang 82
[10] Phụ bản của Nguyễn Khắc Ngữ, Bộ sưu tập Bản Đồ Cổ Việt Nam, Tủ Sách tài liệu Sử địa, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa 1987
[11] Xin đọc thêm các tài liệu hết sức phong phú trong Đặc Khảo về Hoàng Sa và Trường Sa (Văn Nghệ-Khai Trí 1992) và Địa Lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa của Vũ Hữu San 1995
[12] Gần đây, Trung Cộng muốn hợp thức hóa việc xâm lăng các quần đảo biển Đông nên đã ngụy tạo nhiều tài liệu nói là biển Đông đã thuộc về họ từ lâu. Thực ra, trước thế chiến thứ hai, Trung Hoa hoàn toàn không để ý gì tới vùng này. Ý đồ và tham vọng của họ chỉ bắt nguồn từ khi chính quyền Tưởng Giới Thạch được giao cho nhiệm vụ giải giới quân Nhật tại Bắc vĩ tuyến 16 không phải vì Tàu mạnh mà vì Mỹ muốn đưa chính quyền Dân Quốc lên để sử dụng như một con cờ ở Á Châu. Trong quyết nghị của hội nghị Cairo ban hành ngày mồng 1 tháng 12 năm 1943, đã minh thị là “khi Nhật đầu hàng, (Đồng Minh) sẽ lấy lại tất cả mọi lãnh thổ mà Nhật chiếm đóng, và sẽ giao trả những phần đất đã từng thuộc về Tàu lại cho Trung Quốc” và những vùng đất này không hề đề cập đến những quần đảo tại biển Đông (all outside lands which Japan had acquired were to be taken away from her; and that all territories that had once been Chinese would be returned to that country). Đây là nguyên văn trích trong Hiến Chương Cairo ký kết giữa Roosevelt, Churchill và Tưởng giới Thạch qui định việc giao hoàn đất cho Tàu:
[13] Bản đồ Trung Cộng xuất bản nhan đề “Đế Quốc xâm lược Trung quốc lãnh thổ đồ” (Lãnh thổ Trung Quốc bị đế quốc xâm chiến) in sau năm 1949 bao gồm cả Đông Dương, Thái Lan.
[14] Nguyên văn ... et comme it faut franchement profiter de toutes occasions pour etouffer ler germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les Iles Spratly et Parracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam. Hội Nghị San Francisco, France-Asie số 66-67 (11/12, 1951) trang 505 trích lại theo bài Các Văn Kiện Chính Thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc tới nay, Trần Đăng Đại, Đặc Khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Văn nghệ Khai Trí 1992 trang 290
[15] Bùi Hữu Thu, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong thời kỳ sơ khai 1959-1963, Đặc San Lướt Sóng 6-10-1990, San Jose, California trang 47
[16] Nhân Dân nhật báo, Bắc Kinh, ngày 20-5-1950
[17] Theo tài liệu của Bộ Ngoại Giao Trung Cộng ngày 30-1-1980
[18] Bùi Hữu Thu, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong thời kỳ sơ khai 1959-1963, Đặc San Lướt Sóng 6-10-1990
[19] Tân Hoa nguyệt san, 7-1971.
[20] Nhân Dân nhật báo, 5-2-1974