Lý thuyết chiến tranh nhân dân từ trước đến nay vẫn được coi là lý thuyết chủ đạo cho chiến lược của Trung Cộng. Quan niệm then chốt của lý thuyết này là “tích cực phòng ngự” (jiji fangyu) lấy yếu tố chủ động là chính để có thể vận dụng một lực lượng yếu đánh bại một kẻ thù đông đảo hơn, trang bị mạnh hơn. Ngay từ những ngày đầu tiên của chế độ cộng sản, Mao Trạch Đông đã nghiên cứu kỹ lưỡng và các đặc tính của chiến tranh trong tương lai, cường và nhược điểm của đối phương và khai triển khía cạnh tích cực phòng ngự thành lý thuyết mà họ gọi là trường kỳ kháng chiến. Dụ địch vào sâu bằng cách dẫn địch theo hướng mình muốn, đưa địch đến chiến trường ta đã chuẩn bị sẵn là chiến thuật căn bản của chiến tranh nhân dân.
Thế nhưng khi đem áp dụng các nguyên tắc của chiến tranh nhân dân vào trận chiến Triều Tiên, lý thuyết chiến tranh nhân dân tỏ ra không hợp thời khi đối phó với một kẻ thù có sức mạnh ưu thế về không quân và hải quân cũng như có tiềm năng sử dụng nguyên tử. Thành thử, Bắc Kinh phải bí mật tìm cách chế tạo võ khí hạch tâm, phi đạn, tăng cường sức mạnh quân đội chính qui, hiện đại hóa hệ thống tình báo, tính cơ động và phương pháp tập trung quân lực. Các chiến lược gia Trung Cộng phải từ từ điều chỉnh lại lý thuyết chỉ đạo chiến tranh được đặt dưới tên “chiến tranh nhân dân trong tình huống hiện đại”.[1] Căn bản của chiến lược mới gồm ba điểm:
1. Chiến tranh sắp tới sẽ là chiến tranh qui mô, sử dụng võ khí tối tân
2. Chiến tranh sẽ leo thang và Trung Quốc sẽ bắt buộc trở thành một bãi chiến trường
3. Khi bắt đầu kẻ thù sẽ có ưu thế hơn về võ khí nhưng về lâu về dài, chiến tranh nhân dân sẽ thắng.
Chính vì thế, Mao đã nỗ lực xây dựng Đệ Tam Lộ Tuyến, di chuyển các khu vực kỹ nghệ quan trọng vào sâu trong đất liền vì ông ta tin rằng khu vực duyên hải sẽ bị tàn phá ngay từ đầu. Thành ra, Trung Cộng hoàn toàn không có kế hoạch củng cố hay xây dựng mặt biển mà chỉ chú trọng ở lục địa vì đó sẽ là cơ sở chính tiếp ứng cho việc trường kỳ kháng chiến với đế quốc tư bản.
Tuy nhiên đến đầu thập niên 1960, Trung Cộng lâm vào tình trạng mâu thuẫn với Liên Xô, gây ra tranh chấp kịch liệt về nhận định chiến lược trong nội bộ. Cuộc Cách Mạng Văn Hóa chính là phương tiện mà Mao dùng để thanh trừng tất cả những người nào không cùng chủ trương với ông ta. Mao Trạch Đông chủ trương một tư thế độc lập với Liên Xô trong khi Lưu Thiếu Kỳ lại muốn đứng chung trong một khối xã hội chủ nghĩa do Nga lãnh đạo. Sự tranh chấp đó không những đưa tới việc tàn sát lẫn nhau mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến vấn đề đối ngoại, nhất là chiến tranh Việt Nam. Việc Việt Nam ngả hẳn theo Liên Xô sau khi chiến tranh chấm dứt đã đưa đến mâu thuẫn nghiêm trọng giữa hai nước và cuộc chiến Việt Trung năm 1979 là cao điểm của thế đối nghịch đó. Năm 1985, Quân Ủy Hội trung ương của Trung Quốc đã chuyển hướng tâm điểm chiến lược của Hồng quân từ mạn bắc xuống mạn nam, thay thế việc đối phó với Liên Xô bằng công tác chuẩn bị chiến tranh khu vực để tranh giành ảnh hưởng. Tương ứng với sự thay đổi đó, Trung Quốc cũng tăng cường lực lượng tại căn cứ Đam Giang (Zhanjiang) nằm cạnh vịnh Bắc Việt và các căn cứ tại đảo Hải Nam.[2]
❀ ❀ ❀
[1] Lewis, John Wilson và Xue Litai, China’s Strategic Seapower, Stanford University Press 1994 trang 212
[2] Klare T. Michael, The Next Great Arms Race, Foreign Affairs, Summer 1993 trang 143