Chiến Lược Mặt Biển Của Trung Quốc Và Vấn Đề Biển Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
C/ Chiến Lược Mặt Biển Của Trung Quốc Hiện Đại

❊ ❊ ❊

Hải quân Trung Quốc ngay từ thời Dân Quốc vẫn theo đuổi một kế hoạch phòng ngự vùng ven biển (cận hải phòng ngự, jinhai fangyu) và việc thay đổi quan điểm binh bị không ảnh hưởng mạnh đến chiến lược này. Chiến lược mặt biển chẳng qua chỉ là một hệ luận của chủ thuyết chiến tranh nhân dân nên biến chuyển tương úng với việc cải tổ binh pháp. Cả tích cực phòng ngự lẫn cận hải phòng ngự đều rút ra từ lý luận của Mao Trạch Đông.

Ngay từ khi Cộng Sản chiếm được Hoa Lục năm 1949, họ đã ý thức được sự quan trọng của phát triển hải quân khi chính quyền Tưởng Giới Thạch đã triệt thoái thành công lực lượng của họ sang Đài Loan mà Trung Cộng không ngăn chặn hay truy kích nổi. Ngày mồng 3 tháng 10 năm 1949, năm tiểu đoàn của sư đoàn 61 tấn công vào lực lượng Quốc Dân Đảng trấn đóng ở đảo Dengbu (Thượng Hải). Nhờ tiếp viện bằng đường bể, quân đội Quốc Dân Đảng đã đánh bại lực lượng ưu thế của Cộng Sản. Cuối tháng 10, quân cộng sản lại tấn công đảo Kim Môn nhưng cũng thất bại, tổn hại hơn 9000 người. Từ đó, Mao Trạch Đông càng quan tâm hơn về an ninh mặt biển, gia cường hải quân không phải chỉ để mưu tính đánh chiếm Đài Loan mà còn có ý đồ trở thành một cường quốc quân sự. Mao đã viết:

Chúng ta phải xây dựng một lực lượng hải quân có khả năng phòng ngự vùng duyên hải để chặn đứng sự xâm lăng của đế quốc.

Chiến lược trong giai đoạn này nhằm đối phó với lực lượng Quốc Dân Đảng trong trường hợp Trung Hoa dân quốc đổ bộ và hạm đội thứ 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương. Mao đem lý thuyết chiến tranh nhân dân trên bộ biến chế để áp dụng vào chiến lược mặt biển. Hải quân được tổ chức thành những lực lượng chiến đấu nhỏ, vừa dùng để phòng ngự, vừa dùng để tấn công. Chiến lược đó áp dụng mãi tới khi Mao Trạch Đông lìa trần.

Tuy nhiên, những quân sự gia của Hồng quân vẫn quan tâm đến việc phát triển các loại chiến hạm, tiềm thủy đĩnh và khí giới chiến lược để gia tăng sức mạnh của họ trên mặt biển. Mắc dầu những biến cố chính trị nội bộ, nhất là vụ Cách Mạng Văn Hóa trong thời kỳ 1966-1976 đã làm chậm lại phần nào mưu tính đó, lực lượng hải quân của Trung Cộng vẫn bành trướng đáng kể.

Sau khi Mao chết, tuy Đặng Tiểu Bình vẫn nhấn mạnh vào chiến lược “tích cực phòng ngự, cận hải tác chiến” (jiji fangyu, jinhai zouzhan) nhưng duyên hải của Trung Quốc nay đã được nhìn dưới góc độ mới. Từ khi họ đem quân chiếm được quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1974) và một phần quần đảo Trường Sa (1988), cận hải tác chiến có nghĩa là khống chế toàn bộ vùng biển kéo dài từ eo biển Đài Loan tới tận eo biển Malacca.

Thời kỳ

Chính sách

Nội dung

Thời kỳ

Chính sách

Nội dung

1950-1975

Duyên hải phòng ngự sử dụng căn cứ trên đất liền

Hải quân tuy có trang bị phi cơ, tiềm thủy đĩnh, chiến đấu cơ nhưng chủ yếu vẫn là phòng ngự duyên hải

1976-1982

Duyên hải phòng ngự sử dụng căn cứ trên biển

Trung Cộng tăng cường thêm tiềm thủy đĩnh, ngư lôi hạm, hộ tống hạm chế tạo từ năm 1969 đến năm 1976

1983-2000

Duyên hải phòng ngự, căn cứ trên biển có thể sử dụng đầu đạn nguyên tử

Trung Cộng thành công trong việc thử nghiệm hỏa tiễn JL-1SLBM năm 1982. Hỏa tiễn này được trang bị trong tàu ngầm 09-2 thực hiện từ năm 1988

2000-

Liên hiệp căn cứ (trên biển) sử dụng võ khí nguyên tử

Trung Cộng tiếp tục chế tạo các loại tiềm thủy đĩnh có mang đầu đạn nguyên tử tầm 8,000 km

Sự phát triển chiến lược mặt biển của Trung Cộng

Năm 1985, Đặng Tiểu Bình nhận định là hai siêu cường Nga Mỹ sẽ bận rộn giữ miếng với nhau nên sẽ không quốc gia nào dám tấn công Trung Hoa ít nhất cũng tới năm 2000. Hơn thế nữa, hai siêu cường còn phải nỗ lực ve vãn Trung Quốc và Trung Quốc phải khai thác triệt để cơ hội đó để một mặt canh tân quốc phòng, một mặt lấn chiếm biển Đông và o ép Đài Loan. Trung Cộng tuyên bố là họ phải tăng cường để bảo vệ 18,000 km bờ biển và hơn 3,000,000 km2 vùng biển, một lãnh hải rộng gần bằng 1/3 lãnh thổ của họ. Sự giảm thiểu lực lượng của Hoa Kỳ trong hơn hai thập niên qua gián tiếp thúc đẩy Trung Cộng bành trướng xuống phía Nam. Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), chỉ huy trưởng hải quân Trung Quốc đã nhận định như sau:

Vai trò quân sự trên mặt biển ngày càng quan trọng và việc đấu tranh giành quyền làm chủ hải vực giữa các siêu cường ngày thêm gay gắt. Chính vì thế, nhiệm vụ chủ yếu của việc gia tăng công tác quốc phòng là xây dựng một lực lượng hải quân hiện đại ngõ hầu ngăn chặn mọi cuộc xâm lăng, bảo vệ quyền ích quốc gia trên mặt biển.[1]

Tuy nhiên, Trung Cộng cũng e ngại là trong giai đoạn này, hải quân của họ chưa có khả năng đối phó với một trận chiến “bất thình lình, nhanh gọn, trên một vùng lãnh hải rộng lớn, xa đại lục đòi hỏi khả năng phối hợp cả ba loại hải lục không quân”. Chính vì quan tâm đó, Trung Cộng tập trung nỗ lực vào việc thủ đắc những kỹ thuật quân sự của Liên Xô bằng cách thuê mướn kỹ thuật gia, mua các loại phi cơ tầm xa và nhất là hàng không mẫu hạm. Trung Cộng biết rằng họ rất khó khăn trong việc làm chủ trên không, và không làm chủ trên không thì không thể làm chủ mặt biển. Trước đây, họ e ngại sự can thiệp của hải quân Liên Xô đang trú đóng tại Cam Ranh thì nay họ lại quan tâm đến vai trò của Hoa Kỳ tại Đông Á nhất là từ khi mối tương quan Mỹ Hoa trở nên căng thẳng khi Hoa Kỳ cho phép Tổng Thống Đài Loan Lý Đăng Huy sang dự buổi họp mặt cựu sinh viên Cornell ở New York trong tháng 6, 1995 vừa qua.

Ngày 19 tháng 7, 1995 Trung Cộng thử một hỏa tiễn địa địa (surface-to-surface), có tầm bắn tới tận Hoa Kỳ trong eo biển Đài Loan mà các bình luận gia cho là để trắc nghiệm khả năng phòng thủ của chính phủ Quốc Dân Đảng.[2] Trung Cộng cũng công khai kêu gọi sự triệt thoái toàn bộ quân đội Hoa Kỳ ra khỏi khu vực Thái Bình Dương, một việc mà trước đây không hề có. Sự hiện diện của Mỹ ngày nay không còn là một đối trọng với lực lượng của Liên Xô mà đã trở thành một chướng ngại cho việc bành trướng của Tàu. Có lẽ họ muốn xác định một cách không minh thị là Á Châu là khu vực ảnh hưởng (sphere of influence) của Trung Quốc.

Đó cũng là dấu hiệu Trung Cộng đã chuyển hướng từ cận hải phòng ngự sang cận dương phòng ngự và lăm le tiến hành viễn dương phòng ngự.[3] Nếu quả thực Hoa Kỳ e ngại về khoảng trống quyền lực ở tây ngạn Thái Bình Dương lọt vào tay Trung Cộng, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam là một dấu hiệu cho thấy người Mỹ đang tìm lại vai trò quân sự của họ mà lâu nay bị nhu cầu kinh tế làm cho lu mờ.

❀ ❀ ❀

[1] Lewis Wilson John và Xue Litai, China’s Strategic Seapower, Stanford University Press 1994 trang 226

[2] Farley Maggie, China Missile Exercises Near Taiwan Also Test of Fortitude, LA Times July, 20, 1995

[3] Tuy nhiên, Trung Cộng có đủ khả năng làm chuyện đó hay không lại là chuyện khác. Mặc dù hết sức diệu võ dương oai nhưng theo các phân tích tình báo của Tây phương, họ chỉ có khả năng đổ bộ mỗi lần một sư đoàn (khoảng 20,000 người) và phải sử dụng cả tàu dân sự để tiếp sức. Họ cũng chưa đủ sức chống lại tấn công bằng máy bay và phương tiện truyền thông cũng còn non kém (The Economist, Feb. 3-9, 1996 trang 29)

t Biển Của Trung Quốc Và Vấn Đề Biển Đông ebook©MotSAch —★— TVE-4u©http://vietkiem.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.