Có lẽ đến giờ này khi bàn đến thế chiến lược biển Đông, chúng ta không còn phải đặt trọng tâm vào việc phân định chủ quyền của những quần đảo ngoài khơi nước ta. Lịch sử đã chứng tỏ Việt Nam hoàn toàn làm chủ những hòn đảo đó từ thế kỷ 19 trở về trước. Nếu xét về lý, chính hòn đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ cũng chỉ thuộc về Trung Hoa trong vài chục năm nay. Hồi đầu thế kỷ này, chủ quyền những vùng đất đó cũng chưa ai xác định. Những người lãnh đạo của đảng Dân Tiến tại Đài Loan vẫn tranh luận rằng việc Trung Hoa nhận chủ quyền trên hòn đảo của họ cũng không khác gì người Hồng Mao nhận rằng nước Mỹ là lãnh thổ của nước Anh.
Cho tới 1895, vào cuối cuộc chiến Trung Nhật, khi phải nhường đảo Đài Loan cho Nhật, những sứ thần nhà Thanh đã gọi đó là “hòn đảo của bọn hải khấu” và nhường cho Nhật “toàn bộ và vô hạn định” cả đảo Đài Loan lẫn quần đảo Bành Hồ. Tới hồi đó, nhà Thanh vẫn cho rằng việc "thí" cho ngoại nhân một phần đất không có gì quan trọng mà chỉ là "bỏ cái nhỏ để giữ cái lớn" như lời Kỳ Anh tâu lên vua Đạo Quang khi ký với Anh hòa ước Nam Kinh. Thanh đình cũng khẳng định là “Đài Loan không thuộc về lãnh thổ Trung Quốc” ý cho rằng đó chỉ là một phiên thuộc, dân chúng mọi rợ không đang được gọi là Hán nhân.[1] Nhân dân Đài Loan nay coi cuộc khởi nghĩa ngày mồng 1 tháng 6 năm 1895 chống lại Nhật Bản là hình thức tuyên bố độc lập của “Cộng Hòa Formosa” vì họ đã không quan tâm đến quyết định của triều đình ra lệnh bãi chiến. Chính Mao Trạch Đông hồi còn tại Diên An cũng tán thành việc Đài Loan thu hồi độc lập. Năm 1936, Mao đã nói: Nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Trung hoa là thu hồi lại những lãnh thổ đã bị chiếm đoạt. Trong số những lãnh thổ đó, không tính đến Triều Tiên (đang thuộc Nhật) nhưng sẽ nhiệt thành giúp đỡ để họ thu hồi độc lập. Và vấn đề Đài Loan cũng giống như thế [2]. Việc tiếp thu hòn đảo từ tay Nhật Bản sau thế chiến thứ hai cũng không khác gì việc quân Tàu sang giải giới quân Nhật tại Bắc Việt năm 1945, và không thể vì thế mà hủy bỏ quyền tự quyết của nhân dân Đài Loan được.[3]
Vấn đề này không phải mới đặt ra gần đây mà ngay từ khi mới bị Quốc Dân Đảng chiếm đóng, nhân dân Đài Loan đã biểu tình đòi độc lập và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch đàn áp dữ dội trong vụ thảm án ngày 28 tháng 2 năm 1947 mà lịch sử gọi là “nhị nhị bát sự kiện”.[4]
Do đó theo lịch sử, Trung Quốc rất ít liên hệ với các hòn đảo ngoài khơi. Ngay cả chủ quyền của họ trên đảo Hải Nam cũng chỉ mới từ thời trung cổ. Thành ra việc tuyên bố quyền sở hữu trên toàn thể biển Đông đến tận Mã Lai và Indonesia là chuyện hoàn toàn vô căn cứ. Những học giả nào tương đối vô tư một chút đều công nhận như thế. Debra E. Soled nói rõ là việc xác nhận chủ quyền chính thức thì Trung Cộng chỉ mới bắt đầu có từ hồi 1970, khi Nhân Dân Giải Phóng Quân bắt đầu trắc địa và thăm dò quần đảo Hoàng Sa. Hành động của Trung Cộng không phải nhằm xác định chủ quyền mà chỉ chứng tỏ họ đang theo đuổi chính sách bành trướng (expansionism) và ngay cả chủ trương tân đế quốc (neoimperialism)[5]
Một học giả Nhật là Giang Hộ Hùng Giới trong tác phẩm Sự sụp đổ của Trung Quốc cũng viết:
Nếu xét theo mặt địa dư, công bình mà nói, quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) gần Việt Nam hơn cả. Thứ đến mới tới Brunei, Mã Lai và Philippines, dù nói cách nào cũng không thể nói là thuộc lãnh thổ Trung quốc được.[6]
Tuy nhiên, giờ phút này, vấn đề chúng ta quan tâm không phải là lý mà là tình hình thực tế tại khu vực Đông Nam Á để nhận định về những biến chuyển sắp tới có liên quan đến an ninh và vận mệnh dân tộc Việt Nam.
Thứ nhất, chủ trương bành trướng của Trung Hoa tuy có lắng xuống trong vòng 100 năm (từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20) nhưng thực ra chỉ vì họ suy yếu không đủ sức thôn tính những quốc gia láng giềng. Thế nhưng từ sau khi nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được thành lập năm 1949 tới nay, Trung Cộng đã nhiều lần tranh chấp với Liên Xô, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản về vấn đề lãnh thổ. Riêng với Việt Nam, ngoài việc lấn chiếm một số quận huyện dọc theo biên thùy phía Bắc của nước ta, Trung Cộng còn chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Việc tái chiếm các phần đất này trở nên gay go hơn bao giờ hết vì hiện nay chính quyền cộng sản chưa tạo được những liên minh vững chắc cũng như không đủ lực lượng để đánh bại Trung Cộng. Chính vì thế, ngoài việc phản kháng trên phương diện ngoại giao và yêu cầu áp dụng các nguyên tắc quốc tế và điều đình, Việt Nam chỉ còn cách củng cố lực lượng nơi những phần còn lại để tự vệ mà thôi. Sự hiện diện của lực lượng hải quân Hoa Kỳ tại Đông Nam Á trở thành tối cần thiết để cân bằng lực lượng, làm rào cản Trung Cộng đồng thời ngăn chặn việc Nhật Bản tái võ trang và nhảy vào trám chỗ trống về quân sự.
Thứ hai, Việt Nam hiện đóng một vai trò quan trọng trong Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), làm lá chắn cho toàn vùng khỏi sự xâm lăng của Trung Quốc. Ngay từ cuối thập niên 1970, Indonesia đã mong muốn Việt Nam có đủ tư cách để đứng chung trong khối này.[7] Sau khi Hoa Kỳ từ bỏ các căn cứ ở Philippines, nhiều quốc gia đã bằng lòng cho Mỹ mượn các hải cảng của mình để sử dụng. Vấn đề an ninh chung đã trở nên quan trọng và các lãnh tụ khối ASEAN đã đưa lên bàn hội nghị để tìm những liên minh quân sự ngõ hầu đối phó với các cuộc xâm lăng. Những quốc gia trong vùng Đông Nam Á không còn trông đợi ở “ô dù” của người Mỹ và đã phải tự mình đảm trách nhiệm vụ bảo vệ lấy mình. Về phương diện địa dư, nằm ngay trên trục lộ bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam sẽ phải đảm trách một vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn an ninh khu vực miễn là họ không chứng tỏ ý muốn thôn tính một nước khác hay đóng vai trò tiền phong cho một chủ nghĩa nào. Chính vì nhận thức được vai trò đó, Việt Nam đang tìm cách liên kết chặt chẽ hơn với các quốc gia trong khối ASEAN, tìm kiếm sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản để phát triển đồng thời hòa hoãn được với Trung Quốc.
Thứ ba, việc Trung Cộng tìm cách liên kết với Pakistan, Sri Lanka, Myanmar trong vài năm qua đã gây nên sự ngờ vực từ phía Ấn Độ và Indonesia, e ngại Trung Hoa đang tìm cách khống chế cả vùng Ấn Độ Dương. Theo tin tình báo của Hoa Kỳ, Trung Cộng đã bán nhiều loại võ khí cho Pakistan và Myanmar và kỹ thuật nguyên tử cho Iran.[8] Rõ ràng Trung Hoa không muốn đứng chung trong một phe phái nào mà muốn tự mình lãnh đạo một khối riêng như thế tam phân thiên hạ mà Mao Trạch Đông đã theo đuổi. J. Mohan Malik đã nhận định rằng “trong trường kỳ thì Trung Quốc tin rằng với sức mạnh quân sự và kinh tế họ sẽ chiếm chỗ của Hoa Kỳ, còn trong đoản kỳ thì Trung Quốc tự cho mình vai trò lãnh đạo một khối thách đố vai trò chí tôn của nước Mỹ.”[9] Tuy nhiên, vấn đề của Trung Hoa không phải vì ý thức hệ mà vì bản chất hiếu chiến của những người cầm quyền ở Trung Nam Hải, cộng thêm sách lược tinh vi của chủ nghĩa Mác xít. Nếu quả thực như thế, vấn đề khống chế toàn vùng Đông Nam Á không những có lợi cho mặt kinh tế và quân sự mà đó chính là bước đầu tiên tạo một khu vực ảnh hưởng để tranh thiên hạ với các siêu cường khác. Âu Châu ngày nay đang tàn lụi, Mỹ Châu cũng đã qua thời kỳ vinh quang của họ và Liên Xô hiện nay tập trung vào việc giải quyết những vấn đề nội bộ hơn là tiếp tục chính sách bành trường thời thập niên 1960,1970. Để sửa soạn cho thế đi lên của mình, Trung Cộng không thể không chinh phục một số thuộc địa để bảo đảm cho một thị trường căn bản.
Người ta biết rằng trong vòng vài mươi năm nữa, khi thị trường Bắc Mỹ không còn quan trọng như hiện nay, bất cứ quốc gia nào lấy chủ trương xuất cảng để phát triển đều phải bảo đảm được rằng hàng hóa của mình có chỗ tiêu thụ. Khối ASEAN phải đứng chung lại với nhau dù còn nhiều bất đồng về chính kiến và chênh lệch về mực độ phát triển. Thế nhưng nếu đứng riêng rẽ, họ sẽ bị bẻ gẫy từng nước một như một bó đũa để rời.
Sự đứng chung đó đã tạo nên một vị trí mới. Trung Cộng đã bằng lòng giải quyết vấn đề biển Đông theo tinh thần quốc tế công pháp chứ không còn khăng khăng đòi nói chuyện riêng với từng nước như trước nữa. Mặc dù Trung cộng vẫn khẳng định biển Đông là hoàn toàn của họ nhưng họ đã đồng ý để khai thác chung, lấy lý do tôn trọng hải đạo và an ninh trong vùng.[10] Lẽ dĩ nhiên, trong tình hình hiện tại Trung Cộng chưa đủ sức đương đầu với mọi lực lượng trong vùng nhất là bên cạnh còn có Mỹ và Nhật mà họ chưa đo lường được phản ứng ra sao. Ai cũng biết rằng vấn đề chỉ tạm ổn trong một giai đoạn và cuộc chạy đua về kinh tế cũng như quân sự không thể ngừng lại nơi đây. Trong giai đoạn này, Việt Nam không đủ sức để đơn phương đòi lại phần lãnh thổ và lãnh hải bị cưỡng đoạt. Liên minh hàng ngang với các quốc gia Đông Nam Á, với Đài Loan, với Nhật Bản làm thế nương tựa là một việc cần thiết để làm chậm bước tiến của Trung Cộng. Sự hiện diện của Hoa Kỳ, nhu cầu phát triển địa bàn sản xuất và tìm kiếm nguyên liệu của Nhật Bản, sự có mặt của hải quân Nga đều là những nút chặn khả dĩ tài giảm bước chân của người không lồ phương bắc.
Lẽ dĩ nhiên, không một quốc gia nào - kể cả Mỹ - lại công khai đưa ra một thách thức đối với Trung Hoa, nhưng thế chiến lược mới không phải chỉ là đắp đập be bờ như 40 năm trước mà là tạo nên những thế ràng buộc chặt chẽ về kinh tế và chính trị khiến không một quốc gia nào dám vọng động làm chuyện phiêu lưu. Trong tình hình hiện tại, Việt Nam cũng như những quốc gia chung quanh cần ổn định chính trị để phát triển kinh tế. Chính phát triển kinh tế sẽ đưa tới chuyển biến chính trị một cách tương đối thuận lợi và ôn hòa. Có lẽ không lúc nào mà kế sách giữ nước của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đáng cho chúng ta suy gẫm như hiện nay. Nếu quả thực muốn bảo vệ bờ cõi, cái thế mà chính quyền phải hướng tới là “tùy cơ ứng biến, dùng binh phải đồng lòng như cha con một nhà thì mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải tự lúc bình thì khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc …”. Thế nhưng, điều tiên quyết cho một phương thức đồng thuận là một chính quyền của dân, do dân và vì dân.
❀ ❀ ❀
[1] Richard C. Koo What Asia Needs Is Peace Based on Reality, L.A. Times July 28, 1996
[2] Is Taiwan really part of China? The Economist, March 16, 1996 trang 40
[3] The Economist, October 10th, 1992 A Survey of Taiwan trang 8 và Lamley J. Harry, The 1895 Taiwan War of Resistance: Local Chinese Efforts against a Foreign Power, Taiwan, Studies in Chinese local history Columbia University 1970
[4] Spence D. Jonathan, The Search for Modern China, trang 510
[5] Soled E. Debra, China, A Nation in Transition, Congressional Quarterly Inc. Washington, D.C. 1995 Chinese Foreign Policy từ trang 219 đến trang 221
[6] Giang Hộ Hùng Giới, Trung Quốc Đại Băng Liệt, năm 199X sau khi Đặng Tiểu Bình chết, bản dịch của Lưu Tuyết Khanh, Đài Bắc, Đại Chấn xuất bản 1995 trang 138
[7] Brown Z. Frederick, Security Issues in Southeast Asia, The China Challenge, Academy of Political Science, 1991 trang 121
[8] Hunting witches, The Economist July 15th, 1995 trang 24
[9] Malik J. Mohan, China-India Relations in the Post-Soviet Era: The Continuing Rivalry, The China Quarterly June 1995 trang 319
[10] Thế giới nhật báo July 31, 1995, Trung Cộng đồng ý giải quyết tranh chấp Nam Sa theo luật quốc tế (Trung Cộng Nguyện Y Quốc Tế Pháp Hòa Bình Đàm Phán Giải Quyết Nam Sa Tranh Nghị)