Mặc dầu không còn được coi như một cường quốc quân sự, Nhật Bản vẫn là quốc gia có tiềm năng đáng kể và là quốc gia mà Trung Cộng vẫn còn gờm. Ngay từ thập niên 1970, khi tương quan giữa Mỹ và Nhật bắt đầu suy thoái, Nhật Bản đã tính chuyện tái võ trang cũng như chuẩn bị cho mình một thế đứng một khi Hoa Kỳ đổi hướng. Khi chính quyền Nixon và Kissinger bắt tay với Trung Cộng, chính phủ Mỹ đã mặc nhiên nhượng bộ cho Tàu nhiều vấn đề, không đếm xỉa gì đến các đồng minh cũ. Việt Nam bị bỏ rơi, kể cả việc để yên cho Trung Cộng chiếm các hải đảo ngoài khơi biển Đông. Đài Loan bị mất ghế tại Liên Hiệp Quốc, Nhật Bản bị o ép nhiều khu vực mậu dịch. Chính vì thế, Nhật Bản phải đi tìm một thế chiến lược mới ngõ hầu họ tiếp tục là một cường quốc kinh tế và nếu cần cũng có thể biến thành một cường quốc quân sự.
Tuy nhiên, Nhật Bản lại bị những ràng buộc từ hiệp ước an ninh Mỹ Nhật đến điều 9 hiến pháp giới hạn phát triển quân sự trong nhiệm vụ tự vệ mà thôi. Thành thử, họ không những không thể bành trướng quân đội mà cũng không thể được quyền trang bị hỏa tiễn liên lục địa. Việc tái trang bị cũng gây ra những phản ứng chống đối từ nhiều quốc gia trong vùng Á Châu Thái Bình Dương, là những nước từng bị Nhật đô hộ dưới thời thế chiến thứ hai. Việc tu chính hiến pháp cũng đưa đến tình hình phức tạp trong quan hệ Nhật-Nga-Hoa.
Thành ra, Nhật Bản phải đi tìm một đường lối uyển chuyển hơn. Nhật Bản đưa ra một phương án gọi là “an ninh thức thời” nghĩa là tăng cường quan hệ với những quốc gia trọng điểm của từng khu vực, chẳng hạn như Ai Cập ở Trung Đông hay Indonesia tại Đông Nam Á. An ninh kinh tế gắn liền với an ninh quân sự và những quốc gia nào có quan hệ kinh tế mật thiết với Nhật nhận được viện trợ dồi dào hơn.
Đến tháng 5 năm 1981, thủ tướng Suzuki đưa ra nguyên tắc là Nhật sẽ đảm nhậm trách nhiệm bảo vệ hải trình cách nước Nhật đến 1000 hải lý (1850 km) nhưng bị phản đối dữ dội. Thủ tướng Nakasone cũng đề ra cộng đồng an ninh khu vực và kế hoạch chế tạo hàng không mẫu hạm và chiến đấu cơ. Nhật cũng liên minh với Nam Hàn và viện trợ cho Nam Hàn 4 tỉ yen để cải thiện và trang bị quân sự. Không phải chỉ với Nam Hàn, Nhật còn liên lạc cả với Bắc Hàn để tạo những liên quan kinh tế, chính trị, ngoại giao chằng chịt. Hai phái bộ Nhật và Bắc Hàn đã gặp nhau cả thảy 3 lần hồi năm 1990 tại Bắc Kinh. Thảo luận bao gồm nhiều điểm kể cả bình thường hóa ngoại giao, kinh tế, các vấn đề quốc tế. Thành thử, Nam Hàn đâm ra nghi ngờ không hiểu Nhật có ủng hộ việc thống nhất của họ hay không, hay chỉ muốn Triều Tiên mãi mãi bị chia cắt để không bao giờ trở thành một đối thủ.
Đối với Tàu, vì Nhật Bản vốn dĩ có một tầm ảnh hưởng quan trọng đối với dân chúng tại Đài Loan (ngay Tổng Thống Lý Đăng Huy cũng nói tiếng Nhật thạo hơn nói tiếng quan thoại và ngày ngày vẫn đọc báo Nhật nên người ta nghi ông có khuynh hướng ly khai với lục địa để hợp tác với Nhật) và nhất là Nhật đối xử tàn ác với dân chúng Trung Hoa trong thời đệ nhị thế chiến nên hiện nay tuy Nhật cố gắng thân thiện để mở rộng ảnh hưởng kinh tế, Trung Cộng vẫn phát động công khai nhiều chiến dịch tố cáo và bài trừ Nhật. Có lẽ nếu phải gây chiến với một cường quốc để rửa nhục, đối tượng đầu tiên mà Trung Cộng nhắm tới sẽ là Nhật Bản. Trong nhiều trường hợp, Nhật Bản đang đóng vai một “kẻ xấu” làm đối tượng căm thù của Tàu.
Về phía Liên Xô, kể từ khi cải cách chính trị và từ bỏ đường lối cộng sản, họ còn phải đối phó với nhiều khó khăn nội bộ, chưa có lối thoát. Chính vì thế hiện nay chính sách của Liên Xô tại vùng Thái Bình Dương không còn nổi bật như trước và ảnh hưởng của họ cũng kém đi nhiều. Nếu có những xung đột trong vùng, Liên Xô không có một vị thế đáng kể. Trong nhiều năm qua, Nga và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ tập trung nỗ lực vào việc phát triển mậu dịch với các quốc gia Á Châu hơn là tìm một ưu thế về chiến lược.