Chiến Lược Mặt Biển Của Trung Quốc Và Vấn Đề Biển Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
C/ Việt Nam Và Biển Đông

❊ ❊ ❊

Kể từ khi chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô, giới lãnh đạo Việt Nam không còn có thể theo đuổi một chính sách liên kết với đồng minh ở xa để đối phó với kẻ thù gần như trước nữa. Việt Nam rơi vào thế thụ động và nỗ lực tìm cách thoát ra khỏi sự cô lập của thế giới bên ngoài cũng như tìm những liên minh mới để thay thế vai trò của Liên Xô. Tuy nhiên, hai bài học của thời kỳ hậu chiến khiến cho giới lãnh đạo Việt Nam hết sức dè dặt trên mặt ngoại giao:

Thứ nhất, họ ý thức được rằng Trung Quốc là một nước lớn ở ngay bên cạnh sườn. Dù hoàn cảnh nào, việc gây hấn với phương bắc không phải là một chiến lược có thể theo đuổi lâu dài. Vì thế, một chính sách nhịn nhục, mềm dẻo để bảo vệ chủ quyền có lợi hơn là trực diện chống đối. Hơn thế nữa, trong suốt 40 năm theo chế độ cộng sản, tuy có giai đoạn hai bên công kích và xung đột kịch liệt, đảng cộng sản Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng đảng cộng sản Trung Hoa rất nhiều, từ ý thức chính trị đến tổ chức cơ sở, nhất là hai quốc gia lại có chung một mẫu số văn hóa trong lịch sử. Một số lớn đảng viên kỳ cựu đã được Trung Cộng huấn luyện, có nhiều liên hệ với các giới đương quyền tại Bắc Kinh. Chính mô hình kinh tế mà họ đang theo đuổi cũng lại là một phó sản của cuộc cải cách tại Trung Hoa.

Thứ hai, Việt Nam cũng nhìn ra dù hình thức liên minh quân sự nào nếu không được hỗ trợ bởi kinh tế cũng không được bền lâu. Những tương quan quốc tế mới gắn liền với những liên hệ kinh tế đa phương. Việt Nam vì thế đã đưa ra nhiều hình thức chiêu dụ đầu tư để lôi kéo các quốc gia tư bản, đặc biệt là Nhật Bản, Âu Châu và nhất là Hoa Kỳ. Sự hiện diện của những công ty quốc tế đóng một vai trò quan trọng không những trên mặt chính trị mà cả mặt an ninh khu vực. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng nhận ra được rằng họ phải đi tìm một hình thức độc lập hơn về quốc phòng, không còn có thể đóng vai trò mũi nhọn trong công tác bành trướng khối xã hội chủ nghĩa mà phải tìm một vị thế chiến lược ổn định chung hơn là ngả hẳn về một siêu cường nào.

Từ sau thế chiến thứ hai tới nay, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia đảm trách việc giữ gìn an ninh trong vùng. Nếu như hạm đội số 7 rút ra khỏi Thái Bình Dương, việc chạy đua võ trang trên mặt biển giữa Nhật Bản, Trung Quốc, và những quốc gia vùng Đông Á là điều không thể tránh khỏi. Tình trạng bất ổn sẽ phương hại nghiêm trọng đến sự thịnh vượng chung của toàn vùng. Hoa Kỳ cũng còn là cán cân kinh tế và quốc gia nào cũng muốn gia tăng mậu dịch và đầu tư với nước Mỹ. Dẫu rằng khuynh hướng giao dịch giữa các quốc gia trong vùng gia tăng mãnh liệt trong vài năm qua nhưng số lượng xuất cảng ra ngoài vẫn đóng một vai trò quan trọng. Sự có mặt của Hoa Kỳ còn là một đối trọng cho ảnh hưởng của Nhật Bản. Hiện nay, Nhật Bản là quốc gia viện trợ và đầu tư nhiều hơn cả. Nếu Hoa Kỳ thu lại, Nhật Bản bắt buộc phải tìm cách trám vào chỗ trống mà Mỹ bỏ đi. Như thế, một không khí nghi kỵ sẽ nổi lên e sợ Nhật Bản trơ thành một siêu cường quân sự như thời thế chiến thứ hai.

Sau chiến tranh Việt Nam, các chính phủ Hoa Kỳ vẫn cố gắng không trực tiếp can thiệp vào khu vực Đông Nam Á. Ngay cả những công trình nghiên cứu qui mô về khu vực này cũng bị lãng quên. Nhiều học giả ngạc nhiên khi thấy Mỹ gần như không ảnh hưởng gì tới việc phát triển của khu vực này trong hai thập niên qua, ngay cả việc chuyển biến từ một chính sách kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường tại Việt Nam cũng không do sáng kiến của Hoa Kỳ. Thành thử, đối với nhiều chính khách, việc Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam hồi tháng 7 năm 1995 là quá sớm nhưng dưới nhãn quan chiến lược và kinh tế thì nhiều chuyên gia lại coi là đã trễ.[1] Nhiều dấu hiện gần đây cho thấy Hoa Kỳ trở nên quan tâm đến vùng châu Á Thái Bình Dương hơn châu Âu vì hiện nay vùng này đang phát triển mạnh, sẽ trở thành khu vực nhập cảng hàng của Mỹ nhiều nhất trong thế kỷ kế tiếp.[2] Việt Nam nay cũng được xếp hạng những quốc gia đang lên (big emerging markets) và cũng sẽ là một khách hàng có tiềm năng đáng kể.[3] Thành thử, trên cả quân sự lẫn kinh tế, nước Mỹ cảm thấy họ phải có thái độ tích cực hơn đối với vùng Đông Á, không những là một lực lượng bảo vệ hòa bình mà còn phải điều chỉnh cán cân lực lượng cho tới khi nào các quốc gia này có đủ sức đối phó với sự bành trướng của Trung Hoa. Lẽ dĩ nhiên Hoa Kỳ cũng không quên rằng họ vẫn là quốc gia xuất cảng nhiều vũ khí hơn cả, trong cũng như sau thời kỳ Chiến Tranh Lạnh và thu nhập quốc phòng đóng một phần quan trọng trong sản lượng quốc gia.

Cho tới gần đây, người Mỹ vẫn nhìn Trung Cộng như một thị trường vĩ đại cần phải ve vãn. Tuy nhiên, nếu nhìn về mặt kinh tế, Trung Cộng có lợi thế nhiều hơn trong bang giao giữa hai nước. Khiếm ngạch mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày càng tăng và hiện nay hàng hóa của Tàu tràn ngập các cửa hàng bách hóa của Mỹ. Chỉ nhìn thấy những vấn đề trước mắt, Hoa Kỳ đã không quan tâm tới hai điểm:

Thứ nhất, Trung Cộng thỏa hiệp với Mỹ hoàn toàn chỉ có tính chất giai đoạn. Dưới mắt của nhân dân Trung Hoa, người Mỹ vẫn là dân tộc đáng ghét nhất, đầy xấu xa, là một kẻ thù cần đề phòng. Hình ảnh chính trị và kinh tế mà người Tàu ngưỡng mộ là Singapore vì đường lối độc tài ở đó phù hợp với lối giải thích của họ hơn nền dân chủ kiểu Tây phương. Cái mơ ước trong tim của những người lãnh đạo Trung Nam Hải là một ngày nào đó họ sẽ dạy cho Mỹ, Nga, Nhật một bài học để trả thù mối nhục lịch sử với các dân tộc đó.[4]

Thứ hai, người Mỹ đã không đặt nặng vai trò của cộng đồng người Hoa ở khắp nơi. Năm mươi lăm triệu người Tàu ở bên ngoài chính quốc sở hữu một tài sản ước tính lên đến 2000 tỉ mỹ kim, kiểm soát một đế quốc vô hình quản trị bằng liên hệ thân tộc ở khắp nơi trên thế giới.[5] Sức mạnh kinh tế của những tập thể đó không những lũng đoạn được các chính quyền địa phương mà còn là một lực đẩy rất mạnh đến những biến chuyển của lục địa. Vận động của Hoa Kiều trong biến cố Thiên An Môn là một thí dụ điển hình Chính vì thế, việc nâng cấp các tập thể Hoa nhân đó không những phù hợp với chính sách ngoại giao cố hữu của Hoa Kỳ mà còn ít nhiều điều khiển được những vệ tinh xoay quanh lục địa Trung Hoa, gây tác động theo hướng thuận lợi nhất. Việc củng cố quan hệ với Đài Loan, tái tạo uy tín với Singapore cũng như yểm trợ cho khối ASEAN là một điều cần thiết trong lúc này.

❀ ❀ ❀

[1] Bresnan John, Ibid. Page 16

[2] The Ties That Bind U.S. to Europe Are Beginning to Look a Bit Frayed, Jim Mann, L.A. Times July 24, 1995

[3] White House to Target Vietnam and Neighbors for U.S. Exports, L.A. Times July 25, 1995

[4] Mới đây Trung Cộng đã xuất bản một cuốn sách nhan đề Trung Quốc có thể nói không (Zhang Xiaobo và Song Qiang), bắt chước quyển Japan can say no, chứng minh là Mỹ cần họ chứ họ không cần Mỹ.

[5] Griffiths Eldon, Lords of the Rim’ key to Chinese puzzle, Register Orange County August 4, 1995

t Biển Của Trung Quốc Và Vấn Đề Biển Đông ebook©MotSAch —★— TVE-4u©http://vietkiem.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.