Cuốn Sổ Vàng

Lượt đọc: 184 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bốn cuốn sổ

❊ ❊ ❊

[Giờ đây cuốn sổ đen đã bỏ ý định ban đầu là chia thành hai phần, Nguồn, và Tiền. Các trang dán đầy những bài viết cắt ra từ báo, được ghi ngày, thuộc các năm 1955, 56, 57. Mỗi mẩu tin đều liên quan đến bạo lực, chết chóc, bạo loạn, thù hận, tại một vùng nào đó ở châu Phi. Chỉ có một bài do Anna viết tay, ghi tháng chín năm 1956:]

Đêm qua mình mơ thấy người ta sắp sửa dựng một bộ phim truyền hình về nhóm người ở khách sạn Mashopi. Kịch bản đã sẵn sàng, do một người khác viết. Ông đạo diễn liên tục quả quyết với mình: “Cô sẽ hài lòng khi xem kịch bản, đó chính xác là những gì mà hẳn cô sẽ tự mình viết ra.” Nhưng vì lý do nào đó mà mình không bao giờ được xem kịch bản. Mình đến xem tổng duyệt bộ phim truyền hình. “Bối cảnh” là dưới hàng cây bạch đàn bên cạnh đường ray xe lửa bên ngoài khách sạn Mashopi. Mình vui khi thấy đạo diễn tạo được không gian quá tốt. Sau đó mình thấy rằng hóa ra “bối cảnh” là đồ thật: không biết bằng cách nào đó ông đã đưa được toàn bộ diễn viên đến Trung Phi và quay phim dưới chính tán bạch đàn, thậm chí với những chi tiết như mùi rượu vang bốc lên khỏi đám bụi trắng, mùi bạch đàn trong ánh nắng chói chang. Rồi tôi thấy máy quay xuất hiện, được đẩy trên giá gắn bánh xe để quay phim. Chúng làm tôi nghĩ đến súng, chĩa vào và vung vẩy trên đầu nhóm người chờ bắt đầu diễn. Vở diễn bắt đầu. Tôi bắt đầu cảm thấy bồn chồn. Rồi tôi hiểu rằng lựa chọn của đạo diễn trong các cảnh quay và thời gian đang làm “cốt truyện” thay đổi. Thứ xuất hiện trong bộ phim hoàn chỉnh sẽ rất khác với những gì tôi nhớ được. Tôi chẳng có quyền gì để ngăn tay đạo diễn và mấy người quay phim. Vì vậy tôi đứng sang một bên và quan sát cả nhóm (trong đó có Anna, là tôi, nhưng không giống như ký ức của tôi về cô). Họ đang nói các câu thoại mà tôi không nhớ, mối quan hệ giữa họ cũng hoàn toàn khác. Trong tôi ngập tràn lo âu. Khi tất cả đã xong, đoàn làm phim bắt đầu tản đi uống ở quầy bar khách sạn Mashopi, và mấy người quay phim (bây giờ tôi mới thấy là toàn người da đen, toàn bộ đội kỹ thuật đều là da đen) đẩy các máy quay đi và tháo rời chúng ra (vì chúng cũng là súng máy). Tôi nói với đạo diễn: “Tại sao ông lại thay đổi cốt truyện của tôi?” Tôi thấy là ông ta chả hiểu tôi định nói cái gì. Tôi đã tưởng là ông ta cố tình làm vậy, đã quyết định là cốt truyện của tôi không hay. Nhưng trông ông ta lại khá mếch lòng, chắc chắn là ngạc nhiên. Ông nói: “Nhưng Anna ạ, cô thấy những người kia chứ? Cô thấy điều tôi thấy chứ? Họ có nói những lời đó, phải không? Tôi chỉ quay lại những gì hiện diện ở đó.” Tôi không biết phải nói sao nữa, vì tôi thấy ông nói đúng, và những gì tôi “nhớ” có lẽ không đúng. Ông nói, buồn bực vì thấy tôi buồn bực: “Vào uống chút gì đi, Anna. Cô không thấy sao, chúng ta làm phim gì không quan trọng, miễn là chúng ta có quay cái gì đó.”

Tôi sẽ đóng cuốn sổ này lại. Nếu Mẹ Mật yêu cầu tôi “gọi tên” giấc mơ này, tôi sẽ bảo rằng nó là giấc mơ về sự cằn cỗi tuyệt đối. Và bên cạnh đó, từ hồi mơ thấy nó, tôi không còn nhớ nổi Maryrose đã đánh mắt thế nào, Paul đã cười ra sao. Mất sạch.

[Có một dòng kẻ đôi màu đen ngang giữa trang, đánh dấu kết thúc cuốn sổ.]

*

[Cũng giống như cuốn sổ bìa đen, cuốn sổ bìa đỏ tới đây đầy những mẩu báo cắt ra, về hai năm 1956 và 1957. Các bài báo này đề cập đến những sự kiện ở châu Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ. Giống như các mẩu cắt về châu Phi trong cùng thời kỳ, chúng chủ yếu viết về bạo lực. Anna đã gạch chân từ “tự do” mỗi khi nó xuất hiện, bằng chì đỏ. Cuối cùng, cô đếm tổng số những vạch chì đỏ, tổng cộng có 679 lần nhắc đến từ tự do. Sau đây là đoạn duy nhất cô viết tay trong thời kỳ này:]

Hôm qua Jimmy đến thăm tôi. Anh vừa trở về sau chuyến thăm Liên Xô cùng với một đoàn giáo viên. Kể tôi nghe chuyện này. Harry Mathews, một giáo viên, đã bỏ việc để chiến đấu ở Tây Ban Nha. Bị thương, mười tháng nằm viện với một cái chân gãy. Trong quãng thời gian này suy nghĩ về Tây Ban Nha - những việc bẩn thỉu của phe cộng sản ở đó, vân vân, đọc rất nhiều, trở nên hoài nghi Stalin. Đấu đá nội bộ như mọi khi - Đảng Cộng sản, rồi bị khai trừ đảng, gia nhập phe Trotsky. Tranh cãi với họ, rồi bỏ nốt. Không có khả năng tham gia chiến đấu vì què chân, anh ta chuyển sang dạy dỗ trẻ em lạc hậu. “Khỏi cần phải nói, đối với Harry không có những khái niệm như trẻ em ngu dốt, chỉ có trẻ em bất hạnh mà thôi.” Harry sống qua chiến tranh trong một căn phòng nhỏ tồi tàn gần King’s Cross, thực hiện không ít hành động anh hùng, chẳng hạn như cứu người khỏi những tòa nhà cháy hay bị trúng bom. “Anh ta đúng là một huyền thoại trong vùng, nhưng tất nhiên khi mọi người bắt đầu tìm kiếm người hùng què chân vừa cứu đứa bé hoặc bà già tội nghiệp thì lại chẳng thấy Harry đâu, bởi vì chẳng cần nói cũng biết, nếu nhận công đối với những việc anh hùng đó, anh ta sẽ tự khinh bỉ chính mình.” Khi cuộc chiến kết thúc, Jimmy từ Miến Điện trở về, đến gặp người bạn cũ Harry, nhưng họ cãi nhau. “Anh là đảng viên một trăm phần trăm, còn kia là Harry, một tên Trotsky bẩn thỉu, vì vậy bọn anh nặng lời và mãi mãi xa nhau. Nhưng anh thích thằng ngốc đấy, vì vậy anh vẫn luôn tâm niệm phải tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra với anh ta.” Harry có hai cuộc đời. Cuộc đời hướng ngoại chỉ có hy sinh và cống hiến. Anh ta không chỉ làm việc ở trường dành cho trẻ em lạc hậu, và rất thành công, mà tối nào anh ta cũng mời trẻ em trong vùng (vùng này nghèo) về nhà mình để học. Anh ta dạy cho các em văn học, bắt các em đọc, phụ đạo cho các em thi cử. Anh ta dạy học ở mọi nơi cộng lại mười tám tiếng mỗi ngày. “Không cần phải nói, anh ta coi ngủ là lãng phí thời gian nên đã rèn mình chỉ ngủ mỗi đêm bốn tiếng.” Anh ta sống trong căn phòng duy nhất này cho đến khi người vợ góa của một phi công không quân đem lòng yêu và đưa anh ta về căn hộ của cô, ở đó anh ta có hai phòng. Cô có ba đứa con. Anh ta đối xử tốt với cô, nhưng nếu như bây giờ cô dành trọn đời mình cho anh ta thì đời anh ta lại dành cho trẻ em, ở trường học và ngoài đường phố. Đấy là cuộc sống hướng ngoại của anh ta. Trong lúc đó thì anh ta học tiếng Nga. Trong lúc đó anh ta sưu tập sách, sách tuyên truyền, bài báo cắt ra, về Liên Xô. Trong lúc đó anh ta tự xây dựng cho mình một hình dung về lịch sử thật sự của Liên Xô, hay nói đúng hơn là của Đảng Cộng sản Nga, từ năm 1900 trở đi.

Khoảng vào năm 1950, một người bạn của Jimmy ghé thăm Harry và kể cho Jimmy nghe về anh ta. “Anh ta thường mặc áo bay, hoặc áo đại cán, đi dép, tóc cắt ngắn kiểu quân đội. Chẳng bao giờ anh ta cười. Một bức chân dung Lenin trên tường - là cái chắc rồi. Một bức nhỏ hơn của Trotsky. Người góa phụ lễ phép đi lại đằng sau. Lũ trẻ con ngoài đường chốc chốc lại chạy vào nhà. Còn Harry thì nói về Liên Xô. Khi đó anh ta đã nói tiếng Nga rất lưu loát, biết rõ nội tình từng cuộc cãi cọ hay mưu đồ nhỏ chứ đừng nói đến những vụ tắm máu lớn, từ xưa xửa xừa xưa. Và toàn bộ những điều này để làm gì? Anna, em không đoán được đâu.” “Tất nhiên là được chứ,” tôi đáp. “Anh ấy đang chuẩn bị tinh thần sẵn sàng cho ngày đó.” “Tất nhiên. Chính xác luôn. Tên điên tội nghiệp đấy đã chuẩn bị tất cả - ngày đó sẽ đến khi toàn bộ các đồng chí ở Nga đều bỗng nhiên và đồng thời nhìn thấy ánh sáng. Họ sẽ nói: ‘Chúng ta đã lạc đường mất rồi, chúng ta đã đi nhầm hướng, chúng ta chẳng nhìn thấy gì phía chân trời. Nhưng đằng phía St Pancras, London, Anh, là đồng chí Harry, người chuyện gì cũng biết. Chúng ta sẽ mời đồng chí ấy đến và xin lời khuyên’.” Thời gian trôi qua. Mọi việc càng lúc càng trở nên tồi tệ hơn, nhưng theo quan điểm của Harry thì lại càng ngày càng trở nên tốt đẹp hơn. Mỗi khi Liên Xô xảy ra một vụ tai tiếng mới, dường như tinh thần của Harry lại lên cao hơn. Những chồng báo chất cao tới trần trong phòng Harry và tràn sang cả mấy căn phòng của bà góa. Anh ta đã nói được tiếng Nga như người bản địa. Stalin chết - Harry gật gù mà nghĩ: Sẽ chẳng còn lâu nữa đâu. Và sau đó là Đại hội Hai mươi: Tốt, nhưng chưa đủ. Và sau đó Harry gặp Jimmy trên phố. Là kẻ thù chính trị lâu đời của nhau, họ cau mày và gồng người lên. Rồi họ gật đầu, và mỉm cười. Sau đó Harry đưa Jimmy trở lại căn hộ của góa phụ kia. Họ uống trà. Jimmy nói: “Có một phái đoàn đi Liên Xô, tớ đang tổ chức, có muốn đi không?” Harry bỗng dưng rạng rỡ. “Cứ hình dung xem, Anna, anh ngồi đó một cục, nghĩ bụng: Ồ, rốt cuộc thì tay mê Trotsky tội nghiệp cũng đặt trái tim đúng chỗ, anh ta vẫn còn rất yêu đất mẹ của chúng ta. Nhưng còn anh ta thì đang nghĩ: Ngày của mình đã đến rồi. Anh ta liên tục hỏi anh ai đã đề xuất tên anh ta, và rõ ràng là điều này rất quan trọng với anh ta nên anh không nỡ nói rằng ý tưởng này chỉ mới chợt nảy ra trong đầu anh lúc đó mà thôi. Anh không hề biết là anh ta tin rằng chính là Đảng, hơn nữa còn là Đảng ở tận Moscow, đang triệu anh ta đến để giúp đỡ họ. Dù sao thì, tóm lại là tất cả bọn anh đều đi Moscow, ba mươi giáo viên người Anh hạnh phúc. Và người hạnh phúc nhất, Harry tội nghiệp, đã nhét tài liệu và báo chí đầy từng túi chiếc áo đại cán kiểu quân đội. Bọn anh đến Moscow, và anh ta toát ra vẻ đầy tận tâm và mong đợi. Anh ta đối xử tốt với bọn anh, nhưng bọn anh lại độ lượng hiểu đó là anh ta khinh thường bọn anh đã sống khá phù phiếm - so với anh ta - nhưng quyết tâm không thể hiện. Bên cạnh đó, hầu hết bọn anh đều từng ủng hộ Stalin, và không thể phủ nhận là hồi này không ít người từng theo Stalin đều cảm thấy cắn rứt ít nhiều khi gặp dân phe Trotsky. Tuy nhiên. Phái đoàn vẫn tiến lên trên con đường hoa thăm các xí nghiệp, trường học, cung văn hóa, trường đại học, chưa nói đến diễn văn và tiệc tùng. Và Harry ở đó, với cái áo đại cán, cái chân què, vẻ nghiêm trang đậm chất cách mạng, hóa thân sống của Lenin, có điều lũ người Nga ngớ ngẩn kia không chịu nhận ra anh ta. Tất nhiên là bọn họ ngưỡng mộ sự nghiêm túc cao quý của anh ta, nhưng không ít lần họ hỏi tại sao Harry lại mặc trang phục kỳ quặc thế, và thậm chí, theo như anh nhớ, còn hỏi có phải anh ta mang một nỗi buồn thầm kín hay không. Trong khi đó, tình bạn cũ của bọn anh đã phục hồi và ban đêm bọn anh thường tán gẫu chuyện này chuyện nọ trong phòng mình. Anh nhận thấy là anh ta đang nhìn anh với ánh mắt càng lúc càng hoang mang. Anh nhận thấy là anh ta đang trở nên kích động. Và anh vẫn không biết điều gì đang diễn ra trong đầu anh ta. Rồi vào đêm cuối cùng của chuyến thăm, bọn anh phải ra ngoài dự tiệc với một tổ chức giáo viên nào đó nhưng Harry không đi. Anh ta bảo thấy trong người không được khỏe. Khi quay về, anh đến thăm và thấy anh ta đang ngồi trong chiếc ghế bành bên cửa sổ, cái chân què giữ thẳng trước mặt. Anh ta đứng dậy đón anh, hết sức rạng rỡ, nhưng rồi choáng váng khi thấy chỉ có mình anh, anh có thể nhận ra điều đó. Sau đó anh ta xác minh lại với anh và phát hiện ra rằng anh ta được mời vào đoàn chỉ vì anh nảy ra ý nghĩ đó khi gặp anh ta trên phố mà thôi. Lẽ ra anh phải tự đá cho mình một cái vì đã nói cho anh ta biết. Anh thề, Anna ạ, đúng lúc mà anh bắt đầu hiểu ra, anh ước mình đã bịa ra một câu chuyện nào đó về chính Khrushchev đã muốn mời chẳng hạn. Anh ta cứ nhắc đi nhắc lại: ‘Jimmy, cậu phải nói thật với tớ, cậu mời tớ, đó có phải chỉ là ý kiến của cậu hay không?’ hết lần này đến lần khác. Điều này thật sự là kinh khủng. Chậc, rồi bỗng nhiên cô phiên dịch bước vào xem bọn anh đã có đủ mọi thứ cho đêm hôm đó hay chưa và chào tạm biệt, bởi vì sáng mai bọn anh sẽ không gặp cô ấy nữa. Cô ấy khoảng hai mươi đến hai hai tuổi, cực kỳ hấp dẫn với hai bím tóc vàng rất dài và đôi mắt xám. Anh thề là thằng nào trong đoàn cũng đều mê cô ấy. Cô ấy như gục xuống đến nơi vì kiệt sức, bởi vì không phải là chuyện đùa khi phải chăm lo cho ba mươi giáo viên người Anh trong hai tuần lễ tại khắp mọi cung văn hóa và trường học. Nhưng bỗng nhiên Harry nhìn thấy cơ hội. Anh ta kéo một chiếc ghế ra và nói: ‘Đồng chí Olga, mời đồng chí ngồi.’ Không cho phép bất cứ cự cãi nào. Anh biết sắp sửa xảy ra chuyện gì, bởi vì anh ta đang dỡ đống luận án và tài liệu trên khắp người ra và bày hết lên bàn. Anh cố gắng ngăn anh ta lại nhưng anh ta chỉ hất hàm về phía cánh cửa. Khi Harry hất hàm về phía cánh cửa thì người ta chỉ còn cách ra ngoài. Vậy là anh về phòng và ngồi hút thuốc, chờ đợi. Lúc đó là khoảng một giờ sáng. Bọn anh phải dậy lúc sáu giờ để người ta đưa ra sân bay lúc bảy giờ. Đến sáu giờ thì Olga bước vào, tái nhợt vì kiệt sức, và rõ ràng là rất hoang mang. Đúng, chính là từ đấy, rất hoang mang. Cô ấy bảo với anh, ‘Em đến nói với anh rằng anh phải chăm sóc anh bạn Harry, em nghĩ anh ấy không ổn lắm, anh ấy quá kích động.’ Vậy là anh kể cho Olga nghe hết về thành tích của anh ta trong chiến tranh Tây Ban Nha, các hành động anh hùng của anh ta, rồi anh bịa thêm vài ba cái nữa, và rồi cô ấy nói: ‘Vâng, dễ dàng nhận thấy anh ấy là người rất tốt.’ Rồi cô ngáp một cái suýt rách mặt và về đi ngủ, bởi vì hôm sau cô còn phải xử lý một đoàn giáo hội yêu hòa bình đến từ Scotland. Sau đó thì Harry bước vào. Anh ta hốc hác như một con ma và không thể hiện chút cảm xúc nào. Toàn bộ nền tảng đời anh ta đã sụp đổ. Anh ta kể cho anh nghe diễn biến câu chuyện, trong khi anh cứ giục anh ta phải nhanh lên, bởi vì bọn anh phải ra sân bay mà kể từ đêm hôm trước đến lúc ấy vẫn chưa ai trong hai người thay đồ cả…”

Có vẻ như là Harry đã bỏ hết giấy tờ và các mẩu báo lên bàn rồi bắt đầu diễn thuyết về lịch sử Đảng Cộng sản Nga, bắt đầu từ thời mới lập ra tờ Iskra. Olga ngồi đối diện, cố kìm để không ngáp, mỉm cười, duyên dáng và duy trì vẻ lịch sự văn minh vẫn dành cho những vị khách tiến bộ nước ngoài. Có lúc cô hỏi anh ta có phải là sử gia hay không, nhưng anh ta trả lời: “Không, tôi là một người theo chủ nghĩa xã hội, cũng như chính đồng chí vậy.” Anh ta dẫn dắt cô qua những năm tháng âm mưu, chủ nghĩa anh hùng và những cuộc chiến của giới trí thức, không bỏ sót chút gì. Đến khoảng ba giờ sáng, cô nói: “Xin phép đồng chí một chút được không ạ?” Cô phiên dịch ra ngoài, còn anh ta thì ngồi đó mà nghĩ rằng cô đã đi báo cảnh sát, và anh ta sắp bị bắt rồi “đày đi Siberia”. Khi Jimmy hỏi Harry xem anh ta cảm thấy thế nào nếu phải biến mất ở Siberia, có thể là vĩnh viễn, Harry trả lời: “Đối với một thời điểm như thế này, chả có cái giá nào là quá cao cả.” Bởi vì tất nhiên là lúc này anh ta đã quên mất rằng mình đang nói chuyện với nữ phiên dịch Olga, một cô gái tóc vàng hai mươi tuổi có bố đã chết trong chiến tranh, bản thân đang phải chăm sóc bà mẹ góa bụa và định mùa xuân tới sẽ lấy một nhà báo của tờ Pravda. Lúc đó anh ta đang diễn thuyết trước bản thân Lịch sử. Anh ta chờ cảnh sát, người nhũn ra trong hân hoan chấp nhận, nhưng khi Olga trở lại, thứ cô mang theo chỉ là hai ly trà cô đã gọi ở nhà hàng. “Phục vụ chậm chạp không thể tả, Anna ạ, vì vậy anh có thể hình dung anh ta ngồi đó chờ bị còng cũng được một lúc lâu.” Olga ngồi xuống, đẩy ly trà về phía anh ta và nói: “Xin hãy nói tiếp đi ạ, xin lỗi vì đã ngắt lời đồng chí.” Chẳng mấy chốc thì cô đã ngủ. Harry vừa mới nói đến chỗ Stalin bố trí ám sát Trotsky ở Mexico. Có vẻ như khi ấy Harry chỉ ngồi đó, bỏ dở câu nói, nhìn Olga, hai bím tóc lấp lánh của cô tuột qua đôi vai buông thõng, đầu cô ngoẹo sang một bên. Rồi anh ta lùa đám giấy tờ lại, cất đi. Sau đó anh ta nhẹ nhàng đánh thức cô dậy, xin lỗi vì đã làm cho cô chán. Cô rất ngượng vì thái độ của mình, nhưng giải thích rằng mặc dù rất thích làm phiên dịch cho hết đoàn này rồi lại đến đoàn khác nhưng đây là công việc vất vả, “Và bên cạnh đó, mẹ tôi ốm đau lắm nên đêm về tôi vẫn phải làm việc nhà.” Cô chộp lấy tay anh ta rồi nói: “Tôi hứa với đồng chí một việc. Tôi hứa là khi các sử gia của Đảng viết lại lịch sử Đảng Cộng sản của chúng ta với những chỉnh sửa phù hợp các chỗ xuyên tạc áp đặt dưới thời đồng chí Stalin, tôi hứa với đồng chí là tôi sẽ đọc.” Có vẻ như Harry đã bất ngờ trước việc cô bối rối đến vậy do cư xử thiếu chuyên nghiệp. Họ động viên lẫn nhau thêm vài phút nữa. Sau đó Olga ra về, gặp Jimmy và nói rằng bạn anh quá kích động.

Tôi hỏi Jimmy sau đó thế nào. “Anh chả biết. Bọn anh phải mặc đồ và thu dọn vội vã, sau đó bay về. Harry im lặng và trông khá ủ rũ nhưng chỉ có thế. Anh ta cứ một mực cảm ơn anh vì đã cho anh ta tham gia phái đoàn: một trải nghiệm rất quý, anh ta bảo vậy. Tuần trước anh đến gặp anh ta. Rốt cuộc thì anh ta cũng cưới góa phụ kia và cô ấy có thai rồi, anh cũng không biết điều đó chứng tỏ cái gì nữa, nếu nó có chứng tỏ điều gì đó thật.”

[Đến đây, một dòng kẻ đôi màu đen đánh dấu cuốn sổ đỏ kết thúc.]

*

[Cuốn sổ bìa vàng tiếp tục:]

*1 TRUYỆN NGẮN

Một phụ nữ khao khát yêu đương gặp một người đàn ông trẻ hơn cô khá nhiều, có lẽ là trẻ hơn về trải nghiệm cảm xúc hơn là về tuổi tác, hoặc có lẽ là về chiều sâu trải nghiệm cảm xúc của anh. Cô tự dối mình về bản chất của người đàn ông này; còn đối với anh, đây chỉ đơn thuần là một cuộc tình khác mà thôi.

*2 TRUYỆN NGẮN

Một người đàn ông sử dụng ngôn ngữ người lớn, thứ ngôn ngữ của những người trưởng thành về mặt cảm xúc, để chinh phục một người phụ nữ. Cô dần hiểu ra rằng thứ ngôn ngữ này xuất phát từ một ý tưởng nào đó trong đầu anh ta chứ chẳng liên quan gì đến cảm xúc của anh ta cả; trên thực tế, xét về mặt cảm xúc thì anh ta chỉ là một cậu thiếu niên. Nhưng, mặc dù biết vậy, cô vẫn không ngăn được mình xiêu lòng và vẫn bị thứ ngôn ngữ đó chinh phục.

*3 TRUYỆN NGẮN

Gần đây nhìn thấy trong bài phê bình một cuốn sách: “Một trong những cuộc tình bất hạnh thường thấy ở phụ nữ, ngay cả người tốt nhất, thường có xu hướng yêu người đàn ông không xứng đáng với mình.” Tất nhiên, bài phê bình này do nam giới viết. Sự thật là khi “phụ nữ tốt” đem lòng yêu “đàn ông không xứng đáng” thì nguyên nhân luôn luôn hoặc là do những người đàn ông này đã “gọi tên” họ, hoặc là do họ có một đặc tính thiếu hoàn chỉnh mơ hồ nào đó không có ở đàn ông “tốt” hoặc “tử tế”. Đàn ông bình thường, đàn ông tốt, thì đã kết thúc, hoàn thiện, và không có tiềm năng gì nữa. Chuyện sẽ kể về cô bạn Annie của tôi ở Trung Phi, một “phụ nữ tốt” lấy một “đàn ông tốt”. Anh là công chức, đáng tin cậy, có trách nhiệm, và anh âm thầm viết những bài thơ dở ẹc. Cô đem lòng yêu một tay thợ mỏ lăng nhăng, nát rượu. Chứ không phải là một tay thợ mỏ hoạt động trong tổ chức, người quản lý, thư ký, hay ông chủ. Anh ta chuyển từ cái mỏ bé này sang mỏ bé khác, cái nào cũng luôn tạm bợ, sẵn sàng được ăn cả ngã về không. Anh ta bỏ đi khi mỏ làm ăn thua lỗ hay được bán cho một liên doanh lớn. Một tối, tôi gặp hai người bọn họ. Anh ta vừa mới về từ một mỏ nào đó ở vùng xa xôi hẻo lánh cách đó chừng năm trăm cây số. Và cô ở đó, hơi béo, má đỏ bừng, một cô gái xinh đẹp bị vùi trong dáng vẻ của một mệnh phụ. Anh ta nhìn qua phía cô và nói: “Annie, em sinh ra để làm vợ cướp biển mới phải.” Tôi nhớ chúng tôi đã phá lên cười thế nào, bởi vì rõ là buồn cười, cướp biển trong căn phòng bé xíu đó ở ngoại ô thành phố; lũ cướp biển cùng anh chồng dễ thương, tốt bụng và Annie, cô vợ tốt, cảm thấy ăn năn về cuộc tình này, cuộc tình trong tâm tưởng nhiều hơn là thể xác, với tay thợ mỏ lang bạt. Nhưng tôi nhớ khi anh ta nói điều đó, cô đã nhìn anh ta bằng ánh mắt biết ơn như thế nào. Anh ta chết vì rượu nhiều năm sau đó. Tôi nhận được thư cô, sau nhiều năm im lặng: “Cậu còn nhớ X chứ? Anh ấy mất rồi. Cậu sẽ hiểu tớ - đời tớ không còn ý nghĩa nữa.” Câu chuyện này, được dịch sang tình hình nước Anh, phải là cô vợ dễ thương ở ngoại ô đem lòng yêu một tay ăn bám vô vọng ở quán cà phê, luôn nói rằng hắn sẽ viết, và có lẽ một ngày nào đó cũng đã viết thật, nhưng điều đấy không quan trọng. Câu chuyện được viết ra từ điểm nhìn của anh chồng tử tế và hoàn toàn có trách nhiệm, không hiểu nổi sức hấp dẫn của tay ăn bám này.

*4 TRUYỆN NGẮN

Một phụ nữ mạnh khỏe đem lòng yêu một gã đàn ông. Cô thấy mình trở nên ốm yếu, với những triệu chứng cả đời cô chưa bao giờ gặp. Dần dần cô hiểu rằng căn bệnh này không phải của cô, cô hiểu rằng gã đàn ông kia mới đau ốm. Cô hiểu bản chất của căn bệnh, không phải từ anh ta, từ cách anh ta hành xử hay lời anh ta nói, mà từ cách căn bệnh của anh ta phản ánh trong chính người cô.

*5 TRUYỆN NGẮN

Một phụ nữ đang yêu, trái với ý muốn của cô. Cô thấy hạnh phúc. Vậy nhưng, đang đêm cô tỉnh giấc. Anh ta thình lình bật dậy, như thể đang gặp nguy hiểm. Anh ta nói: Không, không, không. Sau đó, tỉnh táo và kiểm soát. Anh ta chầm chậm nằm trở lại, im lặng. Cô muốn nói: Anh nói Không với cái gì thế? Vì trong cô tràn ngập cảm giác sợ hãi. Cô không nói ra. Cô chìm trở lại giấc ngủ, và khóc trong mơ. Cô tỉnh giấc, anh ta vẫn thức. Cô lo lắng nói, Tim anh đang đập đấy sao? Anh ta, sưng sỉa: Không, tim em.

*6 TRUYỆN NGẮN

Một người đàn ông và một phụ nữ, quan hệ tình ái với nhau. Cô, vì khao khát tình yêu, còn anh ta thì tìm nơi nương tựa. Một chiều anh ta nói, giọng rất thận trọng: “Anh phải đi gặp…” Nhưng khi lắng nghe một lời giải thích dài dòng văn tự, cô biết đây chỉ là cái cớ, vì cô tràn đầy rầu rĩ. Cô nói, “Tất nhiên. Tất nhiên rồi.” Anh ta nói, cùng tiếng cười lớn trẻ trung đột ngột, giọng rất hung hăng: “Em bi quan quá đấy,” và cô đáp: “Anh nói bị quan là sao? Em không phải là người trông giữ anh, vì vậy đừng biến em thành một ả đàn bà Mỹ.” Anh ta vào giường cô, rất muộn, và cô quay sang anh ta, vừa thức giấc. Cô cảm thấy tay anh ta vòng quanh mình, thận trọng, đắn đo. Cô hiểu anh ta không muốn làm tình với cô. Dương vật anh ta ỉu xìu, mặc dù (và điều này khiến cô khó chịu, sự ngây thơ ấy) thân hình anh ta di chuyển giữa hai đùi cô. Cô gắt gỏng: “Em buồn ngủ.” Anh ta thôi di chuyển. Cô cảm thấy có lỗi, bởi vì có thể anh ta sẽ thấy bị tổn thương. Bỗng nhiên cô thấy anh ta lớn lên. Cô bực bội khi anh ta muốn cô chỉ vì cô đã từ chối. Nhưng cô yêu, nên cô quay sang anh ta. Khi làm tình xong, cô biết rằng đối với anh ta điều này có nghĩa là đã hoàn thành một việc gì đó. Cô gay gắt nói, từ hiểu biết bản năng chứ không biết trước mình sẽ nói ra điều này: “Anh vừa làm tình với một người khác.” Anh ta nói nhanh: “Sao em biết?” Và rồi, cứ như là chưa hề nói câu sao em biết, anh ta nói: “Đâu có. Em cứ tưởng tượng ra thế.” Sau đó, vì cô im lặng một cách căng thẳng, khổ sở, anh ta sưng sỉa nói: “Anh không nghĩ là chuyện đó lại quan trọng đến thế. Em phải hiểu là anh không coi trọng chuyện đó.” Câu cuối cùng khiến cô cảm thấy mình bị thu nhỏ và hủy diệt, cứ như cô không hiện hữu trong tư cách một người phụ nữ.

*7 TRUYỆN NGẮN

Một tay lang thang tình cờ ghé vào nhà một phụ nữ mà gã thích và cần. Gã là kẻ có bề dày kinh nghiệm đối với những người phụ nữ cần tình yêu. Thường thì gã tự giới hạn bản thân. Nhưng lần này, những lời gã nói, những cảm xúc gã cho phép chính mình đều rất mập mờ, bởi vì gã cần lòng tốt của cô một thời gian. Gã làm tình với cô, nhưng với gã thứ tình dục đó chẳng hơn cũng chẳng kém những gì gã đã nếm trải trước đó cả trăm lần. Gã nhận ra rằng nhu cầu trú tạm đã trói gã vào với thứ mà gã sợ nhất: lời đàn bà nói Em yêu anh. Gã cắt đứt. Nói lời từ biệt, rất trang trọng, ở cấp độ tình bạn chấm dứt. Đi. Viết trong nhật ký: Rời London. Anna trách móc. Cô ấy ghét mình. Ờ, thì cứ thế đi. Và một dòng khác, nhiều tháng sau, có thể hoặc là: Anna lấy chồng, tốt. Hoặc: Anna tự tử. Đáng tiếc, người đâu mà dễ thương.

*8 TRUYỆN NGẮN

Một nữ nghệ sĩ - họa sĩ, nhà văn, chả quan trọng, sống một mình. Nhưng cả đời cô chỉ hướng về một người đàn ông vắng mặt mà cô đang chờ đợi. Chẳng hạn, căn hộ của cô quá lớn. Đầu óc cô đầy những hình ảnh về người đàn ông sẽ bước vào đời cô, trong khi ấy cô ngừng vẽ vời/viết lách. Nhưng trong tâm trí mình, cô vẫn là “nghệ sĩ”. Cuối cùng, một người đàn ông bước vào đời cô thật, một dạng nghệ sĩ, nhưng chưa đủ kết tinh thành nghệ sĩ. Nhân cách “nghệ sĩ” của cô đi vào tính cách anh ta, anh ta lấy sức mạnh từ nó, làm việc nhờ nó, cứ như cô là chiếc máy phát truyền năng lượng vào người anh ta. Rốt cuộc thì anh ta trưởng thành, một nghệ sĩ thực thụ, mãn nguyện; còn người nghệ sĩ trong cô thì chết. Khi cô không còn là nghệ sĩ nữa, anh ta bỏ cô, anh ta cần người phụ nữ có phẩm chất này để anh ta có thể sáng tác.

*9 TIỂU THUYẾT NGẮN

Một “cựu đỏ” người Mỹ đến London. Không tiền bạc, không bạn bè. Có tên trong danh sách đen của giới làm phim và truyền hình. Nhóm kiều dân Mỹ ở London, hay nói đúng hơn là nhóm kiều dân Mỹ “cựu đỏ”, biết anh ta là người đã bắt đầu chỉ trích các chính sách của Stalin trong Đảng Cộng sản từ ba, bốn năm trước khi họ đủ can đảm làm vậy. Anh đến nhờ họ giúp đỡ vì nghĩ rằng nay anh đã được thực tế chứng minh thì họ sẽ quên đi sự thù địch. Nhưng thái độ của họ đối với anh vẫn như khi họ còn là những đảng viên hoặc là cảm tình viên mẫn cán. Anh vẫn là kẻ tội đồ, bất chấp thực tế là thái độ của họ đã thay đổi, và bây giờ họ đang đấm ngực vì không rời bỏ đảng sớm hơn. Họ bắt đầu đồn nhau, một tay trước đây là đảng viên giáo điều không hay phê phán nhưng bây giờ đấm ngực như điên, rằng tay người Mỹ mới đến này là gián điệp F.B.I. Cộng đồng kiều dân coi lời đồn đó là thật, từ chối làm bạn hay giúp đỡ anh. Trong khi tẩy chay người này, họ lại lên giọng phê phán về cảnh sát mật ở Nga và hành vi của các ủy ban điều tra hoạt động phản nước Mỹ và kẻ chỉ điểm, cựu đỏ. Anh người Mỹ mới đến tự tử. Vậy là cả lũ ngồi nhớ lại những sự kiện trong quá khứ chính trị, tìm lý do để ghét anh, để nhấn chìm tội lỗi của mình.

*10

Vì mắc phải căn bệnh thần kinh nào đó, một người bị mất khái niệm về thời gian. Rõ ràng là một bộ phim tuyệt vời, những gì người ta có thể thực hiện với nó. Có điều mình sẽ chả bao giờ có cơ hội viết ra nó cả, vì vậy có nghĩ cũng chẳng ích gì. Nhưng không nghĩ không được. Một người bị mất “cảm giác về thực tại”; và vì vậy nên lại có cảm giác về thực tại sâu hơn so với người “bình thường”. Hôm nay Dave nói, điềm nhiên: “Cái kẻ đó, Michael ấy, chuyện anh ta chối bỏ cậu, đừng để nó ảnh hưởng đến cậu. Cậu là ai mà lại bị hạ gục bởi một kẻ dốt tới mức không đón nhận cậu cơ chứ?” Cậu ta nói cứ như Michael vẫn đang trong quá trình “chối bỏ tôi” chứ không phải đã nhiều năm rồi. Và tất nhiên là cậu ta đang nói về bản thân mình. Trong một giây lát, cậu ta là Michael. Cảm giác thực tại của tôi run lên và vỡ tan. Nhưng đồng thời có một điều gì đó rất rành mạch xuất hiện, một kiểu khai sáng, mặc dù rất khó mà nói được là cái gì. (Kiểu bình luận này thuộc về cuốn sổ xanh, không phải cuốn này.)

*11 TIỂU THUYẾT NGẮN

Hai người bên nhau, trong một mối quan hệ bất kỳ nào đó - mẹ-con trai; bố-con gái; tình nhân của nhau, không quan trọng. Một trong hai người bị chứng loạn thần kinh cực nặng. Người bị thần kinh truyền tình trạng của mình sang cho người còn lại, sau đó người ốm thì khỏe con người khỏe thì ốm. Tôi nhớ Mẹ Mật đã kể cho tôi nghe chuyện về một bệnh nhân. Một chàng trai trẻ đến gặp bà khăng khăng bảo rằng anh đang gặp rắc rối kinh khủng về mặt tâm lý. Bà thấy anh chẳng bị làm sao cả. Bà bảo anh đưa bố đến gặp bà. Lần lượt từng người trong gia đình đó, cả thảy năm người, đến phòng khám của bà. Bà thấy tất cả bọn họ đều bình thường. Sau đó thì người mẹ đến. Mặc dù có vẻ ngoài rất “bình thường” nhưng bà ta lại bị loạn thần kinh cực nặng, có điều duy trì được trạng thái cân bằng của mình bằng cách truyền sang cho gia đình, đặc biệt là cậu con trai bé nhất. Cuối cùng Mẹ Mật cũng chữa cho người mẹ, mặc dù để bà ta chịu đến chữa trị thì cực kỳ khó khăn. Còn chàng trai trẻ lúc đầu nay đã thấy trút được áp lực ra khỏi bản thân. Tôi nhớ bà từng nói: Đúng vậy, thường thì người “bình thường” nhất trong gia đình lại là người thực sự ốm yếu, có điều vì tính cách mạnh, họ sống sót được, vì những người khác, có tính cách yếu hơn, đã thể hiện sự ốm yếu thay cho họ rồi. (Kiểu bình luận này thuộc về cuốn sổ xanh. Tôi phải để riêng chúng ra.)

*12 TRUYỆN NGẮN

Một người chồng, lừa dối vợ, không phải là vì anh ta đem lòng yêu người khác mà vì để xác quyết sự độc lập của mình đối với tình trạng hôn nhân, về nhà sau khi ngủ với người phụ nữ kia, định giữ bí mật nhưng lại “vô tình” làm gì đó nhằm để lộ vụ việc. “Sự cố” này, mùi nước hoa hoặc dấu son hoặc quên tẩy sạch mùi tình dục, thực ra là mục đích từ đầu của chuyến phiêu lưu đó, mặc dù không hề ý thức rõ. Vì anh ta cần phải nói với vợ. “Anh không định thuộc về em đâu.”

*13 TIỂU THUYẾT NGẮN, ĐỊNH ĐẶT TÊN LÀ “KẺ TỰ DO KHÔNG CẦN PHỤ NỮ”.

Một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, độc thân, hoặc có lẽ kết hôn được một thời gian ngắn thì vợ chết, hoặc ly dị. Nếu là người Mỹ thì anh ta ly dị, nhưng nếu là người Anh thì vợ anh ta được giấu ở đâu đó, thậm chí có thể anh ta còn sống với cô ta hoặc ở chung một nhà, nhưng không có bất cứ mối liên hệ thực tế nào về cảm xúc cả. Ở tuổi năm mươi, anh ta đã có vài chục mối tình, trong đó có ba bốn mối nghiêm túc. Các mối nghiêm túc này là với những người phụ nữ hy vọng lập gia đình với anh ta, họ nấn ná không đi, trong tình trạng thực ra là hôn nhân mà không có ràng buộc chính thức, anh ta chia tay tại thời điểm buộc phải cưới họ. Ở tuổi năm mươi, anh ta khô cạn, lo lắng về khả năng tình dục, có năm đến sáu người bạn khác giới, tất cả đều là bồ cũ, nay đã lấy chồng. Anh ta là con chim cúc cu trong nửa tá gia đình, là người bạn cũ của gia đình. Anh ta giống như một đứa trẻ, phụ thuộc vào đàn bà, càng lúc càng mơ hồ và vô dụng, suốt ngày gọi điện cho một cô nào đó nhờ một việc gì đó. Bề ngoài bảnh bao, thông minh châm biếm, gây ấn tượng với những người phụ nữ trẻ hơn trong khoảng một tuần. Anh ta lăng nhăng với các cô gái hoặc những người phụ nữ trẻ hơn rất nhiều, sau đó quay lại với những người lớn tuổi đóng vai vú em hoặc bảo mẫu tốt bụng.

*14 TIỂU THUYẾT NGẮN

Một người đàn ông và một phụ nữ, lấy nhau hoặc có quan hệ lâu dài với nhau, bí mật đọc nhật ký của nhau, trong đó (và đây là vấn đề danh dự đối với cả hai người) những suy nghĩ về nhau được ghi lại một cách trung thực nhất. Cả hai đều biết người kia đang đọc những gì mình viết, nhưng vẫn giữ tính khách quan được một thời gian. Rồi dần dần họ bắt đầu viết ra những điều giả tạo, ban đầu là vô thức; sau đó là cố tình để gây ảnh hưởng lên người kia. Đến lúc mỗi người đều có hai cuốn nhật ký, một cuốn cho riêng mình, và khóa chặt; còn cuốn thứ hai để dành cho người kia đọc. Rồi một trong hai người lỡ miệng, hoặc mắc sai lầm, vậy là người kia buộc tội anh/cô ta đã tìm thấy cuốn nhật ký bí mật. Một cuộc cãi lộn kinh khủng khiến cho hai người vĩnh viễn rời xa nhau, không phải vì cuốn nhật ký ban đầu mà là vì, “cả hai ta đều biết mình đang đọc hai cuốn nhật ký kia, việc đó không tính, sao anh/cô lại gian dối tới mức đọc nhật ký riêng của tôi?”

*15 TRUYỆN NGẮN

Một anh người Mỹ, một chị người Anh. Chị, qua tất cả thái độ, cảm xúc, thể hiện là mong được người tình sở hữu và chiếm đoạt. Anh, qua tất cả thái độ và cảm xúc, cũng mong được người tình chiếm đoạt. Thấy mình là một công cụ bị chị sử dụng, để có khoái lạc. Bế tắc về mặt cảm xúc. Sau đó họ thảo luận: cuộc thảo luận về thái độ cảm xúc tình dục biến thành cuộc so sánh hai xã hội khác nhau.

*16 TRUYỆN NGẮN

Đàn ông và phụ nữ, cả hai đều kiêu hãnh và từng trải về mặt tình dục, hiếm khi gặp được những người khác cũng từng trải như họ. Bỗng nhiên cả đôi mắc chứng ghét bỏ người kia, thứ cảm giác mà khi đem ra phân tích (và họ quả là những kẻ ưa tự phân tích bản thân) lại hóa ra là ghét bỏ chính mình. Họ đã tìm thấy tấm gương của mình, ngắm thật kỹ, nhăn mặt, rời bỏ nhau. Khi họ gặp nhau, đấy là một kiểu gượng gạo thừa nhận nhau, trở thành bạn tốt trên cơ sở này, sau một thời gian, thứ tình bạn mỉa mai, gượng gạo này trở thành tình yêu. Nhưng tình yêu không đến được với họ vì cái trải nghiệm hung bạo ban đầu, không cảm xúc.

*17 TIỂU THUYẾT NGẮN

Hai kẻ trác táng, nam và nữ, với nhau. Cuộc tình giữa họ đi theo nhịp rất châm biếm như sau. Chàng chiếm lấy nàng, nàng thận trọng theo kinh nghiệm, nhưng dần dần xiêu lòng. Khi nàng dành hết cảm xúc cho chàng thì cảm xúc của chàng tắt phụt, chàng không còn khao khát nàng nữa, Nàng, tổn thương và đau khổ. Quay sang với người khác. Nhưng đến lúc này thì người đầu tiên lại thấy khao khát có nàng. Nhưng trong khi chàng sôi lên vì biết nàng đã ngủ với người khác thì nàng lại đóng băng, khi thấy chàng sôi sục không phải vì nàng mà vì nàng đã ngủ với người khác. Nhưng dần dần, nàng lại dành cảm xúc cho chàng. Và đúng lúc nàng cảm thấy tốt đẹp nhất thì chàng lại đóng băng, quay sang một người phụ nữ khác, nàng một người đàn ông khác, và cứ tiếp tục như thế.

*18 TRUYỆN NGẮN

Cùng chủ đề với truyện ngắn Người yêu dấu của Chekhov. Nhưng lần này người phụ nữ không thay đổi cho hợp với lũ đàn ông, hết gã này đến gã khác nữa; Cô thay đổi để đáp lại chỉ một gã đa tính cách về tâm lý, vậy là trong một ngày cô có thể trải qua nửa tá nhân cách khác nhau, hoặc đối nghịch hoặc hòa hợp với anh ta.

*19 TRƯỜNG PHÁI VIẾT LÃNG MẠN CỨNG RẮN

Bạn bè ra đường tối thứ Bảy thực tâm, trái tim cuồng nhiệt tối thứ Bảy bạn bè đích thực, Buddy, Dave và Mike. Tuyết rơi. Tuyết lạnh. Cái lạnh thành phố tại thành phố bự hơn ngàn thành phố, New York. Nhưng thành thực, với chúng tôi. Buddy-vai-dã-nhân, đứng tách riêng và nhìn chằm chằm. Nó gãi bẹn. Buddy mơ mộng, mắt thẳm đen, ánh nhìn buồn bã, nó thường thủ dâm trước mặt chúng tôi, vô thức, thuần khiết, sự thuần khiết kỳ khôi. Và giờ nó đứng, tuyết trắng vụn đậu vai còng buồn bã. Dave vật xuống, Dave và Buddy cùng xoài trên đám tuyết vô can, Buddy hổn hển. Dave lùa nắm đấm vào bụng Buddy, ôi tình yêu thành thực của bạn bè đích thực, đàn ông chân chính, chơi đùa dưới những vách đá Manhattan lạnh lẽo trong một tối thứ Bảy thành thực. Buddy xỉu. “Tao yêu thằng chó này,” Dave nói trong khi Buddy nằm đó, không còn biết chúng tôi, không còn biết thành phố-nỗi-buồn. Tôi, Mike, Mike-kẻ-đơn-độc, đứng tách riêng, trên vai tôi là gánh nặng cái biết, mười tám tuổi và cô đơn, ngắm nhìn bạn bè đích thực của mình, Dave và Buddy. Buddy tỉnh. Nước bọt lốm đốm cặp môi gần chết, văng xa vào bờ tuyết trắng màu nước bọt. Nó ngồi dậy, thở dốc, thấy Dave, tay ôm đầu gối, đang nhìn nó, tình yêu ngập đôi mắt Bronx buồn. Mé trái nắm tay lông lá thẳng cằm, nó đánh và Dave ngã vật, vật trên nền tuyết lạnh chết người. Buddy cười, ngồi đó Buddy cười, chờ đến lượt. Trời đất, một kẻ điên. “Mày định làm gì, Buddy?” tôi hỏi, Mike-kẻ-đơn-độc nhưng biết yêu bạn bè đích thực. “Ha ha ha, mày có thấy nét mặt nó không?” nó nói, lăn ra hổn hển, tay ôm bẹn. “Mày có thấy không?” Dave hít mạnh, sự sống trở lại trong nó, lăn lộn, rên rỉ, ngồi dậy. Rồi Dave và Buddy đánh nhau, đánh thực, cười vang vui thích, đến khi vừa cười vừa ngã vật khỏi nhau trong tuyết. Tôi, Mike, Mike-được-lời-chắp-cánh, đứng rầu rĩ vì vui. “Này, tao yêu thằng khốn này,” Dave hổn hển, tung cú đấm vào giữa thân Buddy, còn Buddy, giơ cẳng tay chặn lại, thốt lên: “Má ơi, tao yêu nó.” Nhưng tôi đã nghe thấy tiếng gót giày ngọt lịm dạo nhạc trên vỉa hè buốt giá, nên tôi nói: “Này, hai đứa.” Chúng tôi đứng chờ. Nàng đến, Rosie, từ phòng ngủ tăm tối đi thuê, trên đôi gót giày cao gõ ngọt lịm. “Chào các cậu,” Rosie nói, mỉm cười ngọt lịm. Chúng tôi đứng nhìn. Giờ buồn bã, ngắm nhìn Rosie tròn trịa thịt, xoay trên giới tính nàng đích thực dọc vỉa hè, đánh cặp mông tròn trái bóng, bắn thông điệp hy vọng vào tim chúng tôi. Rồi Buddy, bạn Buddy của chúng tôi, đứng tách ra, lưỡng lự, mắt buồn rầu nhìn vào cặp mắt chúng tôi buồn rầu: “Tao yêu nàng, hai đứa ạ. Vậy là bỏ lại hai người bạn. Dave-song-quyền và Mike-được-lời-chắp-cánh. Chúng tôi đứng đó, nhìn bạn Buddy, mang trong mình sự sống giờ đây, gật đầu rồi theo sau Rosie, trái tim thuần khiết đập theo nhịp gót giày ngọt lịm. Đôi cánh thời gian bí ẩn đập lên người chúng tôi, trắng xóa màu bông tuyết, quãng thời gian sẽ cuốn lũ chúng tôi quay cuồng theo những Rosie, đến cái chết, đến đám tang trong ngôi nhà khung gỗ. Bi thảm và đẹp đẽ sao, Buddy của chúng tôi, bước vào vũ điệu nghìn đời những bông tuyết định mệnh, sương muối khô ngân nga trên cổ áo. Và tình yêu trào khỏi chúng tôi sang nó vào lúc đó - kỳ diệu, đúng liều lượng, mặt buồn, ngây thơ không biết mục đích của thời gian, nhưng thành thực và trên thực tế là nghiêm túc. Chúng tôi yêu nó lúc quay đi, hai người bạn bị bỏ lại, đôi áo khoác ngoài thiếu niên phần phật quanh cẳng chân thuần khiết. Thôi đi tiếp, Dave và tôi, tôi-Mike, buồn, vì chú chim nhại bi kịch đã chạm vào đôi linh hồn trân châu, nó-Dave và tôi-Mike, thôi đi tiếp, ngây ngô do sức sống. Dave gãi bẹn, chậm rãi, Dave thuần khiết gãi kiểu cú mèo. “Má ơi, Mike,” nó nói, “một ngày nào đó mày sẽ viết lại chuyện này, cho tất cả chúng ta.” Nó lắp bắp, ú ớ, không-được-lời-chắp-cánh, “Mày sẽ viết chứ, bạn? Rằng linh hồn chúng ta đã hủy hoại ở đây trên vỉa hè Manhattan trắng tuyết, con chó ngao địa ngục thần-tài-tư-bản theo sát gót ta?” “Ái chà, Dave, tao yêu mày,” tôi đáp, linh hồn trai trẻ xoắn vặn vì yêu. Rồi tôi đánh nó, thẳng giữa xương hàm, lắp bắp vì tình-yêu-thế-giới, tình-yêu bạn-bè, yêu những cậu Dave những cậu Mike những cậu Buddy. Nó gục xuống và rồi tôi, rồi Mike, ôm đỡ nó, bạn yêu ơi, tao-yêu-mày, tình bạn trong thành-phố-rừng-già, tình bạn của thanh niên trẻ trung. Thuần khiết. Và gió thời gian cứ thổi, cùng định mệnh tuyết, trên đôi vai thuần khiết thắm đượm tình yêu.

Nếu như tôi đã trở lại với chế nhại thì có nghĩa là đã đến lúc dừng lại.

[Cuốn sổ bìa vàng kết thúc ở đây bằng một đường kẻ đôi màu đen.]

*

[Cuốn sổ xanh dương tiếp tục, nhưng không ghi ngày tháng:]

Mọi người nghe bảo rằng căn phòng trên gác để trống, họ gọi điện hỏi tôi. Tôi vẫn bảo rằng tôi đâu có muốn cho thuê; nhưng tôi bắt đầu thiếu tiền. Hai cô gái làm văn phòng đến, họ nghe Ivor bảo rằng tôi có phòng. Nhưng đến lúc đấy tôi nhận ra rằng tôi không muốn nhận nữ. Janet và tôi, lại còn hai cô gái nữa, căn hộ toàn đàn bà, tôi không muốn thế. Sau đó là mấy tay đàn ông. Hai gã ngay lập tức tạo nên cái không khí: chỉ có cô và tôi trong căn hộ này, vì vậy tôi đuổi thẳng cổ. Ba gã cần được chăm sóc, rệu rã và bơ vơ, tôi biết chưa hết một tuần là mình sẽ bị đặt vào vị trí làm mẹ họ. Vì vậy tôi quyết định không cho thuê phòng nữa. Tôi sẽ đi làm, chuyển đến một căn hộ nhỏ hơn, thế nào cũng được. Trong khi đó Janet cứ luôn mồm hỏi: tiếc quá chú Ivor phải đi, mẹ hy vọng chúng ta sẽ kiếm được một ai đó dễ thương như chú ấy, vân vân. Rồi bỗng nhiên con bé bảo muốn học trường nội trú. Bạn nó ở trường hiện tại sắp sửa chuyển. Tôi hỏi tại sao thì nó bảo muốn có các bạn gái khác chơi cùng. Ngay lập tức tôi cảm thấy buồn và bị chối bỏ, sau đó là giận mình vì điều đó. Bảo con rằng sẽ suy nghĩ - về tiền bạc, khía cạnh thực tế. Nhưng điều tôi thực sự muốn suy nghĩ là tính cách của Janet, điều gì phù hợp với nó. Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu không phải con mình (tôi không định nói về mặt di truyền, mà bởi vì được tôi nuôi dưỡng) thì con bé sẽ là đứa trẻ truyền thống nhất có thể tưởng tượng được. Và nó đúng như vậy, bất chấp bề ngoài độc đáo. Bất chấp ảnh hưởng từ ngôi nhà của Molly, bất chấp cuộc dan díu lâu dài của tôi với Michael, và việc anh biến mất, bất chấp thực tế nó là sản phẩm của cái gọi là “hôn nhân tan vỡ”, khi nhìn con tôi không thấy gì khác ngoài một cô bé dễ thương, thông minh kiểu truyền thống, được trời phú cho một bản chất hợp với cuộc đời không vấp váp. Suýt nữa thì tôi đã viết: “Hy vọng thế.” Tại sao? Tôi không coi ra gì những người chưa từng thử nghiệm bản thân, cố tình thử dấn thân tới các biên giới, nhưng khi vấn đề là con của chính mình thì người ta không thể chịu đựng nổi dù chỉ là ý nghĩ chúng phải trải qua những điều đó. Khi con bé bảo: “Con muốn học ở trường nội trú” với vẻ dễ thương hờn dỗi như bây giờ, thử đôi cánh như một người phụ nữ, điều nó thực sự muốn nói với tôi là: “Con muốn được bình thường như mọi người.” Con bé muốn nói rằng: “Con muốn thoát ra khỏi bầu không khí phức tạp.” Tôi nghĩ nguyên nhân chắc là vì con bé biết được tôi đang càng lúc càng trở nên trầm cảm. Đúng là khi ở bên con, tôi xua đi một Anna rã rời và sợ hãi. Nhưng chắc con bé cảm nhận được Anna ấy ở đó. Và tất nhiên, lý do tôi không muốn con đi là vì Janet là sự bình thường của tôi. Với con, tôi phải đơn giản, có trách nhiệm, âu yếm, và do vậy con bé neo giữ tôi lại trong cái bình thường trong tôi. Khi con bé đi học…

Hôm nay con bé lại nói: “Khi nào thì con vào trường nội trú, con muốn đi cùng Mary.” (Bạn nó.)

Tôi bảo con chúng ta sẽ phải rời căn hộ rộng rãi này, tìm lấy một căn nhỏ hơn, và mẹ phải tìm việc làm. Tuy nhiên không phải là ngay lập tức. Lần thứ ba có một công ty phim mua bản quyền cuốn Những biên giới chiến tranh, nhưng sẽ chẳng đi đến đâu cho mà xem. Dù sao thì tôi cũng hy vọng là không. Nếu tin là người ta làm được phim thật thì tôi đã không bán bản quyền. Nhưng dù sao số tiền đó sẽ giúp chúng tôi sống một cách đạm bạc, ngay cả khi Janet vào trường nội trú.

Tôi vẫn đang tìm hiểu những ngôi trường tiến bộ.

Nói cho Janet nghe về chúng, con bé bảo: “Con muốn vào trường nội trú bình thường.” Tôi đáp, “Các trường nội trú cho nữ sinh Anh truyền thống thì chẳng có gì bình thường hết, trên thế giới chúng đã khác thường rồi.” Con bé bảo: “Mẹ biết rõ là con nói gì mà. Và hơn nữa, Mary cũng vào đó.”

Vài ngày nữa Janet sẽ đi. Hôm nay Molly gọi điện đến bảo rằng trong thành phố đang có một người Mỹ tìm phòng. Tôi bảo rằng tôi không muốn cho thuê phòng. Cô bảo: “Nhưng cậu đang ở một mình trong căn hộ mênh mông đấy, mà cậu cũng đâu cần phải gặp anh ta.” Tôi kiên quyết, và sau đó cô nói, “Tớ nghĩ đây chẳng qua là hành vi phản xã hội. Có chuyện gì với cậu vậy Anna?” Câu có chuyện gì với cậu đánh trúng tôi. Bởi vì tất nhiên như thế là phản xã hội, nhưng tôi không quan tâm. Cô bảo: “Có lòng chút đi, anh ấy là một người Mỹ cánh tả, không tiền bạc, có tên trong sổ đen, trong khi cậu ở trong một căn hộ với cả mớ phòng trống.” Tôi đáp: “Nếu là người Mỹ la cà ở châu Âu, chắc anh ta đang viết cuốn tiểu thuyết Mỹ vĩ đại, có đi phân tích tâm lý và có một cuộc hôn nhân kinh khủng kiểu Mỹ và tớ sẽ phải lắng nghe mọi rắc rối - ý tớ là vấn đề của anh ta.” Nhưng Molly không cười, cô bảo: “Nếu không cẩn thận, cậu sẽ giống như những người khác đã ra khỏi Đảng. Hôm qua tớ gặp Tom, anh ấy đã ra khỏi Đảng vì vụ Hungary. Anh từng là một dạng thầy thuốc linh hồn không chính thức của hàng chục người. Giờ anh đã thay đổi. Tớ nghe nói bỗng nhiên anh ấy tăng gấp đôi tiền cho thuê nhà, và bỏ nghề dạy học, xin việc trong một hãng quảng cáo. Tớ gọi điện để hỏi xem anh ấy nghĩ mình đang làm cái quái gì vậy, và anh ấy đáp: ‘Anh bị coi là người ngu quá lâu rồi.’ Vì vậy cậu nên cẩn thận Anna ạ.”

Vậy là tôi bảo tay người Mỹ có thể đến, miễn là tôi không phải gặp anh ta, và Molly đáp: “Anh ta không tệ đâu, tớ gặp rồi, xấc xược và cứng đầu kinh khủng, nhưng bọn họ ai chả vậy.” Tôi nói: “Tớ không nghĩ là bọn họ xấc xược, đấy là một định kiến trong quá khứ, người Mỹ ngày nay điềm tĩnh và khép mình giữa họ với phần còn lại của thế giới có một lớp kính hay bằng gì đó.” “Ồ nếu cậu muốn nghĩ vậy,” Molly trả lời, “nhưng tớ bận mất rồi.”

Về sau tôi suy nghĩ về những điều mình đã nói, thật thú vị bởi vì đến tận lúc nói tôi vẫn không hề biết là tôi nghĩ vậy. Nhưng mà đúng. Phải. Có thể họ xấc xược và ầm ĩ, nhưng thường là rất vui vẻ, phải, đấy là tính cách của họ, vui vẻ. Và bên dưới đó là sự cuồng loạn, nỗi sợ bị liên lụy. Tôi cứ ngồi và suy nghĩ về những người Mỹ mình biết. Bây giờ thì nhiều lắm rồi. Tôi nhớ đến kỳ nghỉ cuối tuần cùng với F., bạn của Nelson. Ban đầu, tôi thở phào nghĩ: Cuối cùng thì cũng có một người bình thường, ơn chúa. Sau đó tôi hiểu ra rằng, mọi thứ đều xuất phát từ đầu anh ta. Anh ta “giỏi chăn gối”. Làm “một người đàn ông” do ý thức, thậm chí là do trách nhiệm. Nhưng không chút hơi ấm. Mọi thứ đều được cân đong đo đếm. Người vợ “ở nhà” mà anh ta kẻ cả trong từng lời nói (nhưng thực ra là anh ta sợ vợ - không phải là sợ bản thân người vợ mà là sợ những nghĩa vụ đối với xã hội mà vợ anh ta đại diện). Và những vụ ngoại tình thận trọng không cam kết. Lượng hơi ấm phát ra được cân đo chính xác - mọi việc đều được cân nhắc, cho một mối quan hệ thế này thì lượng cảm xúc là bao nhiêu. Phải, đấy là phẩm chất của họ, có cái gì đó chừng mực, khôn ngoan và điềm tĩnh. Tất nhiên, cảm xúc là một cái bẫy, nó giao người ta vào tay xã hội, đấy là lý do tại sao người ta cứ phải tính toán thật kỹ.

Tôi đặt mình trở lại trạng thái tâm lý hồi đến gặp Mẹ Mật. Tôi không thể cảm nhận được gì cả, tôi đã bảo vậy. Tôi không quan tâm đến bất cứ ai trên thế giới ngoài Janet. Từ bảy năm nay rồi thì phải? - đại loại thế. Khi ra về tôi nói: Bà đã dạy tôi cách khóc, chẳng có gì phải cảm ơn bà cả, bà đã trả lại cảm giác cho tôi, và cảm giác thật là đau đớn.

Tôi thật lạc hậu khi đi tìm một bà thầy mo để học cách cảm nhận. Bởi vì giờ nghĩ lại, tôi thấy rằng mọi người ở khắp nơi đang tìm cách để đừng cảm thấy gì cả. Điềm tĩnh, điềm tĩnh, điềm tĩnh, đấy là từ họ nói. Là khẩu hiệu. Bắt đầu ở Mỹ, nhưng bây giờ là chúng ta. Tôi nghĩ về những nhóm thanh niên, chính trị và xã hội ở quanh London, bạn bè của Tommy, những người xã hội chủ nghĩa mới - đây là điểm chung của bọn họ, một loại cảm xúc chừng mực, sự điềm tĩnh.

Trong một thế giới kinh khủng như thế này, hãy hạn chế cảm xúc. Thật kỳ cục là từ trước đến nay tôi không nhận ra điều đó.

Và để chống lại việc rút lui theo bản năng vào cõi không cảm giác này, để bảo vệ khỏi đau đớn, Mẹ Mật - tôi nhớ đã nói với bà trong cơn cáu giận: “Nếu tôi nói với bà rằng quả bom H đã rơi và xóa sổ một nửa châu Âu, bà sẽ tặc lưỡi, chậc chậc, và rồi, nếu tôi khóc lóc và rền rĩ, bà sẽ bằng một cái cau mày cảnh cáo hoặc một cử chỉ nào đó, khiến tôi nhớ lại hoặc tính đến một cảm xúc nào đó mà tôi đã cố tình loại trừ. Cảm xúc nào? Chà, niềm vui, tất nhiên. Hãy nghĩ, con gái ạ, bà sẽ nói vậy, hoặc ngụ ý vậy, đến các khía cạnh sáng tạo của sự hủy diệt! Hãy cân nhắc đến những khả năng sáng tạo của sức mạnh bị nhốt trong nguyên tử! Hãy thả cho tâm trí nghỉ ngơi trên những chiếc lá cỏ xanh đầu tiên ngập ngừng đâm nhanh vào ánh sáng, mọc lên khỏi dung nham triệu năm!” Bà mỉm cười, tất nhiên. Sau đó nụ cười thay đổi và trở nên khô khan, đấy là một trong những khoảnh khắc nằm ngoài mối quan hệ bác sĩ-bệnh nhân mà tôi hằng chờ đợi. Bà nói: “Anna thân mến của tôi, rốt cuộc thì khả năng là để giữ cho mình khỏi phát điên, chúng ta sẽ phải học cách tin vào những lá cỏ triệu năm sau mới mọc, phải vậy không?”

Nhưng không chỉ có nỗi kinh hoàng ở khắp nơi và nỗi sợ phải nhận biết được nó mới làm người ta đóng băng. Còn hơn cả thế. Mọi người biết rằng họ đang ở trong một xã hội đã chết hoặc sắp chết. Họ chối bỏ cảm xúc bởi vì ở tận cùng mỗi cảm xúc là tài sản, tiền bạc, quyền lực. Họ làm việc và khinh bỉ công việc của mình, và do vậy họ đóng băng. Họ yêu nhưng biết rằng đấy chỉ là thứ tình yêu nửa vời hoặc vẹo vọ, và do vậy họ đóng băng.

Rất có thể, để giữ cho tình yêu, cảm giác, sự âu yếm được sống, cần phải cảm nhận những cảm xúc này một cách mơ hồ, dù là dành cho những gì giả dối và thấp kém, hoặc những gì vẫn đang ở dạng ý tưởng, cái bóng chỉ có trong trí tưởng tượng nhờ ý chí mà thôi… hoặc nếu thứ chúng ta cảm nhận được là nỗi đau thì chúng ta phải cảm nhận nó, thừa nhận rằng ngoài nó ra chỉ là chết. Cái gì cũng tốt hơn khôn ranh, tính toán, không cam kết, từ chối cho đi vì sợ hậu quả… Tôi nghe thấy tiếng Janet đi lên gác.

Hôm nay Janet đến trường. Không bắt buộc phải mặc đồng phục, nhưng con bé quyết định mặc. Thật lạ là con tôi lại muốn mặc đồng phục. Tôi không thể nhớ nổi đời mình có lúc nào không cảm thấy khó chịu khi đóng bộ vào. Nghịch lý: khi tôi còn là đảng viên, đấy không phải nhằm tuân thủ những kẻ mặc đồng phục, mà ngược lại. Đồng phục của con bé là một chiếc áo dài xấu xí màu xanh xám cùng một chiếc áo cánh nâu vàng. Mẫu thiết kế sao cho một cô bé ở tuổi Janet, mười hai tuổi, trông càng xấu xí càng tốt. Và còn có một chiếc mũ tròn, cứng, xanh thẫm nữa. Màu xanh của chiếc mũ và chiếc áo dài đặt bên nhau rất kinh. Thế mà con bé lại thích thú. Bộ đồng phục là do cô hiệu trưởng chọn, tôi đã từng phỏng vấn bà ta - một phụ nữ người Anh lớn tuổi đáng nể, uyên bác, khô khan, thông minh. Tôi hình dung rằng người phụ nữ trong bà đã chết trước khi bà đến tuổi hai mươi, có thể do bà tiêu diệt cô ta. Tôi chợt nghĩ rằng khi gửi Janet cho bà, biết đâu tôi lại đem đến cho Janet một người cha thay thế? Nhưng thật kỳ cục, chắc chắn là tôi đã tin rằng Janet sẽ chống đối lại bà, chẳng hạn bằng cách không chịu mặc bộ đồng phục xấu xí. Nhưng Janet chẳng muốn chống đối bất cứ điều gì cả.

Phẩm chất bé gái, cái dễ thương hờn dỗi của một đứa trẻ được nuông chiều, mà nó khoác lên như một bộ váy đẹp cách đây khoảng một năm, đã biến mất ngay từ lúc nó mặc bộ đồng phục vào. Trên sân ga, con bé nhỏ nhắn, sáng sủa, đáng yêu trong bộ đồng phục gớm guốc, giữa một đàn bé gái cũng giống như vậy, cặp vú trẻ trung bị giấu đi, mọi vẻ đáng yêu đều bị dập tắt, dáng điệu đầy vẻ thực tế. Và khi nhìn thấy con bé, tôi khóc thương cho cô bé da ngăm đen, lanh lợi, mắt đen, mảnh khảnh, được cảm giác giới tính mới có làm cho sống động hẳn lên và hiểu biết bản năng về sức mạnh của mình khiến thêm nhạy bén. Và cùng lúc đó, tôi nhận thấy mình có một ý nghĩ thực sự tàn nhẫn: đứa con tội nghiệp của ta, nếu con định lớn lên trong một xã hội đầy rẫy những Ivor và Ronnie, đầy những tên đàn ông sợ sệt cân đong cảm xúc như cân đong thực phẩm, thì cứ nên noi gương cô Street, tức là hiệu trưởng, là hơn. Tôi có cảm giác, vì cô bé đáng yêu đó đã bị che khuất, như thể một thứ gì đó rất quý giá và mong manh đã được cứu khỏi bị tổn thương. Và trong việc ấy có một cảm giác đắc thắng độc địa nhằm vào đàn ông: Thôi được, vậy là các anh không trân trọng chúng tôi? - thế thì chúng tôi sẽ giải cứu mình khỏi bị các anh tiếp tục làm thế. Lẽ ra tôi phải thấy xấu hổ vì sự thù hận và độc địa này, nhưng không, trong đó có quá nhiều khoái trá.

Tay người Mỹ, tên là Green, hôm nay sẽ đến, vì vậy tôi dọn phòng sẵn sàng cho anh ta. Anh ta gọi điện đến bảo rằng anh ta được mời về miền quê một ngày, hôm sau anh ta đến có được không. Rất nhiều lời xin lỗi cẩn thận. Bực mình, đã sắp xếp rồi lại phải thay đổi. Sau đó Molly gọi điện bảo Jane bạn cô kể rằng cô ấy, Jane, đã đi cùng Green cả ngày hôm đấy để “dẫn anh ta xem Soho”. Tôi bực. Rồi Molly nói: “Tommy đã gặp Green và không thích anh ta, nó bảo anh ta vô tổ chức, đấy là một điểm lợi thế của Green, không phải vậy sao? Tommy chưa bao giờ bằng lòng bất cứ ai tỏ ra không chỉ là kẻ vầy vậy. Cậu có thấy như vậy kỳ cục không? Nó là một người cực kỳ ủng hộ chủ nghĩa xã hội, tất cả bạn bè của nó cũng vậy, thế mà tụi nó ai cũng làm ra vẻ khả kính và tiểu tư sản như gì - tụi nó chỉ cần gặp một người có chút sinh động, thế là tụi nó đã bắt đầu thu gọn chiếc váy đạo đức của mình. Và tất nhiên là con vợ kinh khủng của Tommy thì tồi tệ hơn hết thảy. Con nhỏ đó phàn nàn rằng Green chỉ là một tay ăn bám, bởi vì anh ta không có công việc cố định. Ngạc nhiên chưa? Con đó mà đóng vai cô vợ của một doanh nhân tỉnh lẻ với chút hơi hướm tự do mà anh ta vẫn đem ra lòe đám bạn bè Bảo thủ thì cực kỳ. Và đó là con dâu của tớ đấy. Nó đang viết một bộ sách lớn về những người tham gia phong trào hiến chương và mỗi tuần để dành ra hai bảng phòng lúc tuổi già. Dù sao đi nữa, nếu như Tommy và con chọi con đó không thích anh Green thì nghĩa là có thể cậu sẽ thích, để đức hạnh khỏi phải là phần thưởng của chính nó.” Thế đấy, tôi cười phá khi nghe tất cả những chuyện này, và sau đó nghĩ rằng nếu như cưới được thì có nghĩa là tôi không ở trong tình trạng tồi tệ như tôi tưởng. Mẹ Mật từng có lần bảo tôi rằng phải mất sáu tháng mới khiến cho một bệnh nhân trầm cảm cười được. Nhưng rõ ràng là việc Janet sẽ ra đi, bỏ lại tôi một mình trong căn hộ rộng lớn này, khiến tôi thấy tệ hơn. Tôi rã rời và lười biếng. Tôi cứ nghĩ mãi về Mẹ Mật, nhưng theo một hướng mới, cứ như là ý nghĩ về bà có thể cứu rỗi được tôi. Khỏi cái gì? Tôi không muốn được cứu rỗi. Bởi vì việc Janet ra đi khiến tôi nhớ đến một thứ khác - thời gian, thời gian có thể như thế nào khi người ta không bị áp lực. Kể từ khi Janet ra đời, tôi chưa hề di chuyển, một cách thoải mái, trong thời gian. Có con nghĩa là ý thức về cái đồng hồ, không bao giờ thoát khỏi một việc gì đó cần phải làm tại một thời điểm nào đó ở phía trước. Một Anna đang đến với cuộc sống, cô Anna từng chết khi Janet ra đời. Chiều nay, tôi đang ngồi trên sàn nhà, ngắm bầu trời tối dần, làm cư dân của một thế giới mà người ta có thể nói, ánh sáng này đồng nghĩa với giờ phải là buổi tối, thay vì: trong vòng đúng một tiếng đồng hồ tôi phải bắc rau lên bếp, và bỗng nhiên tôi quay trở lại một trạng thái đầu óc mà tôi đã quên, từ thời thơ ấu. Ban đêm tôi thường ngồi dậy trên giường và chơi cái mà tôi gọi là “trò chơi”. Trước hết, tôi tạo ra căn phòng mình đang ngồi, từng vật từng vật một, “gọi tên” mọi thứ, giường, ghế, rèm, cho đến khi căn phòng hiện ra trọn vẹn trong đầu tôi, sau đó ra khỏi phòng, tạo ra ngôi nhà, rồi ra khỏi nhà, chậm rãi tạo ra đường phố, rồi bay lên không trung, nhìn xuống London, nhìn hoang mạc ngổn ngang mang tên London, nhưng đồng thời vẫn giữ căn phòng, căn nhà và con phố trong đầu, rồi sau đó là nước Anh, hình dáng của nước Anh ở đảo Anh, sau đó là cái quần đảo nhỏ nằm đối diện với lục địa, rồi chầm chậm, chầm chậm, tôi tạo ra thế giới, lục địa này đến lục địa khác, đại dương này đến đại dương khác (nhưng mục đích chính của “trò chơi” là tạo ra cõi mênh mông này trong khi đồng thời vẫn giữ trong đầu căn phòng ngủ, ngôi nhà, con phố nhỏ y nguyên như vậy), cho đến khi đạt tới lúc tôi đi ra ngoài không gian, quan sát thế giới, một quả cầu ngập nắng trong bầu trời, xoay tròn và lăn đi dưới chân tôi. Rồi khi đạt tới điểm đó, tinh tú quanh tôi, trái đất nhỏ bé xoay tròn dưới chân tôi, tôi cố gắng hình dung đồng thời một giọt nước, tràn đầy sự sống, hoặc một chiếc lá xanh. Đôi khi tôi có thể đạt tới điều mình muốn, là đồng thời ý thức về mênh mông và nhỏ bé. Hoặc tôi tập trung vào một sinh vật đơn lẻ, một con cá nhiều màu bé xíu trong ao, hoặc một đóa hoa, hoặc một con bướm đêm, và cố gắng tạo ra, “gọi tên” sự tồn tại của bông hoa, con bướm, con cá, chậm rãi tạo ra quanh nó khu rừng, ao biển, hoặc bầu không gian thổi thứ khí đêm khiến đôi cánh của tôi tròng trành. Và rồi, đột ngột, thoát khỏi sự nhỏ bé vào không gian.

Khi tôi còn bé thì dễ. Giờ tôi chợt nhận thấy có vẻ như mình đã sống nhiều năm trong trạng thái hân hoan rất mực, nhờ có “trò chơi” đó. Nhưng bây giờ thì khó khăn nhiều rồi. Chiều nay, sau vài phút tôi đã kiệt sức. Nhưng tôi vẫn thành công, chỉ trong vài giây thôi, quan sát được trái đất xoay tròn bên dưới mình, trong khi ánh sáng mặt trời thắm dần trên cái bụng châu Á còn châu Mỹ chìm vào bóng tối.

Saul Green đến xem phòng và cất đồ đạc. Tôi đưa anh ta lên thẳng căn phòng, anh ta liếc nhìn và nói: “Tốt, tốt.” Thái độ vô tâm tới mức tôi phải hỏi xem anh ta có dự định lại rời đi sớm hay không. Anh ta nhìn nhanh sang tôi với vẻ cảnh giác, lúc đó tôi đã biết cái nhìn này là nét đặc trưng của anh ta, rồi bắt đầu một tràng giải thích dài, thận trọng, theo đúng kiểu giọng xin lỗi phải đi về nông thôn. Nhớ ra điều đó, tôi nói: “Tôi hiểu là hôm qua anh đã thăm thú Soho cùng với Jane Bond.” Anh ta có vẻ giật mình, sau đó khó chịu - nhưng khó chịu một cách rất lạ lùng, cứ như anh ta vừa bị bắt quả tang phạm tội, rồi sắc mặt thay đổi, trở nên cảnh giác và thận trọng, và bắt đầu giải thích loằng ngoằng về việc kế hoạch bị thay đổi, vân vân, và thậm chí lời giải thích còn lạ lùng hơn, vì rõ ràng là chả đúng một tẹo nào cả. Đột nhiên tôi thấy chán nên nói rằng tôi chỉ hỏi về căn phòng bởi vì tôi định chuyển nhà, vì vậy nếu anh ta định ở lâu dài thì nên tìm một nơi khác. Anh ta nói tốt, tốt. Trông cứ như anh ta không hề lắng nghe, mà cũng chẳng hề nhìn gì đến căn phòng cả. Nhưng anh ta đã theo tôi đi ra, bỏ mấy cái túi lại. Rồi tôi nói bài bà chủ nhà về việc “không cấm đoán gì cả”, kiểu đùa đùa, nhưng anh ta không hiểu, vì vậy tôi phải nói thẳng ra là nếu muốn đưa gái về phòng thì tôi cũng không quan tâm. Ngạc nhiên trước giọng cười của anh ta - to, đột ngột, khó chịu. Anh ta bảo rất vui vì tôi cho rằng anh ta là một thanh niên bình thường, điều này rất Mỹ, phản ứng tự động mà người ta thường có khi bị nghi ngờ về nam tính, vì vậy tôi không nói đùa như dự định về người trước đó ở phòng này. Nhìn chung, tôi cảm thấy mọi thứ đều mâu thuẫn, lạc điệu, vì vậy tôi xuống bếp, mặc cho anh ta đi theo nếu muốn. Tôi đã pha sẵn cà phê, còn anh ta đi qua bếp trên đường ra ngoài nên tôi mời anh ta một tách. Anh ta do dự. Anh ta đang săm soi tôi. Trong đời mình, tôi chưa bao giờ bị đánh giá một cách thô lỗ như vậy về mặt giới tính. Chẳng có tí hài hước nào trong cái nhìn này cả, không chút ấm áp, chỉ là một tay chăn gia súc đang so sánh. Nó thẳng thắn đến mức tôi nói: “Hy vọng là tôi đủ đạt,” nhưng anh ta lại cười bằng cái giọng đột ngột, khó chịu đó và nói: “Tốt, tốt,” hay nói cách khác, hoặc là anh ta không ý thức được rằng bản thân vừa lập một danh sách các dữ liệu đời sống về tôi, hoặc là anh ta ngượng nên không thừa nhận điều đó. Vì vậy tôi mặc kệ, và chúng tôi uống cà phê. Tôi cảm thấy không thoải mái với anh ta, tôi không biết tại sao, do vấn đề gì đó trong cách xử sự của anh ta. Và có điều gì đó bức bối trong vẻ bề ngoài của anh ta, cứ như khi nhìn anh ta, người ta tự động mong tìm thấy thứ gì đó mà họ không thấy. Anh ta tóc vàng, cắt ngắn, giống như chiếc bàn chải lông vàng lấp lánh. Anh ta không cao, mặc dù tôi cứ nghĩ là anh ta cao, và rồi nhìn lại lần nữa để thấy không phải vậy. Nguyên nhân là vì quần áo của anh ta quá rộng so với người, cứ lùng thùng quanh mình anh ta. Người ta cứ cho rằng anh ta sẽ thuộc mẫu người Mỹ tóc vàng, người bè bè, vai rộng, mắt xám pha xanh, mặt vuông: giờ thì tôi nhận ra là mình cứ nhìn anh ta liên tục, mong được thấy con người này, nhưng lại thấy một người đàn ông mảnh khảnh, vụng về, trang phục thõng thượt trên đôi vai rộng, và rồi bị đôi mắt anh ta bắt gặp, giữ lại. Anh ta có đôi mắt màu xanh lá cây pha xám điềm tĩnh, và không bao giờ ngừng cảnh giác. Đây là điểm nổi bật nhất ở anh ta, anh ta không bao giờ lơi là cảnh giác một giây. Tôi hỏi một vài câu tỏ sự đồng cảm về “một người xã hội chủ nghĩa ở Mỹ” nhưng rồi bỏ cuộc, bởi vì anh ta chẳng để ý gì đến câu hỏi của tôi cả. Để có chuyện mà nói, tôi hỏi tại sao anh ta lại mặc đồ rộng thế, và anh ta tỏ vẻ giật mình, cứ như thấy ngạc nhiên là tôi lại nhận ra điều đó, và rồi lảng tránh bảo rằng anh ta đã giảm cân rất nhiều, chứ bình thường anh ta nặng hơn thế khoảng hơn chục cân. Tôi hỏi có phải anh ta bị ốm không, và một lần nữa anh ta lại khó chịu, tỏ thái độ cho thấy anh ta đang phải chịu áp lực hoặc đang bị dò xét. Chúng tôi ngồi im lặng mất một lúc, tôi ước anh ta đi đi, bởi vì dường như không thể nói bất cứ điều gì mà anh ta không ghét. Rồi tôi nói chuyện gì đó về Molly, Saul chưa hề nhắc tới cô. Tôi ngạc nhiên khi thấy anh thay đổi hẳn. Một dạng trí tuệ bỗng nhiên được bật lên, tôi không biết phải tả như thế nào nữa: anh tập trung chú ý, và tôi ngạc nhiên khi thấy cách anh nói về cô, cực kỳ sắc sảo về tính cách và tình cảnh của cô. Tôi nhận ra rằng từ trước đến nay mình chưa gặp người đàn ông nào, ngoại trừ Michael, có khả năng hiểu nhanh như vậy về phụ nữ. Điều làm tôi ngạc nhiên là anh “gọi tên” cô ở mức khiến cô hẳn sẽ hài lòng nếu nghe thấy…

[Từ chỗ này của tập nhật ký, hoặc biên niên ký, trở đi, Anna dùng dấu sao đánh dấu một số điểm, và đánh số cho các dấu sao đó.]

… và điều này khiến tôi tò mò, hay nói đúng hơn là ghen tị, vì vậy tôi kể chuyện gì đó (*1) về bản thân và thế là anh nói về tôi. Chính xác hơn là anh giảng giải cho tôi nghe. Giống như được một kẻ mô phạm mang suy nghĩ công bằng lên lớp về những mối nguy hiểm và cạm bẫy cũng như phần thưởng dành cho phụ nữ sống một mình, vân vân. Tôi chợt nhận ra, và điều ấy mang lại cho tôi một cảm giác chới với, hoài nghi thật kỳ dị rằng đây vẫn chính là con người đó, mười phút trước còn đang dò xét tôi về mặt tính dục một cách lạnh lùng và gần như thù địch; nhưng trong những lời anh đang nói bây giờ chẳng có một mảy may nào như thế nữa cả, cũng không hề có chút tò mò nửa kín nửa hở, cùng cái khoảnh khắc bất chợt mong đợi thèm thuồng mà ta đã quá quen thuộc. Ngược lại, tôi không thể nhớ nổi từng thấy người đàn ông nào khác nói bằng giọng đơn giản, thẳng thắn và đầy tình đồng chí đến thế về kiểu sống của tôi, và những phụ nữ như tôi. Có một lúc tôi phá lên cười, bởi vì tôi đang được “gọi tên” ở một cấp độ rất cao (*2) nhưng lại bị lên lớp như một cô bé, trong khi thực tế tôi lớn hơn anh vài tuổi. Tôi thấy rất kỳ cục là anh không hề nghe thấy tiếng cười của tôi, vấn đề không phải là khó chịu với nó, hay chờ cho đến khi tôi ngưng cười, hay hỏi tôi tại sao lại cười, vì đơn giản là anh cứ tiếp tục nói, cứ như anh đã quên rằng tôi đang có mặt ở đó. Tôi có cảm giác vô cùng không thoải mái là mình đúng thực không còn tồn tại chút nào đối với Saul nữa, và thấy vui khi kết thúc được cuộc chuyện trò này, mà cũng buộc phải làm vậy bởi vì tôi đang chờ một tay ở Công ty muốn mua Những biên giới chiến tranh. Khi anh ta đến, tôi quyết định không bán bản quyền cuốn tiểu thuyết đó nữa. Họ quả có muốn dựng thành phim, nhưng tôi nghĩ như vậy thì bao nhiêu năm không thỏa hiệp còn có ích gì khi bây giờ phải nhượng bộ, chỉ vì lần đầu tiên rơi vào cảnh thiếu tiền. Do đó tôi bảo với anh ta là tôi không bán. Anh ta tưởng tôi đã bán cho người khác, không thể tin nổi là trên đời lại có nhà văn không chịu bán bản quyền sách, nếu mức giá đủ cao. Anh ta tiếp tục nâng giá một cách lố bịch, tôi tiếp tục từ chối, thật hết sức khôi hài, tôi bắt đầu bật cười - nó khiến tôi nhớ đến cái lúc tôi cười mà Saul không nghe: anh ta không hiểu tại sao tôi lại cười và cứ nhìn tôi như thể tôi, cô Anna thực thụ đang cười, không hề tồn tại. Và khi anh ta ra về, cảm giác của cả hai phía là bực bội. Dù sao đi nữa, trở lại với Saul, khi tôi kể cho anh nghe rằng tôi đang chờ người đến, tôi kinh ngạc khi thấy anh chồm lên, vẻ như anh đang bị tống cổ đi, phải, thật thế, cứ như tôi vừa tống cổ anh đi, chứ không phải chỉ nói là tôi đang chờ khách đến giải quyết công việc. Rồi anh điều chỉnh hành động chồm lên phòng thủ ấy, gật đầu, rất điềm tĩnh và lạnh lùng, đi thẳng xuống gác. Khi anh đi rồi, tôi cảm thấy rất bực, toàn bộ cuộc chạm trán này chỉ toàn là những lạc điệu, và kết luận là mình đã phạm sai lầm khi để cho anh đến thuê nhà. Nhưng về sau, tôi kể cho Saul nghe về việc tôi không muốn bán cuốn tiểu thuyết cho công ty phim, bằng giọng khá dè chừng, bởi vì tôi đã quen với việc bị đối xử như là kẻ ngốc, và anh coi hiển nhiên là tôi đã làm đúng. Anh nói lý do khiến anh cuối cùng cũng bỏ việc ở Hollywood là vì ở đấy không còn lại ai có khả năng tin rằng có nhà văn có thể thà từ chối tiền bạc chứ không chịu để cho một bộ phim tồi ra đời. Anh nói giống như tất cả những người đã từng làm việc ở Hollywood - với một vẻ thất vọng hoài nghi, buồn bã rằng chuyện thối nát như vậy lại có thể thực sự tồn tại. Rồi anh nói khiến tôi kinh ngạc: “Chúng tôi liên tục phải chiến đấu. Phải, OK, đôi khi chúng tôi chiến đấu sai vị trí, nhưng vấn đề là có chiến đấu. Tôi lợi thế hơn chị ở một điểm…” (Tôi ngạc nhiên, lần này rất không thoải mái, trước vẻ sưng sỉa của câu Tôi lợi thế hơn chị ở một điểm, cứ như chúng tôi đang thi thố hoặc tranh đua) “… và đấy là, áp lực bắt tôi phải nhượng bộ thể hiện ra trực tiếp và rõ ràng hơn nhiều so với áp lực ở đất nước này.” Tôi nói, biết anh định nói gì nhưng vẫn muốn nghe anh nói ra: “Nhượng bộ cái gì?” “Nếu chị không biết thì tôi cũng chẳng thể nói cho chị được.” “Ồ, nhưng tôi biết đấy.” Tôi nghĩ là chị biết. Hy vọng là thế.” Và rồi, với giọng sưng sỉa: “Tin tôi đi, đấy là điều duy nhất tôi học được trong cái hố địa ngục đó - người nào không sẵn sàng chiến đấu ở đâu đó, và đôi lúc vì những vấn đề không đúng, thì sẽ không bao giờ chiến đấu đâu, họ sẽ bán mình thôi. Và đừng hỏi: Bán mình cho cái gì? Nếu mà dễ dàng nói được chính xác cái gì thì cả lũ chúng ta đã không phải đôi lúc chiến đấu vì những vấn đề không nên. Chúng ta không nên sợ là mình ngây thơ, khờ khạo, đấy chính là điều mà không ai trong số chúng ta nên sợ hãi…” Anh lại bắt đầu lên lớp cho tôi. Tôi thích nghe lên lớp. Tôi thích những điều anh nói. Vậy mà khi anh nói, một lần nữa lại không để ý gì đến tôi - tôi thề là anh đã quên rằng tôi có mặt ở đó - tôi nhìn anh, từ vị trí an toàn vì anh đã lãng quên tôi, và tôi thấy dáng điệu của anh, đứng dựa lưng vào cửa sổ như hình ảnh biếm họa về thanh niên Mỹ mà chúng ta vẫn thấy trong phim ảnh - anh chàng cường tráng quyến rũ - cả người như toàn tinh hoàn với cương cứng. Anh đứng trễ nải, ngón tay cái móc vào thắt lưng, các ngón buông thõng, nhưng trỏ tự nhiên về bộ phận sinh dục của anh – dáng điệu này luôn làm tôi buồn cười mỗi khi xem trên phim ảnh, bởi vì nó đi cùng gương mặt Mỹ trẻ trung, tinh khôi, hơi trẻ con - gương mặt hơi trẻ con đến mềm lòng, cùng dáng điệu của chàng cường tráng. Và Saul cứ đứng trong cái dáng điệu khêu gợi đó mà lên lớp cho tôi về áp lực của xã hội buộc ta phải tuân thủ. Tuy vô thức nhưng dáng vẻ ấy lại hướng về phía tôi, và nó thô thiển đến mức khiến tôi phát bực. Có hai thứ ngôn ngữ đang đồng thời nói với tôi. Rồi tôi nhận ra là trông anh khác hẳn. Lúc đầu tôi đã nhìn anh liên tục, bứt rứt, cứ nghĩ sẽ thấy một điều gì đó không phải anh, rồi lại thấy người đàn ông xương xẩu, gầy guộc trong bộ quần áo lùng thùng. Giờ thì anh đang mặc trang phục vừa với người. Trông có vẻ mới. Tôi nhận ra là hẳn anh đã đi ra ngoài mua quần áo mới. Anh mặc chiếc quần jean màu xanh dương gọn gàng, ôm sát, cùng chiếc áo len màu xanh thẫm bó sát. Trông anh mảnh khảnh trong bộ đồ mới vừa vặn, nhưng nhìn anh vẫn không ổn, hai vai vẫn quá rộng, còn xương hông thì nhô ra. Tôi xen vào cuộc độc thoại, hỏi xem có phải anh mua quần áo mới chỉ vì lời tôi nói sáng nay hay không. Anh cau mày và trả lời cứng ngắc, sau khi ngừng một lúc, rằng anh không muốn trông có vẻ nhà quê, “hơn mức tôi bắt buộc phải thế chút nào”. Tôi lại thấy không thoải mái nên nói: “Trước giờ chưa ai bảo với anh là quần áo anh rộng lùng bùng trên người à?” Anh không nói gì, cứ như tôi chưa hề nói, mắt anh lơ đãng. Tôi nói: “Nếu không ai bảo anh thì chắc gương nhà anh phải bảo chứ.” Anh cười thô lỗ, nói: “Cô nương ơi, những ngày này tôi không thích thú gì chuyện soi gương cả, tôi quen nghĩ rằng mình đẹp trai rồi.” Khi nói những lời này, anh càng tăng thêm cái dáng vẻ khêu gợi, uể oải. Tôi có thể nhìn thấy đúng con người anh hồi da thịt anh vừa khít với cấu trúc xương: to lớn, rắn chắc, một người đàn ông tóc vàng mạnh mẽ lấp lánh sức khỏe, đôi mắt xam xám điềm tĩnh, sắc sảo dò xét. Những bộ quần áo mới gọn gàng càng làm tăng thêm sự lạc điệu trong vẻ ngoài của anh, nhìn anh hết sức bất ổn, tôi nhận ra là trông anh ốm yếu, trên mặt anh mang một sắc trắng không hề khỏe mạnh. Nhưng anh vẫn đứng ườn người, không nhìn tôi, Anna; mà hướng sự thách thức tình dục về phía tôi. Tôi nghĩ thật kỳ cục khi đây vẫn chính là người có năng lực nhận thức thực đến thế về phụ nữ, có một hơi ấm giản dị đến thế dưới hình thức những ngôn từ anh sử dụng. Suýt nữa đến lượt tôi thách thức anh, nói ra câu gì đó đại loại như: Anh làm cái quái gì mà sử dụng thứ ngôn ngữ người lớn đó với tôi, trong khi lại đứng đó như một tay người hùng cao bồi quanh hông giắt những khẩu súng lục ổ quay vô hình? Nhưng khoảng cách giữa anh với tôi quá lớn, anh lại bắt đầu lên tiếng, giảng giải. Tôi bảo tôi mệt và đi ngủ.

Dành nguyên ngày hôm nay chơi “trò chơi”. Đến chiều thì đạt mức thấu hiểu dễ chịu mà tôi đang nhắm tới. Có vẻ như nếu xây dựng được một dạng kỷ luật nào đó cho bản thân, thay vì cứ đọc lan man, nghĩ vơ vẩn, tôi có thể đánh bại cơn trầm cảm. Đen cho tôi là Janet không ở đây, sáng không cần phải dậy sớm, không còn định hình cho đời tôi từ bên ngoài. Phải tìm cách định hình từ bên trong vậy. Nếu “trò chơi” không có tác dụng thì tôi sẽ đi tìm việc làm. Dù sao thì cũng phải tìm, vì lý do tài chính. (Phát hiện mình đang không ăn uống gì, dè sẻn từng xu, tôi ghét cái ý nghĩ làm việc đến mức ấy.) Tôi sẽ tìm một công việc phúc lợi nào đó - là lĩnh vực mà tôi làm tốt. Ở đây hôm nay rất yên tĩnh. Không có dấu hiệu gì của Saul Green. Molly gọi điện khuya - bảo rằng Jane Bond đã “xin chết” vì Green. Cô nói thêm rằng cô nghĩ bất cứ phụ nữ nào lằng nhằng với Green đều mất trí hết cả. (Một lời cảnh cáo chăng?) (*3) “Đấy là kẻ để cùng lên giường một đêm và chắc chắn rằng sau đó cậu sẽ mất số điện thoại của hắn. Nếu chúng ta vẫn là loại đàn bà đó, nghĩa là lên giường với đàn ông chỉ một đêm. À ừ, ngày xưa ơi…”

Sáng nay tôi dậy sớm với một cảm giác chưa bao giờ có. Cổ căng và cứng. Tôi ý thức được mình đang thở - phải buộc bản thân thở sâu. Trên hết thảy, bụng tôi đau, hay nói đúng hơn là khu vực dưới cơ hoành. Cứ như các cơ ở đó xoắn lại thành một búi. Và trong tôi tràn đầy nỗi e sợ về một thứ gì không biết. Chính cảm giác này đã khiến cho tôi cuối cùng phải gạt đi các chẩn đoán rằng mình bị chứng khó tiêu, trúng gió, vân vân. Tôi gọi cho Molly và hỏi xem cô có bất cứ cuốn sách nào viết về các triệu chứng y khoa hay không, và nếu có thì đọc cho tôi nghe mô tả về trạng thái bất an được không. Chính nhờ cách này mà tôi phát hiện ra mình đang bị trạng thái bất an - tôi bảo cô là để xác minh một đoạn mô tả trong cuốn tiểu thuyết tôi đang đọc. Rồi tôi ngồi xuống nghĩ xem tại sao mình lại bị bất an. Tôi không lo lắng về tiền bạc, chuyện thiếu tiền chưa bao giờ khiến tôi phải lo lắng trong đời, tôi không sợ nghèo, và dù sao thì người ta cũng vẫn luôn kiếm được tiền nếu quyết tâm làm vậy. Tôi không lo lắng về Janet. Tôi không thấy bất cứ lý do nào để mình phải lo lắng cả. “Gọi tên” tình trạng hiện tại của mình là tình trạng bất an khiến vấn đề nhẹ nhàng hơn được một lúc, nhưng đêm nay (*4) chuyện trở nên rất tồi tệ. Vô cùng.

Hôm nay điện thoại reo rất sớm - Jane Bond tìm Saul Green. Gõ cửa phòng anh, không thấy trả lời. Đôi khi anh hoàn toàn không về nhà, suốt đêm. Định trả lời là anh chưa về nhà, nhưng tôi thấy như vậy không được khéo cho lắm, nếu như cô ta đã thật sự “xin chết” vì anh. Gõ cửa lần nữa, nhìn vào. Anh có nhà. Ngạc nhiên trước tư thế anh nằm ngủ, cuộn tròn người trong bộ đồ ngủ gọn gàng. Gọi anh, nhưng anh không trả lời. Đến gần, đặt tay lên vai anh, không phản ứng. Bỗng nhiên thấy hoảng - anh nằm yên tới mức trong thoáng chốc tôi nghĩ anh đã chết, yên tĩnh tuyệt đối đến vậy kia mà. Khoảng mặt lộ ra cho tôi thấy trắng như tờ giấy. Như tờ giấy mịn hơi nhàu một chút. Cố gắng lật người anh lại. Chạm vào rất lạnh - có thể cảm thấy cái lạnh hắt ngược lên tay tôi. Tôi thấy hoảng sợ. Cả bây giờ tôi còn cảm nhận được, trên lòng bàn tay mình, cái lạnh đậm đặc của da thịt anh qua bộ pyjama. Rồi anh dậy - nhưng đột ngột. Anh vừa vòng tay quanh cổ tôi, bộ dạng giống như một đứa trẻ sợ hãi, vừa ngồi dậy, chân đã vắt qua cạnh giường. Trông anh có vẻ hoảng hốt. Tôi nói: “Trời ạ, chỉ là Jane Bond đang chờ điện thoại thôi.” Anh nhìn chằm chằm - phải mất nửa phút dài đằng đẵng mấy chữ trên mới đến được với anh, và tôi nhắc lại. Vậy là anh lật đật đến chỗ điện thoại. Anh nói: “Ừ, Ừ, không” - rất nhát gừng. Tôi bước qua anh đi xuống tầng dưới. Chuyện này khiến tôi cáu. Tôi có thể cảm nhận được cái lạnh chết người trên bàn tay. Và rồi đôi tay anh quanh cổ tôi nói một thứ ngôn ngữ khác hẳn so với bất cứ những gì anh đã từng khi thức. Tôi gọi với lên mời anh xuống uống cà phê. Nhắc lại mấy lần. Anh xuống, rất lặng lẽ, rất xanh xao, dè chừng. Đưa cà phê cho anh. Tôi bảo: “Anh ngủ như chết ấy.” Anh nói: “Cái gì? Ừ.” Rồi anh ậm ừ nhận xét về cà phê, bỏ dở. Anh không nghe thấy lời tôi nói. Mắt anh vừa tập trung lại vừa đồng thời cảnh giác và sao nhãng. Tôi nghĩ anh không nhìn thấy tôi. Anh ngồi khuấy ly cà phê. Rồi anh bắt đầu nói, và tôi thề là rất ngẫu nhiên, anh có chọn bất cứ đề tài nào cũng vậy. Anh đang nói về cách nuôi dạy một bé gái. Anh rất thông minh về toàn bộ chuyện này, và rất kinh viện. Anh cứ nói tràng giang đại hải - tôi có chen câu gì đó, nhưng anh không biết là tôi nói. Anh nói - tôi thấy tâm trí mình nhãng đi, sau đó chỉ hơi hơi chú ý tới lời anh nói, tôi nhận ra mình đang lắng nghe tìm từ tôi trong lời anh. Tôi, tôi, tôi, tôi, tôi - tôi bắt đầu có cảm giác như từ tôi này đang bắn vào tôi như đạn súng máy. Trong một thoáng tôi tưởng tượng cái miệng anh, lia nhanh và linh động, là một khẩu súng nào đó. Tôi chen ngang, anh không nghe, tôi lại ngắt lời, nói: “Anh rất am hiểu về trẻ em, anh đã lập gia đình chưa?” Anh giật mình, miệng hơi mở, nhìn chằm chằm, Rồi tiếng cười trẻ trung, đột ngột, oang oang: “Lập gia đình? Chị đùa ai thế?” Điều này khiến tôi khó chịu, rõ ràng đây là một lời cảnh cáo đối với tôi. Người đàn ông này, đang cảnh cáo tôi, một phụ nữ, về hôn nhân, là một người rất khác với kẻ cứ nói không ngừng nghỉ, huyên thuyên không ngừng nghỉ những lời trí tuệ (nhưng mỗi giây lại ngắt quãng một từ tôi) về cách làm thế nào để nuôi dạy một bé gái thành “phụ nữ đích thực”, và cũng lại rất khác với anh chàng đã dùng mắt lột quần lột áo tôi ngay trong ngày đầu tiên. Tôi thấy ruột gan quặn lại, và lần đầu tiên tôi hiểu rằng tình trạng bất an của mình là do Saul Green. Tôi đẩy tách cà phê đã hết sang một bên và bảo rằng đã đến giờ tôi đi tắm. Tôi quên béng phản ứng của anh, cứ như anh vừa bị đánh hoặc đá, khi người khác bảo đó việc khác cần phải làm. Vì một lần nữa anh lại chồm lên khỏi ghế như bị ra lệnh. Lần này tôi nói: “Saul, vì Chúa, hãy bình tĩnh.” Một động tác mang tính bản năng chuẩn bị bỏ chạy, và anh kiềm chế được. Khoảnh khắc tự kiềm chế này là sự đấu tranh thể chất trông thấy với chính mình, tất cả các cơ đều tham gia. Rồi anh mỉm cười với tôi vẻ lôi cuốn, láu cá và nói: “Chị nói đúng, tôi đoán mình không phải là người thả lỏng nhất thế giới.” Tôi vẫn đang mặc áo choàng ở nhà, và phải đi ngang qua anh để vào nhà tắm. Khi tôi đi qua, theo bản năng anh lấy “tư thế người hùng”, ngón cái móc vào thắt lưng, các ngón tay chĩa xuống, cái nhìn mỉa mai cố tình của kẻ trác táng. Tôi nói: “Xin lỗi vì tôi không mặc như Marlene Dietrich trên đường đi tắm.” Tiếng cười trẻ trung, oang oang, khó chịu. Tôi bỏ cuộc và đi tắm. Nằm trong bồn tắm, quặn lên với đủ kiểu nỗi sợ hãi, nhưng quan sát các triệu chứng của một “tình trạng bất an” như thế này một cách hờ hững. Cứ như có một người lạ, mắc những triệu chứng mà tôi chưa từng trải qua, đã chiếm lấy cơ thể tôi. Vậy là tôi thu dọn rồi ngồi trên sàn phòng mình, và thử “trò chơi”. Tôi không làm được. Tôi chợt hiểu rằng mình sẽ đem lòng yêu Saul Green. Tôi nhớ lúc đầu mình đã chế giễu cái ý nghĩ này, sau đó cân nhắc, rồi chấp nhận nó: còn hơn cả chấp nhận nữa - chiến đấu vì nó, như chiến đấu cho một thứ gì đó thuộc quyền mình. Saul ở trên gác cả ngày. Jane Bond gọi điện đến hai lần, một lần khi tôi đang ở trong bếp nên nghe được. Anh bảo cô ta, bằng cái kiểu nói chi tiết, cẩn thận của mình, rằng anh không thể đến chỗ cô ta ăn tối được bởi vì… sau đó là một câu chuyện dài ngoằng về chuyến đi đến Richmond. Tôi đi ăn tối cùng Molly. Hai chúng tôi không ai nhắc gì tới chuyện Saul trong liên hệ với tôi, do đó tôi hiểu rằng mình đã đem lòng yêu Saul, và rằng sự trung thành nam-nữ, mạnh hơn sự trung thành với bạn bè, đã vào chỗ. Molly cường điệu kể cho tôi nghe về những cuộc chinh phục của Saul ở London, và bây giờ thì rõ ràng là cô đang cảnh cáo tôi, nhưng trong đó cũng có cá tính sở hữu nữa. Về phần mình, cứ mỗi người phụ nữ anh từng gây ấn tượng mà cô nhắc tới, một quyết tâm êm đềm, ngầm đắc thắng lại dâng lên, và cảm giác này liên quan tới dáng vẻ trác táng, ngón tay móc vào thắt lưng, và cái nhìn mỉa mai điềm tĩnh, chứ chẳng liên quan chút nào tới người đàn ông đã “gọi tên” tôi. Khi tôi quay lại, anh đang đứng trên cầu thang, có thể là cố tình. Mời anh uống cà phê. Anh nói với vẻ mong ước về việc tôi may mắn, có bạn bè và cuộc sống ổn định, ý nói đến vụ tôi ăn tối cùng Molly. Tôi bảo chúng tôi không mời anh bởi vì trước đó anh bảo là anh có hẹn. Anh đáp nhanh: “Sao chị biết?” “Bởi vì tôi nghe thấy anh bảo Jane như vậy qua điện thoại.” Cái nhìn giật mình, dè chừng - không thể nào nói rõ hơn được nữa, chuyện đấy thì liên quan gì đến chị? Tôi phát cáu và đáp: “Nếu anh muốn nói chuyện điện thoại riêng tư, anh chỉ cần nhấc máy vào phòng anh và đóng cửa lại là xong.” “Tôi sẽ làm thế,” anh trả lời, tàn nhẫn. Lại lạc điệu và khó chịu, là khi tôi thực sự không biết phải xử lý như thế nào cả. Tôi bắt đầu hỏi về cuộc sống của anh ở Mỹ, và kiên trì vượt qua rào cản né tránh. Có lúc tôi hỏi: “Anh có nhận ra rằng không bao giờ anh trả lời thẳng vào câu hỏi không - sao thế?” Anh đáp, sau một lúc, rằng anh chưa quen với châu Âu, ở Mỹ chẳng ai lại hỏi người khác có từng là cộng sản hay không cả.

Tôi bảo thật đáng tiếc khi đánh đường lặn lội đến châu Âu mà lại sử dụng cách phòng thủ của Mỹ. Anh bảo tôi nói đúng, nhưng anh thấy rất khó điều chỉnh, vì vậy chúng tôi bắt đầu nói chuyện chính trị. Ở anh có sự pha trộn quen thuộc giữa đắng cay, buồn tủi, và quyết tâm duy trì cân bằng theo kiểu nào đó giống như tất cả chúng tôi. Tôi lên giường, khẳng định rằng yêu tay này là điều ngu xuẩn. Tôi nằm trên giường ngẫm nghĩ về từ “yêu” cứ như đấy là tên một căn bệnh mà tôi có thể quyết định không mắc phải.

Anh có cái kiểu cứ lượn lờ gần đó lúc tôi pha cà phê hoặc trà; anh đi lên gác, rất cứng nhắc, cùng một cái gật đầu cứng nhắc. Những lúc như thế, anh lộ vẻ cô độc, tách biệt, tôi có thể cảm nhận được sự cô đơn, giống như cái lạnh quanh người anh. Tôi trang trọng mời uống, anh trang trọng nhận lời. Tối nay, ngồi đối diện với tôi, anh nói: “Ở quê nhà tôi có một người bạn. Ngay trước khi tôi lên đường đi châu Âu, anh ấy bảo là đã mệt mỏi với mấy chuyện trai gái, lên giường. Chuyện đấy đã trở nên rất khô khan và vô nghĩa.” Tôi cười và nói: “Vì bạn anh đọc nhiều nên chắc hẳn anh ấy phải biết rằng đây là bệnh bình thường, sau quá nhiều phi vụ tình ái.” Anh đáp nhanh: “Sao chị biết là anh ấy đọc nhiều?” Khoảnh khắc lạc điệu quen thuộc: trước hết, bởi vì quá rõ ràng là anh đang tự nói về bản thân, và mới nghe tôi cứ tưởng anh đang tự mỉa. Sau đó, bởi vì anh rụt vào trong chính mình, đầy nghi ngờ và cảnh giác, như sau sự việc điện thoại. Nhưng tệ nhất là vì anh không nói: “Sao chị lại biết là tôi đọc nhiều?” mà là “anh ấy đọc nhiều,” trong khi rõ ràng đấy chính là anh. Thậm chí, sau cái nhìn cảnh cáo dành cho tôi, anh còn quay đi như đang nhìn vào một ai khác, vào anh ấy. Đến giờ thì tôi đã nhận biết được những khoảnh khắc này không phải nhờ mô hình từ ngữ, hoặc thậm chí là vẻ mặt, mà nhờ cảm giác đột ngột thắt chặt dạ dày trong sợ hãi. Ban đầu, tôi cảm thấy nỗi bất an quái quỷ, sự căng thẳng, rồi nhanh chóng nghe lại điều chúng tôi vừa nói, hoặc nghĩ lại về một sự việc và tôi nhận ra đã có sự lạc điệu, cơn sốc, giống như vết nứt trong một loại chất khiến một thứ khác trào qua. Thứ gì đó đáng sợ, thù địch với tôi.

Tôi không nói gì sau câu trao đổi về người bạn đọc nhiều. Tôi đang nghĩ rằng sự tương phản giữa trí óc phân tích điềm tĩnh của anh và những khoảnh khắc vụng về (tôi dùng từ vụng về để che giấu khỏi bản thân những gì đáng sợ) thật là khó tin. Thật vậy, tôi im lặng trong suốt quãng một hơi thở. Lúc nào cũng thế, sau những khoảnh khắc như vậy, khi tôi sợ hãi, là tới tình thương, và tôi nghĩ đến lúc anh giơ tay lên với tôi, đứa trẻ cô đơn, trong giấc ngủ.

Sau đó anh trở lại với “người bạn”. Cứ như trước đó anh chưa hề nhắc đến người đó. Tôi có cảm giác anh quên là từng nói về anh ta, chỉ mới nửa tiếng trước. Tôi nói: “Cái người bạn này của anh,” (và một lần nữa anh lại nhìn vào giữa phòng, xa hẳn cả hai chúng tôi, về phía người bạn), “anh ấy có định bỏ chuyện quan hệ không, hay đây chỉ là một hứng thú nho nhỏ khác muốn thử nghiệm về bản thân?”

Tôi nghe thấy trọng âm nhấn lên mấy chữ quan hệ, và nhận ra tại sao mình lại nói một cách cáu kỉnh như vậy. Tôi nói: “Mỗi khi nói về tình dục hoặc tình yêu, anh đều nói: anh ấy được quan hệ, tôi được quan hệ hoặc họ (đàn ông) được quan hệ.” Anh bật cười đột ngột, nhưng không hiểu, vì vậy tôi nói: “Lúc nào cũng ở dạng bị động.” Anh hỏi nhanh: “Ý chị là sao?

“Nó mang lại cảm giác cực kỳ khó chịu khi nghe anh nói - chắc chắn phải là tôi được quan hệ, cô ấy được quan hệ, họ (phụ nữ) được quan hệ, nhưng chắc chắn không phải là anh, đàn ông, được quan hệ, anh quan hệ mới đúng.”

Anh chậm rãi nói, “Cô nương ơi, quả là chị biết cách làm tôi cảm thấy mình là đứa nhà quê.” Nhưng đây chỉ là bản giễu nhại một câu nói thô lỗ của Mỹ: Quả là anh biết cách làm tôi cảm thấy mình là đứa nhà quê.

Mắt anh ánh lên vẻ thù địch. Và tôi cũng đầy vẻ thù địch. Một thứ gì đó mà tôi cảm thấy từ nhiều ngày nay đã sôi sục. Tôi nói: “Hôm trước anh kể chuyện anh tranh cãi, với bạn bè người Mỹ của mình, về chuyện ngôn ngữ khiến tình dục xuống cấp ra sao - anh tự mô tả anh là người thanh giáo chân chính, hiệp sĩ Saul Galahad bảo vệ đạo đức, nhưng anh lại nói đến chuyện quan hệ, anh chẳng bao giờ nói chữ phụ nữ, anh nói phò, gái, mái, búp bê, hàng, anh nói về mông và vú, mỗi lần anh nhắc đến phụ nữ tôi thấy cô ta không phải loại người mẫu bày cửa kính thì cũng là một đống bộ phận cơ thể bị tháo rời, vú vê, hoặc chân cẳng hay mông đít.”

Tôi bực, tất nhiên, nhưng cảm thấy mình lố bịch, vì vậy càng bực hơn, nên tôi nói: “Tôi cho rằng đây là cái mà anh gọi là cổ hủ, nhưng tôi chịu chết không hiểu nổi làm sao một tay đàn ông có thể có thái độ lành mạnh đối với tình dục nếu không nói được gì khác ngoài chuyện mông đít và mấy con bé xôi thịt, đại loại như thế. Chẳng trách đám người Mỹ chết tiệt ai nấy đều gặp rắc rối về đời sống tình dục khỉ gió của họ.”

Sau một lúc, anh nói, giọng khô khốc: “Đây là lần đầu tiên trong đời tôi bị buộc tội phản nữ quyền. Chị sẽ thấy thú vị khi biết rằng tôi là gã đàn ông Mỹ duy nhất mà tôi biết không cáo buộc phụ nữ Mỹ mắc mọi tội lỗi tình dục có trên đời. Chị tưởng là tôi không hề biết rằng đàn ông trách cứ phụ nữ vì những kém cỏi của chính họ ư?”

Thế đấy, và tất nhiên điều đó khiến tôi mềm lại, hết giận. Chúng tôi nói chuyện chính trị. Vì chúng tôi không bất đồng ở đề tài này. Giống như đã quay trở lại Đảng, khi làm cộng sản có nghĩa là có tiêu chuẩn cao, đấu tranh vì một điều gì đó. Anh bị khai trừ khỏi Đảng vì “chống Stalin trước thời đại”. Sau đó anh bị vào sổ đen ở Hollywood vì là cộng sản. Đấy là một trong những câu chuyện kinh điển, đã vội trở thành cổ mẫu của thời đại chúng ta, nhưng khác biệt giữa anh và những người khác là anh không trở nên cay đắng hay chua chát.

Lần đầu tiên tôi có thể đùa với anh, để tiếng cười của anh không còn đề phòng nữa. Anh mặc chiếc quần jean mới màu xanh dương, chiếc áo dài tay mới màu xanh dương, đi giày thể thao. Tôi bảo anh nên thấy xấu hổ khi mặc đồng phục của chủ nghĩa phi tuân thủ Mỹ; anh bảo anh vẫn chưa đủ trưởng thành để tham gia cái thiểu số người không cần đến đồng phục.

Tôi yêu người đàn ông này đến mức tuyệt vọng.

Tôi viết câu cuối cùng cách đây ba ngày, nhưng đến tận khi ngồi đếm tôi mới nhận ra là đã ba ngày trôi qua. Tôi đang yêu nên thời gian đã biến mất. Hai đêm trước chúng tôi nói chuyện đến khuya, trong khi căng thẳng tăng dần. Tôi muốn phá lên cười, bởi vì việc hai người vờn nhau, có thể nói như vậy, trước khi làm tình, luôn là điều buồn cười; đồng thời tôi lại thấy do dự, chính xác là vì tôi đang yêu; và tôi thề rằng suýt nữa một trong hai chúng tôi đã ngắt mạch và chúc nhau ngủ ngon. Rốt cuộc anh cũng bước tới và vòng tay ôm lấy tôi rồi nói: “Cả hai chúng ta đều cô đơn, hãy đối xử tốt với nhau.” Tôi nhận thấy trong lời anh nói có vẻ gì đó sưng sỉa, nhưng quyết định không nghe thấy (*5). Tôi đã quên mất cảm giác làm tình với một người đàn ông đích thực là như thế nào rồi. Và tôi đã quên mất cảm giác nằm trong vòng tay của người đàn ông mình yêu là như thế nào rồi. Tôi đã quên mất cảm giác được yêu đến thế này, khiến cho một bước chân trên cầu thang cũng khiến cho tim ta rộn ràng, và hơi ấm vai anh nơi bàn tay tôi là tất cả mọi niềm vui trong đời.

Đấy là cách đây một tuần. Tôi không thể nói bất cứ điều gì về nó ngoại trừ tôi đang hạnh phúc. (*6) Tôi đang rất hạnh phúc, hạnh phúc vô cùng. Tôi thấy mình ngồi trong phòng, ngắm nhìn ánh nắng trên sàn nhà, còn tôi thì đang ở trạng thái mà tôi đạt tới sau rất, rất nhiều giờ tập trung với “trò chơi” - một cảm giác đê mê êm đềm và vui sướng, một sự hợp nhất với tất cả mọi thứ, đến nỗi bông hoa trong lọ là bản thân mình, còn cơ bắp chậm rãi căng lên là thứ năng lượng tự tin thúc đẩy vũ trụ. (*7) Và Saul thì thoải mái, một con người khác hẳn so với kẻ bước vào nhà tôi, căng thẳng và ngờ vực, và tình trạng bất an của tôi cũng biến mất, con người ốm yếu sống trong cơ thể tôi trong (*8) một thời gian đã biến mất.

Tôi đọc đoạn trên đây cứ như viết về một người nào khác. Cái đêm sau khi tôi viết vậy, Saul không xuống phòng tôi ngủ. Không một lời giải thích, chỉ đơn giản là anh không đến. Anh gật đầu, điềm tĩnh và cứng nhắc, rồi đi lên gác. Tôi nằm thức và nghĩ, khi phụ nữ bắt đầu làm tình với một người đàn ông mới, một sinh vật được sinh ra trong cô, có những phản ứng cảm xúc và tình dục, lớn lên theo quy luật, theo logic của riêng nó. Sinh vật đó trong tôi bị khinh rẻ trước hành động Saul lặng lẽ đi ngủ, đến nỗi tôi có thể thấy nó run lên, rồi tự gập người lại và bắt đầu thu nhỏ lại. Sáng hôm sau, chúng tôi uống cà phê, và tôi nhìn anh bên kia bàn (trông anh cực kỳ nhợt nhạt và căng thẳng) và nhận ra rằng nếu tôi hỏi, Sao đêm qua anh không vào phòng em, sao anh không giải thích gì đó về chuyện anh không tới, anh sẽ cau mày và trở nên thù địch.

Cùng ngày, sau đó anh đến phòng tôi và làm tình với tôi. Đấy không phải là làm tình đích thực. Anh đã quyết định là sẽ làm tình. Sinh vật trong tôi, người phụ nữ đang yêu, từ chối hợp tác với anh, không chịu bị dối lừa.

Đêm qua anh nói: “Anh phải đi gặp…” và sau đó là cả một câu chuyện dài loằng ngoằng. Tôi đáp: “Dĩ nhiên.” Nhưng anh vẫn tiếp tục kể, và tôi phát cáu. Tất nhiên tôi biết nguyên cớ là gì, nhưng tôi không muốn biết bất chấp tôi đã ghi lại sự thật trong cuốn nhật ký màu vàng. Rồi anh nói, vẻ sưng sỉa và hằn học: “Em rất bi quan, đúng không?” Điều này anh đã nói hôm qua, và tôi đã viết trong cuốn sổ bìa vàng. Tôi đột nhiên nói to: “Không.” Vẻ mờ mịt xuất hiện trên mặt anh. Và tôi nhớ rằng tôi biết cái vẻ mờ mịt đó, trước đây tôi đã nhìn thấy nó và không muốn thấy. Từ bi quan quá xa lạ với tôi, chẳng liên quan gì đến tôi cả. Anh vào giường tôi rất muộn, vì vậy tôi biết là anh vừa đi ngủ với người đàn bà khác về. Tôi nói: “Anh vừa ngủ với người khác phải không?” Anh cứng người lại và nói, vẻ sưng sỉa: “Không.” Nhưng tôi không nói gì cả nên anh nói: “Nhưng điều đó chẳng có nghĩa lý gì cả, đúng không?” Lạ một nỗi là người vừa nói Không, bảo vệ cho tự do của mình, và người nói, giọng năn nỉ, Điều đó chẳng có nghĩa lý gì cả, là hai người, tôi không thể kết nối được họ. Tôi im lặng, nỗi sợ hãi lại bóp chặt, và rồi người đàn ông thứ ba lên tiếng, giọng thân tình và trìu mến: “Giờ thì đi ngủ đi.”

Tôi đi ngủ, tuân lời người thứ ba thân thiện này, ý thức được hai Anna khác, tách rời khỏi Anna trẻ con vâng lời: người đàn bà đang yêu bị khinh rẻ, lạnh lẽo và khổ sở trong một góc nào đó của bản thân, và một Anna hờ hững, tò mò, mỉa mai, ngắm nhìn và nói: “Ái chà chà!”

Tôi lơ mơ ngủ, thấy những giấc mơ kinh khủng. Giấc mơ lặp đi lặp lại là giấc mơ về tôi với lão già lùn độc ác. Trong mơ, thậm chí tôi còn gật đầu như kiểu nhận ra - vậy là mi đây rồi, ta biết sẽ có lúc mi xuất hiện. Lão ta có cái dương vật to tướng nhô lên, thò hẳn ra sau lớp quần áo, nó đe dọa tôi, rất nguy hiểm, bởi vì tôi biết lão già ghét tôi và muốn làm hại tôi. Tôi cố tỉnh giấc, cố gắng trấn tĩnh lại. Saul nằm áp vào người tôi, một khối thịt trơ lì, đặc và lạnh. Anh nằm ngửa, nhưng ngay cả khi ngủ thì tư thế anh vẫn cứ đề phòng. Trong thứ ánh sáng mờ mờ của buổi sáng sớm, tôi nhìn thấy gương mặt anh, dè chừng. Tôi ngửi thấy mùi chua gắt. Tôi nghĩ: không thể là từ Saul được, anh sạch sẽ thế cơ mà; rồi tôi ngửi thấy mùi chua đến từ da thịt trên cổ anh, và tôi biết đấy là mùi sợ hãi. Anh đang sợ. Khi ngủ, anh bị giam trong sợ hãi, và anh bắt đầu khóc thút thít, giống như một đứa trẻ đang sợ hãi. Tôi biết anh bị ốm (mặc dù suốt cả một tuần hạnh phúc tôi không chịu biết điều đó) và cảm thấy đầy yêu thương nên bắt đầu xoa vai và cổ anh cho ấm. Gần sáng bao giờ anh cũng lạnh, cái lạnh phát ra từ người anh cùng với mùi sợ hãi của anh. Khi anh đã ấm lên, tôi đặt mình ngủ trở lại, và lập tức tôi trở thành lão già đó, lão già đó trở thành tôi, nhưng tôi cũng là bà già, như vậy tôi không có giới tính. Tôi cũng hằn học và hủy diệt. Khi tôi tỉnh giấc, Saul lại nằm lạnh trong vòng tay tôi, một khối lạnh. Tôi phải làm ấm mình khỏi nỗi kinh hoàng trong giấc mơ thì mới có thể làm ấm cho anh. Tôi tự nhủ: Mình vừa trở thành lão già độc ác, rồi bà già hằn học, hoặc là cả hai đồng thời, vậy thì bây giờ sẽ là gì nữa đây? Trong khi đó ánh sáng đã lọt vào phòng, thứ ánh sáng xam xám, vì vậy tôi có thể nhìn thấy Saul. Da thịt anh, nếu anh khỏe mạnh, sẽ có thứ màu nâu xám ấm áp của kiểu người như anh - kiểu người tóc vàng to lớn, khỏe khoắn, chắc chắn, thì giờ màu vàng bủng, lùng nhùng trên những chiếc xương to lớn trên mặt anh. Đột nhiên anh thức giấc từ một giấc mơ, sợ hãi, và ngồi dậy, dè chừng, tìm kiếm kẻ thù. Rồi anh nhìn thấy tôi và mỉm cười: tôi có thể nhìn thấy nụ cười của anh sẽ như thế nào trên gương mặt rộng màu nâu của Saul Green, khỏe mạnh. Nhưng nụ cười của anh vàng vọt và sợ hãi. Anh làm tình với tôi, do hoảng sợ. Sợ cô đơn. Đây không phải là thứ tình yêu giả mạo vì người đàn bà đang yêu, loài sinh vật có tính bản năng ấy, sẽ khước từ, mà nó là tình yêu xuất phát từ cảm giác hoảng sợ, và một Anna sợ hãi đã đáp lại, chúng tôi là hai sinh vật sợ hãi, yêu qua nỗi sợ. Và tâm trí tôi dè chừng, lo lắng.

Suốt một tuần anh không đến gần tôi, lại lần nữa không giải thích, không gì cả, anh là một người lạ vào nhà, gật đầu, rồi lên gác. Suốt cả một tuần tôi quan sát sinh vật đàn bà trong mình teo nhỏ, sau đó trở nên giận dữ, trở nên ghen tuông. Đấy là cơn ghen kinh khủng, thù hận mà tôi không nhận ra trong bản thân mình. Tôi lên gác gặp Saul và nói: “Loại đàn ông nào mà lại làm tình với đàn bà với biểu hiện chỉ có thích thú quá trình đó trong nhiều ngày liên tục, sau đó ngừng lại mà cả một lời nói dối lịch sự cũng không có?” Cười to hung hăng. Rồi anh nói: “Em hỏi loại đàn ông nào ư? Em hỏi rất hay.” Tôi đáp: “Tôi cho rằng anh đang viết cuốn tiểu thuyết Mỹ vĩ đại đó, người hùng trẻ tuổi đi tìm kiếm bản thân.” “Đúng vậy,” anh nói. “Nhưng anh không nghĩ là mình lại phải nghe kiểu nói đó từ một cư dân thế giới cũ mà vì lý do nào đó anh không tài nào hiểu nổi chưa bao giờ đặt câu hỏi lấy một giây bản thân mình là gì.” Anh nói gay gắt, cười cợt, thù địch; tôi cũng gay gắt và cười cợt. Tôi nói, thích thú với khoảnh khắc lạnh lùng thuần thù địch: “Thế thì chúc may mắn, nhưng đừng đưa tôi vào các cuộc thí nghiệm của anh.” Rồi xuống dưới nhà. Mấy phút sau anh cũng xuống, không còn là cây rìu chiến tâm linh nữa mà hiền từ và trách nhiệm. Anh nói: “Anna, em đang tìm người đàn ông của đời em, và thế là đúng, em xứng đáng có được một người như thế, nhưng.” “Nhưng?” “Em đang tìm kiếm hạnh phúc. Từ này chưa bao giờ có nghĩa gì với anh cho đến khi chứng kiến em chế ra nó như mật từ tình huống này. Chúa mới biết được sao lại có thể có người, mà lại còn là phụ nữ, tạo được hạnh phúc từ hoàn cảnh thế này, nhưng.” “Nhưng?” “Đây là anh, Saul Green, và anh không hạnh phúc, anh chưa bao giờ hạnh phúc.” “Vậy ra tôi đang lợi dụng anh.” “Đúng thế.” “Vậy là hòa, vì anh cũng lợi dụng tôi.” Mặt anh biến sắc, trông anh có vẻ giật mình. “Tôi xin lỗi vì đã nhắc đến chuyện này,” tôi nói, “nhưng chắc chắn là anh cũng phải nhận ra lấy một lần là anh đang làm thế chứ?”

Anh phá lên cười, cười thật sự, không phải là tiếng cười hằn học.

Rồi chúng tôi ngồi uống cà phê, và chúng tôi nói chuyện chính trị, hay nói đúng hơn là chuyện nước Mỹ. Nước Mỹ của anh lạnh lùng và tàn nhẫn. Anh kể về Hollywood, về các nhà văn “cộng”, những người chạy trốn vào chủ nghĩa tuân thủ cộng sản dưới sức ép của McCarthy, của những nhà văn trở nên đáng kính và rơi vào chủ nghĩa tuân thủ của phe chống cộng. Của những người chỉ điểm bạn bè cho các ủy ban điều tra. (*9) Anh kể về chuyện này bằng giọng giận dữ hờ hững, thú vị. Kể chuyện sếp anh đã gọi anh vào phòng làm việc và hỏi xem anh có phải là đảng viên cộng sản hay không. Khi đó Saul không phải đảng viên, thực ra là trước đó đã bị khai trừ khỏi Đảng, nhưng anh không chịu trả lời. Ông sếp tỏ ra vô cùng áy náy, bảo Saul phải từ chức. Saul từ chức. Gặp người này tại một bữa tiệc sau đó mấy tuần, ông ta bắt đầu khóc và tự trách bản thân. “Cậu là bạn tôi, Saul ạ, tôi muốn coi cậu là bạn của tôi.” Giọng điệu này tôi đã được nghe trong cả chục câu chuyện từ Saul, từ Nelson, từ những người khác. Khi anh nói, tôi thấy trong mình có một cảm xúc khiến tôi thấy nhộn nhạo, cái áp lực khinh bỉ sắc bén, giận dữ đối với ông sếp của Saul, đối với những nhà văn “cộng” náu mình trong chủ nghĩa tuân thủ, đối với những kẻ chỉ điểm. Tôi nói với Saul: “Nghe thì hay ho lắm, nhưng điều chúng ta đang nói, thái độ của chúng ta, xuất phát từ giả định cho rằng có thể trông mong mọi người sẽ có đủ can đảm để bảo vệ suy nghĩ cá nhân của mình.” Anh ngẩng đầu, đột ngột và thách thức. Thường thì khi nói, anh nói ào ào, mắt anh trống rỗng, anh nói với chính mình. Chỉ khi toàn bộ cá tính của anh dồn lại sau đôi mắt xám điềm tĩnh thì tôi mới nhận ra mình đã quen với cách anh tự nói chuyện một mình, gần như không biết gì đến tôi. Anh hỏi: “Ý em là sao?” Tôi nhận ra đây là lần đầu tiên mình suy nghĩ về toàn bộ chuyện này rõ ràng đến thế, sự hiện diện của anh ở đây khiến tôi suy nghĩ được mạch lạc, bởi vì chúng tôi có quá nhiều trải nghiệm giống nhau, vậy mà, là hai con người, chúng tôi lại khác hẳn nhau. Tôi đáp: “Cứ xét chúng ta mà xem, chúng ta chẳng có ai là chưa từng làm điều này cả, ở nơi công cộng nói một chuyện còn riêng tư nói chuyện khác, với bạn bè một chuyện còn với kẻ thù một chuyện. Chúng ta chẳng có ai là không buông xuôi trước áp lực đó, nỗi sợ bị coi là phản bội. Em nhớ mình từng nghĩ ít nhất một chục lần rằng: Lý do tại sao mình sợ phải nói ra điều đó, hoặc thậm chí nghĩ về điều đó, là vì mình sợ bị coi là phản bội Đảng.” Anh chằm chằm nhìn tôi, ánh mắt gay gắt, vẻ chế nhạo. Tôi biết vẻ chế nhạo đó, đấy là “vẻ chế nhạo cách mạng”, và chúng tôi ai nấy đều đã có lần dùng đến nó, và đây là lý do tại sao tôi không cãi lại nó mà tiếp tục: “Như vậy, em đang muốn nói là chính loại người trong thời đại chúng ta, theo định nghĩa đáng lẽ phải can đảm, nói thẳng, nói thật, thì hóa ra lại nịnh hót, dối trá, yếm thế, không phải vì sợ tra tấn, tù đày thì cũng vì sợ bị coi là phản bội.” Anh quát, tiếng quát tự động: “Lý luận kiểu giới trung lưu, chính là thế đấy, chính lúc này em đang lộ nguồn gốc ra, chẳng phải vậy sao?” Tôi bị sững ra mất một lúc. Bởi vì tất cả những điều anh từng nói với tôi, tất cả những giọng điệu anh từng sử dụng, không hề chuẩn bị cho tôi đón nhận câu nói đó: đây là một loại vũ khí lấy từ kho, giễu cợt và nhạo báng, và nó khiến tôi sửng sốt. Tôi nói: “Vấn đề không phải chỗ đó.” Anh đáp, giọng y hệt: “Bài khiêu khích cộng rất hay, lâu lắm rồi anh mới được nghe đấy.” “Vậy lời anh chỉ trích bạn bè cũ trong Đảng, em cho chỉ là bình luận vô tư?” Anh không trả lời, anh đang cau mày. Tôi nói: “Chúng em biết, nhờ nhìn vào nước Mỹ, rằng toàn bộ giới văn hóa có thể bị ức hiếp để mang lấy thái độ chống cộng theo thói quen.” Đột nhiên anh nói: “Đây là lý do tại sao anh yêu đất nước này, chuyện đó không thể xảy ra ở đây.” Lại là cảm giác lạc điệu, choáng váng. Vì những điều anh nói thật ủy mị, hàng có sẵn trong cái tủ bếp tự do chủ nghĩa, cũng như những câu nói khác là hàng có sẵn trong cái tủ bếp đỏ. Tôi đáp: “Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi tiếng hô hoán của phe cộng sản đang ở đỉnh cao, giới trí thức ở đây đúng như vậy. Vâng, em biết mọi người đều đã quên điều đó, bây giờ ai cũng sốc với McCarthy, nhưng đồng thời, các trí thức của chúng ta đang dìm nó xuống, nói tình hình không xấu xa như người ta tưởng. Cũng như những gì đồng đội họ đang làm ở Mỹ. Hầu hết dân theo chủ nghĩa tự do ở bên này đều bảo vệ, hoặc công khai hoặc ngầm ý, các ủy ban điều tra hoạt động phản nước Mỹ. Một tổng biên tập hàng đầu có thể viết một bức thư cuồng loạn gửi báo lá cải nói rằng nếu như biết trước rằng X và Y, bạn cũ của anh ta, là gián điệp, anh ta đã đến thẳng MI5 cung cấp thông tin về bọn họ. Chẳng ai vì thế mà đánh giá anh ta thấp hơn. Và tất cả các hiệp hội cũng như tổ chức văn chương đều tham gia vào hình thức chống cộng nguyên thủy nhất - điều họ nói, hoặc phần lớn điều họ nói, là đúng, tất nhiên, nhưng vấn đề là họ chỉ nói những gì vẫn nhan nhản trên báo lá cải, không có thực sự hiểu bất cứ điều gì, họ kêu la ầm ĩ, một đàn chó đang sủa. Và vì vậy em biết rất rõ rằng chỉ cần tăng nhiệt thêm một chút thôi, các trí thức ở đây sẽ ngồi chật các ủy ban điều tra hoạt động phản nước Anh, và trong khi đó, chúng ta, dân cộng sản, lại phải dối trá đổi trắng thay đen.”

“Thì sao?”

“Thì đánh giá từ những gì chúng ta được chứng kiến trong ba mươi năm qua, dưới các nền dân chủ, chưa nói đến độc tài, số người trong mỗi xã hội thực sự sẵn sàng chống lại trào lưu, thực sự sẵn sàng đấu tranh cho sự thật bằng mọi giá, ít ỏi đến nỗi…”

Anh đột ngột lên tiếng nói: “Xin lỗi,” rồi ra ngoài bằng bước chân dò dẫm, cứng đờ.

Tôi ngồi trong bếp và nghĩ về những điều mình vừa nói. Tôi và tất cả những người mà tôi biết rõ, trong đó có một số người rất tốt, đã ngập vào thói tuân thủ cộng sản và dối trá với bản thân hoặc với người khác. Và các trí thức “tự do chủ nghĩa” hay “không đảng phái” có thể và đã từng lao vào các vụ săn phù thủy dạng này hay dạng khác rất dễ dàng. Rất ít người thực sự quan tâm đến tự do, đến quyền tự do, đến sự thật, rất ít. Rất ít người có can đảm, loại can đảm mà nền dân chủ thực thụ phải dựa vào. Thiếu những người có loại can đảm đó, xã hội tự do sẽ chết hoặc không thể ra đời được.

Tôi ngồi đó, chán nản và buồn bã. Bởi vì tất cả chúng tôi, được nuôi dưỡng trong một nền dân chủ phương Tây, ai nấy đều mang sẵn trong người niềm tin rằng tự do và quyền tự do sẽ chỉ càng vững mạnh, sẽ sống được dưới áp lực, và dường như niềm tin đó tồn tại bất chấp bất cứ bằng chứng nào cho thấy điều ngược lại. Có thể bản thân niềm tin này là một mối nguy hiểm. Ngồi đó, tôi nhìn thấy thế giới với các quốc gia, hệ thống, khối kinh tế, càng lúc càng rắn và đặc lại; một thế giới nơi mà ngay cả việc nói về tự do hoặc lương tri cá nhân cũng ngày một trở nên lố bịch. Tôi biết rằng đã từng có người viết về hình dung này, nó là thứ người ta từng đọc, nhưng trong một giây nó không chỉ là ngôn từ, ý tưởng, mà một thứ tôi cảm nhận được là thật, ngay trong da thịt và thần kinh mình.

Saul quay lại từ trên gác, đã mặc quần áo. Bây giờ anh là cái mà tôi gọi là “chính anh”, và anh nói gọn lỏn, bằng giọng hài hước đùa bỡn: “Xin lỗi vì đã bỏ ra ngoài, nhưng anh không thể chịu nổi những điều em nói.”

Tôi đáp: “Mỗi dòng suy nghĩ mà em theo đuổi những ngày này cuối cùng đều ảm đạm và buồn nản. Có lẽ em cũng không chịu nổi.”

Anh bước đến bên tôi và vòng tay ôm lấy tôi. Anh nói: “Chúng ta đang an ủi lẫn nhau. Để làm gì cơ chứ, anh tự hỏi?” Rồi, vẫn vòng tay ôm lấy tôi: “Chúng ta phải nhớ rằng những người mang trải nghiệm như chúng ta không thể thoát khỏi buồn chán và vô vọng.”

“Hay biết đâu những người mang trải nghiệm như chúng ta chính là người có khả năng biết rõ sự thật nhất, bởi ta đã biết chính mình có thể làm những việc đáng sợ gì?”

Tôi dọn bữa trưa cho anh, và bây giờ chúng tôi nói chuyện về thời thơ ấu của anh. Một tuổi thơ tồi tệ, gia đình tan vỡ theo kiểu kinh điển, vân vân. Sau bữa trưa, anh lên gác nói rằng anh muốn làm việc. Gần như ngay lập tức anh đi xuống và tựa vào khung cửa, nói: “Trước đây anh vẫn luôn làm việc được nhiều giờ liên tục, nhưng bây giờ thì không thể làm quá một giờ không nghỉ.”

Tôi lại cảm thấy lạc điệu. Giờ đây, sau khi đã suy nghĩ kỹ, vấn đề đã trở nên khá rõ ràng, nhưng lúc ấy tôi thấy rất bối rối. Vì anh nói như thể anh đã làm việc cả tiếng đồng hồ rồi chứ không phải chỉ mới được khoảng năm phút. Anh đứng đó, uể oải, bồn chồn. Rồi anh nói: “Ở quê anh có một người bạn bố mẹ ly thân từ khi anh ấy còn bé. Em nghĩ điều đó có ảnh hưởng đến anh ấy không?”

Mất một lúc tôi không trả lời được, bởi vì rõ ràng “người bạn” chính là anh. Nhưng cách đây chưa đầy mười phút anh vừa kể về bố mẹ mình.

Tôi đáp: “Có, chắc chắn việc bố mẹ anh chia tay đã ảnh hưởng đến anh.”

Anh giật mình đứng thẳng dậy, mặt anh cau lại vẻ nghi ngờ, rồi anh hỏi: “Sao em biết?”

(*10) Tôi nói: “Trí nhớ anh tệ quá, cách đây ít phút anh vừa kể cho em nghe về bố mẹ anh.”

Anh đứng, vẻ cảnh giác, đề phòng, nghĩ ngợi. Gương mặt anh đanh lại trong những ý nghĩ hoài nghi. Rồi anh nói, từ ngữ trào ra ríu vào nhau: “Ồ, lúc đó anh nghĩ về bạn anh, thế thôi…” Anh quay người và đi lên gác.

Tôi ngồi, bối rối, cố khớp mọi thứ lại với nhau. Thực sự là anh quên rằng đã kể với tôi. Và tôi nhớ cả nửa tá trường hợp trong mấy ngày vừa qua - anh kể cho tôi nghe chuyện gì đó, rồi mấy phút sau nhắc lại như thể đấy là một chủ đề mới toanh. Chẳng hạn, hôm qua anh nói: “Em có nhớ lần đầu tiên anh đến đây không,” như thể đã ở đây nhiều tháng lắm rồi. Và một lần khác anh nói: “Cái hồi chúng ta đến nhà hàng Ấn Độ,” dù chúng tôi vừa ăn trưa ở đó hôm ấy.

Tôi đi vào căn phòng lớn và đóng cửa. Chúng tôi hiểu ngầm với nhau rằng khi cánh cửa đó đóng lại thì đừng có làm phiền tôi. Đôi lúc, khi cửa đóng, tôi nghe thấy tiếng anh đi đi lại lại trên đầu, hoặc đi xuống lưng chừng cầu thang, và điều đó giống như một áp lực khiến tôi phải mở cửa, và tôi mở. Nhưng hôm nay tôi đóng cửa thật chặt rồi ngồi trên giường và cố gắng suy nghĩ. Người tôi có chút mồ hôi, tay tôi lạnh, và tôi không thể thở bình thường được. Tôi bị cơn lo lắng siết chặt, và dù nhắc đi nhắc lại: Tình trạng lo lắng này không thuộc về mình, nó không phải của mình - thì cũng chẳng ích gì cả. (*11) Tôi nằm ngửa trên sàn, gối đầu lên tấm nệm, thả lỏng chân tay và chơi “trò chơi”. Hoặc cố gắng chơi. Vô ích, vì tôi nghe thấy tiếng Saul trên gác, đi lại sùng sục. Mỗi chuyển động của anh đều đi xuyên qua tôi. Tôi nghĩ tôi nên ra ngoài, gặp ai đó. Ai được nhỉ? Tôi biết không thể nói chuyện Saul với Molly được. Mặc dù vậy tôi vẫn gọi cho cô, và cô thản nhiên hỏi: “Saul thế nào?” vì vậy tôi đáp: “Tốt.” Cô bảo cô vừa gặp Jane Bond, đang “thực sự phát rồ lên vì anh ta”. Mấy ngày rồi tôi không hề nghĩ đến Jane Bond, vì vậy tôi nói vắn tắt về một chuyện gì đó rồi lại nằm xuống sàn nhà. Đêm hôm qua Saul nói: “Anh phải đi dạo một chút không thì không ngủ được.” Anh đi khoảng ba tiếng. Jane Bond ở cách đây nửa tiếng đi bộ, mười phút đi xe buýt. Đúng vậy, trước khi đi anh có gọi điện cho người nào đó. Điều này có nghĩa là từ nhà tôi, anh đã bố trí với Jane để gặp cô ta làm tình, đi ra, làm tình, quay về, vào giường tôi, ngủ. Không, đêm qua chúng tôi không hề làm tình. Bởi vì, trong vô thức, tôi đang bảo vệ bản thân trước nỗi đau nhận biết. (Nhưng lý trí của tôi không quan tâm, chỉ có sinh vật trong tôi quan tâm, nó ghen tuông, hờn dỗi và muốn trả đũa.)

Anh gõ cửa, nói vọng qua, “Không muốn quấy rầy em, anh đi dạo một chút.” Không hề biết rằng mình sẽ làm vậy, tôi bước tới cửa, mở ra - anh đã bước chân xuống cầu thang, và hỏi: “Anh đi gặp Jane Bond đấy à?” Anh sững người, rồi chậm rãi quay lại và đối mặt với tôi. “Không, anh đi dạo thôi.”

Tôi không nói gì, bởi vì tôi nghĩ anh không thể nói dối được khi tôi hỏi thẳng. Lẽ ra tôi nên hỏi: “Đêm qua anh đi gặp Jane Bond à?” Giờ thì tôi nhận ra là mình đã không làm vậy bởi vì sợ anh chối.

Tôi nói câu gì đó vui vui và vô thưởng vô phạt rồi quay đi, đóng cửa lại. Tôi không tài nào nghĩ nổi, thậm chí nhúc nhích cũng không. Tôi ốm rồi. Tôi liên tục nói với mình: Anh ấy phải đi, anh ấy phải rời khỏi đây. Nhưng tôi biết mình không thể yêu cầu anh đi được, vì vậy tôi cứ tự nhủ: Thế thì mày phải tự tách mình ra thôi.

Khi anh quay về, tôi biết mình đã chờ bước chân của anh cả mấy tiếng đồng hồ. Khi đó trời đã gần tối. Anh gọi toáng lên - vui vẻ quá đáng, chào tôi và đi thẳng vào nhà tắm. (*12) Tôi ngồi đó suy nghĩ: Tay này không thể nào đi thẳng từ chỗ Jane Bond về rồi đi rửa sạch dấu vết tình dục được khi biết rằng chắc chắn là mình biết anh ta đang làm gì. Không thể nào. Vậy mà tôi biết là có thể. Tôi ngồi thu hết can đảm để nói: Saul, anh vừa ngủ với Jane Bond phải không?

Khi anh bước vào thì tôi nói. Anh cười to, thô lỗ, và đáp: “Không, không có.” Rồi anh chăm chú nhìn tôi, bước đến và vòng tay ôm lấy tôi. Động tác của anh đơn giản và ấm áp tới mức tôi lập tức chịu thua. Anh nói, rất thân thiện: “Anna ơi, em quá nhạy cảm với mọi thứ. Cái gì cũng đơn giản chút đi.” Anh mơn trớn tôi một chút rồi nói: “Anh nghĩ em nên cố gắng hiểu một điều - chúng ta rất khác nhau. Và một điều nữa, cách sống của em ở đây trước khi anh đến không tốt cho em. Không sao, có anh ở đây rồi.” Vừa nói điều này, anh vừa đặt tôi nằm xuống giường và bắt đầu dỗ dành như thể tôi bị ốm. Và thực tế là tôi ốm thật. Đầu óc tôi lộn tùng phèo còn bụng tôi nhộn nhạo hết cả lên. Tôi không nghĩ nổi, bởi vì con người đang hết sức dịu dàng này cũng chính là kẻ đã làm tôi phát ốm. Sau đó anh nói: “Còn bây giờ thì đi làm bữa tối cho anh đi, như vậy sẽ tốt cho em. Cầu Chúa giúp đỡ em, nhưng em thực sự là người phụ nữ của gia đình, em đáng phải lấy một anh chồng dễ thương ổn định ở đâu đó.” Rồi, bằng giọng thiểu não,(*13) “Xin Chúa hãy giúp con, có vẻ như lúc nào con cũng chọn bọn họ.” Tôi làm bữa tối cho anh.

Sáng nay, rất sớm, chuông điện thoại reo. Tôi trả lời thì đấy là Jane Bond. Tôi đánh thức Saul, bảo với anh, ra khỏi phòng và đi vào nhà tắm, làm ầm ĩ, xả nước, vân vân. Khi tôi quay lại thì anh đã trở về giường, nằm co quắp, lơ mơ ngủ. Tôi cứ nghĩ anh sẽ kể cho tôi nghe Jane nói gì hay muốn gì, nhưng anh chẳng nói gì về cú điện thoại cả. Tôi lại bực mình. Nhưng cả đêm qua thật ấm áp và âu yếm, trong giấc ngủ anh quay sang tôi như tình nhân, hôn hít và sờ mó tôi, thậm chí gọi tên tôi, như vậy đúng là anh nghĩ về tôi. Tôi không biết phải cảm thấy gì nữa. Sau bữa sáng anh bảo anh phải ra ngoài. Anh giải thích dài dòng, chi tiết về việc phải gặp một tay nào đó trong ngành điện ảnh. Tôi biết, nhờ vẻ bướng bỉnh cứng đờ trên gương mặt anh, và nhờ lời giải thích phức tạp không cần thiết, rằng anh sắp đi gặp Jane Bond, anh đã sắp xếp gặp cô ta khi cô ta gọi cho anh. Ngay khi anh vừa đi, tôi lên phòng anh. Mọi thứ cực kỳ gọn gàng và ngăn nắp. Tôi bắt đầu xem đám giấy tờ của anh. Tôi nhớ mình đã nghĩ, không chút ngạc nhiên khi thấy mình làm vậy mà cứ như tôi có quyền bởi vì anh nói dối, rằng đây là lần đầu tiên trong đời tôi đọc thư hoặc giấy tờ riêng tư của người khác. Tôi giận dữ và ốm yếu nhưng rất cẩn thận. Tôi tìm thấy một chồng thư buộc bằng dây chun trong góc, của một cô gái ở Mỹ. Họ đã từng yêu nhau. Cô ta phàn nàn rằng anh không chịu viết thư. Rồi một chồng thư nữa của một cô gái ở Paris - lại là những lời phàn nàn về việc anh không viết thư. Tôi đặt mấy lá thư xuống, không cẩn thận mà bừa bãi, rồi tìm xem còn gì nữa không. Rồi tôi tìm thấy mấy chồng nhật ký. (*14) Tôi nhớ mình đã nghĩ rằng thật lạ là nhật ký của anh chạy theo mạch thời gian chứ không phải chia ra như của tôi. Tôi lướt qua mấy cuốn đầu, không đọc, chỉ xem qua xem có gì, một danh sách vô tận các chỗ mới, các công việc khác nhau, một danh sách dài dằng dặc tên các cô gái. Và như một sợi chỉ xuyên qua vô số địa danh và tên phụ nữ, là những chi tiết về nỗi cô đơn, lẻ loi, cô độc. Tôi ngồi trên giường anh, cố gắng khớp nối hai hình ảnh, người đàn ông tôi biết và người đàn ông có chân dung ở đây, tự thương hại mình, lạnh lùng, tính toán, không cảm xúc. Rồi tôi nhớ rằng khi đọc mấy cuốn sổ của mình, tôi đã không nhận ra tôi. Một điều gì đó kỳ lạ xảy ra khi người ta tự viết về chính mình. Đó là cái tôi thẳng thắn, không phải cái tôi phóng chiếu. Kết quả thật lạnh lùng, nhẫn tâm, xét đoán. Hoặc nếu không xét đoán thì trong đấy cũng chẳng có sự sống - vâng, đúng vậy, không có sự sống. Khi viết điều này, tôi nhận ra mình đang trở lại với thời điểm trong cuốn sổ bìa đen khi viết về Willi. Nếu Saul nói về mấy cuốn nhật ký của anh, hoặc tóm tắt cái tôi trẻ hơn từ điểm nhìn cái tôi sau này: Anh là đồ con lợn, đối xử với phụ nữ cái kiểu ấy. Hoặc: Anh đúng khi đối xử với phụ nữ theo cách đó. Hoặc: Chẳng qua là anh đang ghi lại những gì xảy ra thôi, đâu phải là anh đánh giá đạo đức về bản thân - à, bất cứ anh nói gì đi nữa, đều không liên quan. Bởi vì thứ bị bỏ ra ngoài nhật ký của anh là sức sống, sự sống, sự lôi cuốn. “Willi để cho mắt kính của mình phản chiếu lấp lánh qua căn phòng và nói…” “Saul, đứng vững chãi và chắc chắn, hơi nhe răng cười - kiểu cười chế giễu tư thế gạ gẫm của chính mình, dài giọng: Nào cưng, mình chịch đi, anh thích phong cách của em.” Tôi tiếp tục đọc, ban đầu kinh hãi trước vẻ nhẫn tâm lạnh lùng trong đó, sau đó dịch chúng, từ những gì đã biết về Saul, ra thực tế. Vì vậy tôi thấy mình liên tục thay đổi trạng thái, từ giận dữ, cơn giận của đàn bà, sang niềm vui mà người ta cảm thấy trước bất cứ thứ gì đang sống, niềm vui khi nhận ra.

Rồi niềm vui biến mất khi tôi bắt gặp một đoạn viết khiến tôi sợ hãi, bởi vì tôi đã viết ra nó, nhờ một dạng hiểu biết khác, trong cuốn sổ bìa vàng của tôi. Điều khiến tôi sợ là khi viết, dường như tôi có một con mắt thứ hai kinh khủng, hoặc thứ gì đại loại như vậy, một dạng trực giác; một loại lý trí đang hoạt động, quá đau đớn nên không thể sử dụng trong đời thường; người ta không thể sống nổi nếu dùng nó để sống. Ba đoạn: “Phải thoát ra khỏi Detroit, mình đã nhận được từ nó tất cả những gì mình cần. Mavis gây chuyện. Cách đây một tuần mình còn phát điên lên vì cô ấy, còn bây giờ thì chả có gì. Lạ thật.” Rồi: “Đêm qua Mavis đến nhà mình. Joan đang ở với mình. Phải ra ngoài hành lang đuổi Mavis đi.” Rồi: “Nhận được thư Jake ở Detroit. Mavis dùng dao cạo cắt cổ tay. Người ta đưa đến bệnh viện kịp thời. Đáng tiếc, người đâu mà dễ thương.” Không có thông tin gì thêm về Mavis. Tôi bực mình, cơn giận lạnh lùng, hận thù của cuộc chiến giới tính; giận tới mức tôi đóng luôn trí tưởng tượng lại. Tôi bỏ qua phần lớn đống nhật ký. Phải mất nhiều tuần mới đọc hết, mà tôi thì không quan tâm. Lúc này tôi tò mò muốn biết anh viết gì về mình. Tôi tìm cái ngày anh đến căn hộ này. “Gặp Anna Wulf. Nếu mình quanh quẩn lâu ở London thì cũng được. Mary đề nghị cho mình thuê phòng, nhưng mình thấy ở đó sẽ rắc rối. Một con mái tốt, nhưng chỉ mỗi thế. Anna không hấp dẫn mình. Điều tốt trong hoàn cảnh hiện tại. Mary gây sự. Jane xuất hiện tại bữa tiệc. Bọn mình khiêu vũ, gần như chịch nhau trên sàn nhảy. Nhỏ nhắn, mảnh khảnh, dáng dấp bé trai - đưa cô ấy về nhà. Chịch cả đêm - trời ạ!” “Hôm nay, nói chuyện với Anna, không nhớ mình nói gì nữa, mình không nghĩ là cô ta để ý điều gì.” Mấy ngày không viết gì. Rồi: “Buồn cười, mình thích Anna hơn hết, nhưng ngủ với cô ấy lại không thích. Phải chăng đã đến lúc đi tiếp? Jane gây chuyện. Địt mấy cô ả này, nghĩa đen luôn!” “Anna gây sự về chuyện Jane. Thế thì quá tệ cho cô ấy.” “Cắt cầu Jane. Tội nghiệp, con mái tốt nhất mình gặp ở cái đất nước chết tiệt này. Marguerite ở quán cà phê.” “Jane gọi điện. Gây sự về chuyện Anna. Không muốn thêm chuyện với Anna. Hẹn Marguerite.”

Là hôm nay, vì vậy anh ra ngoài là để gặp Marguerite chứ không phải Jane. Tôi thấy sốc với chính mình vì hoàn toàn không sốc khi mình đi đọc giấy tờ riêng tư của người khác. Ngược lại, trong tôi tràn đầy niềm vui đắc thắng xấu xí vì bắt quả tang được anh.

(*15) Câu Ngủ với Anna không thích cắt sâu vào tôi đến nỗi tôi không thở được mất một lúc. Tệ hơn, tôi không hiểu. Tệ hơn, tôi mất niềm tin, mất một lúc, vào nhận định của sinh vật đàn bà vẫn đáp lại, hoặc không đáp lại, tùy theo Saul có làm tình do chắc chắn muốn vậy hay không. Không thể nói dối nó được. Mất một lúc, tôi tưởng nó đã tự lừa dối chính mình. Tôi xấu hổ khi thấy mình quan tâm nhiều đến chuyện anh không muốn ngủ với tôi, vì cùng lắm thì tôi là “một con mái tốt”, chứ không phải đến chuyện anh có thích tôi hay không. Tôi xếp mấy cuốn nhật ký lại, nhưng bừa bãi, vì khinh bỉ, giống như lúc xếp mấy lá thư, rồi xuống gác viết những dòng này. Nhưng tôi quá bối rối nên không thể viết một cách rành mạch được.

Tôi vừa lên nhìn lại cuốn nhật ký một lần nữa - anh viết “ngủ với cô ấy không thích” vào cái tuần anh không hề xuống gác. Kể từ đó, anh vẫn luôn làm tình như đàn ông vẫn làm khi thích phụ nữ. Tôi không hiểu, tôi không hiểu gì cả.

Hôm qua, tôi buộc mình phải đối đầu anh: “Anh ốm à, và nếu vậy thì ốm như thế nào?” Anh đáp, và gần như tôi đã đoán trước được câu trả lời: “Sao em biết?” Thậm chí tôi còn phá lên cười. Anh nói, giọng thận trọng: “Anh nghĩ nếu gặp rắc rối thì người ta nên nhét sâu vào lòng chứ đừng dùng nó làm khổ người khác.” Anh nói câu này bằng giọng nghiêm túc, người có trách nhiệm. Tôi đáp: “Nhưng trên thực tế thì anh đang làm đúng điều đó. Có chuyện gì thế?” Tôi có cảm giác như đang đứng trong một màn sương mù tâm lý. Anh nói nghiêm chỉnh: “Anh đang hy vọng là anh không trút lên đầu em.” “Không phải là em kêu ca gì cả,” tôi nói. “Nhưng em nghĩ rằng giấu kín mọi chuyện chẳng lợi lộc gì, anh nên giãi bày ra thì hơn.”

Anh đáp, giọng bỗng nhiên trở nên gay gắt và thù địch: “Em nói y như một con mẹ phân tâm học vậy.”

Tôi đang nghĩ đến việc, trong bất cứ cuộc trò chuyện nào, anh đều đóng vai năm, sáu người khác nhau, thậm chí tôi còn chờ con người trách nhiệm trở lại. Anh trở lại thật, và nói: “Anh đang trong trạng thái không được tốt cho lắm, thật đấy. Anh xin lỗi nếu mình thể hiện ra điều đó. Anh sẽ cố gắng làm tốt hơn.” Tôi đáp: “Đấy không phải là vấn đề làm tốt hơn hay không.”

Anh xoay câu chuyện sang hướng khác một cách kiên quyết; vẻ bị săn đuổi, tổn thương hiện trên mặt anh, anh đang tự bảo vệ bản thân.

Tôi gọi cho bác sĩ Paynter và nói muốn biết có chuyện gì với người mất khái niệm về thời gian và có vẻ như là có vài người khác nhau. Ông trả lời: “Tôi không khám bệnh qua điện thoại.” Tôi nói: “Đừng có mà nói kiểu đấy.” Ông đáp: “Anna thân mến ơi, tôi nghĩ cô nên đến khám thì hơn.” “Không phải là tôi,” tôi nói, “mà là một người bạn,” nhưng chỉ thấy im lặng. Rồi ông nói: “Đừng hoảng, cô sẽ ngạc nhiên nếu biết bao nhiêu người quyến rũ đang đi trên đường phố chúng ta chỉ là bóng ma của chính mình mà thôi. Đến khám đi.” “Nguyên nhân là sao?” “Thì, tôi sẽ nói là, đánh bạo đoán thử, và không nói thừa chữ nào, tất cả đều là do thời đại chúng ta đang sống cả.” “Cảm ơn nhiều,” tôi nói. “Vẫn không đến khám à?” “Không.” “Rất dở, Anna ạ, đó là thái độ kiêu ngạo về tâm linh, nếu là vài người khác nhau, cô làm sao biết phải tự lực cánh sinh bằng con người nào?” “Tôi sẽ chuyển thông điệp của anh đến đúng địa chỉ,” tôi trả lời.

Tôi đến gặp Saul và nói: “Em vừa gọi điện cho bác sĩ và ông ấy nghĩ rằng em bị ốm, em bảo rằng em có một người bạn - anh hiểu không?” Mặt Saul đanh lại trông như bị dồn vào góc, nhưng anh lại toe toét cười. “Ông ấy bảo em nên đến khám, nhưng cũng bảo em không nên hoảng sợ khi là vài người khác nhau cùng một lúc và mất khái niệm về thời gian.”

“Anh tạo cho em cảm giác đấy à?”

“Vâng, đúng thế.”

“Cảm ơn. Anh nghĩ ông ta nói đúng.”

Hôm nay anh bảo tôi, “Sao anh lại phải tốn tiền cho bác sĩ tâm lý trong khi anh có thể được em điều trị, miễn phí?” Giọng hung hãn, vẻ đắc thắng. Tôi bảo anh rằng sử dụng tôi trong vai trò này là không công bằng. Anh đáp, vẫn giọng thù ghét đắc thắng đó: “Đàn bà Anh! Công bằng! Ai cũng lợi dụng nhau hết. Em lợi dụng anh để tạo ra một giấc mơ hạnh phúc kiểu Hollywood, và đổi lại anh lợi dụng kinh nghiệm của em với bọn thầy mo.” Một lát sau chúng tôi đã làm tình. Khi cãi nhau, chúng tôi ghét nhau, rồi tình dục nảy sinh từ lòng thù ghét. Đấy là thứ tình dục bạo lực nặng nề, không giống bất cứ điều gì tôi từng biết trước đây, chẳng (*16) liên quan gì đến sinh vật đàn-bà-đang-yêu cả. Nó hoàn toàn chối bỏ điều này.

Hôm nay anh phê bình tôi trên giường về một động tác, và tôi nhận ra anh đang so sánh tôi với người khác. Tôi nói rằng làm tình có nhiều trường phái khác nhau, và chúng ta đến từ hai trường phái khác nhau. Chúng tôi thấy ghét nhau, nhưng thái độ từ đầu đến cuối khá vui vẻ. Vì anh bắt đầu suy nghĩ về điều đó, và rồi anh cười rống lên. “Tình yêu,” anh nói, đa cảm như một cậu học sinh, “có tính quốc tế.” “Phịch,” tôi nói,“là vấn đề phong cách quốc gia. Không một tay người Anh nào làm tình như anh cả. Tất nhiên em đang nói đến những tay có làm tình.” Anh bắt đầu phịa ra một bài hát pop, “Anh sẽ thích phong cách quốc gia của em nếu em thích phong cách của anh.”

Mấy bức tường căn hộ này bao vây chúng tôi. Ngày này qua ngày khác chúng tôi cô đơn ở đây. Tôi biết rằng cả hai đứa đều điên. Anh vừa nói vừa ré lên cười: “Ừ, anh điên, mất hết cuộc đời ngắn ngủi này anh mới nhận ra điều đó, rồi thì sao? Cứ cho là anh thích điên thì sao?”

Trong khi ấy cơn lo lắng thường xuyên hiện hữu, tôi đã quên mất thế nào là thức dậy bình thường, nhưng tôi quan sát trạng thái mà mình đang gặp phải, và thậm chí còn nghĩ: Ờ thì mình sẽ không bao giờ mắc phải chứng bất an của mình, vì vậy tốt hơn là mình trải nghiệm bệnh của người khác trong khi có cơ hội.

Đôi khi tôi cố gắng chơi “trò chơi”. Đôi khi tôi viết vào cuốn này và cuốn sổ bìa vàng. Hoặc tôi quan sát ánh sáng thay đổi trên sàn, khiến cho một hạt bụi hoặc một nốt gỗ được phóng đại và trở thành biểu tượng cho chính nó. Trên gác Saul đi đi lại lại, đi đi lại lại, hoặc im lặng thật lâu. Cả im lặng và tiếng bước chân đều dội vào các sợi thần kinh của tôi. Khi anh ra ngoài “đi dạo một chút”, dường như thần kinh của tôi kéo dài ra và đi theo anh, cứ như bị buộc vào anh vậy.

Hôm nay anh vào nhà và nhờ bản năng tôi biết là anh vừa ngủ với người khác. Tôi chất vấn anh, không phải vì bị tổn thương mà vì chúng tôi là hai đối thủ, và anh đáp: “Không, sao em nghĩ thế?” Rồi gương mặt anh trở nên tham lam, xảo quyệt, lén lút, rồi anh nói: “Nếu em muốn anh sẽ đưa ra bằng chứng ngoại phạm.” Tôi phá lên cười, mặc dù rất giận, và nhờ cười mà tôi trấn tĩnh lại được. Tôi điên, bị ám ảnh bởi cơn ghen lạnh lùng chưa bao giờ gặp, tôi là loại đàn bà đi đọc thư riêng và nhật ký; nhưng khi cười, tôi được chữa lành. Anh không thích thấy tôi cười, vì anh nói: “Tù nhân học cách nói một loại ngôn ngữ nhất định.” Và tôi đáp: “Nếu như trước nay em chưa bao giờ làm cai ngục, và nếu như bây giờ em trở thành cai ngục, có lẽ đấy là vì anh cần như vậy mà thôi.”

Mặt anh tươi lại, anh ngồi lên giường tôi và anh nói, bằng vẻ thản nhiên anh có thể bật lên chỉ sau một khoảnh khắc: “Vấn đề là, khi chúng ta đón nhận nhau, em coi chuyện chung thủy là đương nhiên, còn anh thì không. Anh chưa bao giờ chung thủy với bất cứ ai. Chuyện đó chưa từng xuất hiện.”

“Nói dối,” tôi nói. “Anh muốn nói rằng khi một người phụ nữ bắt đầu quan tâm đến anh, hoặc phát hiện ra anh, thì anh chỉ việc chuyển sang người tiếp theo.”

Anh cất tiếng cười trẻ trung thẳng thắn, thay vì tiếng cười trẻ trung thù địch, và nói: “Và có lẽ nói vậy cũng có cái đúng đấy.”

Tôi đã định nói, Thế thì chuyển sang người kế tiếp luôn đi. Tôi tự hỏi tại sao mình vẫn chưa nói, mình đang tuân theo loại logic cá nhân nào, qua anh. Trong một thoáng chốc, khi tôi suýt nói: Thế thì chuyển sang người kế tiếp luôn đi, thì anh nhìn tôi rất nhanh với vẻ sợ hãi và nói: “Lẽ ra em nên bảo cho anh biết rằng chuyện đó quan trọng với em chứ.”

Tôi đáp: “Vậy bây giờ em bảo với anh rằng chuyện đó quan trọng với em.”

“Được rồi,” anh thận trọng nói, sau một lát. Mặt anh có vẻ lén lút, xảo quyệt. Tôi biết cực rõ anh đang nghĩ gì.

Hôm nay anh ra ngoài hai tiếng, sau một cuộc điện thoại, còn tôi thì lên thẳng trên gác để đọc mấy bài viết gần đây trong nhật ký của anh. “Cơn ghen của Anna làm mình phát điên lên được. Gặp Marguerite. Về nhà cô ấy. Một cô bé dễ thương.” “Marguerite lạnh lùng. Gặp Dorothy ở nhà cô ấy. Tuần sau khi Anna đi thăm Janet mình sẽ chuồn đến. Chủ vắng nhà!”

Tôi đọc những dòng này với vẻ đắc thắng lạnh lùng.

Vậy mà, bất chấp tất cả những điều này, vẫn có những giờ thân thiện, âu yếm, chuyện trò liên miên. Và rồi chúng tôi làm tình. Đêm nào chúng tôi cũng ngủ cùng nhau, và đó là những giấc ngủ sâu tuyệt vời. Rồi đột nhiên không khí thân thiện chuyển sang thành thù ghét ngay sau một câu nói. Có khi căn hộ là một ốc đảo âu yếm, yêu thương, rồi bỗng nhiên trở thành bãi chiến trường, ngay cả mấy bức tường cũng rung lên vì thù hận, chúng tôi đảo vòng quanh nhau như hai con thú, những điều chúng tôi nói với nhau kinh khủng đến mức về sau nghĩ đến tôi còn thấy sốc. Vậy mà chúng tôi vẫn nói ra được những lời như vậy, nghe những gì mình vừa nói, và rồi phá lên cười đến mức lăn lộn trên sàn nhà.

Tôi tới thăm Janet. Suốt cả chuyến đi, tôi thấy đau khổ vì biết Saul đang làm tình với Dorothy, bất kể cô ta là ai. Tôi không tài nào gạt được chuyện này đi khi ở bên Janet. Con bé có vẻ hạnh phúc - xa cách tôi, trở thành một cô nữ sinh bé bỏng, đắm đuối với bạn bè. Trên chuyến tàu trở về, một lần nữa tôi lại nghĩ chuyện này thật lạ - suốt mười hai năm trời, mỗi phút trong mỗi ngày đều xoay quanh Janet, thời gian biểu của tôi là các nhu cầu của con bé. Thế rồi con bé đến trường, thế là xong, ngay lập tức tôi trở lại một Anna chưa bao giờ sinh ra Janet. Tôi nhớ Molly từng nói đến chuyện y hệt như vậy: Hồi mười sáu tuổi Tommy đi nghỉ cùng với mấy đứa bạn, và suốt mấy ngày trời cô đi quanh nhà ngạc nhiên vì chính mình. “Tớ có cảm giác như chưa bao giờ có con vậy,” cô nhắc đi nhắc lại như thế.

Đến gần nhà mình, cơn căng thẳng trong bụng tôi tăng lên. Đến lúc về tới nhà thì tôi đã buồn nôn. Tôi đi thẳng vào nhà tắm để nôn. Trong đời mình chưa bao giờ tôi bị nôn vì căng thẳng thần kinh. Rồi tôi gọi lên gác. Saul ở nhà. Anh đi xuống, vui vẻ. Chào em! Tình hình thế nào, vân vân. Khi tôi nhìn anh, mặt anh chuyển sang vẻ thận trọng, lén lút, ẩn bên trong là nỗi đắc thắng, và tôi nhìn thấy chính mình, lạnh lùng và ác ý. Anh hỏi: “Sao em lại nhìn anh như thế?” Rồi: “Em đang cố gắng phát hiện ra gì vậy?”

Tôi đi vào căn phòng lớn. Câu em đang cố gắng phát hiện ra gì vậy là một giọng điệu mới trong cuộc trao đổi, một bước đi xuống dẫn tới một chiều sâu hằn học mới. Khi anh nói câu này, những làn sóng thuần hận thù phát ra từ anh. Tôi ngồi lên giường và cố gắng suy nghĩ. Tôi nhận ra cơn hận thù đã khiến tôi hoảng sợ về mặt thể chất. Tôi biết những gì về bệnh thần kinh? Chẳng biết gì sất. Nhưng bản năng mách bảo với tôi rằng không cần phải hoảng sợ.

Anh đi theo tôi vào phòng ngồi phía cuối giường, ư ử hát một giai điệu jazz và quan sát tôi. Anh nói: “Anh vừa mua cho em mấy đĩa nhạc jazz. Nhạc jazz sẽ giúp em thư giãn.”

Tôi nói: “Tốt.”

Anh nói: “Em thật đúng là một ả người Anh khốn kiếp, hẳn?” Câu này nghe vừa sưng sỉa vừa có vẻ ghét bỏ.

Tôi đáp: “Nếu anh không thích em thì đi đi.”

Anh nhìn tôi rất nhanh vẻ giật mình và bước ra ngoài. Tôi chờ anh quay lại, biết trước là anh sẽ như thế nào. Anh bình tĩnh, lặng lẽ, thân thiết, trìu mến. Anh đặt một cái đĩa lên máy nghe nhạc. Tôi xem lại chỗ đĩa, Armstrong và Bessie Smith thời kỳ đầu. Chúng tôi ngồi yên lặng nghe nhạc và anh quan sát tôi.

Rồi anh nói: “Sao?”

Tôi đáp: “Toàn bộ chỗ nhạc đó thật là vui vẻ, ấm áp và chấp nhận.”

“Thì sao?”

“Nó chẳng liên quan gì đến chúng ta cả, chúng ta không giống như thế.”

“Cô nương ơi, tính cách của anh hình thành nhờ Armstrong, Bechet và Bessie Smith đấy.”

“Thế thì từ bấy đến giờ chắc nó đã gặp phải chuyện gì đó rồi.”

“Chuyện nó gặp phải cũng là chuyện nước Mỹ gặp phải.” Rồi anh nói, giọng sưng sỉa: “Anh nghĩ em cũng sẽ thể hiện tài năng bẩm sinh về jazz, chỉ cần thế thôi.”

“Sao cái gì anh cũng cứ phải ganh đua thế?”

“Bởi vì anh là người Mỹ. Một đất nước ganh đua.”

Tôi thấy người anh trai lặng lẽ đã đi mất, cơn thù ghét đã trở lại. Tôi nói: “Em nghĩ sẽ tốt hơn nếu như đêm nay chúng ta ở riêng ra, đôi khi với em anh thật quá sức chịu đựng.”

Anh giật mình. Rồi gương mặt anh tự trấn tĩnh lại - khi điều này xảy ra, gương mặt đề phòng, ốm yếu có vẻ như thật sự điều khiển chính nó. Anh vừa khẽ nói vừa cười thân thiện: “Đừng trách mình. Anh cũng quá sức chịu đựng của chính mình.”

Anh đi ra. Mấy phút sau, khi tôi đã lên giường, anh xuống, bước tới giường và vừa mỉm cười vừa nói: “Dịch vào.”

Tôi nói, “Em không muốn cãi nhau.”

Anh nói: “Chúng ta không thể thay đổi mình được.”

“Anh không thấy kỳ cục hay sao, vấn đề mà chúng ta lựa chọn để cãi nhau ấy? Em chẳng quan tâm anh ngủ với ai, còn anh thì không phải là người trừng phạt phụ nữ về mặt tình dục. Vậy rõ ràng là chúng ta đang cãi nhau về một vấn đề khác. Vấn đề gì?”

“Một trải nghiệm thú vị thật, làm người điên ấy.”

“Chính xác, một trải nghiệm thú vị.”

“Sao lại nói thế?”

“Trong vòng một năm nữa, cả hai chúng ta sẽ nhìn lại và nói: Vậy lúc đó chúng ta là như thế, thật là một trải nghiệm hấp dẫn.”

“Thế thì có gì sai?”

“Hoang tưởng tự đại, đấy là bệnh của chúng ta. Anh nói, anh là con người như hiện tại bởi vì Mỹ là một đất nước có chính trị thế này thế này, anh chính là nước Mỹ. Còn em thì nói, em là vị thế của phụ nữ ở thời đại chúng ta.”

“Chắc là cả hai ta đều đúng.”

Chúng tôi đi ngủ trong không khí thân thiện. Nhưng giấc ngủ đã thay đổi cả hai chúng tôi. Khi tôi tỉnh giấc, anh đang nằm nghiêng, quan sát tôi cùng nụ cười nghiêm khắc. Anh nói: “Em mơ cái gì thế?” Tôi đáp, “Có gì đâu,” nhưng rồi nhớ lại. Tôi đã mơ cái giấc mơ kinh khủng, nhưng lần này nguyên lý vô trách nhiệm, độc ác hiện thân thành Saul. Suốt cả cơn ác mộng dài nó cứ chế giễu tôi, cười cợt. Nó giữ chặt cánh tay tôi, để tôi không nhúc nhích được, rồi nói: “Ta sẽ làm ngươi tổn thương. Ta thích thế.”

Ký ức này tồi tệ đến mức tôi phải ra khỏi giường và tránh xa anh, rồi đi vào bếp pha cà phê. Anh bước vào, mặc quần áo đầy đủ, sau đó khoảng một tiếng, mặt như nắm đấm. “Anh ra ngoài đây,” anh nói. Anh loanh quanh một lúc, chờ tôi nói điều gì đó, rôi chậm rãi đi xuống cầu thang, ngoái lại nhìn xem tôi có ngăn anh lại hay không. Tôi nằm ngửa trên sàn và mở Armstrong thời kỳ đầu, rồi ghen tị cái thế giới dễ dãi, vô tư, chế nhạo vui vẻ đã sinh ra thứ âm nhạc này. Anh bước vào, sau đó khoảng bốn đến năm tiếng gì đó, mặt tươi rói vẻ đắc thắng vì đã báo thù. Anh nói: “Sao em không nói gì?” Tôi đáp: “Chả có gì mà nói cả.”

“Sao em không trả đũa?”

“Anh có nhận thấy là anh thường xuyên hỏi tại sao em không trả đũa đến thế nào không? Nếu anh muốn bị trừng phạt vì một điều gì đó thì hãy đi tìm người khác nhé.”

Và rồi lại thay đổi đến lạ thường, khi tôi nói điều gì đó khiến anh suy nghĩ kỹ. Anh nói, vẻ thích thú: “Anh có cần bị trừng phạt hay không? Hừm, thú vị đấy.” Anh ngồi phía cuối giường, bóp cằm, cau mày. Anh nói: “Anh nghĩ là lúc này anh không thích chính mình cho lắm. Và anh cũng không thích em.”

“Còn em không thích anh và em không thích em. Nhưng hai ta chẳng ai thực sự giống như vậy chút nào, thế thì tại sao lại phải mất công ghét chúng ta?”

Nét mặt anh lại thay đổi. Anh nói, vẻ ranh mãnh: “Anh cho rằng em tưởng là em biết anh đang làm những gì.”

Tôi không nói gì, vì vậy anh đứng dậy rồi đi nhanh quanh phòng, liên tục dành cho tôi những cú liếc nhanh dữ tợn: “Em không bao giờ biết được đâu, đúng thế, em chẳng có cách gì biết được cả.” Tôi không nói gì không phải là quyết tâm không cãi lộn, hoặc giữ bình tĩnh, mà là một thứ vũ khí lạnh lùng không kém trong trận chiến. Sau một lúc im lặng đủ lâu: “Em biết anh đang làm gì, anh đang phang Dorothy.”

Anh nói nhanh: “Sao em biết?” Và rồi, cứ như anh chưa hề nói câu đó: “Đừng hỏi gì cả thì anh sẽ không nói dối em câu nào hết.”

“Em không hỏi câu nào cả, em đọc nhật ký của anh.”

Anh ngừng bước chân đi quanh phòng và đứng nhìn xuống tôi. Gương mặt anh, khi tôi quan sát với vẻ thích thú điềm tĩnh, xuất hiện vẻ sợ hãi, rồi giận dữ, rồi ngầm đắc thắng. Anh nói: “Anh không phang Dorothy.”

“Vậy thì là một người khác.”

Anh bắt đầu hét lên, tay vung vẩy trong không khí, hàm nghiến theo từng chữ: “Em rình rập anh, em là người phụ nữ ghen tuông nhất mà anh từng biết. Kể từ khi đến đây, anh chưa hề chạm vào bất cứ một người đàn bà nào, và đối với một tay người Mỹ hừng hực như anh, đấy là cả một vấn đề đấy.”

Tôi nói, giọng độc ác: “Rất vui khi biết anh hừng hực.”

Anh hét lên: “Anh là thằng đàn ông chân chính. Anh không phải là thú cưng của đàn bà để mà bị nhốt.” Anh tiếp tục hét, và tôi nhận ra cảm giác hôm trước, đi thêm một bước xuống tới chốn không ý chí. Anh, anh, anh, anh, anh, anh hét lên, nhưng mọi thứ đều rời nhau ra, một vẻ huênh hoang mơ hồ, vung vãi, và tôi có cảm giác như mình đang bị vãi đạn súng máy vào người. Nó cứ liên tục, anh, anh, anh, anh, anh, vì vậy tôi ngừng nghe, và rồi tôi nhận ra anh đã trở nên im lặng và đang nhìn tôi với vẻ lo lắng. “Em bị làm sao thế?” anh hỏi. Anh bước đến, quỳ bên cạnh tôi, quay mặt tôi về phía mặt anh và nói: “Vì Chúa, em phải hiểu rằng tình dục không quan trọng đối với anh, không quan trọng.”

Tôi nói: “Anh muốn nói là tình dục quan trọng, anh quan hệ với ai mới không quan trọng.”

Anh mang tôi đến giường, nhẹ nhàng và âu yếm. Anh nói, giọng ghê tởm chính mình: “Anh rất giỏi thu dọn các mảnh vỡ sau khi hạ gục một phụ nữ.”

“Sao anh lại phải hạ gục phụ nữ?”

“Anh không biết. Trước khi em khiến anh ý thức được vấn đề này, anh còn không biết là có nó.”

“Giá mà anh đi thuê cho mình một bác sĩ tâm lý. Em sẽ còn nhắc đi nhắc lại mãi, anh đang khiến cả hai chúng ta rạn nứt ra mất thôi.”

Tôi bắt đầu khóc, tôi cảm thấy như mình đang ở trong giấc mơ đêm qua, bị giữ chặt hai cánh tay trong khi anh cười nhạo và làm tôi tổn thương. Trong khi đó anh lại ân cần và dịu dàng. Rồi bỗng nhiên tôi biết rằng toàn bộ chuyện này, cái vòng tròn ức hiếp và dịu dàng ấy, là để dành cho giây phút này, khi anh có thể an ủi tôi. Tôi ra khỏi giường, giận dữ vì bị đối xử theo kiểu bề trên và giận mình vì đã để xảy ra chuyện đó, rồi lấy một điếu thuốc.

Anh nói, vẻ sưng sỉa: “Anh có thể hạ gục em, nhưng em không gục ngã lâu.”

“May cho anh, vì anh có thể giải trí bằng cách làm đi làm lại việc đó nhiều lần.”

Anh nói, giọng suy tư, cực kỳ lơ đãng, nhìn lại mình từ xa: “Nhưng hãy nói cho anh biết, tại sao?”

Tôi hét lên với anh: “Giống như tất cả mọi tay người Mỹ, anh gặp vấn đề với mẹ. Anh bám lấy tôi để tôi làm mẹ anh. Anh phải luôn luôn đấu trí thắng tôi, việc tôi thua trí anh rất quan trọng. Việc nói dối và có người tin rất quan trọng. Rồi, khi tôi bị tổn thương, những cảm giác muốn giết người của anh dành cho tôi, cho người mẹ, khiến anh sợ hãi, đến mức anh phải an ủi và xoa dịu tôi…” Tôi hét lên như điên. “Tôi chán ngấy toàn bộ chuyện này rồi. Tôi chán ngấy phải cưng nựng rồi. Tôi phát mửa lên với sự sáo mòn của chúng…” Tôi ngừng lại và nhìn anh. Gương mặt anh là gương mặt của một đứa trẻ vừa bị bạt tai. “Và bây giờ anh thấy khoái cảm vì đã chọc tức để tôi phải hét lên với anh. Tại sao anh không cáu? Anh phải cáu chứ - tôi đang gọi tên anh, Saul Green ạ, và tôi đang gọi tên anh ở cấp độ thấp kém đến nỗi đáng ra anh phải phát cáu. Anh nên thấy xấu hổ, ở cái tuổi ba mươi ba, vì ngồi đó đón nhận sự đơn giản hóa quá mức mòn sáo này từ tôi.” Khi ngừng lại, tôi mệt lử. Vây quanh tôi là một lớp vỏ căng thẳng bất an mà tôi có thể ngửi thấy rõ, giống như một lớp sương cũ nhàm do trạng thái kiệt quệ thần kinh.

“Tiếp đi,” anh nói.

“Đấy là đoạn diễn giải miễn phí cuối cùng mà anh nhận được từ tôi.”

“Đến đây.”

Tôi phải đi. Anh kéo tôi nằm xuống bên cạnh anh, vừa kéo vừa cười. Anh làm tình với tôi. Tôi đáp lại sự lạnh lùng dữ dội của nó. Đáp lại cái lạnh thật dễ, bởi vì nó không thể làm tổn thương tôi như sự dịu dàng. Rồi tôi cảm thấy bản thân mình càng lúc càng ít đáp lại. Bởi vì tôi cảm nhận được điều này, nên tôi biết, trước khi nghĩ ra, rằng ở đây có điều gì đó khác, không phải anh đang làm tình với tôi. Tôi tự nhủ, không tin nổi: Anh đang làm tình với một người khác. Anh đổi giọng, bắt đầu nói bằng giọng miền Nam trầm, cười cợt, hung hăng: “Chà, thưa tiểu thư, em quả là một con mái tốt, quả là như vậy, anh sẽ bảo với cả thế giới.” Chạm vào tôi theo cách khác, không phải anh chạm vào tôi. Anh lướt bàn tay trên hông và mông tôi rồi nói: “Có thể nói là một hình thể đàn bà đẹp, khỏe mạnh.” Tôi đáp: “Anh nhầm với người khác rồi, tôi gầy mà.”

Sốc. Tôi thấy sờ sờ anh ra khỏi cái nhân cách đang mang. Anh lật mình nằm ngửa ra, bàn tay che lấy mắt, hơi thở dốc. Người anh trắng nhợt. Rồi anh nói, không phải bằng giọng miền Nam nữa mà bằng giọng của chính anh, giọng của kẻ trác táng, như lúc anh nói: Anh là một tay người Mỹ hừng hực, “Cưng ơi, em nên nhẹ tay với anh, như một thứ rượu whisky ngon vậy.”

“Vậy thì điều đó vạch rõ con người anh là thế nào,” tôi nói.

Lại sốc. Anh vật lộn để ra khỏi nhân cách đó, thở dốc, cố gắng thở chậm lại, rồi nói bằng giọng bình thường: “Anh bị sao thế này?”

“Anh định nói rằng chúng ta bị sao thế. Cả hai chúng ta đều điên cả. Chúng ta đang ở trong một cái kén điên rồ.”

“Em ấy à!” Câu này nghe sưng sỉa. “Em là cô ả sáng suốt nhất mà anh từng biết.”

“Nhưng hiện tại thì không.”

Chúng tôi nằm một lúc lâu, im lặng. Anh khẽ vuốt tay tôi. Tiếng những chiếc xe tải chạy dưới phố nghe thật ầm ĩ. Nhờ sự mơn trớn nhẹ nhàng trên tay mình, tôi có thể cảm nhận được cơn căng thẳng đang rời đi. Toàn bộ cơn điên cùng thù ghét đều đã biến mất. Và rồi một buổi chiều nữa trong số những buổi chiều dài đằng đẵng, tối dần, cắt rời khỏi thế giới, và đêm dài tăm tối. Căn nhà giống như con thuyền lênh đênh trên biển tối, dường như nó trôi nổi, tách lìa khỏi cuộc sống, độc lập. Chúng tôi mở mấy đĩa hát mới, rồi làm tình, và hai người, Saul và Anna, hai kẻ điên, đã ở một nơi khác, trong một căn phòng khác ở đâu đó.

(*17) Chúng tôi vừa qua một tuần hạnh phúc. Điện thoại không reo. Không ai đến thăm. Chỉ có mình chúng tôi. Nhưng giờ thì đã hết, trong anh có một chiếc ghi vừa được bẻ, vì vậy tôi ngồi viết. Tôi thấy mình vừa viết - hạnh phúc. Thế là đủ. Anh cứ việc nói câu đó, em chế ra hạnh phúc như mật. Suốt cả tuần đó, tôi không hề muốn đến gần cái bàn đặt những cuốn sổ này. Chẳng có gì mà nói cả.

Hôm nay chúng tôi dậy muộn, mở đĩa và làm tình. Rồi anh đi lên phòng trên gác. Anh đi xuống, mặt như lưỡi rìu, tôi nhìn là biết ghi đã được bẻ. Anh đi lại quanh phòng và nói: “Anh cuồng chân quá, anh cuồng chân quá.” Nghe đầy thù địch, vì vậy tôi nói: “Thế thì ra ngoài đi.” “Nếu anh ra ngoài, em sẽ kết tội anh là ngủ với người khác.” “Bởi vì anh muốn em làm thế.” “Hừ anh vẫn đi.” “Đi đi.” Anh đứng nhìn tôi, đầy thù ghét, và tôi cảm thấy các cơ trong bụng thít chặt, đám mây lo lắng đậu lại như một màn sương đen. Tôi nhìn tuần lễ hạnh phúc tuột đi. Tôi nghĩ: Một tháng nữa Janet sẽ về và cô Anna này sẽ không tồn tại nữa. Nếu tôi biết mình có thể ngắt béng kẻ khổ sở vô vọng này đi vì điều ấy cần thiết cho Janet, thì tôi cũng có thể làm luôn bây giờ. Nhưng sao tôi lại không làm như vậy chứ? Bởi vì tôi không muốn, thế thôi. Một điều gì đó cần phải được làm đến cùng, một mô hình nào đó cần phải được thực hiện triệt để… Anh thấy tôi rút lui khỏi anh nên lo lắng hỏi: “Sao anh lại phải đi nếu như anh không muốn?” “Thế thì đừng có đi,” tôi trả lời. “Anh sẽ đi làm việc vậy,” anh đột ngột nói, cau mày. Anh đi ra khỏi phòng. Mấy phút sau anh lại xuống và đứng dựa vào cánh cửa. Tôi chưa hề nhúc nhích. Tôi ngồi trên sàn nhà chờ anh vì tôi biết anh sẽ xuống. Trời sắp tối, căn phòng lớn đầy bóng tối, bầu trời chuyển màu. Tôi vẫn ngồi nhìn bầu trời tràn ngập sắc màu khi bóng tối phủ lên các con phố, và không chỉ định mà tôi đã đi vào cõi tách biệt trong “trò chơi”. Tôi là một phần của cái thành phố kinh khủng với hàng triệu con người này, và đồng thời tôi vẫn ngồi trên sàn nhà bên trên thành phố, nhìn xuống nó. Khi Saul bước vào, anh nói, đứng dựa vào khung cửa, giọng trách móc: “Chưa bao giờ anh như thế này, bị trói vào một bà phụ nữ đến mức không thể đi dạo một chút mà không cảm thấy tội lỗi.” Giọng anh cách xa cảm giác hiện tại của tôi, vì vậy tôi đáp: “Anh đã ở đây cả tuần trời mặc dù em không hề đòi hỏi. Anh muốn vậy. Giờ thì tâm trạng của anh đã thay đổi. Tại sao tâm trạng của em cũng phải thay đổi theo cơ chứ?” Anh thận trọng đáp: “Một tuần là quãng thời gian rất dài.” Tôi nhận ra từ cách trả lời của anh, rằng trước khi tôi dùng từ một tuần, anh không hề biết bao nhiêu ngày đã trôi qua. Tôi tò mò muốn biết anh nghĩ là bao lâu, nhưng ngại hỏi. Anh đang đứng cau mày, nhìn tôi từ một bên, búng môi như thể chơi nhạc cụ. Anh nói, sau một lúc ngừng lại, gương mặt méo đi thành vẻ láu cá: “Nhưng hôm kia anh mới xem bộ phim đó mà.” Tôi biết anh đang làm gì anh muốn giả vờ cả tuần đó là hai ngày, một phần để xem tôi có chắc đấy là một tuần hay không, và một phần là vì anh ghét ý nghĩ mình đã dành cho ai đó cả một tuần liền. Trong phòng sắp tối, vì vậy anh chăm chú nhìn mặt tôi. Ánh sáng bầu trời khiến cho đôi mắt xám của anh tỏa sáng, cái đầu vàng hoe cắt sát của anh lấp lánh. Trông anh như một con thú cảnh giác và đe dọa. Tôi nói: “Anh xem bộ phim đó được một tuần rồi.”

Anh đáp, lạnh lùng: “Nếu em nói vậy thì anh phải tin em thôi.” Rồi anh chồm về phía tôi, nắm lấy vai tôi lắc lắc: “Anh ghét em vì em bình thường, anh ghét em vì điều đó. Em là con người bình thường. Em có quyền gì mà làm vậy chứ? Anh bỗng hiểu ra rằng em nhớ mọi thứ, có lẽ là em còn nhớ tất cả những điều anh từng nói. Em nhớ toàn bộ những gì xảy ra với em, không thể chấp nhận được.” Ngón tay anh bấu sâu vào vai tôi còn gương mặt anh tràn ngập hận thù.

Tôi đáp: “Đúng vậy, em nhớ tất cả mọi chuyện.”

Nhưng không phải bằng giọng đắc thắng. Tôi chợt thấy mình như anh thấy tôi, một phụ nữ không hiểu bằng cách nào lại nắm vững các sự kiện, bởi vì cô có thể nhìn lại và thấy một nụ cười, một động tác, một cử chỉ, nghe thấy lời nói, lời giải thích - một phụ nữ nằm trong thời gian. Tôi không thích vẻ long trọng, vẻ hợm hĩnh của cái kẻ canh giữ sự thật nghiêm chỉnh đó. Khi anh nói: “Chả khác gì ở tù khi sống với người biết mình nói gì tuần trước, hoặc có thể nói: ba ngày trước anh làm thế này thế khác,” tôi cũng cảm thấy mình là đồng bọn ở tù như anh, bởi vì tôi mong mỏi được giải phóng khỏi ký ức trật tự, bình phẩm của chính mình. Tôi thấy bản thể mình mờ đi. Ruột tôi quặn lên còn lưng tôi bắt đầu đau.

Anh nói: “Đến đây nào,” dịch người và ra dấu về phía giường. Tôi ngoan ngoãn làm theo. Tôi không thể từ chối được. Anh nói, qua kẽ răng: “Nào, nào,” hay nói đúng hơn là “nèo, nèo.” Tôi nhận ra anh đã lùi lại mấy năm, có lẽ lúc đó anh khoảng hai mươi. Tôi nói, Không, bởi vì tôi không muốn con đực trẻ trung hung dữ đó. Mặt anh lóe lên vẻ độc ác nhăn nhở, chế giễu, và anh nói: “Em nói không. Đúng vậy cưng à, em nên nói không thường xuyên hơn nữa. Anh thích thế.”

Anh bắt đầu vuốt ve cổ tôi và tôi nói, Không. Tôi suýt khóc. Nhìn thấy nước mắt tôi, giọng anh đổi sang vẻ dịu dàng đắc thắng, và anh hôn những giọt nước mắt, giống như một kẻ sành sỏi, rồi nói: “Đi nèo cưng, đi nèo.” Cuộc làm tình thật lạnh nhạt, một hành động hận thù, đầy vẻ hận thù. Sinh vật đàn bà vẫn đang nở ra, lớn lên, kêu gù gù thích thú suốt cả tuần, lao vụt vào một góc và run bắn. Và một Anna vốn có khả năng hưởng thụ, với địch thủ, màn tình dục hiếu chiến, thì nay ủ rũ, không chiến đấu. Chuyện đó diễn ra vừa nhanh vừa dở, và anh nói: “Mẹ kiếp lũ đàn bà Anh, chăn gối dở ẹc.” Nhưng tôi đã vĩnh viễn thoát khỏi bị anh làm tổn thương theo cách này, vì vậy tôi đáp: “Lỗi của em. Em đã biết lần này sẽ không hay ho gì cả. Em ghét anh tỏ ra độc ác.”

Anh quăng mình úp mặt xuống và nằm im, suy nghĩ. Anh lầm bầm: “Có người vừa nói với anh điều đó, mới gần đây thôi. Ai? Lúc nào?”

“Một trong số mấy người đàn bà kia bảo anh độc ác, đúng không?”

“Ai? Anh không độc ác. Anh chưa bao giờ độc ác cả. Anh có độc ác không?” Người đang nói lúc này là người tốt. Tôi không biết phải nói gì, sợ xua anh đi mất và đưa kẻ kia trở lại. Anh nói: “Anh phải làm gì đây Anna?” Tôi đáp: “Sao anh không đi gặp thầy mo xem?” Và nghe thấy vậy, cứ như công tắc vừa được bật lên, anh phá lên cười vẻ đắc thắng và nói: “Em muốn đẩy anh vào nhà thương điên hả? Tại sao anh lại phải trả tiền cho bác sĩ khi đã có em? Em phải trả giá cho việc làm một người bình thường khỏe mạnh. Em không phải là người đầu tiên bảo anh phải đến bác sĩ tâm thần. Anh không làm theo lời ai hết.” Anh nhảy ra khỏi giường và hét lên: “Anh là anh, Saul Green, anh là anh là anh. Anh…” Bài nói gào thét, tự động anh, anh, anh bắt đầu, nhưng bỗng nhiên ngừng lại, hay nói đúng hơn là tạm dừng, sẵn sàng tiếp tục: anh đứng im lặng, miệng mở, nói: “Anh, anh định nói là anh…” những phát súng rải rác cuối cùng, rồi nói bình thường: “Anh ra ngoài đây, anh phải ra khỏi đây.” Anh đi ra, nhảy lên cầu thang trong cơn điên cuồng năng lượng. Tôi nghe thấy tiếng anh mở ngăn kéo và đóng sầm lại. Tôi nghĩ: Hay là anh ấy chuyển đi hẳn? Nhưng chỉ một lát anh lại xuống, gõ cửa phòng tôi. Tôi bắt đầu cười, nghĩ rằng đây đúng là một kiểu xin lỗi hài hước, tiếng gõ cửa ấy. Tôi nói, “Vào đi, thưa ngài Green,” và anh vào, rồi nói, bằng giọng căm ghét lịch sự trang trọng: “Anh quyết định là anh muốn đi dạo một lát, bị nhốt trong căn nhà này tù túng quá rồi.”

Tôi nhận ra là trong khi anh lên phòng, điều xảy ra trong mấy phút vừa qua đã thay đổi trong đầu anh. Tôi đáp: “Được thôi, hôm nay là một buổi tối tuyệt vời để đi dạo.”

Anh nói, bằng giọng thẳng thắn, hăng hái hơi trẻ con: “Ái chà, em nói đúng làm sao.” Anh xuống gác như một người tù đào tẩu. Tôi nằm một lúc lâu, nghe tiếng tim mình đập, cảm thấy ruột gan cuộn trào. Rồi tôi bắt đầu viết phần này. Nhưng, về hạnh phúc, về sự bình thường, về tiếng cười, tôi sẽ không viết một chữ nào. Trong thời gian năm hay mười năm nữa, đọc lại đoạn này, đây sẽ là một bản ghi chép về hai người, điên rồ và độc ác.

Đêm qua, khi đã viết xong, tôi lấy chai whisky ra và rót cho mình nửa ly. Tôi ngồi nhấp những ngụm nhỏ, uống thận trọng để cho rượu trôi xuống và chạm vào nút căng thẳng bên dưới cơ hoành, cho nó mê mụ đi khỏi đau nữa. Tôi nghĩ: Nếu ở với Saul, mình rất dễ trở thành nghiện rượu. Tôi nghĩ: Chúng ta mới truyền thống làm sao: việc tôi đánh mất ý chí, những đợt ngắn tôi trở thành một kẻ điên ghen tuông, việc tôi có khả năng độc ác là rút ra được niềm vui khi thấy mình đấu trí thắng một tay đàn ông bị bệnh, tất cả còn không làm tôi sốc bằng suy nghĩ: Mày có thể bị nghiện rượu. Nhưng nghiện rượu không là gì so với những điều kia. Tôi uống Scotch, và nghĩ về Saul. Tôi hình dung anh rời căn nhà để gọi điện, từ dưới gác, cho một trong những ả đàn bà đó. Ghen tuông chạy qua từng mạch máu trong cơ thể tôi, giống như thuốc độc, biến đổi nhịp thở của tôi, khiến mắt tôi nhức nhối. Rồi tôi hình dung anh lảo đảo đi qua thành phố, ốm yếu, và tôi thấy sợ, nghĩ rằng lẽ ra mình đừng để cho anh đi, mặc dù tôi không thể ngăn anh được. Tôi ngồi một lúc lâu, lo lắng cho cái sự ốm của anh. Rồi tôi nghĩ về ả đàn bà kia và cơn ghen lại bắt đầu chạy trong máu tôi. Tôi ghét anh. Tôi nhớ đến cái giọng :ạnh lùng trong nhật ký của anh và ghét anh vì điều đó. Tôi lên gác, tự bảo đừng, nhưng biết là mình sẽ làm, và nhìn vào cuốn nhật ký hiện tại của anh. Nó nằm phơi ra một cách bất cẩn. Tôi tự hỏi không biết anh có viết điều gì cho tôi xem hay không, tuần vừa rồi chẳng có đoạn nào cả, nhưng ngày hôm nay: Là tù nhân. Đang dần phát điên vì bức bối.

Tôi quan sát cơn giận dữ độc ác lóe lên trong mình.

Tôi nghĩ, một cách minh mẫn, trong một thoáng rằng trong tuần đó anh đã thư giãn và vui vẻ hết khả năng, vậy thì tại sao mình lại phản ứng với cái đoạn này bằng cảm giác đau đớn? Nhưng tôi thấy đau đớn và khổ sở, cứ như nó xóa nhòa tuần đó giữa hai chúng tôi. Tôi xuống gác và nghĩ đến cảnh Saul đang ở cùng một người đàn bà nào đó. Tôi ngồi quan sát bản thân đang nghĩ đến cảnh Saul ở cùng một người đàn bà nào đó. Tôi nghĩ: Anh ấy làm đúng khi ghét mình và thích những người phụ nữ khác, mình thật đáng ghét. Và tôi bắt đầu thiết tha nghĩ về người đàn bà ở ngoài kia, đủ nhân hậu, rộng lượng và mạnh mẽ để cho anh những gì anh cần mà không đòi hỏi điều gì cho mình cả.

Tôi nhớ Mẹ Mật và những gì bà đã “dạy” tôi rằng các cơn ám ảnh ghen tuông có một phần đồng tính luyến ái. Những bài học lúc đó có vẻ như hơi kinh viện, chẳng liên quan gì đến tôi, Anna. Tôi tự hỏi không biết có phải mình muốn làm tình với người đàn bà mà anh đang ở cùng lúc này hay không.

Rồi đến khoảnh khắc nhận thức. Tôi hiểu mình đã đi (*18) vào cơn điên rồ của anh: anh đang tìm kiếm nhân vật mẹ hiền thông thái, nhân hậu này, đồng thời cũng là đối tác tình dục và là chị em gái; và bởi vì tôi đã trở thành một phần của anh, đây cũng là điều tôi đang tìm kiếm, vừa cho bản thân tôi, bởi vì tôi cần cô ta, vừa bởi vì tôi muốn được trở thành cô ta. Tôi hiểu mình không thể tách bản thân khỏi Saul được nữa, và điều đó khiến tôi sợ hơn bao giờ hết. Vì bằng lý trí tôi biết rằng người đàn ông này đang lặp đi lặp lại một mô hình: dùng trí tuệ và lòng thông cảm tán tỉnh một phụ nữ, chiếm lĩnh cô ta về mặt cảm xúc; rồi, khi cô ta tìm cách chiếm lĩnh lại anh thì chạy trốn. Và người phụ nữ đó càng tốt thì anh ta càng chạy trốn sớm. Tôi biết điều này bằng lý trí, vậy nhưng tôi vẫn ngồi đó trong căn phòng tăm tối của mình, nhìn vẻ rực rỡ ướt át mờ sương của bầu trời đêm London màu tía, mong mỏi bằng toàn bộ bản thể mình người phụ nữ bí ẩn đó, mong mỏi được trở thành cô ta, nhưng là vì Saul.

Tôi thấy mình nằm trên sàn nhà, không thở được do cơn căng thẳng trong ruột. Tôi vào nhà bếp và uống thêm whisky, cho đến khi cơn lo lắng dịu đi một chút. Tôi quay trở lại căn phòng lớn, cố gắng trở lại chính mình bằng cách nhìn thấy Anna, một bóng người nhỏ bé không quan trọng trong căn hộ cũ kỹ xấu xí trong một ngôi nhà xấu xí đang đổ nát, quanh mình là bãi hoang mạc London tối tăm. Tôi không làm được. Tôi xấu hổ vô cùng, bị khóa trong những nỗi khiếp sợ của Anna, một con thú nhỏ bé không quan trọng. Tôi liên tục tự nhủ: Ngoài kia là thế giới, và tôi ít quan tâm tới mức thậm chí cả tuần liền tôi không hề đọc báo. Tôi lấy báo tuần đó về, rải ra sàn nhà quanh mình. Suốt tuần đó đã có nhiều diễn biến - chiến tranh chỗ này, xung đột chỗ khác. Giống như bỏ lỡ mất vài tập phim bộ nhưng vẫn có khả năng suy luận được điều gì đã xảy ra nhờ logic nội tại của câu chuyện. Tôi thấy chán nản và tù túng, biết rằng không phải đọc báo chút nào tôi cũng vẫn đoán được khá chuẩn, nhờ kinh nghiệm chính trị, những gì xảy ra trong tuần đó. Cảm giác về sự sáo mòn, nỗi kinh tởm sự sáo mòn, trộn lẫn với nỗi sợ của tôi; và rồi bỗng nhiên tôi tiến lên một kiến thức mới, một hiểu biết mới; và kiến thức này xuất phát từ Anna, từ con thú nhỏ bé sợ hãi, ngồi trên sàn nhà, co rúm. Nó là “trò chơi”, nhưng xuất phát từ kinh hoàng. Tôi bị cảm giác kinh hoàng xâm chiếm, nỗi kinh hoàng trong những cơn ác mộng, tôi đang nếm trải nỗi sợ chiến tranh như lúc người ta gặp ác mộng, không phải là sự cân bằng trí tuệ giữa các khả năng, triển vọng, mà là nhận biết, bằng dây thần kinh và trí tưởng tượng, nỗi sợ chiến tranh. Điều tôi đang đọc trong những tờ báo rải quanh mình trở thành cảm giác thật, không phải là một nỗi sợ trí tuệ trừu tượng. Có một sự tái xác lập trật tự trong óc tôi, ở cách tôi suy nghĩ từ trước đến nay, cũng chính là sự sắp xếp lại giống như khi, cách đây mấy ngày, những từ như dân chủ, quyền tự do, tự do, đã mờ đi dưới áp lực từ một dạng hiểu biết mới về vận động thực tế của thế giới đi về phía thứ quyền lực tối tăm, cứng rắn. Tôi biết, nhưng tất nhiên là từ biết đó, khi được viết ra, không thể chuyển tải tính chất cái biết này, rằng những gì đã tồn tại đều có logic và sức mạnh của nó, rằng những kho vũ khí vĩ đại của thế giới đều có sức mạnh nội tại của chúng, và rằng nỗi kinh sợ của tôi, nỗi kinh sợ thần kinh thực sự trong cơn ác mộng, là một phần của sức mạnh đó. Tôi cảm nhận được điều này, giống như thần khải, trong một dạng hiểu biết mới. Và tôi biết rằng sự độc ác và hận thù cũng như tiếng tôi, tôi, tôi, tôi của Saul và của Anna cũng thuộc về logic chiến tranh, và tôi biết những cảm xúc này mạnh đến thế nào, đến mức không bao giờ rời bỏ tôi, trở thành một phần của cách tôi nhìn thế giới.

Nhưng lúc này, khi viết ra và đọc những gì tôi vừa viết, lại chẳng có gì ở đó cả, chỉ là ngôn từ trên giấy. Tôi không thể truyền đạt lại, kể cả với chính mình khi tôi đọc lại, cái kiến thức về hủy diệt với tư cách là một sức mạnh. Đêm qua tôi nằm rũ trên sàn nhà, cảm thấy sức mạnh của sự hủy diệt như một hình ảnh khải thị, cảm giác mạnh đến nỗi nó sẽ ở lại với tôi suốt đời, nhưng kiến thức ấy không ở lại trong những từ tôi viết ra lúc này.

Suy nghĩ về việc chiến tranh sẽ nổ ra như thế nào, kéo theo hỗn loạn ra sao, tôi thấy lạnh và toát mồ hôi vì sợ, và rồi tôi nghĩ đến Janet, cô bé vui vẻ khá truyền thống ở trường nữ sinh, và tôi nổi cáu, cáu về chuyện bất cứ ai ở bất cứ đâu đều có thể làm hại con bé, đến nỗi tôi đứng thẳng dậy, đủ sức đánh đuổi cơn sợ hãi đi. Tôi kiệt sức, cơn hoảng sợ đã rời khỏi tôi, bị phong tỏa trong những dòng chữ trên báo. Tôi rũ ra vì kiệt sức, và không còn cần làm tổn thương Saul nữa. Tôi cởi quần áo và nằm vào giường, giờ đã minh mẫn. Tôi nhận ra sự nhẹ nhõm mà Saul hẳn vẫn cảm nhận được, khi bàn tay của cơn điên buông cổ họng ra và anh nghĩ: Nó sẽ đi được một lúc.

Tôi nằm nghĩ về anh, ấm áp và hờ hững, mạnh mẽ.

Rồi tôi nghe thấy tiếng bước chân anh bên ngoài, và ngay lập tức ghi lại bẻ, tôi lại cảm thấy sợ hãi và lo lắng dâng trào. Tôi không muốn anh vào, hay nói đúng hơn là tôi không muốn chủ nhân của những bước chân ngấm ngầm lắng nghe kia bước vào. Anh đứng một lúc bên ngoài của phòng tôi lắng nghe. Tôi không biết lúc này là mấy giờ, nhưng theo ánh sáng ngoài trời thì là lúc sáng sớm. Tôi nghe thấy tiếng anh nhón chân rất, rất cẩn thận lên gác. Tôi ghét anh. Tôi hoảng sợ khi thấy mình có thể ghét anh sớm đến vậy. Tôi nằm, hy vọng anh sẽ xuống. Rồi tôi lẻn lên phòng anh trên gác. Tôi mở cửa phòng, và nhờ ánh sáng lờ mờ từ cửa sổ, tôi thấy anh nằm co quắp gọn gàng và ngăn nắp dưới mấy tấm chăn. Tim tôi quặn lên vì thương. Tôi trườn vào giường nằm cạnh anh, còn anh quay lại và siết chặt lấy tôi. Tôi biết anh đã loạng choạng đi khắp các đường phố, ốm yếu và cô đơn, qua cách anh ôm tôi..

Sáng nay tôi để cho anh ngủ và pha cà phê, dọn dẹp căn hộ, và bắt mình đọc mấy tờ báo. Tôi không biết ai là người sẽ đi xuống đây. Tôi ngồi đây, đọc báo, nhưng không còn mang tâm trạng căng thẳng vì biết nữa, chỉ còn lý trí, và nghĩ về việc tôi, Anna Wulf, đang ngồi đây chờ đợi, không biết ai sắp sửa xuống gác, người đàn ông trìu mến thân tình dịu dàng, và biết tôi, Anna; hay là đứa trẻ lén lút và láu cá; hay là một kẻ điên đầy thù hận.

Đấy là ba ngày trước. Ba ngày vừa rồi tôi ở trong cảnh điên rồ. Khi xuống gác trông anh rất ốm yếu; mắt anh là những con thú dè chừng sáng quắc bên trong những quầng thịt thâm tím màu nâu nâu; miệng anh mím chặt, giống như vũ khí. Dáng vẻ của anh như một người lính hớn hở, và tôi biết toàn bộ năng lượng của anh đã bị dành vào mỗi một việc giữ mình không tan rã. Tất cả các nhân cách khác nhau của anh đang bị hòa lẫn trong cái thực thể chiến đấu chỉ nhằm mục đích sinh tồn. Anh liên tục nhìn tôi với vẻ nài nỉ, nhưng anh không nhận ra. Đây chỉ là một sinh vật đã ở đường cùng. Đáp lại nhu cầu của sinh vật này, tôi cảm thấy mình căng lên và sẵn sàng đón nhận căng thẳng. Mấy tờ báo đang nằm trên bàn. Khi anh bước vào thì tôi đã gạt chúng đi, cảm thấy nỗi sợ trong đêm hôm trước đang quá gần, quá nguy hiểm với anh, mặc dù chính tôi lại không cảm thấy tại thời điểm này. Anh uống cà phê và bắt đầu nói về chính trị, liếc nhìn chồng báo. Nói không ngừng nghỉ, nhưng không phải kiểu nói anh, anh, anh bằng giọng trách móc vẻ đắc thắng và thách thức thế giới, mà là nói để chính anh không tan rã. Anh nói, nói, ánh mắt không liên quan gì đến những điều anh đang nói.

Nếu tôi ghi băng lại những lần đó, đây sẽ là bản ghi một loạt thuật ngữ, quán ngữ lộn xộn, những nhận xét rời rạc. Sáng hôm đấy là một bản ghi chính trị, một mớ hổ lốn những thuật ngữ chính trị. Tôi ngồi lắng nghe trong khi luồng từ ngữ như vẹt chảy qua, và tôi phân loại vào các mục: Cộng sản, chống cộng, tự do, xã hội. Tôi có thể phân lập chúng: Cộng sản, Mỹ, 1954. Cộng sản, Anh, 1956. Trotsky, Mỹ, đầu thập niên năm mươi. Chống Stalin trước thời đại, 1954. Tự do chủ nghĩa, Mỹ, 1956. Và vân vân. Tôi nghĩ, Nếu thực sự là một bác sĩ phân tâm, tôi sẽ có khả năng khai thác luồng nói nhảm này, túm lấy thứ gì trong đó, khiến anh tập trung, vì anh là một sinh vật chính trị tận xương tủy, và đây là điểm anh nghiêm túc nhất. Vì vậy tôi hỏi anh một câu. Tôi có thể nhìn thấy điều gì đó trong anh vừa được kìm lại. Anh giật mình, tỉnh lại, thở dốc, mắt trong lại, anh nhìn thấy tôi. Tôi lặp lại câu hỏi, về sự sụp đổ của phong trào chính trị xã hội chủ nghĩa ở Mỹ. Tôi tự hỏi không biết có đúng hay không khi chặn lại dòng ngôn từ này, bởi vì nó đang được sử dụng để giữ anh không tan rã, để ngăn anh khỏi sụp đổ. Rồi, như một cái máy, có lẽ là cần cẩu, vừa đảm nhận một sức căng rất lớn, tôi thấy cơ thể anh căng lên và tập trung, rồi anh bắt đầu nói. Tôi dùng từ anh, đoan quyết rằng mình có thể xác định được nhân cách đó. Rằng có một anh là con người đích thực. Tại sao tôi lại cho rằng trong số những nhân cách đó có một người đúng là anh hơn những người còn lại? Nhưng tôi nghĩ thế đấy. Khi anh nói, chính con người đó suy nghĩ, đánh giá, giao tiếp, nghe thấy những gì tôi nói, chịu trách nhiệm.

Chúng tôi bắt đầu thảo luận về tình trạng của cánh tả ở châu Âu, sự phân chia của các phong trào xã hội chủ nghĩa khắp mọi nơi. Tất nhiên là trước đây chúng tôi đã thảo luận về tất cả những vấn đề này, thường xuyên; nhưng chưa bao giờ với vẻ điềm tĩnh và rõ ràng đến vậy. Tôi nhớ mình từng nghĩ thật lạ là chúng tôi lại có thể lý trí một cách khách quan như vậy trong khi cả hai đều mệt mỏi với những căng thẳng và lo lắng. Và tôi nghĩ rằng chúng tôi đang nói về các phong trào chính trị, sự phát triển hay thất bại của phong trào xã hội chủ nghĩa này nọ, trong khi đêm qua, rốt cuộc tôi cũng biết rằng sự thật của thời đại của chúng tôi là chiến tranh, chiến tranh tất yếu. Và tôi tự hỏi nói về chuyện này có phải là sai lầm hay không, những kết luận chúng tôi rút ra được đều rất nản lòng, chính sự nản lòng này đã góp phần khiến anh ốm. Nhưng đã quá muộn, và thật nhẹ nhõm khi có được con người thật đối diện mình, thay vì con vẹt lải nhải. Và rồi tôi nói một câu gì đó, tôi quên mất là gì rồi, cả thân người anh run lên và sang số, tôi còn biết tả thế nào khác được? - đâu đó trong anh bị sốc và anh chuyển trở lại một nhân cách khác, lần này là một cậu thanh niên trong trẻo thuộc giai cấp lao động, theo chủ nghĩa xã hội, cậu thanh niên chứ không phải người đàn ông, và dòng khẩu hiệu lại bắt đầu, toàn thân anh giật mạnh và khoa chân múa tay xỉ vả tôi, vì anh đang xỉ vả một tay tự do chủ nghĩa thuộc tầng lớp trung lưu. Tôi ngồi đó và nghĩ thật kỳ cục là dù vẫn biết lúc đó không phải “anh” nói, và bài sỉ vả của anh hoàn toàn máy móc xuất phát từ một nhân cách ngày xưa, vậy mà nó vẫn làm tôi đau và bực bội, và tôi có thể cảm nhận được lưng mình bắt đầu đau còn ruột gan thì quặn lên phản ứng. Để thoát khỏi phản ứng này, tôi đi vào căn phòng lớn, còn anh thì đi theo hét lên: “Cô không chịu được, cô không chịu được, đồ đàn bà Anh khốn kiếp.” Tôi nắm lấy vai anh mà lắc. Tôi lắc cho anh trở về với chính anh. Anh thở hổn hển, hít thở sâu, gục đầu lên vai tôi một lúc, rồi loạng choạng bước về giường tôi và đổ sụp lên đó, sấp mặt.

Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn ra ngoài, cố gắng trấn tĩnh lại bằng cách nghĩ về Janet. Nhưng con bé có vẻ xa cách với tôi. Ánh nắng - mặt trời mùa đông nhợt nhạt, cũng xa cách. Những gì diễn ra dưới phố đều xa cách với tôi, người đi qua không phải con người, họ là con rối. Tôi cảm nhận được một sự thay đổi bên trong mình, một cú giật trượt xa khỏi chính tôi, và tôi biết thay đổi này là một bước nữa dẫn sâu hơn xuống hỗn loạn. Tôi chạm vào vải tấm rèm đỏ, và cảm giác về nó trên mấy đầu ngón tay là chết chóc, trơn trượt, nhầy nhụa. Tôi nhìn thấy thứ vải này, được xử lý bằng máy móc, vật liệu chết, đang treo như da chết, hoặc một thi hài không sự sống nơi cửa sổ. Tôi chạm vào cái cây trong chậu trên thành cửa sổ. Thường thì khi tôi chạm vào lá cây đó, tôi cảm thấy mình gần gũi với bộ rễ đang hoạt động, những chiếc lá đang thở, nhưng lúc này nó tỏ ra khó chịu, giống như một con thú nhỏ bé thù địch hay một gã lùn, bị nhốt trong cái chậu đất và căm thù tôi vì cầm tù nó. Vì vậy tôi cố gắng triệu hồi những Anna trẻ hơn, mạnh hơn, cô nữ sinh ở London và con gái của bố tôi, nhưng tôi chỉ thấy những Anna này tách rời tôi mà thôi. Vì vậy tôi nghĩ đến cái góc cánh đồng ở châu Phi, tôi bắt mình đứng trên cát trắng lấp lánh, ánh nắng trên khuôn mặt, nhưng tôi không còn cảm nhận sức nóng mặt trời được nữa. Tôi nghĩ đến anh bạn Mathlong, nhưng anh cũng xa cách. Tôi đứng đó, cố gắng với đến ý thức về một mặt trời vàng nóng bỏng, cố gắng triệu hồi Mathlong, và bỗng nhiên tôi không phải là Mathlong chút nào mà là Charlie Themba điên. Tôi biến thành anh ta. Làm Charlie Themba rất dễ. Cứ như anh ta đứng đó sát ngay bên tôi, nhưng là một phần của tôi, vóc dáng nhỏ bé, nhọn nhọn, ngăm ngăm, gương mặt nhỏ, thông minh, hừng hực căm phẫn nhìn tôi. Rồi anh ta tan vào tôi. Tôi đang ở trong một căn lều ở Tỉnh Bắc, còn vợ tôi là kẻ thù của tôi, các đồng nghiệp của tôi ở Quốc hội, trước đây là bạn bè, đang cố gắng đầu độc tôi, và đâu đó trong đám sậy một con cá sấu nằm chết, bị giết bởi ngọn giáo tẩm độc, và vợ tôi, bị kẻ thù mua chuộc, đang định cho tôi ăn thịt cá sấu, và khi chạm môi vào tôi sẽ chết, do hận thù giận dữ của tổ tiên đang oán hận. Tôi có thể ngửi thấy mùi thịt thối rữa lạnh lẽo của con cá sấu, vì vậy tôi nhìn qua cửa lều và thấy con cá sấu chết, hơi lắc lư trên mặt nước thối rữa ấm áp, trong đám sậy của dòng sông, và rồi tôi nhìn thấy đôi mắt vợ tôi hé nhìn qua lớp sậy dùng làm lều cho tôi, cân nhắc xem có thể an toàn bước vào hay không. Cô ta gập người bước qua cánh cửa lều, váy vén sang một bên bằng bàn tay ranh mãnh dối trá mà tôi ghét, và trong bàn tay còn lại là chiếc đĩa thiếc nơi những mảnh thịt bốc mùi nằm sẵn chờ tôi ăn.

Rồi trước mắt mình, tôi nhìn thấy bức thư do người này viết cho tôi nên tôi bật khỏi cơn ác mộng cứ như bước ra khỏi một bức ảnh. Tôi đang đứng bên cửa sổ nhà mình, toát mồ hôi vì sợ cảnh trở thành Charlie Themba, điên rồ và hoang tưởng, kẻ bị đàn ông da trắng căm ghét và bị đồng đội chối bỏ. Tôi đứng đó, mềm rũ vì kiệt sức lạnh lẽo, cố gắng triệu hồi Mathlong. Nhưng trong khi tôi vẫn thấy anh ta, rất rõ ràng, bước đi hơi khòm qua một vùng bụi đầy ánh nắng giữa hai căn lán mái tôn, lịch thiệp mỉm cười, nụ cười lúc nào cũng hòa nhã, hơi thích thú, anh ta vẫn tách rời tôi. Tôi bám lấy rèm cửa sổ để khỏi ngã và cảm thấy chất vải trơn trượt lạnh lẽo của mấy tấm rèm giữa các ngón tay giống như thịt chết nên tôi nhắm mắt lại. Mắt nhắm lại, qua những làn sóng buồn nôn tôi hiểu rằng tôi là Anna Wulf, ngày xưa là Anna Freeman, đứng bên cửa sổ một căn hộ xấu xí cũ kỹ ở London, và trên giường đằng sau tôi là Saul Green, tay người Mỹ lang thang. Nhưng tôi không biết mình đã ở đó bao lâu. Tôi tỉnh lại như bước ra khỏi một giấc mơ, không biết mình sẽ tỉnh giấc ở phòng nào. Tôi nhận ra rằng, giống như Saul, tôi không còn khái niệm về thời gian nữa. Tôi nhìn bầu trời lạnh nhờ nhờ trắng, và mặt trời lạnh méo mó, rồi thận trọng quay lại nhìn vào phòng. Trong phòng khá tối, còn ánh lửa gas tạo nên một quầng sáng ấm áp trên sàn. Saul nằm rất yên. Tôi bước rất cẩn thận qua sàn nhà, sàn có vẻ như đang phập phồng dưới chân tôi, và cúi người xuống nhìn Saul. Anh đang ngủ, và dường như cái lạnh toát ra từ người anh. Tôi nằm xuống cạnh anh, áp mình theo đường cong của lưng anh. Anh không nhúc nhích. Rồi bỗng nhiên tôi tỉnh trí, và tôi hiểu thế nghĩa là gì khi tôi nói, tôi là Anna Wulf còn đây là Saul Green và tôi có một đứa con tên là Janet. Tôi siết chặt vòng tay ôm anh, và anh quay lại, đột ngột, cánh tay anh giơ lên như để gạt đi một cú đấm, và thấy tôi. Khuôn mặt anh trắng bệch, xương mặt nhô ra sau lớp da mỏng, mắt anh là một màu xám xỉn bệnh tật. Anh nhoài người áp đầu lên ngực tôi và tôi ôm lấy anh. Anh ngủ trở lại còn tôi cố gắng cảm nhận thời gian. Nhưng thời gian đã rời khỏi tôi. Tôi nằm với trọng lượng lạnh lẽo của người đàn ông này đè lên mình, cứ như băng giá đè lên mình, vì vậy tôi cố gắng làm ấm da thịt mình để sưởi ấm cho da thịt anh. Nhưng cái lạnh của anh đã ngấm vào tôi, vì vậy tôi nhẹ nhàng xô và đẩy anh xuống dưới mấy tấm chăn rồi chúng tôi nằm dưới những lớp vải ấm áp, vì vậy cái lạnh dần đi xa và da thịt anh ấm lên bên da thịt tôi. Giờ thì tôi nghĩ về việc mình mới trở thành Charlie Themba. Tôi không thể nhớ nổi việc đó nữa, giống như tôi không còn nhớ nổi mình đã hiểu rằng chiến tranh đang diễn ra trong tất cả chúng tôi, dần dà đơm hoa kết trái. Hay nói cách khác, tôi lại tỉnh trí trở lại. Nhưng từ tỉnh trí chả có nghĩa gì cả, vì từ điên cũng chả có nghĩa gì. Tôi bị đè nặng bởi cái biết về sự bao la, cảm giác được sức nặng của cái mênh mông, nhưng không giống như lúc tôi chơi “trò chơi”, mà chỉ hiểu tính vô nghĩa của nó. Tôi nằm co rúm lại, và tôi không hiểu sao có thể nghĩ mình điên hay tỉnh. Và, nhìn qua đầu Saul, dường như mọi thứ trong căn phòng đều ranh mãnh, hăm dọa, rẻ tiền và vô nghĩa cả, và thậm chí lúc này tôi cũng cảm thấy mấy tấm rèm chết chóc trơn trượt giữa các ngón tay.

Tôi ngủ và rơi vào giấc mơ đó. Lần này không có lốt giả trang nào hết. Tôi là nhân vật người lùn độc ác nửa nam nửa nữ, cái nguyên lý niềm-vui-trong-hủy-diệt đó; còn Saul là đối bản của tôi, nửa nam nửa nữ, vừa là anh vừa là chị của tôi, và chúng tôi đang khiêu vũ ở một không gian ngoài trời nào đó, dưới những tòa nhà màu trắng to lớn, chất đầy những cỗ máy màu đen gớm guốc, đe dọa, chứa đựng sự hủy diệt. Nhưng trong mơ, anh và tôi, hay chị và tôi, rất thân thiện, chúng tôi không thù địch, chúng tôi sát cánh bên nhau trong ác ý đầy thù hận. Trong mơ có một nỗi hoài nhớ da diết kinh khủng, nỗi mong mỏi cái chết. Chúng tôi đến bên và hôn nhau, yêu thương. Điều này thật kinh khủng, và cả trong mơ tôi cũng biết vậy. Bởi vì trong mơ tôi nhận ra những giấc mơ khác mà chúng ta ai nấy đều gặp phải, khi tinh chất của tình yêu, của sự âu yếm, được tập trung vào một nụ hôn hay một hành động mơn trớn, nhưng bây giờ nó là cái mơn trớn của hai sinh vật nửa người, đang ăn mừng hủy diệt.

Trong mơ có một niềm vui kinh khủng. Khi tôi tỉnh dậy, căn phòng tối đen, ánh sáng ngọn lửa rất đỏ, trần nhà to lớn màu trắng phủ đầy bóng tối yên tĩnh, còn tôi thì tràn ngập niềm vui và bình yên. Tôi tự hỏi làm sao sau một giấc mơ kinh khủng như vậy tôi lại có thể thấy thảnh thơi, và rồi tôi nhớ đến Mẹ Mật, và nghĩ có lẽ lần đầu tiên tôi mơ thấy giấc mơ này một cách “tích cực” - mặc dù điều đó nghĩa là gì thì tôi không biết.

Saul không hề nhúc nhích. Tôi mỏi đờ người nên nhúc nhích đôi vai, và anh tỉnh dậy, sợ hãi, rồi gọi to: “Anna!” cứ như tôi đang ở trong một căn phòng khác hay ở một đất nước khác. Tôi đáp: “Em đây.” Dương vật anh đang nở to. Chúng tôi làm tình. Trong việc làm tình có hơi ấm của việc làm tình trong giấc mơ. Rồi anh ngồi dậy và nói: “Chúa ơi, mấy giờ rồi?” và tôi đáp: “Năm hay sáu giờ gì đó, em đoán thế,” rồi anh nói: “Lạy Chúa, anh không thể ngủ cả đời như thế này được,” rồi đâm bổ ra khỏi phòng.

Tôi nằm trên giường, hạnh phúc. Vì hạnh phúc, niềm vui dâng đầy trong tôi lúc đó mạnh hơn mọi khổ sở và điên rồ của thế giới, hoặc tôi cảm thấy như vậy. Nhưng rồi hạnh phúc bắt đầu chảy đi, vì vậy tôi nằm và nghĩ: Thứ này là gì mà chúng ta cần đến thế? (Chúng ta nghĩa là phụ nữ.) Và nó đáng giá từng nào? Tôi từng có thứ ấy với Michael, nhưng nó chẳng nghĩa lý gì với anh cả, vì nếu có thì anh đã chẳng rời bỏ tôi. Và bây giờ tôi có được với Saul, vồ lấy nó cứ như đây là một ly nước còn tôi thì đang khát. Nhưng nghĩ đến nó thì nó biến mất. Tôi không muốn nghĩ đến nó. Nếu tôi nghĩ, sẽ chẳng có gì chắn giữa tôi với cái cây lùn nhỏ bé trong chậu trên khung cửa sổ, giữa tôi với nỗi kinh hoàng trơn trượt của mấy tấm rèm, hay thậm chí là con cá sấu chờ chực trong đám sậy.

Tôi nằm trên giường trong bóng tối, lắng nghe tiếng Saul va đụng trên đầu, đã kịp phản bội tôi. Bởi vì Saul đã quên mất “niềm hạnh phúc”. Bằng hành động đi lên gác, anh đã tạo ra một cái vịnh giữa chính anh với hạnh phúc.

Nhưng tôi thấy điều này không chỉ đơn thuần là việc chối bỏ Anna, mà còn là chối bỏ chính cuộc sống. Tôi nghĩ rằng đâu đó ở đây là một cái bẫy đáng sợ dành cho phụ nữ, nhưng tôi chưa hiểu nó là cái gì. Vì không thể nghi ngờ nữa, có một giọng điệu mới cho phụ nữ, giọng điệu bị phản bội. Nó nằm trong những cuốn sách họ viết, trong cách họ nói, ở mọi nơi, mọi lúc. Nó là điệu nhạc long trọng, tự thương thân. Nó ở trong tôi, Anna bị phản bội, Anna không được yêu, Anna bị khước từ hạnh phúc, Anna đặt câu hỏi, không phải là: Tại sao anh lại chối bỏ tôi, mà là tại sao anh lại chối bỏ cuộc sống?

Khi Saul quay lại, anh đứng hùng dũng và hung hăng, mắt nheo lại, và anh nói: “Anh ra ngoài đây.” Và tôi đáp: “Được thôi.” Anh ra ngoài, người tù tẩu thoát.

Tôi nằm nguyên tại chỗ, kiệt sức vì cố gắng không quan tâm đến việc anh phải làm người tù tẩu thoát. Mọi cảm xúc của tôi đã tắt, nhưng đầu óc tôi vẫn hoạt động, tạo ra những hình ảnh giống như một bộ phim. Tôi kiểm tra các hình ảnh, hoặc cảnh phim này khi chúng chạy qua, vì tôi đã nhận ra những tưởng tượng phổ biến đối với một kiểu người mà bây giờ, có nguồn gốc thường tình, được hàng triệu người chia sẻ. Tôi nhìn thấy một người lính Algeria bị căng trên giường tra tấn; và tôi cũng là anh ta, tự hỏi không biết mình có thể đứng vững được bao lâu. Tôi nhìn thấy một người cộng sản trong nhà tù cộng sản, nhưng nhà tù này chắc chắn là ở Moscow, nhưng lần này tra tấn về mặt trí tuệ, lần này đứng vững là trong một cuộc chiến xoay quanh chủ nghĩa biện chứng Marx. Điểm kết thúc cảnh này là khi người tù cộng sản thừa nhận, nhưng sau nhiều ngày tranh cãi, rằng anh ta bảo vệ sự cần thiết của lương tri cá nhân, giây phút khi một con người nói rằng: “Không, tôi không thể làm thế được.” Tại thời điểm đó, người cai tù cộng sản chỉ mỉm cười, không cần phải nói rằng, Vậy là anh đã thừa nhận bản thân sai lầm. Rồi tôi nhìn thấy người lính ở Cuba, người lính ở Algeria, súng trong tay, đứng gác. Rồi người lính nghĩa vụ Anh, bị đẩy vào cuộc chiến ở Ai cập, chết một cách lãng xẹt. Rồi một sinh viên ở Budapest, ném trái bom tự chế vào chiếc xe tăng to đùng đen sì của Nga. Rồi một người nông dân, đâu đó ở Trung Quốc, diễu hành trong một đám đông hàng triệu người.

Những hình ảnh này lóe lên trước mắt tôi. Tôi nghĩ rằng cách đây năm năm hẳn những hình ảnh này sẽ khác, và năm năm nữa chúng sẽ lại khác đi, nhưng bây giờ chúng là những gì gắn bó lại những người, thuộc một loại nhất định nào đó, dù không biết nhau với tư cách cá nhân.

Khi những hình ảnh này ngừng sinh ra, tôi kiểm tra lại một lần nữa và gọi tên chúng. Tôi chợt nhận ra rằng Mathlong không hề xuất hiện. Tôi nghĩ rằng mấy giờ trước mình đã thực sự là anh chàng Themba điên, dù bản thân không hề cố ý làm vậy. Tôi tự nhủ mình sẽ là Mathlong, mình sẽ biến mình thành nhân vật này. Tôi bài trí sân khấu, tìm mọi cách khả dĩ. Tôi cố gắng hình dung mình, một người đàn ông da đen trong vùng lãnh thổ bị người da trắng chiếm đóng, phẩm cách con người bị họ sỉ nhục. Tôi cố gắng hình dung anh, ở trường đạo, và rồi học tập ở Anh. Tôi cố gắng tạo ra anh, và tôi hoàn toàn thất bại. Tôi cố gắng làm cho anh đứng trong phòng tôi, một nhân vật nhã nhặn, mỉa mai, nhưng thất bại. Tôi tự nhủ mình thất bại vì nhân vật này, không giống như mọi nhân vật khác, mang tính khách quan. Anh là người thực hiện các hành động, đóng các vai, mà anh tin là cần thiết cho lợi ích của người khác, dù cho anh vẫn giữ thái độ hoài nghi một cách mỉa mai về kết quả của hành động bản thân. Đối với tôi, dường như kiểu khách quan này là thứ mà chúng ta cực kỳ cần trong thời gian này, nhưng lại quá ít người có nó, và chắc chắn là còn cách tôi rất xa.

Tôi ngủ thiếp đi. Khi tôi tỉnh dậy, trời đã gần sáng. Tôi có thể thấy trần nhà nằm nhợt nhạt và uể oải, bị quấy quả bởi ánh sáng từ ngoài phố, còn bầu trời thì nguyên một màu tía, ẩm ướt ánh trăng lạnh lẽo. Cơ thể tôi gào lên vì cô đơn do Saul không ở đó. Tôi không ngủ lại nữa. Tôi tan đi trong cái cảm xúc đáng ghét, người đàn-bà-bị-phản-bội. Tôi nằm mà răng nghiến chặt, không muốn suy nghĩ, biết rằng mọi điều tôi nghĩ sẽ xuất phát từ cái cảm xúc âu sầu trầm trọng đó. Rồi tôi nghe thấy tiếng Saul bước vào, anh vào một cách lặng lẽ và lén lút rồi đi thẳng lên gác. Lần này tôi không lên. Tôi biết rằng điều này có nghĩa là sáng hôm sau anh sẽ căm ghét tôi, bởi vì tội lỗi của anh, nhu cầu phản bội của anh, cần được liên tục thỏa mãn bằng cách tôi đến với anh.

Khi anh xuống thì đã trễ, gần đến giờ ăn trưa, và tôi biết đây là con người ghét tôi. Anh nói, giọng rất lạnh lùng: “Sao để anh dậy muộn thế?” Tôi đáp: “Sao em lại phải bảo anh dậy vào lúc nào?” Anh nói: “Anh phải ra ngoài ăn trưa đây. Bàn chuyện công việc.” Qua cách anh nói, tôi biết đây không phải là bàn chuyện công việc, và anh nói theo cách đó để tôi biết là không phải.

Tôi lại cảm thấy muốn ốm, vì vậy tôi về phòng bày mấy cuốn sổ ra. Anh bước vào và đứng ở cửa ra vào nhìn tôi. Anh nói: “Chắc là em đang viết hồ sơ tội ác của anh!” Nghe cứ như anh thấy vui khi tôi làm vậy. Tôi cất ba cuốn sổ đi. Anh hỏi: “Sao em lại có tới bốn cuốn sổ?” Tôi đáp: “Rõ ràng là vì cần phải chia nhỏ mình ra, nhưng từ giờ phút này em sẽ chỉ dùng một cuốn thôi.” Tôi thích thú khi nghe chính mình nói câu này, bởi vì đến lúc đó tôi vẫn chưa hề biết điều đó. Anh đứng ở cửa ra vào, dùng cả hai tay bám lấy khung cửa. Mắt anh nheo lại nhìn tôi bằng vẻ cực kỳ căm ghét. Tôi thấy cánh cửa màu trắng với những đường gờ thừa thãi đã lỗi thời, rất rõ ràng. Tôi nghĩ, những đường gờ trên cánh cửa giống như một ngôi đền Hy Lạp, đấy là xuất xứ của chúng, những cây cột của một ngôi đền Hy Lạp; và đến lượt chúng lại gợi nhớ đến một ngôi đền Ai Cập, rồi đến lượt nó lại gợi nhớ đến đám sậy và con cá sấu. Anh đứng đó, tay người Mỹ, bám chặt lấy lịch sử này bằng cả hai tay vì sợ ngã, căm thù tôi, người cai ngục. Tôi nói, như trước đây đã từng nói: “Anh không thấy phi thường ư, rằng cả hai chúng ta là những kẻ có nhân cách, bất kể từ đó nghĩa là gì, đủ lớn để bao trùm tất cả mọi vấn đề, chính trị và văn học nghệ thuật, nhưng bây giờ khi chúng ta đang phát điên, mọi thứ lại dồn vào một vấn đề nhỏ, rằng tôi không muốn anh đi ngủ với người khác, và rằng vì vậy anh phải nói dối tôi?” Trong giấy lát anh trở lại là mình, suy nghĩ về điều này, sau đó anh mờ đi hoặc tan biến và nhân vật thù địch lén lút trong anh trả lời: “Em sẽ không bẫy được anh kiểu đó đâu, đừng có nghĩ đến chuyện đó.” Anh lên gác, sau đó mấy phút lại quay xuống, nói với giọng vui vẻ: “Ái chà, nếu không đi ngay thì anh sẽ muộn mất. Gặp lại sau nhé cưng.”

Anh đi, mang tôi theo cùng. Tôi cảm nhận được một phần trong mình rời căn nhà cùng anh. Tôi biết anh đi như thế nào. Anh loạng choạng xuống cầu thang, đứng một lát trước khi đối diện với đường phố, sau đó thận trọng đi với kiểu bước phòng thủ của người Mỹ, kiểu bước của những người sẵn sàng tự vệ, cho đến khi nhìn thấy một chiếc ghế băng, hoặc có lẽ là một bậc thềm ở đâu đó và ngồi lên. Anh bỏ lại những điều xấu xa sau lưng trong nhà tôi, và anh được tự do trong giây lát. Nhưng tôi có thể cảm nhận được cái lạnh lẽo vì cô đơn từ anh. Cảm giác lạnh lẽo vì cô đơn đang vây lấy tôi.

Tôi nhìn vào cuốn sổ này, nghĩ rằng nếu viết được vào đấy thì Anna sẽ quay lại, nhưng tôi không tài nào đưa tay ra cầm bút lên được. Tôi gọi cho Molly. Khi cô trả lời, tôi nhận ra mình không thể truyền đạt nổi những gì đang diễn ra với tôi, tôi không thể nói với cô được. Vẫn vui vẻ và thực tế như mọi khi, giọng cô nghe như tiếng kêu quang quác của một loài chim lạ, rồi tôi nghe thấy giọng chính mình, phấn khởi và trống rỗng.

Cô hỏi: “Anh chàng người Mỹ của cậu thế nào rồi?” và tôi đáp: “Tốt.” Tôi hỏi: “Tommy thế nào?” Cô trả lời: “Nó vừa mới đăng ký thực hiện một loạt bài diễn thuyết trên khắp cả nước về đời sống của công nhân mỏ than, cậu biết đấy, cảnh sống Người thợ mỏ.” Tôi nói: “Hay đấy.” Cô nói: “Đại khái vậy. Thằng bé cùng lúc vừa đòi đi chiến đấu cho Mặt trận dân tộc giải phóng ở Algeria vừa đòi đi Cuba. Đêm qua chúng nó ở đây cả lũ, và tất cả đều nói đến chuyện ra đi, cuộc cách mạng nào không quan trọng, miễn là cách mạng.” Tôi nói: “Vợ nó không thích đâu.” “Ừ, đấy là điều tớ nói với Tommy khi thằng bé đối mặt với tớ, cực kỳ hung hăng, bảo tớ hãy ngăn nó xem nào. Tớ bảo, không phải mẹ, mà là cô vợ bé nhỏ tỉnh táo của con. Mẹ chúc phúc cho con, tớ bảo thế, bất kể cách mạng ở đâu, bởi vì rõ ràng là không ai trong chúng ta có thể chịu đựng được cuộc sống hiện tại của mình cả. Thằng bé bảo tớ tiêu cực quá. Sau đó nó gọi điện cho tớ nói rằng không may là tại thời điểm này nó không đi chiến đấu được, bởi vì nó sắp phải thực hiện một loạt bài diễn thuyết về Cảnh sống Người thợ mỏ. Anna, có phải chỉ một mình tớ không? Tớ có cảm giác như đang sống trong một vở hề kịch không tin nổi nào đó.” “Không, không phải chỉ một mình cậu đâu.” “Tớ biết, và như vậy thậm chí còn tệ hơn nữa.”

Tôi đặt ống nghe xuống. Phần sàn nhà giữa tôi và chiếc giường phình ra, phập phồng. Tường nhà có vẻ như lõm vào trong, sau đó trôi ra xa ngoài không gian. Tôi đứng một lúc trong không gian, các bức tường biến mất, như thể tôi đứng trên những tòa nhà phế tích. Tôi biết mình phải đi ngủ, vì vậy nên tôi thận trọng bước đi trên sàn nhà phập phồng đến giường và nằm xuống. Nhưng tôi, Anna, không ở đó. Sau đó tôi thiếp đi, mặc dù lúc dần lịm đi tôi biết đây không phải là một giấc ngủ bình thường. Tôi có thể nhìn thấy cơ thể Anna đang nằm trên giường. Và bước vào phòng, nối tiếp nhau, là những người tôi biết, đứng ở chân giường, có vẻ như cố gắng chui vào cơ thể Anna. Tôi đứng ở một bên, quan sát, hào hứng nhìn xem tiếp theo ai sẽ bước vào phòng. Maryrose đến, một cô gái tóc vàng xinh đẹp, lịch sự mỉm cười. Sau đó là George Hounslow, rồi bà Boothby, và đến Jimmy. Những người này dừng lại, nhìn Anna, rồi đi tiếp. Tôi đứng sang một bên, tự hỏi: Cô ấy sẽ tiếp nhận người nào đây? Rồi tôi nhận ra nguy hiểm vì Paul, đã chết, bước vào, và tôi nhìn thấy nụ cười nghiêm trang bỡn cợt lúc anh cúi xuống người cô. Sau đó anh tan vào cô, và tôi hét lên vì sợ hãi, chen lấn qua đám đông những hồn ma vô cảm để đến chỗ chiếc giường, đến chỗ Anna, đến với chính mình. Tôi vật lộn để vào lại trong cô. Tôi vật lộn với cái lạnh, một cơn lạnh khủng khiếp. Tay chân tôi cứng đờ vì lạnh, còn Anna lạnh bởi vì trong cô chứa Paul đã chết. Tôi có thể nhìn thấy nụ cười nghiêm trang của anh trên gương mặt Anna. Sau khi vật lộn, để giành sự sống cho bản thân, tôi chui trở lại vào chính mình và nằm đó, lạnh lẽo. Trong giấc ngủ, tôi lại về Mashopi, nhưng lúc này những hồn ma đang xếp hàng quanh tôi, giống như các vì sao vào vị trí, và Paul là một hồn ma trong số đó. Chúng tôi ngồi dưới bóng cây bạch đàn trong ánh trăng mờ mờ, mùi rượu vang đổ ngọt ngào trong lỗ mũi và ánh đèn khách sạn chiếu bên kia đường. Đây là một giấc mơ bình thường, và tôi biết rằng mình đã thoát khỏi cảnh tan rã, bởi vì tôi có thể mơ thấy nó. Giấc mơ phai đi thành một nỗi đau nhớ nhung giả dối. Trong giấc ngủ tôi nói với mình, hãy giữ bản thân đừng tan rã, ngươi có thể làm được nếu lấy được cuốn sổ xanh và viết. Tôi cảm nhận được sức ì của cánh tay lạnh lẽo và không thể với lấy cây bút được. Nhưng thay vì bút, tay tôi lại cầm một khẩu súng. Nhưng tôi không phải Anna, mà là một người lính. Tôi có thể cảm nhận được bộ quân phục trên cơ thể mình, nhưng là bộ quân phục không quen. Tôi đang đứng ở một nơi nào đó giữa đêm lạnh, một tốp lính âm thầm di chuyển sau lưng tôi, đi lấy đồ ăn. Tôi có thể nghe thấy tiếng lanh canh của kim loại va vào nhau, súng trường xếp chồng với nhau. Đâu đó phía trước tôi là kẻ thù. Nhưng tôi không biết kẻ thù là ai, mục đích mình chiến đấu là gì. Tôi thấy da mình có màu sẫm. Ban đầu tôi nghĩ mình là người châu Phi hoặc người da đen. Sau đó tôi thấy mái tóc đen lấp lánh trên cánh tay màu đồng đang cầm khẩu súng trường lấp lánh ánh trăng. Tôi hiểu rằng tôi đang đứng trên một sườn đồi ở Algeria, tôi là lính Algeria và tôi đang chiến đấu với quân Pháp. Nhưng trí óc của Anna đang hoạt động trong đầu người đàn ông này, vì vậy cô nghĩ: Ừ mình sẽ giết, thậm chí sẽ tra tấn bởi vì mình phải làm vậy, nhưng không hề tin. Bởi vì nay người ta không còn khả năng tổ chức và chiến đấu, giết chóc mà không biết rằng sau đó lại mọc lên kẻ chuyên chế mới. Nhưng người ta vẫn phải chiến đấu và tổ chức. Sau đó trí óc Anna tắt lịm như ngọn lửa nến. Tôi đang là người Algeria, tin tưởng, đầy quả cảm nhờ lòng tin ấy. Cảm giác sợ hãi lại len vào giấc mơ, bởi Anna một lần nữa lại bị đe dọa hoàn toàn tan rã. Cảm giác sợ hãi đưa tôi ra khỏi giấc mơ, và tôi không còn là người lính đứng gác dưới ánh trăng cùng với từng nhóm đồng chí chậm rãi đi lại sau anh bên đống lửa nấu bữa tối nữa. Tôi bật lên khỏi mặt đất khô đẫm mùi nắng của Algeria vào không trung. Đây là giấc mơ bay lượn, đã lâu rồi bây giờ tôi mới lại mơ thấy nó, và tôi suýt khóc vì vui sướng vì lại được bay một lần nữa. Bản chất của giấc mơ bay lượn là niềm vui, niềm vui trong chuyển động tự do, nhẹ nhàng. Tôi ở trên cao Địa Trung Hải, và tôi biết mình có thể đi bất cứ đâu. Tôi muốn đi về phía Đông. Tôi muốn đến châu Á, tôi muốn thăm người nông dân. Tôi đang bay hết sức cao, núi non biển cả ở bên dưới, dễ dàng đạp lên không khí. Tôi vượt qua những ngọn núi hùng vĩ và bên dưới tôi là Trung Quốc. Tôi nói trong mơ. Tôi đến đây bởi vì tôi muốn làm nông dân cùng với những người nông dân khác. Tôi hạ thấp xuống trên một ngôi làng và nhìn thấy nông dân đang làm việc trên đồng. Họ mang vẻ quả quyết nghiêm khắc khiến tôi bị thu hút. Tôi buộc đôi chân đưa tôi nhẹ nhàng hạ xuống mặt đất. Niềm vui trong giấc mơ mạnh mẽ hơn tôi từng cảm nhận được, và đây là niềm vui tự do. Tôi bước xuống mặt đất Trung Quốc cổ xưa, và một chị nông dân đứng ở ngay của căn chòi của chị. Tôi bước đến chỗ chị ta, và cũng giống như một lát trước đó Paul vừa đứng, gập người, bên cạnh Anna đang ngủ, cần được trở thành cô, tôi đứng bên cạnh chị nông dân, cần được vào người chị ta, trở thành chị ta. Trở thành chị ta thật dễ. Chị ta còn trẻ và đang có mang, nhưng công việc đã khiến chị già đi. Rồi tôi nhận ra rằng đầu óc của Anna vẫn đang ở trong chị ta, và tôi đang nghĩ những ý nghĩ máy móc mà tôi coi là “tiến bộ và giải phóng”. Chị ta là thế này thế kia, chị ta được hình thành nên từ phong trào này, cuộc chiến đó, trải nghiệm này, tôi đang “gọi tên” chị ta từ một nhân cách xa lạ. Rồi trí óc Anna, giống như lúc ở trên sườn đồi Algeria, bắt đầu chập chờn và dần tắt. Và tôi nói: “Lần này thì đừng để cho nỗi sợ bị tan rã làm hoảng hồn đuổi đi nhé, bám chắc lấy.” Nhưng nỗi sợ này quá mạnh. Nó đuổi tôi ra khỏi chị nông dân, và tôi đứng một bên chị ta, nhìn chị ta đi qua ruộng tới chỗ một nhóm người đang làm việc. Họ mặc đồng phục. Nhưng giờ đây nỗi sợ đã hủy hoại niềm vui, và chân tôi không còn đạp lên không khí được nữa. Tôi liên tục giẫm hụt, hụt xuống, hụt xuống, hoảng hốt, cố gắng bay lên và vượt qua những ngọn núi đen ngăn cách tôi với châu Âu, bây giờ nhìn từ nơi tôi đứng trông như một mảnh viền tí hon vô nghĩa trên lục địa rộng lớn, giống như một căn bệnh mà tôi sắp sửa vào lại. Nhưng tôi không bay được, tôi không thể rời khỏi đồng bằng nơi những người nông dân đang làm việc, và nỗi sợ bị kẹt lại ở đó khiến tôi bừng tỉnh. Tôi tỉnh dậy vào chiều muộn, căn phòng tràn đầy bóng tối, tiếng xe cộ gầm lên từ con phố bên dưới. Tôi tỉnh dậy thành một người đã thay đổi và trải nghiệm làm người khác. Tôi không quan tâm đến Anna, tôi không thích được làm cô ấy. Việc tôi trở lại thành Anna cứ như thực hiện một trách nhiệm rất chán, giống như phải mặc chiếc váy dính bẩn.

Sau đó tôi ngồi dậy, bật đèn, và nghe thấy tiếng động trên gác, nghĩa là Saul đã về. Vừa nghe thấy tiếng anh, dạ dày tôi đã quặn lên, và tôi trở lại bên trong Anna ốm yếu không chút ý chí.

Tôi gọi với lên tầng trên và anh đáp lại. Giọng anh nghe vui vẻ, cảm giác e sợ của tôi biến mất. Rồi anh xuống, và nó liền trở lại, bởi khuôn mặt anh đang mang một nụ cười bỡn cợt cố ý, và tôi tự hỏi không biết anh đang đóng vai gì? Anh ngồi lên giường tôi, cầm lấy tay tôi và nhìn với vẻ ngưỡng mộ bỡn cợt cố ý. Khi đó tôi biết rằng anh đang so sánh nó với bàn tay của người phụ nữ anh vừa bỏ rơi, hoặc là người phụ nữ anh muốn tôi tin rằng anh vừa rời khỏi. Anh nói: “Dù sao đi nữa thì có lẽ anh vẫn thích sơn móng tay của em hơn.” Tôi đáp: “Nhưng em không sơn móng tay.” Anh nói: “Ồ, nếu em sơn thì chắc anh sẽ thích hơn thôi.” Anh cứ lật đi lật lại bàn tay tôi, nhìn nó với vẻ ngạc nhiên thích thú, quan sát tôi để xem tôi đón nhận vẻ ngạc nhiên thích thú đó như thế nào. Tôi thu tay lại. Anh nói: “Chắc là em sắp hỏi xem anh vừa đi đâu về.” Tôi không nói gì. Anh nói: “Đừng hỏi gì thì anh sẽ không nói dối em.” Tôi không đáp. Tôi có cảm giác như bị hút vào vùng cát lầy, hoặc bị đẩy vào chiếc băng chuyền đưa tôi vào máy nghiền. Tôi bước ra phía cửa sổ. Bên ngoài là cơn mưa tối đen lấp lánh, các mái nhà ướt nước và tối thẫm. Cái lạnh giáng vào ô cửa sổ.

Anh đến sau tôi, vòng tay quanh người ôm lấy tôi. Anh đang mỉm cười, một người ý thức được sức mạnh của mình với phụ nữ, đang thấy mình trong vai này. Anh mặc chiếc áo len bó sát màu xanh dương, tay áo xắn cao. Tôi thấy đám lông sáng lấp lánh trên cánh tay anh. Anh nhìn xuống mắt tôi và nói: “Anh thề là anh không nói dối. Anh thề. Anh thề. Anh không có người khác. Anh thề.” Giọng anh đầy vẻ mãnh liệt kịch tính, và mắt anh tập trung giễu nhại vẻ mãnh liệt.

Tôi không tin anh, nhưng Anna trong tay anh tin anh, ngay giữa lúc tôi nhìn hai người chúng tôi đóng vai này, kinh ngạc là chúng tôi đủ khả năng lâm ly như vậy. Rồi anh hôn tôi. Khi tôi đáp lại thì anh tách ra, và nói như từng nói trước đó, với vẻ sưng sỉa đặc trưng tại những thời điểm như thế: “Sao em không cãi lại anh? Sao em không cãi?” Tôi đáp đi đáp lại: “Sao em phải cãi? Tại sao anh lại phải cãi?” Và tôi đã từng nói điều này trước đó, chúng tôi đã làm tất cả những điều này trước đó. Rồi anh dắt tay tôi đến bên giường và làm tình với tôi. Tôi tò mò muốn biết anh đang làm tình với ai, vì tôi biết đó không phải là tôi. Có vẻ như người phụ nữ mới này cần rất nhiều quở mắng và khích lệ trong tình yêu và hơi trẻ con. Vì anh đang làm tình với một người phụ nữ hơi trẻ con và cô ta có bộ ngực phẳng cùng đôi bàn tay rất đẹp. Bỗng nhiên anh nói: “Đúng vậy, và chúng ta sẽ làm một em bé, em nói đúng.” Xong xuôi, anh lăn đi, thở hổn hển, thốt lên: “Có Chúa chứng giám, đây sẽ là kết thúc, một đứa con, em sẽ kết liễu anh.” Tôi nói: “Không phải em đề nghị cho anh một đứa con, đây là Anna.” Anh giật đầu lên nhìn tôi, rồi anh thả đầu xuống và cười, nói: “À ra thế. Là Anna.”

Tôi đến phòng tắm và nôn ọe dữ dội, và khi quay lại tôi nói: “Em phải đi ngủ đây.” Tôi quay lưng và đi ngủ, để tránh xa anh.

Nhưng tôi bước về phía anh, trong giấc ngủ. Đấy là một đêm toàn mộng mị. Tôi đóng kịch, vai này nối tiếp vai khác, bên Saul, cũng đóng kịch. Giống như trong một vở kịch mà lời thoại liên tục thay đổi, cứ như thể nhà biên kịch viết đi viết lại vở kịch đó nhưng mỗi lần lại khác đi một chút. Chúng tôi đóng với nhau đủ kiểu vai nam-nữ có thể hình dung ra. Khi kết thúc mỗi vòng mơ, tôi lại nói: “Ôi, mình đã trải qua điều đó, phải không nhỉ, ôi cũng đến lúc mình làm vậy rồi.” Giống hệt như được sống cả trăm đời vậy. Tôi kinh ngạc nhận thấy còn bao nhiêu vai nữ tôi chưa từng đóng trong đời, từng từ chối đóng, hoặc chưa từng được đem đến cho tôi. Ngay cả trong giấc ngủ, tôi cũng biết mình bị buộc phải đóng các vai này bởi vì tôi đã từ chối chúng ngoài đời.

Sáng hôm sau tôi thức dậy bên cạnh Saul. Anh thấy lạnh, vì vậy tôi phải sưởi ấm cho anh. Tôi là chính mình, và mạnh mẽ. Tôi đến thẳng chỗ chiếc bàn chân rời và mở cuốn sổ này ra. Tôi viết được một lúc lâu rồi anh mới dậy. Hẳn anh đã thức dậy và quan sát tôi một lát trước khi tôi nhìn thấy anh. Anh nói: “Thay vì ghi lại tội lỗi của anh vào nhật ký, tại sao em không viết một cuốn tiểu thuyết nữa?”

Tôi đáp: “Em có thể cho anh cả chục lý do tại sao không, em có thể nói về đề tài này cả mấy tiếng đồng hồ, nhưng lý do thực sự là em bị bế tắc. Thế thôi. Và đây là lần đầu tiên em thừa nhận điều này.”

“Có lẽ vậy,” anh nói, đầu nghiêng sang một bên, mỉm cười trìu mến. Tôi nhìn thấy vẻ trìu mến đó và cảm thấy ấm áp. Rồi khi tôi mỉm cười trở lại, nụ cười của anh vụt tắt, mặt anh trở nên sưng sỉa, và anh nói mạnh mẽ: “Dù sao đi nữa, biết em đang ngồi đó thêu dệt cả đống chữ nghĩa này, anh cảm thấy phát điên lên được.”

“Bất cứ ai cũng đều bảo chúng ta rằng hai nhà văn không nên ở với nhau. Hay nói đúng hơn là một người Mỹ ganh đua không nên ở cùng với một phụ nữ đã từng viết sách.”

“Đúng rồi,” anh nói. “Đấy là thách thức đối với sự ưu việt giới tính của anh, và đây không phải chuyện đùa đâu.”

“Em biết là không phải. Nhưng xin đừng cho em thêm bất cứ bài giảng xã hội chủ nghĩa rỗng tuếch nào về bình đẳng nam nữ nữa.”

“Có lẽ anh vẫn sẽ thuyết cho em những bài giảng rỗng tuếch bởi vì anh thích như thế. Nhưng bản thân anh sẽ không tin chúng. Sự thật là anh ghét em vì đã viết một cuốn sách thành công. Và anh vừa đi đến kết luận là từ trước đến nay anh vẫn luôn đạo đức giả, và trên thực tế là anh thích một xã hội nơi phụ nữ là công dân hạng hai, anh thích làm ông chủ và được người khác nịnh bợ.”

“Tốt,” tôi đáp. “Bởi vì trong một xã hội mà cả chục ngàn đàn ông chưa có nổi một anh hiểu được cả nghìn điều kiện khiến phụ nữ trở thành công dân hạng hai, bọn em buộc phải tìm bầu bạn ở những người đàn ông ít ra là không đạo đức giả.”

“Và bây giờ chúng ta đã giải quyết được vấn đề đó thì em có thể đi pha ít cà phê được rồi, bởi vì đây là vai trò của em trong cuộc sống.”

“Rất hân hạnh,” tôi đáp, và chúng tôi ăn sáng trong tâm trạng vui vẻ, thích nhau.

Sau bữa sáng, tôi cầm chiếc giỏ mua hàng và đi dọc phố Earl’s Court. Tôi thích mua thực phẩm và rau quả, và thích thú biết rằng mình sẽ nấu cho anh ăn. Nhưng tôi vẫn buồn khi biết rằng điều này sẽ không được lâu. Tôi nghĩ: Anh sắp sửa ra đi, và rồi chuyện đó sẽ kết thúc, niềm vui được chăm sóc một người đàn ông. Tôi đã chuẩn bị về nhà, nhưng lại đứng ở góc một con phố trong cơn mưa nhẹ màu xám, giữa những chiếc ô đang chen lấn và những thân người đang xô đẩy, và tự hỏi không biết tại sao mình lại chờ ở đó. Rồi tôi bước sang bên kia đường vào một của hàng văn phòng phẩm và đến một quầy đầy sổ viết. Có những cuốn giống như bốn cuốn sổ của tôi. Nhưng chúng không phải là thứ tôi muốn. Tôi nhìn thấy một cuốn lớn rất dày, khá đắt, và mở ra, giấy màu trắng, dày, không kẻ li. Giấy sờ rất thích, hơi ráp, nhưng mịn. Bìa của nó nặng trịch, màu vàng kim. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cuốn sổ nào như vậy, vì thế nên tôi hỏi người bán hàng xem nó được sản xuất nhằm mục đích gì, và cô ta trả lời rằng một khách hàng người Mỹ đã đặt làm riêng cho mình nhưng không quay lại lấy. Anh ta đã đặt cọc, vì vậy nó không đắt như tôi tưởng. Mặc dù vậy thì nó vẫn đắt, nhưng tôi muốn có nó, vì vậy tôi mang theo về nhà. Nó khiến tôi vui, chỉ cần được đụng chạm, được nhìn ngắm nó, nhưng tôi không biết mình muốn có nó để làm gì.

Saul bước vào phòng tôi, đi sùng sục loanh quanh, bồn chồn, rồi anh nhìn thấy cuốn sổ mới và vồ lấy nó. “Ồ đẹp quá,” anh nói. “Để làm gì đây em?” “Em vẫn chưa biết.” “Thế thì để cho anh,” anh nói. Suýt thì tôi trả lời: “Được thôi, lấy đi,” quan sát trong chính mình nhu cầu được cho đi đang phụt ra như nước phun từ cá voi. Tôi bực với chính mình, bởi vì tôi muốn nó nhưng lại suýt đưa nó cho anh. Tôi biết nhu cầu nghe lời này là một phần của vòng tròn khổ dâm-ác dâm mà chúng tôi đang ở trong. Tôi nói: “Không, anh không được lấy đâu.” Phải khó khăn lắm tôi mới nói lên được điều này - thậm chí tôi còn nói lắp. Anh cầm cuốn sổ lên, vừa nói vừa cười: “Cho anh đi, cho anh đi, cho anh đi.” Tôi trả lời: “Không.” Anh tưởng là tôi sẽ cho anh bởi vì anh đã nói đùa ở mấy chữ cho anh đi, cho anh đi; và bây giờ anh đứng liếc xéo tôi, miệng lẩm nhẩm, không hề cười, cho anh đi, cho anh đi, cho anh đi, bằng giọng trẻ con. Anh đã trở thành trẻ con. Tôi nhìn thấy được nhân cách mới, hay nói đúng hơn là nhân cách cũ này, vào trong anh như một con thú chui vào bụi cây. Thân mình anh uốn cong và khom lại, trở thành một thứ vũ khí; gương mặt anh, khi là “chính anh” vốn vui vẻ, linh lợi, hoài nghi, lúc này là gương mặt của một kẻ sát nhân bé nhỏ. Anh quay phắt lại, tay cầm cuốn sổ, sẵn sàng chạy về phía cửa; (19*) và tôi thấy anh rất rõ, cậu bé khu ổ chuột, thành viên của một băng nhóm trẻ em khu ổ chuột, đang nâng cái gì đó từ quầy hàng, hoặc chạy trốn cảnh sát. Tôi nói: “Không, anh không được lấy đâu, như nói với trẻ con, và anh trở về là chính mình, chậm rãi, mọi căng thẳng thoát hết ra ngoài; rồi anh đặt cuốn sổ xuống, trở lại vui vẻ, thậm chí còn hàm ơn. Tôi nghĩ thật kỳ cục khi anh cần phải phục tùng uy quyền của một người có khả năng từ chối, vậy mà anh lại trôi vào đời tôi, kẻ luôn thấy việc từ chối khó khăn biết chừng nào. Giờ khi tôi đã chối từ, và anh đã đặt cuốn sổ xuống, mỗi đường nét của anh đều thể hiện ra cái hình ảnh một đứa trẻ bị tước đoạt, đứa trẻ vừa bị người ta từ chối cho thứ mà nó muốn có vô cùng, tôi cảm thấy choáng váng, tôi muốn nói Vì Chúa hãy lấy đi, chẳng quan trọng đâu. Nhưng lúc này tôi không thể nào nói ra được, và tôi thấy kinh sợ rằng cái thứ không quan trọng này, cuốn sổ mới xinh xẻo này, trở thành một phần của cuộc cãi lộn nhanh đến vậy.

Anh đứng một lúc bên cánh cửa, đau khổ; trong khi tôi nhìn anh đứng thẳng lên và thấy cả nghìn lần trong thời thơ ấu anh thẳng người, gồng vai và “nhét sâu vào lòng”, như anh bảo tôi mọi người phải làm khi gặp rắc rối.

Rồi anh nói: “Thôi, anh lên nhà làm việc đây.” Anh chậm rãi lên gác, nhưng không làm việc, vì tôi nghe thấy tiếng anh đi lại sùng sục trên đầu. Căng thẳng lại bắt đầu, mặc dù tôi vừa thoát khỏi nó được vài tiếng. Tôi theo dõi những bàn tay đau đớn nắm lấy dạ dày mình và những ngón tay đau đớn thọc vào cơ cổ và thắt lưng mình. Anna bệnh tật đã trở lại ngụ trong tôi. Tôi biết chính những bước chân lùng sục trên gác đã triệu hồi cô ta. Tôi mở một đĩa nhạc Armstrong, nhưng giọng vui vẻ ngây thơ của đĩa nhạc này quá xa cách. Tôi đổi sang Mulligan, nhưng chất tự xót thương của nó lại chính là giọng của căn bệnh trong nhà tôi, vì vậy nên tôi tắt nhạc và nghĩ: Janet sắp về nhà nên mình phải dừng điều này lại, mình phải dừng lại.

Hôm đấy vừa u ám vừa lạnh, thậm chí không có cả một chút nắng mùa đông, còn bây giờ thì ngoài trời đang mưa. Rèm đã kéo lại và cả hai cái bếp dầu đều đã nhóm lên. Lúc này căn phòng rất tối, trên trần nhà hai hình ảnh sáng đỏ vàng từ vòng bếp khẽ rung rinh, còn ngọn lửa gas thì tỏa ra thứ ánh sáng màu đỏ, nhưng sức dữ dội của nó không đủ sức xuyên qua cái lạnh chỉ cách vỉ lò sưởi có dăm phân.

Tôi vẫn ngồi nhìn cuốn sổ mới đẹp đẽ, mân mê, ngắm nghía. Nhân lúc tôi không để ý, Saul đã dùng bút chì nguệch ngoạc lên đầu sổ lời nguyền của lũ học sinh ngày xưa:

Bất cứ ai nhìn vào đây

đều bị nguyền rủa,

Đấy là mong ước của tôi.

Saul Green, chủ sổ. (!!!)

Điều này khiến tôi bật cười, đến nỗi suýt nữa thì tôi lên gác và đưa sổ cho anh. Nhưng tôi sẽ không làm vậy, không làm vậy, không làm vậy. Tôi sẽ cất cuốn sổ bìa xanh dương cùng với những cuốn còn lại. Tôi sẽ cất đi cả bốn cuốn sổ. Tôi sẽ viết một cuốn sổ mới, trọn vẹn bản thân tôi trong một cuốn.

[Đến đây, cuốn sổ xanh dương kết thúc bằng một đường kẻ đôi màu đen đậm.]

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Doris Lessing

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.