Cuốn Sổ Vàng

Lượt đọc: 184 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bốn cuốn sổ

❊ ❊ ❊

[Cuốn sổ đen tiếp tục để trống dưới tiêu đề Nguồn ở bên nửa trái. Tuy nhiên, nửa trang bên phải với tiêu đề Tiền thì lại kín chữ.]

Thư ông Reginald Tarbrucke, Tầm Nhìn Tổng Hợp, gửi cô Anna Wulf: Tuần trước tôi có đọc - phải thú nhận là tình cờ thôi! - cuốn sách thú vị của chị, Những biên giới chiến tranh. Ngay lập tức tôi cảm thấy ấn tượng với sự tươi mới và chân thành của nó. Tất nhiên, chúng tôi đang tìm kiếm chủ đề phù hợp cho kịch truyền hình. Tôi rất muốn thảo luận với chị về vấn đề này. Có lẽ chúng ta nên gặp nhau và uống một chút gì đấy vào lúc một giờ thứ Sáu tuần tới - chị có biết quán Black Bull ở đường Great Portland không? Gọi cho tôi nhé.

Thư Anna Wulf gửi Reginald Tarbrucke: Cảm ơn anh vì đã viết thư cho tôi. Tôi nghĩ tốt nhất nên nói ngay rằng trên truyền hình có rất ít vở kịch khiến tôi có hứng thú với loại hình này. Thông cảm cho tôi nhé.

Thư Reginald Tarbrucke gửi Anna Wulf: Cảm ơn chị vì đã trao đổi thẳng thắn. Tôi đồng ý với chị và đây là lý do vì sao tôi viết thư cho chị ngay khi vừa đặt cuốn Những biên giới chiến tranh đầy lôi cuốn xuống. Chúng tôi cực kỳ cần những vở kịch tươi mới, chân thành, trung thực. Thứ Sáu tuần tới mời chị ăn trưa với tôi ở nhà hàng Red Baron được không? Chỗ này nhỏ bé và giản dị, nhưng họ làm món bít tết ngon lắm.

Thư Anna Wulf gửi Reginald Tarbrucke: Cảm ơn anh rất nhiều, nhưng tôi rất thật lòng khi nói ra điều hôm trước tôi đã nói. Nếu tôi tin rằng Những biên giới chiến tranh có thể chuyển thành một vở kịch truyền hình khiến tôi hài lòng thì thái độ của tôi đã khác. Nhưng chuyện là thế đấy. Thân mến.

Thư Reginald Tarbrucke gửi cô Wulf: Thật đáng tiếc là không có thêm nhà văn nào có được sự trung thực đầy cuốn hút như của chị! Tôi cũng hứa rằng nếu không phải đang tuyệt vọng tìm kiếm một tài năng sáng tạo thực sự thì tôi đã không viết thư cho chị. Truyền hình cần những tác phẩm ra trò! Hãy ăn trưa cùng tôi vào thứ Hai tuần tới ở lâu đài White Tower. Tôi nghĩ chúng ta cần thời gian cho một cuộc trò chuyện thực sự dài và yên tĩnh. Rất thân ái.

Ăn trưa với Reginald Tarbrucke, Tầm Nhìn Tổng Hợp, tại White Tower.

Hóa đơn: 6 bảng 15 shilling 7 xu.

Lúc mặc đồ đi ăn trưa, tôi nghĩ Molly sẽ thích thú với việc này đến thế nào - đóng một vai nào đó. Quyết định sẽ mặc như một “nữ nhà văn”. Tôi chọn một chiếc váy, hơi bị dài quá, và một chiếc áo sơ mi rộng thùng thình. Tôi mặc đồ và đeo thêm một chuỗi hạt hoa hòe hoa sói. Và đôi hoa tai dài làm từ san hô. Trông khá ăn nhập. Nhưng cảm thấy rất khó chịu - cứ như là tôi đang ở trong bộ da của một ai khác. Bực mình. Nghĩ về Molly chẳng giải quyết được gì cả. Đến phút cuối quyết định trở về là chính mình. Mất rất nhiều công sức. Ông Tarbrucke (hãy gọi tôi là Reggie) ngạc nhiên: anh ta nghĩ là sẽ gặp nữ nhà văn. Người Anh, trung niên, đẹp trai, mặt hiền. Vâng, thưa chị Wulf - tôi có thể gọi chị là Anna được không - hiện chị đang viết cuốn gì? “Tôi đang sống nhờ tiền nhuận bút của cuốn Những biên giới chiến tranh.” Trông hơi sốc - tôi nói với giọng của kẻ chỉ quan tâm đến tiền.

“Chắc là cuốn đấy thành công lắm nhỉ?” “Hai mươi lăm ngôn ngữ,” tôi nói một cách hững hờ. Nhăn nhó một cách hài hước - ghen tị. Tôi chuyển sang giọng một nghệ sĩ tận tâm và nói: “Tất nhiên rồi, tôi không muốn vội vã viết cuốn thứ hai. Cuốn tiểu thuyết thứ hai rất quan trọng, anh có nghĩ thế không?” Anh ta trở nên vui vẻ và thoải mái. “Đâu phải ai cũng thực hiện được cuốn thứ nhất, anh ta nói với một tiếng thở dài. “Hẳn là anh cũng viết văn?” “Chị thật thông minh!” Lúc này vẻ nhăn nhó hài hước lại tự động xuất hiện, kèm với ánh mắt bỡn cợt. “Trong ngăn kéo nhà tôi đang có một cuốn tiểu thuyết viết dở - nhưng cái nghề của tôi không cho người ta có nhiều thời gian mà viết lách. Đề tài này đã giúp chúng tôi đi qua món tôm càng và bữa chính. Tôi chờ cho đến lúc anh ta nói cái câu quen thuộc: “Và tất nhiên, người ta không ngừng chiến đấu để có thể đưa một thứ gì đó tạm chấp nhận được lọt qua các cửa. Tất nhiên là họ chẳng biết quái gì, mấy gã ở trển.” (Anh ta lúc này chỉ còn cách trển độ một gang tay.) “Chẳng biết cái khỉ gì luôn. Ngu ngốc hết sức. Đôi khi người ta tự hỏi mất công để làm gì?” Mứt mật ong trộn vừng và cà phê Thổ Nhĩ Kỳ. Anh ta châm một điếu xì gà, mua cho tôi mấy điếu thuốc lá. Chúng tôi chưa hề đề cập đến cuốn tiểu thuyết lôi cuốn của tôi. “Nói cho tôi biết đi Reggie, anh có đề xuất đưa cả nhóm đến Trung Phi để dựng Những biên giới chiến tranh không?” Gương mặt anh đanh lại một giây; rồi chuyển sang vẻ quyến rũ. “Ôi, thật vui khi chị hỏi tôi câu đấy, bởi vì tất nhiên đây chính là vấn đề.” “Phong cảnh đóng vai trò khá quan trọng trong cuốn tiểu thuyết đó?” “Ồ, tôi công nhận là quan trọng. Tuyệt vời. Chị cảm nhận về phong cảnh thật tốt. Thực sự là tôi có thể ngửi thấy hương vị của nơi đó, rất tuyệt vời.” “Anh sẽ cho dựng nó trong trường quay?” “Ồ, tất nhiên đấy chính là vấn đề, và là lý do tại sao tôi lại muốn bàn với chị về chuyện này. Anna, hãy cho tôi biết chị sẽ trả lời thế nào nếu được hỏi đâu là chủ đề trung tâm trong cuốn sách thú vị của chị? Nói một cách đơn giản thôi, dĩ nhiên, vì truyền hình bản chất là một phương tiện truyền thông đơn giản.” “Nó đơn giản là về vấn đề sắc tộc.” “Ồ, tôi cũng đồng ý như vậy, một thứ thật kinh khủng, tất nhiên là bản thân tôi chưa bao giờ trải nghiệm điều đó, nhưng khi đọc cuốn sách của chị - kinh khủng! Nhưng không biết là chị có hiểu ý tôi hay không - hy vọng là có. Những biên giới chiến tranh sẽ không thể nào bước vào…” (nhăn nhó bỡn cợt) “… chiếc hộp thần kỳ, đúng như cách nó đã được viết ra. Nó phải được đơn giản hóa, chỉ giữ nguyên vẹn cái lõi tuyệt vời của nó mà thôi. Vì vậy tôi không biết là chị sẽ nghĩ thế nào nếu như chuyển bối cảnh về nước Anh - khoan, chờ đã. Tôi không nghĩ rằng chị sẽ phản đối nếu tôi có thể cho chị thấy những gì tôi thấy - trọng tâm của truyền hình là hình ảnh, đúng không nào? Người ta có nhìn thấy hay không? Đấy luôn luôn là điểm trọng tâm và tôi có cảm giác rằng một số nhà văn của chúng ta có xu hướng quên đi điều đó. Bây giờ thì để tôi nói cho chị nghe tôi thấy những gì. Đây là một cơ sở huấn luyện không quân thời chiến. Ở Anh, bản thân tôi đã gia nhập không quân - Ồ, không phải là trong hàng ngũ những chàng trai mặc đồ xanh dương đâu, tôi chỉ là một anh cạo giấy thôi. Nhưng có lẽ đấy chính là lý do tại sao cuốn sách của chị lại hấp dẫn với tôi đến thế. Chị xây dựng được bầu không khí thật là hoàn hảo…” “Bầu không khí nào?” “Ôi trời ơi, chị thật là tuyệt vời, nghệ sĩ đích thực mới tuyệt vời làm sao, đến phân nửa là các vị không biết mình viết gì…” Tôi đột ngột nói, không chủ ý: “Có thể là chúng tôi biết, và không thích cái mình viết.” Anh ta cau mày, quyết định bỏ qua chuyện này và tiếp tục: “Cái sự chuẩn xác tuyệt vời ấy - nỗi tuyệt vọng từ tất cả những chuyện đó - sự phấn khích - từ đó đến giờ tôi chưa bao giờ cảm thấy mình lại được sống đúng là sống như thế… Ôi, vấn đề tôi muốn đề nghị là thế này. Chúng tôi sẽ giữ lại cốt lõi của cuốn sách, bởi vì điều đó cực kỳ quan trọng, tôi đồng ý. Cơ sở không quân. Một phi công trẻ. Chàng đem lòng yêu một cô thôn nữ địa phương. Bố mẹ chàng phản đối - lý do giai cấp, chị biết đấy, lạy Chúa chuyện đó vẫn còn tồn tại trong đất nước này. Đôi tình nhân phải chia tay. Và cuối cùng, chúng ta có cái cảnh tuyệt vời này trên sân ga - chàng trai ra đi, và chúng ta biết rằng chàng sẽ bị giết. Khoan, hãy cứ suy nghĩ về điều đó đi, chỉ một lát thôi - chị thấy thế nào?”

“Anh muốn tôi viết một kịch bản mới hoàn toàn?”

“Ôi vừa đúng vừa sai. Về cơ bản, câu chuyện của chị là một chuyện tình đơn giản. Vâng đúng vậy. Vấn đề màu da là chuyện thực sự - vâng tôi biết nó thực sự quan trọng, và tôi không thể nào đồng ý hơn với chị được, toàn bộ chuyện ấy quá đỗi ghê tởm, những câu chuyện của chị thực sự là một chuyện tình đơn giản khiến người đọc xúc động. Tất cả những thứ cần có đều ở đó, tin tôi đi, giống như một phiên bản khác của Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi(1). Tôi thực sự hy vọng chị nhìn thấy điều đó rõ ràng như tôi - chị phải nhớ rằng truyền hình chỉ là vấn đề cách nhìn mà thôi.” “Rất rõ, nhưng hẳn là ta có thể quẳng cuốn Những biên giới chiến tranh đi và bắt đầu lại từ đầu?” “Không hẳn là vậy, bởi vì cuốn sách đã quá nổi tiếng và quá hấp dẫn, và tôi muốn giữ cái tiêu đề đó, bởi vì Biên giới ở đây hẳn không phải là về phương diện địa lý? Về mặt bản chất thì không phải? Tôi không thấy như thế. Tôi nghĩ đấy là biên giới của sự trải nghiệm.” “Vâng, hay tốt hơn hết là anh nên viết cho tôi một lá thư mô tả các yêu cầu của anh về một kịch bản mới dành cho truyền hình?” “Nhưng đấy đâu hoàn toàn là một kịch bản mới.” (Hấp háy bỡn cợt.) “Anh có nghĩ rằng những ai đã từng đọc cuốn sách sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi thấy nó trở thành một dạng Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi dưới cánh máy bay không?” (Nhăn nhó bỡn cợt.) “Nhưng mà chị Anna thân mến ơi, không, họ chẳng ngạc nhiên với bất cứ điều gì cả, ngạc nhiên thế nào được với chiếc hộp thần kỳ chứ?” “Chậc, cảm ơn anh vì bữa trưa thú vị.” “Ồ, chị Anna thân mến, chị nói rất đúng, rất rất đúng. Nhưng rõ ràng là với trí tuệ của mình, chị phải hiểu rằng chúng tôi không thể triển khai nó ở Trung Phi được, đơn giản là mấy gã ở trển không cho chúng tôi nhiều tiền đến thế.” “Không, tất nhiên là không - nhưng tôi nghĩ tôi đã nói điều tương tự như vậy trong thư gửi anh.” “Nếu chuyển thể thành phim thì sẽ tuyệt lắm. Chị nói đi, chị có muốn tôi nói chuyện với một người bạn trong lĩnh vực phim không?” “Chậc, tôi đã trải qua tất cả những công đoạn đó.” “Ôi trời ơi, tôi biết mà, tôi biết mà. Chà vậy thì chắc là tất cả những gì chúng ta có thể làm là tiếp tục bì bõm tiếp thôi. Tôi biết đôi khi đêm đến về nhà và nhìn lên bàn - cả tá cuốn sách cần phải đọc để kiếm ra một câu chuyện khả dĩ, hàng trăm kịch bản, còn cuốn tiểu thuyết dở dang tội nghiệp của tôi thì đang nằm trong ngăn kéo và hàng tháng trời tôi không có thời gian để ngó ngàng gì đến nó - tôi tự an ủi mình với suy nghĩ là đôi khi tôi cũng đưa được cái gì đấy tươi mới và chân thực qua các cửa - xin hãy suy nghĩ về đề nghị của tôi đối với Những biên giới chiến tranh, tôi thực lòng tin rằng nó sẽ thành công.” Chúng tôi chuẩn bị ra về. Hai người phục vụ cúi chào. Reginald lấy áo khoác, thả đồng xu vào tay người giữ đồ với một nụ cười he hé, gần như là hối lỗi. Chúng tôi bước trên vỉa hè. Tôi rất thất vọng với bản thân: mình làm chuyện này để được cái gì cơ chứ? Bởi vì ngay từ lá thư đầu tiên của Tầm Nhìn Tổng Hợp tôi đã biết đích xác điều gì sẽ xảy ra; ngoại trừ việc họ luôn tệ hơn một mức so với những gì ta nghĩ, những con người này. Nhưng nếu đã biết vậy thì sao còn phải dính dáng đến họ? Chỉ để chứng minh thôi ư? Cảm giác tự ghê tởm trong tôi bắt đầu biến thành một cảm xúc khác mà tôi nhận ra khá rõ - một cơn hoảng loạn nhỏ. Tôi biết khá rõ rằng chỉ trong giây lát nữa thôi là tôi sẽ nói một điều gì đó lầm lạc, thô lỗ, trách cứ người khác, hoặc trách cứ chính mình. Trong một thoáng, tôi biết tôi phải hoặc là tự kiềm chế mình, hoặc là sẽ bị đẩy vào một bài nói không thể ngừng được. Chúng tôi đang ở trên vỉa hè, và anh ta muốn thoát khỏi tôi. Rồi chúng tôi bước về phía ga tàu điện ngầm phố Tottenham Court. Tôi nói: “Reggie, anh có biết tôi thực sự muốn làm gì với Những biên giới chiến tranh không?” “Chị thân mến ơi, nói tôi nghe xem nào.” (Tuy nhiên anh ta lại bất giác cau mày.) “Tôi muốn chuyển thể thành hài kịch.” Anh ta đứng lại, ngạc nhiên. Đi tiếp. “Hài kịch ư?” Anh ta liếc nhanh sang tôi, để lộ toàn bộ cảm giác ghét bỏ dành cho tôi trong thâm tâm. Sau đó anh ta nói: “Nhưng chị thân mến ạ, cái nét tráng lệ, cái bi kịch đơn giản của nó quá đỗi tuyệt vời. Thậm chí tôi còn không nhớ nổi có một cảnh hài hước nào nữa.” “Anh có nhớ đến sự hào hứng mà anh đã từng nói tới không? Cái mạch đập chiến tranh ấy?” “Chị thân mến, có chứ, rất nhớ là đằng khác.” “Vâng, tôi đồng ý với anh rằng nội dung cuốn sách chính là thế.” Ngừng một lát. Gương mặt điển trai quyến rũ sắt lại: trông anh ta có vẻ thận trọng và đề phòng. Giọng tôi nghiêm khắc, giận dữ và đầy ghê tởm. Ghê tởm chính mình. “Bây giờ thì chị phải nói cho tôi biết chính xác ý chị là gì.” Chúng tôi đã đến lối xuống ga tàu điện ngầm, Đông nghẹt người. Người bán báo không có khuôn mặt. Không có mũi, nói đúng hơn là vậy, miệng ông ta là một cái lỗ răng thỏ, đôi mắt ông ta sâu hoắm vào thành một cái mô sẹo. “Nào, hãy nói về câu chuyện của anh đã,” tôi nói. “Phi công trẻ, hào hoa, đẹp trai, bất cần. Thôn nữ, cô con gái xinh đẹp của tay săn trộm người địa phương. Nước Anh thời chiến. Căn cứ huấn luyện phi công. Giờ thì. Anh còn nhớ cái cảnh phim mà cả hai chúng ta đều đã xem hàng ngàn lần trên phim ảnh - phi đội máy bay cất cánh trên bầu trời nước Đức. Cảnh bừa bãi trong phòng ở phi công - hình các cô gái xinh đẹp, xinh đẹp chứ không phải gợi cảm, để tránh cho người xem nghĩ rằng các chàng trai của chúng ta mang trong mình những ham muốn đen tối. Một cậu thanh niên đẹp trai đọc thư của mẹ. Cúp thể thao trên bệ lò sưởi.” Ngừng lại. “Chị thân mến, đúng vậy, tôi đồng ý với chị là chúng ta dùng kiểu phim đó kha khá nhiều.” “Những chiếc máy bay hạ cánh. Hai chiếc mất tích. Từng nhóm người đứng chờ đợi, mắt nhìn bầu trời. Một sợi cơ căng lên ở cổ. Cảnh phòng ngủ của đám phi công. Giường trống. Một chàng trai bước vào. Anh không nói gì. Anh ngồi lên giường mình và nhìn chiếc giường trống. Một sợi cơ căng lên ở cổ. Rồi anh bước tới chiếc giường trống. Trên giường có một chú gấu bông. Anh cầm chú gấu lên. Một sợi cơ căng lên ở cổ. Cảnh máy bay bốc cháy. Quay lại cảnh chàng trai cầm gấu bông, mắt nhìn tập ảnh một cô gái xinh đẹp - không, không phải cô gái, tốt hơn hết là một chú chó bun. Quay lại cảnh chiếc máy bay bốc cháy và quốc thiều.” Im lặng. Người bán báo mặt thỏ và không có mũi đang rao to: “Chiến sự ở Kim Môn. Chiến sự ở Kim Môn.” Reggie nghĩ mình đã hiểu lầm, vì vậy anh ta mỉm cười và nói: “Nhưng Anna ơi, chị dùng từ hài kịch mà.” “Anh đủ nhạy bén để thấy thực ra cuốn sách nói về cái gì - nỗi hoài nhớ về cái chết.” Anh ta cau mày, và lần này trán anh ta không dãn ra nữa. “Ồ, tôi thấy xấu hổ và tôi muốn sửa chữa - hãy dựng một vở hài kịch về chủ nghĩa anh hùng vô dụng. Hãy nhại lại cái câu chuyện khốn kiếp về hai mươi lăm chàng trai trẻ đang trong thời rực rỡ nhất của tuổi thanh xuân v.v. và v.v. ra đi và gục ngã, để lại sau lưng một đống hoang tàn những gấu bông, cúp bóng đá, và một người phụ nữ đứng ở cổng, đôi mắt kiên cường nhìn lên bầu trời nơi có một phi đội nữa đang trên đường sang nước Đức. Một thớ cơ căng lên ở cổ chị. Thế nào?” Người bán báo rao to: “Chiến sự ở Kim Môn,” và đột nhiên tôi có cảm giác như mình đang đứng giữa một cảnh kịch nhằm giễu nhại một cái gì đó. Tôi bật lên cười lớn. Tiếng cười kích động. Reggie nhìn tôi, cau mày và ghét bỏ. Cái miệng của anh ta, trước đó vô cùng sống động trong cái vẻ đồng lõa và nhu cầu muốn được yêu quý, bây giờ lại ranh ma và có đôi chút cay đắng. Tôi ngừng cười, và những tiếng cười, những lời nói như bị ma xui quỷ khiến bỗng nhiên biến mất, và tôi minh mẫn trở lại. Anh ta nói: “Ôi, chị Anna, tôi đồng ý với chị, nhưng tôi phải giữ lấy chỗ kiếm cơm chứ. Cái ý tưởng hài hước đó rất tuyệt vời, nhưng đây là phim ảnh, không phải truyền hình. Vâng, tôi có thể thấy bộ phim ấy.” (Anh ta đang đưa mình trở lại trạng thái bình thường bằng lời nói, bởi vì tôi đã bình thường trở lại.) “Tất nhiên là sẽ rất tàn khốc. Tôi không biết mọi người sẽ đón nhận nó thế nào?” (Cái miệng anh ta lại chúm lại, gợi vẻ quyến rũ bỡn cợt. Anh ta liếc nhìn tôi - anh ta không thể nào tin được rằng giữa chúng tôi đã trải qua một khoảnh khắc thuần túy thù ghét. Tôi cũng vậy.) “Biết đâu lại sẽ thành công? Dù sao đi nữa thì chiến tranh cũng đã kết thúc được mười năm rồi - nhưng nó đơn giản là không dành cho truyền hình. Đây là một phương tiện truyền thông đơn giản. Và công chúng của nó - tôi không phải nói nữa nhỉ, không thông minh gì cho cam. Chúng ta phải nhớ điều đó.” Tôi mua một tờ báo có dòng tiêu đề: Chiến sự ở Kim Môn. Tôi nói, giọng bình thường: “Đây sẽ là một địa điểm nữa chúng ta biết đến chỉ vì ở đó có chiến tranh.” “Chị thân mến, đúng vậy, kinh khủng quá phải không, khi mà chúng ta ai nấy đều dốt nát như vậy.” “Nhưng tôi đang bắt anh đứng đây, chắc anh đang muốn quay trở lại văn phòng.” “Thực tế thì tôi cũng đã khá trễ rồi - tạm biệt chị Anna nhé, thật vui khi được gặp chị.” “Tạm biệt Reggie, và cảm ơn anh vì đã mời tôi một bữa trưa thật tuyệt vời.” Về nhà, tôi rơi vào cơn chán nản, và sau đó là cảm giác giận dữ tự ghê tởm. Nhưng thời điểm duy nhất trong cuộc gặp khiến tôi không cảm thấy xấu hổ là lúc tôi trở nên kích động và ngu ngốc. Tôi không được trả lời thêm lời mời nào của các hãng truyền hình và làm phim nữa. Để làm gì? Tất cả kết quả chỉ là nói với chính mình: Mày đã đúng khi quyết định không viết nữa. Việc này nhục nhã và xấu xí đến mức mày nên tránh xa nó đi. Nhưng kiểu gì tôi cũng biết điều đó, vậy thì tại sao lại cứ tiếp tục thọc dao vào?

Thư của bà Edwina Wright, đại diện của chương trình Kịch Truyền Hình Một Giờ “Blue Bird”, Mỹ. Chị Wulf thân mến: Bằng cặp mắt chim ưng, tôi đã tìm kiếm các vở kịch được yêu thích lâu dài để đưa lên màn ảnh, thật vui sướng vô cùng khi tiểu thuyết Những biên giới chiến tranh của chị đã lọt vào tầm mắt của chúng tôi. Tôi viết thư này với hy vọng chúng ta có thể hợp tác với nhau trong nhiều dự án có lợi cho cả hai bên. Tôi sẽ ghé London ba ngày nhân chuyến đi Rome và Paris, vì vậy hy vọng chị sẽ gọi đến khách sạn Black cho tôi và chúng ta sẽ gặp nhau uống một chút gì đó. Tôi gửi kèm đây tập tài liệu mà chúng tôi đã soạn ra để hướng dẫn cho các tác giả. Thân ái.

Tập tài liệu dày chín trang rưỡi. Mở đầu: “Năm nào chúng tôi cũng nhận được hàng trăm kịch bản. Nhiều kịch bản thể hiện một sự nhạy bén nhất định đối với phương tiện truyền thông này, nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu của chúng tôi do không nắm được những đòi hỏi cấp bách cơ bản trong nhu cầu của chúng tôi. Mỗi tuần chúng tôi chiếu một vở kịch một giờ, vân vân, vân vân, và vân vân. Khoản (a) ghi: Tính chất của chương trình Blue Bird rất đa dạng. Không cấm đoán gì về mặt chủ đề! Chúng tôi muốn có những câu chuyện mạo hiểm, lãng mạn, du ngoạn, những câu chuyện về trải nghiệm ở nước ngoài, đời sống trong nước, đời sống gia đình, quan hệ cha mẹ-con cái, kịch thần tiên, hài kịch, bi kịch. Blue Bird không từ chối bất cứ vở kịch nào tóm được những trải nghiệm có thật một cách chân thành và có thực, bất cứ loại gì.” Khoản (y) ghi: “Mỗi tuần, có chín triệu người Mỹ thuộc mọi lứa tuổi theo dõi chương trình Blue Bird. Blue Bird mang những kịch bản về những cảnh sống chân thực cho những người bình thường, đàn ông phụ nữ cũng như trẻ em. Blue Bird cho rằng công chúng đã trao cho chúng tôi niềm tin và nghĩa vụ này. Vì lý do này mà các tác gia của Blue Bird phải ghi nhớ trách nhiệm của mình gắn liền với trách nhiệm của Blue Bird: Blue Bird không nhận những kịch bản về đề tài tôn giáo, sắc tộc, chính trị, hoặc tình dục ngoài hôn nhân.

“Chúng tôi mong mỏi được đọc kịch bản của bạn.

Thư cô Anna Wulf gửi bà Edwina Wright. Chị Wright thân mến: Cảm ơn chị vì đã viết cho tôi một bức thư đưa tôi lên mây xanh. Tuy nhiên, sau khi đọc tài liệu hướng dẫn dành cho các tác gia, tôi thấy rằng chị không thích những vở kịch động chạm đến sắc tộc hay tình dục ngoài hôn nhân. Những biên giới chiến tranh chứa đựng cả hai. Vì vậy, tôi nhận thấy không ích lợi gì nếu như chúng ta tiếp tục thảo luận về khả năng chuyển thể cuốn tiểu thuyết này cho phù hợp với chương trình của chị. Thân ái.

Bà Edwina Wright gửi cô Wulf: Một bức điện. Cảm ơn chị rất nhiều vì đã nhanh chóng gửi cho tôi một bức thư đầy trách nhiệm chấm Tám giờ tối mai mời chị ăn tối cùng tôi tại khách sạn Black chấm điện trả lời đã được trả tiền trước.

Ăn tối với bà Wright ở khách sạn Black. Hóa đơn: 11 bảng 4 shilling 6 xu.

Edwina Wright, bốn lăm đến năm mươi tuổi, từ trên xuống dưới toàn trắng và hồng, mập mạp, mái tóc bạc màu thép, quăn và bóng; mí mắt màu xám xanh óng ánh; đôi môi hồng bóng, móng tay bóng màu hồng nhạt. Một bộ vest màu xanh nhạt, rất đắt tiền. Một người phụ nữ lắm tiền. Trò chuyện cởi mở vui vẻ bên ly Martini. Chị uống ba. Tôi, hai. Chị nuốt ừng ực, chị thực sự phải uống. Chị dẫn dắt câu chuyện đến các nhân vật trong giới văn chương Anh, để xem tôi quen biết những ai. Hầu như tôi chẳng biết ai cả. Cố gắng tìm cách nhận diện tôi. Cuối cùng, chị cũng biết nên xếp tôi vào loại nào, mỉm cười và nói: “Một trong những người bạn thân nhất của tôi…” (nhắc đến một nhà văn người Mỹ) “… luôn bảo rằng anh ấy ghét các… nhà văn khác. Tôi nghĩ anh ấy có một tương lai thú vị.” Chúng tôi bước vào phòng ăn. Ấm áp, tiện nghi, kín đáo. Lúc ngồi xuống, chị nhìn quanh, mất cảnh giác trong chốc lát: đôi mí mắt nhăn nheo được tô đậm của chị nheo lại, cái miệng hồng của chị hơi hé ra - chị đang tìm kiếm một người hay một vật nào đó. Rồi chị trở lại với vẻ buồn bã, tiếc nuối, một cảm xúc chắc là phải thành thực, bởi vì lời chị nói thể hiện điều đó: “Tôi yêu nước Anh. Tôi thích đến Anh. Tôi tìm đủ mọi lý do để được phái sang đây.” Tôi không biết đối với chị thì cái khách sạn này có phải là “nước Anh” hay không; nhưng trông chị có vẻ đủ sắc sảo và thông minh để không nghĩ thế. Chị hỏi tôi có muốn một ly Martini nữa không, tôi định từ chối nhưng thấy chị muốn thêm một ly, tôi đáp có. Dạ dày tôi bắt đầu căng thẳng, sau đó tôi thấy nó là sự căng thẳng ở chị, đang truyền qua tôi. Tôi nhìn gương mặt xinh đẹp kiềm chế, đề phòng và thấy tiếc cho chị. Tôi hiểu rất rõ về cuộc đời chị. Chị gọi bữa tối - chị rất quan tâm tới người đối diện mình và lịch thiệp. Giống như được đàn ông mời đi vậy. Nhưng chị lại không giống đàn ông chút nào, chỉ là chị đã quen kiểm soát các tình huống như thế này. Tôi có thể cảm nhận được rằng vai trò này không phải tự nhiên mà chị có, và để đóng nó chị phải trả cái giá thế nào. Trong khi chờ mang món dưa ra, chị châm một điếu thuốc. Chị ngồi xuống, mí mắt hạ thấp, điếu thuốc đu đưa, dò xét căn phòng một lần nữa. Gương mặt chị sáng lên nhẹ nhõm nhưng ngay lập tức giấu đi, sau đó chị gật đầu và mỉm cười với một người Mỹ vừa bước vào, ngồi xuống và gọi bữa tối một mình trong một góc phòng. Anh ta huơ tay chào lại chị, chị mỉm cười, làn khói uốn éo bay lên qua mắt chị. Chị quay lại với tôi, cố gắng tập trung vào tôi. Dường như chị bỗng trở nên già hẳn đi. Tôi rất thích chị. Tôi nhìn thấy rõ đêm hôm đó chị sẽ ở trong phòng và mặc một món gì đó cực kỳ nữ tính. Vâng, tôi nhìn thấy vải the hoa, một cái gì đó đại loại như thế… vâng, do căng thẳng khi phải đóng vai này trong thời gian làm việc. Và thậm chí chị sẽ ngắm những dải đăng ten the và bình luận đôi câu đùa cợt với chính mình. Nhưng chị đang chờ đợi. Rồi có tiếng gõ kín đáo lên cánh cửa. Chị mở cửa, miệng nói đùa. Cả hai người đều đã trở nên mờ mịt và đáng mến nhờ rượu. Một ly nữa. Rồi một cuộc làm tình hờ hững, chậm rãi. Ở New York, họ sẽ gặp nhau ở một buổi tiệc và châm biếm lẫn nhau. Lúc này chị đang ăn miếng dưa một cách phán xét: cuối cùng nhận xét rằng thức ăn ở Anh ngon hơn. Chị kể chuyện định bỏ việc về sống ở nông thôn tại New England và viết tiểu thuyết. (Không bao giờ nhắc đến chồng.) Tôi nhận thấy rằng cả hai chúng tôi không ai có nhu cầu nói về Những biên giới chiến tranh. Chị đã đưa ra được nhận định về con người tôi, chẳng ghét bỏ cũng chẳng bằng lòng, chị đã thử liều một phen; bữa tối hôm nay là một cuộc làm ăn thất bại, nhưng cái nghề này là vậy. Một chút nữa chị sẽ nói bằng giọng nhã nhặn nhưng qua loa về cuốn sách của tôi. Chúng tôi đang uống một chai vang đỏ burgundy khá mạnh và ngon: thịt bò, nấm, cần tây. Một lần nữa chị lại nói thức ăn của chúng tôi có vị ngon hơn, nhưng thêm rằng chúng tôi cần phải học cách nấu. Bây giờ thì nhờ rượu tôi cũng đã trở nên dễ tính như chị, nhưng trong dạ dày tôi, cơn căng thẳng vẫn lúc một thắt chặt - cơn căng thẳng của chị. Chị không ngừng liếc nhìn tay người Mỹ ở góc phòng. Bỗng nhiên tôi nhận ra rằng nếu không cẩn thận, tôi sẽ nói những lời kích động tương tự như cách đây vài tuần khi tôi tung ra cái màn giễu nhại buồn cười với Reginald Tarbrucke. Tôi quyết định sẽ cẩn thận, tôi rất thích chị nên không muốn làm thế. Và chị làm tôi thấy sợ. “Anna này, tôi rất thích cuốn sách của chị.” “Vui quá, cảm ơn chị.” “Ở nhà, chúng tôi đang thực sự quan tâm đến châu Phi, đến các vấn đề của châu Phi.” Tôi toét miệng cười nói: “Nhưng trong cuốn sách chuyện sắc tộc đấy.” Chị toét miệng cười, tỏ ý biết ơn vì điệu cười của tôi và nói: “Nhưng thường thì vấn đề là ở mức độ thế nào. Chậc, trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời đó, chị cho chàng phi công trẻ và cô gái da đen ngủ với nhau. Sao, thế chị có cho rằng đó là điều quan trọng không? Chị có cho rằng việc họ làm tình với nhau là yếu tố sống còn đối với câu chuyện không?” “Không, tôi không cho là vậy.” Chị ngần ngừ. Đôi mắt mệt mỏi và cực kỳ sắc sảo của chị ánh lên một tia thất vọng. Chị đã hy vọng rằng tôi không thỏa hiệp, mặc dù công việc của chị là khiến cho tôi thỏa hiệp. Lúc này tôi nhận thấy, đối với chị tình dục chính là mục đích của cuốn sách. Chị thay đổi thái độ rất khó thấy: chị đang đối mặt với một nhà văn sẵn sàng hy sinh phẩm giá của mình để đưa câu chuyện lên truyền hình. Tôi nói: “Nhưng cho dù họ có yêu nhau bằng tình yêu trong sáng nhất có thể đi nữa thì chắc là câu chuyện của họ không vi phạm điều khoản của chị hay không?” “Vấn đề là người ta xử lý nó như thế nào thôi.” Tôi nhận ra rằng đến thời điểm này cái kế hoạch chuyển thể hoàn toàn có thể bị vứt bỏ. Do thái độ của tôi? Không; do chị lo lắng về tay người Mỹ ngồi một mình trong góc. Hai lần tôi thấy anh ta nhìn chị, tôi nghĩ chị lo lắng là đúng. Anh ta đang đấu tranh xem nên bước qua bên này, hay là bỏ đi đâu đó một mình. Nhưng dường như anh ta thích chị lắm. Người phục vụ dọn sạch đám đĩa của chúng tôi. Tôi đã làm chị vừa lòng khi nói rằng tôi muốn uống cà phê, nhưng không muốn dùng tráng miệng: trong suốt chuyến đi này, chị hẹn dùng bữa với đối tác hai lần một ngày, và chị cảm thấy nhẹ nhõm vì chúng tôi bớt đi được một món. Chị liếc một cái nữa sang người đồng hương cô đơn, lúc này đang không cho thấy dấu hiệu nào là anh ta sẽ đi cả, và quyết định quay trở lại với công việc. “Khi đang cân nhắc về việc sử dụng câu chuyện thực sự tuyệt vời của chị, trong đầu tôi nảy ra ý là nó sẽ trở thành một vở nhạc kịch tuyệt vời - một thông điệp nghiêm túc trong một vở nhạc kịch sẽ dễ nuốt trôi hơn một vở kịch bình thường.” “Một vở nhạc kịch lấy bối cảnh ở Trung Phi?” “Thứ nhất, vì nó là nhạc kịch nên sẽ giải quyết được vấn đề bối cảnh. Bối cảnh của chị rất đẹp, nhưng không hợp với truyền hình.” “Ý chị là cách điệu phong cảnh của châu Phi?” “Đúng thế, ý tưởng là vậy. Và một câu chuyện rất đơn giản. Chàng phi công trẻ tuổi người Anh đang đi huấn luyện ở Trung Phi. Chàng gặp cô gái da đen xinh đẹp tại một bữa tiệc. Chàng cô đơn. Nàng đối xử tốt với chàng. Chàng gặp người nhà của nàng.” “Nhưng không thể có chuyện anh ta lại gặp một cô gái da đen trẻ trung tại một bữa tiệc ở những vùng như thế. Trừ phi được đặt vào bối cảnh chính trị - một nhóm nhỏ người cố gắng phá vỡ rào cản màu da. Hẳn là chị không muốn một vở nhạc kịch chính trị?” “Ồ, nhưng tôi không nhận ra… giả sử như chàng trai bị tai nạn trên đường phố, còn nàng thì cứu chàng và đưa chàng về nhà mình?” “Cô ấy không thể đưa anh ta về nhà mà không vi phạm đến cả chục điều luật khác nhau. Còn nếu lén lút đưa anh ta vào thì sẽ tạo ra không khí tuyệt vọng và sợ sệt, không phù hợp với nhạc kịch chút nào.” “Chị có thể rất, rất nghiêm túc trong một vở nhạc kịch,” chị nói, giọng trách móc nhưng chỉ để lấy lệ. “Chúng ta có thể sử dụng các bài hát và điệu múa bản địa. Âm nhạc Trung Phi sẽ rất mới mẻ với khán giả của chúng ta.” “Vào thời điểm xảy ra câu chuyện, người châu Phi đang nghe nhạc jazz của châu Mỹ. Họ vẫn chưa phát triển các loại hình của riêng mình.” Bây giờ, cái nhìn của chị dành cho tôi như muốn nói: Chị chỉ cố tình gây khó khăn thôi. Chị bỏ qua đề xuất nhạc kịch và nói: “Chậc, nếu chúng tôi mua bản quyền với ý tưởng xây dựng một vở kịch bình thường, tôi nghĩ rằng cần phải thay đổi bối cảnh. Tôi đề nghị chuyển thành một căn cứ quân sự ở Anh. Căn cứ quân sự của Mỹ. Một chàng lính Mỹ yêu một cô gái Anh.” “Một chàng lính Mỹ người da đen?” Chị ngần ngừ. “Chậc, như vậy khó phết. Bởi vì dù sao đi nữa thì về cơ bản đây cũng là một câu chuyện tình yêu rất đơn giản. Tôi cực, cực kỳ hâm mộ phim chiến tranh của Anh. Các bạn dựng được những bộ phim chiến tranh mới tuyệt vời làm sao - không hề bị thái quá. Các bạn thật là khéo léo. Kiểu cảm giác đó, chúng tôi nên hướng tới. Và không khí chiến tranh - không khí của Trận chiến nước Anh, sau đó là một chuyện tình đơn giản, một chàng trai nước tôi với một cô gái nước chị.” “Nhưng nếu là chàng lính Mỹ da đen thì chị có thể sử dụng toàn bộ âm nhạc dân gian bản địa đậm chất miền cực Nam nước chị?” “Chậc, vâng. Nhưng chị biết như vậy sẽ không mới mẻ đối với khán giả của chúng tôi.” “À tôi nghĩ ra rồi,” tôi đáp. “Một dàn hợp xướng gồm các chàng lính Mỹ da đen, trong một làng quê nước Anh thời chiến, với một dàn hợp xướng nữa gồm các cô gái Anh tươi mới trẻ trung với những vũ điệu dân gian bản địa của nông thôn nước Anh.” Tôi toét miệng cười với chị. Chị cau mày. Sau đó cũng cười. Rồi chúng tôi nhìn nhau và chị phì cười. Chị lại cười lớn. Sau đó chị tự kiềm chế và ngồi đó, cau mày lại. Và cứ như tràng cười nổi loạn vừa rồi chưa hề tồn tại, chị hít một hơi thở sâu và bắt đầu: “Tất nhiên chỉ là nghệ sĩ, và là nghệ sĩ giỏi, được gặp gỡ và trò chuyện với chị là cả một đặc ân, và từ trong sâu thẳm chị không muốn tác phẩm của mình bị thay đổi dù chỉ một chút, một điều hết sức tự nhiên. Nhưng chị phải để tôi nói cho nghe điều này, quá mất kiên nhẫn đối với truyền hình là sai lầm. Đây là loại hình nghệ thuật của tương lai - tôi nhìn nhận như thế, và đấy là lý do tại sao tôi lại cảm thấy vinh hạnh được làm việc với nó và vì nó.” Chị ngừng lại: tay người Mỹ ngồi một mình đang nhìn quanh tìm phục vụ - nhưng không, anh ta muốn gọi thêm cà phê. Chị hướng sự chú ý lại phía tôi và tiếp tục: “Nghệ thuật, như lời một người rất, rất vĩ đại đã từng nói, là vấn đề kiên nhẫn. Nếu chị muốn suy nghĩ về những gì chúng ta vừa thảo luận rồi viết cho tôi - hoặc biết đâu chị lại muốn thử viết cho chúng tôi một kịch bản về một chủ đề khác? Tất nhiên chúng tôi không thể đặt hàng một nghệ sĩ chưa có kinh nghiệm về truyền hình, nhưng chúng tôi sẽ rất vui lòng tư vấn và giúp đỡ chị trong khả năng của mình.” “Cảm ơn chị.” “Chị có nghĩ đến việc sang Mỹ không? Tôi sẽ rất vui nếu chị gọi điện cho tôi và chúng ta sẽ thảo luận về bất cứ ý tưởng nào mà chị nghĩ ra?” Tôi lưỡng lự. Tôi gần như đã ngăn bản thân lại. Nhưng rồi tôi biết rằng không thể ngăn được chính mình. Tôi đáp: “Tôi vô cùng muốn sang thăm nước chị, nhưng lạy Chúa, người ta sẽ không cho tôi vào đâu, tôi là cộng sản.” Ánh mắt chị bỗng dán chặt vào mặt tôi, mở to, xanh dương và thảng thốt. Đồng thời với đó là một động tác không chủ tâm - bắt đầu đẩy lùi ghế ra sau và bước đi. Hơi thở của chị gấp gáp. Trước mặt tôi là một người đang sợ. Chưa gì tôi đã thấy ân hận và xấu hổ. Tôi nói ra điều đó vì rất nhiều lý do khác nhau, trong đó lý do đầu tiên hơi trẻ con: tôi muốn làm chị choáng váng. Thứ hai, cũng trẻ con không kém, một cảm giác rằng tôi phải nói ra - để nhỡ về sau lại có người nói: Tất nhiên chị ấy là cộng sản, người phụ nữ này sẽ thấy như là tôi đang che giấu điều đó. Thứ ba, tôi muốn xem điều gì sẽ xảy ra. Chị ngồi đối diện tôi, thở gấp, đôi mắt bất định, đôi môi hồng, lúc này đã phai màu, há ra, chị đang nghĩ: lần sau mình phải cẩn thận dò hỏi trước thông tin mới được. Chị đang tự coi mình là nạn nhân - sáng hôm đó tôi có đọc nhanh một số bài cắt ra từ báo chí của Mỹ về vụ hàng chục người bị đuổi việc, bị các ủy ban điều tra hoạt động phản nước Mỹ hành lên hành xuống, vân vân. Chị nói không ra hơi: “Tất nhiên ở Anh thì mọi việc khá là khác, tôi nhận ra rồi…” Tấm mặt nạ sành đời của chị vỡ đôi, và chị thốt lên: “Nhưng Chúa ơi, chẳng đời nào tôi có thể đoán ra rằng…” Điều này có nghĩa là: Tôi thích chị, thế thì làm sao chị là cộng sản được? Bỗng nhiên chuyện này làm tôi phát cáu, cái tính địa phương của nó, và khiến cho tôi cảm thấy tương tự như vẫn thấy trong những trường hợp như thế này: Tốt nhất là nên làm cộng sản, và gần như là bằng mọi giá, tốt nhất là người ta nên tiếp cận chứ đừng đoạn tuyệt với thực tại đến mức có thể đưa ra một nhận xét ngớ ngẩn đến thế. Lúc này cả hai chúng tôi đều bỗng dưng phát cáu. Chị quay đi không nhìn tôi, bình tâm lại. Còn tôi thì nghĩ về cái đêm mà tôi trò chuyện với tay nhà văn người Nga cách đây hai năm. Chúng tôi cùng sử dụng một thứ ngôn ngữ - ngôn ngữ cộng sản. Nhưng kinh nghiệm của chúng tôi khác nhau nhiều đến nỗi mỗi cụm từ người này dùng đều mang một ý nghĩa khác với người kia. Một cảm giác hoàn toàn phi thực tại choán lấy tôi, và cuối cùng, đến lúc đêm muộn, hay nói chính xác hơn là vào lúc sáng sớm, tôi đã phiên dịch một trong những điều mà tôi đã nói, dùng đến thứ thuật ngữ an toàn phi thực, thành một việc đã thực sự xảy ra - tôi kế cho anh ta nghe về Jan, từng bị tra tấn trong nhà tù ở Moscow. Và cũng y hệt như vừa rồi, mắt anh ta nhìn xoáy vào mặt tôi với vẻ sợ hãi, và vô tình làm một động tác tránh xa, như muốn trốn chạy - tôi đang nói về một vấn đề mà nếu như nói ở đất nước anh thì sẽ bị tống vào tù. Trên thực tế, chúng tôi sử dụng những thuật ngữ từ thứ triết học chung này làm một cách che giấu sự thật. Sự thật là chúng tôi chẳng có điểm nào giống nhau, ngoại trừ cái mác cộng sản. Và bây giờ với người phụ nữ người Mỹ này - chúng tôi có thể sử dụng ngôn ngữ dân chủ cả đêm, nhưng sẽ là kể về các trải nghiệm khác nhau. Chúng tôi ngồi đó, chị và tôi, nhớ lại rằng chúng tôi thích nhau trên cương vị phụ nữ. Nhưng chẳng có gì để nói cả: cũng như sau cái giây phút ấy với tay nhà văn người Nga, chúng tôi chẳng có gì hơn để nói. Cuối cùng chị lên tiếng: “Chậc, cô gái ơi, chưa bao giờ tôi ngạc nhiên đến thế. Chẳng qua là tôi không thể hiểu nổi.” Lần này là một lời buộc tội, và tôi lại phát cáu. Thậm chí chị còn tiếp tục nói: “Tất nhiên là tôi ngưỡng mộ sự thành thật của chị.” Và tôi nghĩ: Ừ nếu bây giờ mình mà ở Mỹ, bị các kiểu ủy ban săn lùng, mình cũng chẳng ngồi ở bàn khách sạn thoải mái nói rằng tôi là cộng sản. Vì vậy nổi cáu thì thật là thiếu trung thực - nhưng dù sao thì cũng chính vì cáu nên tôi mới lạnh lùng nói: “Có lẽ sẽ là một ý hay nếu kiểm tra trước khi chị mời nhà văn ở nước này đi ăn tối, bởi vì có thể sẽ có khá nhiều người làm chị lúng túng.” Nhưng lúc này gương mặt chị cho thấy chị đã rất xa cách tôi: chị đang nghi ngờ, tôi là tay cộng sản điển hình, vì vậy hẳn là tôi đang nói dối. Và tôi nhớ đến khoảnh khắc với tay nhà văn người Nga khi anh ta có cơ hội hoặc là đón lấy ý tôi và thảo luận về nó, hoặc là rút lui. Và anh ta chọn cách chuồn, khoác lên một cái nhìn với vẻ hiểu biết đầy mỉa mai rỗi nói: “Đây không phải là lần đầu tiên một người bạn của đất nước tôi biến thành kẻ thù.” Hay nói cách khác: các ngươi đã chịu thua trước sức ép của kẻ thù tư bản. May mắn thay, đến lúc này tay người Mỹ xuất hiện, đứng cạnh bàn chúng tôi. Tôi tự hỏi không biết có phải lúc này anh ta đã rơi vào thế yếu bởi chị đã thực sự, chứ không phải cố tình, không để ý đến anh ta nữa. Tôi thấy buồn vì tôi nghĩ điều này đúng. “Ôi Jerry,” chị nói, “tôi đã tự hỏi là không biết chúng ta có tình cờ gặp nhau hay không, tôi có nghe nói là anh đang ở London.” “Xin chào,” anh ta nói, “em khỏe không, rất vui được gặp em.” Ăn mặc lịch sự, điềm tĩnh, vui tính. “Đây là chị Wulf,” chị nói với vẻ khó nhọc, bởi vì chị đang cảm thấy thế này: mình đang giới thiệu bạn cho kẻ thù, mình phải tìm cách cảnh báo cho anh ấy biết. “Chị Wulf là một nhà văn rất, rất nổi tiếng,” chị nói, và tôi thấy rằng chữ nhà văn nổi tiếng đã giảm bớt sự căng thẳng của chị. Tôi đáp: “Hai bạn hãy thông cảm tôi không ở lại được. Tôi phải về nhà với con gái.” Chị nhẹ nhõm trông thấy. Cả ba chúng tôi cùng rời phòng ăn. Khi tôi chào và quay đi, tôi thấy chị đặt tay lên khuỷu tay anh ta. Tôi nghe thấy chị nói: “Jerry, em thật hạnh phúc khi gặp anh ở đây, em cứ nghĩ rằng hôm nay em sẽ có một buổi tối lẻ loi.” Anh ta nói: “Eddy thân mến, đã có đêm nào em phải lẻ loi đâu, trừ phi em muốn như vậy?” Tôi thấy nụ cười của chị dành cho anh ta - khô khan và biết ơn. Về phần mình, tôi đi về nhà và nghĩ rằng, bất chấp tất cả mọi thứ, giây phút tôi phá vỡ lớp vỏ dễ chịu trong mối quan hệ giữa chúng tôi chính là giây phút chân thực duy nhất của cả buổi tối hôm đó. Nhưng tôi vẫn cảm thấy xấu hổ, thất vọng và chán nản, giống hệt như cảm giác sau buổi tối nói chuyện với tay người Nga.

*

[Cuốn sổ bìa đỏ.]

Ngày 28 tháng Tám, 1954

Dành cả tối hôm qua để tìm hiểu càng nhiều càng tốt về Kim Môn. Rất ít trên giá sách của tôi cũng như của Molly. Cả hai chúng tôi đều sợ, có lẽ đây sẽ là khởi đầu một cuộc chiến mới. Rồi Molly nói: “Đã bao lần chúng ta làm việc này, ngồi đây lo lắng, nhưng rốt cuộc chẳng có cuộc chiến nào to tát xảy ra.” Tôi nhận ra có một điều gì khác khiến cô lo lắng. Cuối cùng cô bảo tôi: cô từng là bạn thân với anh em nhà Forest. Khi bọn họ “biến mất” - người ta ước đoán - vào Tiệp Khắc, cô đến tận tổng hành dinh để hỏi. Người ta khuyên cô không nên lo lắng, họ đang thực hiện nhiệm vụ quan trọng cho Đảng. Hôm qua có thông báo là họ đã ngồi tù ba năm, mới được thả. Hôm qua cô lại đến tổng hành dinh hỏi xem ở đấy có biết anh em họ bị tù hay không. Hóa ra là mọi người biết cả từ đầu. Cô nói với tôi: “Tớ đang nghĩ đến chuyện ra khỏi Đảng.” Tôi đáp: “Tại sao không đợi xem mọi chuyện có biến chuyển tốt đẹp hơn không. Dù sao đi nữa thì họ vẫn đang dọn dẹp sau thời Stalin.” Cô nói: “Tuần trước cậu bảo là cậu sẽ ra. Dù sao thì đấy cũng là những gì tớ nói với Hal - đúng vậy, tớ đã gặp đích thân sếp lớn. Tớ nói: ‘Toàn bộ bọn xấu đều chết cả rồi, phải không? Stalin và Beria, vân vân và vân vân? Vậy thì tại sao ông vẫn tiến hành như bình thường?’ Ông ta bảo vấn đề là phải sát cánh với Liên Xô đang bị tấn công. Cậu biết đấy, chuyện thường ấy mà. Tớ hỏi: ‘Thế người Do Thái ở Liên Xô thì sao?’ Ông ta bảo đấy là bọn tư bản bịa đặt. Tớ nói: ‘Ôi lạy Chúa, đừng thế nữa chứ.’ Dù sao thì ông ta cũng giảng cho tớ một bài dài, thân thiện và nhẹ nhàng chưa từng thấy, về chuyện không được hoảng sợ. Đột nhiên tớ cảm thấy hoặc là tớ điên hoặc là toàn bộ bọn họ đều điên. Tớ nói với ông ta: ‘Xem này, các ông phải hiểu một điều thật sớm, nếu không sẽ chẳng còn ai trong Đảng nữa cả - các ông phải học cách nói lên sự thật và chấm dứt cái kiểu âm mưu lén lút cũng như bịa đặt về mọi chuyện.’ Ông ta đáp lại, ám chỉ rằng tớ cáu giận như vậy là điều có thể hiểu được bởi vì bạn tớ vừa phải ở tù. Bỗng nhiên tớ lại chuyển qua thanh minh và chống chế, mặc dù tớ biết rất rõ là tớ đúng còn ông ta sai. Thật kỳ cục phải không Anna? Chỉ một phút nữa là tớ bắt đầu xin lỗi lão rồi? Tớ chỉ vừa kịp kiềm chế mình lại. Tớ về thật nhanh. Tớ về nhà và lên gác nằm nghỉ, tớ khó chịu đến mức ấy đấy.” Michael đến muộn. Tôi kể cho anh nghe những điều Molly vừa nói. Anh bảo tôi: “Và như vậy là em sẽ ra khỏi Đảng?” Nghe cứ như là nếu đúng như vậy anh sẽ buồn lắm, bất kể mọi chuyện đã xảy ra. Sau đó anh nói, giọng rất thản nhiên: “Em có nhận ra không Anna, rằng khi em và Molly nói đến chuyện ra khỏi Đảng, thái độ luôn là hành động này sẽ dẫn em đến thẳng vũng lầy sa đọa đạo đức. Nhưng thực tế là có hàng triệu con người lành mạnh đã ra khỏi Đảng (nếu trước đó họ chưa bị giết) và họ ra đi bởi vì họ sẽ được bỏ lại sau lưng những giết chóc, hoài nghi, kinh sợ, phản bội.” Tôi hỏi: “Có lẽ đấy vẫn chưa phải là lý do chính?” “Vậy đâu mới là lý do chính?” Tôi trả lời: “Cách đây một phút em vẫn còn có cảm giác là nếu em nói rằng em sắp ra khỏi Đảng, anh sẽ rất buồn.” Anh bật cười thừa nhận, sau đó im lặng một lúc rồi vừa cười vừa nói: “Có lẽ anh ở bên em, Anna ạ, bởi vì thật vui khi được ở bên một người tràn đầy đức tin, dù rằng người ta không tự mình có được điều đó.” “Đức tin!” tôi đáp. “Sự nhiệt tình chân thành của em.” Tôi nói: “Em sẽ không dùng những từ đấy để mô tả thái độ của em dành cho Đảng.” “Dù gì thì em cũng đang đứng trong Đảng, thế là vẫn khá hơn…” Anh cười nhăn nhở, và tôi nói: “Hơn anh?” Anh có vẻ không vui, ngồi yên suy nghĩ. Cuối cùng anh lên tiếng: “Thì chúng ta đã cố gắng rồi. Chúng ta đã cố gắng rồi. Việc không hoàn thành được, nhưng… đi ngủ nào Anna.”

Tôi mơ rất tuyệt vời. Tôi mơ thấy một mạng lưới khổng lồ bằng loại vải rất đẹp căng rộng ra. Đẹp đến mức không thể tin nổi, trên thêu kín những bức tranh. Các bức tranh này minh họa cho các huyền thoại loài người nhưng không chỉ là tranh, bản thân chúng chính là các huyền thoại ấy, đến nỗi cái mạng mềm lấp lánh như đang sống. Có nhiều màu sắc kỳ ảo và tinh tế, nhưng cảm giác chung mà tấm lưới vải này mang lại là sắc đỏ, một dạng đỏ sáng ửng đa sắc điệu. Trong giấc mơ, tôi sờ vào và cảm nhận thứ vải này, sau đó khóc lên vì vui sướng. Tôi nhìn một lần nữa và nhận thấy rằng tấm mạng này có hình dạng giống như bản đồ Liên Xô. Nó bắt đầu lớn dần: nó lan rộng ra, tràn ra ngoài như một vùng biển mềm mại, lấp lánh. Bây giờ nó bao gồm cả những đất nước xung quanh Liên Xô như Ba Lan, Hungary, vân vân, nhưng rìa lại trong suốt và rất mỏng. Tôi vẫn đang khóc vì vui sướng. Và vì một linh tính xấu. Và bây giờ làn sương mềm lấp lánh màu đỏ lan trên khắp Trung Quốc và đậm dần thành một giọt nặng trịch màu đỏ tươi. Còn lúc này tôi đang đứng ở một nơi nào đó ngoài vũ trụ, giữ vị trí trong không gian bằng cách thỉnh thoảng đạp chân vào không khí. Tôi đứng trong một màn sương mù màu xanh dương trong khi trái đất cứ quay, khoác trên mình những tông màu đỏ nơi các nước cộng sản và các mảnh mang đủ màu sắc nơi các nước còn lại trên thế giới. Châu Phi màu đen, nhưng là một màu đen tuyền óng ánh rất phấn chấn, giống như màn đêm khi mặt trăng đang lấp ló ở đường chân trời và sắp sửa mọc. Bây giờ tôi thấy sợ hãi và có cảm giác muốn bệnh, như thể người đang tràn đầy một cảm giác mà tôi không muốn thừa nhận. Tôi quá mệt mỏi và choáng váng nên không dám nhìn xuống để xem thế giới đang xoay vần. Sau đó tôi nhìn và thấy thế giới như trong một hình dung thần thánh - thời gian đã biến mất và toàn bộ lịch sử loài người, câu chuyện dài của loài người, đang hiện ra trước mắt tôi, giống như một bản tụng ca tuyệt vời vút lên ca ngợi niềm vui và chiến thắng, trong đó khổ đau chỉ là một đối âm nhỏ nhoi sống động. Rồi tôi nhìn và thấy rằng các vùng màu đỏ đang bị xâm chiếm bởi các màu tươi sáng khác từ những vùng khác trên thế giới. Các màu sắc tan ra và chảy vào nhau, đẹp không bút nào tả xiết khiến thế giới biến thành một chính thể, một màu duy nhất lấp lánh rất đẹp, nhưng là thứ màu tôi chưa bao giờ nhìn thấy trong đời. Đây là giây phút hạnh phúc gần như không chịu nổi, niềm hạnh phúc dường như dâng trào lên khiến mọi thứ bỗng nhiên nổ tung, vỡ tan - đột nhiên tôi đứng giữa bình an, câm lặng. Dưới chân tôi chỉ là câm lặng. Cái thế giới đang chầm chậm quay dần tan ra, rời ra thành từng mảnh bay khắp mọi phía trong không gian, quanh tôi chỉ còn toàn những mảnh vụn không trọng lượng trôi nổi, va vào nhau và trôi ra xa. Thế giới đã biến mất, chỉ còn lại hỗn loạn. Mình tôi lẻ loi trong hỗn loạn. Và tôi nghe rất rõ một giọng nói nhỏ trong tai mình: Có người rút một sợi vải nên tấm vải mới tan tành. Tôi tỉnh dậy, vui sướng và hân hoan. Tôi muốn đánh thức Michael dậy để kể cho anh nghe, nhưng tất nhiên tôi biết mình không thể mô tả được cảm xúc trong mơ bằng lời. Gần như ngay lập tức ý nghĩa của giấc mơ bắt đầu mờ đi; tôi tự nhủ, ý nghĩa đang mất đi, bắt lấy nó nhanh lên; rồi tôi lại nghĩ, nhưng mình đâu biết ý nghĩa là thế nào đâu. Nhưng ý nghĩa đã mất, để lại tôi với cảm giác hạnh phúc vô bờ bến. Và tôi ngồi dậy trong bóng tối bên cạnh Michael, chỉ mình tôi với tôi. Rồi tôi lại nằm xuống và vòng tay ôm lấy anh, còn anh quay người và áp mặt lên ngực tôi trong lúc vẫn ngủ. Sau đó tôi nghĩ: Thực sự là mình không mảy may quan tâm đến chính trị hay triết học hay bất cứ điều gì khác, mình chỉ quan tâm mỗi một điều là Michael sẽ trở mình trong bóng tối và áp mặt vào ngực mình. Và rồi tôi mơ màng ngủ. Sáng hôm nay, tôi vẫn nhớ rất rõ về giấc mơ và cảm giác của mình. Tôi đặc biệt nhớ những lời này: Có người rút một sợi vải nên tấm vải mới tan tành. Cả ngày giấc mơ không ngừng teo lại, rút lại, đến nỗi bây giờ nó trở nên rất nhỏ, sáng và vô nghĩa. Nhưng sáng nay khi Michael tỉnh dậy trong vòng tay tôi, anh mở mắt ra và mỉm cười với tôi. Màu xanh ấm áp trong mắt anh khi anh nhìn tôi mỉm cười. Tôi nghĩ: đời mình đã trải qua quá nhiều điều quái đản và đau thương đến nỗi giờ đây khi hạnh phúc tràn ngập trong mình như một làn nước trong xanh lấp lánh ấm áp, mình vẫn không thể nào tin nổi. Tôi tự nhủ: Mình là Anna Wulf, đây là mình, Anna, và mình đang hạnh phúc.

[Chỗ này được dán vào một số tờ giấy viết nguệch ngoạc ghi ngày 11 tháng Mười một, 1952.]

Họp nhóm nhà văn đêm qua. Năm người chúng tôi - thảo luận về Stalin nói về ngôn ngữ học(2). Rex, nhà phê bình văn học, đề xuất phân tích bài luận này theo từng câu một. George “nhà văn vô sản” từ những năm ba mươi, một tay hút tẩu và thẳng ruột ngựa, nói: “Lạy Chúa lòng lành, có nhất thiết không? Về mặt lý thuyết là tôi chịu rồi.” Clive, phóng viên kiêm người soạn truyền đơn của phe cộng sản, nói: “Có chứ, chúng ta phải nghiêm túc thảo luận về nó.” Dick, tiểu thuyết gia hiện thực xã hội chủ nghĩa, nói: “Ít nhất thì chúng ta cũng phải nắm được các điểm chính chứ.” Vậy là Rex bắt đầu. Anh nói về Stalin với giọng tôn trọng giản dị đã quen thuộc nhiều năm nay. Tôi thì nghĩ: Nhưng từng người chúng tôi ở trong căn phòng này, nếu gặp nhau trong quán nhậu, hay trên đường phố, hẳn sẽ dùng một giọng rất khác, hững hờ và đau khổ. Chúng tôi yên lặng trong khi Rex giới thiệu vài câu ngắn gọn. Sau đó Dick, vừa mới từ Liên Xô trở về (anh suốt ngày đi một nước cộng sản nào đó), nhắc đến cuộc trò chuyện ở Moscow giữa anh với một nhà văn Xô Viết về một trong những cuộc tấn công ác ý hơn của Stalin nhằm vào một nhà triết học: “Chúng ta phải nhớ rằng truyền thống bút chiến của họ dữ dội hơn và tàn bạo hơn chúng ta.” Chất giọng đơn giản, mộc mạc, tôi-là-đồng-chí-tốt mà thỉnh thoảng tôi cũng dùng: “Ừ, tất nhiên là các bạn phải nhớ rằng truyền thống luật pháp của họ rất khác với chúng ta,” vân vân. Tôi bắt đầu cảm thấy không thoải mái mỗi khi nghe thấy kiểu giọng này; cách đây vài ngày tôi nghe thấy chính mình sử dụng giọng này nên nói lắp luôn. Thường thì tôi có nói lắp bao giờ đâu. Mỗi người chúng tôi đều có cuốn này. Tôi thấy nản lòng bởi vì bài luận có vẻ toàn những lời lảm nhảm đối với tôi, nhưng do không được đào tạo về triết học (như Rex) nên tôi sợ mình sẽ đưa ra những ý kiến ngớ ngẩn. Nhưng còn hơn cả thế. Tôi đang trong trạng thái ngày càng trở nên quen thuộc hơn: ngôn từ đột nhiên vô nghĩa. Thỉnh thoảng tôi chợt thấy điều mình đang nghe: một câu, một đoạn, một nhóm từ, cứ như được nói bằng tiếng nước ngoài - dường như giữa ý nghĩa định nói với ý nghĩa thực tế có một khoảng trống không thể nào san lấp nổi. Tôi vẫn đang suy nghĩ về những cuốn tiểu thuyết khai thác đề tài sự sụp đổ của ngôn ngữ, chẳng hạn như Finnegans Wake. Và thói ám ảnh với ngữ nghĩa học. Việc đến cả Stalin cũng bỏ công ra viết một truyền đơn về đề tài này chẳng qua chỉ là dấu hiệu của sự bứt rứt chung về ngôn ngữ. Nhưng tôi có quyền gì mà phê phán khi các câu trong cuốn tiểu thuyết hay nhất đều có khi trở nên ngô nghê đối với tôi? Mặc dù vậy, tôi thấy bài luận này có vẻ dở, vì vậy tôi nói: “Có lẽ khâu dịch thuật hơi dở.” Tôi kinh ngạc khi thấy mình nói với giọng hối lỗi. (Tôi biết nếu chỉ có một mình tôi với Rex thì sẽ không dùng giọng ấy.) Ngay lập tức tôi thấy mình vừa phát biểu cảm giác của mọi người rằng bài luận đấy đúng là tệ thật. Đã nhiều năm nay, đối với các sách tuyên truyền, bài báo, tiểu thuyết, công bố v.v. từ nước Nga, chúng tôi vẫn nói: “Có lẽ khâu dịch thuật hơi dở.” Còn lúc này, tôi đang phải đấu tranh với bản thân để nói: “Bài viết quá dở.” Tôi ngạc nhiên khi thấy mình quá do dự không dám nói lên điều đó. (Tôi tự hỏi trong số chúng tôi, bao nhiêu người đến dự những buổi hội thảo như thế với quyết tâm bày tỏ sự bứt rứt hay cảm giác ghê tởm của mình và thấy mình phải câm lặng trước cái cấm đoán lạ thường ấy ngay khi hội thảo bắt đầu?) Cuối cùng - và trong giọng tôi có phảng phất chút khí chất “cô gái nhỏ”, một giọng điệu đáng yêu - tôi nói: “Xem này, tôi không có chuyên môn để phê bình trên phương diện triết học, nhưng chắc chắn câu này là một câu chủ chốt, cụm từ ‘không thuộc về thượng tầng kiến trúc cũng chẳng thuộc về cơ sở’ - chắc chắn hoặc là hoàn toàn nằm ngoài quan điểm Mác xít chính thống, hoặc là một tư tưởng hoàn toàn mới, hoặc là né tránh. Hoặc đơn giản là ngạo mạn.” (Tôi nhẹ người khi thấy càng nói, giọng tôi càng mất đi chất “đáng yêu” xuê xoa và trở nên nghiêm chỉnh, mặt dù hơi quá khích động.) Rex đỏ bừng mặt, lật đi lật lại cuốn sách mỏng và nói: “Đúng vậy, phải thừa nhận rằng tôi thấy câu đó khá là…” Anh im lặng và sau đó George thẳng ruột ngựa lên tiếng: “Tất cả mấy trò lý thuyết này quá tầm của tôi.” Lúc này tất cả chúng tôi đều có vẻ bất an - trừ George. Hiện nay rất nhiều đồng chí đang mang lấy thái độ cứng cỏi và mau mắn này, một thái độ thoải mái của kẻ quê mùa ít học. Tuy nhiên, bây giờ nó đã trở thành một phần tính cách cơ bản của George, đến nỗi anh khá vui vẻ dùng đến nó. Tôi thấy mình đang nghĩ: Ừ, như thế là công bằng - anh đã làm được quá nhiều việc tốt cho Đảng, nếu như đấy là cách để anh trụ lại thì… Dù không thực sự quyết định ngừng thảo luận về cuốn sách, chúng tôi vẫn bỏ qua nó và nói về những vấn đề chung, thái độ chính trị của người cộng sản ở mọi nơi. Nga, Trung, Pháp, đất nước chúng tôi. Suốt buổi tôi cứ nghĩ thế này: Trong chúng tôi không có bất cứ người nào nói rằng có điều gì đó sai về cơ bản; nhưng hàm ý trong lời nói của chúng tôi lại ám chỉ như vậy. Tôi không ngừng nghĩ về hiện tượng này - khi hai người chúng tôi gặp nhau, nội dung thảo luận sẽ ở một cấp độ hoàn toàn khác so với khi có mặt ba người. Hai người, và đấy sẽ là hai cá nhân, thuộc về một truyền thống phê bình, thảo luận về chính trị như những người không phải cộng sản. (Khi nói những người không phải cộng sản, tôi muốn nói đến những đối tượng không bị người đứng ngoài nghe nhận định là cộng sản, nếu không tính đến những thuật ngữ họ dùng.) Nhưng khi có nhiều hơn hai người, tinh thần sẽ khác hẳn. Điều này đặc biệt đúng khi nói chuyện về Stalin. Mặc dù tôi đã sẵn sàng tinh thần tin rằng ông ta điên rồ và khát máu (dù vẫn luôn nhớ lời Michael nói - đây là thời ta không thể biết sự thật về bất cứ cái gì), tôi vẫn thích nghe mọi người nói về ông ta bằng cái giọng kính trọng giản dị và thân thiện đó. Bởi vì nếu vứt cái giọng đó sang một bên, thì ngược đời thay, một điều cực kỳ quan trọng cũng sẽ ra đi cùng nó, niềm tin về khả năng cho một tương lai dân chủ, và đàng hoàng. Một giấc mơ sẽ chết - ít nhất là trong thời đại của chúng ta.

Câu chuyện trở nên rời rạc, tôi xin phép đi pha trà, mọi người đều mừng khi thấy cuộc gặp sắp sửa kết thúc. Tôi pha xong trà, và rồi bỗng nhớ đến một truyện được gửi cho tôi vào tuần trước. Của một đồng chí sống đâu đó gần Leeds. Lúc mới đọc, tôi nghĩ đây là một tác phẩm theo lối mỉa mai. Sau đó là một bài giễu nhại rất khéo về một kiểu thái độ. Sau đó tôi nhận ra truyện ngắn này rất nghiêm túc - đó là lúc tôi lục tìm trong ký ức và nhổ rễ một vài ảo tưởng của riêng mình. Nhưng điều tôi thấy quan trọng nhất, đó là câu chuyện đó có thể đọc theo lối giễu nhại, mỉa mai, hay nghiêm túc đều được. Đối với tôi, dường như thực tế này là một biểu hiện khác về sự vỡ vụn của mọi thứ, sự tan rã đau đớn của thứ nào đó gắn liền với điều mà tôi tin là chân lý về ngôn ngữ, sự pha loãng của ngôn ngữ đối nghịch với độ đậm đặc của trải nghiệm của chúng ta. Tuy nhiên, khi pha trà xong, tôi bảo rằng tôi muốn đọc cho họ nghe một truyện ngắn.

[Ở đây dán vài trang giấy viết bình thường có kẻ ngang xé ra từ một tập giấy viết màu xanh với những dòng chữ viết tay nhỏ xíu rất nắn nót.]

Khi biết được chọn tham gia đoàn giáo viên đi Liên Xô, đồng chí Ted cảm thấy rất tự hào. Ban đầu anh không dám tin. Anh cảm thấy mình không xứng đáng với vinh dự lớn lao như thế. Nhưng anh sẽ không bỏ lỡ cơ hội được tham quan đất nước đầu tiên của giai cấp công nhân! Cuối cùng thì ngày vĩ đại đó cũng đến khi anh cùng các đồng chí khác tập hợp ở sân bay. Có ba giáo viên trong đoàn không phải là Đảng viên, vậy mà hóa ra họ cũng đàng hoàng phết! Ted thấy chuyến bay qua châu Âu thật vui - niềm phấn chấn của anh lớn theo từng phút và đến cuối cùng khi anh thấy mình ở trong một phòng khách sạn được trang bị cực kỳ đắt tiền giữa Moscow, anh phấn khởi gần như phát điên! Lúc đoàn đến thì đã gần nửa đêm, vì vậy giây phút đầu tiên được hân hoan ngắm nhìn một đất nước cộng sản đành phải hoãn đến sáng! Đồng chí Ted đang ngồi cạnh chiếc bàn lớn - đủ chứa được ít nhất mười hai người! - đặt sẵn cho anh trong phòng ngủ, ghi lại những lưu ý trong ngày, vì anh đã quyết tâm ghi lại từng giây phút quý giá - thì có tiếng gõ cửa. Anh nói: “Xin mời vào,” vì nghĩ rằng một đồng chí nào đó trong đoàn, nhưng hóa ra là hai thanh niên đội mũ vải và đi ủng công nhân. Một người lên tiếng: “Mời đồng chí đi cùng chúng tôi.” Gương mặt họ chân tình, giản dị, vì vậy tôi không hỏi họ dẫn tôi đi đâu. (Tôi rất ngượng khi phải thú nhận rằng tôi đã có nửa giây tồi tệ khi nhớ đến tất cả những truyện đã đọc trên báo chí tư bản - dù không muốn nhưng cả lũ chúng tôi đều bị nhiễm chất độc này!) Tôi đi xuống thang máy với hai người hướng dẫn thân thiện. Người phụ nữ ở bàn lễ tân mỉm cười với tôi và chào hai người bạn mới của tôi. Một chiếc xe màu đen chờ sẵn. Chúng tôi bước vào xe và ngồi bên nhau không nói một lời. Gần như tức khắc trước mặt chúng tôi là điện Kremli cao ngất. Tức là xe chỉ chạy một tí. Chúng tôi đi qua mấy chiếc cổng lớn và chiếc xe dừng lại trước một cánh cửa hông kín đáo. Hai người bạn bước ra khỏi xe, mở cửa giúp tôi. Họ mỉm cười: “Đồng chí đi cùng chúng tôi.” Chúng tôi đi lên một cầu thang cẩm thạch lộng lẫy hai bên treo đầy các tác phẩm nghệ thuật sau đó bước vào một hành lang nhỏ bên hông trông rất đơn sơ và giản dị. Chúng tôi dừng lại bên ngoài một cánh cửa bình thường, một cánh cửa như bao cánh cửa khác. Một người gõ cửa. Một giọng khàn khàn vang lên: “Vào đi.” Một lần nữa hai người thanh niên mỉm cười với tôi, gật đầu. Họ khoác tay nhau đi xuôi theo hành lang. Tôi lấy hết can đảm bước vào phòng, nhưng không hiểu vì sao tôi biết mình sẽ được chứng kiến điều gì. Đồng chí Stalin ngồi sau một chiếc bàn đơn sơ với vô số những dấu vết cho thấy nó đã bị sử dụng quá nhiều, hút tẩu, mặc độc một chiếc áo sơ mi. “Đồng chí vào đây và ngồi xuống đi,” ông nói với vẻ hiền hậu. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và ngồi xuống, nhìn vào gương mặt hiền hậu chân thành và đôi mắt lấp lánh. “Cảm ơn đồng chí,” tôi đáp và ngồi đối diện với ông. Chúng tôi im lặng một lát trong khi ông mỉm cười và xem xét tôi. Sau đó ông nói: “Đồng chí phải thứ lỗi cho tôi vì đã quấy quả đồng chí trong đêm muộn thế này…” “Ồ,” tôi háo hức ngắt lời, “nhưng cả thế giới biết rằng đồng chí là người làm việc khuya.” Ông đưa bàn tay thợ thuyền thô ráp vuốt ngang trán. Bây giờ thì tôi đã nhìn thấy những dấu vết mệt mỏi và căng thẳng - làm việc vì chúng ta! Vì thế giới! Tôi cảm thấy tự hào và nhỏ bé. “Tôi quấy quả đồng chí muộn như vậy bởi vì tôi cần lời khuyên của đồng chí. Tôi nghe nói có một đoàn giáo viên từ đất nước của đồng chí đến thăm nên tôi nghĩ tôi phải giành lấy cơ hội này.” “Nếu tôi có thể cho đồng chí biết bất cứ điều gì, thưa đồng chí Stalin…” “Tôi vẫn thường tự hỏi rằng không biết tôi có nhận được lời khuyên đúng đắn về chính sách của mình ở châu Âu, và đặc biệt là chính sách đối với nước Anh hay không.” Tôi vẫn im lặng, nhưng thấy vô cùng hãnh diện - vâng, đây thực sự là một con người vĩ đại! Quả là một lãnh tụ cộng sản thực thụ, ông sẵn sàng đón nhận lời khuyên từ một cán sự đảng thấp kém như tôi! “Đồng chí ạ, tôi sẽ rất biết ơn nếu đồng chí phác cho tôi vài nét xem chúng tôi nên xây dựng chính sách như thế nào ở Anh. Tôi nhận ra rằng tập quán của các đồng chí rất khác với chúng tôi, và tôi nhận ra rằng chính sách của chúng tôi đã không tính đến các tập quán này.” Lúc này tôi cảm thấy thoải mái nên bắt đầu nói. Tôi bảo ông tôi thường cảm nhận được nhiều lỗi lầm và sai sót trong chính sách của Đảng Cộng sản Liên Xô về phía nước Anh. Tôi thấy rằng đây là do Liên Xô bị cô lập vì các thế lực tư bản thù ghét đất nước cộng sản đang bắt đầu nảy nở này. Đồng chí Stalin lắng nghe và hút tẩu, thỉnh thoảng gật đầu. Khi thấy tôi lưỡng lự, không ít lần ông nói: “Tiếp tục đi đồng chí, đừng ngại nói hết ra những gì đồng chí đang nghĩ.” Thế là tôi nói. Tôi nói trong khoảng ba tiếng, bắt đầu bằng một bài phân tích ngắn về vị thế lịch sử của Đảng Cộng sản Anh. Một lần ông rung chuông, vậy là một đồng chí trẻ khác mang vào hai ly trà Nga đặt trên khay, một ly đặt trước mặt tôi. Stalin nhẹ nhàng nhấp ngụm trà, gật đầu lắng nghe. Tôi vạch ra những gì tôi cho là chính sách đúng đắn dành cho nước Anh. Khi tôi nói xong, ông chỉ nói: “Cảm ơn đồng chí. Bây giờ thì tôi thấy là mình đã bị tư vấn dở thế nào rồi.” Sau đó ông nhìn đồng hồ và nói: “Đồng chí tha lỗi cho tôi, nhưng tôi còn nhiều việc phải làm trước khi trời sáng.” Tôi đứng dậy. Ông chìa tay ra. Tôi bắt tay. “Tạm biệt đồng chí Stalin.” “Tạm biệt, người đồng chí tốt của nước Anh, và một lần nữa xin cảm ơn đồng chí.” Chúng tôi mỉm cười với nhau không nói. Tôi biết đôi mắt mình đẫm nước - tôi sẽ tự hào về những giọt nước mắt này đến tận lúc chết! Lúc tôi ra về, Stalin lại nhồi thuốc vào tẩu, ánh mắt ông đã hướng về một chồng giấy tờ khổng lồ đang chờ ông phê duyệt. Tôi bước ra khỏi cửa, sau thời khắc tuyệt vời nhất của đời mình. Hai đồng chí trẻ đang chờ tôi. Chúng tôi mỉm cười, hiểu thấu lòng nhau. Mắt chúng tôi đều đẫm lệ. Chúng tôi lái xe về khách sạn trong im lặng. Chỉ một lần duy nhất có lời nói ra: “Thật là một con người vĩ đại,” tôi nói, và họ gật đầu. Tới khách sạn, họ lại đưa tôi về tận cửa phòng. Họ siết lấy tay tôi không nói. Sau đó tôi trở lại với cuốn nhật ký của mình. Bây giờ thì tôi thực sự đã có thứ để ghi lại rồi! Và tôi mải miết làm việc đến lúc mặt trời mọc, đầu nghĩ về con người vĩ đại nhất thế giới ở cách đó chưa đầy nửa dặm cũng đang thức và làm việc, chăm lo cho số phận của tất cả chúng ta!

[Và bây giờ lại là chữ của Anna:]

Khi tôi đọc xong, không ai nói bất cứ câu nào cho đến khi George lên tiếng: “Truyện tốt, cơ bản, trung thực.” Có thể ám chỉ bất cứ điều gì. Sau đó tôi nói: “Tôi nhớ là bản thân đã từng mang cái tưởng tượng đó, từng lời từng chữ, có điều trong trường hợp mình tôi còn góp ý cho chính sách đối với châu Âu.” Bỗng có một tiếng cười rống lên thật không thoải mái, và George nói: “Ban đầu tôi tưởng nó là truyện giễu nhại - thật khiến người ta phải suy nghĩ, đúng không.”

Clive nói: “Tôi nhớ là đã đọc một câu chuyện dịch từ tiếng Nga - đầu những năm ba mươi, tôi nghĩ vậy. Hai người đàn ông trẻ tuổi ở Quảng trường Đỏ, chiếc máy kéo bị hỏng. Họ không biết hỏng ở đâu cả. Bỗng họ thấy một bóng người vạm vỡ đến gần. Ông ta đang hút tẩu. ‘Hỏng sao đấy?’ ông ta hỏi. ‘Đấy chính là vấn đề, đồng chí ạ, chúng tôi không biết là hỏng ở đâu cả.’ ‘Hóa ra là các đồng chí không biết, tệ thật!’ Người đàn ông vạm vỡ dùng mũi tẩu chỉ vào một chi tiết máy: ‘Các đồng chí đã nghĩ đến chỗ kia chưa?’ Hai người thử - chiếc máy kéo gầm vang trở lại. Họ quay lại để cảm ơn người lạ lúc này đang đứng quan sát với ánh mắt hiền hậu. Họ nhận ra đấy là Stalin. Nhưng ông đã quay đi và giơ tay lên chào, một mình băng qua Quảng trường Đỏ về điện Kremlin.”

Tất cả chúng tôi phá lên cười, và George nói: “Những ngày xưa yêu dấu, các người muốn nói gì thì nói. Thôi, tôi về đây.”

Khi chúng tôi ra về, căn phòng tràn ngập mùi hận thù: chúng tôi ghét nhau, và biết rõ điều đó.

*

[Cuốn sổ bìa vàng tiếp tục.]

centerHÌNH BÓNG NGƯỜI THỨ BA

Chính Patricia Brent, bà chủ bút, là người khuyên Ella nên đi Paris một tuần. Vì là Patricia nên theo bản năng Ella lập tức từ chối. “Không thể để cho bọn họ hạ gục chúng ta được,” bà đã bảo vậy, “bọn họ” ở đây có nghĩa là đám đàn ông. Nói tóm lại, Patricia đang cực kỳ háo hức chào đón Ella vào câu lạc bộ những người phụ nữ đau khổ; có chút lòng tốt trong đó, nhưng cũng có cả sự thỏa mãn ngầm. Ella bảo rằng cô nghĩ đến Paris chỉ tổ phí thời gian mà thôi. Cái cớ là cô phải phỏng vấn tổng biên tập một tờ tạp chí tương tự để mua bản quyền đăng một truyện dài kỳ trên tờ tạp chí Anh. Ella bảo, truyện đó có thể hợp với các bà nội trợ ở Vaugirard; nhưng lại không hợp các bà nội trợ ở Brixton. “Đấy là một kỳ nghỉ miễn phí,” Patricia nói, giọng gắt lên bởi vì bà biết rằng cái mà Ella từ chối không chỉ là chuyến đi Paris. Một vài ngày sau thì Ella đổi ý. Cô nhớ ra rằng đã hơn một năm rồi kể từ ngày Paul rời bỏ cô và tất cả những gì cô làm, nói, hay cảm nhận, vẫn đều hướng về anh. Cuộc đời của cô được định hình quanh một người đàn ông sẽ không quay lại với cô nữa. Cô phải tự giải phóng cho bản thân. Đây là một quyết định của lý trí nhưng không được sức mạnh tinh thần ủng hộ. Cô rã rời và thiếu sức sống. Cứ như là Paul đã mang theo không chỉ khả năng vui vẻ mà còn cả ý chí của cô nữa. Cô nói rằng cô sẽ đi Paris, giống như một bệnh nhân khó tính mãi mới chịu uống thuốc nhưng vẫn khăng khăng với bác sĩ: “Tất nhiên là sẽ chẳng ích lợi gì cho tôi đâu.”

Tiết tháng Tư, Paris như thường lệ vẫn quyến rũ; và Ella lấy một phòng trong khách sạn xoàng xĩnh bên bờ Tả, nơi cách đây hai năm cô đã từng ở với Paul. Cô thu xếp chỗ cho mình trong căn phòng, để dành chỗ cho anh. Chỉ đến khi nhận thấy mình đang làm thế, cô mới hiểu rằng cô không nên ở khách sạn này chút nào. Nhưng dường như rời nơi này và tìm một khách sạn khác thì quá mất sức. Buổi tối hôm đấy vẫn còn khá sớm. Bên dưới những khung cửa sổ cao phòng cô, Paris nhộn nhịp với những tán cây xanh và bóng người qua lại. Ella phải mất gần một tiếng mới tự ép mình ra khỏi phòng và đi tìm một nhà hàng để kiếm cái ăn. Cô ăn vội vã, cảm giác như mình đang bị soi mói; sau đó ra về với đôi mắt mang vẻ mải suy tư cố tình. Mặc dù vậy, có hai người đàn ông vui vẻ chào cô, và cả hai lần cô đều đóng băng, cáu bẳn và căng thẳng, rồi đi tiếp với nhịp bước vội vã hơn. Cô vào phòng ngủ và khóa cửa lại như sợ gặp nguy hiểm. Sau đó cô ngồi bên cửa sổ và nghĩ rằng năm năm trước, hẳn bữa ăn tối hôm nay sẽ vui lắm vì được ngồi một mình, vì có những cơ hội được gặp gỡ, và chặng đường đi bộ từ nhà hàng về khách sạn cũng rất vui. Và chắc chắn cô đã uống một tách cà phê hay một ly rượu với một trong hai người đàn ông đó. Vậy chuyện gì đã xảy ra với cô? Đúng là khi ở bên Paul, cô đã tự luyện cho mình không bao giờ được liếc nhìn bất cứ người đàn ông nào, dù là tình cờ, bởi vì anh rất ghen; ở bên anh, cô giống như một người phụ nữ Latin sống loanh quanh trong nhà. Nhưng cô lại hình dung đây chỉ là sự tuân thủ bên ngoài để anh đỡ phải chịu nỗi đau do tự anh chuốc lấy. Giờ thì cô thấy rằng toàn bộ tính cách của cô đã thay đổi.

Mất một lúc cô ngồi với vẻ rã rời bên cửa sổ, nhìn ngắm thành phố đang tối dần đi nhưng cũng dần trở nên rực rỡ và tự nhủ rằng cô nên buộc mình bước qua các con phố, ép mình trò chuyện với mọi người, cô nên để cho ai đó tán tỉnh và đong đưa một chút. Nhưng cô hiểu cô không thể nào bước chân xuống cầu thang khách sạn, gửi chìa khóa ở quầy và bước ra phố được, chẳng khác gì cô đang thi hành án tù được bốn năm biệt giam và bỗng dưng bị yêu cầu cư xử thông thường như mọi người. Cô lên giường. Không tài nào ngủ được. Cô thả mình vào giấc ngủ, như mọi khi, bằng cách nghĩ về Paul. Từ khi anh rời bỏ cô, chưa bao giờ cô đạt được một lần cực khoái âm đạo; cô có thể chạm đến cái dữ dội sắc bén của cơn cực khoái bên ngoài, tay cô trở thành tay Paul, vừa làm vậy vừa khóc thương vì đã đánh mất con người thực của mình. Cô ngủ, rã rời sau cơn khích thích quá độ, căng thẳng, mệt lả, cảm giác như bị lừa dối. Và bằng cách sử dụng Paul như thế, cô đã mang về bên mình “con người tiêu cực” của anh, con người luôn sống trong nghi ngờ bản thân. Còn anh thực sự thì càng ngày càng xa cô hơn. Cô cảm thấy dần dà khó mà nhớ nổi hơi ấm trong đôi mắt anh, chất hài hước trong giọng nói của anh. Cô thiếp ngủ bên một bóng ma thua cuộc; và bóng ma đó ưa nở một nụ cười he hé, cay đắng, tự chế giễu, ngay cả khi cô có tỉnh giấc trong chốc lát, và theo thói quen, mở rộng vòng tay để anh có thể gác đầu lên ngực cô, hoặc đặt đầu lên vai anh. Nhưng khi mơ về anh trong giấc ngủ, cô luôn nhận ra anh trong rất nhiều những lớp vỏ anh chọn, bởi vì hình ảnh của anh luôn ấm áp và nam tính một cách điềm tĩnh. Paul, người cô đã từng yêu, cô giữ được trong khi ngủ; khi tỉnh dậy cô không còn lại gì ngoài những hình thù đau đớn.

Sáng hôm sau cô ngủ một giấc thật dài như trước giờ vẫn vậy mỗi khi xa con. Cô tỉnh giấc và nghĩ rằng chắc là Michael đã dậy, mặc quần áo và ăn sáng với Julia cách đây hàng tiếng đồng hô rồi; chắc thằng bé cũng gần đến giờ ăn trưa ở trường. Rồi cô tự nhủ rằng mình không đến Paris để theo dõi các giai đoạn trong ngày của con trai trong tâm trí; cô tự nhắc mình rằng Paris nằm chờ cô ngoài kia, dưới ánh mặt trời vô tư lự. Và đã đến lúc cô thay đồ đi đến cuộc hẹn với người chủ bút.

Văn phòng làm việc của Femme et Foyer ở bên kia sông, nằm giữa lòng một tòa nhà cổ phải đi vào bằng lối có thời dành cho những cỗ xe ngựa, và trước đó nữa là các đội quân tư nhân, dưới một chiếc cổng vòm chạm trổ tinh xảo. Femme et Foyer chiếm mười hai căn phòng màu sắc ảm đạm, hiện đại và đắt tiền giữa những đống gạch đá đổ nát mà đến tận bây giờ vẫn còn có thể ngửi thấy mùi nhà thờ, mùi phong kiến. Người ta đã chờ cô, và Ella được đưa tới văn phòng của Monsieur Brun, một người đàn ông trẻ tuổi to lớn, rắn chắc như bò mộng, và được Monsieur chào đón bằng vô số những cử chỉ tốt đẹp nhưng không thể che giấu được rằng anh chả mấy quan tâm đến Ella và thương vụ đề xuất. Họ định ra ngoài uống chút rượu khai vị. Robert Brun tuyên bố với nửa tá thư ký xinh đẹp rằng vì phải đi ăn trưa với hôn thê nên anh sẽ vắng mặt ở văn phòng đến tận ba giờ chiều, và nhận được hàng chục nụ cười chúc mừng và thông cảm. Ella và Robert Brun bước qua cái sân cổ kính, chui ra khỏi vòm cổng già cả, rồi đi về hướng quán cà phê, trong khi Ella lịch sự hỏi về cuộc hôn nhân sắp tới của anh. Cô được thông báo bằng một giọng Anh rất chuẩn và lưu loát là vị hôn thê của anh xinh đẹp, thông minh và tài giỏi kinh khủng. Anh sẽ cưới vào tháng tới, và bây giờ họ đang bắt tay vào chuẩn bị cho căn hộ của mình. Đúng thời điểm đó, Elise (anh phát âm cái tên bằng thái độ đàng hoàng đã được tập luyện từ trước, nghiêm chỉnh và trang trọng) đang thương lượng về một tấm thảm mà cả hai đều thèm muốn. Cô, Ella, sẽ có đặc ân được đích thân gặp cô ấy. Ella vội vã khẳng định với anh rằng cô rất vui, và chúc mừng anh một lần nữa. Trong khi đó, họ đã đến dải vỉa hè có bóng mát được kê kín bàn mà họ định làm khách, ngồi xuống và gọi rượu pernod. Đây là thời điểm dành cho công việc. Ella đang ở thế bất lợi. Cô biết rằng nếu cô trở lại với Patricia Brent cùng bản quyền của cái truyện dài Comment j’ai fui un Grand Amour đó, mệnh phụ phu nhân hết sức nhà quê này sẽ rất vui. Đối với bà, từ Pháp là một cái nhãn đảm bảo tuyệt vời: tình tứ, văn hóa, sang cả một cách kín đáo nhưng thực chất. Đối với bà, cụm từ: theo thỏa thuận với tờ Femme et Foyer ở Paris, sẽ bốc ra chính sự hào nhoáng đó như một loại nước hoa đắt tiền của Pháp. Nhưng Ella biết rằng sau khi Patricia thực sự đọc được (đọc bản dịch - bà không biết tiếng Pháp) bà sẽ đồng ý, mặc dù do dự, rằng câu chuyện không ổn chút nào. Ella có thể, nếu cô muốn thế, coi là mình đang bảo vệ Patricia trước những điểm yếu của bản thân bà. Nhưng thực tế là Ella không có ý định mua truyện này, chưa bao giờ có chút ý định nào mua nó; và vì vậy cô đang lãng phí thời gian của người đàn ông trẻ tuổi chuẩn mực và khỏe khoắn, tinh tươm đến mức khó tin này. Lẽ ra cô nên cảm thấy có lỗi về chuyện này, nhưng không hề. Nếu có thích anh, cô đã tỏ ra ân hận: thực sự là cô coi anh như một loài động vật trung lưu được huấn luyện kỹ và tính kế lợi dụng anh: với tư cách một sinh vật độc lập, cô đã trở nên quá yếu đuối, không thể tận hưởng cái thú ngồi bên bàn giữa chốn đông người mà không có đàn ông bảo vệ, và người đàn ông này cũng có ích như bất kỳ ai. Cho đủ thủ tục, cô bắt đầu giải thích với Monsieur Brun về việc câu chuyện sẽ phải biến đổi thế nào cho hợp với nước Anh. Nó kể về đến một đứa trẻ mồ côi nghèo khổ, đau khổ vì người mẹ xinh đẹp đã sớm qua đời vì gã chồng vô cảm. Đứa trẻ được mấy bà xơ tốt bụng đưa vào tu viện nuôi dưỡng. Dù rất mộ đạo, năm lên mười lăm tuổi cô vẫn bị một gã làm vườn nhẫn tâm dụ dỗ, nên không dám nhìn mặt các bà xơ trong trắng, cô phải chạy trốn tới Paris, nơi cô đã bấu víu lấy, trong tội lỗi nhưng hoàn toàn ngây thơ từ tận đáy lòng, hết gã đàn ông này đến gã đàn ông khác, và tất cả đều lần lượt phản bội cô. Cuối cùng, năm hai mươi tuổi, trao lại đứa con ngoài giá thú cho một nhóm nữ tu tốt bụng khác chăm sóc, cô gặp anh thợ phụ làm bánh, nhưng cô thấy bản thân mình không xứng đáng với tình yêu của anh. Cô chạy trốn tình yêu đích thực này bằng cách buông mình vào vài vòng tay hờ hững nữa, nức nở khóc gần như không dứt. Nhưng cuối cùng anh thợ phụ làm bánh (nhưng chỉ sau khi nói đủ những lời cần thiết) bắt kịp cô, tha thứ cho cô, và hứa sẽ mang lại cho cô tình yêu, niềm đam mê và sự che chở bất diệt. “Tình yêu ơi,” thiên sử thi này kết thúc như vậy, “tình yêu ơi, em không biết rằng khi em chạy trốn anh cũng là khi em chạy trốn tình yêu đích thực.”

“Anh thấy đấy,” Ella nói, “câu chuyện này mang đặc vị Pháp đến mức chúng tôi sẽ phải cho viết lại.”

“Nhưng sao? Vậy là thế nào?” Đôi mắt tròn, lồi, màu nâu sẫm lộ vẻ oán giận. Ella ngăn mình lại trước khi nói gì hớ hênh - cô đã định phàn nàn về phong thái pha trộn giữa tình dục và mộ đạo - nghĩ rằng Patricia Brent cũng sẽ cứng người như vậy nếu có người, có lẽ là Robert Brun, nói: “Câu chuyện này mang đặc vị Anh.”

Robert Brun nói: “Tôi thấy câu chuyện rất buồn; rất đúng về mặt tâm lý.”

Ella đáp: “Truyện viết cho tạp chí phụ nữ luôn đúng về mặt tâm lý. Nhưng vấn đề là đúng ở cấp độ nào?”

Gương mặt anh, đôi mắt tròn của anh, bất động trong giây lát do khó chịu vì không hiểu. Sau đó Ella thấy đôi mắt anh quay đi và nhìn dọc theo vỉa hè: cô vợ chưa cưới trễ hẹn. Anh nói: “Theo bức thư của chị Brent, tôi hiểu rằng chị ấy đã quyết định mua truyện đó.” Ella đáp: “Nếu chúng tôi muốn in thì phải viết lại theo hướng không tu viện, không xơ, không tôn giáo.” “Nhưng toàn bộ mấu chốt của câu chuyện đó - chắc chị cũng đồng ý? - là tâm hồn tốt đẹp của cô gái tội nghiệp, từ tâm khảm cô ấy là một cô gái tốt.” Anh đã hiểu rằng cô sẽ không mua truyện này, nhưng có hay không thì anh cũng không quan tâm; và bây giờ đôi mắt của anh tập trung nhìn, vì phía cuối vỉa hè xuất hiện một cô gái xinh đẹp, mảnh mai, vóc dáng khá giống với Ella, gương mặt nhòn nhọn, nhỏ nhắn, tái nhợt với mái tóc đen phồng. Ella nghĩ: À, có lẽ mình thuộc gu của hắn, nhưng chắc chắn hắn không phải gu của mình, khi cô gái đến gần, cô chờ anh đứng dậy chào vợ chưa cưới. Nhưng đến giây phút cuối cùng, anh chuyển cái nhìn sang hướng khác và cô gái đi qua. Sau đó anh trở lại săm soi phía cuối vỉa hè, Được, Ella nghĩ; được - và ngồi quan sát kiểu thưởng lãm chi tiết, phân tích và gần như nhục dục của anh với hết người phụ nữ này sang người phụ nữ khác, đến khi người phụ nữ đang được nói đến nhìn anh, khó chịu hoặc thích thú, còn anh thì đưa mắt nhìn sang một bên.

Cuối cùng cũng xuất hiện một người phụ nữ xấu nhưng hấp dẫn; da vàng vọt, hơi ục ịch, nhưng trang điểm rất khéo và ăn mặc đẹp. Hóa ra đây là hôn thê của anh. Họ chào nhau với niềm vui hợp lệ của cặp đôi đã công khai. Mọi con mắt đều quay lại, như đã dự định, về phía cặp đôi hạnh phúc, và mọi người đều mỉm cười. Sau đó anh giới thiệu Ella. Đến lúc này thì cuộc đối thoại tiếp tục diễn ra bằng tiếng Pháp. Đề tài là về tấm thảm, đắt hơn nhiều so với mức giá dự kiến. Nhưng vẫn mua. Robert Brun cằn nhằn và kêu ca, bà Brun tương lai thở dài và chớp chớp đôi mi trên cặp mắt kẻ viền đen thẫm rồi kín đáo âu yếm lẩm bẩm rằng dành cho anh thì chẳng có cái gì là quá tốt cả. Họ cầm tay nhau, miệng mỉm cười. Anh vẻ tự mãn; cô ta vẻ vui sướng, và một chút lo lắng. Tay họ còn chưa kịp rời nhau, mắt anh đã theo thói quen quay đi nhìn nhanh về phía cuối vỉa hè khi có một cô gái xinh đẹp xuất hiện. Anh nhíu mày trấn tĩnh lại. Nụ cười của người vợ tương lai đông cứng lại một giây khi phát hiện ra điều này. Tuy nhiên, cô ta vẫn mỉm cười xinh xẻo và ngồi trở lại ghế, sau đó trò chuyện một cách xinh xẻo với Ella về các vấn đề trang bị nội thất trong thời buổi khó khăn này. Cái liếc của cô ta về phía vị hôn phu nhắc Ella về một cô gái điếm cô đã gặp trong một đêm khuya trong ga tàu điện ngầm ở London; người phụ nữ này cũng mơn trớn và mời gọi đàn ông bằng những cái liếc mắt nho nhỏ, kín đáo, xinh xẻo như thế.

Ella vừa bổ sung những thông tin về nội thất ở Anh vừa nghĩ: giờ thì mình là người thừa khi đi chơi với một cặp đã đính hôn. Mình cảm thấy lẻ loi và cách biệt. Mình lại có cảm giác như bị phơi bày rồi. Một phút nữa họ sẽ đứng dậy và rời bỏ mình. Đến lúc đấy thậm chí mình còn bị phơi bày hơn. Chuyện gì xảy ra với mình vậy? Thế mà mình thà chết còn hơn ở vào vị trí của người phụ nữ này, thật thế.

Ba người ngồi với nhau thêm hai mươi phút nữa. Vị hôn thê tiếp tục sôi nổi, yểu điệu, tinh nghịch, mơn trớn với tù nhân của mình. Vị hôn phu vẫn giữ thái độ bình thản và sở hữu. Chỉ mỗi ánh mắt phản bội anh. Và cô ta, tù nhân của anh, không bao giờ quên anh một giây phút nào - mắt cô ta dịch chuyển theo ánh mắt anh để xem cái nhìn dò xét sốt sắng, tỉ mỉ (mặc dù bây giờ cần phải giảm bớt đi) của anh đối với những người phụ nữ đi qua.

Với Ella, tình hình đã trở nên rõ ràng đến mức đau lòng; và cô nghĩ, chắc chắn là với cả những ai quan sát đôi tình nhân này trong vòng chưa đến năm phút? Họ đã ở bên nhau quá lâu rồi. Cô ta có tiền, và điều này rất cần thiết đối với anh. Cô ta yêu anh trong tuyệt vọng, sợ hãi. Anh thì ưa cô ta, và chưa gì đã thấy cuồng cẳng. Chú bò mộng vĩ đại chải chuốt thấy khó chịu ngay cả khi chưa bị sợi thòng lọng siết quanh cổ. Hai năm nữa, ba năm nữa, họ sẽ trở thành Monsieur và Madame Brun, sống trong một căn hộ đầy đủ tiện nghi (cô ta chi tiền) cùng một đứa con nhỏ và có thể thêm một người vú em; và cô ta vẫn tiếp tục mơn trớn, lẳng lơ và lo lắng, còn anh sẽ vui vẻ một cách lịch thiệp, nhưng đôi lúc nổi cáu vì các yêu cầu của gia đình khiến anh không thể vui vẻ với tình nhân được.

Và mặc dù Ella nắm rõ từng giai đoạn của cuộc hôn nhân này cứ như nó đã diễn ra trong quá khứ và cô đang nghe kể lại; mặc dù thấy cáu bẳn vì khó chịu với toàn bộ tình hình ở đây, cô lại khiếp sợ giây phút hai người sẽ đứng dậy và bỏ cô lại. Khi họ về, với tất cả cái lịch sự kiểu Pháp đáng ngưỡng mộ của mình, anh lịch sự một cách trơn tru và hờ hững, cô ta lịch sự với vẻ sốt sắng, để mắt nhìn anh như muốn nói: hãy xem em xử sự tốt với bạn làm ăn của anh ra sao đi. Và Ella bị bỏ lại bên bàn đúng vào giờ mọi người rủ nhau đi ăn, cảm giác như làn da vừa bị lột ra khỏi cơ thể. Ngay lập tức cô tự bảo vệ mình bằng cách tưởng tượng ra cảnh Paul đến ngồi bên cạnh, chỗ Robert Brun vừa ngồi. Cô nhận thấy có hai người đàn ông, vì lúc này cô đã một mình, đang cân nhắc cô, cân nhắc các cơ hội. Chỉ nháy mắt một trong hai người sẽ qua đây, và rồi cô sẽ cư xử như một người văn minh, uống một vài ly,vui với cuộc gặp gỡ, sau đó quay trở về khách sạn với cảm giác được củng cố và giải phóng khỏi bóng ma của Paul. Cô đang ngồi quay lưng lại một chậu cây thấp. Chiếc dù trên đầu trùm lên cô một quầng sáng màu vàng ấm áp. Cô nhắm mắt lại và nghĩ: Biết đâu khi mở mắt ra mình sẽ nhìn thấy Paul. (Bỗng nhiên có vẻ như không thể tưởng tượng được rằng anh lại không ở gần quanh đây, chờ đợi được đến gặp cô.) Cô nghĩ: Như vậy có nghĩa là sao, mình nói mình yêu Paul - khi mà sự ra đi của anh đã bỏ lại mình như một con ốc sên bị chim mổ vỡ lớp vỏ cứng? Lẽ ra mình nên nói rằng việc mình ở với Paul về cơ bản nghĩa là mình vẫn là chính mình, vẫn độc lập và tự do. Mình chẳng đòi hỏi gì ở anh cả, hôn nhân lại càng không. Vậy mà bây giờ mình lại tan vỡ từng mảnh thế này. Hóa ra chỉ là lừa lọc. Thực ra là mình ẩn náu dưới bóng anh. Mình chẳng hơn gì cái mụ đàn bà sợ hãi, vợ anh. Mình chẳng hơn gì Elise, vợ tương lai của Robert. Muriel Tanner giữ Paul bằng cách không bao giờ đặt câu hỏi, bằng cách giấu mình đi. Elise thì mua chuộc Robert. Nhưng mình dùng từ yêu và nghĩ rằng mình tự do, trong khi thực tế thì… một giọng nói vang lên sát bên cô, hỏi rằng chỗ này còn trống không, và Ella mở mắt ra thấy một người Pháp nhỏ bé, nhanh nhẹn, hoạt bát, đang chuẩn bị ngồi xuống. Cô tự nhủ là trông anh ta cũng dễ chịu, và cô nên ngồi nguyên chỗ cũ; cô mỉm cười căng thẳng, trả lời rằng cô thấy mệt và đau đầu, sau đó đứng dậy ra đi, hiểu rõ rằng thái độ của cô giống như một nữ sinh sợ hãi.

Bây giờ thì cô đã quyết định. Cô đi bộ về khách sạn, đi băng qua Paris, xếp đồ, gửi một bức điện cho Julia và một bức khác cho Patricia, sau đó lên xe buýt ra sân bay. Có một ghế trống trên chuyến bay lúc 9 giờ, từ giờ đến lúc đấy còn ba tiếng nữa. Tại nhà hàng của sân bay, cô ăn rất ngon lành - cảm thấy lại là chính mình, bởi người lữ hành có quyền được ở một mình. Cô đọc cả chục cuốn tạp chí phụ nữ của Pháp, bằng thái độ rất chuyên nghiệp, đánh dấu những mục và truyện có thể có ích cho Patricia Brent. Cô làm việc này nhưng đầu óc cứ để đi đâu đâu; và thấy mình đang nghĩ: À, liều thuốc cho tình trạng hiện tại của mình là công việc. Mình sẽ viết một cuốn tiểu thuyết nữa. Nhưng vấn đề là, với cuốn trước thì làm gì có lúc nào mình nói rằng “mình sẽ viết một cuốn sách” đâu nhỉ. Chỉ là mình nhận ra rằng mình đang viết thôi. Mình phải đặt bản thân vào đúng tâm trạng đấy mới được - một dạng sẵn sàng, một kiểu chờ đợi thụ động. Rồi có lẽ một ngày nào đấy mình sẽ nhận ra mình đang viết. Nhưng mình chẳng quan tâm lắm - mình thực sự cũng đâu quan tâm đến cuốn kia. Giả sử như Paul nói với mình là anh sẽ cưới em nếu em hứa sẽ không bao giờ viết thêm một chữ nào nữa? Lạy Chúa tôi, hẳn mình sẽ gật ngay! Hẳn mình sẽ sẵn sàng mua chuộc Paul, giống như Elise mua chuộc Robert Brun. Nhưng như vậy sẽ là lừa đảo gấp đôi, bởi vì việc viết sách chả liên quan gì cả - nó không phải một hành động sáng tạo mà chỉ là ghi chép lại. Câu chuyện đã được viết sẵn từ trước, bằng thứ mực vô hình… vậy thì có lẽ đâu đó bên trong mình có một câu chuyện khác được viết bằng thứ mực vô hình… nhưng để mà làm gì? Mình khổ sở bởi vì mình mất độc lập, mất tự do ở một dạng nào đó, nhưng việc mình “tự do” chẳng liên quan gì đến việc viết tiểu thuyết cả; nó liên quan đến thái độ của mình đối với một người đàn ông, và điều đó đã được chứng minh là thiếu trung thực, bởi vì mình đang tan vỡ. Thực tế là đối với mình, niềm hạnh phúc của mình với Paul quan trọng hơn bất cứ điều gì khác, vậy mà nó đẩy mình vào đâu? Cô đơn, sợ hãi cảnh cô đơn, không có gì để nương tựa, chạy trốn khỏi một thành phố sôi động bởi vì mình không đủ sức mạnh tinh thần để gọi cho bất cứ người nào trong số cả chục người sẵn lòng - hoặc ít ra thì cũng có thể sẵn lòng - khi mình gọi.

Điều kinh khủng là sau khi kết thúc mỗi giai đoạn trong cuộc đời, mình chẳng còn lại gì ngoài một câu đúc kết vô vị mà ai cũng biết: trong trường hợp này, là mọi cảm xúc của phụ nữ vẫn đang phù hợp với một dạng xã hội không còn tồn tại nữa. Cảm xúc sâu thẳm của mình, những cảm xúc thật của mình, đều liên quan đến mối quan hệ với một người đàn ông. Chỉ một người.Nhưng mình không sống kiểu đấy, và mình biết có rất ít phụ nữ sống kiểu đấy. Như vậy, những gì mình cảm nhận được chẳng liên quan gì và thật là ngớ ngẩn… Mình luôn đi đến kết luận rằng cảm xúc thực của mình thật là ngớ ngẩn, mình luôn phải, thực tế thế, tự xóa bỏ chính mình. Mình nên giống như đàn ông, quan tâm đến công việc của bản thân nhiều hơn là đến người khác; mình nên đặt công việc lên trên hết và chấp nhận đàn ông như con người thật của họ, hoặc tìm lấy một người bình thường dễ chịu vì miếng cơm manh áo - nhưng mình sẽ không làm vậy, mình không thể như vậy được…

Tiếng loa phóng thanh đang đọc số hiệu chuyến bay của cô; Ella đi cùng với những người khác qua sân nhựa đường và lên máy bay. Cô ngồi xuống, nhận ra rằng ngồi bên cạnh mình là một người phụ nữ, và nhận ra mình thấy nhẹ nhõm vì điều đó. Năm năm trước chắc là cô đã thấy tiếc. Chiếc máy bay chạy về phía trước, rẽ, sau đó bắt đầu lao nhanh để chuẩn bị cất cánh. Cỗ máy tăng tốc, rung lên; nó như phải gồng lên để gắng sức vươn vào không trung, rồi lại chậm lại. Nó đứng đó gầm rú vô ích mấy phút. Có chuyện rồi. Đám hành khách, chen chúc sát nhau trong cái thùng chứa bằng kim loại đang rung lên bần bật, len lén nhìn vào gương mặt được rọi đèn sáng bừng của người khác để xem cơn hoảng hốt của mình có phản ánh lại trên đó không; hiểu rằng gương mặt của chính mình cũng đang đeo chiếc mặt nạ thờ ơ, chìm vào nỗi sợ riêng tư, liếc nhìn những cô tiếp viên hàng không đang có vẻ mặt bình thản dường như quá trớn. Ba lần chiếc máy bay lao về phía trước, tăng tốc định cất cánh, chạy chậm lại, rồi lại đứng gầm rú. Sau đó nó quay trở lại tòa nhà sân bay, còn hành khách thì được mời xuống trong lúc đội thợ máy “điều chỉnh chút trục trặc trong động cơ”. Mọi người hành quân trở lại nhà hàng, và các quan chức hãng bay tỏ ra lịch sự nhưng không giấu được vẻ khó chịu tuyên bố rằng một bữa ăn sẽ được dọn ra. Ella ngồi một mình trong góc, buồn chán và bực bội. Mọi người đều im lặng, suy nghĩ rằng họ thật may mắn khi trục trặc động cơ được phát hiện kịp thời. Tất cả ăn để giết thời gian, gọi đồ uống, và ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ ngắm những người thợ máy đang tụ tập quanh chiếc máy bay dưới những chùm tia sáng rỡ.

Ella thấy mình bị một thứ cảm giác siết chặt lấy, và khi cô xem xét kỹ thì hóa ra đó là cảm giác cô đơn. Cứ như là giữa cô và các nhóm người kia có một khoảng không khí lạnh ngắt, một thứ chân không cảm xúc. Cảm giác đấy là sự lạnh lẽo hữu hình, sự lẻ loi hữu hình. Cô lại nghĩ về Paul: nghĩ dữ dội đến mức thật không sao hiểu nổi là anh lại không đơn giản bước qua cánh cửa và đến bên cô. Cô có thể cảm nhận được cái lạnh bao phủ quanh mình đang tan ra trước niềm tin mạnh mẽ là anh sẽ sớm ở bên cô. Cô gắng sức cắt bỏ cái tưởng tượng này: cô hoảng hốt nghĩ, nếu mình không thể ngừng chuyện này, chuyện điên rồ này, mình sẽ không bao giờ trở thành chính mình được nữa, mình sẽ không bao giờ hồi phục được nữa. Cô thành công trong việc xua đi cái phần của Paul trong mình; lại cảm nhận được những khoảng không lạnh lẽo quanh mình, và ngồi trong cái lạnh và nôi cô độc ấy, nhìn lướt qua chồng tạp chí tiếng Pháp và không nghĩ về bất cứ điều gì cả. Gần cô có một người đàn ông đang ngồi, mải mê với những tờ tạp chí mà cô thấy là viết về y khoa. Thoạt nhìn thì thấy anh là người Mỹ; thấp, đậm người, mạnh mẽ; mái tóc cắt ngắn lấp lánh trông giống như lông mao màu nâu. Anh đang uống mấy ly rượu hoa quả, ly này nối tiếp ly kia, và có vẻ như chẳng quan tâm gì đến chuyện hoãn giờ bay. Một lần ánh mắt họ gặp nhau sau khi cả hai cùng nhìn ra chiếc máy bay bên ngoài đang bị đám thợ máy vây kín, anh vừa nói vừa cười lớn: “Chúng ta sẽ bị kẹt ở đây suốt đêm mất thôi.” Anh trở lại với số tạp chí y khoa. Bây giờ đã hơn mười một giờ đêm, và họ là những người duy nhất còn chờ trong tòa nhà. Bỗng có tiếng ồn ào kinh khủng la hét bằng tiếng Pháp vang lên từ dưới sân: đám thợ máy bất đồng, và họ đang cãi nhau. Một người, rõ ràng là quản lý, đang hô hào những người khác, hoặc là cằn nhằn, liên tục vung tay và nhún vai. Đám kia lúc đầu còn quát lại, về sau im lặng tức tối. Sau đó cả nhóm tản ra, quay trở lại tòa nhà chính, chừa lại một mình người đó dưới chiếc máy bay. Lúc đầu anh ta còn chửi thề ầm ĩ, nhưng rồi nhún vai một cái cuối cùng thật nặng nề và giận dữ, sau đó anh ta cũng đi theo những người kia vào tòa nhà. Người Mỹ và Ella một lần nữa đưa mắt nhìn nhau. Anh nói, rõ là thấy thú vị trước chuyện này: “Tôi chẳng quan tâm lắm,” trong khi tiếng loa phóng thanh vang lên mời mọi người trở về chỗ ngồi. Ella và anh đi cùng nhau. Cô nói: “Hay là chúng ta từ chối không đi nữa?” Anh đáp, để lộ hàm răng đẹp, rất trắng và cái nhìn hăng hái từ đôi mắt xanh da trời hơi trẻ con: “Tôi có một cuộc hẹn vào sáng mai.” Rõ ràng là cuộc hẹn đấy quan trọng đến mức anh bất chấp cả nguy cơ bị tai nạn. Hầu hết đều đã bỏ lỡ cảnh cãi cọ của đám thợ máy, đoàn người ngoan ngoãn trèo trở lại chỗ ngồi của mình, rõ ràng là đang tập trung vào việc cần phải tỏ ra mọi việc đều ổn thỏa. Ngay cả cô tiếp viên hàng không dù đã tỏ ra điềm tĩnh nhưng vẫn không giấu được vẻ lo lắng. Bên trong khoang máy bay đèn đóm sáng rực, bốn mươi con người bị bóp nghẹt bởi nỗi sợ hãi nhưng lại cố gắng không thể hiện ra. Tất cả, Ella nghĩ, trừ tay người Mỹ, lúc này ngồi bên cạnh cô, và đã lại chăm chú với đống sách y khoa. Về phần mình, Ella trèo lên máy bay như thể trèo vào buồng tử hình, nhưng lại suy nghĩ về cái nhún vai của trưởng nhóm thợ máy: đấy cũng chính là cảm giác của cô. Khi chiếc máy bay bắt đầu rung lên, cô nghĩ: mình sắp chết, nhiều phần là vậy, và mình thấy vui.

Phát hiện này, sau giây phút ban đầu, không có gì là sốc cả. Cô đã mang nó từ rất lâu rồi: Mình mệt mỏi ghê gớm, mệt mỏi hoàn toàn và cơ bản trong từng thớ thịt của mình, đến nỗi biết rằng việc mình không phải tiếp tục sống cho hết nữa lại giống như được ân xá. Thật là lạ đời! Và những người ở đây, có thể trừ anh chàng trẻ tuổi hừng hực này ra, mỗi người đều sợ động cơ sẽ bị hỏng, vậy mà tất cả đều ngoan ngoãn chui vào. Như vậy có lẽ là chúng ta đều có cảm giác như nhau? Ella tò mò liếc nhìn ba người ngồi ở hông bên kia; họ tái nhợt vì sợ, mồ hôi lấp lánh trên trán. Máy bay lại một lần nữa tăng tốc để cất cánh vào không trung. Nó gầm rú chạy theo đường băng, và rồi, rung lên bần bật, nỗ lực nhấc mình vào vào không trung, giống như người hết hơi. Rất thấp, nó leo qua những mái nhà, rất thấp nó dâng lên, lấy độ cao một cách khó nhọc. Anh chàng người Mỹ nói, miệng cười toe toét: “Đấy, thành công rồi,” và lại tiếp tục đọc. Cô tiếp viên, nãy giờ đứng cứng người cười tươi rói, lúc này đã hoàn hồn và quay trở lại để chuẩn bị dọn thêm đồ ăn, và anh chàng người Mỹ lên tiếng: “Bây giờ tội nhân sẽ ăn một bữa thịnh soạn đây.” Ella nhắm mắt lại. Cô nghĩ: Mình tin chắc là máy bay sẽ bị rơi. Hoặc ít nhất thì cũng có nhiều nguy cơ bị rơi. Vậy còn Michael thì sao? Thậm chí mình còn không hề nghĩ đến nó - ờ thì Julia sẽ chăm sóc cho thằng bé. Ý nghĩ về Michael thôi thúc ham muốn sống lên được một lúc, rồi cô nghĩ: Có mẹ chết vì máy bay rơi - thật buồn, nhưng không đến nỗi tan nát. Không giống như tự tử. Lạ thật! - người ta thường nói, bố mẹ đem con cái đến với sự sống, nhưng con cái cũng đem lại sự sống cho bố mẹ khi bố mẹ quyết định sống chỉ vì tự tử sẽ làm con cái đau lòng. Không biết bao nhiêu bố mẹ đã quyết định tiếp tục sống bởi vì họ quyết định không làm đau lòng con cái, mặc dù họ không màng đến sự sống của bản thân nữa? (Bây giờ cô cảm thấy buồn ngủ.) À, bằng cách này mình sẽ không còn phải gánh chịu trách nhiệm nữa. Tất nhiên là mình có thể từ chối không lên máy bay - nhưng Michael sẽ không bao giờ được biết đến cuộc cãi vã của đám thợ máy. Thế là xong. Có cảm giác như mình sinh ra đã mang theo gánh nặng mệt mỏi trên vai, và suốt đời mình cứ phải mang theo. Thời gian duy nhất mình không phải vần đá ngược lên núi là khi mình ở cùng với Paul. Thôi, quá đủ Paul, quá đủ tình yêu và quá đủ mình rồi - những cảm xúc chán ngấy này, chúng ta bị giam hãm bên trong và không thể nào thoát ra được, bất kể có muốn đến đâu… Cô cảm nhận được tiếng động cơ rung mạnh. Nó sẽ bay tung thành từng mảnh nhỏ trong không trung, cô nghĩ, còn mình sẽ xoay tít như một chiếc lá rơi vào đêm đen, vào biển, mình sẽ xoay nhẹ bẫng vào làn nước biển đen ngòm, lạnh lẽo và hủy diệt. Ella ngủ và khi tỉnh dậy, cô thấy chiếc máy bay đứng yên còn anh chàng người Mỹ đang lay cô. Họ đã hạ cánh. Lúc này đã là một giờ sáng; và khi chiếc xe buýt chở đầy người đỗ tại tòa nhà sân bay thì đã gần ba giờ sáng. Ella tê cóng, lạnh buốt và đờ đẫn vì mệt. Anh chàng người Mỹ vẫn ở bên cô, vẫn vui vẻ, tươi tỉnh, gương mặt to hồng hào của anh toát lên vẻ khỏe khoắn. Anh mời cô đi chung taxi; lúc này chẳng còn đủ xe mà đi nữa.

“Tôi cứ nghĩ chúng ta tiêu rồi đấy,” Ella nói, nhận ra giọng mình cũng vô lo một cách vui vẻ như anh.

“Ừ, chắc chắn là có vẻ như thế.” Anh bật cười, phô toàn bộ hàm răng. “Khi nhìn thấy thằng cha nhún vai ở đằng đó - tôi nghĩ, Trời ơi! thế là xong. Cô ở đâu?” Ella cho anh biết, rồi nói thêm: “Anh đã có chỗ nào chưa?” “Tôi sẽ tìm lấy một khách sạn nào đó.” “Đêm hôm thế này không dễ đâu. Tôi muốn mời anh cùng, nhưng tôi có hai phòng, và con tôi ở mất một phòng rồi.” “Cô thật là đáng yêu, không, tôi không lo chuyện chỗ ở đâu.” Anh không lo thật. Trời sắp sáng; anh không có chỗ ngủ; vậy mà anh vẫn hoạt bát và tươi tỉnh như hồi đầu hôm. Anh cho cô xuống xe, nói rằng anh sẽ rất vui nếu như cô đi ăn tối với anh. Ella ngần ngừ, rồi sau đó đồng ý. Vậy là tối hôm sau, hay nói đúng hơn là tối hôm đó, họ sẽ gặp nhau. Ella đi lên gác, nghĩ rằng cô và anh chàng người Mỹ sẽ chẳng có chuyện gì để nói với nhau cả, và ý nghĩ về buổi tối sắp tới đã kịp khiến cô phát ngấy. Cô thấy con đang ngủ trong căn phòng giống như cái hang của một con thú con; mang mùi giấc ngủ khỏe khoắn. Cô sửa lại mấy tấm chăn trên người thằng bé, ngồi một lúc ngắm nghía gương mặt non tơ hồng hào hiện dần ra dưới thứ ánh sáng xam xám từ cửa sổ, ngắm nhìn tia sáng mềm mại từ mái tóc màu nâu lơ thơ của con. Cô nghĩ: Nó giống như vóc dáng anh chàng người Mỹ - cả hai đều vuông vức, to lớn và đầy những thớ cơ hồng hào khỏe mạnh. Nhưng anh chàng người Mỹ gây ra cho mình cảm giác kinh tởm thể chất hẳn hoi, nhưng không phải mình không thích anh ta, theo cái kiểu mình không thích con bò mộng trẻ trung đẹp đẽ Robert Brun vậy. Tại sao lại thế? Ella lên giường, và lần đầu tiên trong nhiều đêm, không nghĩ đến ký ức về Paul. Cô nghĩ rằng bốn mươi con người đã buông mình cho cái chết đều đang nằm trên giường, còn sống, khắp nơi trong thành phố.

Hai tiếng sau, con trai đánh thức cô dậy, mặt rạng rỡ vì ngạc nhiên khi thấy cô. Vì vẫn đang chính thức được nghỉ phép nên cô không đến văn phòng, nhưng gọi điện thông báo cho Patricia là không mua bản quyền, và Paris không cứu rỗi được cô. Julia đang tập duyệt một vở kịch mới. Cả ngày hôm đó Ella một mình, lau chùi, nấu nướng, sắp xếp lại nhà cửa; và chơi với con khi cậu bé đi học về. Trời muộn thì anh chàng người Mỹ, hóa ra có tên là Cy Maitland, mới gọi điện nói rằng anh nằm trong tay cô: cô muốn làm gì? Đến nhà hát? Xem nhạc kịch? Ba lê? Ella bảo rằng đã quá muộn để đến những nơi đó, và đề nghị đi ăn tối. Anh thở phào nhẹ nhõm ngay lập tức. “Nói thật với cô, sân khấu không phải là sở trường của tôi, tôi không hay đi xem lắm. Giờ thì nói cho tôi biết cô muốn ăn gì?” “Anh có muốn đi đến chỗ nào đặc biệt không? Hay là một nơi nào đó có bít tết, hoặc đại loại thế?” Một lần nữa anh lại thấy nhẹ nhõm. “Như thế hợp với tôi rồi - khẩu vị ăn uống của tôi cũng đơn giản thôi mà.” Ella đọc tên một nhà hàng có tiếng tốt và gạt bộ váy cô đã chọn cho buổi tối sang một bên: đấy là kiểu váy cô chưa bao giờ mặc khi đi với Paul vì ngại ngùng đủ kiểu; nhưng từ bấy đến giờ cô lại luôn luôn mặc do bướng bỉnh. Lúc này cô đã khoác vào chân váy và áo sơ mi, rồi trang điểm cho mình trông có vẻ khỏe mạnh hơn là thú vị. Michael đang ngồi trên chiếc giường giữa một đống truyện tranh. “Sao mẹ lại đi chơi ngay khi vừa về nhà xong?” Giọng thằng bé cố tình tỏ ra buồn bã. “Bởi vì mẹ thấy thích thế,” cô nói, toét miệng cười đáp lại thái độ của con. Thằng bé mỉm cười ra vẻ hiểu biết, sau đó cau mày và nói bằng giọng bị tổn thương: “Như vậy là không công bằng.” “Nhưng một giờ nữa là con sẽ ngủ thôi - mẹ hy vọng thế.” “Dì Julia sẽ đọc truyện cho con nghe chứ?” “Nhưng mẹ vừa đọc cho con nghe cả mấy tiếng rồi còn gì. Hơn nữa, ngày mai con còn đi học, vì vậy con phải đi ngủ.” “Nhưng khi mẹ đi con nghĩ là con sẽ nịnh dì đọc truyện.” “Thế thì tốt nhất là con đừng cho mẹ biết, bởi vì mẹ sẽ cáu đấy!” Thằng bé đưa mắt khiêu khích cô; ngồi giạng chân, vững chãi, má ửng hồng, rất tự tin ở bản thân cũng như thế giới của mình trong căn nhà này. “Tại sao mẹ không mặc cái váy mà mẹ bảo là mẹ sẽ mặc?” “Mẹ quyết định mặc cái này thay cái kia.” “Đúng là phụ nữ,” cậu bé chín tuổi nói bằng giọng hách dịch. “Suốt ngày lo váy xống.” “Thôi, chúc con ngủ ngon,” cô nói, chạm môi mình một thoáng lên bầu ma mịn màng, ấm áp của con, thích thú hít mùi xà bông còn mới trên tóc thằng bé. Cô đi xuống nhà và thấy Julia đang tắm. Cô hét lên: “Tớ đi đây!” và Julia hét trả: “Tốt nhất là cậu nên về sớm, đêm qua không ngủ chút nào rồi đấy.”

Tại nhà hàng, Cy Maitland đang chờ cô. Trông anh tươi trẻ và đầy sức sống. Đôi mắt sáng màu xanh nước biển của anh không hề mờ đi vì mất ngủ; Ella vừa sà xuống ngồi vào chiếc ghế bên cạnh anh và bỗng nhiên cảm thấy mệt mỏi, cô nói: “Anh không buồn ngủ chút nào à?” Anh đáp ngay lập tức bằng giọng đắc thắng: “Tôi không bao giờ ngủ quá ba bốn tiếng mỗi đêm.” “Tại sao thế?” “Bởi vì tôi sẽ không bao giờ đạt được đến cái đích mình muốn nếu như lãng phí thời gian vào việc ngủ.” “Anh kể về anh đi,” Ella nói, “rồi tôi sẽ kể cho anh nghe về tôi.” “Được thôi.” anh nói. “Được thôi. Thật lòng mà nói thì tôi thấy cô là một ẩn số, vì vậy cô sẽ phải nói rất nhiều đấy.” Nhưng lúc này những người phục vụ đã sẵn sàng chờ đợi, vì vậy Cy Maitland gọi “suất bít tết lớn nhất ở đây” và Coca-Cola, không ăn khoai tây bởi vì anh phải giảm sáu ký nữa, cùng với xốt cà chua. “Anh không bao giờ uống rượu mạnh ư?” “Không bao giờ, nước quả thôi.” “Ồ, tôi e rằng anh sẽ phải gọi rượu vang cho tôi đấy.” “Rất sẵn lòng,” anh nói, và bảo người phục vụ rượu mang ra một chai “loại ngon nhất”. Đội phục vụ vừa quay đi, Cy Maitland hào hứng nói: “Ở Paris, hầu bàn tỏ đủ kiểu thái độ để cho người ta biết mình là dân nhà quê; nhưng ở đây, tôi thấy bọn họ cho ta biết ngay mà chẳng cần phải làm gì.” “Vậy anh có phải là dân nhà quê không?” “Chắc chắn rồi, chắc chắn rồi,” anh nói, hàm răng rất đẹp của anh lấp lánh. “Vậy đã đến lúc nghe chuyện đời của anh rồi.” Câu chuyện kéo dài đến tận cuối bữa ăn - kết thúc, về phần Cy, trong vòng mười phút. Nhưng anh đợi cô ăn bằng thái độ dễ chịu, trả lời các câu hỏi của cô. Anh sinh ra trong một gia đình nghèo. Nhưng anh cũng là người có đầu óc và biết cách sử dụng nó. Học bổng và tiền trợ cấp đưa anh đến nơi anh muốn - một bác sĩ giải phẫu não thành đạt, gia đình hạnh phúc với năm đứa con, một vị trí và một tương lai xán lạn, cho dù điều này là do anh tự nói ra. “Vậy thì thế nào là một gia đình nghèo theo nghĩa ở Mỹ?” “Cả đời ông già tôi bán quần tất phụ nữ và bây giờ ông ấy vẫn thế. Tôi không nói rằng nhà từng bị đói, nhưng trong gia đình không hề có bác sĩ phẫu thuật não nào cả, cái này thì chắc chắn.” Những lời khoe khoang của anh được nói ra đơn giản và tự nhiên đến mức không còn là khoe khoang nữa. Và sức sống ở anh bắt đầu lây sang Ella. Cô quên béng mất là mình đang mệt. Khi anh nói rằng đã đến lúc cô kể cho anh nghe về bản thân, cô cứ trì hoãn cái mà giờ đây cô đã hiểu sẽ là cả một cuộc vật lộn. Một mặt, cô chợt nhận ra rằng đời mình không thể mô tả bằng một loạt những tuyên bố đơn giản như bố mẹ tôi thế này thế kia, tôi sống ở nơi này nơi khác; tôi làm việc nọ việc kia. Mặt khác, cô hiểu rằng cô thích anh, và phát hiện này khiến cô cảm thấy bối rối. Khi anh đặt bàn tay to lớn, trắng trẻo lên cánh tay cô, cô cảm thấy vú mình dựng lên và ngứa ngáy. Đùi cô ướt nhẹp. Nhưng cô chẳng có gì giống anh cả. Cô không thể nhớ nổi, dù chỉ một lần trong đời, từng phản ứng về mặt thể xác trước một người đàn ông không có gì tương tự với mình hay chưa. Từ trước đến giờ cô luôn phản ứng với ánh mắt, nụ cười, giọng nói, tiếng cười. Theo những gì cô thấy, người đàn ông này là một kẻ dã man khỏe mạnh; và phát hiện ra mình muốn lên giường với anh đã khiến cô như bị chia đôi. Cô có cảm giác cáu bẳn và bực bội, cô nhớ mình đã từng cảm giác y hệt như thế khi bị chồng tìm cách tác động lên cơ thể để khêu gợi cô, đi ngược lại cảm xúc của mình. Kết cục chỉ là lãnh cảm. Cô nghĩ: Mình cũng chẳng khác gì một bà lãnh cảm. Rồi cô nhận ra điều hài hước: cô đang ngồi đây, ướt nhẹp vì ham muốn người đàn ông này, thế mà lại lo lắng về chứng lãnh cảm tưởng tượng. Cô bật cười và anh hỏi: “Có chuyện gì buồn cười à?” Cô đáp bâng quơ, và anh vui vẻ nói: “Được thôi, cô cũng nghĩ rằng tôi là dân nhà quê. Đối với tôi chuyện đấy chả sao cả. Bây giờ tôi đề nghị thế này. Tôi cần phải gọi hai chục cuộc điện thoại, và tôi muốn gọi đi từ khách sạn. Quay về với tôi, tôi sẽ đãi cô đồ uống, và khi tôi gọi điện xong thì cô sẽ kể cho tôi nghe về cô.” Ella đồng ý; nhưng rồi lại tự hỏi không biết anh có nghĩ rằng như vậy là tín hiệu cho thấy cô đã sẵn sàng lên giường với anh hay không? Nếu đúng thì anh không biểu lộ bất cứ điều gì cho thấy như vậy cả. Cô nhận ra rằng với những người đàn ông trong giới mà cô từng gặp, cô có thể đọc được họ cảm thấy gì hoặc đang nghĩ gì qua một ánh mắt, cử chỉ, hoặc qua bầu không khí; vì vậy những điều họ nói không cho cô biết gì thêm về họ. Nhưng với người đàn ông này, cô chẳng biết tí gì. Anh đã có vợ, nhưng cô không biết, chẳng hạn như đã từng biết về Robert Brun, quan điểm của anh đối với chuyện ngoại tình thế nào. Vì cô không biết gì về anh, đâm ra anh cũng chẳng biết gì về cô: chẳng hạn, anh không biết rằng đầu vú cô đang nóng rực. Vì vậy, cô đồng ý và hờ hững theo anh đi về khách sạn.

Anh thuê một phòng có buồng ngủ kiêm phòng khách và nhà tắm trong một khách sạn đắt tiền. Căn phòng nằm chính giữa tòa nhà, lắp điều hòa, không có cửa sổ nên gây cảm giác tù túng, đồ đạc sắp xếp gọn gàng và không mang dấu ấn cá nhân. Ella có cảm giác như đang bị nhốt; nhưng anh thì tỏ vẻ thoải mái như ở nhà. Anh rót cho cô một ly whisky, sau đó kéo điện thoại về phía mình và gọi, như lời anh nói, khoảng hai mươi cuộc, kéo dài nửa tiếng. Ella lắng nghe và để ý thấy rằng ngày mai anh có ít nhất mười cuộc hẹn, trong đó có bốn cuộc tại các bệnh viện nổi tiếng ở London. Sau khi gọi điện xong, anh bắt đầu đi tới đi lui một cách khoái trá trong căn phòng nhỏ. “Trời ơi,” anh thốt lên, “trời ơi! Tôi thấy thật tuyệt.” “Nếu tôi không ở đây, anh sẽ làm gì?” “Tôi sẽ làm việc.” Có một chồng dày tạp chí y khoa trên chiếc bàn ngủ của anh, vì vậy cô hỏi: “Đọc?” “Đúng vậy. Có rất nhiều thứ phải đọc, nếu muốn bắt kịp.” “Anh có bao giờ đọc cái gì ngoài công việc không?” “Không.” Anh bật cười và nói: “Vợ tôi mới là người mê văn hóa. Tôi không có thời gian.” “Kể tôi nghe về chị ấy đi.” Anh lập tức lấy ra một bức ảnh. Một người phụ nữ tóc vàng có gương mặt xinh đẹp bầu bĩnh, vây quanh là năm đứa con nhỏ. “Trời! chẳng phải là cô ấy rất đẹp sao? Cô ấy là cô gái đẹp nhất thành phố!” “Đấy là lý do anh lấy chị ấy?” “Ồ, chắc chắn rồi…” Anh hiểu sắc thái giọng nói của cô, nên tự cười mình cùng cô, lắc đầu như thể ngạc nhiên vì chính mình: “Chắc chắn rồi! Tôi đã tự nhủ, mình sẽ cưới cô gái xinh đẹp nhất, đẳng cấp nhất thành phố và tôi đã làm được. Tôi đã làm được chính điều đó.” “Anh hạnh phúc chứ?” “Cô ấy rất tuyệt,” anh hăm hở trả lời ngay. “Cô ấy đẹp, và tôi có năm đứa con trai rất đẹp. Tôi ước sao có một đứa con gái, nhưng mấy đứa con trai của tôi rất ngoan. Và tôi chỉ ước sao có thêm nhiều thời gian ở bên chúng, những lúc như thế tôi cảm thấy rất dễ chịu.”

Ella nghĩ: Nếu bây giờ mình đứng dậy và nói rằng mình phải đi, anh ấy sẽ đồng ý một cách vui vẻ, không chút khó chịu. Có thể mình sẽ gặp lại anh ấy sau. Có thể không. Cả hai người đều sẽ không để tâm. Nhưng bây giờ mình phải đóng vai chỉ dẫn mới được, bởi vì anh ấy không biết phải làm gì với mình cả. Mình phải đi thôi - nhưng tại sao cơ chứ? Chỉ mới hôm qua mình vừa quyết định rằng điều này thật lố bịch, việc mẫu phụ nữ như mình có những cảm xúc chẳng phù hợp với cuộc sống gì cả. Còn một người đàn ông, trong trường hợp này, mẫu đàn ông mà nếu sinh ra làm đàn ông thì mình cũng sẽ giống như vậy, sẽ đi ngủ và không nghĩ thêm chút nào đến chuyện đó. Còn anh thì đang nói: “Và bây giờ, Ella ạ, tôi đã kể đủ thứ về bản thân, và cô đã làm một người nghe dễ chịu khủng khiếp, phải thừa nhận như thế, nhưng cô biết không, tôi chẳng biết chút gì về cô cả, chẳng biết chút gì cả.”

Làm ngay đi, Ella nghĩ. Làm ngay đi.

Nhưng cô còn câu giờ: “Anh có biết bây giờ là hơn mười hai giờ rồi không?”

“Không? Vậy sao? Tệ quá. Tôi chẳng bao giờ đi ngủ trước ba bốn giờ sáng cả, vậy mà bảy giờ tôi đã dậy rồi, ngày nào cũng vậy.”

Làm ngay đi, Ella nghĩ. Thật lố bịch, cô nghĩ, là chuyện này lại khó khăn đến thế. Nói ra điều cô sắp sửa nói là đi ngược lại với mỗi bản năng sâu thẳm nhất của cô, và cô ngạc nhiên khi thấy câu đó phát ra một cách thực sự hờ hững, chỉ hơi hổn hển một chút: “Anh có muốn ngủ với em không?”

Anh nhìn cô, cười toét. Anh không ngạc nhiên. Anh… thích thú. Được, Ella nghĩ, anh ấy thích thú. Vậy thì tốt thôi; cô thích anh vì điều đó. Bỗng nhiên anh ngật cái đầu to lớn khỏe mạnh ra đằng sau và thốt lên: “Trời, ôi trời, có hay không ư? Có, thưa quý tiểu thư, Ella, nếu em không nói câu đấy thì anh cũng không biết phải nói gì cả.”

“Em biết,” cô đáp, mỉm cười e lệ. (Cô có thể cảm nhận được nụ cười e lệ này và cảm thấy kinh ngạc.) Cô e lệ nói: “Ôi, bây giờ, thưa ngài, tôi nghĩ ngài nên làm cho tôi cảm thấy thoải mái một chút, hoặc đại loại thế.”

Anh cười toe. Anh đang đứng ở phía bên kia phòng; và cô nhìn thấy da thịt anh, một cơ thể bằng thứ da thịt ấm áp, đầy đặn, sung sức. Tốt thôi, chuyện sẽ xảy ra như thế. (Đến lúc này, Ella đã tự tách mình ra khỏi Ella và đứng sang một bên, quan sát và ngạc nhiên.)

Cô đứng dậy, mỉm cười, và từ từ kéo váy xuống. Anh mỉm cười cởi chiếc áo khoác và lột áo sơ mi ra.

Trên giường, một cơn choáng váng hân hoan khi hai cơ thể căng ra, nóng ấm gặp gỡ nhau. (Ella đang đứng một bên, mỉa mai nghĩ: Chà, chà!) Anh vào sâu trong cô gần như ngay lập tức và xuất chỉ sau vài giây. Cô định an ủi hoặc tỏ ra tế nhị thì anh nằm vật ra, vung tay lên và thốt lên: “Trời. Ôi trời!”

(Đến thời điểm này Ella trở lại là chính mình, một người, cả hai đều suy nghĩ như một.)

Cô nằm bên cạnh anh, kiềm chế sự thất vọng của cơ thể và mỉm cười.

“Ôi trời ơi!” anh nói, giọng thỏa mãn. “Anh thích như vậy. Mọi chuyện đều nhẹ nhõm với em.”

Cô chậm rãi suy nghĩ về điều này, tay cô ôm quanh người anh. Sau đó anh bắt đầu nói về vợ, có vẻ chẳng ăn nhập vào đâu cả. “Em biết không? Bọn anh đi đến câu lạc bộ, nhảy nhót, hai, ba đêm mỗi tuần. Em biết đấy, câu lạc bộ xịn nhất thành phố. Tất cả đàn ông đều nhìn anh và nghĩ, thằng chó này may thật! Cô ấy là người đẹp nhất ở đấy, dù đã có năm đứa con. Họ nghĩ bọn anh hẳn sướng với nhau lắm. Trời ơi, đôi khi anh nghĩ, giả sử anh bảo với họ - bọn tôi có năm đứa con. Và từ hồi cưới đến giờ bọn tôi mới làm năm lần. Ôi, anh phóng đại thôi, nhưng đại loại là như thế. Cô ấy không quan tâm, mặc dù trông ngoài thì cô ấy như thế.”

“Có vấn đề gì vậy?” Ella e lệ hỏi.

“Anh chịu. Trước khi cưới nhau, khi đang hẹn hò, cô ấy vẫn rất nóng bỏng mà. Trời ơi, cứ nghĩ xem!”

“Hai người… hẹn hò bao lâu?”

“Ba năm. Sau đó bọn anh đính hôn. Bốn năm.”

“Vậy mà không bao giờ làm tình?”

“Làm tình - ồ, anh hiểu. Không, cô ấy không cho, và anh cũng không muốn cô ấy phải làm thế. Nhưng mọi cái nhưng. Và hồi đó cô ấy rất ngon, trời ơi, cứ nghĩ xem! Thế mà trong tuần trăng mật cô ấy đóng băng lại. Còn bây giờ thì anh chả động đến cô ấy chút nào nữa. Trừ đôi khi bọn anh xỉn quá sau khi tiệc tùng.” Anh buông ra tiếng cười mạnh mẽ và trẻ trung, phi đôi chân to lớn màu nâu lên trời rồi thả rơi xuống. “Bọn anh đi khiêu vũ, cô ấy toàn ăn mặc kiểu giết người, tất cả đàn ông đều nhìn cô ấy và ghen tị với anh, còn anh thì nghĩ: giá mà bọn họ biết!”

“Anh không để bụng ư?”

“Trời ạ, tất nhiên là có chứ. Nhưng anh không định ép buộc ai cả. Đấy là điều anh thích ở em - lên giường thôi, em nói vậy, rất hay và dễ. Anh thích em.”

Cô nằm bên anh, mỉm cười. Cơ thể to lớn khỏe mạnh của anh căng tràn hạnh phúc. Anh nói: “Chờ một lúc, anh sẽ làm lại. Lâu không thực hành, anh nghĩ vậy.”

“Anh có người phụ nữ nào khác không?”

“Thỉnh thoảng. Khi có cơ hội. Anh không theo đuổi bất cứ ai cả. Chả có thời gian.”

“Quá bận bịu với việc đạt được mục đích?”

“Đúng vậy.”

Anh đưa tay xuống và tự mơn trớn mình.

“Anh không muốn em làm việc đấy sao?”

“Cái gì? Em không ngại à?”

“Ngại?” cô vừa nói vừa mỉm cười, chống khuỷu tay nằm cạnh anh.

“Khỉ thật, vợ anh không bao giờ chạm vào người anh. Phụ nữ không thích thế.” Anh lại buông ra một tràng cười nữa. “Em không ngại chứ?”

Một lúc sau, gương mặt anh chuyển sang cảm giác mãn nguyện kinh ngạc. “Trời ơi,” anh nói. “Trời ơi. Ôi trời ơi!”

Cô nhẩn nha làm cho anh lớn trở lại, sau đó nói: “Và bây giờ thì đừng có mà hấp tấp đấy.”

Anh nhíu mày suy nghĩ, Ella có thể nhận thấy anh nghĩ chuyện này rất lung; ôi, anh ấy đâu có ngốc - nhưng cô đang thắc mắc về vợ anh, về những người phụ nữ khác của anh. Anh vào trong cô; và Ella nghĩ: từ trước đến nay chưa bao giờ mình làm điều này - mình đang ban phát khoái lạc. Phi thường, chưa bao giờ mình dùng cụm từ đó, thậm chí là nghĩ đến cũng chưa. Với Paul, mình đi vào bóng tối và không suy nghĩ gì nữa cả. Bản chất của điều này là mình tỉnh táo, có kỹ năng, tế nhị - mình đang ban phát khoái lạc. Chẳng giống gì với những điều mình đã từng có với Paul. Nhưng mình đang lên giường với người đàn ông này và đang thân mật. Cơ thể anh chuyển động trong cơ thể cô, quá nhanh và vụng về. Một lần nữa cô không đạt được, còn anh thì gào lên vì sung sướng, hôn cô và hét: “Ôi trời ơi, ôi trời ơi, ôi trời ơi!”

Ella nghĩ: Nhưng với Paul, mình sẽ đạt được trong khoảng thời gian đó - vậy thì vấn đề nằm ở chỗ nào? - nói rằng mình không yêu người đàn ông này cũng không đủ ư? Bỗng nhiên cô hiểu rằng với người này cô sẽ không bao giờ đạt được cả. Cô nghĩ: đối với kiểu đàn bà như mình, phẩm giá không có nghĩa là trinh bạch, không có nghĩa là chung thủy, không phải là bất cứ từ nào trong những từ xưa cũ cả. Phẩm giá là cực khoái. Đấy là điều mình không tài nào điều khiển được. Mình sẽ không bao giờ đạt được cực khoái với người đàn ông này, mình có thể ban phát khoái lạc và chỉ thế thôi. Nhưng tại sao lại không? Phải chăng mình đang nói rằng mình không bao giờ đạt được trừ phi với người đàn ông mình yêu? Bởi vì nếu điều đó là đúng thì mình đang tự đày mình vào cõi sa mạc nào đây?

Anh vô cùng thỏa mãn với cô, hết sức khen ngợi cô, mắt lấp lánh vì khoan khoái. Và Ella tự thấy vui với chính mình vì đã có thể làm anh hạnh phúc đến thế.

Khi cô đã mặc xong đồ để về nhà và đang gọi taxi, anh nói: “Anh không biết sẽ như thế nào nếu như lấy một người như em - giời ơi!

“Chắc là anh sẽ thích?” Ella e lệ hỏi.

“Như thế sẽ - ôi! một người phụ nữ biết trò chuyện mà lại có nhiều trò vui trên giường nữa - ôi, thậm chí anh còn chẳng tưởng tượng được cơ!”

“Anh không trò chuyện với vợ à?”

“Cô ấy tốt,” anh nghiêm trang nói. “Anh coi trọng cô ấy và lũ trẻ vô cùng.”

“Chị ấy có hạnh phúc không?”

Câu hỏi này làm anh ngạc nhiên đến mức anh chống người lên khuỷu tay để suy nghĩ về điều đó và về cô - anh đang cau mày nghiêm nghị. Ella nhận thấy cô đang thích anh quá đi mất; cô ngồi nguyên váy áo bên mép giường mà thích anh. Anh nói, sau khi suy nghĩ kỹ: “Cô ấy có căn nhà đẹp nhất thành phố. Cô ấy có tất cả mọi thứ mà cô ấy muốn, đặt trong căn nhà. Cô ấy có năm đứa con trai - anh biết cô ấy muốn có con gái, nhưng có lẽ là lần sau… Cô ấy vui vẻ khi ở bên anh - bọn anh đi khiêu vũ mỗi tuần một đến hai lần, và cô ấy luôn luôn là cô gái lộng lẫy nhất ở bất cứ nơi nào bọn anh tới. Và cô ấy có anh - để anh nói cho em nghe Ella ạ, anh không phải bốc phét đâu, anh có thể nhận ra vì em cười khi anh nói ra điều đó - nhưng cô ấy có một người đàn ông rất giỏi giang.”

Đến đây, anh với tay cầm tấm ảnh vợ đang đặt bên cạnh giường và nói: “Trông cô ấy có vẻ gì là không hạnh phúc không?” Ella nhìn gương mặt nhỏ nhắn xinh đẹp và nói: “Không, không hề.” Cô nói thêm: “Em chịu không hiểu nổi một người phụ nữ như vợ anh.”

“Đúng vậy, anh nghĩ là em không hiểu cô ấy đâu.”

Taxi đang chờ, vì vậy Ella hôn anh và ra về sau khi anh nói: “Mai anh sẽ gọi cho em. Trời ơi, anh muốn được gặp lại em quá đi mất.”

Tối hôm sau, Ella ở cùng anh. Không phải vì bất kỳ khả năng được vui thú nào, mà là vì cô thích. Hơn nữa, cô cảm thấy rằng nếu không gặp anh, có thể anh sẽ bị tổn thương.

Họ lại đi ăn tối với nhau ở nhà hàng hôm trước. (“Đây là nhà hàng của chúng mình, Ella,” anh nói với giọng tình cảm; như nói: “Đây là bài hát của chúng ta, Ella.”)

Anh kể về sựnghiệp của mình.

“Vậy khi anh đã vượt qua mọi kỳ thi và tham dự mọi hội nghị thì sao nữa?”

“Anh sẽ cố gắng trở thành nghị sĩ.”

“Sao không phải là tổng thống?”

Anh cùng cô bật cười, cười anh, vui vẻ như mọi khi. “Không, không làm tổng thống. Nhưng nghị sĩ - được. Anh nói cho em nghe, Ella, hãy để ý tên anh. Trong vòng mười lăm năm, em sẽ thấy nó ở đầu ngành cho mà xem. Cho đến bây giờ, anh đã làm tất cả mọi điều anh nói, đúng không nào? Vì vậy anh biết mình sẽ làm gì trong tương lai. Nghị sĩ Cy Maitland, Wyoming. Muốn cá không?”

“Em không bao giờ cá khi biết là em sẽ thua.”

Ngày hôm sau anh sẽ quay về Mỹ. Anh đã phỏng vấn cả tá bác sĩ hàng đầu trong ngành, thăm cả chục bệnh viện, tham dự bốn hội nghị. Anh đã hết việc ở Anh.

“Anh muốn đi Nga,” anh nói. “Nhưng anh không thể đi được, khi bây giờ mọi việc đang như thế này.”

“Anh muốn nói đến McCarthy?”

“Vậy là em đã nghe nói về ông ta?”

“Ồ, vâng, bọn em đã nghe nói về ông ta.”

“Đám người Nga đấy, họ rất giỏi trong ngành của anh, anh đã đọc tài liệu về họ, đi thì anh không ngại, nhưng với tình hình hiện tại thì không được.”

“Khi trở thành nghị sĩ, thái độ của anh với McCarthy sẽ thế nào?”

“Thái độ của anh? Em lại đùa anh đấy à?”

“Không hề.”

“Thái độ của anh - ôi, ông ta nói đúng, chúng ta không thể để cho bọn Đỏ nắm quyền được.”

Ella lưỡng lự, sau đó e lệ nói: “Chị ở cùng nhà với em là cộng sản.”

Cô cảm nhận được anh cứng người lại, sau đó anh suy nghĩ, và rồi thả lỏng người. Anh nói: “Anh biết ở đây đối với bọn em mọi việc khác hẳn. Anh không hiểu, anh không ngại nói cho em nghe như thế.”

“Vâng, chẳng vấn đề gì cả đâu.”

“Không vấn đề gì. Em về khách sạn với anh chứ?”

“Nếu anh muốn.”

“Nếu anh muốn!” Một lần nữa, cô lại ban phát khoái lạc. Cô thích anh, và chỉ vậy thôi.

Họ trò chuyện về công việc của anh. Chuyên ngành của anh là mổ cắt thùy não trước(3): “Trời ơi, anh đã chính tay xẻ đôi hàng trăm bộ não ra rồi!”

“Nó không khiến anh nghĩ ngợi gì sao, cái việc anh đang làm ấy?”

“Sao nó lại khiến anh nghĩ ngợi chứ?”

“Nhưng anh biết là khi anh phẫu thuật xong, thì không đảo ngược được nữa, người ta không bao giờ trở lại như cũ được nữa?”

“Nhưng mục đích nằm ở chỗ đấy, hầu hết bọn họ đều không muốn trở lại như cũ.” Rồi bằng sự thẳng thắn đặc trưng của mình, anh nói thêm: “Nhưng phải thừa nhận là có lúc anh nghĩ rằng, mình đã làm hàng trăm ca rồi, cũng đến lúc dừng rồi.”

“Người Nga sẽ không đồng ý với anh đâu,” Ella nói.

“Ừ. Đấy là lý do vì sao anh không ngại sang đấy để tìm hiểu xem họ định làm gì thay thế. Nói cho anh biết đi, sao em lại biết về cắt thùy não?”

“Hồi trước em đã từng bắt bồ với một bác sĩ tâm lý. Anh ấy cũng là nhà thần kinh học. Nhưng không phải là bác sĩ giải phẫu não đâu - anh ấy bảo rằng không bao giờ chẩn đoán bệnh nhân nên cắt thùy não - ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi.”

Bỗng nhiên anh nói: “Kể từ khi anh bảo với em rằng anh là chuyên gia giải phẫu trong lĩnh vực đó, em không còn thích anh như trước nữa.”

Cô đáp sau một lúc im lặng: “Ừ. Nhưng em không làm khác được.”

Rồi anh bật cười và nói: “Ừ, anh cũng không làm khác được.” Và anh nói: “Em bảo, em đã từng bắt bồ với ai đó, như không thế à?”

Lúc nói câu đó, Ella đang nghĩ về Paul: Mình đã từng bắt bồ, từ này đúng là hết sức tương xứng với từ anh ta đã sử dụng “cái cô nàng lông bông” này - hoặc là bất kỳ từ nào anh ta dùng diễn tả cái ý đó. Cô thấy mình đang bất giác nghĩ: Tốt! anh ta đã bảo mình là thế! Được thôi, mình là thế đấy, và mình vui vì điều đó.

Cy Maitland hỏi: “Em có yêu anh ta không?”

Hai người chưa bao giờ nhắc đến từ yêu; anh cũng không sử dụng từ này khi đề cập đến vợ.

Cô đáp: “Rất nhiều.”

“Em không muốn cưới à?”

Cô e lệ đáp: “Phụ nữ ai mà không muốn cưới.”

Anh khịt lên cười; sau đó quay ra nhìn cô bằng ánh mắt sắc sảo. “Anh không hiểu em, Ella, em biết điều đó chứ? Anh không hiểu em chút nào cả. Nhưng anh hiểu em là mẫu người phụ nữ hơi bị không chịu lệ thuộc đấy.”

“Vâng, đúng vậy, em nghĩ thế.”

Anh vòng tay ôm lấy cô và nói: “Ella, em dạy cho anh nhiều điều.”

“Em rất vui. Hy vọng là những điều đó làm anh dễ chịu.”

“Ôi, có chứ, quá dễ chịu.”

“Tốt.”

“Em đùa anh đấy à?”

“Một chút thôi.”

“Được rồi, không sao cả. Em biết không Ella, hôm nay anh nhắc đến tên em với một người và họ bảo rằng em đã viết sách?”

“Ai mà chả viết sách.”

“Nếu anh bảo với vợ rằng anh đã gặp một nhà văn thực thụ, cô ấy sẽ không bao giờ bỏ qua cả, cô ấy phát rồ vì văn hóa và những thứ tương tự như thế.”

“Nhưng có lẽ tốt nhất là anh không nên kể với chị ấy.”

“Nếu anh đọc cuốn sách của em thì sao?”

“Nhưng anh đâu có đọc sách.”

“Anh biết đọc mà,” anh nói, giọng vui vẻ. “Viết về cái gì vậy?”

“Ờ… để em xem. Các kiểu chiêm nghiệm, phẩm giá, rồi cái này cái kia.”

“Em không nghĩ nó là nghiêm túc à?”

“Tất nhiên là nghiêm túc rồi.”

“Vậy thì được. Được. Em không đi à?”

“Em phải đi - khoảng bốn tiếng nữa con em sẽ tỉnh dậy, và không giống như anh, em cần phải ngủ.”

“Được rồi. Anh sẽ không quên em đâu Ella. Anh tự hỏi không biết cưới em sẽ như thế nào.”

“Em có cảm giác là anh sẽ không thích lắm đâu.”

Cô mặc đồ vào; anh nằm thoải mái trên giường ngắm cô, ranh mãnh và tư lự.

“Thì không thích vậy,” anh vừa nói vừa cười, dang rộng hai tay. “Có thể anh không thích thật.”

“Không đâu.”

Họ chia tay, trìu mến.

Cô ngồi taxi về nhà và rón rén lên gác để không đánh thức Julia. Nhưng có ánh sáng lọt ra từ dưới khe cửa phòng Julia, và cô gọi ra: “Ella?”

“Ừ. Michael ổn chứ?”

“Chả chiếp lấy một tiếng nào. Sao rồi?”

“Hay,” Ella thận trọng đáp.

“Hay ư?”

Ella vào phòng ngủ. Julia nằm dựa trên đống gối, vừa hút thuốc vừa đọc sách. Cô dò xét Ella một cách chuyên chú.

Ella nói: “Anh ấy rất đáng yêu.”

“Thế thì tốt.”

“Và sáng mai tớ sẽ thấy cực kỳ chán nản. Thực ra thì tớ có thể cảm nhận được là nó đang đến ngay bây giờ.”

“Vì anh ta sẽ quay về Mỹ?”

“Không.”

“Trông cậu kinh quá. Có chuyện gì vậy, khoản giường chiếu của anh ta không ổn à?”

“Không ổn lắm.”

“Ồ ra thế,” Julia nói bằng giọng chịu đựng. “Làm điếu không?”

“Không. Tớ sẽ đi ngủ trước khi nó tới.”

“Nó tới rồi đấy. Tại sao cậu lại lên giường với một người đàn ông không hấp dẫn cậu?”

“Tớ có nói là anh ấy không hấp dẫn tớ đâu. Vấn đề là tớ lên giường với ai cũng đều vô ích, ngoài Paul.”

“Cậu sẽ vượt qua được thôi.”

“Ừ, tất nhiên rồi. Nhưng sẽ rất lâu đấy.”

“Cậu phải kiên trì,” Julia nói.

“Tớ định thế.” Ella đáp. Cô chúc bạn ngủ ngon và lên phòng mình.

*

[Cuốn sổ xanh tiếp tục.]

Ngày 15 tháng Chín, 1954

Đêm qua Michael bảo (đã một tuần rồi tôi không gặp anh):

“Chào Anna, vậy là chuyện tình tuyệt vời của chúng ta sắp kết thúc ư?” Dấu chấm hỏi đúng đặc trưng của anh: anh đang kết thúc nó, nhưng nói cứ như tôi là người kết thúc. Tôi đáp, mỉm cười nhưng mỉa mai dù không muốn: “Nhưng ít nhất thì nó cũng là một chuyện tình tuyệt vời?” Đến anh: “À, Anna ạ, em bịa ra những câu chuyện về cuộc đời và tự kể cho mình nghe, nhưng em không biết điều gì thật điều gì không cả.” “Vậy là chuyện tình của chúng ta không hề tuyệt vời?” Giọng nghe hết hơi và van vỉ, mặc dù tôi không cố tình. Tôi cảm thấy mất tinh thần kinh khủng và lạnh toát trước lời lẽ của anh, như thể anh đang phủ nhận chính sự tồn tại của tôi. Anh nói, giọng bỡn cợt: “Nếu em bảo đúng thì là đúng. Và nếu em bảo không phải thì là không phải.” “Như vậy cảm giác của anh không tính?” “Anh ư? Nhưng Anna ơi, tại sao lại phải tính đến anh?” (Câu này nghe cay đắng, chế giễu, nhưng âu yếm.) Về sau tôi phải đấu tranh với một cảm giác luôn xâm chiếm lấy tôi sau mấy vụ đấu khẩu kiểu này: cảm giác phi thực, cứ như xác thịt tôi đang loãng ra và tan biến đi. Rồi tôi nghĩ thật là mỉa mai vì để trấn tĩnh trở lại, tôi phải dùng đến chính con người Anna mà Michael ghét nhất, cô Anna ưa chỉ trích và duy lý. Vậy thì được thôi, anh bảo rằng tôi toàn bịa chuyện về cuộc sống chung của chúng tôi. Tôi sẽ viết lại, càng chân thực càng tốt, từng giai đoạn trong một ngày. Ngày mai. Hết ngày mai tôi sẽ ngồi xuống viết.

Ngày 17 tháng Chín, 1954

Đêm qua tôi không viết được vì quá buồn. Và bây giờ, tất nhiên là tôi đang tự hỏi không biết việc tôi quyết định sẽ chú ý thật rõ tới tất cả mọi điều diễn ra hôm qua có làm thay đổi hình thù ngày đó hay không. Chỉ vì chú ý tới nó mà tôi biến nó thành một ngày đặc biệt ư? Tuy nhiên, tôi vẫn sẽ viết lại để xem thế nào. Tôi dậy sớm, lúc khoảng năm giờ sáng, căng thẳng, bởi vì tôi nghĩ là nghe thấy tiếng Janet lục đục trong căn phòng ở bên kia bức tường. Nhưng chắc chỉ là con bé trở mình rồi ngủ tiếp. Một dòng nước màu xám chảy trên khung cửa sổ. Ánh sáng màu xám. Hình dáng đồ đạc to lù lù trong ánh sáng lờ mờ. Michael và tôi nằm quay mặt ra phía cửa sổ, tay tôi ôm lấy anh bên dưới chiếc áo pyjama, đầu gối tôi lọt trong khuỷu chân anh. Một làn hơi ấm lành sực nức từ anh tỏa sang tôi. Tôi nghĩ: Chẳng mấy nữa rồi anh sẽ không còn quay trở lại. Có thể mình sẽ biết đó là lần cuối cùng, cũng có thể không. Có thể đây chính là lần cuối? Nhưng dường như không thể nào kết hợp được hai cảm giác này lại với nhau: Michael đang ngủ ấm áp trong tay mình; và biết rằng anh sắp sửa không còn ở đây nữa. Tôi dịch tay lên trên và lớp lông trên vú anh vừa trơn vừa ráp trong lòng bàn tay tôi. Điều này khiến tôi cảm thấy cực kỳ thích thú. Anh giật mình tỉnh dậy, thấy tôi đang thức nên nói gắt: “Anna, gì thế?” Giọng anh như đang mơ ngủ, nghe vừa sợ hãi vừa giận dữ. Anh xoay người nằm ngửa ra và ngủ tiếp. Tôi nhìn mặt anh để thấy hình bóng giấc mơ trên đó; mặt anh đanh lại. Đã có lần anh nói khi đột ngột tỉnh giấc và hoảng hốt vì một giấc mơ: “Anna yêu dấu ơi, nếu em nhất định muốn ngủ với người đàn ông là lịch sử của châu Âu trong suốt hai mươi năm qua thì em không được phàn nàn khi anh ta có những giấc mơ không êm đềm.” Giọng rất oán ghét: oán ghét vì tôi không thuộc về dòng lịch sử đó. Nhưng tôi biết rằng một trong những lý do anh ở với tôi là vì tôi không thuộc về nó, không chứa điều gì bị hủy hoại trong mình. Sáng nay tôi nhìn vào gương mặt đanh lại lúc ngủ và một lần nữa cố gắng hình dung ra nó, để nó thuộc về trải nghiệm của chính tôi, dù điều đó có nghĩa là gì: “Bảy người trong gia đình, bao gồm cả bố mẹ tôi, đều bị giết trong phòng hơi ngạt. Phần lớn bạn bè thân thiết của tôi đều chết: những người cộng sản bị giết bởi bàn tay cộng sản. Hầu hết những người sống sót đều phải tỵ nạn ở nước ngoài. Tôi sẽ sống đến hết đời tại một đất nước không bao giờ trở thành ngôi nhà thực thụ của tôi cả.” Nhưng như thường lệ, tôi không tài nào hình dung được. Ánh sáng trở nên dày và nặng do bên ngoài đang mưa. Gương mặt anh không còn đanh lại nữa mà đã giãn ra. Giờ đây nó trở nên phóng khoáng, điềm tĩnh, tự tin. Đôi mí mắt nhắm lại một cách bình yên, và trên đấy là cặp lông mày mỏng, bóng. Tôi hình dung được anh hồi còn là đứa trẻ, không biết sợ, vênh váo, nụ cười vô tư, thẳng thắn và lanh lợi. Cũng như anh lúc già nua: anh sẽ là một ông già cáu kỉnh, thông minh và năng nổ, bị giam kín trong nỗi cô đơn thông minh cay đắng. Trong tôi tràn ngập cảm xúc mà người ta thường có, phụ nữ thường có, về trẻ em: cảm giác đắc thắng oanh liệt: bất chấp mọi trở ngại, bất chấp sức nặng của cái chết, con người này vẫn tồn tại ở đây, một phép mầu bằng xương bằng thịt đang sống. Tôi vực cảm giác này dậy, củng cố nó để chống lại cái cảm giác còn lại là chẳng mấy chốc nữa anh sẽ lìa xa tôi. Chắc hẳn trong giấc ngủ anh cũng cảm nhận được điều này, bởi vì anh cựa mình và nói: “Ngủ đi, Anna.” Anh mỉm cười trong khi mắt vẫn nhắm. Nụ cười thật mạnh mẽ và ấm áp; đến từ một thế giới khác chứ không phải là thế giới mà anh nói câu: Nhưng Anna ơi, tại sao lại phải tính đến anh? Tôi cảm thấy - vớ vẩn, tất nhiên là anh sẽ không rời bỏ tôi; anh không thể mỉm cười với tôi như thế mà lại có ý rời bỏ tôi được. Tôi đặt lưng nằm xuống cạnh anh. Tôi cố không ngủ, bởi vì Janet sắp dậy. Ánh sáng trong phòng giống như làn nước mỏng manh xam xám, chuyển động, do dòng nước chảy trên khung cửa sổ. Mấy cánh cửa sổ khẽ rung. Vào những đêm trời gió, chúng thường va đập và rung lắc, nhưng tôi không bị thức giấc. Thế mà tôi lại thức giấc khi Janet trở mình trên giường.

Chắc lúc này khoảng sáu giờ sáng. Đầu gối tôi căng lên. Tôi nhận ra điều mà tôi thường gọi khi nói chuyện với Mẹ Mật, là “bệnh nội trợ”, đã chiếm lấy tôi. Cơn căng thẳng trong tôi, khiến cảm giác bình yên rời bỏ tôi mà đi, là vì dòng điện đã bật: Tôi phải-mặc-đồ-cho-Janet-cho-con-ăn-sáng-đưa-con-đi-học-mua-đồ-ăn-sáng-cho-Michael-đừng-quên-nhà-đã-hết-trà-v.v-v.v. Cùng với cơn căng thẳng vô dụng nhưng rõ ràng là không tránh được này, cảm giác oán ghét cũng xuất hiện. Oán ghét với cái gì mới được chứ? Với bất công. Rằng tôi lại phải bỏ ra quá nhiều thời gian để lo lắng về những chuyện lặt vặt. Cảm giác oán ghét dồn vào Michael; mặc dù bằng lý trí tôi biết rằng chuyện này chẳng liên quan gì đến Michael cả. Vậy mà tôi vẫn cứ ghét anh, bởi vì anh sẽ đi qua một ngày có các kiểu thư ký, y tá, phụ nữ đủ vị trí phục vụ, giúp anh trút đi gánh nặng này. Tôi cố gắng thư giãn, cố gắng tắt dòng điện này đi. Nhưng chân tay tôi bắt đầu thấy đau, vì vậy tôi phải trở mình. Có một chuyển động khác diễn ra bên kia bức tường - Janet đang dậy. Đồng thời, Michael chuyển mình và tôi thấy của anh đang phồng lên dưới mông tôi. Cơn oán ghét chuyển sang: Tất nhiên là anh chọn đúng lúc này, khi tôi đang căng thẳng và lắng tai theo dõi Janet. Nhưng cơn giận không liên quan gì đến anh. Cách đây rất lâu rồi, khi đang trong thời kỳ điều trị với Mẹ Mật, tôi học được rằng oán ghét và cáu giận là cảm giác rất chung chung, không dành cho ai cụ thể. Nó là căn bệnh của phụ nữ thời đại chúng ta. Tôi có thể nhận thấy nó hàng ngày trên gương mặt, trong giọng nói của phụ nữ, hoặc trong những bức thư gửi đến văn phòng của tôi. Cảm xúc của phụ nữ căm hận với bất công, một liều thuốc độc chung chung không nhằm vào ai cụ thể. Những ai bất hạnh không biết cảm giác này là chung chung thì quay sang đổ lên đầu đàn ông. Những ai may mắn như tôi - chiến đấu cưỡng lại nó. Một cuộc chiến mệt mỏi. Michael mơ màng chiếm lấy tôi từ phía sau, mạnh và sát. Anh chiếm lấy tôi như thể chiếm lấy một ai đó không rõ mặt, vì vậy tôi không phản ứng như lúc anh đang yêu Anna. Và hơn nữa, tôi đang dùng một nửa tâm trí nghĩ cách làm thế nào để nếu nghe thấy tiếng chân nhè nhẹ của Janet ở bên ngoài, tôi phải bật dậy và chạy ngang phòng ngăn không cho con bé bước vào. Có một quy định là con bé không bao giờ vào phòng tôi trước bảy giờ cả, tôi không nghĩ là nó sẽ vào, nhưng tôi vẫn phải cảnh giác. Trong khi Michael ghì lấy tôi và đưa vào trong tôi, tiếng động ở phòng bên vẫn tiếp tục vang lên, và tôi biết anh cũng nghe thấy, nhưng anh có cái thú vui là chiếm hữu tôi trong tình cảnh mạo hiểm; vì Janet, cô bé tám tuổi, một phần là hiện thân của phụ nữ - những người phụ nữ khác anh đã phản bội để ngủ với tôi, và một phần là trẻ em; đại biểu của trẻ em, mà anh khẳng định quyền được sống của mình, đương đầu với chúng. Anh chưa bao giờ nói đến các con mình mà không kèm theo tiếng cười khẽ nửa trìu mến nửa hiếu chiến - người thừa kế của anh, nhưng cũng là kẻ thủ tiêu anh. Con tôi, chỉ cách vài bước chân bên kia tường, anh sẽ không cho phép nó cướp lấy tự do của anh. Khi chúng tôi làm xong, anh nói: “Bây giờ, Anna ạ, anh đoán là em sắp bỏ anh mà sang với Janet phải không?” Và giọng anh nghe như một đứa trẻ cảm thấy mình bị xem nhẹ hơn em mình. Tôi bật cười và hôn anh, mặc dù cơn oán ghét bỗng nhiên trở nên mạnh đến mức tôi phải nghiến răng kìm lại. Như thường lệ, tôi kiềm chế bằng cách nghĩ rằng: Nếu là đàn ông chắc mình cũng vậy. Việc kiềm chế và kỷ luật khi làm mẹ đến với tôi thật khó, đến mức tôi không thể tự lừa dối mình được rằng nếu là đàn ông và không phải tự ép mình vào khuôn khổ, tôi sẽ khác. Vậy mà trong mấy giây ngắn ngủi mặc áo choàng sang phòng Janet, cơn giận giống như một thứ thuốc độc dữ dội. Trước khi sang với Janet, tôi rửa nhanh khu vực giữa hai chân để mùi tình dục không làm con khó chịu, mặc dù con bé chưa biết đấy là gì. Tôi thích mùi này, vì vậy rất ghét phải rửa sớm; và phải làm thế khiến cảm giác tức tối càng tăng thêm. (Tôi nhớ mình đã từng nghĩ rằng việc cố tình theo dõi mọi phản ứng của bản thân chỉ khiến chúng trở nên trầm trọng hơn, bình thường chúng không mạnh đến vậy.) Nhưng khi đóng cánh cửa phòng Janet lại sau lưng và nhìn thấy con ngồi thẳng trên giường, mái tóc đen bù xù thành từng mớ, gương mặt nhỏ bé tái nhợt (mặt tôi) mỉm cười, cơn oán ghét biến mất dưới thói quen kỷ luật, và gần như ngay lập tức trở thành cảm giác yêu thương. Bây giờ là sáu rưỡi và căn phòng nhỏ bé này rất lạnh. Cửa sổ phòng Janet cũng có những dòng nước màu xám. Tôi nhóm bếp ga lên trong khi con bé ngồi trên giường, xung quanh là những mảng màu tươi sáng trong truyện tranh, vừa quan sát xem tôi có làm mọi việc như thường lệ hay không vừa đọc sách. Tôi trìu mến thu mình lại bằng kích thước Janet và trở thành Janet. Ngọn lửa màu vàng to lớn trông như một con mắt khổng lồ, cánh cửa sổ, to lớn, bất cứ vật gì cũng có thể lọt qua được; một thứ ánh sáng màu xám mang điềm xấu, chờ đợi mặt trời xuất hiện, như ác quỷ hoặc thiên thần, sẽ xua cơn mưa đi. Rồi tôi buộc mình trở lại là Anna: tôi nhìn Janet, một đứa trẻ bé xíu trên chiếc giường rộng lớn. Một đoàn tàu chạy qua, các bức tường khẽ rung lên. Tôi bước đến hôn con và ngửi thấy mùi thơm của da thịt ấm áp, của mái tóc, chất vải của bộ pyjama, nóng lên vì giấc ngủ. Trong khi căn phòng ấm lên, tôi đi vào nhà bếp và chuẩn bị bữa sáng cho con - ngũ cốc, trứng rán và trà, bày trên một cái khay. Tôi mang cái khay quay lại phòng Janet, con bé ngồi trên giường ăn sáng còn tôi thì uống trà và hút thuốc. Nhà cửa tĩnh lặng đến ghê người - Molly sẽ còn ngủ đến hai ba tiếng nữa mới dậy. Tommy về khuya cùng một cô gái, chúng cũng đang ngủ. Bên kia bức tường, một đứa bé đang khóc. Điều này mang lại cho tôi cảm giác về tính liên tục, cảm giác nghỉ ngơi, đứa bé khóc như ngày nào Janet đã khóc. Đây là tiếng khóc ngái ngủ hài lòng của đứa bé đã được cho ăn nên sẽ ngủ trong giây lát. Janet nói: “Sao chúng ta không có thêm em bé hả mẹ?” Con bé thường xuyên hỏi câu này. Và tôi trả lời: “Bởi vì mẹ không có chồng, người ta phải có chồng mới sinh được em bé.” Con bé hỏi câu này bởi vì một phần nó muốn tôi sinh em bé; và một phần là để yên tâm về vai trò của Michael. Rồi nó hỏi: “Chú Michael có ở đây không?” “Có, chú ấy đang ngủ,” tôi đáp chắc nịch. Thái độ quả quyết của tôi khiến con bé vững tâm; và tiếp tục ăn bữa sáng. Giờ thì căn phòng đã ấm, vì vậy con bé bước ra khỏi giường trong bộ đồ ngủ màu trắng, trông mong manh và dễ bị tổn thương. Con bé vòng tay ôm lấy cổ tôi và đánh đu qua lại, miệng hát: Ngủ ngoan bé yêu. Tôi đung đưa con bé và hát - nựng nó, Janet đã trở thành đứa bé sơ sinh bên kia tường, đứa bé mà tôi sẽ không có được. Rồi đột ngột nó buông tôi ra khiến tôi cảm thấy mình bật tung lên như một cái cây vừa thoát khỏi vật nặng uốn cong. Janet tự mặc quần áo, miệng ngân nga hát, vẫn còn lơ mơ buồn ngủ, vẫn yên bình. Tôi nghĩ con bé vẫn sẽ giữ được cảm giác bình yên này trong nhiều năm, đến khi áp lực đè nặng lên khiến nó phải bắt đầu suy nghĩ: nửa tiếng nữa, mình phải nhớ nấu khoai tây và sau đó phải viết một danh sách đi chợ, rồi phải nhớ thay cổ váy, rồi… Tôi rất muốn bảo vệ con bé khỏi áp lực này, muốn trì hoãn nó; rồi tôi lại tự nhủ là tôi chẳng phải bảo vệ con khỏi cái gì cả, nhu cầu này thực sự là Anna muốn bảo vệ Anna. Con bé chậm rãi mặc đồ, huyên thuyên một chút, hát ậm ừ, nó có kiểu di chuyển lười biếng vụng về của một con ong dưới ánh mặt trời. Nó mặc một chiếc váy xếp li ngắn màu đỏ và một chiếc áo len bó màu xanh thẫm cùng đôi tất cũng xanh thẫm. Một cô bé xinh xắn. Janet. Anna. Đứa bé nhà bên đã ngủ; bên đấy chỉ còn sự yên lặng thỏa mãn. Mọi người đều ngủ trừ tôi và Janet. Đó là cảm giác gần gũi như chỉ có riêng hai chúng tôi - một cảm giác bắt đầu xuất hiện khi con bé vừa ra đời, khi cả hai mẹ con thức cùng nhau vào những lúc cả thành phố xung quanh đều ngủ. Đó là niềm hân hoan ấm áp, lười biếng, thân mật. Đối với tôi, dường như con bé mong manh đến mức tôi muốn chìa tay ra để đỡ nó khỏi một bước vấp chân, hoặc một cử chỉ bất cẩn; nhưng đồng thời cũng mạnh mẽ đến mức bất tử. Tôi cảm nhận được điều tôi vẫn cảm thấy khi ngủ với Michael, cái nhu cầu muốn được cười phá lên đắc thắng vì con người kỳ diệu, mong manh và bất tử này, bất chấp sức nặng của cái chết.

Bây giờ đã gần tám giờ và một áp lực khác bắt đầu xuất hiện; hôm nay là ngày Michael đến bệnh viện ở Nam London, vì vậy anh phải dậy vào lúc tám giờ để cho kịp giờ. Anh muốn trước khi anh dậy thì Janet đã đi học. Và tôi thích điều này, bởi vì nó chia đôi tôi ra. Cả hai nhân cách - mẹ của Janet và tình nhân của Michael - đều thấy vui hơn khi được tách khỏi nhau. Thật căng thẳng khi đóng cả hai vai một lúc. Trời không còn mưa nữa. Tôi chùi lớp sương đọng lại từ hơi thở và hơi ẩm ban đêm bám trên khung cửa sổ và thấy hôm nay là một ngày đẹp trời, ẩm ướt nhưng quang đãng. Trường Janet ở gần nhà, chỉ đi bộ một quãng là đến. Tôi nói: “Con phải mang theo áo mưa đấy.” Ngay lập tức giọng nó vút lên phản đối: “Ôi không, mẹ ơi, con ghét áo mưa lắm, con thích áo có mũ trùm đầu cơ.” Tôi đáp, giọng điềm tĩnh và quả quyết: “Không. Áo mưa. Trời mưa suốt cả đêm rồi.” “Mẹ ngủ thì làm sao mà biết được?” Lời đối đáp đắc thắng này khiến con bé trở nên vui vẻ. Bây giờ nó sẽ mang theo chiếc áo mưa và đi đôi ủng cao su vào mà không lèo nhèo gì thêm. “Chiều nay mẹ có đến trường đón con không?” “Có,mẹ nghĩ vậy, nhưng nếu mẹ không đến được thì con cứ về nhé, dì Molly sẽ ở đây.” “Hoặc anh Tommy.” “Không, Tommy thì không.” “Tại sao thế ạ?” “Bây giờ anh Tommy lớn rồi, anh ấy đã có bạn gái.” Tôi cố tình nói điều này bởi vì con bé đã thể hiện những dấu hiệu ghen tuông với bạn gái Tommy. Con bé điềm nhiên đáp: “Anh Tommy lúc nào cũng thích con nhất.” Và nói thêm: “Nếu mẹ không đến đón thì con sẽ đến chơi nhà bạn Barbara.” “Được rồi, nếu vậy thì mẹ sẽ đến và đón con vào lúc sáu giờ.” Con bé lao xuống cầu thang, tạo nên tiếng động ầm ĩ. Nghe giống như một vụ lở tuyết chính giữa ngôi nhà. Tôi sợ là Molly có thể sẽ tỉnh giấc. Tôi đứng ở chiếu nghỉ lắng nghe, đến tận mười giây sau, cửa trước đóng sầm lại; và tôi buộc mình phải ngừng hết mọi suy nghĩ về Janet cho đến thời điểm phù hợp. Tôi quay trở lại phòng mình. Michael lù lù một cục đen thui dưới đống chăn. Tôi kéo rèm trở lại rồi ngồi lên giường và hôn Michael đến lúc anh thức dậy. Anh tóm lấy tôi và nói: “Lên giường đi em.” Tôi đáp: “Tám giờ rồi đấy. Để sau.” Anh đặt tay lên vú tôi. Hai đầu vú bắt đầu nóng ran lên, vì vậy tôi kiềm chế mình và nói: “Tám giờ rồi.” “Ôi, Anna, em lúc nào cũng năng nổ và thực tế vào buổi sáng thế đấy.” “Thì tốt chứ sao,” tôi vui tươi đáp, nhưng tôi vẫn nghe được sự bực bội trong giọng mình. “Janet đâu rồi?” “Đi học rồi.” Anh buông tay cho rơi khỏi ngực tôi, và bây giờ tôi cảm thấy thất vọng - rồ dại làm sao - bởi vì chúng tôi sẽ không làm tình. Và cả nhẹ nhõm nữa, bởi vì nếu không thì anh sẽ bị trễ và nổi cáu với tôi. Và tất nhiên, cảm giác oán ghét: căn bệnh của tôi, gánh nặng của tôi, cây thánh giá trên vai tôi. Bực bội vì anh nói: “Em lúc nào cũng năng nổ và thực tế,” trong khi chỉ nhờ sự năng nổ và thực tế của tôi mà anh mới có thêm hai tiếng đồng hồ nữa ở trên giường.

Anh dậy và rửa mặt cạo râu, còn tôi làm bữa sáng cho anh. Chúng tôi luôn ăn trên chiếc bàn thấp kê cạnh giường vừa được vội vã kéo lớp ga phủ lên. Bây giờ chúng tôi uống cà phê, ăn hoa quả và bánh mì nướng; anh đã trở thành con người của công việc, quần áo phẳng phiu, mắt trong veo, điềm tĩnh. Anh đang quan sát tôi. Tôi biết điều này bởi vì anh định nói với tôi chuyện gì đó. Lẽ nào hôm nay là ngày anh chia tay? Tôi nhớ đây là buổi sáng đầu tiên chúng tôi bên nhau sau một tuần trời. Tôi không muốn nghĩ đến điều này bởi vì hẳn Michael, hễ ở nhà là cảm thấy ức chế và buồn chán, không chịu ở với vợ suốt sáu ngày qua. Thế thì ở đâu? Cảm giác của tôi không hẳn là ghen mà là một nỗi đau nặng nề lờ mờ, nỗi đau mất mát. Nhưng tôi mỉm cười, đưa cho anh miếng bánh mì, mời anh đọc báo. Anh cầm lấy mấy tờ báo, liếc nhìn và nói: “Nếu em chịu được anh hai đêm liên tiếp - tối nay anh phải có mặt ở bệnh viện trên phố này để giảng bài.” Tôi mỉm cười, trong giây lát cả hai trao nhau vẻ mỉa mai, bởi vì chúng tôi đã có nhiều năm bên nhau hết đêm này đến đêm khác, Rồi anh rơi vào trạng thái vừa ủy mị vừa giễu nhại chính vẻ ủy mị ấy: “À, Anna này, em nhìn xem nó mòn vẹt đi vì em thế nào.” Tôi lại chỉ mỉm cười, bởi vì có nói cũng chẳng ích gì, sau đó anh nói một cách vui vẻ, nhại lối kẻ trác táng: “Cứ mỗi ngày ló rạng là em lại trở nên thực tế hơn. Bất cứ người đàn ông có đầu óc nào cũng biết rằng khi phụ nữ trở nên năng nổ bên cạnh mình, đấy là khi anh ta nên ra đi.” Bỗng nhiên trò chơi này trở nên quá đau đớn, vì vậy tôi nói: “Thôi được rồi, dù sao đi nữa thì em cũng rất mừng nếu như tối nay anh đến đây. Anh có muốn ăn luôn không?” Anh đáp: “Chả có vẻ gì là anh phải từ chối ăn cơm với em khi mà em nấu ngon như thế, phải không nào?” “Em sẽ chờ đấy,” tôi đáp.

Anh nói: “Nếu em có thể mặc đồ thật nhanh, anh sẽ chở em qua văn phòng.” Tôi lưỡng lự, bởi vì tôi đang nghĩ: Nếu tối nay nấu ăn thì mình phải mua thức ăn trước khi đi làm. Anh nói nhanh khi thấy vẻ lưỡng lự của tôi: “Nhưng nếu em không muốn thì anh đi trước.” Anh hôn tôi; nụ hôn này là sự tiếp nối tất cả những yêu đương mà chúng tôi có với nhau. Anh nói, xóa bỏ giây phút gần gũi đó, vì giọng anh tiếp tục chủ đề còn lại: “Nếu không có bất cứ điểm chung nào khác, thì chúng ta vẫn có tình dục.” Mỗi khi anh nói vậy, và chỉ gần đây anh mới hay nói câu này, tôi cảm thấy đáy lòng mình lạnh băng; câu nói là sự chối bỏ tôi toàn toàn, hoặc là tôi cảm thấy như vậy, và giữa chúng tôi có một hố sâu ngăn cách. Từ bên kia hố, tôi nói giọng mỉa mai: “Chúng ta chỉ có với nhau mỗi thế thôi sao?” và anh đáp: “Mỗi thế? Nhưng Anna yêu dấu ơi, Anna yêu dấu - mà anh phải đi rồi, anh sẽ muộn mất.” Và anh đi, mang theo nụ cười rầu rĩ cay đắng của một người bị từ chối.

Bây giờ thì tôi phải vắt chân lên cổ. Tôi rửa ráy lần nữa và mặc đồ. Tôi chọn một chiếc váy len có cổ màu đen pha trắng, cổ hẹp màu trắng, bởi vì Michael thích nó, và có lẽ không còn đủ thời gian để thay đồ trước buổi tối hôm nay. Sau đó tôi chạy xuống hàng rau củ và hàng thịt. Thật là vui khi đi mua thức ăn để nấu cho Michael; một niềm vui đầy khoái cảm, giống như bản thân hành động nấu nướng vậy. Tôi hình dung ra miếng thịt tẩm ruột bánh mì và trứng; nấm đun liu riu với kem chua và hành, món xúp trong, đặc, màu hổ phách. Hình dung ra rồi, tôi sáng tạo bữa ăn, những động tác tôi sẽ áp dụng, kiểm tra nguyên liệu, nhiệt độ, độ sánh. Tôi lấy thức ăn vừa mua ra rồi bỏ lên bàn; sau đó nhớ ra thịt bê cần phải đập và tôi phải làm ngay, bởi vì nếu để đến tối thì sẽ làm Janet thức giấc. Vì vậy tôi đập dẹt miếng thịt bê ra và dùng giấy gói các tấm thịt lại rồi để đấy. Đã chín giờ rồi. Đang hết tiền nên tôi phải đi xe buýt chứ không đi taxi. Tôi còn mười lăm phút nữa để sửa soạn. Tôi quét vội cái nhà rồi dọn giường, thay tấm trải giường bị ố bẩn vì đêm qua. Khi nhét tấm trải bị ố vào chiếc giỏ đồ giặt, tôi để ý thấy có vết máu. Nhưng chắc chắn tôi chưa đến tháng mà? Tôi vội vã kiểm tra ngày tháng và nhận ra đúng rồi, là hôm nay. Tôi bỗng thấy mệt mỏi và cáu bẳn, bởi vì những cảm giác này đến cùng với các kỳ kinh nguyệt. (Tôi tự hỏi nếu đừng chọn đúng hôm nay để bắt đầu ghi lại mọi cảm nhận của mình thì có tốt hơn không, sau đó quyết định cứ tiếp tục. Điều này không nằm trong kế hoạch; tôi quên mất chu kỳ của mình. Tôi kết luận rằng cảm giác xấu hổ và giấu giếm mang tính bản năng vừa rồi là thiếu trung thực: nhà văn không được có cảm xúc đó.) Tôi nhét cái tampon bông xơ vào âm đạo, và khi chạy xuống thang gác tôi mới nhớ ra là quên không mang theo dự phòng. Trễ giờ rồi. Tôi lùa đống tampon vào túi xách, dùng khăn tay phủ lên trên, càng lúc càng thấy cáu bẳn. Đồng thời tôi cũng tự nhủ là nếu không phát hiện ra đến tháng thì tôi sẽ chẳng cảm thấy khó chịu đến vậy. Nhưng dù sao đi nữa, bây giờ tôi phải kiềm chế trước khi bước chân đi làm, nếu không tôi sẽ cáu gắt ở ngay văn phòng mất. Rốt cuộc thì có lẽ tôi vẫn phải đi taxi - như vậy tôi sẽ có được mười phút chuẩn bị. Tôi ngồi xuống và cố gắng thư giãn trong chiếc ghế lớn. Nhưng mà căng thẳng quá đi mất. Tôi tìm cách để giảm bớt căng thẳng. Có cả nửa tá chậu cây leo trên khung cửa sổ, loài cây bò lung tung màu xám xanh tôi không biết tên. Tôi mang sáu chậu đất vào bếp và lần lượt dìm từng chậu vào bồn nước, quan sát những cái bong bóng nổi lên khi nước lặn vào trong và đẩy không khí lên. Những chiếc lá lấp lánh vì nước. Đám đất đen nổi mùi cây ẩm. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Tôi trả mấy cái chậu trở lại khung cửa sổ để chúng hóng chút nắng nếu có. Rồi tôi chộp lấy áo khoác và đi xuống gác, đi qua Molly đang ngái ngủ trong chiếc áo khoác mặc ở nhà. “Cậu đi đâu mà vội vàng thế?” cô hỏi; và tôi hét lên trả lời: “Tớ muộn rồi,” nhận ra sự tương phản giữa giọng nói to, lười biếng, không vội vàng của cô với giọng nói căng thẳng của tôi. Trên đường ra bến xe buýt không có chiếc taxi nào cả, vì vậy khi một chiếc xe buýt chạy đến tôi bước lên, đúng lúc trời đổ mưa. Tất dài của tôi lấm tấm bùn; tối nay phải nhớ thay mới được; Michael hay để ý những chi tiết kiểu vậy. Bây giờ ngồi trên xe buýt, tôi nhận thấy cảm giác buồn tẻ nằng nặng ở bụng dưới. Không tệ chút nào. Tốt, nếu cơn đau đầu tiên này mà nhẹ, nó sẽ hết trong hai ngày tới. Tại sao tôi lại vô ơn như vậy khi mà tôi phải chịu quá ít khổ sở so với những người phụ nữ khác? - Chẳng hạn như Molly phải rên rỉ và kêu la trong cơn đau khoan khoái này năm sáu ngày trời. Tôi thấy mình lại để tâm vào cái guồng quay thực tế, những việc hôm nay tôi phải làm, lần này là ở văn phòng. Đồng thời, tôi cũng cảm thấy lo lắng vì phải chú ý mọi thứ để còn ghi lại, đặc biệt là những việc liên quan đến kỳ kinh của tôi. Bởi vì mặc dù đối với tôi, việc đến tháng chỉ đơn thuần là cánh cửa dẫn vào một trạng thái cảm xúc không có gì đặc biệt quan trọng, kiểu “đến hẹn lại lên”, tôi biết rằng ngay khi viết từ “máu”, nó sẽ mang lại một điểm nhấn sai lệch, ngay cả đối với tôi khi đọc lại những gì mình vừa viết. Và như vậy là tôi bắt đầu nghi ngờ giá trị của việc ghi chép cả một ngày ngay khi còn chưa ghi chép. Tôi nhận ra mình đang nghĩ về một vấn đề cốt yếu của phong cách văn chương, đấy là sự tế nhị. Chẳng hạn, khi James Joyce mô tả nhân vật của ông đang thực hiện hành động đại tiện, đấy là điều kinh khủng, khiến người ta ghê tởm. Mặc dù ông nhằm mục đích đoạt đi sức mạnh gây sốc của từ ngữ. Và gần đây tôi đọc được trong bài điểm sách nào đó, một người đàn ông phát biểu rằng anh ta cảm thấy ghê tởm nếu đọc phải mô tả phụ nữ đại tiện. Tôi oán ghét điều này; vì tất nhiên ý của anh ta là không thích cái hình ảnh lãng mạn đó, hình ảnh người phụ nữ, bị làm cho bớt phần lãng mạn. Nhưng mặc dù vậy, anh ta nói đúng. Tôi nhận ra về cơ bản, đây không phải là một vấn đề mang tính chất văn chương. Chẳng hạn, khi Molly vừa nói với tôi vừa phá lên cười vui vẻ: Tớ vừa đến tháng, tôi phải nén lại cảm giác lợm giọng ngay lập tức, mặc dù chúng tôi đều là phụ nữ, và tôi bắt đầu đề phòng khả năng có mùi hôi. Nghĩ đến phản ứng của mình với Molly, tôi quên mất vấn đề trung thực trong viết lách (trung thực về bản thân mình), và tôi bắt đầu thấy lo lắng: Mình có đang bốc mùi không? Đây là thứ mùi duy nhất mà tôi ghét theo tôi biết. Tôi không ngại các thứ mùi trực tiếp bao quanh mình trong nhà vệ sinh, tôi thích mùi tình dục, mùi mồ hôi, mùi da, hoặc mùi tóc. Nhưng cái mùi thoang thoảng, cực kỳ tanh của máu kinh thì tôi ghét. Và oán giận. Nó là thứ mùi mà bản thân tôi cũng thấy xa lạ, một sự áp đặt từ bên ngoài. Không phải từ tôi. Nhưng trong hai ngày, tôi phải đối mặt với cái thứ từ bên ngoài này - một mùi hôi tỏa ra từ chính tôi. Tôi nhận ra rằng tất cả những suy nghĩ này sẽ không xuất hiện trong đầu nếu như tôi không buộc bản thân mình phải chú ý tới nó. Kinh nguyệt là thứ bình thường tôi vẫn xử lý mà không cần phải nghĩ quá nhiều đến nó, hoặc nói đúng hơn là tôi nghĩ đến nó bằng phần tâm trí dùng để xử lý những vấn đề thường ngày. Đây cũng chính là phần tâm trí chuyên xử lý vấn đề vệ sinh hằng ngày. Nhưng ý nghĩ tôi sẽ phải ghi lại điều này đang thay đổi cán cân, hủy hoại sự thật, vì vậy tôi xua các ý nghĩ về kỳ kinh nguyệt ra khỏi tâm trí; tuy nhiên, vẫn lưu ý trong đầu là ngay khi tới văn phòng tôi phải vào nhà vệ sinh để đảm bảo không có chút mùi nào cả. Đáng ra điều tôi phải suy nghĩ là cuộc gặp sắp tới với đồng chí Butte. Tôi gọi ông bằng đồng chí với giọng mỉa mai; cũng như ông mỉa mai gọi tôi là đồng chí Anna. Tuần trước, tôi nói với ông, giận dữ vì chuyện gì đó: “Đồng chí Butte, đồng chí có nhận ra rằng nếu vì sự tình cờ nào đó mà cả hai chúng ta đều là đảng viên Nga thì đồng chí đã bắn tôi cách đây mấy năm rồi không?” “Đúng vậy, đồng chí Anna ạ, đối với tôi có vẻ như điều đó còn hơn cả chắc chắn.” (Câu chuyện đùa này rất đặc trưng cho Đảng trong thời kỳ này.) Trong khi đó, Jack ngồi và cười với cả hai chúng tôi đằng sau cặp mắt kính tròn. Anh thích xem những cuộc cãi vã của tôi với đồng chí Butte. Sau khi John Butte đi, Jack nói: “Có một vấn đề em chưa tính tới, đó là rất có khả năng em lại là người ra lệnh bắn John Butte.” Câu nói này gần giống với một cơn ác mộng của riêng tôi và để xua nó đi tôi đùa lại: “Jack yêu dấu ơi, bản chất vị trí của em là làm người bị bắn - đây là vai trò truyền thống của em rồi.” “Đừng có mà chắc quá như thế, nếu em biết John Butte hồi những năm ba mươi thì em đã không vội vã xếp ông ta vào vai một kẻ hành quyết quan liêu.” “Nhưng dù sao thì đấy cũng không phải là vấn đề.” “Thế cái gì mới là vấn đề?” “Stalin chết đã được gần một năm rồi, vậy mà chẳng có gì thay đổi cả.” “Thay đổi nhiều chứ.” “Họ thả mọi người ra khỏi tù; nhưng chẳng làm gì để thay đổi những quan điểm đã ném họ vào đấy cả.” “Người ta đang xem xét thay đổi pháp luật.” “Hệ thống pháp lý thay đổi theo cách này hay cách khác sẽ chẳng thay đổi được chút nào cái tinh thần mà em đang đề cập tới.” Một lát sau anh gật đầu. “Cũng có thể, nhưng chúng ta không biết được.” Anh đang dò xét tôi một cách nhẹ nhàng. Tôi vẫn thường tự hỏi là liệu có phải sự nhẹ nhàng này, thái độ xa cách này - điều khiến chúng tôi có thể trò chuyện được với nhau như thế - là dấu hiệu của một nhân cách đã bị bẻ gãy; sự phản bội mà hầu hết mọi người đều thực hiện lúc này hay lúc khác; hay đây là nguồn sức mạnh tự giấu mình đi? Tôi không biết. Cách đây vài tuần, tôi bảo với anh là tôi đang nghĩ đến chuyện ra khỏi Đảng, và anh trả lời bằng giọng giễu cợt: “Anh đã vào Đảng được ba mươi năm rồi, và đôi khi anh nghĩ anh cùng với John Butte sẽ là những người duy nhất trong số hàng ngàn người anh biết sẽ bám trụ lại.” “Câu này là chỉ trích Đảng hay chỉ trích hàng ngàn người đã rời Đảng?” “Hàng ngàn người đã ra khỏi Đảng, đương nhiên,” anh vừa nói vừa cười. Hôm qua anh bảo: “Ôi, Anna này, nếu em định ra khỏi Đảng, thì nhớ báo trước cho anh một tháng như thông lệ nhé, bởi vì em rất hữu ích và anh cần thời gian để kiếm người thay thế em.”

Hôm nay, tôi sẽ báo cáo về hai cuốn sách vừa đọc, cho John Butte. Đây sẽ là một trận chiến. Jack tận dụng tôi làm vũ khí trên chiến trường mà anh triển khai với tinh thần của Đảng - tinh thần mà anh luôn sẵn sàng miêu tả là chết cứng và khô khan. Theo lý thuyết, Jack là người điều hành nhà xuất bản này. Trên thực tế, vai trò của anh giống như một người quản trị; trên anh, được “Đảng” đặt trên anh, là John Butte; và quyết định cuối cùng về những gì được phép và không được phép xuất bản là do Trung ương đưa ra. Jack là một người “cộng sản tốt”. Nói vậy có nghĩa là anh đã thật lòng và trung thực xua đi khỏi mình thói tự phụ có thể khiến anh ghét bản thân vì không được hành động độc lập. Về nguyên tắc, anh không ghét việc cái tiểu ban thuộc Trung ương này, dưới quyền John Butte, đưa ra những quyết định mà anh phải thi hành. Ngược lại, anh lại hoàn toàn ủng hộ kiểu chỉ huy tập trung này. Nhưng anh nghĩ chính sách của Trung ương có sai lầm; và hơn thế nữa, vấn đề không phải nằm ở một người hay một nhóm người mà anh không đồng thuận; anh coi đơn giản rằng Đảng “trong kỷ nguyên này” đang nằm trong vùng nước tù đọng về tư tưởng và ta chẳng thể làm gì khác ngoài chờ đợi mọi chuyện thay đổi. Trong khi đó, anh vẫn sẵn sàng để tên mình gắn liền với những quan điểm mà anh xem thường. Sự khác biệt giữa anh và tôi là anh nhìn Đảng theo hàng thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ (tôi nói đùa với anh: giống như nhà thờ Công giáo); trong khi tôi nghĩ có thể sự sụp đổ về mặt tri thức lần này là đòn kết liễu. Chúng tôi thảo luận tràng giang đại hải, trong giờ ăn trưa, trong những lúc rảnh rỗi giữa giờ làm việc. Đôi khi John Butte có mặt, lắng nghe, thậm chí tham gia. Và điều này khiến tôi vừa thích thú vừa bực bội: bởi vì loại câu chuyện mà chúng tôi sử dụng trong kiểu tranh luận này ở xa tít mù khơi so với “đường lối” công khai của Đảng. Hơn nữa, loại chuyện trò này sẽ bị coi là phản bội ở một đất nước cộng sản. Nhưng khi tôi ra khỏi Đảng, tôi sẽ nhớ nhất chính điều này - được ở bên những người đã dành cả đời sống trong một bầu không khí nhất định, nơi ai cũng coi đương nhiên là cuộc đời họ phải đối chiếu về một triết lý trung tâm. Vì lý do này nên nhiều người muốn hoặc nghĩ rằng sẽ ra khỏi Đảng lại không thực hiện nổi. Trong số các nhóm người hoặc mẫu trí thức ở ngoài Đảng mà tôi đã từng gặp, không ai lại không có vẻ thiếu thông tin, phù phiếm, thiển cận nếu đem so sánh với một vài mẫu trí thức nhất định ở trong Đảng. Và bị kịch nằm ở chỗ tinh thần trách nhiệm của người trí thức này, sự nghiêm túc cao độ này, lại nằm trong môi trường chân không: nó chẳng liên quan đến nước Anh, chẳng liên quan đến các nước cộng sản như bây giờ, mà liên quan đến một tinh thần đã hiện hữu trong chủ nghĩa cộng sản quốc tế nhiều năm về trước, trước khi nó bị tiêu diệt bởi tinh thần đấu tranh sinh tồn đến tuyệt vọng, điên rồ mà chúng ta nay gọi bằng cái tên chủ nghĩa Stalin.

Khi bước xuống xe buýt, tôi nhận thấy rằng mình đã trở nên quá khích khi suy nghĩ về cuộc chiến sắp tới: điều cốt tử khi muốn thắng một trận chiến với đồng chí Butte là phải giữ được bình tĩnh. Tôi không bình tĩnh, và hơn thế nữa,bụng dưới của tôi đang đau. Và tôi đang trễ mất nửa tiếng. Tôi luôn cẩn thận đến đúng giờ, làm việc trong khoảng thời gian như mọi người, bởi vì tôi làm không lương nhưng tôi không muốn được hưởng ưu đãi đặc biệt vì lý do đó. (Michael nói đùa: Em đang làm theo truyền thống vĩ đại của nước Anh, giai cấp trên phục vụ cộng đồng, Anna thân yêu ạ, em làm việc cho Đảng Cộng sản, không lương bổng gì cả, giống như bà em đã từng làm không công cho những người nghèo đói. Chính tôi cũng hay nói đùa kiểu này, nhưng khi Michael nói thì tôi lại thấy đau lòng.) Tôi lập tức vào nhà vệ sinh, rất nhanh bởi vì tôi đã bị trễ, kiểm tra cơ thể, thay tampon và giội nước ấm hết bình này đến bình khác vào giữa hai đùi để xua cái mùi chua chua, ẩm mốc. Sau đó tôi xức nước thơm vào đùi và cánh tay mình, tự nhắc nhở bản thân phải quay lại sau một vài tiếng; rồi tôi đi lên gác, bỏ qua phòng mình đến phòng làm việc của Jack. Jack đang ở đó cùng John Butte. Jack nói: “Em thơm quá, Anna ạ”, khiến tôi ngay lập tức cảm thấy dễ chịu và đủ khả năng xử lý mọi việc. Tôi nhìn John Butte xương cốt kẽo kẹt, tóc đã bạc, một ông già tinh cốt khô kiệt, và nhớ rằng Jack từng bảo rằng hồi còn thanh niên, hồi đầu những năm ba mươi, ông vui tươi, rực rỡ, dí dỏm. Ông là một diễn giả thông minh; ông đối nghịch với những gì chuẩn tắc của Đảng lúc đó, ông phê phán và bất kính từ trong bản chất. Và sau khi Jack nói với tôi tất cả những điều này, thích thú pha chút châm biếm nếm náp vẻ sửng sốt của tôi, anh đưa cho tôi cuốn sách John Butte viết cách đây hai mươi năm, một cuốn tiểu thuyết về cách mạng Pháp. Cuốn sách sắc sảo, sống động và dũng cảm. Và lúc này tôi nhìn lại ông một lần nữa và chợt nghĩ: Tội ác thực sự của Đảng Cộng sản Anh chính là vô số những con người tuyệt vời đã bị nó hoặc là bẻ gãy, hoặc là làm cho trở thành dân văn phòng khô như ngói, chẻ sợi tóc làm tư, sống khép kín trong một nhóm cùng các đảng viên khác và mất liên hệ với tất cả những gì diễn ra trên chính đất nước mình. Sau đó, tôi thấy ngạc nhiên và bất bình với chính mình vì cách dùng từ: từ “tội ác” xuất phát từ kho vũ khí cộng sản, và từ đó vô nghĩa. Mọi chuyện còn liên quan đến một quá trình xã hội nào đó khiến những từ như “tội ác” trở nên ngớ ngẩn. Và lúc suy nghĩ về điều này, tôi cảm nhận được sự ra đời của một kiểu tư duy mới; và tôi tiếp tục suy nghĩ, một cách vụng về: Giống như bất cứ thể chế nào khác, Đảng Cộng sản tiếp tục tồn tại nhờ quá trình hấp thụ những người phê bình nó vào chính nó. Hoặc là hấp thụ hoặc là hủy diệt. Tôi nghĩ: từ trước đến giờ mình luôn hình dung xã hội, các đoàn thể, được tổ chức như thế này: một bộ phận hoặc chính quyền cầm quyền với các bộ phận khác đối lập; cuối cùng, bộ phận mạnh hơn hoặc là bị bộ phận đối lập thay đổi, hoặc là bị nó chiếm chỗ. Nhưng hóa ra không giống thế chút nào: bỗng nhiên tôi hình dung khác hẳn. Không, một nhóm người đã trở nên cứng nhắc, hủ lậu bị phản đối bởi những thanh niên cách mạng tươi trẻ như John Butte ngày nào, cả hai bên hình thành một tổng thể, một cán cân. Và rồi một nhóm người đã trở nên hủ lậu, cứng nhắc như John Butte bị phản đối bởi một nhóm người tươi trẻ, suy nghĩ năng động và có đầu óc phê phán. Nhưng cái cốt lõi chai cứng, gồm toàn suy nghĩ khô khan, không thể tồn tại được nếu thiếu đi những mầm xanh đầy sức sống của lớp trẻ mà đến lượt mình sẽ nhanh chóng trở thành gỗ khô không nhựa sống. Nói cách khác, tôi, “đồng chí Anna” - và chất mỉa mai trong giọng nói của đồng chí Butte đến giờ vẫn còn làm tôi khiếp hãi khi nhớ lại - duy trì sự tồn tại của đồng chí Butte, nuôi dưỡng đồng chí, và đến thời điểm thích hợp sẽ biến thành đồng chí. Và khi nghĩ về điều này, rằng chẳng có gì là đúng, là sai, chỉ là một quá trình, một bánh xe đang quay, tôi cảm thấy sợ hãi bởi vì mọi thứ trong tôi gào thét kháng cự lại cách nhìn đó về cuộc sống, và tôi trở lại với cơn ác mộng có vẻ như đã trói chặt tôi bao nhiêu năm nay, mỗi khi tôi lơ là cảnh giác. Cơn ác mộng có nhiều hình dạng, đến lúc ngủ, hoặc lúc tỉnh táo, và có thể phác họa một cách đơn giản nhất như thế này: Có một người đàn ông bị bịt mắt dựa lưng vào bức tường gạch. Anh ta đã bị tra tấn đến gần chết. Đối diện với anh ta là sáu người nâng cao súng trường sẵn sàng bắn, chỉ huy là người thứ bảy, đã giơ sẵn tay lên cao. Khi anh ta buông tay xuống, đạn bắn ra và người tù sẽ chết. Nhưng bỗng nhiên có một điều bất ngờ xảy ra - nhưng lại chẳng bất ngờ chút nào, bởi vì người thứ bảy vẫn luôn ngóng chờ điều này phòng khi nó xảy ra. Có tiếng la hét và đánh nhau vang lên từ con phố bên ngoài. Sáu người nhìn viên sĩ quan, người thứ bảy, bằng con mắt dò hỏi. Viên sĩ quan đứng chờ xem cuộc chiến bên ngoài diễn ra như thế nào. Có tiếng hô: “Chúng ta thắng rồi!” Lúc này viên sĩ quan chạy đến chỗ bức tường, cởi trói cho người ở đó và đứng vào chỗ anh ta. Người đàn ông cho đến trước đó vẫn bị trói, trói lại người kia. Có một khoảnh khắc, và đây là khoảnh khắc rùng rợn nhất cơn ác mộng, họ mỉm cười với nhau: một nụ cười thoáng qua, cay đắng và chấp nhận. Họ là huynh đệ với nhau trong nụ cười đó. Nụ cười chứa đựng một thực tế khủng khiếp mà tôi muốn né tránh. Bởi vì nó xóa bỏ mọi cảm xúc sáng tạo. Viên sĩ quan, người thứ bảy, giờ bị bịt mắt và đứng dựa lưng vào tường. Người tù binh lúc trước bước đến chỗ đội hành quyết đang đứng giương súng sẵn sàng. Anh ta đưa tay lên, rồi bỏ xuống. Đạn bắn ra, và cơ thể bên bức tường ngã xuống giật giật. Sáu người lính run lên và buồn nôn, bây giờ họ sẽ đi uống để nhấn chìm ký ức về hành động giết người của mình. Nhưng người đàn ông vừa bị trói, lúc này đã tự do,mỉm cười khi thấy họ vừa loạng choạng bỏ đi vừa nguyền rủa và căm hận anh ta, như họ chắc đã nguyền rủa và căm hận người chết kia nếu đổi vai ngược lại. Và trong nụ cười của người này dành cho sáu người lính vô tội kia có sự mỉa mai thông cảm rất kinh khủng. Cơn ác mộng là thế. Trong khi đó đồng chí Butte vẫn ngồi chờ. Như mọi khi, ông nở nụ cười mỉm, chê bai và đề phòng, giống như vẻ nhăn nhó. “Nào, đồng chí Anna, vậy là chúng ta có được phép xuất bản hai kiệt tác này không?” Jack bất giác nhăn nhó, và tôi nhận ra rằng anh, cũng như tôi, vừa mới hiểu rằng hai cuốn sách này sẽ được xuất bản: Quyết định đã được đưa ra. Jack đã đọc cả hai cuốn và nhận xét bằng vẻ nhẹ nhàng cố hữu của mình: “Chả hay ho gì nhưng tôi nghĩ có thể chúng còn tệ hơn nữa cơ.” Tôi đáp: “Nếu đồng chí thực sự cần biết những gì tôi nghĩ, thì đấy là nên xuất bản một cuốn. Xin đồng chí nhớ cho, tôi cũng không nghĩ là hai cuốn hay ho gì cho lắm.” “Nhưng đương nhiên là tôi không mong chúng đạt đến đỉnh cao ca ngợi như kiệt tác của chị.” Điều này không phải có nghĩa là ông không thích Những biên giới chiến tranh; ông bảo với Jack là ông thích nó, có điều ông chưa bao giờ nói thế với tôi. Ông ám chỉ rằng nó bán tốt đến vậy là nhờ vào cái mà ông mô tả là “thủ đoạn xuất bản của tư bản”. Và tất nhiên là tôi đồng ý với ông; ngoại trừ từ tư bản có thể thay thế bằng những từ khác, chẳng hạn như cộng sản hoặc tạp chí phụ nữ. Cách nói chuyện của ông chỉ đơn thuần là một phần trong trò chơi của chúng tôi, diễn thành thục vai trò của mình. Tôi là một “nhà văn tư sản thành công”; ông là “người canh giữ sự trong sạch cho các giá trị của giai cấp lao động”. (Đồng chí Butte xuất thân từ một gia đình trung lưu giàu có của Anh, nhưng tất nhiên điều này chẳng can hệ gì cả.) Tôi gợi ý: “Hay là chúng ta thảo luận riêng về từng cuốn?” Tôi đặt hai túi bản thảo lên bàn và đẩy một túi về phía ông. Ông gật đầu. Nó có tên: “Vì hòa bình và hạnh phúc”, của một công nhân trẻ. Ít nhất thì mô tả của đồng chí Butte về anh ta là như vậy. Trên thực tế, anh ta đã gần bốn mươi tuổi, đã làm cán bộ Đảng được hai mươi năm nay, từng làm nghề xếp gạch. Viết rất tệ, câu chuyện không có sức sống, nhưng điều đáng sợ ở cuốn sách này là nó hoàn toàn đúng chỗ trong cái huyền thoại hiện tại. Nếu có một người tưởng tượng đến từ sao Hỏa (hoặc một người đến từ Nga cũng được) đọc cuốn sách này, anh ta sẽ có ấn tượng là (a) các thành phố của Anh bị vây hãm bởi nghèo đói, thất nghiệp, bạo lực, một vẻ bẩn thỉu kiểu như trong truyện của Dickens; và (b) công nhân ở Anh toàn là cộng sản hoặc ít ra cũng coi Đảng Cộng sản là lãnh tụ đương nhiên của mình. Cuốn tiểu thuyết này chẳng sát chút nào với thực tế. (Jack mô tả đấy là “một rẻo cộng sản trên mây”.) Tuy nhiên, nó tái tạo rất chính xác những huyền thoại tự đánh lừa bản thân của Đảng Cộng sản ở thời điểm này, và trong năm vừa rồi tôi đã đọc câu chuyện này trong khoảng năm mươi hình thái chiêu bài khác nhau. Tôi nói: “Đồng chí biết rất rõ là cuốn sách này quá dở.” Một cái nhìn bướng bỉnh khô khan thoáng xuất hiện trên gương mặt dài, xương xẩu của đồng chí Butte. Tôi nhớ cuốn tiểu thuyết mà chính ông viết cách đây hai mươi năm, tươi mới, tốt đẹp, và ngạc nhiên khi thấy đây vẫn là con người đấy. Lúc này ông nói: “Đây không phải là kiệt tác, tôi không nói thế, nhưng nó là cuốn sách hay, tôi nghĩ vậy.” Có thể nói đây là màn dạo đầu cho những gì sắp sửa diễn ra tiếp theo. Tôi sẽ thách thức ông, và ông sẽ tranh cãi. Kết cục vẫn chẳng có gì khác, bởi vì quyết định đã được đưa ra từ trước. Cuốn sách sẽ được xuất bản. Người nào trong Đảng có khả năng phân biệt phải trái sẽ còn thấy xấu hổ hơn trước những giá trị không ngừng giảm sút của Đảng; tờ Daily Worker sẽ tán tụng: “Mặc dù còn lỗi này lỗi nọ nhưng đây là cuốn tiểu thuyết trung thực về đời sống của Đảng”; giới phê bình “tư sản” nếu có để ý đến nó thì sẽ khinh bỉ. Tóm lại, mọi việc vẫn diễn ra như thường lệ. Nhưng bỗng nhiên tôi thấy mất hứng. Tôi nói: “Tốt lắm, đồng chí sẽ xuất bản nó. Chẳng có gì để mà nói thêm nữa.” Không khí im lặng đến giật mình; và đồng chí Jack cùng Butte thậm chí còn liếc nhìn nhau. Đồng chí Butte cụp mắt xuống. Ông đang bực. Tôi nhận thấy vai trò hoặc chức năng của mình là tranh cãi, là đóng vai trò phê bình, để cho đồng chí Butte có thể ảo tưởng rằng ông đã vất vả chiến đấu rồi vượt qua một đối phương am hiểu. Trên thực tế, tôi là bản thân ông thời trẻ, đang ngồi đối diện với ông, và ông phải chiến thắng. Tôi thấy xấu hổ vì từ trước đến nay chưa bao giờ hiểu ra thực tế rõ ràng này; và thậm chí còn nghĩ - biết đâu mấy cuốn sách còn lại đã không được xuất bản nếu như mình không chịu đóng vai trò của một nhà phê bình bị cầm tù? Một lúc sau, Jack nhẹ nhàng nói: “Nhưng Anna ạ, như vậy không được đâu. Đồng chí phải đưa ra được lời phê bình để cố vấn cho đồng chí Butte đây chứ.” Tôi đáp: “Đồng chí biết là nó dở. Đồng chí Butte biết là nó dở…” Đồng chí Butte rưón đôi mắt mờ đục, bao quanh là chằng chịt những nếp nhăn da, nhìn tôi, “… và tôi cũng biết nó dở. Và tất cả chúng ta đều biết nó sẽ được xuất bản.” John Butte nói: “Đồng chí có thể nói cho tôi biết trong sáu từ, hoặc có lẽ tám từ được không, đồng chí Anna, nếu đồng chí có thể dành ra từng ấy thời gian quý báu của mình, là tại sao cuốn sách này lại dở?” “Theo như tôi thấy thì tác giả đã bê nguyên vẹn ký ức của mình từ những năm ba mươi và biến thành hiện thực của nước Anh năm 1954, và ngoài ra anh ta còn hình như có cảm giác rằng giai cấp công nhân vĩ đại của Anh có bổn phận trung thành với Đảng Cộng sản.” Đôi mắt ông lóe lên tia giận dữ. Đột nhiên ông giơ nắm đấm lên và nện xuống mặt bàn Jack. “Cứ xuất bản đi, tôi không quan tâm!(4)” ông hét lên. “Cứ xuất bản đi, tôi không quan tâm! Tôi bảo vậy đấy.” Điều này nghe thật kỳ quái, vì vậy tôi bật cười. Sau đó tôi nhận ra chuyện đó lẽ ra là tất yếu. Trước tiếng cười của tôi, và trước nụ cười của Jack, John Butte có vẻ như quắt lại vì giận; ông chạy trốn đằng sau tầng tầng lớp lớp chướng ngại vật từ chính mình vào một pháo đài nội tâm, nhìn ra ngoài bằng cặp mắt không chớp, giận dữ. “Hình như tôi đang làm trò cười cho đồng chí, Anna. Đồng chí có thể vui lòng giải thích tại sao được không?” Tôi cười và nhìn Jack, còn anh gật đầu với tôi: ờ, giải thích đi. Tôi quay lại nhìn John Butte, suy nghĩ rồi nói: “Những điều ông vừa nói đã tóm gọn lại tất cả những gì không ổn trong Đảng. Đấy đúng là biểu hiện kết tinh của sự thối nát tri thức trong Đảng, tiếng thét của chủ nghĩa nhân đạo thế kỷ 19, quả cảm trước nghịch cảnh, sự thật trước dối trá, bây giờ lại được sử dụng để biện minh việc xuất bản một cuốn sách dối trá kinh khủng của một công ty cộng sản có xuất bản nó cũng chẳng mất gì, thậm chí cả danh tiếng về tính trung thực cũng không.” Tôi đang cáu kinh khủng. Rồi tôi nhớ ra rằng mình làm việc cho công ty này, mình không đủ tư cách để chỉ trích; và rằng Jack điều hành nó, và trên thực tế sẽ phải xuất bản cuốn sách. Tôi sợ rằng mình đã làm Jack tổn thương nên nhìn anh: anh lặng lẽ nhìn lại, sau đó gật đầu, chỉ một lần, và mỉm cười. John Butte nhìn thấy cái gật đầu và nụ cười. Jack quay sang đối mặt với cơn giận của John. Butte đang thực sự nhăn nhúm cả lại vì giận. Nhưng đấy là công phẫn, ông đang bảo vệ cái tốt, cái đúng và cái thật. Về sau, hai người này sẽ thảo luận về những điều đã xảy ra; Jack sẽ đồng ý với tôi, cuốn sách sẽ được xuất bản. “Vậy còn cuốn kia?” Butte hỏi. Nhưng tôi đã chán ngấy và mất hết kiên nhẫn. Tôi đang nghĩ rằng xét cho cùng thì Đảng nên được đánh giá ở cấp độ này, cấp độ nó thực sự đưa ra quyết định, tiến hành mọi việc; chứ không phải là ở cấp độ những cuộc trò chuyện vô thưởng vô phạt chẳng ảnh hưởng gì đến Đảng giữa tôi và Jack. Bỗng nhiên tôi quyết định phải ra khỏi Đảng ngay. Việc quyết định đó đến vào lúc này chứ không phải lúc nào khác khiến tôi thấy thú vị. “Vậy là,” tôi vui vẻ nói, “cả hai cuốn sách sẽ được xuất bản, cảm ơn vì cuộc thảo luận thú vị.” “Vâng, cảm ơn đồng chí Anna, thực sự vậy,” John Butte nói. Jack đang quan sát tôi, tôi nghĩ anh biết là tôi đã quyết định. Nhưng bây giờ hai người đó còn phải thảo luận những việc khác không liên quan gì đến tôi, vì vậy tôi chào tạm biệt John Butte và đi sang phòng tôi ở ngay bên cạnh. Căn phòng này dành cho tôi với thư ký của Jack, Rose. Chúng tôi chẳng ưa gì nhau, vì vậy chúng tôi chào nhau một cách lạnh nhạt. Tôi cắm cúi với chồng tạp chí và giấy tờ trên bàn mình.

Tôi đọc tạp chí và các ấn phẩm định kỳ xuất bản bằng tiếng Anh ở các nước cộng sản: Nga, Trung Quốc, Đông Đức, vân vân và vân vân, và nếu có truyện hoặc bài báo hoặc cuốn tiểu thuyết nào “phù hợp với điều kiện nước Anh”, tôi sẽ lưu ý Jack, và theo đó là Butte, về nó. Rất ít loại “phù hợp với điều kiện nước Anh”; thỉnh thoảng có một bài báo hoặc truyện ngắn. Nhưng tôi đọc tất cả một cách thèm thuồng, giống như Jack, vì cùng một lý do: chúng tôi đọc giữa và đằng sau các dòng chữ để phát hiện ra các khuynh hướng và xu hướng.

Nhưng - như tôi nhận thấy gần đây - chuyện này không chỉ có thế. Tôi miệt mài một cách say mê là vì một lý do khác. Hầu hết các bài viết đều tẻ nhạt, lạc quan, mang chất giọng vui tươi một cách kỳ lạ, thậm chí cả khi khai thác đề tài chiến tranh và đau thương. Tất cả đều đi ra từ huyền thoại đó. Nhưng lối viết tệ hại, khô cứng, sáo rỗng này là mặt bên kia đồng xu của tôi. Tôi thấy xấu hổ vì thôi thúc tâm lý đã hình thành nên Những biên giới chiến tranh. Tôi đã quyết định không bao giờ viết tiếp nữa, nếu như tác phẩm của tôi phải sử dụng nguồn cảm xúc đó.

Suốt cả năm ngoái, đọc những truyện này, những cuốn tiểu thuyết này, thỉnh thoảng mới bắt gặp một đoạn, một câu, một cụm từ mô tả sự thật, tôi buộc phải thừa nhận rằng tất cả những tia sáng của nghệ thuật đích thực đều xuất phát từ cảm xúc riêng tư sâu thẳm, bất ngờ chói lóa, không thể che giấu. Ngay cả trong bản dịch, không thể nào nhầm lẫn vào đâu được các tia chớp cảm xúc cá nhân chân thực này. Và tôi vừa đọc cái đống khô cứng này vừa cầu nguyện chỉ cần một lần được bắt gặp một truyện ngắn, một tiểu thuyết, thậm chí một bài báo hoàn toàn được viết ra từ cảm xúc cá nhân chân thực.

Và như vậy đây là nghịch lý: tôi, Anna, chối bỏ thứ nghệ thuật “phi lành mạnh” của chính mình, nhưng khi thấy nghệ thuật “lành mạnh” tôi vẫn từ chối nó.

Vấn đề là kiểu viết này về bản chất là thiếu tính cá nhân. Sự sáo rỗng của nó là vì thiếu tính cá nhân. Cứ như là có một tác giả Khuyết danh Thế kỷ 20 đang hoạt động.

Kể từ khi vào Đảng, “việc Đảng” của tôi chủ yếu là nói chuyện về nghệ thuật cho các nhóm nhỏ nghe. Tôi nói đại loại thế này: “Nghệ thuật thời Trung cổ có tính chung, phi cá nhân; được hình thành từ ý thức tập thể. Nó không có tính cá nhân đau đớn đã thúc đẩy nghệ thuật thời đại tư sản. Và một ngày, chúng ta sẽ bỏ lại sau lưng cái cảm hứng dĩ kỷ vi trung thúc đẩy nghệ thuật cá nhân. Chúng ta sẽ trở lại với thứ nghệ thuật không thể hiện sự chia rẽ nội tâm và tách rời bản thân ra khỏi đồng loại, mà thể hiện trách nhiệm của con người đối với đồng loại và anh em. Nghệ thuật phương Tây” - sử dụng câu khẩu hiệu hữu ích - “càng lúc càng trở thành tiếng thét xé lòng ghi lại nỗi đau. Nỗi đau đang trở thành hiện thực sâu sắc nhất của chúng ta…” Tôi vẫn đi nói những lời đại loại như thế. Cách đây ba tháng, giữa chừng bài giảng này, tôi bị nói lắp và không thể nào nói nốt được. Tôi không còn đi nói chuyện được nữa. Tôi biết cơn nói lắp đấy có nghĩa là gì.

Tôi chợt nhận ra lý do khiến tôi đến làm việc cho Jack mà ban đầu không biết tại sao, là tôi muốn đặt mối bận tâm riêng tư sâu thẳm của mình về nghệ thuật, về văn học (và vì thế về cuộc sống), về quyết định không viết nữa của mình, vào tiêu điểm, khiến tôi phải nhìn nó ngày này qua ngày khác.

Tôi vẫn thường thảo luận về vấn đề này với Jack. Anh lắng nghe và thông cảm. (Anh luôn thông cảm.) Rồi anh nói: “Anna, chủ nghĩa cộng sản chưa được bốn thập kỷ đâu. Cho đến nay, hầu hết những tác phẩm nghệ thuật nó cho ra đời đều dở ẹc. Nhưng điều gì khiến em nghĩ rằng đây không phải là những bước chập chững đầu tiên của một đứa trẻ học đi? Và trong thời gian một thế kỷ…” “Hoặc trong năm thế kỷ,” tôi đáp, trêu anh. “Trong thời gian một thế kỷ, có thể nghệ thuật mới sẽ ra đời. Tại sao lại không chứ?” Và tôi đáp: “Em không biết phải nghĩ gì nữa. Nhưng em bắt đầu thấy sợ rằng có thể trước giờ mình đã nói những điều vô nghĩa. Anh có nhận thấy rằng tất cả những cuộc tranh cãi từ trước đến nay của chúng ta là về một điều duy nhất không - lương tri cá nhân, cảm giác cá nhân?” Và anh trêu lại tôi: “Vậy thì lương tri cá nhân có tạo ra thứ nghệ thuật vui tươi, tập thể, không vị kỷ của em không?” “Tại sao không? Biết đâu lương tri cá nhân cũng là đứa trẻ tập đi?” Và anh gật đầu; cái gật đầu như muốn nói: Đúng vậy, chuyện này hết sức thú vị, nhưng hãy tiếp tục làm việc nào.

Đọc hết đống văn chương khô cứng này chỉ là một phần nhỏ trong công việc của tôi. Bởi vì, mặc dù không có ai chủ định hoặc mong đợi như thế, công việc của tôi đã trở thành một thứ khác hẳn. Nó là “việc phúc lợi” - như Jack, và tôi, vẫn đùa nhau; và cả Michael nữa: “Việc phúc lợi của em thế nào rồi, Anna? Gần đây có cứu rỗi được thêm linh hồn nào không?”

Trước khi bắt đầu “việc phúc lợi”, tôi đi xuống phòng vệ sinh, trang điểm mặt mũi, rửa ráy phần thân mình ở giữa hai chân rồi tự hỏi phải chăng quyết định mà tôi vừa đưa ra, quyết định rời bỏ Đảng, là vì tôi đang suy nghĩ mạch lạc hơn bình thường, xuất phát từ quyết định ghi chép lại mọi điều về ngày hôm nay? Trong trường hợp này, ai là cô Anna sẽ đọc những gì tôi sắp viết? Ai là cái tôi còn lại để tôi sợ hãi sự phán xét của người đó; hay ít nhất ánh mắt của người đó cũng khác so với ánh mắt của tôi khi tôi không suy nghĩ, ghi chép, và chú ý tới xung quanh? Và biết đâu ngày mai, khi ánh mắt của cô Anna kia nhìn tôi, tôi lại quyết định không ra khỏi Đảng nữa. Vì một lẽ là tôi sẽ nhớ Jack - tôi còn biết tranh luận không cần phải e ngại với ai khác về tất cả những vấn đề này? Với Michael, tất nhiên - nhưng anh sắp rời bỏ tôi. Bên cạnh đấy, nói chuyện với anh bao giờ cũng cay đắng. Nhưng điều thú vị là đây: Michael là cựu đảng viên, là tên phản bội, là linh hồn lạc lối; Jack là quan chức cộng sản. Xét theo một nghĩa nào đó, Jack là người giết hại các đồng chí của Michael (nhưng nếu thế thì tôi cũng vậy, bởi vì tôi đang đứng trong hàng ngũ của Đảng). Chính Jack là người gắn cho Michael cái mác phản bội. Và chính Michael là người gắn cho Jack cái mác giết người. Vậy nhưng hai người này (nếu gặp nhau họ sẽ chẳng nói với nhau lời nào vì nghi ngờ nhau) là hai người duy nhất tôi có thể trò chuyện và hiểu được mọi cảm nhận của tôi. Họ là một phần của cùng một trải nghiệm. Tôi đứng trong nhà vệ sinh, vẩy nước hoa lên cánh tay để át đi mùi tanh của máu; và bỗng nhiên tôi nhận ra điều mình đang nghĩ về Michael và Jack là cơn ác mộng về đội hành quyết và hai người tù nhân đổi chỗ cho nhau. Tôi thấy choáng váng và bối rối, sau đó tôi lên phòng mình và xô đi những chồng tạp chí to vật vã: Voks, Văn học Xô viết, các dân tộc vì Tự do Thức giấc! Trung Hoa Tái sinh, vân vân và vân vân (tấm gương mà tôi soi vào hơn một năm nay), và tôi nghĩ rằng mình không thể đọc thứ này một lần nữa. Chỉ đơn giản là không thể đọc được. Tôi đã trơ với nó, hoặc nó với tôi cũng vậy. Để tôi xem hôm nay có “việc phúc lợi” gì không. Và khi tôi đến điểm này thì Jack bước vào, bởi vì lúc này John Butte đã quay trở lại Trung ương, và anh nói: “Anna, em dùng chung trà và bánh sandwich với anh chứ?” Jack sống bằng tiền lương quan chức của Đảng, mỗi tuần tám bảng; vợ anh làm nghề giáo viên cũng kiếm được chừng đó. Vì vậy anh phải tiết kiệm; và một trong những cách tiết kiệm là không ra ngoài ăn trưa. Tôi cảm ơn, sau đó đi vào phòng anh và chúng tôi nói chuyện. Không phải về hai cuốn tiểu thuyết, bởi vì chẳng còn gì thêm để nói về chúng nữa cả: chúng sẽ được xuất bản, và cả hai chúng tôi đều cảm thấy xấu hổ theo cách khác nhau. Jack có một người bạn vừa từ Liên Xô trở về mang theo thông tin riêng về thái độ bài Do Thái ở đó. Và tin đồn về những vụ sát hại, tra tấn, cùng đủ loại hành động đàn áp. Tôi và Jack ngồi kiểm tra từng mẩu thông tin: Như vậy có đúng không? Nghe có hợp lý không? Nếu đúng thì như vậy có nghĩa là… Và tôi nghĩ, phải đến lần thứ một trăm rồi, thật lạ đến mức khó tin rằng khi con người này đứng trong hàng ngũ quan chức cộng sản nhưng lại chẳng biết nhiều hơn tôi, hoặc bất kỳ đảng viên cộng sản bình thường nào, rằng cái gì nên tin. Cuối cùng chúng tôi kết luận, không phải là lần đầu tiên, rằng chắc hẳn Stalin điên nặng rồi. Chúng tôi ngồi uống trà, ăn bánh sandwich và suy luận về khả năng nếu sống ở Liên Xô trong những năm cuối đời ông ta, hẳn chúng tôi đã quyết định rằng nghĩa vụ của mình là ám sát ông ta. Jack bảo không; Stalin là một phần rất lớn trong trải nghiệm của anh, trải nghiệm sâu thẳm nhất của anh, đến mức thậm chí anh có biết ông ta điên rồ đến mức phạm tội ác thì đến giây phút bóp cò anh cũng không thể làm nổi: ngược lại anh sẽ quay súng lại chĩa vào bản thân mình. Và tôi bảo tôi cũng không thể, bởi vì “ám sát chính trị là ngược với nguyên tắc của tôi”. Vân vân và vân vân; và tôi nghĩ cuộc nói chuyện này mới kinh khủng làm sao, và thiếu trung thực nữa, khi ngồi tại London an toàn, tiện nghi, thịnh vượng, tính mạng và tự do chẳng hề bị đe dọa chút nào. Và có một chuyện xảy ra khiến tôi càng lúc càng thấy sợ - ngôn từ trở nên vô nghĩa. Tôi có thể nghe thấy mình và Jack trò chuyện - dường như ngôn từ phát ra từ bên trong tôi, từ một chốn vô danh nào đó nhưng chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi liên tục thấy, trước mắt tôi, những hình ảnh trong câu chuyện chúng tôi đang nói đến - các cảnh tượng chết chóc, tra tấn, đối chất và vân vân; và từ ngữ chúng tôi sử dụng chẳng liên quan đến những gì tôi đang thấy cả. Nghe như lời huyên thuyên ngớ ngẩn, điên rồ. Bỗng nhiên Jack nói: “Em định ra khỏi Đảng hả Anna?” Tôi đáp: “Vâng.” Jack gật đầu. Cái gật đầu thân thiện không phán xét. Và rất cô độc. Ngay lập tức giữa chúng tôi xuất hiện một hố sâu ngăn cách - không phải do niềm tin, bởi vì chúng tôi tin tưởng lẫn nhau, mà là do trải nghiệm tương lai. Anh sẽ ở lại, bởi vì anh đã ở nơi này quá lâu rồi, bởi vì nó đã trở thành cuộc sống của anh, bởi vì tất cả bạn bè anh đều đang và sẽ ở lại. Và chẳng mấy chốc, khi gặp lại chúng tôi sẽ trở thành người lạ. Tôi nghĩ con người anh thật tốt, cả những người như anh cũng vậy; và nghĩ đến cảnh họ đã bị lịch sử phản bội - khi tôi sử dụng cụm từ đao to búa lớn này thì cũng không hẳn là đao to búa lớn, mà là chính xác. Và nếu tôi nói với anh điều này ngay bây giờ, anh cũng chỉ thân thiện gật đâu mà thôi. Và chúng tôi sẽ nhìn nhau với vé thông cảm đầy mỉa mai - Số phận nằm trong tay Chúa,v.v. (giống như hai người đổi chỗ cho nhau trước mặt đội hành quyết).

Tôi nhìn kỹ anh - anh ngồi trên bàn làm việc, tay cầm miếng bánh sandwich khô cứng và vô vị đang ăn dở, bất kể mọi việc trông vẫn giống như một ông hiệu trưởng - con đường có thể anh đã chọn. Gương mặt hơi trẻ con, đeo kính, trắng xanh, trí thức. Một con người đàng hoàng. Vâng, chính xác là từ này, đàng hoàng. Nhưng đằng sau anh, nằm trong anh, giống như bản thân tôi, là lịch sử bí ẩn toàn xương máu, giết chóc, đau khổ, phản bội, dối trá. Anh nói: “Anna, em đang khóc đấy à?” “Em mau nước mắt mà,” tôi đáp. Anh gật đầu và nói: “Việc gì em cảm thấy cần phải làm thì cứ làm.” Rồi tôi bật cười, bởi vì lời anh nói xuất phát từ nền tảng giáo dục kiểu Anh của anh, từ lương tâm nghiêm chỉnh không tuân thủ của anh. Và anh biết vì sao tôi cười nên gật đầu nói: “Chúng ta ai nấy đều là sản phẩm từ các trải nghiệm của chính mình. Anh không may sinh ra làm con người có ý thức ở đầu những năm ba mươi.” Bỗng nhiên tôi thấy buồn không chịu nổi, và tôi nói: “Jack ạ, em trở lại với công việc đây,” rồi quay trở về phòng mình, gục đầu xuống cánh tay, và ơn Chúa là con mụ thư ký ngu xuẩn đã ra ngoài đi ăn trưa. Tôi nghĩ: Michael sắp bỏ mình, thế là hết; và mặc dù đã ra khỏi Đảng cách đây nhiều năm, anh vẫn là một bộ phận trong tổng thể đó. Và tôi sắp rời bỏ Đảng. Một giai đoạn của đời tôi đã chấm dứt. Tiếp theo là gì đây? Tôi đang ra ngoài, thể hiện quyết tâm, để bước vào một điều mới mẻ, và tôi phải làm vậy. Tôi đang trút lốt cũ, hay đang tái sinh. Mụ thư ký, Rose, đi vào thấy tôi gục đầu trên cánh tay, hỏi tôi ốm phải không. Tôi bảo tôi bị thiếu ngủ nên đang chợp mắt một chút. Và tôi chuyển sang làm “việc phúc lợi”. Khi ra đi tôi sẽ nhớ nó: tôi thấy mình đang nghĩ thế này: mình sẽ nhớ cái ảo tưởng đang thực hiện một việc gì đấy hữu ích, và tự hỏi không biết mình có thực tin đấy là ảo tưởng không.

Cách đây khoảng mười tám tháng, trên một tờ tạp chí Đảng có đăng một đoạn tin nhỏ đại khái là Boles và Hartley, tên công ty này, đã quyết định xuất bản cả tiểu thuyết bên cạnh các loại sách xã hội học, lịch sử v.v. vốn là dòng sản phẩm chính. Ngay lập tức trụ sở công ty liền tràn ngập các loại bản thảo. Chúng tôi thường nói đùa rằng chắc hẳn mỗi Đảng viên phải là một tiểu thuyết gia bán thời gian, nhưng rồi vấn đề này không còn là chuyện đùa nữa. Bởi vì mỗi bản thảo - trong đó có những bản rõ ràng là đã bị nhét trong ngăn kéo hàng năm trời - đều có gửi kèm một bức thư, và những bức thư này trở thành công việc của tôi. Hầu hết các cuốn tiểu thuyết đều dở ẹc, dù là theo kiểu Tác giả Khuyết danh sáo rỗng, hay những kẻ bất tài sáo mòn. Nhưng những bức thư lại mang tới một luồng gió khác hẳn. Tôi vẫn thường nói với Jack thật đáng tiếc là chúng ta không thể in một tuyển tập khoảng năm mươi bức thư như vậy thành sách. Anh trả lời: “Nhưng Anna thân mến ạ, hành động đấy sẽ bị coi là phản Đảng đấy, em nói năng hay nhỉ!” Một bức thư điển hình: “Kính gửi đồng chí Preston: Không biết đồng chí nghĩ thế nào về những gì tôi đang gửi cho đồng chí. Tôi viết cuốn này cách đây bốn năm. Tôi đã gửi cho một loạt các nhà xuất bản uy tín như thường lệ - chán chả buồn nói nữa! Khi thấy Boles và Hartley quyết định cổ vũ tác phẩm sáng tác cùng với các bài viết về triết học, tôi cảm thấy muốn đánh liều thử vận may của mình một lần nữa. Phải chăng quyết định này là tín hiệu đã được chờ đợi từ lâu về một quan điểm mới dành cho sáng tạo thực thụ trong Đảng? Bất kể thế nào đi nữa, tôi vẫn thấp thỏm chờ đợi quyết định của đồng chí - không cần phải nói nữa! Chào thân ái. Tái bút: Tôi rất khó khăn mới tìm được thời gian để viết. Tôi là bí thư của chi bộ Đảng sở tại (trong mười năm qua đã giảm từ năm mươi sáu đảng viên xuống còn mười lăm - và mười lăm người này hầu hết đều ngừng sinh hoạt). Tôi vẫn sinh hoạt trong công đoàn. Tôi còn là thư ký của hội âm nhạc địa phương - xin lỗi nhưng tôi e rằng không nên coi thường những bằng chứng như vậy về văn hóa địa phương, mặc dù tôi biết Trung ương đánh giá thế nào về điều đó! Tôi có vợ và ba con. Vì vậy, để viết được cuốn tiểu thuyết này (nếu xứng đáng được gọi như thế!) ngày nào tôi cũng phải dậy từ lúc bốn giờ sáng và viết trong ba tiếng trước khi các con và bà xã của tôi thức giấc. Rồi sau đó đến cơ quan và vật vờ làm công việc của một ngày mới cho các ông chủ, trong trường hợp này là Công ty TNHH Xi măng Beckly. Chưa bao giờ nghe tên? Ôi tin tôi đi, nếu viết được một cuốn tiểu thuyết về họ cũng như các hoạt động của họ, chắc tôi sẽ bị đuổi việc vì tội vu khống. Nói thế là đủ hiểu chứ?”

Và một bức khác: “Kính gửi đồng chí. Tôi gửi đồng chí những câu chuyện của mình với tâm trạng rất sợ và run. Tôi mong đồng chí có sự đánh giá công bằngchính xác - bản thảo đã bị cái gọi là các tạp chí văn hóa của chúng ta trả lại quá nhiều lần. Tôi rất vui khi thấy rằng ít ra thì Đảng cũng thấy cần phải khích lệ tài năng nội bộ, thay cho các bài diễn văn về văn hóa trong mỗi hội nghị mà chẳng có hành động thực tế nào cả. Toàn bộ số sách về duy vật biện chứng và lịch sử khởi nghĩa nông dân đều rất hay, nhưng còn các bài viết về đời sống thì sao? Tôi có rất nhiều kinh nghiệm viết lách. Tôi cầm bút từ thời chiến tranh (Thế giới thứ hai) khi viết cho tập san của tiểu đoàn. Kể từ đó đến nay tôi vẫn liên tục viết mỗi khi có thời gian. Nhưng khó khăn là chỗ này. Có một vợ và hai con (vợ tôi hoàn toàn đồng ý với các chuyên gia của Phố King là tốt nhất một đồng chí nên đi phát tờ rơi hơn là viết lách lăng nhăng) nghĩa là phải chiến đấu không chỉ với mụ ấy mà còn với cán bộ Đảng sở tại phản ứng rất tiêu cực khi tôi bảo rằng tôi muốn xin thời gian nghỉ để viết. Chào thân ái.”

“Kính gửi đồng chí. Khó khăn lắm tôi mới tìm được cách mở đầu bức thư này, nhưng nếu cứ do dự và ngại không muốn bắt đầu thì chẳng bao giờ tôi biết được là đồng chí sẽ động lòng giúp đỡ tôi hay ném bức thư của tôi vào sọt giấy lộn. Tôi viết trước hết là với tư cách một người mẹ. Cũng như hàng ngàn người phụ nữ khác, nhà tôi tan nát trong những năm cuối cuộc chiến tranh và tôi phải lo liệu cho hai đứa con, mặc dù đấy cũng chính là thời gian tôi hoàn thành một biên niên sử (không phải tiểu thuyết) về thời con gái của mình và được người đọc thẩm định của một trong những công ty xuất bản tốt nhất trong nước đánh giá rất cao (Công ty tư bản, tôi e vậy, và tất nhiên là người ta phải chấp nhận đối mặt với định kiến - tôi không giấu giếm gì niềm tin chính trị của mình cả!). Nhưng vướng hai đứa con, tôi phải từ bỏ tất cả mọi hy vọng được thể hiện mình qua ngôn từ. May mà tôi kiếm được chân dọn nhà cho một người góa vợ có ba đứa con, và cứ thế năm năm vui vẻ trôi qua, sau đó ông ấy tái hôn (không được khôn ngoan cho lắm, nhưng đấy lại là chuyện khác) nên tôi không còn có ích cho ngôi nhà của ông ấy nữa, do đó tôi và các con phải ra đi. Sau đó tôi xin làm lễ tân cho một nha sĩ, và với 10 bảng mỗi tuần tôi phải nuôi các con, nuôi bản thân cho bề ngoài tỏ ra đàng hoàng một chút. Bây giờ thì hai con trai tôi đều đã đi làm nên thời gian của tôi bỗng nhiên chỉ còn dành cho bản thân. Tôi bốn mươi lăm tuổi nhưng không chịu chấp nhận ý nghĩ rằng đời tôi thế là hết. Bạn bè và/hoặc các đồng chí bảo tôi rằng nghĩa vụ của tôi là dành thời gian rảnh rỗi cho Đảng - tôi vẫn trung thành với Đảng trong suy nghĩ mặc dù không đủ thời gian để tham gia đóng góp thực tế. Nhưng - tôi có dám thú nhận điều này không? - suy nghĩ của tôi về Đảng rất lộn xộn và thường là tiêu cực. Tôi không thể dung hòa niềm tin trước đây của mình về tương lai xán lạn của nhân loại với những điều chúng ta được đọc (mặc dù tất nhiên là trên báo chí tư bản - mặc dù có vẻ như đây là trường hợp không có lửa sao có khói?) và tôi tin rằng mình nên phục vụ con người thật của mình bằng cách cầm bút. Trong khi thời gian trôi qua với những việc nhà và lăn lộn kiếm sống, tôi không được tiếp xúc với những điều tốt đẹp của cuộc sống. Xin hãy khuyên tôi nên đọc cái gì, tôi nên phát triển bản thân ra sao, và làm cách nào để tôi bù đắp lại được quãng thời gian đã mất. Chào thân ái. Tái bút: Cả hai đứa con trai của tôi đều theo học trường phổ thông chuyên, và tôi e rằng chúng nó vượt xa tôi về mặt kiến thức. Điều này khiến tôi có cảm giác tự ti rất khó xóa bỏ. Tôi không biết nói gì để thể hiện lòng biết ơn đối với lời khuyên và sự giúp đỡ tận tình của đồng chí.”

Một năm trời tôi đã trả lời các bức thư này, gặp gỡ người viết, đưa ra lời khuyên thực tế. Chẳng hạn, tôi mời những người phải đấu tranh với cán bộ Đảng sở tại để có thời gian viết đến London. Sau đó Jack và tôi dẫn họ đi ăn trưa hoặc uống trà và bảo họ (Jack có mặt là cốt yếu, bởi vì anh có chức quyền trong Đảng) đấu tranh với các cán bộ này, khẳng định rằng họ có quyền dành thời gian cho bản thân. Tuần trước tôi giúp một phụ nữ đến cục Hỗ trợ pháp lý để tư vấn về việc bỏ chồng.

Trong khi tôi xử lý những bức thư này, hoặc người viết ra chúng; Rose Latimer làm việc ở phía đối diện, cứng người vì thù nghịch. Cô ta là Đảng viên điển hình của thời đại này; xuất thân trung lưu lớp dưới, từ “công nhân” khiến mắt cô ta đẫm lệ theo đúng nghĩa đen. Khi phát biểu mà sử dụng đến các cụm từ như Công Nhân Anh, hay Giai cấp Công Nhân, giọng cô ta mềm đi vì kính cẩn. Khi đi các tỉnh để tổ chức hội nghị hoặc đọc diễn văn, cô ta quay về hết sức phấn chấn: “Những con người tuyệt vời.” Cô ta nói, “những con người kỳ diệu tuyệt vời. Họ có thật.” Cách đây một tuần, tôi nhận được bức thư từ vợ của một quan chức công đoàn mà cô ta, Rose, cách đây chừng một năm đã dành nguyên một kỳ nghỉ cuối tuần với bà ta, rồi trở về với bài tụng ca thường ngày về những con người kỳ diệu có thật. Bà này kêu ca rằng bà ta đã hết cách rồi: chồng bà ta dành hết thời gian nếu không phải với các quan chức huynh đệ ở công đoàn thì cũng ở quán rượu; và ông chồng chẳng giúp đỡ bà ta chút nào để nuôi bốn đứa con. Phần tái bút, nơi vấn đề thường hiện ra rõ nhất, nói thêm rằng họ đã “không có đời sống vợ chồng” cả tám năm nay. Tôi không nói gì trao bức thư này cho Rose, cô ta đọc và nói nhanh, giọng đề phòng và giận dữ: “Lúc đến đó tôi chẳng thấy bất cứ vấn đề nào như thế cả. Ông ấy là người tuyệt diệu. Họ đều tuyệt diệu, những con người này.” Và rồi trao lại bức thư cho tôi cùng một nụ cười tươi rói giả dối: “Tôi nghĩ cậu sắp sửa khuyến khích bà ta hãy thương hại chính mình.”

Tôi nhận ra mình sẽ nhẹ nhõm biết bao khi được giải thoát khỏi Rose. Thường thì tôi ít khi ghét người khác (hoặc cùng lắm là chỉ được một lúc) nhưng tôi thực sự ghét cô ta và lúc nào cũng ghét. Tôi còn ghét cả bề ngoài của cô ta nữa. Cô ta có cái cổ gầy đét dài ngoẵng đầy mụn đầu đen và có cả những vết cáu ghét. Và trên cái cổ chẳng lấy gì làm dễ chịu này là một cái đầu dẹt, bóng loáng, chảnh chọe, trông như đầu chim. Chồng cô ta, cũng là cán bộ Đảng, một người vui tính nhưng không được thông minh cho lắm, bị vợ xỏ mũi; cô ta có hai đứa con và nuôi dạy chúng theo cách trung lưu chuẩn mực hết sức, suốt ngày lo sợ về cách cư xử và tương lai của chúng. Ngày xưa cô ta đã từng rất xinh - tôi nghe bảo rằng hồi những năm ba mươi cô ta là “một trong những cô gái trang bìa” của Đảng. Tất nhiên là cô ta làm tôi phát sợ, tôi sợ cô ta theo kiểu sợ John Butte - điều gì có thể ngăn mình không trở nên giống như cô ta?

Nhìn vào Rose, bị thôi miên trước cái cổ bẩn thỉu của cô ta, tôi nhớ hôm nay mình có những lý do đặc biệt để lo ngại về độ sạch sẽ của bản thân, vì thế tôi lại vào nhà vệ sinh. Khi tôi quay trở lại bàn làm việc, chuyến thư buổi chiều đã được chuyển đến, vậy là có thêm hai bản thảo nữa, và cùng với chúng là hai bức thư. Một bức của một người hưu trí cao niên, ông già bảy mươi lăm tuổi sống một mình đặt hết hy vọng vào niềm tin rằng việc xuất bản cuốn sách (trông chán òm) sẽ “an ủi tuổi già cho tôi”. Tôi quyết định đến thăm ông ta trước khi nhớ ra rằng mình sắp bỏ việc. Liệu có ai đó sẽ làm công việc này nếu như tôi không làm? Có lẽ là không. Ôi, có khác gì đâu cơ chứ? Trong cả năm làm “việc phúc lợi” này, tôi không thể hình dung nổi rằng những bức thư mà tôi đã viết, những cuộc viếng thăm tôi đã thực hiện, những lời khuyên tôi đã đưa ra, thậm chí những giúp đỡ thực tế có tạo ra chút thay đổi gì. Có lẽ bớt đi một chút bực bội, bớt đi một chút buồn khổ - nhưng cách suy nghĩ này rất nguy hiểm, lại quá dễ dàng đến đối với tôi, và tôi thấy sợ.

Tôi vào gặp Jack, anh đang ngồi một mình, tay áo xắn lên, chân gác trên bàn, phì phèo tẩu thuốc. Gương mặt trắng xanh, thông minh của anh đang tập trung và nhíu mày, và lúc này trông anh giống một giảng viên đại học đang thư giãn hơn bao giờ hết. Tôi biết anh đang suy nghĩ về công trình riêng của anh. Chuyên môn của anh là lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô. Anh đã viết một công trình chừng nửa triệu chữ về đề tài này. Nhưng bây giờ thì không thể in được, bởi vì anh đã viết một cách trung thực về vai trò của những người như Trotsky và tương tự. Anh tích lũy bản thảo, ghi chép, bản sao các cuộc đối thoại. Tôi trêu Jack: “Trong thời gian hai thế kỷ nữa, sự thật này sẽ được nói ra.” Anh cười điềm tĩnh và đáp: “Hoặc trong hai đến năm thập kỷ nữa.” Anh chẳng thấy băn khoăn chút nào là công trình tỉ mỉ này sẽ không được thực tế công nhận trong nhiều năm tới, thậm chí có thể trong suốt cả cuộc đời anh. Có lần anh nói: “Anh chẳng thấy ngạc nhiên chút nào nếu như có ai đó đủ may mắn được ở ngoài Đảng xuất bản toàn bộ chỗ này trước. Nhưng mặt khác, một người ở ngoài Đảng sẽ không tiếp cận được với một vài con người và tài liệu như anh. Vậy là hòa cả làng.”

Tôi hỏi: “Anh Jack này, khi em đi, liệu có ai làm gì đó cho những con người đang gặp rắc rối này không?” Anh đáp: “Ôi, anh làm gì có đủ tiền mà thuê người làm việc đó. Chẳng mấy đồng chí có thể sống bằng tiền nhuận bút như em được đâu.” Rồi anh dịu lại và nói: “Anh sẽ xem có làm được gì cho những trường hợp tệ nhất hay không.” “Có một bác lớn tuổi về hưu,” tôi nói; sau đó tôi ngồi xuống và chúng tôi thảo luận về cách xử lý. Rồi anh nói: “Vậy nghĩa là em sẽ không thông báo trước cho anh một tháng? Anh luôn nghĩ rằng em sẽ làm vậy - quyết định đi và cứ thế đi luôn.” “Ôi, nếu không thì có thể em sẽ chẳng tài nào đi nổi.” Anh gật đầu. “Em sẽ tìm việc khác chứ?” “Em không biết, em muốn suy nghĩ.” “Kiểu như là đi tu một thời gian?” “Vấn đề là đối với em, dường như đầu óc em là một mớ hỗn độn các quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau về mọi thứ.” “Đầu óc mỗi người đều là một mớ hỗn độn các quan điểm trái ngược nhau. Thì có làm sao?” “Chắc là nó phải quan trọng với chúng ta chứ?” (Có nghĩa là nó phải quan trọng với những người cộng sản.) “Nhưng Anna này, em đã bao giờ nghĩ rằng trong lịch sử…” “Ôi Jack, đừng nói về lịch sử, về cái năm thế kỷ đấy, thật là đánh trống làng.” “Không, đấy không phải là đánh trống lảng. Bởi vì trong suốt lịch sử, có thể đã tồn tại năm, mười, năm mươi người có ý thức hoàn toàn phù hợp với thời đại. Và nếu ý thức thực tế của chúng ta không phù hợp với thời đại chúng ta thì chuyện này có gì là kinh khủng đâu? Con cái chúng ta…” “Hoặc cháu chắt chút chít chúng ta,” tôi đáp, giọng cáu kỉnh. “Thôi được rồi - cháu chắt chút chít chúng ta sẽ nhìn lại và chúng sẽ thấy cực kỳ rõ ràng rằng cách chúng ta nhìn cuộc sống, cách chúng ta nhìn nhận cuộc sống hiện nay, là sai lầm. Nhưng rồi cái nhìn của chúng cũng vậy, đối với thời đại chúng. Chả quan trọng.”

“Nhưng Jack này, điều đó thật vớ vẩn…” Tôi nghe giọng mình đang rít lên the thé nên vội kiềm chế. Tôi nhận thấy kinh nguyệt đã làm tôi xấu tính đi; mỗi tháng một lần, và sau đó tôi trở nên cáu kỉnh vì cảm thấy tuyệt vọng và mất kiểm soát. Tôi còn cáu bởi vì người đàn ông này đã có nhiều năm nghiên cứu triết học ở trường đại học; vì vậy tôi không thể nói với anh rằng: em biết anh sai bởi vì em cảm thấy như thế. (Và ngoài ra trong lời anh nói còn có một điều gì đấy hấp dẫn đến mức nguy hiểm, và tôi biết một phần cảm giác cáu kỉnh xuất phát từ việc đấu tranh cưỡng lại sức hấp dẫn này.) Jack bỏ qua giọng tôi; và anh nhẹ nhàng nói: “Tuy nhiên, anh mong em suy nghĩ thêm Anna ạ - luôn có gì đó rất ngạo mạn trong việc khẳng định quyền được đúng đắn.” (Từ ngạo mạn khiến tôi giật mình, bởi vì tôi vẫn tự buộc tội chính mình là hay ngạo mạn.) Tôi yếu ớt đáp: “Nhưng em đã nghĩ đi nghĩ lại rồi.” “Không, hãy để anh thử một lần nữa: Trong một hai thập kỷ vừa qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu khoa học mang tính cách mạng. Và trong tất cả các lĩnh vực. Có lẽ trên thế giới không có một nhà khoa học nào có thể nắm bắt được ý nghĩa của tất cả mọi thành tựu khoa học đó, hoặc thậm chí là chỉ một phần thôi cũng vậy. Có thể một nhà khoa học Massachusetts hiểu biết một vấn đề, người khác ở Cambridge hiểu biết một vấn đề khác, và người nữa ở Liên Xô hiểu biết về vấn đề thứ ba - vân vân và vân vân. Nhưng ngay cả cái đó anh cũng không nghĩ là có. Anh không tin rằng có một người còn sống nào lại thực sự hình dung được hết tất cả mọi ý nghĩa của, ví dụ như là ứng dụng năng lượng hạt nhân cho công nghiệp…” Tôi cảm giác như anh đang lạc đề một cách kinh khủng, vì vậy tôi kiên quyết bám lấy ý mình: “Tóm lại ý anh nói là chúng ta phải chấp nhận bị chia đôi.” “Chia đôi,” anh đáp. “Đúng.” “Ý anh chắc chắn là em không phải là nhà khoa học, em không có trí tưởng tượng khoa học.” Tôi nói: “Anh nghiên cứu khoa học nhân văn, đấy là chuyên môn của anh, vậy mà bỗng nhiên anh giơ tay lên và nói rằng anh không thể đánh giá bất cứ vấn đề nào cả bởi vì anh không được đào tạo về vật lý và toán học?” Trông anh không thoải mái; hiếm khi nào anh như thế, vì vậy điều này khiến tôi cảm thấy bối rối. Tuy nhiên, tôi vẫn tiếp tục với quan điểm của mình: “Tha hóa. Chia đôi. Đấy là khía cạnh đạo đức, có thể nói như vậy, của thông điệp cộng sản. Vậy mà bỗng dưng anh nhún vai và nói rằng vì nền tảng cơ khí của cuộc sống chúng ta đang trở nên phức tạp nên chúng ta phải chấp nhận đừng có tìm cách hiểu sự vật trên phương diện tổng thể?” Lúc này gương mặt anh mang vẻ kín bưng bướng bỉnh khiến tôi nhớ đến vẻ mặt của John Butte: và trông anh có vẻ giận dữ. Anh nói: “Không phải là bị chia đôi, đấy không phải là vấn đề tích cực tưởng tượng để hiểu được mọi thứ đang diễn ra. Hoặc là tìm cách hiểu. Nó có nghĩa là thực hiện công việc của mình càng xuất sắc càng tốt, và làm người tốt.” Tôi có cảm giác như anh đang phản bội những gì đáng lẽ anh phải bảo vệ. Tôi đáp: “Như thế là phản bội.” “Phản bội cái gì?” “Chủ nghĩa nhân văn.” Anh suy nghĩ và nói: “Khái niệm chủ nghĩa nhân văn sẽ thay đổi giống như bất cứ điều gì khác.” Tôi đáp: “Vậy thì nó sẽ trở thành một khái niệm khác. Nhưng chủ nghĩa nhân văn ủng hộ con người trọn vẹn, cá nhân trọn vẹn, phấn đấu để trở nên có ý thức và trách nhiệm trong khả năng của mình đối với tất cả mọi vấn đề trong vũ trụ. Nhưng bây giờ anh ngồi đấy, rất bình thản, và với tư cách một nhà nhân văn học anh bảo rằng do sự phức tạp của thành tựu khoa học nên con người không được trở thành toàn thể mà phải luôn bị chia nhỏ.” Anh ngồi suy nghĩ. Và ngay lập tức tôi nghĩ dáng vẻ anh trông thật chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện; và tôi tự hỏi không biết có phải phản ứng này là do tôi vừa quyết định ra khỏi Đảng và đang phóng chiếu cảm xúc của mình lên anh không, hay là vì thực ra anh không phải là người mà từ trước đến nay tôi vẫn tưởng. Nhưng tôi không thể không tự nhủ rằng gương mặt anh là gương mặt của một cậu bé già nua, và tôi vẫn nhớ anh đã cưới một người phụ nữ trông đáng tuổi mẹ anh, và rõ ràng đây là một cuộc hôn nhân trên cơ sở tình cảm.

Tôi kiên quyết: “Khi anh nói rằng không bị chia đôi chỉ là vấn đề làm tốt công việc của mình, vân vân, thì anh có thể nhận xét như vậy về cô Rose phòng bên.” “Ừ, đúng, anh có thể, và anh nghĩ vậy đấy.” Tôi không tin nổi là anh thực sự có ý đó, và thậm chí tôi còn tìm xem có tia hài hước nào chắc hẳn phải đi cùng với câu nói này. Rồi tôi thấy anh thực sự có ý đó; và một lần nữa tôi tự hỏi tại sao phải đến bây giờ, sau khi tôi nói rằng tôi sẽ ra khỏi Đảng, thì những bất hòa này mới xuất hiện giữa hai chúng tôi.

Bỗng nhiên anh rút cái tẩu ra khỏi miệng và nói: “Anna ạ, anh nghĩ linh hồn em đang gặp nguy hiểm.”

“Còn hơn cả chắc chắn nữa. Nhưng điều đó kinh khủng vậy sao?”

“Em đang trong vị thế cực kỳ nguy hiểm. Em kiếm đủ tiền để không cần phải làm việc, nhờ sự trao thưởng thất thường trong ngành xuất bản của chúng ta…”

“Em chưa bao giờ giả vờ rằng điều đó là do bất cứ công trạng đặc biệt nào của mình cả.” (Tôi nhận thấy giọng mình lại the thé lên, vì vậy tôi chêm vào một nụ cười.) “Không, em không thế. Nhưng có thể cuốn sách nhỏ nhắn dễ thương đó sẽ tiếp tục mang tiền về cho em đủ để không cần phải làm việc một thời gian. Con gái em thì đang đi học và chẳng gây cho em quá nhiều rắc rối. Vậy thì chẳng điều gì có thể ngăn em ngồi trong một căn phòng ở đâu đó, chẳng cần làm gì nhiều ngoài việc ủ ê về mọi chuyện.” Tôi bật cười. (Nghe có vẻ khó chịu.) “Sao em lại cười?” “Trước đây cô giáo của em, trong suốt thời thiếu niên bão táp của em, thường nói: ‘Đừng ủ ê thế, Anna. Đừng ủ ê nữa mà hãy ra ngoài làm gì đó đi.’” “Có lẽ cô ấy nói đúng.” “Vấn đề là em không tin như vậy. Và em không tin anh nói đúng.” “Vậy thì, Anna ạ, chẳng còn gì để mà nói thêm nữa cả.” “Và em không tin một lúc nào rằng anh lại tin là anh đúng.” Nghe câu này, anh hơi đỏ mặt và ném cho tôi một cái nhìn nhanh vẻ thù địch. Tôi có thể cảm nhận được vẻ thù địch trên mặt chính mình. Tôi kinh ngạc khi giữa hai chúng tôi đột nhiên xuất hiện sự đối đầu này; đặc biệt là trong giây phút chia tay. Bởi vì ở thời điểm đối đầu này, chia tay chẳng đến nỗi đau lòng như tôi nghĩ. Mắt cả hai chúng tôi đều ướt, chúng tôi hôn nhau lên má, ôm nhau thật chặt; nhưng rõ ràng là cuộc tranh cãi cuối cùng đã thay đổi cảm giác của chúng tôi về nhau. Tôi bước nhanh vào phòng mình, cầm lấy áo khoác và túi xách rồi đi xuống gác, may mà Rose không ở đây nên không cần phải giải thích gì cả.

Trời lại mưa, một cơn mưa phùn nhỏ chán ngắt. Các tòa nhà to lớn, đen sì và ẩm ướt, mờ mịt trong thứ ánh sáng phản chiếu; nhưng những chiếc xe buýt đỏ chói trông rất sống động. Đã quá muộn để đến trường kịp giờ đón Janet, dù có bắt taxi đi nữa. Vì vậy tôi trèo lên xe buýt, ngồi giữa đám người ẩm ướt và có mùi mốc. Tôi muốn được tắm hơn bất cứ điều gì khác, thật nhanh. Đùi tôi đang cọ vào nhau dính nhớp, còn nách tôi thì ướt đẫm. Trên xe buýt, tôi rơi vào trạng thái trống rỗng; nhưng tôi quyết định không suy nghĩ về nó nữa, tôi phải tươi tỉnh để gặp Janet. Và bằng cách này, tôi bỏ lại sau lưng cô Anna đến văn phòng, cãi nhau tràng giang đại hải với Jack, đọc những bức thư buồn bã tuyệt vọng, ghét cô Rose. Khi về đến nơi, nhà cửa không có ai nên tôi gọi cho mẹ đứa bạn Janet. Janet sẽ về nhà vào lúc bảy giờ; con bé đang chơi dở một trò gì đó. Sau đó tôi vặn vòi nước, làm nhà tắm mù mịt hơi nước rồi chậm rãi tắm một cách sung sướng. Xong xuôi tôi nhìn chiếc váy đen trắng và thấy cổ váy hơi bẩn một chút, không mặc được nữa. Tôi thấy cáu vì mình đã phí công mặc váy này ở cơ quan. Tôi mặc quần áo trở lại; lần này là chiếc quần sọc sặc sỡ và chiếc áo khoác nhung màu đen; nhưng tôi có thể nghe thấy giọng Michael nói: Sao tối nay trông em giống một cậu nhóc thế, Anna? - vì vậy tôi chải tóc thật cẩn thận để trông khỏi giống một cậu nhóc. Lúc này tôi đã bật hết tất cả các bếp lên. Tôi bắt đầu chuẩn bị hai bữa ăn: một cho Janet. Một cho Michael và tôi. Dạo này Janet đang thèm món rau chân vịt đánh kem nướng với trứng. Và táo nướng. Tôi quên không mua đường đỏ. Tôi chạy xuống hiệu tạp hóa dưới nhà, đúng lúc họ đang đóng cửa. Người ta vui vẻ cho tôi vào; và tôi thấy mình đang tham gia trò chơi mà họ yêu thích: ba nam phục vụ mặc áo khoác trắng trêu đùa và gọi tôi là tình yêu, là vịt. Tôi là Anna bé nhỏ đáng mến, cô gái bé nhỏ đáng mến. Tôi vội vã chạy lên nhà và lúc này Molly đã về, có cả Tommy. Họ đang cãi nhau to tiếng, vì vậy tôi giả vờ như không nghe thấy gì và tiếp tục lên gác. Janet đã về. Con bé đang hào hứng, nhưng lảng tránh tôi; đang ở trong thế giới trẻ thơ của trường học, và sau đó cùng cô bạn nhỏ của mình ở trong thế giới trẻ thơ, vì vậy nó không muốn bước ra ngoài. Con bé nói: “Con ăn trên giường được không?” và tôi đáp chiếu lệ: “Ôi, con lười quá đấy!” và nó trả lời: “Vâng, nhưng con chả cần.” Không đợi tôi phải bảo, con bé đi vào nhà tắm và vặn vòi nước. Tôi nghe thấy tiếng nó cùng Molly cười vang và nói chuyện với nhau dưới ba đợt cầu thang. Không cần cố gắng, mỗi khi gặp trẻ con là Molly lại trở thành trẻ con. Cô đang kể một câu chuyện vớ vẩn về những con thú chiếm giữ và điều hành một nhà hát nhưng không ai nhận thấy chúng không phải là con người. Câu chuyện cuốn hút đến mức tôi ra chiếu nghỉ nghe; chiếu nghỉ bên dưới là Tommy cũng đang lắng nghe, nhưng gương mặt tỏ vẻ cau có khó chịu - cậu bé cáu nhất khi mẹ chơi cùng Janet, hoặc một đứa trẻ khác. Janet đang vừa cười lớn vừa té nước khắp bồn tắm, và tôi có thể nghe thấy tiếng nước giội lên sàn. Đến lượt mình, tôi phát cáu bởi vì bây giờ tôi sẽ phải lau hết chỗ nước đó. Janet đi lên, mặc áo choàng tắm và pyjama màu trắng, đã cảm thấy buồn ngủ. Tôi xuống dưới nhà và lau dọn những vũng nước lênh láng trong phòng tắm. Khi tôi trở lại, Janet đã lên giường, truyện tranh vương vãi khắp xung quanh. Tôi mang chiếc khay đựng đĩa rau chân vịt nướng trứng và món táo nướng cùng một cục kem vụn. Janet bảo, mẹ kể chuyện cho con nghe đi. “Ngày xửa ngày xưa có một cô bé tên là Janet,” tôi bắt đầu, và con bé mỉm cười sung sướng. Tôi kể cô bé này đã đến trường vào một ngày trời mưa, học bài, chơi với những đứa trẻ khác thế nào, cãi lộn với bạn bè ra sao… “Không, mẹ ơi, không có đâu, đấy là chuyện hôm qua rồi. Con yêu bạn Marie suốt đời.” Vì vậy, tôi thay đổi câu chuyện để Janet yêu bạn Marie suốt đời. Janet mơ màng ăn, đưa qua đưa lại chiếc thìa tới miệng, lắng nghe trong lúc tôi sáng tạo ra một ngày của con, xây dựng hình hài cho nó. Tôi quan sát con bé, thấy Anna quan sát Janet. Đứa trẻ nhà bên đang khóc. Một lần nữa, cảm giác về tính liên tục, về sự thân mật vui tươi lại xuất hiện, vì vậy tôi kết thúc câu chuyện: “Và rồi Janet ăn một bữa tối ngon lành có rau chân vịt, trứng và táo phết kem, và em bé nhà bên khóc một chút, sau đó nó ngừng khóc và đi ngủ, rồi Janet đánh răng và đi ngủ.” Tôi cầm lấy cái khay và Janet hỏi: “Con có phải đánh răng không mẹ?” “Tất nhiên rồi, câu chuyện kể như thế mà.” Con bé chuồi chân ra khỏi cạnh giường, xỏ vào đôi dép lê, đi như kẻ mộng du đến bồn rửa, đánh răng sạch sẽ rồi quay lại. Tôi dụi lò sưởi và kéo rèm. Janet có kiểu nằm trên giường trước khi ngủ như người lớn: nằm ngửa, hai tay đặt sau gáy, mắt nhìn những tấm rèm khẽ chuyển động. Trời lại mưa, rất to. Tôi nghe thấy tiếng cánh cửa ở dưới đáy căn nhà đóng lại: Molly đã đi đến nhà hát. Janet nghe thấy và nói: “Khi nào lớn lên con sẽ làm diễn viên.” Hôm qua thì nó bảo làm giáo viên. Con bé nói giọng ngái ngủ: “Hát cho con nghe.” Nó nhắm mắt lại, miệng lẩm nhẩm: “Hôm nay con là em bé. Con là em bé.” Vì vậy tôi cứ hát đi hát lại, trong khi Janet lắng nghe xem tôi có thay đổi chỗ nào mà nó đã biết từ trước hay không, vì tôi có đủ các loại biến thể cho ca từ: “À ơi bé ngoan à ơi, giường ấm áp con thảnh thơi ngủ vùi. Bình yên trong giấc mơ vui, bao điều mới mẻ sẽ chui vào đầu. Qua đi đêm tối thẳm sâu, bình yên tỉnh giấc muôn màu ban mai.” Thường thì nếu Janet nhận thấy từ ngữ tôi dùng không phù hợp với tâm trạng của nó, con bé sẽ ngăn tôi lại và yêu cầu hát lời khác, nhưng đêm nay tôi đoán đúng, và tôi hát đi hát lại mãi cho đến khi thấy nó ngủ. Con bé trông thật mong manh và nhỏ bé lúc ngủ, vì vậy tôi phải tự dằn lại trong mình xung động mạnh mẽ muốn bảo vệ nó, tránh cho nó khỏi những tổn hại có thể xảy ra. Tối hôm nay cảm giác ấy mạnh hơn bình thường, nhưng tôi biết đấy là vì tôi đang đến tháng và chính mình cũng cần phải bám lấy một ai đó. Tôi đi ra ngoài, nhẹ nhàng đóng cửa.

Còn bây giờ là nấu ăn cho Michael. Tôi mở chỗ thịt bê mà sáng nay tôi đã nhớ đập phẳng; sau đó lăn các miếng thịt vào trứng vàng và vụn bánh mì. Vụn bánh tôi nướng hôm qua, nhưng mùi vẫn thơm và khô, dù cho không khí rất ẩm. Tôi thái nấm cho vào kem. Tôi có một nồi đầy nước xương trong ngăn đá, lấy ra đun rã và nêm gia vị. Và chỗ táo thừa nấu cho Janet, tôi múc ra khỏi lớp vỏ rạn nứt vẫn còn ấm, sau đó lọc lớp thịt táo rồi trộn với một lớp kem va ni loãng, đánh đến lúc đặc lại; và tôi đổ hỗn hợp này vào vỏ táo rồi cho vào lò nướng đến lúc chúng chuyển màu nâu. Khắp bếp tràn ngập mùi nấu nướng thơm lừng; và bỗng nhiên tôi thấy hạnh phúc, hạnh phúc đến mức cảm nhận được hơi ấm của nó trên khắp cơ thể mình. Sau đó, bụng tôi xuất hiện một cảm giác lạnh lẽo, và tôi nghĩ: hạnh phúc là một điều dối trá, là thói quen được hạnh phúc từ những thời điểm như thế này trong suốt bốn năm qua. Và lập tức hạnh phúc biến mất, tôi mệt mỏi đến cùng cực. Mệt mỏi mang theo hối hận. Tôi biết tất cả các hình thức và biến tấu của cảm giác hối hận này rõ đến mức phát chán. Nhưng dù sao thì tôi cũng phải chiến đấu với chúng. Có lẽ tôi không dành đủ thời gian cho Janet - Ồ, vớ vẩn, con bé sẽ chẳng vui vẻ và thoải mái đến vậy nếu như tôi làm gì không đúng. Jack nói đúng, tôi quá tự cao tự đại, lẽ ra tôi chỉ nên quan tâm đến một loại công việc nhất định và đừng để ý gì đến lương tâm của mình - vớ vẩn thật, tôi chẳng tin vào điều đó. Tôi không nên ghét Rose nhiều đến thế - mà có thánh mới không ghét, cô ta quá ư là kinh khủng. Tôi đang sống nhờ số tiền không phải vì lao động mà có, bởi vì chỉ nhờ may mắn nên cuốn sách mới sốt được như thế, còn những người khác tài năng hơn thì phải đổ mồ hôi sôi nước mắt - vớ vẩn thật, đâu phải lỗi của tôi. Cuộc chiến với các hình thức bất mãn của bản thân khiến tôi mệt mỏi; nhưng tôi biết đây không phải là cuộc chiến cá nhân. Khi tôi kể cho những người phụ nữ khác về điều này, họ bảo tôi rằng họ phải chiến đấu với đủ loại cảm giác tội lỗi mà họ cũng thấy là vô lý, thường là liên quan đến việc đi làm hoặc muốn dành thời gian cho bản thân; và nỗi hối hận đó là thói quen của thần kinh từ quá khứ, giống như cảm giác hạnh phúc của tôi cách đây mấy giây là thói quen của thần kinh từ một tình huống đã kết thúc. Tôi đặt chế độ hâm nóng một chai rượu vang rồi đi vào phòng mình, tìm niềm vui nhờ trần nhà thấp tè sơn trắng, nhờ những bức tường nhợt nhạt hắt bóng, nhờ ánh sáng đỏ rực của lò sưởi. Tôi ngồi vào chiếc ghế bành to đùng, và lúc này tôi thấy chán nản đến mức phải cố gắng mới không rơi nước mắt. Tôi nghĩ mình chỉ đang tìm cách động viên bản thân: nấu nướng cho Michael và chờ đợi anh - điều này nghĩa là sao? Anh đã có người đàn bà khác, và anh quan tâm đến người đó hơn tôi. Tôi biết vậy. Tối nay anh sẽ đến vì thói quen hoặc vì lòng tốt. Và rồi một lần nữa tôi lại phải chiến đấu với cảm giác chán nản này bằng cách đưa mình trở lại với tâm trạng tự tin và tin tưởng (giống như bước vào một căn phòng khác bên trong tôi) và tôi nói: Anh sẽ đến ngay thôi, và chúng tôi sẽ cùng nhau ăn tối, uống rượu vang, rồi anh sẽ kể cho tôi nghe về công việc hôm nay anh đã thực hiện, sau đó chúng tôi sẽ hút một điếu thuốc, và anh sẽ ôm tôi trong vòng tay. Tôi sẽ bảo với anh rằng tôi đang đến tháng và như thường lệ anh sẽ cười tôi và nói: Anna yêu dấu ơi, đừng đẩy cảm giác tội lỗi của em lên anh chứ. Khi đến tháng, tôi tin vào ý nghĩ rằng Michael sẽ yêu tôi, ban đêm; nó xua đi cảm giác oán ghét đối với vết thương bên trong cơ thể mà tôi không muốn có. Và rồi chúng tôi bên nhau ngủ, suốt đêm.

Tôi nhận ra rằng trời đã khuya. Molly từ nhà hát trở về. Cô nói: “Michael có đến không?” và tôi trả lời: “Ừ,” nhưng nhìn mặt cô tôi thấy cô không nghĩ như vậy. Cô hỏi tôi xem ngày hôm nay như thế nào, và tôi đáp tôi vừa quyết định ra khỏi Đảng. Cô gật đầu rồi nói rằng cô nhận thấy trước đây cô tham gia cả nửa tá ủy ban khác nhau và suốt ngày bận bịu với việc Đảng, còn bây giờ cô chỉ có một ủy ban và không thể nào xốc mình lên làm việc Đảng được. “Vậy cũng không khác gì cậu, tớ nghĩ thế,” cô nói. Nhưng điều khiến cô lo lắng tối nay chính là Tommy. Cô không thích đứa bạn gái mới của thằng bé. (Tôi cũng thế.) Cô nói: “Tớ vừa mới nghĩ ra, bạn gái nó toàn là cùng một giuộc cả - cái giuộc mà về bản chất sẽ không thích tớ. Mỗi khi đến đây, chúng nó toàn phát ra tín hiệu không ưa tớ chút nào, và thay vì nhận ra rằng bọn tớ không hợp nhau, Tommy lại cứ đẩy bọn tớ vào với nhau. Nói cách khác, thằng bé đang dùng đám bạn gái của nó như một kiểu alter ego để nói ra những gì nó nghĩ về tớ nhưng lại không nói ra miệng. Cậu có thấy tớ tưởng tượng quá cường điệu không?” Rõ là không, bởi vì tôi nghĩ cô nói đúng, nhưng tôi lại trả lời là có. Tôi đang tế nhị về chuyện Tommy, cũng như cô tế nhị về chuyện Michael bỏ tôi - chúng tôi che chở cho nhau. Sau đó cô nhắc lại rằng cô cảm thấy tiếc khi Tommy phản đối nhập ngũ vì lý do lương tâm, bởi vì hai năm trong mỏ than đã biến thằng bé thành một dạng người hùng trong một cộng đồng nhỏ nhất định, và “tớ không thể chịu đựng nổi cái vẻ hứng khởi tự mãn kinh khủng toát ra từ nó”. Điều này làm tôi cũng khó chịu, nhưng tôi bảo rằng thằng bé còn trẻ và khi lớn khôn lên nó sẽ khác. “Và tối nay tớ đã nói một điều kinh khủng: Tớ bảo, hàng ngàn người làm việc dưới mỏ than cả đời và chẳng coi đó là gì cả, vì Chúa đừng có lôi chuyện đấy ra mà ầm ĩ. Và tất nhiên như vậy là không công bằng, bởi vì đây đúng là chuyện lớn, một thằng bé xuất thân như nó mà lại làm việc dưới mỏ than. Và đúng là nó đã kiên cường đi qua hết thời gian ấy… nhưng cũng vậy thôi!” Cô châm một điếu thuốc, và tôi quan sát hai tay cô đặt trên đùi; trông chúng thật yếu ớt và chán nản. Rồi cô nói: “Điều tớ sợ là dường như chưa bao giờ tớ có khả năng nhìn nhận bất cứ điều gì thuần khiết trong hành động của mọi người - cậu hiểu ý tớ không? Dù cho họ có làm điều gì tốt đẹp đi nữa, tớ vẫn thấy mình cực kỳ hoài nghi và bắt đầu phân tích tâm lý về điều đó - thật kinh khủng, phải không Anna?” Tôi quá hiểu ý cô nên trả lời đúng như thế, và chúng tôi ngồi trong bầu không khí im lặng chán nản cho đến cô nói: “Tớ nghĩ Tommy sẽ lấy con bé này, tớ linh cảm thế.” “Ờ, chắc chắn là nó cũng sẽ lấy một đứa thôi.” “Và tớ biết điều này nghe giống như chuyện mẹ ghét con trai lấy vợ thông thường - ôi, cũng có phần đó thật. Nhưng tớ thề rằng kiểu gì tớ cũng nghĩ con bé đấy kinh khủng. Nó trung lưu kinh lên được. Và nó ủng hộ chủ nghĩa xã hội quá mức. Cậu biết đấy, vừa gặp nó tớ đã nghĩ: Lạy Chúa lòng lành, Tommy bắt mình phải hứng chịu con nhỏ bảo thủ kinh khủng nào thế này? Sau đó hóa ra con bé theo đảng xã hội, cậu biết đấy, một trong mớ đảng viên xã hội nhà trường ở Oxford. Học xã hội học. Cậu biết đấy, người ta sẽ mang tâm trạng này nếu ở nơi cứ liên tục nhìn thấy hồn ma Keir Hardie. Ôi, bọn đấy sẽ ngạc nhiên lắm nếu như thấy được chúng đẻ ra cái gì. Bạn gái mới của Tommy sẽ khiến bọn chúng mở mắt ra thực sự. Cậu hiểu không, có thể thấy rõ các gói bảo hiểm và tài khoản tiết kiệm hình thành trong không trung bơi xung quanh chúng, giữa khi bọn chúng bàn bạc làm thế nào để công đảng thực hiện các lời hứa tranh cử. Hôm qua, thậm chí con bé còn bảo Tommy nên chuẩn bị cho tuổi hưu. Đỡ nổi không?” Chúng tôi bật cười với nhau, nhưng chẳng có gì vui. Cô vừa đi xuống gác vừa chúc tôi ngủ ngon. Cô nói rất dịu dàng (như tôi chúc ngủ ngon với Janet) và tôi biết đấy là vì cô thấy buồn cho tôi vì Michael không đến. Đã gần mười một giờ, giờ thì tôi biết anh không đến. Điện thoại reo, đầu dây là Michael. “Anna, anh xin lỗi nhé, nhưng rốt cuộc thì tối nay anh cũng không thể đến được.” Tôi bảo không sao đâu. Anh nói: “Mai anh sẽ gọi cho em - hoặc vài hôm nữa. Chúc em ngủ ngon Anna.” Anh nói thêm, lúng túng tìm từ: “Anh xin lỗi nếu như em có nấu riêng cho anh.” Bỗng nhiên chữ nếu khiến tôi nổi đóa. Rồi tôi thấy rất kỳ cục khi mình nổi cáu vì một chuyện nhỏ nhặt như thế, và thậm chí tôi còn bật cười. Anh nghe tiếng cười và nói: “À, đúng rồi, Anna, đúng rồi…” Có nghĩa là tôi lạnh lùng và không quan tâm đến anh. Nhưng tôi bỗng thấy không thể chịu đựng nổi điều này nữa, vì vậy tôi nói: “Chúc anh ngủ ngon, Michael,” rồi gác máy.

Tôi lấy hết thức ăn ra khỏi bếp lò, cẩn thận cất những gì còn dùng được rồi vứt hết phần còn lại đi - gần như là toàn bộ. Tôi ngồi nghĩ: À, nếu ngày mai anh gọi cho mình. Nhưng tôi biết anh sẽ không gọi. Cuối cùng thì tôi cũng nhận ra rằng thế là hết. Tôi đi xem Janet đã ngủ chưa - tôi biết là nó ngủ rồi, nhưng vẫn cứ phải xem. Rồi tôi biết sự hỗn loạn tăm tối khủng khiếp đang quay cuồng ngay bên ngoài, chờ chực để xâm nhập vào trong tôi. Tôi phải đi ngủ thật nhanh, trước khi tôi biến thành mớ hỗn độn đó. Tôi rùng mình vì khổ sở và mệt mỏi. Tôi rót một cốc vại đầy rượu vang và uống, rất nhanh. Rồi tôi lên giường. Đầu tôi đang lảo đảo rượu. Ngày mai, tôi nghĩ - ngày mai - tôi sẽ có trách nhiệm, đối diện với tương lai của mình và khước từ cảm giác đau khổ. Sau đó tôi ngủ, nhưng trước khi kịp rơi vào giấc ngủ tôi còn nghe thấy mình khóc than, tiếng khóc trong mơ, lần này toàn là nỗi đau, không có chút khoái thú nào trong đó cả.

[Toàn bộ phần trên đây đều bị gạch bỏ - bị xóa và ghi nguệch ngoạc ở dưới: Không, chả ra gì. Thất bại như thường lệ. Chữ viết bên dưới kiểu khác, gọn gàng và thẳng thớm hơn phần trên dùng kiểu chữ tháu bừa bãi:]

Ngày 15 tháng Chín, 1954

Một ngày bình thường. Giữa chừng cuộc tranh cãi với John Butte và Jack quyết định ra khỏi Đảng. Bây giờ phải cẩn thận để không chuyển sang căm ghét Đảng như ta vẫn căm ghét các giai đoạn trong cuộc đời đã bỏ lại trên đường trưởng thành. Đã nhận thấy mấy dấu hiệu: những thời điểm ghét Jack một cách phi lý. Như thường lệ, Janet không vấn đề gì. Molly lo lắng, tôi nghĩ là có lý do, về Tommy. Cô linh cảm thằng bé sẽ cưới cô bạn gái mới. Ôi, cô vẫn thường linh cảm trúng mà. Tôi nhận thấy rằng cuối cùng thì Michael cũng quyết định chia tay. Tôi phải trấn tĩnh lại mới được.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Doris Lessing

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.