Gần đây không nuôi người hầu trẻ mặc furisode
Chỉ là do thiếu hụt, chẳng phải vì mụ vợ ghen tuông
Nói như thế chỉ là cách chơi chữ mà thôi
Dung mạo khoan kể đến
Đã làm người hầu
Trước hết cần thái độ
Là điều quan trọng trong nhà
Nghe bài ca không nỡ lòng về
Dáng người hát rong đội nón lá sugekasa[1]
Cái răng cái tóc là gốc con người
Người búi tóc thạo việc.
CÔ HẦU GÁI CỦA THƯƠNG NHÂN
Sinh mạng buông lung đời ngắn lại
Đàn bà dữ tính thì tình không
Đừng trông mặt bắt hình dong
Ngây thơ tuyết trắng nhưng ra cáo già.
Đó là một ngày rất oi bức. Cái nóng khiến người ta không chịu được đâm ra dễ cằn nhằn, nổi cáu với nhau và đến nỗi phải thốt lên: “Ôi, ước gì đây là một vùng đất không có mùa hè”, hay đại loại “có một nơi nào đó mát mẻ không làm người ta đổ mồ hôi vì nóng không nhỉ?” Đang lúc mọi người còn đang ao ước những chuyện không tưởng, một đám tang với những tiếng trống, chiêng inh ỏi kéo đến. Những người đàn ông đang vác chiếc quan tài dường như không có vẻ gì đau buồn. Cũng không thấy người thừa kế của người đã khuất. Những người tham dự đám tang đều mặc lễ phục hakama cùng katanugi với vẻ như bị ép buộc, tay lần tràng hạt, nhưng vừa đi vừa bàn tán sôi nổi chuyện tranh chấp, kiện tụng chốn công đình, tình hình lúa gạo lên xuống ra sao, hay xôn xao về sự cao ngạo của vị tu sĩ Sanjakubo[2] bay trên mặt đất vv.
Những người đàn ông trẻ tuổi đi lùi về phía sau và bàn tán sôi nổi về những món ăn và những cô nàng phục vụ ở quán trà trên núi rồi bí mật hẹn nhau chơi bời ngay sau buổi hỏa táng. Sau cùng là những người ở giai cấp thấp, họ không có nổi một căn nhà mà phải ở trọ, quần áo cũ kỹ bằng vải sợi, mặc quanh năm đông cũng như hè. Chân mang vớ sợi nhưng chẳng có dao giắt hông, trông thật vô lễ. Ngoài chiếc áo mỏng mùa hè lại còn khoác áo bông, trông thật kỳ lạ. Giọng nói thì oang oang, xầm xì bàn tán nào chuyện dầu cá voi đốt tốt xấu thế nào, nào quạt giấy có vẽ tranh đố. Phải chi họ biết nghĩ đến chuyện chia sẻ nỗi buồn với người nhà của người đã chết khi tham dự đám tang có phải hay hơn không?
Ở đâu cũng vậy nhưng quả thật đứng bên cạnh mà nghe họ bàn luận thì thấy thật đáng buồn. Dường như những người dự đám tang đều quen tên biết mặt nhau, nghe đâu là dân xóm trên chùa Seigan phố Goko. Nếu như vậy thì người chết là ông chủ tiệm Tachibana, phía Tây khu phố đó. Có những lời đồn vui rằng vì vợ ông ta rất xinh đẹp, nên nhiều người tìm đến cửa hàng lấy cớ mua loại giấy dày xuất xứ từ Trung Quốc dù chẳng cần làm gì, chỉ để nhìn thấy nàng. Gion Jinta[3] có nói “Tuy đầu ấp tay gối cả đời nhưng vợ đẹp quá thì cũng mang họa”. Có người nghĩ bụng “nói quá đó thôi” nhưng quả thật, người chồng có cô vợ quá đẹp thì cũng sẽ có nhiều điều đáng lo. Tuy nhiên, nếu có vợ đẹp ở nhà thì có thể người chồng cũng không cần tìm đến những nơi tửu sắc nữa.
Nhưng ai từng trải qua hẳn sẽ hiểu, người hay cảnh cũng vậy, xinh đẹp, quyến rũ thế nào đi nữa, nhìn mãi cũng chán. Có dạo, tôi đã đến Matsushima[4] một năm. Thời gian đầu, tôi đã không kềm lòng được mà vỗ tay vui mừng thưởng cảnh: “Quả đúng là vẻ đẹp thiên nhiên đáng giới thiệu cho các ca nhân, thi sĩ”. Nhưng rồi sau một thời gian, sáng tối đều ngắm cảnh đó, mùi biển từ những hòn đảo trở nên nặng mùi, sóng biển Matsu no Matsuyama trở nên ồn ào và tôi cũng chẳng buồn ngắm hoa anh đào ở Shiogama nữa, và cứ thế chìm trong những giấc ngủ quá trưa mà không còn quan tâm đến bình minh trên núi tuyết Kinkasan, cũng chẳng mảy may động lòng trước đêm trăng ở Ojima, chỉ vui trò nhặt sỏi đen trắng ở Irie để chơi với lũ trẻ con mà thôi.
Ví dụ, người quen sống ở Naniwa[5], có dịp đi Kyoto, ngắm núi Higashi; hay người ở Kyoto hiếm hoi mới có dịp đứng trước biển sẽ thấy lạ lẫm, thú vị như nhau. Cũng như thế, lúc đầu các bà vợ trước mặt chồng biết ý tứ giữ kẽ thì cũng còn chấp nhận được. Về sau tóc vấn qua loa, cởi bỏ quần áo thì vết thẹo, vết bầm hiện rõ, chân đi không giữ ý sẽ phát hiện chân trái dài hơn một chút, nói chung không điểm nào chấp nhận được. Chưa hết, khi con cái chào đời, họ lại càng nhếch nhác hơn, mất hết sự đáng yêu ban đầu. Cứ nghĩ đến chuyện này thì thà để cho đàn ông không có vợ còn hơn!
Một lần tôi đã cất công lặn lội đến tận vùng núi Yoshino[6]. Ở đó thậm chí không có hoa, cũng chẳng có lấy bóng người biết đến nỗi sầu trần thế, ngoại trừ những người tu hành. Đi mãi vào ngọn núi hiểm trở xa xôi đó, tôi nhìn thấy một túp lều. Xung quanh vắng vẻ, u tịch, buồn bã, ban ngày bão thổi rừng lau sậy xào xạc, ban đêm chỉ có ánh lửa của đống củi thông. Tôi hỏi người đàn ông sống trong rừng:
– Tại sao trong thế giới rộng lớn này, ông không chọn chốn “phồn hoa đô thị”, sao lại chọn sống ở một nơi xa xôi hẻo lánh như thế này?
Nghe vậy, người đàn ông cười lớn và nói:
– Thì tôi có vợ để quên buồn phiền.
Ra là vậy, đúng là vậy rồi. Thứ khó vứt bỏ, khó xa rời nhất chính là chuyện nam nữ, sắc tình. Ngược lại, người phụ nữ nếu sống cô đơn một mình thì cuộc đời cũng không có gì là thú vị và tâm trạng chắc sẽ không cảm thấy thoải mái. Do đó, vào thời điểm này tôi quyết định ngừng việc dạy viết thư cho những cô trẻ và chuyển sang làm người hầu trong cửa hiệu bán kimono là Daimoji.
Ngày xưa, từ mười một đến mười lăm được coi là độ tuổi thích hợp để làm nghề hầu gái. Tuy nhiên thời gian gần đây, người ta thường chọn những người lớn tuổi hơn một chút, khoảng mười tám mười chín đến hai mươi bốn tuổi, để có thể làm cả người giúp việc nhà như trải chăn mền, dọn dẹp phòng ngủ, hay đi theo chăm sóc bà chủ mỗi khi lên xuống xe những lúc ra ngoài và như vậy cũng bớt tốn kém hơn. Mặc dù tôi không thích buộc đai lưng phía sau nhưng bây giờ tôi buộc phải thay đổi thói quen đó. Tôi thường quấn một chiếc khăn quàng cổ hẹp màu đen hoặc màu chàm trên đó có thêu những hoa văn là những đường kẻ chữ chi màu đen và trắng. Tôi để tóc theo kiểu chushimada giản dị với một búi tóc bẹt cột thấp và luôn được giữ chặt bằng một chiếc lõi giấy dùng một lần rồi bỏ. Mọi thứ đều toát lên vẻ ngây thơ và chất phác của người hầu gái. Tôi giả vờ hỏi người quản gia:
– Những bông tuyết kia tạo thành từ cái gì để rồi rơi phủ thế kia vậy ạ?
– Chà chà, cũng lớn rồi mà sao thật ngây thơ. Cũng là do cha mẹ bảo bọc kỹ quá đây.
Thế là tôi được cho phép phụ việc trong nhà. Nếu có người nắm tay, tôi luôn làm ra vẻ bối rối, thẹn thùng. Nếu có ai đó chạm vào tay áo, tôi giật mình hoảng hốt. Khi bị ai đó chọc ghẹo hay đùa giỡn, tôi cố tình la to lên. Nên sau đó, không ai gọi tôi bằng tên nữa mà đặt cho tôi biệt danh “con khỉ hoang dã” dù dung mạo bên ngoài đẹp đẽ. Như thế, tôi trở thành một phụ nữ quê mùa dân dã thật tự nhiên.
Con người ta thật ngớ ngẩn, buồn cười. Dù trong lòng rất xấu hổ với chính mình vì đã từng tám lần phá thai, nhưng khi hầu hạ cạnh ông bà chủ, hàng đêm nghe tiếng họ chung đụng giường gối chẳng chút giữ ý, tôi lại không cầm lòng được. Không có việc gì làm, lại được tự do đi lại trong nhà, tôi đã thức dậy ra bếp nhìn quanh nhưng tiếc là chẳng thấy bóng dáng người đàn ông nào.
Nhìn kỹ chỉ thấy một lão nhân phục vụ lâu năm trong nhà vì đến phiên trực bếp mà nằm cuộn tròn trong góc cửa. “Mình cũng nên thử giúp ông ấy nhớ lại chuyện nữ sắc thời trẻ”, nghĩ vậy, tôi cố tình đạp lên người ông ta. Ông ta kêu lên:
– Nam mô a di đà Phật! Nam mô a di đà Phật! Đèn lửa thắp sáng thế kia, sao cô lại phiền đến người già thế này?
– Tôi xin lỗi vì sơ ý đã giẫm vào ông. Mong ông tha thứ cho đôi chân tội lỗi này của tôi.
Nói rồi tôi đưa chân lên ngực ông ta. Lão nhân ngạc nhiên, co rúm người lại và run rẩy lẩm nhẩm:
– Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát! Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn giúp con vượt qua khỏi sự khổ ải này.
Thấy rằng không thể làm gì để đạt được điều mình mong muốn từ người đàn ông này, tôi đã bỏ mặc ông ta ở đấy, trở về giường trong sự tức giận và mong chờ trời mau sáng.
Ngày 28 tháng 11 năm ấy, cuối cùng thì điều mà tôi mong đợi cũng đến. Rạng sáng, các ngôi sao vẫn còn lưu luyến bầu trời, tôi được lệnh “Mau quét dọn bàn thờ” và chỉ bảo các công việc chuẩn bị cho lễ cúng Phật. Trong khi bà chủ vẫn nằm ôm gối vì mệt mỏi đêm hôm trước, ông chủ sinh lực tràn trề, rửa sạch mặt mũi, tay chân và chỉn chu lại trang phục. Sau đó, ông ta khoác lên mình chiếc áo choàng bằng lụa, vừa cầm xấp kinh kệ, vừa hỏi:
– Công việc chuẩn bị cho việc cúng Phật vẫn chưa xong chưa sao?
Tôi tiến đến gần hỏi:
– Tập sách này viết về sắc đạo hay sao ạ?
Ông chủ há miệng ngạc nhiên, không trả lời. Tôi nhẹ nhàng mỉm cười và nói:
– Chắc hẳn không viết điều gì cấm cản người nữ luyến ái người nam chứ ạ?
Sau đó, tôi bắt đầu cởi đai lưng tìm cách khêu gợi ông ta. Ông chủ không thể nào kềm lòng được nữa, cởi bỏ chiếc áo choàng đang mặc. Trong sự hân hoan rất bạo lực của mình, ông đã làm cho bức tượng Đức Phật Di Đà rung rinh như cử động và lắc đầu buồn bã. Hai chân nến hình rùa và hạc nằm lăn lóc. Và chuyện cúng kiếng cũng bị quên lãng. Từ hôm đó, tôi cố gắng khéo léo tìm mọi cách kiểm soát ông ta. Dần dần, tôi trở nên kiêu ngạo, bỏ ngoài tai lời của bà chủ, thậm chí tìm cách khiến ông chủ bỏ vợ. Bây giờ nghĩ lại, tôi còn thấy ghê sợ với chính suy nghĩ của mình.
Tôi đã tìm đến một vị sư tăng để nhờ ếm bùa giết chết bà chủ nhưng không hiệu nghiệm. Chỉ có tôi lạc lối trong tâm trạng ghen tuông bừng cháy không khác nào một con quỷ đang giận dữ. Tôi dùng tăm[7] ngậm giữa hàm răng nhuộm đen lầm bầm nguyền rủa nhưng cũng chẳng có chút công hiệu nào. Ngược lại, tôi đã bị trừng phạt vì chẳng bao lâu sau, tôi tự mình nói ra tất cả mọi điều, từ bí mật trong quá khứ mà tôi cố tình che giấu, từ sự giả mạo khi lần đầu đến đây cho đến việc ngoại tình với ông chủ. Cả những gì tôi đã trải qua trên con đường háo sắc bao nhiêu năm qua cũng bị bại lộ trong chốc lát. Thứ mà con người phải cẩn thận lưu ý nhất trong cuộc đời chính là con đường sắc dục này.
Từ lúc bị bỏ rơi, tôi dần dần trở nên điên loạn. Lúc thì mọi người thấy tôi đi lang thang và gầm rống như một người con sư tử trên cánh đồng Murasaki. Lúc khác mọi người lại thấy tôi xuất hiện trên Cầu Gojo như một kẻ ăn mày. Tôi cứ lang thang, vật vờ như trong mơ, luôn miệng: “Tôi muốn có một người đàn ông! Tôi muốn một người đàn ông”. Tôi lặp đi lặp lại những lời này và cất những lời hát trong vũ điệu Komachi. Không gì đáng buồn hơn tình yêu. “Đó là kết cục xứng đáng đối với một nữ hầu gái chìm đắm trong luyến ái” – Tôi cứ thế trôi giạt giữa miệng đời cay nghiệt. Cho đến khi toàn thân cảm nhận cơn lạnh khi có làn gió thổi qua, tôi nhận ra mình trần trụi bên cổng đền thờ Inari[8]. Vứt bỏ tâm hồn đen tối, bất chính, nhìn lại mình, tôi cảm thấy mình thật đáng tội. Bây giờ tôi hiểu rằng sự trừng phạt dành cho những người luôn nguyền rủa người khác lại đang ứng nghiệm ngay chính bản thân tôi. Đúng là “đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Quả thật là một đoạn đời đáng sợ.
TỘI LỖI CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ XINH ĐẸP
Khi làm thị nữ nhà trên
Nhà dưới tụ họp buôn chuyện chồng, người.
Ban đầu tôi cứ nghĩ kemari[9] là trò chơi dành cho nam giới. Khi phục vụ trong gia đình của vị lãnh chúa, tôi có dịp cùng bà chủ đi đến biệt thự ở Asakusa. Trong khu vườn Kirishima những cánh hoa đỗ quyên đã bắt đầu hé nở. Tất cả các cánh đồng và đồi núi ở đây đều như bị bao phủ bởi sắc màu đỏ thẫm. Trong sân chơi kemari, một nhóm thiếu nữ trong trang phục đỏ thẫm đang tung những quả cầu kemari trên những đôi giày nhiều màu sắc, âm thanh nhẹ nhàng. Các quả cầu kemari như những cánh hoa anh đào khẽ tung bay trong gió, trình diễn một màn nghệ thuật lung linh sắc màu. Cùng là phận nữ nhi mà tôi thấy họ thật quyến rũ khi lần đầu tiên nhìn thấy cảnh ấy.
Tôi nghĩ ở kinh đô Kyoto, những nữ quan phục vụ trong hoàng cung chỉ tiêu khiển bằng trò bắn cung ngồi. Đây cũng là trò chơi khá khác lạ dành cho phụ nữ dù tương truyền rằng môn chơi này bắt nguồn thú vui của Dương Quý Phi. Ngược lại, trò kemari kể từ khi Thái tử Shotoku khởi xướng, không hề xuất hiện trong các thú tiêu khiển của phụ nữ. Tuy nhiên, nếu là phu nhân của lãnh chúa thì được quyền chơi trò này như một thú vui.
Khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống, gió bắt đầu thổi dữ dội qua những ngọn cây làm cho những quả cầu không còn bay trên không trung như ý muốn, sự hứng thú của họ cũng không còn nữa. Bà chủ cởi bỏ bộ trang phục mặc khi chơi kemari và ném nó sang một bên. Dường như có điều gì đó bỗng xuất hiện thoáng qua trong tâm trí bà. Đột nhiên vẻ mặt của bà thay đổi. Bà không vui vẻ cười đùa nữa, trở nên im lặng. Nhóm người cùng chơi cũng tự nhiên giữ ý im lặng, nép mình, không phát ra tiếng động. Một người phục vụ lâu năm ở ngôi nhà này tên Kasai no Tsubone đã ngay lập tức khéo léo tiếp cận bà chủ, đầu lắc, chân run:
– Phu nhân có muốn đêm nay lại mở hội ghen tuông suốt đêm cho đến khi những cây nến dài tắt không ạ?
Ngay lập tức, sắc diện phu nhân có vẻ tươi tắn hơn:
– Tốt lắm! Tốt lắm!
Bà ta nói với vẻ mặt rất hưng phấn. Sau đó người phụ nữ tên Yoshioka no Kyoku, người phụ trách trông coi các người hầu gái trong nhà, đi tới khu vực hành lang của các phòng dành cho khách và cột một dải dây ruy băng màu đỏ trước cửa phòng. Khoảng ba mươi bốn, ba mươi lăm người phụ nữ bao gồm cả người giúp việc, người hầu được gọi đến và ngồi thành một vòng tròn lớn. Tôi cũng tham dự vào đám đông này và tự hỏi không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Người phụ nữ tên Yoshioka no Kyoku nói với chúng tôi:
– Bất kỳ chuyện gì cũng được, là những kinh nghiệm đau khổ của bản thân, hay chuyện ghen tuông phá hoại tình yêu người khác, hoặc căm thù nói xấu đàn ông cho bõ ghét, chuyện giải quyết được chồng mình tòm tèm với người đàn bà khác... Tất cả với mục đích làm cho lệnh bà vui vẻ.
Tôi nghĩ bụng “một trò tiêu khiển lạ lùng”, nhưng vì đây là lệnh của bà chủ nên tôi không được phép cười nhạo. Sau đó, cánh cửa làm bằng gỗ cây tuyết tùng, trên đó có vẽ cây liễu đang rủ lá, được mở ra. Một hình nộm sống động như người thật được đưa ra. Hình nộm hệt như một thiếu nữ xinh đẹp đến độ “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”. Ngay cả tôi là phụ nữ mà cũng cảm thấy xao xuyến và bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp ấy. Sau đó từng người từng người một đã lần lượt kể lại câu chuyện của mình.
Đầu tiên là một jochu[10] tên Iwahashi, khuôn mặt cực kỳ xấu xí, dường như mọi bất hạnh đều đến từ khuôn mặt ấy. Cô đã bộc bạch hết nỗi lòng của mình. Đó là nỗi đau đớn, xót xa vì với khuôn mặt xấu “ma chê quỷ hờn” nên ban ngày thường tránh chỗ có bóng người, và dường như lâu nay không hề biết đến đàn ông. Cô lên tiếng trước hơn ai hết với giọng buồn buồn:
– Tôi sinh ở Tochi, vùng Yamato và từng được cưới xin hợp lệ. Nhưng mọi việc bắt đầu khi ông chồng yêu quí của tôi trong một dịp đến Nara đã gặp người con gái của vị tư tế tại đền Kasuga. Đó là một cô gái trẻ, đẹp và ông ấy bắt đầu lui tới nơi ấy. Một hôm, tôi đã bí mật theo dõi ông ấy. Tim tôi đập thình thịch khi tôi tìm đến nhà cô ấy để lén rình xem sự việc ra sao. Tôi nhìn thấy cô ta mở cửa và nhanh chóng kéo chồng tôi vào. Tôi nghe cô ta nói thầm thì: “Tối nay tự nhiên lông mi của em bị ngứa. Đó là điềm báo rằng chắc chắn em sẽ gặp điều gì đó rất vui, quả nhiên được gặp người em yêu”. Sau đó, không một chút xấu hổ, họ sa vào nhau. Đúng lúc họ tháo đai lưng của nhau: “Buông ra! Người đàn ông đó là của tôi!”. Khi đó tôi đã không kiềm chế được bản thân. Không chỉ thốt lên thành lời mà tôi còn há rộng miệng và xông đến dùng hàm răng đen cắn lên cơ thể trắng nõn nà của cô ta.
Bây giờ kể lại tôi vẫn thấy sợ hãi. Cảnh cô ta cắn xé hình nộm xinh đẹp kia như đang hiển hiện trước mắt. Với màn ghen tuông mở đầu như thế, người kế tiếp cũng quên đi sự e dè ban đầu, nhích lại gần và bộc bạch những gì trong lòng, nói hết những gì có thể. Cô ta bắt đầu kể:
– Hồi còn trẻ, tôi đã sống ở Akashi, vùng Harima. Tôi có nhận một đứa cháu gái làm con nuôi. Cháu gái tôi có người chồng rất háo sắc. Ngay cả những cô hầu gái có địa vị thấp kém nhất trong nhà cũng không nằm ngoài sự “quan tâm” đặc biệt của hắn ta. Hắn tìm mọi cách quan hệ thân mật với những người giúp việc trong nhà bất kể ngày đêm. Ấy vậy mà cháu tôi không tỏ chút ghen tuông, giận dữ gì khiến tôi rất khó chịu. Thế là buổi tối tôi tự đi xem xét tình hình và khóa cửa phòng ngủ của hai đứa từ bên ngoài bằng loại then sắt chắc chắn, ngăn chặn thằng cháu rể không thể mở được và trốn ra ngoài. “Chúc cháu một đêm tốt lành”, tôi thì thầm trước khi rời đi. Chẳng bao lâu sau, cháu gái của tôi trở nên hốc hác, ủ dột, và thậm chí có vẻ hoảng sợ và không muốn nhìn thấy khuôn mặt của chồng mình. Tôi run rẩy vì lo sợ: “Xem ra tính mạng không kéo dài được”. Cháu tôi sinh năm Bính Ngọ. Theo lời thầy bói thì trong Thập Nhị Can Chi, nữ cung mạng này vốn mạng hỏa nên có thể “sát phu” và lấn át chồng. Nhưng ngược lại, cháu tôi đã bị người chồng “bệnh hoạn” của nó “ăn tươi nuốt sống” đến mất hết sinh khí mà đổ bệnh. Tôi thật sự muốn dùng hình nộm này để ếm hắn, giết chết không tha.
Cô ta nói vậy, gõ vào hình nộm làm nó ngã lăn và lớn tiếng chửi mắng không tiếc lời. Tiếp đến là một jochu tên Sodegaki, xuất thân Kuwanain, tỉnh Ise. Từ khi còn là một cô gái chưa lập gia đình, Sodegaki đã có lòng ghen tuông sâu sắc đến mức cấm cả những người hầu bậc dưới trang điểm, buộc họ tự búi tóc không cần gương soi, không cho thoa phấn trắng trên người. Với những cô trẻ có chút nhan sắc, Sodegaki cố tình buộc họ ăn mặc xấu xí, khó coi. Khắp nơi ai cũng biết chuyện và rất ghét bỏ cô ta nên cô ta ở giá đến giờ. Cô ta đay nghiến hình nộm mỹ nhân không thương tiếc:
– Đẹp gái thế này rồi tự tin thái quá vào sắc đẹp của mình sao? Để chồng ra ngoài lăng nhăng mà không biết ghen à?
Tuy mọi người đã lần lượt kể những cách đánh ghen của mình nhưng xem chừng phu nhân vẫn chưa hài lòng với mức độ đó. Bởi chỉ toàn chuyện của họ, không chút liên quan đến tâm trạng của bà ấy. Ít nhất họ cũng phải biết điều mà nghĩ đến nỗi lòng bà chủ lúc này vậy mà chẳng ai làm được. Đến lượt mình, tôi giật phắt hình nộm xuống, trèo lên người nó, mắt long lên sòng sọc, nghiến răng như căm giận tận xương tủy:
– Nhà ngươi, phận thê thiếp mà dám cướp ngôi vợ chính, dùng gối dài[11] với chồng ta. Ta để ngươi yên được sao?
Vừa nghe vậy, bà chủ lên tiếng:
– Đúng vậy, đúng vậy! Tướng quân bỏ bê ta, chỉ biết đêm ngày vui say với mỹ nữ đến từ quê nhà. Ta có bày tỏ nỗi buồn tủi, ghen tuông, căm hận cũng chẳng ích gì nên cho người làm hình nộm mỹ nữ để có thể trút giận vào đó.
Phu nhân vừa dứt lời thì thật lạ lùng, hai mắt của hình nộm mở to, hai tay vươn ra, nhìn khắp một lượt rồi đứng dậy. Chứng kiến cảnh đó, ai cũng kinh hãi, tranh nhau bỏ chạy trong hoảng loạn, không dám nhìn lại. Hình nộm dính cứng vào xiêm áo của phu nhân, mất một lúc lâu mới gỡ ra được. Lúc đó mọi việc mới tạm trở nên yên ắng.
Cũng vì chuyện đó, phu nhân lâm trọng bệnh. Bà luôn nói trong cơ mê sảng:
– Đó là do hình nộm này ếm ta.
Mọi người đều nghĩ “cứ để thế này thì hình nộm sẽ gia tăng mức độ trù ếm. Hay là đốt cháy nó đi?”. Mọi người bí mật bàn nhau, đem hình nộm ra một góc nhà đốt cháy và chôn cả tro xuống đất, không để lại thứ gì. Thế nhưng, ai ai cũng ngày càng trở nên sợ hãi gò đất đó, còn phát sinh lời đồn cứ hễ đến chiều tối lại nghe tiếng hét của người phụ nữ, nên từ đó nhà chủ bị người đời chê cười, nhạo báng.
Chuyện đến tai lãnh chúa khiến ông ta vô cùng ngạc nhiên. Ông muốn tìm hiểu cặn kẽ mọi việc nên đã cho gọi tất cả những người hầu gái trong nhà lại, không phân biệt chức vụ cao thấp. Chúng tôi không thể che giấu điều gì nữa, đành kể hết sự thật với ông ấy câu chuyện hình nộm. Nghe đến đâu lãnh chúa khoanh tay gật gù ra vẻ đã hiểu chuyện.
– Không có gì trong thế giới này đáng sợ bằng suy nghĩ của phụ nữ. Nếu mọi chuyện cứ kéo dài như thế này, ái thiếp của ta cũng sẽ bị bà ấy trù ếm, không thể kéo dài cuộc sống. Các ngươi hãy mau kể lại chuyện này cho nàng và mau gửi nàng về quê.
Người thiếp này tính tình mềm mỏng, hiền lành, thật không thể đọ với hình nộm lúc nãy. Đến cả tôi, tuy tự hào với nhan sắc của mình cũng phải thấy choáng ngợp trước nhan sắc của nàng. Cũng chính vì vậy, chánh thất phu nhân đã ra tay trù ếm bằng tiệc ghen tuông. Lãnh chúa cũng thấy sợ với tâm tư phụ nữ nên từ đó không lui tới chánh thất nữa. Bà ta đành cam chịu cảnh sống ly thân với chồng, lui về nhà sau. Chứng kiến mọi việc, tôi cũng thấy chán ngán, khó chịu trong lòng nên xin nghỉ việc, quay về chốn kinh thành. Là phụ nữ, việc cần phải lưu ý đó là không được ghen tuông.
NGƯỜI ĐÀN BÀ HÁT RONG TRÊN THUYỀN
Người hát rong lênh đênh trên dòng
Cuộc tình bằng bó củi không?
Hay miếng cá khô qua bữa
Gối tình trôi giạt bến không.
Trong Đồ nhiên thảo[12] có viết “sách vở là thứ có nhiều cũng không thấy khó coi”, nhưng ngược lại, chẳng có gì khó chịu bằng rác tích trữ trong nhà. Từ Osaka đến Edo, đâu đâu cũng dần bị chôn vùi[13]. Đường nước cho thuyền bè đi lại cũng chẳng thấy đâu, chim hải âu cũng lạc lối trên đất liền, bãi biển xúc hến ngày nào cũng đã thành ruộng rau. Định buổi chiều ngắm hoàng hôn trên cầu Shingawa, lướt ngang Phật đường tại ngôi chùa Tetsugen[14] thời Phật giáo hưng thịnh, chúng tôi lên thuyền vãn cảnh sau buổi kịch nghệ, khi đã ngà ngà say. Từ cầu Ebisu thuyền xuôi dòng nước theo hướng Tây vừa đến Hanmachi thì mắc cạn, không cách gì xoay sở. Chuyến đi cũng trở nên mất vui. Trong lúc chờ nước lên, chúng tôi gọi thức ăn. Nềm vui còn sót lại chỉ là món cá và chim nướng, vậy mà cũng không đủ cho thực khách. Xoay xở mãi cũng đủ phần. Thậm chí món ăn kèm cũng phải đến lúc bưng mâm ra mới có chút ít, đều là tận dụng từ những nguyên liệu còn thừa. Nhưng “chẳng biết khi nào mới đến hàng quán nên chúng ta ăn luôn tại đây đi”.
Khi hoàng hôn đang dần tắt thì có mấy chiếc thuyền nhỏ vội vã chèo đi.
– Đây là những chiếc thuyền chở rác mới có ư? Thật là một điều tốt đẹp, dòng sông này sẽ không bị chôn lấp nữa và những cuộc vui chơi sẽ kéo dài mãi mãi.
Tôi vui mừng reo lên. Trong số rác này có nhiều lá thư bỏ đi. Đúng lúc chiếc thuyền chạy ngang qua vừa đúng tầm tay, tôi tò mò lấy một vài lá thư xem thử. Có một lá thư của ai đó, viết để vay mượn tiền, gửi từ Kyoto đến Osaka, câu cú rất chỉn chu.
“Kính gửi ngài Hiranoya Denzaemon,
Tôi đang gặp khó khăn vì thiếu tám mươi đồng bạc nên muốn mượn mà không có người bảo lãnh. Vì vậy, tôi xin phép gửi bức tượng Phật do đại sư Kobo[15] chế tác ở chỗ ngài cho đến lúc trả hết nợ. Vì tôi đã lừa gạt một người con gái trong suốt một thời gian dài, để rồi trong cõi phù thế này, ngay cả tình yêu cũng là việc “có vay có trả”, nay tôi không còn đường rút lui khi nàng ấy sinh cho tôi một đứa con. Tiền vay này là để dùng cho việc sinh nở của nàng ấy. Mong ngài giúp đỡ cho.
Kagaya Hachiemon kính thư.”
Lại còn cả câu tái bút sặc mùi tiền bạc: “Tôi đã trả cho thuyền chở cá mười xu để gửi bức thư này”. Mấy người trên thuyền ngao du đã ôm bụng cười nhạo một lúc lâu không ngớt: “Người ta phải túng thiếu lắm mới xưng hô “ngài” kính cẩn như thế, lại gửi từ một nơi xa xôi đến mười ba dặm thế này. Dù có vô lý hay không quan hệ gì thì cũng cho người ta vay cho rồi. Kyoto nhiều người giàu có thế mà cũng có chỗ thiếu thốn thế nhỉ?”
Thế nhưng, những người đang vừa cầm muỗng, chén bát vừa cười nhạo người khác đó thân phận lại đáng nói hơn cả người chủ lá thư trên. Một người tháng tới là đến hạn bàn giao căn nhà đã cầm cố do không trả nổi tiền lãi. Một người đang nhận làm thợ xây với giá rẻ. Một người đang buôn bán kiếm lời ở chợ gạo Kitahama, Osaka mà việc rủi ro lời lãi là không nhỏ. “Quanh năm suốt tháng, chỉ biết sống ở đời bằng những trò lừa gạt, không hợp đạo lý, tham lam vậy mà cũng không hề có ý định từ bỏ con đường sắc dục” – khi nghe những lời như vậy, ai cũng cảm thấy xấu hổ trong lòng. Người nào cũng quyết tâm “từ nay về sau, sẽ từ bỏ chốn ăn chơi không tương ứng với thân phận” nhưng rồi “ngựa quen đường cũ”, không cách nào bỏ được sắc đạo.
Trên dòng Kawaguchi, những chuyến tàu bè đang tấp nập xuôi ngược chở đầy hàng hóa và ngũ cốc từ Kyushu đến. Trong đoàn tàu bè đó, có những chiếc thuyền chở các các cô gái hát rong xinh đẹp. Bằng những bài ca gợi tình, các cô tìm cách mời gọi thương lái đang trong tâm trạng buồn bã vì xa vợ con. Phía cuối mạn thuyền, thường có một người đàn ông lớn tuổi vừa ngồi vừa nắm chặt cây sào.
Những người ca hát trên thuyền mỹ nữ thường mặc áo bông màu chàm, thắt chiếc đai lưng rộng bản phía trước, chít khăn đen hai lớp trên đầu, đội chiếc nón rơm kaga, chân mang vớ độn một lớp bông mỏng, áo lót bằng vải lụa ngắn. Ai nấy đều ăn mặc giống nhau và mang theo một chiếc hộp nhỏ có đựng giấy tờ và những thứ lặt vặt như đồ chơi cho con gái làm bằng vỏ sò, bộ gõ hai miếng làm gằng gỗ. Người hát rong nhỏ tuổi trong đoàn cầm một cái gáo, không ngừng xin mọi người:
– Vui lòng bố thí, vui lòng bố thí.
Họ dùng những bài hát đang được yêu thích để thu hút sự chú ý của những người đàn ông. Bất chấp ánh mắt của những người xung quanh, họ bước sang những chiếc thuyền chở hàng đã neo đậu. Sau khi hoàn thành việc “giúp vui”, họ sẽ nhận được xâu một trăm monme tiền công và thảy vào ống tay áo. Cũng có khi họ không được trả trực tiếp bằng tiền mà được quy đổi theo giá trị của những cây củi hoặc trao đổi lấy thực phẩm như những xâu cá… Cũng là một nghề mua vui nhưng khi thấy cảnh này, tôi lại thấy đây quả là một cách kiếm sống buồn tủi làm sao. Nhưng hẳn họ đã quen với việc này từ lâu nên không cảm thấy gì.
Đời người thật không biết trước được chuyện tương lai. Bản thân tôi cũng đã để cho số phận đưa đẩy theo dòng thời gian, nay cuộc sống đã rơi xuống mức tồi tệ không ngờ. Bây giờ cảm thấy hối tiếc nên cạo mái tóc đen, tôi tìm đến một người hát rong lâu năm, chuyên cai quản những người hát rong để xin phép bắt đầu nghề mới. Người này sống ở thị trấn Takahara, phía Bắc đền thờ Thần đạo Takatsu trong một ngôi nhà nhỏ hiu quạnh, phủ đầy lau sậy. Nhưng quả thật tôi vẫn không ngờ thân phận mình nay sao buồn tủi, thấp hèn đến vậy. Vì miếng cơm manh áo hàng ngày nên ngay cả trong những ngày mưa, bão tôi vẫn phải làm việc chăm chỉ. Hàng ngày, tôi phải nộp cho người cai quản mười lăm monme và một thưng gạo. Ngay cả những đứa trẻ cũng phải nộp năm lon mỗi ngày. Khi xưa, nghề hát rong không như vậy mà nay giống y như nghề du nữ.
Thời gian này, kỷ niệm đẹp lưu lại trong tôi là khi đi hát quanh khu nhà các samurai ở Osaka. Còn cảm giác khó chịu nhất là khi đến các ngôi làng ở Kawachi và Settsu vào mùa thu hoạch lúa mì và bông[16]
.
Chút hương sắc khi xưa hẳn vẫn còn sót lại đâu đó nên tôi được mời lên du thuyền ở Kawaguchi, sau đó cùng khách đến nhà trọ nhỏ. “Một đêm chỉ mất khoảng ba monme, chẳng đáng gì”. Nghĩ vậy nhưng chẳng mấy chốc ba người khách quen[17] cũng kiệt sức.
Sau đó tôi cũng thay đổi thái độ, ca hát trong sự lạnh lùng, mặc họ trách móc tôi bạc tình. Đó là chuyện đương nhiên. “Tiền núi cũng phải lở” một khi đã lâm vào con đường hương sắc dù cái giá của những cuộc vui có rẻ thế nào đi nữa. Cần phải nhớ nằm lòng điều đó, ngài Hachisuke “đào hoa”[18]. Ngài hiểu chưa?
NGƯỜI THỢ LÀM TÓC
Mái tóc điểm tô nhan sắc
Mèo kia làm sổ tóc rồi
Bại lộ những gì muốn giấu
Dã tâm hầu thiếp kia thôi.
Có câu tục ngữ “Cái răng, cái tóc là gốc con người”. Đối với người phụ nữ, vẻ đẹp của mái tóc là một trong những điều quan trọng nhất, làm tôn dáng vẻ bên ngoài. Trong phòng của họ ngoài chiếc gương soi hai mặt bằng đồng, còn có nhiều dụng cụ khác liên quan đến việc làm tóc.
Tôi cũng thường nhìn kiểu tóc của người khác để học theo. Tôi bắt đầu búi những kiểu tóc thịnh hành như sage shimada[19] hay souzuri… và làm công việc búi tóc cho một phu nhân. Kiểu tóc cũng thay đổi theo thời gian. Kiểu tóc hyogo[20] nay đã trở nên lỗi thời và kiểu tóc búi tóc thành năm đoạn cũng trở nên khó coi.
Ngày xưa, khuôn phép, lễ tiết và đức hạnh được cho rằng làm toát lên khí chất của người phụ nữ đã lập gia đình. Nhưng gần đây, những người phụ nữ ấy không còn ngoan hiền theo quy tắc xưa nữa. Họ giống như bản sao của các du nữ hoặc những diễn viên kabuki, mặc chiếc áo ống tay rộng như của đàn ông Date, lưng bó chặt, dáng đi như du nữ đang đi trên đường với lối hất vạt áo lên. Họ không thoải mái với chính cơ thể mình, luôn quan tâm đến con mắt người đời, cố che giấu vết bớt trên mặt. Đôi cổ chân thô kệch của được khéo léo che phủ bởi chiếc áo dài tận đến mắt cá chân. Họ đột nhiên che miệng, không nói những điều muốn nói cũng như phải chịu đựng khổ sở những điều khác nữa Kiểu phụ nữ ngày nay là như thế. Nếu chỉ vì cần người chu cấp cho những chi phí sinh hoạt hàng ngày mà họ phải nhẫn nại chịu đựng người đàn ông mà họ lệ thuộc thì tâm họ sẽ không bao giờ thanh thản và luôn cảm thấy bất mãn. Dù chấp nhận “đời là vậy” nhưng nếu được lựa chọn, người phụ nữ vẫn sẽ chọn vẻ bề ngoài xinh đẹp.
Tóm lại, hình mẫu người phụ nữ lúc bấy giờ với đầy đủ công, dung, ngôn, hạnh cùng chín tiêu chuẩn[21] trở nên quý hiếm. Ngày nay, các cô chỉ biết chăm chút vẻ bề ngoài. Chẳng biết từ khi nào, việc trao sính lễ cho các cô dâu có vẻ ngoài xinh đẹp đã xuất hiện. Thật không biết phân biệt đúng sai. Nếu chỉ biết tô điểm vẻ bề ngoài như các du nữ, vậy các cô phải nhận vàng bạc từ đám đàn ông theo dung mạo mình luôn thì mới hợp lý[22].
Tôi đồng ý ký giấy làm việc một năm với thù lao tám mươi monme và bốn lần nhận quần áo từ chủ nhân. Ngày 1, ngày 2 tháng 2, tôi đã thức dậy từ rất sớm. Khi đến nơi, phu nhân đã tắm sáng nên chỉ một lúc sau, tôi được hướng dẫn đến phòng chứa quần áo sâu bên trong. Tôi được phép gặp phu nhân, một phụ nữ chưa đến hai mươi tuổi. Phu nhân hiền hậu, tử tế, lời ăn tiếng nói lại dịu dàng. Đến nỗi tôi đã sững sờ và thầm ghen tị: “Thế giới này vẫn còn có người phụ nữ tuyệt vời như thế này sao?”. Sau khi giải quyết hết mọi việc trong nhà, phu nhân dặn dò tôi:
– Thật khó nói với cô nhưng mong cô viết giấy thề với các thần linh, tuyệt đối không được để lộ ra bên ngoài mọi chuyện trong nhà này.
– Tôi đây tương lai không biết thế nào, mọi việc đều nhờ cậy ở chủ nhân, tuyệt đối không dám trái lời. Nguyện khắc cốt ghi tâm điều này.
Trong lúc cầm bút vừa ghi vào tờ giấy “cam kết” theo yêu cầu của phu nhân, tôi lẩm nhẩm khấn thêm: “Con đây chưa có tấm chồng để nương tựa, sau này có gì không phải trong chuyện yêu đương, mong Thần Phật tha thứ”.
– Để ta kể ngươi nghe chuyện này. Ta vốn có dung mạo không thua bất kỳ người phụ nữ nào, duy chỉ có nỗi khổ mái tóc thưa mỏng làm sao. Ngươi xem đây.
Nói rồi, phu nhân gỡ tóc ra chải, tóc rụng theo không biết bao nhiêu mà kể.
– Mái tóc cha sinh mẹ đẻ này chẳng khác nào Tosuji Uemon[23].
Phu nhân khóc than và chặm nước mắt bằng ống tay áo, kể lể:
– Ta thành thân với tướng quân đã được bốn năm. Thỉnh thoảng, người về nhà khi trời hửng sáng, ta vì việc đó mà sinh lòng tức giận, đem gối vào phòng khác, vợ chồng cãi nhau. Cứ nghĩ đến việc có mái tóc đẹp hẳn ta đã được người yêu thương, ta lại vô cùng khổ sở, nén lòng giấu nỗi buồn bao lâu nay. Nhưng nhất định ngươi không được nói cho người khác biết đấy. Phụ nữ chúng ta phải giúp đỡ nhau.
Nói rồi phu nhân soạn một cái áo mặc ngoài tay ngắn mà bà từng mặc qua rồi cho tôi.
– Nếu phu nhân không chê thì tôi đây xin phép theo hầu hạ phu nhân từ ngày hôm nay.
Trong lòng tôi trỗi lên một nỗi thương cảm và từ đó, tôi theo hầu hạ bên cạnh phu nhân, thân thiết như hình với bóng. Tôi không nề hà bất kỳ chuyện gì và luôn tỏ lòng kính trọng phu nhân. Nhưng rồi thời gian trôi qua, phu nhân trở nên ghen tuông vô cớ với mái tóc tự nhiên dài đẹp của tôi. Thình lình phu nhân ra lệnh “cắt tóc” – một mệnh lệnh vô lý nhưng vì là lệnh nên tôi đành cắt trọn mái tóc của mình đến mức trông thật khó coi. “Làm vậy tóc lại mau mọc ra như lúc trước thôi. Còn bây giờ cắt bỏ bớt tóc trước cho thưa đi!” – phu nhân lại ra một lệnh khác. Dù là chủ nhân đi nữa, việc ra lệnh vô lý như thế khó mà chấp nhận được. Tôi chán nản, xin nghỉ việc nhưng không được chấp nhận. Từ sáng đến tối, tôi bị phu nhân hành hạ, làm khó dễ đủ điều. Cơ thể gầy ốm, mệt mỏi và hơn hết lòng căm hận bà chủ ngày càng sâu sắc, điều đó chiếm hết mọi suy nghĩ của tôi. “Mình phải làm cách nào đó cho ông chủ biết về mái tóc của bà ta, để ông ấy không thương yêu bà ta nữa”. Tôi quyết tâm như vậy và bắt đầu tìm cách ra tay. Nghĩ ra một cách, tôi ra sức cưng nựng con mèo nuôi trong nhà, cho nó chơi với búi tóc của tôi cả đêm, chẳng mấy chốc nó quen hơi, đêm nào cũng đến nũng nịu bên tôi.
Vào một đêm mưa buồn, khi ông chủ trong tâm trạng thư thái, thưởng thức tiếng đàn koto của bà chủ với các cô hầu gái xung quanh, tôi thả con mèo đó ra. Không chút e ngại hay thăm dò, con mèo phóng đến và lao vào mái tóc búi của bà chủ mà cắn. Nào kẹp, nào búi giả độn tóc, mọi thứ rơi ra tứ tung. Và than ôi, kể từ đó cuộc tình năm năm của họ tan biến. Khuôn mặt xinh đẹp của bà chủ biến sắc, bà ta lập tức chụp mảnh khăn lụa che lên đầu nhưng mọi việc sau đó không thể nào cứu vãn được nữa. Vợ chồng họ ngày càng trở nên xa cách. Cuối cùng, bà ta tìm cớ về quê, rời xa chồng mình. Sau đó, tôi dễ dàng biến mọi thứ thành của mình theo đúng kế hoạch đã vạch ra.
Một chiều mưa rỉ rả không ngớt, trong nhà chẳng có ai, ông chủ đang buồn bã nằm dài trong phòng khách thiu thiu ngủ, tôi nhận thấy đây là cơ hội tốt để hành động. Ông chủ chẳng cất tiếng gọi tôi cũng cố tình “vâng, vâng ạ”, vừa trả lời vừa tỏ vẻ vội vã đến gần.
– Ông chủ, ông chủ, ông gọi có việc gì ạ?
Tôi đánh thức ông chủ dậy.
– Ta không gọi ngươi!
Ông chủ nói vậy.
– Ôi, vậy em nghe nhầm ạ?
Tôi cố tình nũng nịu, cử chỉ khêu gợi, khều tấm chăn mỏng dưới chân thay vào chỗ chiếc gối ở đó. Ông chủ hỏi:
– Không có ai ở nhà à?
– Vâng ạ, hôm nay chẳng có ai ở đây cả.
Và tôi chiếm được ông chủ cho riêng mình.
❀ ❀ ❀
[1] * Một loại nón đan bằng cỏ may, tương tự nón lá của Việt Nam.
[2] * Đương thời lưu truyền có vị sư cầu pháp phái Chân Ngôn tông trú ẩn ở Shinshu, nhờ sức mạnh tinh thông mà bay được trên mặt đất ở độ cao sanjaku (khoảng 1 mét) nên được gọi là “Sư Sanjakubo” và được người đời cúng bái.
[3] * Không rõ thực hư, được cho là một người chuyên tìm và giới thiệu người nổi tiếng đương thời.
[4] * Matsushima: được mệnh danh là “một trong ba cảnh đẹp nhất Nhật Bản”. Ba cảnh đẹp nhất Nhật Bản (Nihon sankei): Matsushima thuộc tỉnh Miyagi, Amanohashidate thuộc Kyoto và Miyajima thuộc tỉnh Hiroshima. Tương truyền nhà thơ haiku lừng danh Matsuo Basho, trước vẻ đẹp kỳ vĩ của Matsuhima đã không thốt nên lời và không nghĩ ra ý thơ nào cả. Có thuyết cho rằng bài thơ “Matsuhima ya, sate Matsushima ya, Matsushima ya” (chỉ thốt lên tên gọi Matsushima vì cảnh quá đẹp) là của Basho nhưng đến giờ vẫn chưa xác định rõ tác giả.
[5] * Osaka.
[6] * Nay thuộc tỉnh Nara, được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2004. Đây là nơi lý tưởng để ngắm cảnh hoa đào nở vào mùa xuân. Yoshino được xem là trung tâm của loài hoa anh đào núi với khoảng 30.000 gốc anh đào loại này mọc trải dài dọc theo sườn núi. Tương truyền, cây đào ở núi Yoshino là hiện thân của Ngài En no Ozunu – người sáng lập tôn giáo Shugendo, một tôn giáo lâu đời ở Nhật và là một nhánh của đạo Phật. Vì vậy, những người mộ đạo xem cây đào như một báu vật, họ đã cố công bảo vệ cây thật tốt, nhiều người đến viếng chùa ở đây đã trồng thêm cây đào như một hình thức cúng Phật. Hình ảnh của cây đào xinh đẹp ở đây gắn liền với lòng tin tín ngưỡng lâu đời của người Nhật. Trên núi Yoshino còn có ngôi chùa Kimpusenji bằng gỗ, lớn thứ hai ở Nhật sau Todaiji.
[7] * Một hình thức ếm bùa người khác thời bấy giờ.
[8] * Inari được coi như vị thần có khả năng sinh sản, liên quan đến việc trồng lúa, gạo và nông nghiệp trong tín ngưỡng Thần đạo và niềm tin Phật giáo ở Nhật Bản. Ngôi đền thờ Inari ở Fushimi đã trở thành một địa điểm hành hương nổi tiếng khi nó trở thành một địa điểm hành hương từ năm 1072. Lối vào một đền thờ Inari thường đặt bức tượng con cáo, được coi là sứ giả của thần Inari.
[9] * Trò chơi này bắt nguồn từ Trung Quốc và truyền sang Nhật Bản vào thời đại Asuka và thường được chơi trong các dịp lễ hội tại những ngôi đền thờ Thần đạo. Tương tự như trò chơi đá cầu nhưng người chơi sử dụng đầu của họ, bàn chân, đầu gối, và khuỷu tay cố gắng giữ bóng ở trên cao.
[10] * Nữ trung: một cấp bậc người hầu trong gia đình quý tộc.
[11] * Chỉ gối nam nữ dùng chung.
[12] * Tiếng Nhật: Tsurezure gusa, của tác giả Yoshida Kenko thế kỷ XIV. Được đánh giá là một trong ba tác phẩm tùy bút lớn của Nhật, bên cạnh Makura no Soshi (Chẩm thảo tử) của Sei Shonagon và Hojoki (Phương Trượng ký) của Kamo no Chomei.
[13] * Chỉ sự thay đổi to lớn.
[14] *Tetsugen Doko (1630 – 1682) là một thiền sư của giáo phái Jodo (Tào Động), người có công lao rất lớn trong việc in ấn các ấn bản khắc gỗ kinh Phật. Bản hoàn chỉnh đầu tiên (bao gồm khoảng 60.000 miếng) hiện được trưng bày tại Tu viện Obaku ở Kyoto.
[15] * Pháp danh của Thiền sư Kukai (Không Hải, 774 – 835), người sáng lập Chân Ngôn tông và về sau mở trường tại núi Koya.
[16] * Khoảng tháng 5 và tháng 8.
[17] * Chỉ 3 người khách xuất hiện ở đầu chương.
[18] * Danh từ chung chỉ người đàn ông ngoại tình.
[19] * Một kiểu búi tóc hơi thấp, dành cho những cô gái chưa kết hôn. Có 4 loại kiểu tóc shimada chính: kiểu taka shimada, kiểu này thường có búi tóc cao, được những cô gái trẻ, chưa chồng sử dụng; kiểu tsubushi shimada, có búi tóc thấp hơn được những người phụ nữ nhiều tuổi hơn sử dụng; kiểu uiwata, kiểu tóc có búi tóc được vấn với một mảnh vải bông màu; và kiểu tóc mà được chia múi tương tự như quả đào, chỉ được các maiko (geisha học việc) sử dụng.
[20] * Kiểu tóc của phụ nữ vào thời kỳ Edo, thịnh hành từ khoảng 1624 –1644.
[21] * Độ lớn của bàn chân, hình dáng của tay, mắt, miệng, đầu, dáng đi, giọng nói, sắc vóc và tính tình.
[22] * Ở đây Saikaku có ý mỉa mai.
[23] * Chỉ người tóc ít.