Đời Du Nữ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương V
Chương V

❊ ❊ ❊

Tướng soái thoát trận Shimabara

Biết là xấu sao vẫn tìm cô hầu nơi trà quán

Nước ấm, cảm giác sảng khoái

Cô hầu biết điều, khách cũng vui

Những chiếc quạt vẽ

Hoa văn thịnh hành

Rẻ tiền nhưng bán đắt

Chuyện mua bán phải cần thương lượng

Để đẹp lòng khách đến lúc rời bến

Chủ cần cô hầu phục vụ tận nơi.

MỐI TÌNH Ở ISHIGAKE

Cảnh đẹp kinh thành đây chứ đâu

Ozuru, Ebi, Yama, Himeji, Kurimi[1]

Ca múa trong tiếng đàn

Cô hầu nơi đây.

Tuy đã chán ngấy công việc sắc tình nhưng cuộc sống khó khăn khiến tôi lại “ngựa quen đường cũ”, tìm về học việc ở trà quán Kurumiya rồi trở thành người phục vụ ở quán trà ở Kyoto. Tôi không thích thú gì khi mặc furisode nhưng cũng may nhờ thân hình nhỏ nhắn nên dù đã có tuổi, tôi vẫn dễ dàng quay trở lại hình dáng ngày xưa.

Nơi nào cũng vậy, dù là Đường Thổ (Trung Hoa) hay Nhật Bản, những người con gái trẻ đẹp luôn được yêu thích là chuyện đương nhiên. Đến cả Tô Đông Pha cũng làm bài thơ Nhị bát giai nhân ca ngợi cô gái trẻ ở độ tuổi mười sáu[2]. Và đúng là “nhất song ngọc tí thiên nhân thẩm”, tôi đã phải bận rộn tiếp khách bất kể ngày đêm. Nhưng với người háo sắc thì đây quả là công việc thú vị. Trong một khoảng thời gian ngắn nhưng tôi phải tiếp đón, hẹn thề với rất nhiều loại người: từ người làm thuê, thợ thuyền, kẻ xuất gia, cho đến diễn viên kabuki… Không vui vẻ gì nhưng khoảng thời gian ngắn ngủi đó, dù là người mà mình thích hay không thích, tâm trí tôi như một con thuyền chở khách sang bờ bên kia. Nếu thích thì tôi bắt chuyện nhưng cũng không thật sự là những câu chuyện thật lòng. Gặp những người đàn ông tôi không thích, tôi nằm yên, quay mặt đi, đợi cho đến lúc anh ta xong việc, tôi nằm đếm những cây xà trên trần nhà, đầu óc nghĩ đến những chuyện khác.

“Nhị bát giai nhân xảo dạng trang

Động phòng dạ dạ hoán tân lang

Nhất song ngọc tí thiên nhân thẩm

Bán điểm lai thần vạn khách thường”.

Như dòng nước trong đã bị vẩn đục, tôi đành phó thác số phận của mình theo dòng đời. Khi ở Ishigake, tôi từng đến dự tiệc của một người đàn ông trắng trẻo, lịch thiệp, phong lưu. Sau nghe một người am hiểu sự đời cho biết đó là một vị đại thần, địa vị cao ở Kyoto thì tôi lại thấy xấu hổ cho bản thân mình. Thỉnh thoảng cũng có những vị khách dung mạo khôi ngô tuấn tú tìm đến, hẳn cũng là những người có địa vị trong xã hội.

Tuy gọi là trà quán nhưng ở phố Ishigake này, một trà quán cũng có đến bảy, tám nữ hầu trà. Họ nhìn trang phục để lựa khách có địa vị cao, học theo và thuộc lòng những bí quyết của du nữ Shimabara, học cả cách xoay chén sao cho thành thạo. Bằng thái độ và cách phục vụ của các cô, những vị khách cao cấp có thể đánh giá đó là một cô gái thạo nghề và thú vị hay không.

Các cô cũng bắt chước “Tứ Thiên Vương” cầm trống vốn nổi tiếng ở Kyoto để học nghề hầu trà sao cho khéo léo. Nào theo học nghề từ Gansai Iyashichi, học cách lấy lòng khách của Kagura Saemon, biết rót rượu và châm thuốc hầu hạ như Ranshu Saemon, luôn vui vẻ cười đùa như Aumu Yozaemon. Chẳng biết tự lúc nào, khi nhan sắc tàn phai, các cô bị đuổi việc, đành phải tìm nơi khác kiếm kế sinh nhai. Cũng trà quán mà sao khác biệt quá chừng. Trà quán ở Gion, Yasaka thường rất bận rộn, lại luôn buông mành, tiếng chào mời đon đả, quyến rũ khách vô cùng: “Kính chào quý khách. Xin mời quý khách ghé quán em ạ”. Nghe qua thôi là thấy như đã bị lôi cuốn. Nhờ vậy mà khách cứ đi lên đi xuống con dốc Kyomizu, “năm lần bảy lượt”, đi đi về về đến rã chân. Những vị khách đó, có khi là người thợ bạc đến giải trí, khi là thợ lớp mái nhà hẹn nhau ngày mưa. Trước khi ra khỏi nhà, họ đã quy định mỗi người chi hai monme để vui chơi khi đây là dịp hiếm có.

Chỉ có hai cô hầu trà mà khách đến những năm, sáu người. Vừa vào chỗ, khách phải chơi trò rút thăm may mắn để định thứ tự. Rượu chưa kịp bưng ra thì mồi nhắm là món ốc muối đã được ăn xong. Có gạt tàn nhưng khách lại thích dùng vỏ ốc, nước bình cắm hoa thì lại dùng để ngâm lược vấn tóc vào đấy. Chén uống rượu thì xoay vòng như ngày Tết. Ngồi lâu với đám khách không biết điều như vậy, không muốn cũng phải ngáp dài. Trong khi chưa tiếp xong nhóm này, đã nghe tiếng bà chủ hướng dẫn khách khác vào gian bên cạnh:

– Khách trong phòng kia sắp xong rồi ạ. Quý khách chờ tạm ở đây đi.

Chưa dứt thì người khách khác lại đến gần ấm trà ngồi:

– Này, bà chủ, đắt hàng nhỉ?

– A, vị khách đó không đổi được. Mời ngài qua đây.

Rồi lại đưa họ lên tầng hai. Thế rồi, thêm hai, ba người đến báo:

– Chúng tôi đi viếng Ryozen, vòng về sẽ ghé quán. Không khí ở đây rất bận rộn. Tấm bình phong rẻ tiền ở góc phòng được xoay vòng, hai chiếc gối để sẵn, cô hầu trà vừa đứng tháo đai lưng vừa ca bằng lối kể chuyện theo nhạc của các Tayu: “Có cực vẫn phải làm việc”. Sau đó ra vẻ nghiêm trọng, kéo tai người đàn ông lại:

– Có tốn tiền gì đâu, sao không tắm rửa cho sạch chứ. Nào, mời quý khách. Ôi chao, ghét quá, chân gì mà lạnh quá đi.

Vừa nói vừa nhanh chóng làm cho xong mọi việc. Người khách đó vừa rời khỏi, cô hầu trà đã cất tiếng:

– Ai là người tiếp theo ạ?

Nói chưa hết câu, cô đã rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mơ, chưa kịp ngáy đã bị đánh thức, cứ mơ mơ tỉnh tỉnh làm theo lời khách. Vừa rửa mặt mũi, tay chân xong đã bị đẩy đến chỗ người khách tiếp theo. Xong người này đã nghe tiếng vỗ tay ồn ào từ tầng hai:

– Không có người hầu trà, làm sao uống rượu được? Đến một người cũng không có sao? Hay ý mấy người muốn bảo ta về? Ta cũng trả tiền như thiên hạ, sao bắt ta phải bực bội thế này? Ta đã đi 119 quán trà quanh đây, chẳng nơi nào phải uống rượu suông với canh hến hay sứa cả. Ta cũng chưa từng xài tiền giả, chẳng mượn ai cây dù nào mà không trả. Chỉ nhìn quần áo người ta mà đánh giá sang hèn thì xin lỗi, ta tuy mặc áo vải nhưng chưa từng mặc đồ vá.

Nói rồi tức giận tung tay áo dài tám thốn năm phân[3] ra cho xem. Trong lúc ngọt ngào xoa dịu cơn giận của khách, lại có tiếng la: “Kìa, obi đang phơi rớt rồi kìa” ở đầu này, tiếng hét: “Con mèo xơi mất toi miếng cá rồi” ở đầu kia. Khi vị khách trong cùng ra về lại hối hả đứng dậy nhận thỏi bạc, vừa ước chừng trọng lượng vừa ba chân bốn cẳng chạy sang nhà bên nhờ xem thật hay giả trong lúc ông ta còn chưa khuất bóng. Bận rộn hơn cả vở kịch mà một người phải đóng nhiều vai.

Dù gọi là kế sinh nhai nhưng quả thật không có nghề nào tồi tệ và làm khổ thân mình bằng nghề này. Đáng nói nhất là tiền công, được chia theo các cấp bậc từ ba trăm, năm trăm đến tám trăm moku. Từ số đó, các cô hầu trà phải tự mình mua sắm kimono, đai lưng trên dưới các loại, giấy lau mũi, trâm cài, từ cây tăm cho đến dầu bới tóc, nên số tiền còn lại gần như bằng không. Chưa kể có người phải gửi về quê cho cha mẹ, có khi phải đóng góp một khoản để vui chơi cùng chúng bạn mỗi khi rảnh rỗi, tóm lại chuyện gì cũng cần đến tiền.

Từ đầu đến cuối, từ tiền của lẫn nhan sắc, tôi chẳng có cách nào để dành lại được chút ít làm của hồi môn, bao nhiêu năm trôi qua cứ phải xoay vần trong tửu sắc, chẳng biết rồi thân phận mình sẽ đi đâu về đâu. Khi nhan sắc đã héo tàn, tôi tìm đến quán trà có vẻ đông khách và được thuê làm trong ba mươi ngày do có một cô hầu trà trẻ tuổi đang tạm nghỉ việc vì bị đau bệnh. Tôi đã trang điểm kỹ càng nhưng vẫn không giấu được dấu vết của thời gian lưu lại trên khuôn mặt, làn da. Khách hàng nói oang oang mà chẳng sợ mất lòng người nghe:

– Có cho tiền tôi cũng không ngồi với cô ta đâu. Nghe vậy tôi chỉ biết lấy làm tủi thân: “có còn kế sinh nhai nào khác không?” và thầm oán trách thần Aizen Myoou[4]. Nhưng rồi, trong lúc tôi đang héo mòn vì tình trạng đó thì có một vị khách lạ xuất hiện. Tuy chỉ mới nhìn thấy tôi lần đầu mà đã đem lòng thương cảm, may tặng tôi kimono lụa Chajishima cao cấp. Tôi còn chưa hết bất ngờ với món quà hạnh phúc đó thì không chỉ thế, vị khách không bỏ rơi tôi mà còn bắt tôi nghỉ việc ở trà quán và đem về làm thiếp ở phố Monzen.

Vị khách đó là một vị đại nhân cao quý, khắp Kyoto rộng lớn không ai là không biết. Đến nay ông ta vẫn thường lui tới khu Shimabara, vẫn được Tayu Takahashi hết lòng chiều chuộng đấm bóp, muốn gì được nấy. Vậy mà thật may mắn làm sao, tôi lại có duyên với người, không hiểu người ấy đã yêu thích tôi ở điểm nào. Tôi nghĩ bụng: “Ở Kyoto này, không thiếu những cô gái xinh đẹp, người ấy muốn bao nhiêu cũng có, vậy mà lại đi “nhặt mình” về thế này chắc do lúc ấy hoa mắt cũng nên”. Tôi như hũ trà hay bức tranh mới được nâng niu trong căn nhà cũ. Không gì cần phải xem xét cẩn thận bằng những cô gái làm nghề bán sắc buôn hương.

NGƯỜI PHỤC VỤ Ở NHÀ TẮM CÔNG CỘNG

Tiếng nói nghe đằng Tây

Của người khách hôm nay

Tắm một cơn mát lòng

Chơi một đêm không tiếc.

Người ta gọi họ là “những con chim mời chào”[5]. Mỗi đêm những cô gái phục vụ này có thể nhận được sáu monme thù lao cho việc gọi khách. Tại sao họ được đặt gọi như thế thì câu trả lời chung nhất: đó là do họ như những “con khỉ” luôn đeo bám khách khi làm nghề phục vụ ở nhà tắm công cộng. Không có sự khác biệt lớn giữa các cô phục vụ nhà tắm công cộng ở các địa phương, từ cách thức phục vụ cho đến trang phục thường ngày.

Các cô phục vụ hàng ngày tại nhà tắm công cộng thường búi tóc theo kiểu shimada với chiếc lõi bằng giấy bản rộng và hẹp để giữ búi tóc được quấn chặt thành vòng về phía sau, và dùng một chiếc lược nhỏ dày để giữ chặt. Chiều tối, để thu hút khách nên họ rất chú ý đến việc trang điểm, tạo dáng vẻ bề ngoài. Các cô thường đánh phấn trắng thật dày trên khuôn mặt để che đi những nhược điểm, son môi tô đậm không chút ngại ngùng. Chiếc đai lưng bằng vải kaga màu xám nhạt đã cũ sờn theo thời gian được quấn chặt dưới chiếc yukata ngắn tay với đủ kiểu hoa văn mà các cô yêu thích. Nào hoa văn liễu rũ nhuộm hình các quả cầu vải mari năm chỗ, nào hoa văn ô vuông trên tay áo. Ống tay áo ngắn, nhét gọn gàng trong đai lưng, thân áo cũng vừa chấm gót, đai lưng được thắt kiểu ryumon buộc ngắn thành hai nhánh và cột chặt ở phía sau. Họ thay nhau đứng chờ ở nhà tắm để phục vụ khách. Mỗi tối, các cô đón chào khách ân cần bằng cách gọi tên khách chính xác và nói câu: “Rất hân hạnh được đón tiếp quý khách”. Ngày này qua ngày khác dường như tất cả đều có cùng một cách tiếp đón như thế. Khi khách đã ngồi lên chiếc khăn furoshiki[6] rồi thì bất kể khách quen hay lạ, người phục vụ sẽ đến gần hỏi han:

– Hôm nay quý khách vừa đi xem kịch về ạ? Hay mới đi chơi làng du nữ về?

Cách mào đầu cuộc trò chuyện mà ai cũng có thể nghe thấy như vậy khiến người khách cảm thấy hãnh diện, ông ta rút một lá thư từ xấp giấy lau mũi ra khoe khoang dù chẳng ai tin.

– Đây là thư của Tayu, đúng là khác biệt, cao quý hơn người.

Ông ta khoe những lá thư của các Tayu nổi tiếng như Ogino, Uoshida, Fujiyama, Itsutsu, Kayoiji, Nagahashi, Sanshu, Kodayu... hay của các Tenjin Mikasa, Tomoe, Suminoe, Toyora, Yamato, Kasen, Kiyohara, Kazura, Yaegiri, Kiyohashi, Komurasaki, Shiga… Nhưng có cầm trên tay những lá thư ấy cũng chẳng biết đâu vào đâu, không chừng là thủ bút của mấy cô du nữ bậc thấp cũng nên, việc phân biệt nó chẳng khác nào cho chó ngửi trầm hương. Cũng có vị khách cầm trên tay chiếc lược của Tayu, Tenjin chưa từng biết mặt mà không thấy xấu hổ. Trách sao được, chúng ta ai cũng một thời trai trẻ, không có nhiều tiền để tiêu xài tự do nhưng lại muốn ăn chơi thoải mái. Nhưng nếu chỉ ở mức cố tình khoe cái khố mới, hay để lại chiếc áo chuyên dành cho mình ở phòng tắm cho cô gái phục vụ mà mình thích để mục đích là lui tới đó nhiều lần… thì đó cũng là những niềm vui nho nhỏ, đáng yêu.

Khi khách bước khỏi phòng tắm, người hầu đã một tay bưng khay trà, một tay quạt mát cho khách bằng cây quạt giấy vẽ nhái tranh yuzen[7]. Sau đó, cô ấy thay miếng thuốc dán sau lưng, chỉnh lại tóc hai bên thái dương cho khách. Với những vị khách lạ, mới đến lần đầu thì các cô chỉ tiếp đãi sơ sài, với khách quen, các cô tiếp đón đặc biệt niềm nở. Do vậy, người khách mới sẽ cảm thấy ghen tị, tìm ngay nhà trọ và gọi các nữ phục vụ này đến. Hết giờ làm, các cô tắm rửa, sửa soạn, ăn vội bát cơm ochazuke[8], choàng nhanh bộ kimono mướn được rồi ngay sau đó nhờ Kuroku[9] cầm lồng đèn đi trước soi đường, vội vã lên đường. Nếu trời vừa xẩm tối, các cô trùm vải đội đầu, nếu trời đã tối thì cứ để đầu trần mà đi. Chân bước nhẹ, đến nhà trọ rồi thì chẳng chút e dè, vào chỗ ngay:

– Xin lỗi, tôi mặc đến ba lớp áo, nóng quá!

Nói rồi lập tức cởi áo, chỉ chừa lại bộ kimono mặc lót bên trong. Chưa hết, còn lên giọng:

– Này cho tôi xin miếng nước trong cái chén đẹp đẹp chút. Đêm nay sao ngột ngạt quá. Mấy cái mái nhà không có chỗ cho khói thoát ra đúng là khó chịu gì đâu.

Tuy khách đã quen nghĩ nữ phục vụ nhà tắm thì phép ứng xử chỉ có vậy nhưng không ngờ các cô thô lỗ, nghĩ gì nói đó một cách sỗ sàng quá đáng.

Nhưng khi ăn, các cô không đụng đến bánh trái, cũng không đụng đũa đến cá, ốc hến hay trứng chiên mà chỉ gắp đậu luộc, tay cầm chén rượu điệu đàng đúng phong cách du nữ nơi thành thị. Khách thấy thật đáng yêu nên mời các cô rượu. Cứ mỗi lần chén được xoay vòng đến nơi, các cô mười lần như một đều nói như đã được chỉ dạy:

– Ngài uống thêm một ly nữa nhé!

– Cho phép em rót thêm một ít nữa nhé!

Có gặp nhau bao nhiêu lần cũng vậy, không có sự khác biệt. Nếu gặp phải chuyện gì khó khăn, hẳn các cô vẫn có thể chịu đựng được. Nghĩ lại, như người sống ở Namba, quen ăn cá tráp, đến khi đi Kumano và được mời thưởng thức món cá thu vào tháng 9 thì lấy làm lạ; vị khách cũng quên đi những gì đã trải qua ở khu phố du nữ khi trò chuyện với nữ phục vụ nhà tắm công cộng.

Trong khi mọi người đang vui vẻ tham gia vào cuộc trò chuyện tán gẫu, có ai đó nghe được tiếng chuông báo hiệu lúc nửa đêm vang lên. Một trong số họ nói:

– Đã đến lúc chúng ta phải đi ngủ. Chúng ta phải làm việc vất vả mỗi tối rồi, cơ thể người ta không phải bằng sắt bằng đá. Ăn khuya cũng không tốt cho sức khỏe.

Nói vậy nhưng nếu món mì soba được dọn lên thì tiếng sắp xếp bát đũa lại vang lên, “món này thì được”. Sau khi ăn xong mọi người mới đi ngủ. Ba người phụ nữ chung một chiếc đệm, hai bộ đồ ngủ, gối cũng thiếu, nói chung chăn đệm thật thiếu thốn. Ngoài chủ đề tình yêu nam nữ, họ còn nói về con sông mới, về cha mẹ dưới quê và luôn kết thúc với những lời đồn thổi về những diễn viên kịch nghệ. Người khách thử chạm vào cơ thể của người nữ, không biết có phải vì nghĩ quá không mà ông ta chỉ thấy một làn da lạnh ngắt và tiếng ngáy thô tục, một tư thế thả lỏng thoải mái, phó mặc cho người khác. Có câu “Khoái lạc nam nữ là ôm ấp những thối tha, xấu xí” phải chăng đang nói về dáng ngủ xấu xí kia? Tôi cũng như vậy nên đã làm vẩn đục trái tim mình.

NỖI BUỒN TÌNH YÊU CỦA CHIẾC QUẠT ĐẸP

Nữ phục vụ tiệm áo

Nữ phục vụ tiệm sợi

Nữ phục vụ tiệm quạt

Trước, sau hai mặt

Ẩn bức tranh gợi tình

Chồng thấy cũng lơ.

“Thầy thuốc mắt”. Ở góc đường Shijodori khu phố Shinmachi có một thầy thuốc treo tấm bảng như vậy. Tuy thân phận nữ nhi nhưng hành nghề bốc thuốc. Bên trong phía hàng rào bằng tre bao phủ có một căn nhà nhỏ rất u ám. Xung quanh ngôi nhà có một khu vườn trồng rất nhiều loài hoa thạch xương bồ và những tảng đá đen nachi[10]. Bệnh nhân ngồi chờ được khuyên nên ngắm những chiếc lá xanh non mơn mởn của cây thạch xương bồ trong vườn để chữa đau mắt. Ở đây, tửu, sắc bị cấm hoàn toàn, thậm chí ngủ một cách thoải mái cũng không được, chỉ được phép ngồi dựa lưng vào tường trong lúc chờ đến lượt. Bằng chất giọng bình thường, các cô gái tập trung đến đây để dưỡng mắt nhại theo các bài ca của Kakuda Yubushi hay Sayo Nosuke[11] nhưng chen lẫn lời ca của họ có tiếng nhắc nhở:

– Động tác thong thả, không tức giận, việc gì cũng kiên nhẫn, từ tốn.

Trong lúc chờ đợi buồn chán, từng người kể chuyện của mình. Một người trong số đó là suai onna[12] chuyên bán kimono ở Muromachi. Khách hàng của cô ấy chủ yếu là những người đi du lịch, hay đến đây chữa bệnh nên thuê nhà ở dài hạn. Không cần biết có đàn ông hay không, cô ấy lúc nào cũng trang điểm điệu đàng để lấy lòng khách, gặp người dễ dãi thì ngay lập tức làm bạn uống rượu và tùy tâm trạng khách mà tính chuyện buôn bán. Ví dụ một khúc vải may đai lưng giá chỉ có chín monme rưỡi, nhưng có khi cô ta bán với giá mười lăm monme và khách cũng chấp nhận.

Có cô là được xem “bảng hiệu” của tiệm chỉ. Nhờ sắc đẹp của mình, cô được chọn ngồi ở cửa tiệm để lôi kéo khách, đặc biệt là các samurai. Cũng có khi, cô được yêu cầu đem hàng đến tận nhà cho khách. Ngoài đai lưng kiểu Nagoya, hay các dây xoắn gắn chuôi kiếm, có lúc cô bán được cả những món hàng khác ngoài dự tính.

Có cô là thợ dệt vải lụa nhún kanoko. Không phải là cô tự mình chào mời tìm khách nhưng vì biết học cách phối màu lên các bộ kimono hồng, tím, tạo vẻ hấp dẫn như các quý phu nhân mà đàn ông tặng kimono, tiền, hay âm thầm hẹn gặp cô không ít.

Các cô còn lại cũng kể lể chuyện mình rồi tự an ủi nhau. Đa số là vì đau bệnh lâu nay dùng đỡ thảo dược sơn quy lai để cầm cự nhưng rồi đến mùa mưa, bệnh cũ tái phát nên phải tìm đến đây.

Tôi cũng mắc bệnh về mắt tương tự nên cũng như họ, tìm đến phòng thuốc này. Tóc cuốn nhẹ, mặt không đánh phấn trắng, mặc bộ kimono Hayakawa tay ngắn. Tôi dùng một mảnh lụa màu vàng che hờ con mắt bệnh, hơi cuối xuống. Không ngờ tư thế đó lại như có vẻ quyến rũ, mời gọi cánh đàn ông.

Khoảng thời gian đó, ở khu phố Gojobashi, Kyoto có một tiệm bán quạt rất nổi tiếng. Ông chủ cửa tiệm này khá kỳ lạ. Tiền thì muốn có bao nhiêu cũng được nên không thèm cưới vợ có của hồi môn, mà cũng chẳng thèm ngó đến vô vàn cô gái đẹp của Kyoto. Cứ mãi “kén cá chọn canh”, để bây giờ đã quá năm mươi mà vẫn “phòng không lẻ bóng”. Nhưng vừa nhìn thấy tôi, ông ta lại say mê đến mức cuồng nhiệt, ngay lập tức đề nghị tôi đến làm vợ ông ta, không cần đem theo rương đựng quần áo hay hộp đựng đồ trang điểm. Sau đó ông ta liên tục bày tỏ tình yêu đối với tôi, hối hả giục người đem sính lễ đến. Phụ nữ đúng là có những hạnh phúc “từ trên trời rơi xuống”. Tôi đồng ý về ở với địa vị bà chủ tiệm quạt. Tôi ra tiệm, ngồi lẫn trong các cô thợ dán quạt, nhưng nhờ dung mạo xinh đẹp hơn người nên khách hàng cứ kéo đến tiệm để xem mặt mũi tôi. Có người mua một lần ba cây quạt năm nan, có người mua chẳng hề trả giá, có nhà chùa cố tình đến đặt quạt lễ[13] để được dịp ngắm tôi. Việc buôn bán của cửa tiệm trở nên phát đạt, chẳng bao giờ ngớt khách. Quạt cao cấp của tiệm Mieido trở nên ế ẩm, quạt tranh vẽ yuzen cũng trở nên lỗi thời. Bây giờ loại quạt ẩn tranh shunga của tiệm tôi trở nên thịnh hành và đem lại tiếng tăm cho cửa tiệm.

Thời gian đầu, chồng tôi cũng chấp nhận cho những hành động chạm tay, vỗ hông khách. Mỗi lần bắt gặp ông ấy đều giả vờ nhìn đi chỗ khác. Nhưng sau đó, xuất hiện một người khách khôi ngô tuấn tú, mỗi ngày đến mua một cây quạt cao cấp mắc tiền. Lúc đầu chỉ là đùa giỡn thông thường, không vương vấn tình cảm gì nhưng về sau, chẳng biết tự khi nào, tôi rơi vào lưới tình thật sự. Tình cảm vợ chồng rạn nứt. Nhiều lần chứng kiến tôi suốt ngày thở ngắn than dài cho thân phận “hoa đã có chủ” khiến chồng tôi tức giận đuổi tôi đi. Nhưng tôi không thể tìm được nơi chốn của người đàn ông tốt mã kia và lấy làm hối hận cho thói ngoại tình trong tư tưởng của mình.

Sau đó, do không tìm được việc gì để làm, không còn cách nào khác, tôi đến phố Oikedori, sống tạm bợ qua ngày bằng cách bán dần những bộ kimono mang theo được và mong phép màu nào đó xuất hiện. Nhưng Kyoto nhiều chùa chiền lẫn phụ nữ, tôi chẳng tìm ra nơi nào vừa ý mình để làm việc. Cuối cùng, tôi được thuê làm thợ dệt tơ lụa Nishijin. Vào làm ở đó, mỗi tháng sáu lần tôi âm thầm gặp gỡ những người đàn ông nhưng lại cảm thấy cuộc sống như vậy cũng không thú vị gì nên nghỉ việc.

Ở khu phố Kamichoja gần đó có một vị ẩn cư, cạo tóc, ăn mặc theo kiểu tăng lữ. Ông ta có đến bảy, tám căn nhà cho thuê nên không cần lo đến những chi phí của cuộc sống hàng ngày. Quanh năm suốt tháng, không làm gì khác ngoài uống rượu, lấy vui chơi làm công việc, sống cùng một người phụ nữ và một con mèo. Tôi được thuê vào làm việc như người hầu kiêm thê thiếp, ban ngày lo chuyện gánh nước, pha trà; ban đêm xoa bóp, đấm lưng cho ông ta. Ngoài ra, không có việc gì khác, cũng không phải giữ ý hay lấy lòng ai. “Cuộc sống hạnh phúc thế này mà cái người mới ngoài bốn mươi đó chịu được những đêm cô đơn lẻ bóng sao?” – Trái tim phụ nữ của tôi đã nghĩ thầm trong tiếc rẻ và sau đó phạm một sai lầm không đáng có.

Vị chủ nhân này luôn đội một chiếc khăn che kín từ đầu đến tận mang tai và quấn chiếc khăn dày ở cổ áo bất kể đông, hè. Ông ta đi đứng chậm chạp, mỗi lần đi từ nhà trên xuống nhà dưới rất mất thời gian. “Đúng là già cỗi” – Tôi lấy làm thương cảm, an ủi chiếu lệ:

– Ngài đừng để bị cảm lạnh nhé. Chúc ngài ngủ ngon. Nếu chẳng may chóng mặt nhức đầu gì cứ gọi tôi, tôi ngủ ngay đây thôi ạ.

Những suy nghĩ về chuyện tình ái hoàn toàn không còn nữa. Tôi đã nghĩ sẽ tiếp tục cuộc sống như vậy cho đến ngày Năm tháng Chín, khi hết hạn giao kèo. Nào ngờ, ông ta sinh lực sung mãn, cả đêm không để tôi chợp mắt lấy một lần.

– Đám trẻ nhu nhược, yếu đuối bây giờ thật chẳng ra làm sao!

Ông ta luôn nói như thế. Từ sáng đến tối, dù tôi đã van xin đủ kiểu nhưng ông ta chẳng buông tha. Đến đây làm việc chưa tròn hai mươi ngày, tôi đã không thể thức dậy vào buổi sáng, nhức đầu như búa bổ, sắc mặt xanh xao, cố hết sức lắm mới nói được câu từ chối, xin nghỉ làm. Tôi sợ hãi nghĩ bụng “phải tranh thủ lúc còn giữ được mạng sống mà tìm cách đi khỏi nơi này” và nhờ người cõng đến nhà trọ bảo lãnh người làm công. Kể chuyện này cho những chàng trai trẻ phải uống những viên thuốc địa hoàng[14], ai nấy đều nghiến răng hậm hực ra mặt.

THÂN PHẬN CỦA HASUHA ONNA[15]

Nhà trọ trung gian

Kiếp hầu gái

Lẫn giữa dòng đời

Chẳng ai biết lắm

Ngoài tên gọi thôi.

Osaka là một thành phố cảng thịnh vượng, rất thuận lợi cho việc giao dịch, mua bán. Nơi đây là thương cảng lớn nhất của Nhật Bản thời Edo, tập trung đông thương gia từ Kyoto, Chugoku và các vùng khác đến. Để giao dịch thuận lợi, các cửa hàng bán buôn làng trên xóm dưới đều phải nhờ đến các hasuha onna để tiếp đãi khách. Những cô gái này chỉ là kẻ hầu hạ cơm nước, rót rượu bưng trà, có ngoại hình ưa nhìn. Họ mặc chiếc áo tay ngắn bằng vải bông mỏng bên trong, bên ngoài mặc chiếc kimono nhuộm màu xanh thẫm không có hoa văn, thắt chiếc đai lưng bản rộng màu đen, phía trước quấn một chiếc tạp dề màu đỏ. Tóc búi nhô cao ở phía trên tạo thành một vòng tròn trên đỉnh đầu và dùng một chiếc trâm dài vốn là hàng Kyoto và dầu Kiyara để giữ tóc. Chân mang đôi guốc mộc quai nhỏ, dưới nẹp áo lấp ló miếng khăn giấy lau mũi. Nhìn cách ăn mặc sẽ biết ngay là hasuha onna. Hasuha onna rất dạn dĩ, không hề ngại chốn đông người, đi đứng nhẹ nhàng, ẻo lả với những cử chỉ cố tình gây sự chú ý nên mới có tên “lá sen”[16].

Họ có cuộc sống phóng khoáng hơn cả các du nữ, sẵn sàng để khách hôn đôi môi tô đỏ ngay tại nhà chủ, cứ hễ ra đến nhà trọ ở Ukyo Shoji[17] là sẵn sàng chung gối với bất kỳ người đàn ông nào. Nhờ vậy mà có người may tặng kimono mặc Tết, có người đặt sẵn yukata mặc hè, có người cho cả tiền tiêu vặt, hay có người liên tục gửi tiền búi tóc, phấn son cả năm trời cho các cô. Còn các cô lại gạ gẫm mấy cô bạn trẻ làm chung để lấy cho được đai lưng lụa của họ, hoặc nếu gặp nô bộc nam giữa đường đi thì cũng không dễ dàng cho qua mà ép họ để lấy tẩu hút hay đổi bao đựng thuốc lá. “Không lấy đồ có giá trị thì quá uổng” – chỉ vì lòng tham nhất thời chứ họ cũng chẳng phải vì ham muốn tiền bạc gì cho tương lai.

Cứ đến hai dịp xuân, thu, các cô lại đến khu nhà trọ vui chơi. Tuy thân phận nữ nhi nhưng các cô rất thích ăn ngon. Nào bánh màn thầu ở tiệm Tsuya, món mì hấp của tiệm Yamaguchi, uống loại rượu thuốc gia truyền lâu năm Kobama, nếm vị ngon của những chiếc bánh nếp mochi ở tiệm Tenma, nhấm nháp sushi ở Nihonbashi, thưởng thức hương vị chả cá của Wanya và cơm hộp lạ miệng ở Sendanokisuji. Thậm chí có lúc còn mướn du thuyền Yokohori để thưởng ngoạn, đi xem kịch bằng kiệu, mướn cả chỗ ngồi cao nhất và trả bằng tiền mặt[18]. Xem kịch rồi thì say mê diễn viên đến mức gắn lên áo những huy hiệu vô dụng của diễn viên lên áo. Các cô suốt ngày chỉ biết chăm chút vẻ bề ngoài, đắm chìm trong tửu sắc, thậm chí quên cả ngày giỗ cha mẹ, cũng chẳng đi đám ma anh em bà con họ hàng.

Mùa xuân đến đem lại sức sống cho vạn vật và tâm trạng của con người dường như cũng đã đổi thay. Vượt qua khỏi cây cầu Yodobashi bắc ngang qua sông Tosa ở Osaka, phong cảnh tuyệt vời của Nakanoshima hiện ra trước mắt. Không có ngọn gió nào thổi qua, những đám mây yên tĩnh, lơ đãng trôi trên bầu trời trong xanh, văng vẳng có tiếng ếch kêu, những tiếng nói chuyện ồn ào, mưa rơi không đủ mạnh để làm ướt chiếc ô. Một ngày đẹp trời đúng như mong đợi. Chợ gạo yên ắng, chẳng có mấy bóng người.

Những người làm thuê trong các cửa tiệm đều buồn bã vì không có việc để làm. Họ đã cất các giấy tờ, sổ sách các thứ vào ngăn kéo, chiếc bàn tính soroban nay được kê làm gối. Có thời gian rảnh rỗi nên họ mở Kodakeshifu[19] ra xem, thỉnh thoảng vỗ đùi, vỗ tay tâm đắc: “Mấy đoạn tình cảm ướt át này hay ghê”. Sau đó, chuyển sang so sánh, bình phẩm các hasuha onna của các tiệm trong phố.

– Mặt Kichi “bát kiều” y như mặt trưởng lão ngàn tuổi trong mấy vở kịch ngắn, trông thật buồn cười. Khuôn mặt lúc nào cũng như thiếu ngủ của Tama “rầu rầu” lại khêu gợi như hoa hải đường sau vườn. Còn sớm mắc bệnh đường sang[20]là Hatsu “kim bình” với cô bên tiệm trà Kozu. Rin “mèo” thì mắt như lồng đèn gắn trong gậy tre, như bảo vật tỏa sáng trong đêm đó. Kume “tóc xoăn” thấy vui vẻ vậy chứ buồn như sau lễ hội Zama[21]. Có khóc cũng chẳng thấy đáng thương là Koman “đắc lợi”, rượu vào rồi cứ bẹp xuống sàn khóc, như quạ kêu sáng trên cây thông đền Imamiya. Dài nhưng cũng đáng nghe là chuyện kể đêm khuya của Nabe xứ Echigo, cứ như Thái Bình ký. Satsu “tím giả” thì vô tâm, tỏ vẻ cao quý nhưng cắt cả hoa tử đằng phố Tanimachi mà bán. Mở ra xem rồi không bỏ mặc được là lớp áo kimono cũ kỹ của Shun “tham lam” và giấy báo dự lễ đầu năm mới. Không gì hôi bằng hơi thở của Koyoshi “miệng cá sấu” với lò hỏa thiêu phía Tây phố Nagahama.

Từ Đông, Tây, Nam, Bắc những hasuha onna khắp nơi có đến hàng trăm cô, kể cả ngày cũng không hết. Các cô rồi cũng đến lúc già như lá héo úa, như đôi guốc gỗ mòn vẹt, chẳng biết đi đâu về đâu. Đây cũng là quy luật tất nhiên của tạo hóa.

Từ khi ra khỏi tiệm bán quạt ở Kyoto, chấm dứt vai trò bà chủ của ngôi nhà đó, tôi cảm thấy cô độc, buồn bã nên trôi giạt đến Osaka này và trở thành một hasuha onna. Vì biết khéo léo dùng cách trò chuyện để làm vui lòng khách nên được gọi là Ruri “lò hỏa thiêu”. Thời gian đầu, tôi luôn biết đặt việc của chủ lên trên hết, rót rượu cũng không để đổ một giọt ra ngoài. Nhưng rồi giữa cuộc sống sa đọa nên chẳng bao lâu sau, có lăn ra ngủ giữa chân nến hay trên đống quần áo ngủ tôi cũng chẳng màng, đập hồ đào xuống sàn để gỡ vỏ mà ăn, chén, mâm có sứt mẻ cũng mặc, lúc bận rộn xé cả giấy dán cửa lùa làm lõi búi tóc, chỗ nào ướt lấy cả mùng làm khăn lau. Tôi chẳng quan tâm đến gia sản nhà chủ, làm gì cũng thoải mái theo ý mình. Nhìn bề ngoài, nhà chủ như một đại phú gia nhưng thực ra chuyện tiền nong rất bất ổn, nếu phải chọn thì chẳng ai muốn vào ở rể.

Làm công hai năm trong ngôi nhà đó, tôi đặc biệt quan tâm đến vị khách quý từ Akita đến. Tôi luôn cố gắng khéo léo trò chuyện để ông ta cảm thấy hài lòng cả ngày lẫn đêm nên thường được ông ta tặng nhiều quần áo và những vật dụng khác. Trong lúc ông ta say túy lúy, tôi lấy giấy bút, mài mực lừa ông ta viết giấy thề “không bao giờ bỏ rơi”. Tôi không để gã đàn ông nhà quê này có cơ hội từ chối, đòi cùng ông ta về quê. Ông ta có xin lỗi bao nhiêu lần tôi cũng không chấp nhận. Chẳng có chút dấu hiệu gì nhưng tôi vẫn báo: “Em đã có thai” khiến ông ta vui mừng.

– Em tin đây là con trai, em sẽ đặt tên cho con là Shintaro, lấy chữ “Shin” từ tên Shinzaemon của chàng. Đến tháng 5[22], sẽ treo cờ cá chép và cho con đeo kiếm xương bồ.

Ông ta bối rối, âm thầm tìm đến người chủ quản của tôi, chịu trừ hai kanmoku bạc từ tiền hàng để cắt đứt quan hệ với tôi và vái lạy như tế sao để xin lỗi.

❀ ❀ ❀

[1] * Tên các quán trà.

[2] * Theo hiệu chú sách tiếng Nhật, trong tự điển thơ thời Minh của Trung Quốc Viên cơ hoạt pháp có bài thơ của Tô Đông Pha nhưng thật ra không thấy trong tuyển tập thơ của ông. Bài thơ như sau:

[3] * Đơn vị đo chiều dài. 1 thốn dài chừng 3,33cm.

[4] * Ái Thâm Minh Vương: vị thần cai quản tình yêu trong Chân Ngôn Mật giáo.

[5] * Tiếng Nhật: yobuko tori, tiếng kêu như tiếng gọi người.

[6] * Khăn này được dùng để gói y phục, khi vào tắm thì dùng để quấn quanh người, sau để lau chân.

[7] * Một kỹ thuật nhuộm tranh lên vải truyền thống của Nhật.

[8] * Cơm chan nước trà.

[9] * Tên gọi chung của những người đàn ông làm công việc phục dịch.

[10] * Còn gọi là đá nachi kuro, hiện nay có nhiều ở vùng Wakayama.

[11] * Các ca sỹ nổi tiếng thời bấy giờ.

[12] * Vừa là nhân viên của tiệm kimono vừa theo con đường sắc dục.

[13] * Loại quạt rẻ tiền để phát trả lễ cho Phật tử những dịp Tết, obon…

[14] * Thuốc tăng sinh lực.

[15] * Hasuha onna: nữ phục vụ cho các thương gia bán buôn để lấy lòng khách và giao dịch thuận lợi.

[16] * Ý tầm thường, thấp kém.

[17] *Nơi có nhiều nhà trọ để những người làm công, phục vụ gặp nhau.

[18] * Đương thời khán giả xem kịch sẽ trả tiền cho tiệm trà vào ngày hôm sau nhưng hasuha onna trả tiền mặt ngay. Điều này phản ánh cuộc sống xa hoa của họ.

[19] * Một tác phẩm kể chuyện thể loại Joruri Danmonoshu (trích các khúc, đoạn được nhiều người yêu thích tạo thành một tác phẩm) của Uji Kaganojo (1635 – 1711). Kodakeshifu (Tiểu trúc tập) có nhiều đoạn trích từ các tác phẩm của Saikaku, lại được Saikaku viết lời tựa.

[20] * Chỉ bệnh giang mai.

[21] * Lễ rước của đền thờ Thần đạo Zama ngày 22 tháng 6.

[22] * Ngày 5 tháng 5 còn gọi là Lễ hội Cá chép, là lễ hội để cầu chúc sức khỏe cho bé trai.

ệu đính: Nguyễn Đỗ An Nhiên —★— ĐỜI DU NỮ ebook©MotSAch —★— TVE-4u©vctvegroup Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ihara Saikaku

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.