Cùng chung là phận nữ nhi
Ấy ai phúc phận, ta thì hẩm hiu
Tình nối bằng sợi chỉ thêu
Ấy ai kim chỉ mà khoe thợ tài
Đêm ngày lửa đốt ngực này
Fuji[1] trà quán, ấy ai lửa tình?
Phận hầu cay đắng nửa năm
Sáu mươi chỉ bạc cũng đành bỏ đi.
THÂN PHẬN THẾ DÂU
Con gái yêu cũng đến lúc lấy chồng
Chuyện trọng đại đời người chỉ một
Người thế dâu đêm tân hôn
Đâu thể nào cho qua.
Hôn sự thời nay thật đáng nói. Ngay cả nông dân, thường dân phố thị đều học đòi giai cấp quý tộc, cố sức chuẩn bị hành trang cho cô dâu thật xa hoa, cao cấp. Tuy là phong tục đương thời nhưng thật không tương xứng với địa vị chút nào. Trí tuệ người mẹ thật như “cơi đựng trầu”[2], sanh được đứa con gái bình thường như bao người nhưng hãnh diện quá mức. Con gái mới mười một mười hai tuổi đã cho ăn mặc, trang điểm cầu kỳ nên tự nhiên vẻ ngoài với làn da, nét mặt, cử chỉ, thái độ cũng trở nên nổi bật, thu hút. Cứ mỗi lần chuyển mùa, họ lại nói chuyện kịch nghệ, say sưa đọc sách truyện kyogen và tin đó là thật nên mới có chuyện con dâu nhà nào cũng ngoại tình, người nào cũng sống không theo đạo lý. Chưa kể, các bà các cô còn học theo cách ăn mặc, cư xử của các diễn viên trong các vở kịch. Lúc nào cũng đeo chiếc đai lưng dài tới hơn ba thước trông thật lố lăng. Ngày xưa chiếc đai lưng của phụ nữ chỉ dài khoảng chưa tới một thước. Những năm gần đây các phụ nữ trẻ thường yêu thích kiểu đai lưng dài như thế vì nhìn có vẻ tăng sự yểu điệu, thướt tha hơn. Hoa văn của những chiếc kimono tay ngắn kosode cũng đổi theo trào lưu hiện nay với những cánh hoa anh đào được thêu tỉ mỉ. Người ngoài nhìn vào sẽ tưởng như nhuộm nhưng thực chất là mẫu thêu từ hàng trăm sợi chỉ màu. Người ta chịu mất năm lượng để có được một tấm áo như vậy. Cứ như vậy, người ta chấp nhận tốn kém tiền của cho vẻ bề ngoài, dần dần thế giới họ sống trở thành một thế giới trọng tiền, chuộng vật chất.
Gần đây, nhân dịp có vị cao tăng ở chùa Todaiji (Nara) đến khu phố chùa Shitaderamachi giảng về duyên khởi của Đại Phật nên nam thanh nữ tú, quý tộc thường dân đều “xiêm áo lũ lượt” rủ nhau đi nghe. Trong số đó có người phụ nữ lỡ thì, hương không mà sắc cũng chẳng còn, chưa kể, khuôn mặt dài như mặt ngựa, cả khuôn mặt chỉ có đôi tai như bao người, còn lại đều dưới mức trung bình. Nhưng nhìn bề ngoài biết ngay sinh ra trong gia đình cực kỳ giàu có bởi cách ăn mặc cầu kỳ. Bà ta mặc chiếc kimono bằng lụa Rinzu màu trắng, bên trong mặc một chiếc áo mỏng màu tím được dệt khéo đến nỗi hai mặt trong và ngoài đều khó phân biệt, bên ngoài khoác một chiếc áo lụa cao cấp Hachijo có thêu hình hoa diên vĩ màu hồng, thắt chiếc đai lưng khổ lớn với hoa văn hình cây ngô đồng và hạnh nhân, xen lẫn những hoa văn sọc ngang. Phải nói, trên người bà ta không thiếu món đồ trang sức cao cấp nào dành cho phái nữ. Gần đó, có người giúp việc của tiệm bán quần áo, rất rành giá trị của trang phục nên vừa nhìn thấy liền nói:
– Giá trị mấy món đồ đó tính sơ cũng phải 1 kan 370 moku[3]. Thời buổi này đúng là xa xỉ. Số tiền này đủ để mua được sáu, bảy căn nhà. Đúng là biết cách ăn mặc. Người sang có khác.
Mùa hè năm đó, kể từ khi rời bỏ thân phận người hầu, tôi đến ở Nanihazu và Yokobori[4], kiếm một chỗ tạm tá túc. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng ở yên một chỗ. Tôi theo hầu cho các cô dâu mới về nhà chồng. Osaka khinh bạc, hoa mỹ hơn tôi nghĩ nhiều. Bất chấp gia cảnh phù hợp hay không, người Osaka rất thích những gì hào nhoáng.
Cha mẹ có con gái thì thích chàng rể tốt, tương xứng hoặc hơn thân phận địa vị của mình, cha mẹ có con trai thì chuộng cô con dâu gia đình giàu sang hơn mình. Khi hôn sự được quyết định, ngay lập tức họ bắt đầu phô trương bằng cách tiêu xài vào những việc không cần thiết. Bên chàng rể gấp rút xây sửa nhà cửa, bên nàng dâu lo sắm sửa áo quần. Những người phụ nữ bà con họ hàng kéo đến bàn bạc, nhưng tất cả đều sai lầm khi trông cậy vào đám người này. Họ tính toán toàn bộ tài sản trong nhà được trăm quan tiền thì rút mười quan làm của hồi môn, năm mươi quan dùng vào chi phí hôn lễ. Không chỉ vậy, sau khi kết hôn, họ lại tiếp tục mua sắm, tiêu xài nhiều thứ. Cứ đến lễ, Tết là trao gửi quà biếu cho nhau. Mùa Tết thì gửi cá rồng xứ Nango, loại to nhất, mùa hè thì chuẩn bị cá thu hảo hạng xứ Noto, quanh năm cứ phải giữ ý, giao tiếp lễ nghi như vậy thật mệt mỏi làm sao. Sau đó, đến lượt cô em gái đi làm dâu, tuy không được hoành tráng như cô chị nhưng cũng không được chuẩn bị quá sơ sài. Lo cho cô em vừa dứt, đến lượt cậu con trai đón dâu, vừa xong hôn sự lại lo đến chuyện sinh con đẻ cái, nào đao kiếm hộ thân, nào áo xống sanh nở, nào bà con họ hàng, hết việc này đến việc kia, không chút rảnh rang. Chẳng mấy chốc, tiền bạc trong nhà cứ “đội nón ra đi”, số người bị phá sản kể từ khi con gái đi làm dâu nhiều không sao kể xiết.
Mẹ chú rể cũng hệt vậy, tỏ vẻ sang trọng giàu có hơn địa vị thực có của mình, không còn tiết kiệm vụn vặt như trước đây. Trong nhà chuyển từ dầu lửa sang dùng đèn cầy, cũng không phủ tấm chăn vải lên bàn sưởi nữa. Cùng với người mẹ, anh chồng cũng tỏ vẻ đào hoa, phong lưu trước mặt người vợ “đầu gối tay ấp” suốt cuộc đời mình như với du nữ một cách ngu ngốc.
Tôi từng theo phụ nhiều mối như vậy và chứng kiến ngoài chuyện yêu đương, tất cả họ đều cùng một kiểu chuộng bề ngoài, quan tâm đến miệng lưỡi ngoài đời một cách đáng xấu hổ như nhau[5]. Chỉ có lần đến phụ một cửa tiệm ở Nakanoshima nơi có nhiều gia đình phú thương, thì chàng rể ở đây hoàn toàn không đụng gì đến tôi, mọi việc đều đơn giản, tiết kiệm, hôn lễ giản dị, đêm tân hôn vợ chồng họ ngủ với nhau. Lúc ấy tôi đã nghĩ họ keo kiệt, bủn xỉn nhưng về sau chỉ có gia đình này giữ được sự giàu có cho đến nay. Các gia đình khác đều nhanh chóng suy sụp, tình hình khó khăn so với lúc làm hôn lễ, mấy nàng dâu cũng chẳng còn đi kiệu riêng xông xênh như thuở ban đầu.
NGƯỜI THỢ MAY TÀI HOA
Người thợ may chuyên tâm
Nhưng áo khách gợi tình
Làm lạc lối đường kim
Nhà nay để sắc sự.
Cách may quần áo của phụ nữ lần đầu tiên được đặt ra dưới thời trị vì của vị Thiên hoàng Koken[6]. Kể từ đó phong cách ăn mặc của đất nước Yamato[7] này đã trở nên thanh lịch. Việc may quần áo cho giới quý tộc được làm rất tỉ mỉ và cẩn thận. Khi bắt đầu may sẽ có người đếm số lượng cây kim dùng để may và đến khi công việc được hoàn tất, người ta đếm số lượng cây kim lại một lần nữa. Việc may vá được thực hiện với tất cả sự kính trọng thể hiện ngay cả trên từng đường kim mũi chỉ. Cũng có những kiêng kị trong việc thêu thùa, may vá như cơ thể của người thợ may phải giữ tinh khiết, đặc biệt những phụ nữ đang trong thời kỳ ở cữ hoặc đến kỳ kinh hàng tháng thì không được phép vào nơi may vá...
Tôi cũng không nhớ rõ mình trở nên thành thạo trong nghệ thuật may thêu từ lúc nào. Nhưng tôi làm việc như một người thợ may lành nghề. Bằng khả năng này, tôi đã có thể yên tâm với một cuộc sống thanh thản,yên tịnh. Tâm trí của tôi trở nên tự do, thoải mái và không hề bị vướng bận bởi bất kỳ suy nghĩ nào về những ham muốn, dục vọng. Thay vào đó, tôi tìm thấy niềm vui khi vừa làm việc vừa có thể tận hưởng vẻ đẹp của ánh nắng chiếu vào từ cửa sổ, hoặc thích thú đưa mắt ngắm vẻ đẹp của những đóa hoa diên vĩ đang nở. Tôi và những người bạn có thể vừa uống trà Abe hoặc thưởng thức loại bánh bao thượng hạng của tiệm Tsuruya ở Iidamachi. Cuộc sống của những phụ nữ may vá chúng tôi vướng chút bụi trần cũng không bị cuốn vào vòng xoáy của cõi phù thế. Tôi đã nghĩ “đây mới đúng là “thường lạc ngã tịnh”, một cuộc sống thanh tịnh làm sao”. Điều này giống như trạng thái đã đắc đạo thật sự của tín đồ Phật giáo khi thân, tâm thanh tịnh và hoàn toàn cảm thấy an lạc.
Tôi đã sống trong tâm trạng thanh thản như thế cho đến một ngày nhận may một chiếc áo lót bằng lụa trắng cao cấp với kiểu hoa văn Nerijima khâu ở phía trong mặt áo cho một vị lãnh chúa trẻ. Hoa văn mặt trong áo là tranh vẽ cảnh ân ái của người đàn ông và người phụ nữ. Cô gái trong tranh có làn da trắng, đôi mắt to tròn. Tôi đã đỏ mặt khi nhìn bức tranh trần trụi đó. Người con gái phơi bày cơ thể mình không chút dè dặt, gót chân được giữ chặt và ngón chân cong lại. Tôi không thể tin rằng nhân vật với dáng vẻ, đường nét sống động như thế được vẽ bằng mực. Thậm chí tôi dường như nghe thấy những lời nói yêu đương ngọt ngào từ đôi môi họ. Khi đó các giác quan của tôi như bị sương mù bao phủ, đầu óc quay cuồng. Dù đã chuẩn bị đồ nghề may vá sẵn sàng nhưng mong muốn về sự xuất hiện của một người đàn ông bỗng trỗi dậy mạnh mẽ trong tâm trí tôi. Tất cả các suy nghĩ về việc may thêu đã biến mất và tôi không thể nào tập trung để se chỉ hay luồn kim được nữa. Tôi không thể bắt tay vào việc may áo, cứ thế mơ màng chìm đắm trong mộng tưởng về một người đàn ông và sự gần gũi như thế. Tôi cảm thấy buồn khi quạnh hiu một mình trong đêm vắng. Từng kỷ niệm trong quá khứ lại trỗi dậy. Có lúc tôi đã khóc cho cuộc tình chân thật, và đã nhiều lúc cười vui nhờ những cuộc tình giả dối. Nhưng dù chân thật hay giả dối, những gì tôi nhớ lại đều gắn liền với những người đàn ông đáng nhớ chứ không đáng hận. Có người vì tôi mà chìm đắm trong cuộc tình vô hạn độ khiến tuổi thọ của họ ở cõi phù thế trở nên ngắn ngủi. Bây giờ hồi tưởng tôi thấy thật đáng thương.
Cả những người đàn ông mà tôi có thể nhớ được vì lý do nào đó cũng không thể nào đếm xuể. Trong thế giới này vẫn tồn tại những người phụ nữ mà cả cuộc đời của họ chỉ tôn thờ và dành toàn bộ cuộc sống của họ cho một người đàn ông với một tình yêu duy nhất. Nếu chẳng may hết duyên, vợ chồng ly biệt, họ cũng không tìm đến người đàn ông nào khác. Hoặc ngay cả khi chồng qua đời họ cũng nguyện xuất gia, giữ thân tâm thánh thiện, từ bỏ mọi điều để mình có cuộc sống thanh khiết và an tịnh. Tức họ đã ngộ được đạo lý “ái biệt ly khổ”[8]. Vậy mà tâm hồn tôi, đáng tiếc làm sao, cứ để cho ái tình điều khiển. Bao lâu nay tôi đã làm những điều quá đáng, đi chệch đạo lý nên quyết tâm, nhủ lòng “nhất định phải chịu đựng, phải vượt qua nỗi buồn này”.
Đêm dần trôi qua, bình minh sắp ló rạng. Những người bạn thợ may ngủ bên cạnh đã thức dậy, gấp chăn mền của họ và đặt chúng trên kệ. Trong lúc chờ cơm, tôi tìm que cời châm lửa, đốt một điếu thuốc lá và rít một hơi không ý tứ. Chẳng có đàn ông quanh đó nên tôi búi vội mái tóc đen rối bời bằng một lõi giấy cũ, xức lên tóc một ít dầu bóng và trang điểm qua loa. Khi vứt miếng giấy tẩm dầu, tôi liếc nhìn qua hàng song tre nơi cửa sổ, thấy một người đàn ông đang đứng đó. Nhìn dáng vẻ bên ngoài, tôi nghĩ ông ta là một người đầy tớ phục vụ trong gia đình samurai nào đó. Hình như ông ta vừa đi chợ sáng, trên tay cầm một giỏ đựng cá, chai giấm và que củi châm lửa[9]. Không biết đang có người nhìn, ông ta đứng lại, tay kéo chiếc quần màu xám lên để tiểu tiện. Một dòng nước tuôn chảy trên mặt đất như thác Otowa[10], đánh bật cả hòn đá trong mương và xoáy thành một hốc đất. Tôi không nén được ý nghĩ: ““Ngọn giáo” tốt vậy mà không được dùng trong trận ở Shimabara[11], lại chẳng được tận dụng ở đâu, cứ thế mà già đi sao?”. Và đột nhiên tôi cảm thấy không thể chịu đựng nổi. Tâm háo sắc khiến tôi khó có thể tiếp tục công việc như hiện nay. Không cần chờ đợi thời hạn giao kèo tôi kết thúc, tôi giả bệnh, xin nghỉ việc.
Chuyển đến sống ở căn nhà nhỏ nằm sâu trong một con hẻm phía sau đại lộ thứ Sáu, quận Hongo, tôi tiếp tục nghề may thêu. Tôi viết vài dòng trên tấm biển bằng gỗ đặt ở lối vào: “Sâu trong này có tiệm may thực hiện bất kỳ yêu cầu nào của quý khách”. Chỉ vì mong muốn gần gũi đàn ông mà tôi tự giải thoát cho mình khỏi chốn may thuê. Tôi nghĩ bụng: “Hễ có bất kỳ người đàn ông nào đến đặt may, mình cũng phải nắm lấy cơ hội”. Nhưng, than ôi, tôi lại phải thường xuyên tiếp đón những vị khách không như ý. Chỉ có các quý bà, quý cô đến nhờ tôi may những kiểu quần áo theo trào lưu. Dù không muốn tôi vẫn phải nhận hàng nhưng may cho có lệ, thô thiển và ẩu tả. Bây giờ nghĩ lại đúng là hành động thái quá. Mặc dù cả ngày lẫn đêm, nhiều lần tôi rất muốn dẹp bỏ những suy nghĩ vớ vẩn ra khỏi tâm trí của mình nhưng điều đó thật khó. Cũng không thể nói ra những tâm sự ấy. Một ngày kia, ý tưởng mới bỗng nhiên xuất hiện. Tôi liền ra lệnh người giúp việc mang theo một cái bao nhỏ, cùng tôi đi đến phố Motomachi ở Nihonbashi. Chúng tôi ghé đến tiệm bán vải Echigo – nơi tôi thường lui tới trước đây tôi khi đi làm thuê.
– Tôi đã bỏ nghề cũ. Hiện tại tôi đang mở một tiệm may nhỏ ở gần đây. Tôi sống một mình, không có cả con mèo làm bạn. Hàng xóm phía Đông thì luôn vắng nhà, phía Tây là một bà lão hơn bảy mươi tuổi, lại lãng tai. Phía trước mặt là nguyên hàng rào cây cối um tùm, chẳng thấy bóng người. Nếu có đi lấy hàng, buôn bán ngang đó thì nhớ ghé chỗ tôi nghỉ ngơi nhé.
Nói xong tôi chọn mua một tấm lụa kaga chất lượng tốt nhất, một ít lụa màu đỏ và một cân vải dày ryumon dùng để may đai áo kimono. Tiệm Echigo có quy định không bán thiếu nhưng người giúp việc đứng bán hàng hôm ấy bị tôi hớp hồn, cứ thế giao vải cho tôi mà không nhắc gì đến tiền bạc.
Chẳng bao lâu sau, đến ngày 8 tháng 9[12], chỉ còn một ngày nữa là đến ngày Lễ hội Hoa cúc, ông chủ tiệm vải ra lệnh “đi thu tiền mua chịu”. Mười bốn, mười lăm người giúp việc trong tiệm tranh nhau để được đi thu tiền tiệm may của tôi. Trong số đó có một người đàn ông trung niên, chưa hề biết đến tình yêu, luyến ái. Ông ta chỉ biết chuyện buôn bán, ngay cả trong giấc ngủ cũng mơ thấy bàn tính, đi đâu cũng kè kè hộp đựng giấy tờ, sổ sách liên quan đến tiền bạc. Ông ta được gọi là “chuột trắng”[13] của ông chủ tiệm ở Kyoto và cũng được gọi là “cột nhà đen” to lớn vững chãi do ông ấy luôn biết phân biệt người thiện ác, trắng đen rõ ràng. Trong lúc mọi người còn đang tranh cãi um sùm, ông ta không nhịn được và lên tiếng:
– Hãy giao việc đó cho tôi, nếu cô ta không trả tiền tôi sẽ lôi cổ về đây.
Thế rồi ông ta đùng đùng đến chỗ tôi, thái độ hùng hổ, dữ tợn. Tôi không chút nao núng:
– Chỉ vì chút tiền mọn mà phải phiền ngài đến tận nơi xa xôi này, thật tội lỗi.
Chưa dứt câu, tôi cởi bộ kimono màu hồng trên người ra:
– Em nhuộm màu mình thích, mới được hai hôm thôi, đai lưng đây ạ. Bây giờ em không có sẵn tiền, thật phiền ngài nhưng ngài vui lòng đem mấy thứ này về thay thế được không?
Tôi vừa nói vừa rưng rưng nước mắt. Trên người tôi chỉ còn lại manh áo lót hồng, gần như lõa thể. Tôi tự cảm thấy mình rất mỹ miều, cơ thể trắng toát, không mập quá mà cũng chẳng gầy gò, da thịt mịn màng, mơn mởn, không hề có một vết sẹo nào trên người. Khi nhìn thấy tôi như vậy, người đàn ông thu tiền đầy cứng rắn đó bắt đầu run rẩy như một chiếc lá phải đang hứng chịu gió bão:
– Làm sao tôi có thể đem mấy món đồ này về chứ? Cô sẽ bị cảm đấy?
Ông ta choàng lại áo lên người tôi. Ngay lập tức tôi tận dụng cơ hội để khiến người đàn ông này là của mình:
– Ngài thực sự là một người đàn ông tử tế.
Tôi nói, khẽ nghiêng người về phía ông ta. Ông ta run rẩy, lúng túng và gọi người giúp việc trẻ tuổi lại gần, yêu cầu mở chiếc hộp đem theo, lấy ra bốn, năm đồng xu nhỏ. Ông ta nói:
– Tôi cho cậu. Cầm lấy. Hãy đi theo đường Shitaya và ra tham quan Yoshiwara xem. Cho cậu nghỉ giải lao một lúc đấy.
Cậu giúp việc không tin nổi vào tai mình, trống ngực đập liên hồi, mặt đỏ lựng, không nói nổi lời nào.
Nhưng sau đó nhanh chóng hiểu ra sự tình. “Ra là ông ta sợ mình làm phiền trong lúc hành sự đây”. Cậu ta nhận ra cơ hội mặc cả ngàn năm có một từ một người vốn nổi tiếng keo kiệt như vậy.
– Nhưng, dù sao đi nữa, tôi không thể đến những khu phố vui chơi đó trong bộ khố vải không lịch sự như thế này, phải không?
– Ừ! Đúng vậy!
Nói rồi tôi ước chừng, cắt cho cậu ta một mảnh lụa Hino bản rộng. Chẳng cần may đính nó lại, cậu trai thắt ngay lên người và cắm đầu cắm cổ chạy. Giờ chỉ còn lại ông ta và tôi. Chúng tôi chốt cửa và che cửa sổ lại bằng một chiếc mũ rơm và đến với nhau không cần mai mối.
Sau đó, ông ta chìm đắm trong tình ái với tôi, sao nhãng, bỏ bê công việc làm ăn buôn bán của tiệm Edo. Chẳng bao lâu sau, ông ta bị gọi về Kyoto. Tôi mang tiếng thợ may, cầm hộp kim chỉ đi khắp nơi lấy lòng người, nhưng chẳng động tới công việc đó, chỉ dùng thân mình để kiếm sống qua ngày. Chẳng khác nào sợi chỉ xỏ kim mà không gút mối.
CUỘC TÌNH VỤNG TRỘM TẠI QUÁN MÌ
Như trà không nước pha
Nữ phục vụ võ gia
Hiếm khi thấy đàn ông
Chỉ biết nhớ ngày xưa.
Dù có được yêu thích đến đâu đi nữa, nhưng dạo gần đây mỗi lần nhìn thấy cảnh các cô thắt đai lưng tím hoa văn kanoko thật thấp, trễ xuống, là tôi cảm thấy chán ngán. Chẳng hay ho chút nào. Tôi cũng đã lớn tuổi nên phải “chịu lùi một bước”, xin làm người giúp việc trong một năm tại nhà một samurai. Bình thường, tôi mặc chiếc kosode cũ đã qua nhiều lần giặt, bên ngoài là kimono vải. Công việc của tôi ở phòng bên cạnh nhà bếp, lau chùi, dọn dẹp đồ dùng hàng ngày trong nhà. Sáng cũng như tối, khẩu phần ăn của tôi chỉ là bát súp được nấu từ nước luộc gạo lức pha loãng với nước. Vì thế, chẳng mấy chốc thân hình tôi tiều tụy, khí sắc nhợt nhạt đến mức chính tôi cũng không ngờ mình thay đổi đến vậy.
Tuy nhiên, tôi vẫn còn giữ được niềm vui sướng trong lòng khi nghĩ đến những dịp được gặp mặt người đàn ông của lòng mình vào ngày Tết, và giữa tháng 7 khi được nghỉ phép. Như nàng Chức Nữ một năm mới được gặp chàng Ngưu Lang một lần, niềm vui băng qua chiếc cầu ở cổng sau không gì tả xiết.
Khác với ngày thường, tôi khoác lên mình chiếc kimono màu vàng mặt trong có thêu những hoa văn kẻ sọc, cột chiếc đai lưng vải Nishijin màu xanh thẫm, chải và búi tóc hơi thấp, cài một chiếc kim châm có hai đầu chĩa lên, rẽ tóc trước mái, vẽ đậm lại đôi chân mày. Tôi che kín mặt bằng một chiếc khăn đen, chỉ chừa lại hai con mắt. Tôi cho một chugen[14] cầm theo một túi vải được may khéo bằng những mẩu vải vụn. Trong túi là ít gạo mót được của nhà chủ, ít xương gà muối nướng đen và mớ vỏ sò đựng bánh. Những thứ này dùng để lấy lòng bà chủ nhà trọ.
Khi đi qua cổng hoàng cung Sakurada[15], tôi giả vờ:
– Hôm nay bố tôi bị gãy xương nên tôi phải đưa ông ra thành tìm thầy thuốc. Xin hãy nhận chút lòng thành của tôi để mua mấy điếu thuốc lá.
Tôi lấy một ít tiền lẻ từ tay áo ra đưa cho người lính canh.
– Xin cám ơn tấm lòng của cô nương. Thật bất ngờ. Nhưng tôi có nhận cũng vậy. Tôi chỉ làm mọi việc theo lệnh của chủ nhân. Nếu không có việc gì thì tôi đi gánh nước ngoài thành. Cô nương đi cẩn thận.
Anh ta hạ giọng nói chuyện đạo lý. Ra khỏi cổng, chúng tôi men theo con đường phía ngoài cổng thành, đến khu phố sầm uất ở Marunouchi. Nhưng chẳng hiểu có phải do bước chân phụ nữ hay không, đi mãi chẳng thấy tới nơi, tôi cảm thấy sốt ruột. Nhìn lại thì thấy chugen không dẫn tôi đến quán trọ ở Shinbashi mà cứ loanh quanh, luẩn quẩn một chỗ những bốn, năm lần. Tôi lại không rành đường đi nước bước trong phố nên cứ ngơ ngác đi theo ông ta, giật mình nhìn lại thì thấy mặt trời đã đứng bóng. Nhìn kỹ, thấy chừng như người hầu tôi dẫn đi cùng như muốn nói gì đó với tôi. Lựa chỗ vắng người, tôi đứng lại dưới bóng cây rồi kề sát miệng vào tai ông ta:
– Ông có gì muốn nói với tôi sao?
Chugen nọ tỏ vẻ vui mừng,vừa xoay chuôi đao vỏ đã mẻ hết một miếng vừa nói:
– Vì nàng, cho dù phải hi sinh cả tính mạng ta cũng không hối tiếc. Bà vợ dưới quê của ta có căm ghét cũng chịu. Ta đã bảy hai tuổi, không dối nàng lời nào. Nàng có nghĩ ta trơ trẽn cũng không sao. Nhưng có thần Phật chứng giám, nếu ta nói có gì sai thì xuống địa ngục ngay lập tức. Ta chưa từng lừa người dù chỉ một cây tăm.
Cái miệng liến thoắng với bộ ria mép kia trông thật hoạt ngôn. Tôi nói:
– Ông chỉ cần nói bị trúng sét ái tình với tôi là được rồi.
Thế là ông ta rưng rưng nước mắt:
– Nàng đã đoán trúng tình cảm của người khác đến mức đó, vậy mà vẫn để họ phải dông dài như vậy, thật không quá đáng sao?
Ông ta thành thật nói vậy khiến tôi mủi lòng. Chỉ cần đến nhà trọ là có thể làm được việc muốn làm nhưng đằng này, trái tim dao động khiến tôi không thể chờ đến lúc ấy, đành vứt cả sĩ diện, bước vào một quán mì, tôi nói:
– Cho tôi bát mì.
Tôi nhìn vào mắt bà chủ quán. Bà ta cũng nhanh chóng hiểu ý và chỉ chúng tôi đến chân cầu thang lên gác. Lên đến trên gác, bà chủ nhắc “đầu, cái đầu”, nhìn lại mới hiểu, thì ra trần nhà khá thấp, nếu đứng thì không thoải mái lắm. Một gian phòng chừng hai chiếu, một bên dán giấy, một bên trổ cánh cửa sổ để lấy ánh sáng, có hai cái gối làm bằng gỗ để sẵn. Nhìn là biết không chỉ hôm nay họ mới làm vậy, và không chỉ đơn giản là một tiệm mì.
Người hầu lớn tuổi phấn khích nói hết chuyện này đến chuyện kia nghe đến phát chán nhưng chỉ rụt rè thu cả người lại, mặt đỏ gay. Thấy vậy, tôi bắt đầu cởi sợi đai lưng tím hơi cứng giúp ông ta. Ông ta thoải mái hơn một chút, phân trần:
– Đai lưng ta giặt bốn, năm ngày trước.
Tôi nắm lấy tai ông ta kéo lại gần, đấm bóp lưng cho ông ta mạnh đến mức đau ê ẩm nhưng ông ta chỉ đỏ mặt tía tai rồi thôi, chẳng có tác dụng gì. Đã cất công đến đây vậy mà thật đáng tiếc, tôi vừa nói:
– Trời vẫn còn sáng...
Và luồn tay vào dưới nách ông ta. Ông ta thình lình ngóc dậy, tôi còn đang chờ đợi “đến lúc rồi” thì ông ta lại nói một câu thành ngữ cổ xưa, đại loại “xưa là bảo kiếm, nay chỉ là dao thái rau. Vào hang động chứa đầy châu báu mà chịu về tay không” rồi luống cuống buộc đai lưng lại. Vừa lúc có tiếng người ở dưới vọng lên. Bà chủ tiệm mì bước lên chừng hai bậc thang và nói giọng thúc giục:
– Mì udon nở hết rồi!
Cuối cùng, ông ta cũng đành bỏ cuộc. Thử nhìn xuống bên dưới, tôi thấy một yatsuko[16] đầu cạo kiểu sakayaki chỉ chừa hai mép tóc và búi sau đầu, đi cùng một người zoritori[17] chừng hai bốn, hai lăm tuổi. Thoáng nhìn tôi hiểu ngay đây là một đôi nam sắc[18] đang cần chỗ tâm tình.
– Vâng!
Nói rồi tôi rút một ít tiền lẻ từ trong túi đặt sát mép cái mâm tròn rồi nói lời cảm ơn, rời quán. Chưa ra khỏi cửa mà tôi vẫn nghe tiếng cười phía sau:
– Bố già vừa rồi sướng như mơ nhỉ. Edo đúng là rộng.
– Không làm gì cả mà bị nghĩ vậy thật tức nhỉ. Tất cả mọi việc khi còn trẻ nếu không làm thì già rồi lại càng không thể. Không phải lỗi của ông. – Tôi nói với ông ta và cũng an ủi chính mình.
Trên đường đi, tôi ngẫm thấy đời người trước lỗ huyệt sao thật vô thường. Đến nhà trọ ở Shinbashi, tôi hỏi:
– Có gì thay đổi không?
– À, Okame, đứa con gái mà cô thương quý đã chết vào mùa đông năm ngoái, sau khi bị bệnh đâu chừng hai, ba ngày. Trước khi chết, nó cứ hỏi “cô đâu?” mãi.
Bà chủ nói rồi bật khóc.
– Con bé còn nhỏ, nên cũng đành chịu. Còn tôi, chẳng mấy khi có ngày nghỉ, không phải đến để nghe mấy chuyện đó. Có người nào trẻ hơn anh chàng kachi samurai[19] lần trước không?
NGƯỜI GIÚP VUI CỦA BÀ CHỦ
Lạc đến Sakai làm nakai[20]
Nào ngờ đời trớ trêu
Người chủ kia là bà lão háo sắc
Chuyện này chỉ muốn mình ta biết.
Tuy thân phận nữ nhi, tôi đã làm qua nhiều công việc khác nhau, lúc nơi này, lúc nơi khác và không gì thú vị bằng điều đó. Tôi đã lặn lội từ Edo đến Kyoto, Osaka trong suốt một thời gian dài như thế. Nhưng tôi đã mệt mỏi với những gì trải qua nên vào mùa thu năm ấy tôi chuyển đến Sakai, tỉnh Izumi. “Sống ở đây, biết đâu lại có thể tìm được những kinh nghiệm mới”, tôi nghĩ. Tôi đến khu phố Nishiki, phía Tây Nakahama. Ở đây có tiệm giới thiệu việc làm gọi là Zenkuro nên tôi đến nhờ xin một việc làm công ở đâu đó. Nhưng cho đến lúc tìm được việc, đã có không ít phiền phức. Đầu tiên họ nằng nặc đòi tôi phải trả sáu monme một ngày cho khoản tiền chi phí lặt vặt. Được vài hôm thì có người quản gia một nhà giàu có ẩn cư[21] trên đại lộ Daidosuji đến tìm người giúp việc để làm công việc sớm tối dọn chăn nệm. Ngay khi thấy tôi, bà ta nói:
– Tuổi tác cũng vừa phải, đúng như mong muốn. Ngoại hình cũng vừa mắt, ăn mặc sạch sẽ, tinh tươm. Không có chút khuyết điểm nào. Chắc chắn sẽ là người giúp việc được yêu thích đây.
Nói rồi bà ta trả trước tiền lương mà không kì kèo bớt một thêm hai. Nhũ mẫu làm việc lâu năm trong gia đình vui mừng dẫn tôi về. Trên đường đi, bà ấy vui vẻ chỉ bảo mọi việc để tôi trở thành người giúp việc tốt.
Tuy khuôn mặt xấu xí nhưng bà ấy rất tử tế, biết quan tâm đến người khác. Điều này khiến tôi vui mừng “trên đời này vẫn còn có người tử tế” và yên tâm lắng nghe những lời chỉ bảo.
– Điều cần nhớ đầu tiên là bất cứ người đàn bà nào cũng đều ghen tuông. Bà chủ cũng thế, rất hay ghen. Bà ấy cũng rất ghét nói chuyện với các người phục vụ cửa hàng. Cho nên, đừng nói là chuyện yêu đương, trai gái của thiên hạ, cho dù có thấy “chim, gà làm mấy chuyện ấy” thì cũng nhắm mắt giả lơ xem như không thấy. Đối với những chuyện “đầu đường xó chợ” như thế, tốt nhất là cô không nên biết, không nên nghe và để tâm làm gì. Tiếp theo phải ghi nhớ rằng bà ấy là tín đồ của phái Pháp Hoa nên đừng niệm Phật dù chỉ là giả bộ. Con mèo trắng đeo vòng cổ là thú cưng của nhà chủ nên nó có ăn vụng cá thì cũng đừng chạy theo đánh đuổi. Bà chủ ở nhà trên rất hống hách, bà ấy có mắng chửi, phách lối thế nào thì cứ nghe qua rồi bỏ ngoài tai, đừng để bụng. Khi bà ấy được đưa vào gia đình này, bà ấy cũng chỉ là một người hầu phục vụ cho người vợ quá cố của ông chủ. Tôi không biết rõ mọi chuyện của ông chủ ra sao nhưng khi vợ ông qua đời vì bị cảm thì ông đã kết hôn với cô hầu gái giúp việc, đúng là khác người. Phải chi cô ta xinh đẹp thì không nói gì, đằng này không xinh đẹp gì, lại là kẻ cơ hội vậy mà hống hách, đòi hỏi vô cùng. Ngay cả khi đi ra ngoài thì trong kiệu luôn phải có tấm đệm dày, vậy mà không bị gãy lưng thì đúng lạ.
Bà ta vừa đi vừa nói xấu bà chủ hết lời. Vì có tai nên tôi đành phải nghe chứ càng nghe càng cười không nổi.
– Mặc dù hầu hết các gia đình dùng gạo đỏ để nấu cơm nhưng nhà này, sáng tối đều dùng loại gạo cao cấp Tenshu sản xuất từ vùng Banshu vì bà ấy thích. Tương miso thì bà ấy sai người đến một tiệm rượu[22] của người con rể để lấy khi cần. Bồn tắm nước nóng ngày nào cũng đun nên không tắm thì phí, đúng không. Vào dịp lễ, Tết, gia đình này nhận được rất nhiều gạo nếp, cá, quà cáp của từ bà con, họ hàng khắp nơi, toàn những món quý hiếm. Sakai rộng vậy chứ từ khu phố Oshoji xuống phía Nam, không nhà nào là không mượn tiền nhà này. Cái nhà góc[23] phố đi từ đây về hướng Đông Bắc hai phố cũng là của người hầu xuất thân nhà này đấy.
Bà ta tiếp tục kể mà không dừng lại.
– Chắc cô chưa từng được xem lễ hội Sumiyoshi nhỉ? Cũng còn lâu mới đến lễ hội nhưng đêm trước lễ hội, cả nhà sẽ phải đến một nơi. Mà nói chi chuyện xa xôi, khi đi ngắm hoa tử đằng ở Minato, cả nhà lại lót lá trúc vào hộp, xới cơm đỏ đầy hộp để đem đi. Cũng là phận người hầu, nô bộc nhưng được ở nhà chủ thế này thì phải nói là quá may mắn. Cứ ngoan ngoãn làm việc có khi còn được nhà chủ cho đi làm dâu. Có điều, vì đã ẩn cư nên bà ấy chỉ thích một mình, có nói gì cũng đừng cãi lại. Nhất định không thóc mách ra ngoài chuyện trong nhà chủ. Người già có hơi nóng tính, nhưng chỉ lúc đó thôi, chẳng để bụng về sau đâu. Cô hãy cố gắng để được chủ thương. Chẳng mấy người biết chứ, lúc ẩn cư nhà chủ cũng được chia phần, đem theo ít nhiều tiền của nên nói không phải chứ nay mai chủ có mất, biết đâu người hầu chúng ta cũng có phần. Chủ nhân cũng bảy mươi rồi, da dẻ nhăn nheo, tuổi “thất thập cổ lai hi” nên có muốn gì cũng chẳng được. Tuy chỉ mới quen biết nhưng thấy cô hiền lành nên tôi mới nói.
Bà ấy chẳng giấu chuyện gì, chỉ bảo từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ trong nhà chủ cho tôi nghe. “Mấy ông già như vậy thì vấn đề ở cách cư xử của mình thôi. Trong thời gian làm việc, nếu có cơ hội thì sẽ tìm cách có con với người tình rồi nói đó là con ông chủ, khéo léo bảo ông ta viết sẵn di chúc trong đó để lại một phần tài sản cho mình. Nếu được như vậy thì mình sẽ không phải lo lắng cho cuộc sống sau này”. Trong đầu tôi đã vạch sẵn như vậy. Nghĩ đến đó thì cũng vừa lúc đến nơi.
– Nào, đến rồi. Cô vào đi.
Nhũ mẫu nói rồi vào nhà trước. Tôi đi đến giữa cửa, cởi dép ra và bước vào phòng khách. Vừa ngồi xuống thì một người phụ nữ đi về phía tôi. Ngay lập tức tôi nhận ra đó là nữ chủ nhân mới của tôi. Mặc dù bà ta đã 70 tuổi nhưng nhìn rất khỏe mạnh. Người phụ nữ lớn tuổi này nhìn tôi với ánh mắt chăm chăm như thể muốn khoan một lỗ qua người tôi.
– Không có gì đáng chê, điểm nào cũng hơn người.
Bà ta chỉ nói vậy rồi không nói thêm lời nào nữa. “Vậy ta tính sai rồi. Đi hầu cho bà già này thì có ý nghĩa gì nữa”, tôi hối hận. Nhưng rồi tôi bị mềm lòng bởi những lời bùi tai “Nửa năm trôi qua mau thôi. Ở nơi này chịu cực một chút có đáng gì đâu”. Tôi quyết định làm công ở đây.
Cửa tiệm ở đây cũng như Kyoto, chẳng khác gì mấy nhưng bận rộn vô cùng. Nam thì đạp cối giã liên hồi, nữ thì may tất vải không ngơi tay. Công việc lúc nào cũng đầu tắt mặt tối. Trong nhà có chừng năm, bảy người giúp việc nữ. Tất cả đều có công việc riêng. Chỉ có tôi ban ngày rảnh rang nhìn họ làm việc, nhưng đến đêm thì được lệnh “dọn giường”. Nếu chỉ vậy thì tôi hiểu nhưng điều đó còn có nghĩa “ngủ chung với bà chủ” thì quả thật tôi không thể nào nghĩ đến. Nhưng đây là mệnh lệnh của chủ nhân nên tôi không thể trái lời. Cứ nghĩ sẽ bị bắt “đấm lưng này nọ” nhưng cũng không phải mà tôi sẽ đóng vai người nữ và bà chủ đóng vai nam trong tình huống yêu đương. Quả là một công việc kỳ quặc và phiền phức không tả nổi.
Trong cái thế giới phù du rộng lớn này tôi đã làm việc ở nhiều nơi khác nhau với nhiều thân phận: người phục vụ, người giúp vui... nhưng chưa bao giờ tôi được sử dụng như cái cách mà bà ta hiện đang làm. Điều này là một sự ám ảnh khó quên. Bà chủ ẩn cư này thường có câu nói cửa miệng: “Kiếp sau ta nhất định phải là đàn ông, tự do làm những gì mình muốn”.
❀ ❀ ❀
[1] * Ở đây có ý chơi chữ. Núi Fuji (Phú Sỹ) cùng chữ “đốt” và tên người nữ quán trà Fuji nghĩ về đàn ông.
[2] * Cách diễn đạt trong tiếng Nhật là “nông cạn chỉ đến đầu mũi”.
[3] * Kanmoku (quán mục): đơn vị tiền tệ có giá trị cao thời bấy giờ.
[4] * Osaka.
[5] * Đương thời, có phong tục chú rể trả tiền để đêm tân hôn ngủ với người theo phụ cô dâu do cô dâu còn quá nhỏ. Vì vậy đề mục này mới để “Thân phận thế dâu”. Nếu không ngủ với người này có thể bị dè bỉu keo kiệt hoặc không có tiền nên chú rể nào cũng làm việc này vì sĩ diện.
[6] * Vị Thiên hoàng thứ 46 của Nhật Bản.
[7] * Tên gọi cũ của Nhật Bản.
[8] * Một trong tám khổ ải (bát khổ) trong thuyết nhà Phật.
[9] * Một đầu có bôi lưu huỳnh.
[10] * Thác nước dưới thiền viện trong ngôi đền cổ lâu đời Kiyomizu, Kyoto.
[11] * Vừa chỉ “loạn Shimabara” thời Edo vừa chỉ làng du nữ Shimabara ở Kyoto.
[12] * Ngày quyết toán của cửa tiệm. Thời bấy giờ, một năm kinh doanh được chia thành 5 tiết trong một năm và có 5 ngày quyết toán quan trọng: ngày 2 tháng 3, ngày 4 tháng 5, ngày 14 tháng 7, ngày 8 tháng 9 và ngày cuối năm.
[13] * Thần Phúc, đem lại may mắn, tiền của cho nhà chủ.
[14] *Chugen (trung gian): người hầu lớn tuổi, địa vị thấp kém nhất trong nhà võ gia.
[15] * Một cổng ra vào bên trong thành Edo, nằm ở phía Tây Nam con kênh đào trong thành.
[16] * Nô bộc của samurai.
[17] * Người phục vụ mang dép cho samurai.
[18] *Đồng tính nam.
[19] * Samurai cấp bậc thấp, chạy việc cho chủ.
[20] * Nakai (trung cư): người hầu cho phu nhân nhà chủ, địa vị thấp kém.
[21] * Ẩn cư ở đây có nghĩa giao lại công việc người trong nhà, không tham gia việc buôn bán, kinh doanh nữa.
[22] * Thời này, nhiều tiệm kinh doanh cả rượu và tương.
[23] * Nhà có giá trị cao thời bấy giờ.