Tìm đến hỏi thăm người phụ nữ xinh đẹp ẩn cư
Càng nghe càng thấy cuốn hút
Từng nghe danh hoa anh đào nơi này
Phụ nữ ở đâu cũng có nhưng đẹp thế này thì chỉ nơi đây
Với người đẹp nổi bật trong ngàn người
Tiếc gì tiền sính lễ hai trăm lượng
Đã ngắm nhìn du nữ Shimabara [1]
Lá đỏ, trăng thu, thanh nữ đều không đáng kể.
NGÔI NHÀ CỦA BÀ LÃO ẨN CƯ
Nghe lời đồn, ta tìm đến hỏi thăm
Người phụ nữ xinh đẹp nơi kinh thành
Hỏi chuyện xưa để được nghe người kể
Một cuộc đời chìm đắm trong cõi phù sinh.
Cổ nhân có nói: “Người đàn bà đẹp như lưỡi rìu đốn ngã cuộc đời những người đàn ông”[2]. Như những bông hoa sớm nở tối tàn, như những thân cây bị đem làm củi, ai rồi cũng không tránh khỏi sanh, lão, bệnh, tử. Những người đắm chìm trong sắc dục để đến nỗi chết trẻ như những bông hoa vội lìa cánh trước gió sớm mai thì thật ngu muội. Nhưng những con người như thế lại cứ xuất hiện không ngừng.
Đầu ngày Nhân nhật[3], tôi có việc phải tới Saga[4], phía Tây kinh đô. Dọc nhánh sông Umezu, những bông hoa mơ đã bắt đầu hé nở như báo hiệu mùa xuân đang đến. Khi đi ngang qua con sông, tôi tình cờ thấy một thanh niên dáng vẻ phong lưu nhưng áo quần xộc xệch, sắc mặt xanh xao do đắm chìm trong tình ái, trông chẳng còn sống được bao lâu, rồi sẽ sớm bỏ lại cha mẹ mà rời bỏ cõi nhân gian mà thôi. Chàng ta nói:
– Lâu nay tôi chẳng thiếu bất cứ thứ gì trong thế giới này. Nay chỉ muốn như dòng chảy con sông này, nước trong xanh không bao giờ cạn.
Người bạn đi cùng ngạc nhiên:
– Còn tôi, liệu có thế giới nào không bóng dáng phụ nữ không nhỉ? Tôi sẽ đến đó sống yên tĩnh, để sinh mạng này kéo dài thật lâu mà chứng kiến mọi sự thay đổi của thế gian.
Ước mơ của hai người khác nhau hoàn toàn. Tuy đã sống ít nhiều ở đời nhưng họ nói với nhau những lời bông đùa thiếu thực tế, như đang trong cõi mộng. Họ đi dọc theo con đường ven sông, không ngần ngại giẫm lên đám cỏ dại và những bụi cúc gai đang nhú, hướng về vùng núi phía Bắc xa kinh đô.
Tôi tò mò, âm thầm đi theo họ đến tận một ngôi nhà ở đồi thông. Dãy hàng rào thấp, thưa thớt làm bằng cỏ khô, cánh cổng được đan bằng những khóm trúc mỏng, cái lỗ nhỏ cho chó chui qua đã tả tơi nhiều. Cách đó, trong góc là ngôi nhà trông có vẻ yên bình với mái hiên nhô ra từ vách đá, bị che phủ bởi những bụi dương xỉ và dây leo thường xuân đã khô héo còn sót lại từ mùa thu năm ngoái.
Dưới gốc liễu phía Đông, tôi nghe rõ âm thanh trong trẻo của dòng nước chảy qua chiếc máng tre. Tôi tự hỏi liệu ngôi nhà hoang vắng này có phải là nơi ẩn cư của vị tu sĩ nào đó hay không? Thật bất ngờ khi thấy chủ nhân là một bà lão dáng vẻ quý phái dù lưng đã còng, tóc đã bạc và đôi mắt đã mờ. Bà lão mặc chiếc kimono nhuộm màu xanh da trời điểm xuyến hoa văn hình hoa cúc, chiếc đai lưng bản nhỏ có hình hoa lăng[5] được ưa chuộng bấy giờ, thắt nơ phía trước. Tuy đã có tuổi nhưng trang phục như thế vẫn không có gì khó coi. Trên tấm biển gỗ cũ bạc màu mưa nắng gắn trước căn phòng có vẻ là phòng ngủ ghi dòng chữ “Am háo sắc”. Mùi trầm hương phảng phất quanh đây hẳn là mùi hương hatsune[6] trứ danh lưu truyền lâu nay.
Tôi đứng ngoài hàng rào một lúc lâu và nhìn chằm chằm vào ngôi nhà, lòng hiếu kỳ càng lúc càng tăng khiến trái tim tôi như muốn bay ra khỏi lồng ngực để xuyên vào nhà qua lối cửa sổ. Hai chàng trai tôi đi theo bước vào trong như đã quá quen thuộc nơi này. Bà lão thấy họ liền mỉm cười:
– Hôm nay lại đến thăm tôi sao? Ngoài kia không thiếu những thiếu nữ quyến rũ, tận tình, sao lại tìm đến đóa hoa đã tàn phai hương sắc, nghễnh ngãng, ăn nói chậm chạp này? Bản thân tôi cũng đã trở nên chán ghét thế gian nên lui về đây sinh sống. Đã bảy năm trôi qua. Tôi chỉ biết xuân đến khi thấy những cánh hoa mơ hé nở và đông về khi thấy những chùm tuyết trắng rơi xuống phủ kín rặng núi xanh quanh đây. Hiếm khi nào thấy ai đặt chân đến đây. Tại sao các ngài lại đến thăm tôi?
Nghe những lời này, một trong hai người đáp:
– Bạn tôi phiền lụy vì tình yêu, tôi cũng chịu nhiều đau buồn trong chuyện tình cảm, đến nay vẫn không thể phân biệt được thế nào là tình yêu thực sự nên đã tìm đường[7] đến đây. Xin hãy kể cho chúng tôi nghe những kinh nghiệm quý giá của bà trong quá khứ.
Chàng trai nói rồi rót rượu vào chiếc chén vàng tuyệt đẹp. Bà lão không thể chối từ, chẳng mấy chốc thì bắt đầu ngà ngà say. Thế rồi bà lão đem đàn koto[8] ra gảy và bắt đầu hát những bài tình ca. Đến lúc cao hứng, như trong một giấc mơ, bà lão bắt đầu kể lại những câu chuyện tình và những thăng trầm tình ái trong đời.
“Tôi vốn không phải hàng tiện dân. Tuy mẹ tôi chỉ là dân thường nhưng cha tôi thuộc dòng dõi quý tộc giàu có thời Thiên hoàng Hanazono[9] trị vì. Nhưng rồi cũng như bao chuyện thường xảy ra ở đời, thất thế, lụn bại khiến gia đình tôi lâm vào cảnh khốn khổ. Nhưng nhờ khuôn mặt khả ái, tôi được vào làm cung nữ tối cao trong đại nội và quen với cuộc sống phong lưu, vương giả trong cung từ đó. Thế rồi, sau nhiều năm phục vụ, từ đầu hè năm mười một tuổi, tôi bắt đầu thấy bức bối không yên, khó chịu với cả kiểu tóc do người khác búi cho. Kiểu nageshimada[10] không để búi tóc ra sau, hay kiểu motoyui tôi đều bỏ công búi lại theo ý thích của mình. Kể từ đó về sau, sáng cũng như tối, tôi luôn bận tâm đến những kiểu hoa văn, màu sắc được ưa chuộng trong cung[11].
Tuy nhiên, đời sống của các quý tộc, vương tử, từ thơ ca đến trò đá cầu kemari[12] đều xoay quanh sắc màu luyến ái không khi nào ngưng. Mắt thấy, tai nghe nhiều chuyện khiến lòng tôi rung động, tự mình tìm đến con đường yêu đương. Nhưng đó cũng là khoảng thời gian đầu tiên tôi nhận ra mình đang đi trên con đường buồn bã dường nào. Mọi lá thư tình của những người lui tới với tôi lúc ấy đều có tâm trạng buồn thương, hoài nhớ, nhiều đến mức chẳng mấy chốc đã không có chỗ vứt. Tôi đành nhờ người lính canh ít nói đốt chúng thành tro bụi[13]. Tên những vị thần làm chứng cho những cuộc tình được viết trong thư[14] tuy không bị đốt thì cũng đã bay về đền Yoshida[15].
Không có gì khó hiểu như tình yêu. Có rất nhiều trang nam tử hào hoa, áo quần xông xênh đến cầu xin tình yêu nơi tôi nhưng không ai trong số họ làm tôi xao xuyến như chàng samurai trẻ tuổi, địa vị thấp kém, người hầu của một quý tộc. Ngay từ lá thư đầu tiên, chàng đã viết những lời yêu thương tha thiết khiến tôi muốn dâng trọn cuộc đời mình. Những bức thư càng về sau càng nồng nàn, tha thiết hơn và không biết từ lúc nào, trái tim tôi bắt đầu cảm thấy đau khổ khi chúng tôi không được gặp nhau. Chúng tôi tìm đủ mọi cách để có thể gặp mặt và rồi tôi đã trao thân gửi phận cho chàng. Tiếng đồn lan ra là điều không thể tránh khỏi.
Ngày nọ cuộc gặp bí mật của chúng tôi vào sớm mai bị phát hiện[16]. Tôi bị đuổi về nhà ở vùng ven Cầu Uji[17], tuy rất đau buồn nhưng chỉ nhất thời. Chàng samurai vì việc đó buộc phải chịu tội chết. Bốn, năm ngày sau đó, hình ảnh chàng vài lần hiện lên bên gối khi tôi trong trạng thái nửa thức nửa ngủ khiến tôi hoảng sợ vô cùng. Tôi nghĩ rằng không thể cứ mãi đau buồn như thế và vài ngày sau, tôi hoàn toàn quên hẳn chàng. Điều này có thể khẳng định rằng trên thế giới này không có gì nông cạn và dễ thay đổi như trái tim của người con gái. Lúc đó, tôi mới mười ba tuổi nên mọi người cũng rộng lượng bỏ qua những lỗi lầm của tôi. Có lẽ họ nghĩ rằng không thể nào một đứa bé lại sớm bị sắc tình lôi kéo như thế.
Dịch nghĩa: Buổi sớm mai.
Uji nokawa giri (宇治の川霧) - Màn sương che phủ cầu Uji
Taedae ni(たえだえに) - Dần dần tan
Araware wataru(あらはれ渡る) - Từ đó hiện lên
Seze no ajirogi. (瀬々の代木) - Bãi cọc của dòng sông.
Ngày xưa[18], khi người con gái đến tuổi trưởng thành và sắp sửa về nhà chồng, nàng sẽ khóc đẫm ướt ống tay áo với suy nghĩ từ bây giờ phải rời xa cha mẹ. Nhưng ngày nay các cô gái đã sớm hiểu biết việc đời, biết ngóng chờ bà mai, vội thay xiêm áo, chờ kiệu hoa đến rước[19] và nhảy lên đó với vẻ mặt tràn ngập niềm vui sướng. Cách đây bốn mươi năm, những nàng con gái mười tám, mười chín tuổi vẫn còn chơi trò đi cà kheo yêu thích trước cửa nhà; các chàng trai trẻ vẫn chờ đến hai lăm tuổi để làm lễ trưởng thành. Nhưng thế gian đã thay đổi quá nhiều. Từ nụ hoa tình yêu những buổi ban đầu, tôi đã để hồn mình rơi xuống thung lũng hoa đầy sắc[20], phó mặc cuộc đời. Nay mới thấy mình đã sống một cuộc đời dài lâu vô nghĩa.”
VŨ KHÚC HỘI HÈ
Như những cánh hoa anh đào chùa Kyomizu[21]
Điệu múa dịu dàng của người con gái
Người con gái xinh đẹp kia ơi, con cái nhà ai
Phải chăng nàng ở phố Gion[22] chốn này?
Người ta nói rằng Kamigyo và Shimogyo[23] khác nhau trong tất cả mọi thứ. Vùng Kamigyo, sắc màu của những chiếc áo kimono phai nhạt theo thời gian[24], các cô gái trong những chiếc kimono đầy màu sắc và mái tóc theo phong cách agemaki vừa đi vừa múa vũ điệu Komachi[25] theo nhịp của những chiếc trống nhỏ, chậm rãi, yên tĩnh đến tận đường Shijo với dáng vẻ quý phái. Thế nhưng, từ đó trở xuống vùng Shimogyo phía Nam Kyoto, bầu không khí thay đổi hẳn, tiếng reo hò trở nên giục giã, tiếng chân trở nên vội vã và vang khắp phố phường. Trong không khí đó, người có thể bắt nhịp chính xác theo từng tiếng vỗ tay cùng sự ngắt quãng nhanh chậm của tiếng trống mới đúng là “nghệ nhân” thực sự trong đám đông người.
Vào thời Manji[26], có người hát rong mù tên Shuraku, từ vùng gần sông Abe[27], tỉnh Suruga(28) đã xuống Edo[28] và thường xuyên biểu diễn tài nghệ của mình để giúp vui cho gia đình lãnh chúa và những võ sĩ samurai. Anh ta có thể chui vào bức bình phong bằng giấy, một mình đóng vai của tám người với các nhạc cụ khác nhau[29], không chút lúng túng. Sau đó, anh ta đi khắp nơi để truyền bá nghệ thuật này và lên đến Kyoto. Đặc biệt, anh ta còn nghĩ ra một điệu múa phong tình để dạy cho nhiều người. Nhiều cô gái tìm đến học với mong muốn sau này có thể kiếm sống từ nó. Đây không phải là nghệ thuật onna kabuki[30]. Các cô gái xinh đẹp học các nghệ thuật này để giúp vui cho các quý phu nhân hàng đêm.
* Manji (Vạn Trị) là niên hiệu chung chỉ giai đoạn 1658 ~ 4/1661.
Trang phục của các vũ nữ thường theo khuôn mẫu. Bên trong là chiếc áo lót với cổ và ống tay áo được lật mặt cho thấy phần lụa đỏ bên trong, tiếp theo là chiếc áo tay ngắn bằng lụa trắng với hoa văn chạy chỉ bằng vàng hoặc bạc, đệm phía sau cổ áo là một miếng lót mỏng màu đen có thể tháo rời. Đai lưng ba màu kiểu xoắn trái được buộc phía sau. Họ luôn đeo một thanh kiếm ngắn bằng gỗ mạ vàng, kèm theo một túi nhỏ bên hông để đựng thuốc và tiền. Có người cạo nhẵn phần tóc chính giữa, hoặc để chùm tóc mai ở hai bên được chải đứng như kiểu tóc của wakashu[31].
Tại các buổi tiệc, họ hát múa và rót rượu, sau đó bưng thức ăn mời khách. Nếu khách mời là các samurai từ xứ khác đến hoặc những người đàn ông lớn tuổi thì có đến năm, bảy thiếu nữ tiếp chuyện giúp vui. Các thiếu nữ này thường mời khách đến vùng núi Higashi[32], vui say tiệc tùng. Có điều, họ quá trẻ nên những người khách vẫn thấy bữa tiệc thiếu thiếu điều gì đó. Mỗi cô gái nhận được một khoản tiền thưởng nho nhỏ tượng trưng, chừng một phần tư lượng.
Các cô gái xinh đẹp này chỉ chừng mười một mười hai, nhiều lắm cũng chỉ mười ba tuổi nhưng quen việc, biết lấy lòng khách hơn cả những cô gái học nghề lâu năm ở khu phố Naniwa[33]. Cứ như vậy cho đến lớn, khi mười bốn mười lăm tuổi, các cô biết cách để khách không dễ dàng ra về. Nhưng điều này không có nghĩa họ có thể chủ động ép buộc, lôi kéo khách. Thay vào đó, các cô sẽ tỏ ra ngoan ngoãn, cố gắng phục vụ theo ý khách. Đến thời điểm quan trọng, khi người khách tỏ vẻ thân mật hơn, nhân đó các cô khéo léo thầm thì, mời gọi khách:
– Nếu chàng nghĩ đến em như vậy, hãy một mình lặng lẽ đến chỗ chủ em. Chúng ta có thể giả vờ say rượu nên không hay biết gì. Khi đi ngủ, chàng có thể tặng những người chơi nhạc cụ một món tiền thưởng nhỏ, chắc chắn họ sẽ giúp ta tạo bầu không khí huyên náo. Nhờ đó chúng ta có thể sử dụng thời gian một cách tuyệt vời để làm những việc mình muốn, thưa chàng.
Thậm chí, có cô khéo léo quyến rũ những người khách phương xa để kiếm món tiền thưởng hậu hĩnh. Chỉ những người ngây thơ mới không biết rằng họ được thoải mái lựa chọn vũ nữ và tiền thưởng dành cho các cô, dù được ưa chuộng thế nào cũng được quy định chỉ một đồng bạc.
Khi còn bé, tuy tôi không làm nghề vũ nữ, nhưng rất thích cách ăn mặc của họ. Do vậy, tôi đã từ Uji đến Kyoto để học cái nghề được yêu thích này. Do từ nhỏ vốn giỏi nhảy múa, lại được nhiều người ngợi khen nên tôi dần dấn sâu vào chốn này, bỏ ngoài tai những lời khuyên bảo “nghề nay về sau chẳng ích gì đâu, thôi đi”. Tôi nhanh chóng trở thành người nổi bật trong giới. Thỉnh thoảng, tôi còn được xuất hiện trong các dịp lễ hội xa hoa. Tuy nhiên, trong những dịp như thế, mẹ tôi luôn đi cùng nên tôi hoàn toàn không thể có chút cử chỉ, hành vi thấp kém như các cô gái khác. Nhiều người khách đã vô cùng đau khổ vì không thể có được tôi, thậm chí có người chết vì đau khổ, tương tư.
Dạo ấy, có người phụ nữ từ Shikoku đến Kyoto thuê nhà ở phố Kawara để nghỉ dưỡng. Cô ta ở đó từ những ngày lễ hội Gion tháng 6 cho đến khi những đụn tuyết trắng phủ đầy ngọn núi phía Bắc. Tuy nói bị bệnh nhưng thần sắc trông không đến nỗi phải thuốc thang. Hàng ngày cô ta vẫn đi lại bằng chiếc kiệu có người đưa đón. Một lần, sau khi thấy tôi ở gần sông Takase[34], cô ấy đã cho người gọi tôi đến nhà. Từ đầu đến cuối, hai vợ chồng họ đối xử với tôi rất tốt. Họ cũng không tìm ra điều gì để có thể chê trách trong cách cư xử của tôi. Thậm chí họ còn nói rằng không cần suy nghĩ mà sẽ chấp nhận tôi làm vợ cho con trai duy nhất của họ ở quê nhà. Việc này có nghĩa tôi chắc chắn sẽ có một tương lai tốt đẹp.
Tuy nhiên, có thể nói chưa từng thấy người nào ở kinh đô lẫn vùng thôn quê lại có ngoại hình xấu xí như người vợ này. Ngược lại, vẻ đẹp của người chồng thì ngay cả trong Hoàng cung cũng ít có ai sánh kịp.
Xem tôi chỉ là một đứa trẻ chưa biết đến tình cảm nam nữ nên họ yên tâm đặt tôi nằm giữa khi đi ngủ. Những lúc hai người chăn gối, tôi đã phải nghiến răng chịu đựng, nghĩ thầm trong bụng “tôi đã biết rõ mấy chuyện này từ ba năm trước rồi cơ”.
Một đêm nọ, tôi bất chợt thức giấc và đang thao thức, buồn bã thì tình cờ, chân người chồng chạm vào cơ thể tôi. Tôi quên hết mọi thứ, dỏng tai nghe tiếng ngáy của người vợ rồi chui vào dưới áo người chồng, quyến rũ ông ta. Thế rồi tôi đắm chìm trong cuộc tình ấy, không thể nào thoát ra được. Chẳng mấy chốc, bị người vợ phát hiện, mọi chuyện bại lộ. “Đúng là không thể không để tâm với người ở chốn kinh đô này. Ở xứ ta, con gái tuổi này vẫn còn chơi cà kheo trước cổng, vậy mà...”, nói rồi cô ta cười to, đuổi tôi về lại với mẹ cha.
NGƯỜI THIẾP XINH ĐẸP CỦA LÃNH CHÚA
Làm thiếp trong ba mươi ngày
Con gái nhà khá giả mơ bước ra đường đời
Người xinh đẹp như thế
Dễ gì mà có được
Chỉ còn cầu mong thôi.
Trong những ngày yên bình, các cơn gió thổi qua cũng chỉ khiến đám lá thông khẽ lay động mà không hề làm khuấy động đến sự yên tĩnh của Edo[35]. Sau khi vợ của lãnh chúa nọ ở Edo mất, gia nhân người trên kẻ dưới đều lo lắng về việc dòng họ lãnh chúa sẽ không có người thừa kế[36] nên đã chọn hơn bốn mươi cô gái xinh đẹp, tất cả đều tốt về dòng giống. Sau đó, nhờ nữ quản gia chuyên lo mọi việc trong hậu cung chuẩn bị, sắp xếp, lựa lúc lãnh chúa tâm trạng vui vẻ mà đưa vào phục vụ để được chủ nhân ban “ân sủng”. Những thiếu nữ được lựa chọn này còn rất trẻ và tràn đầy sức sống. Họ như những nụ anh đào mới vừa hé nở, chỉ cần một cơn mưa xuân[37] đến sẽ phô diễn vẻ đẹp xuân thì khiến bất kỳ ai cũng có thể ngắm hoài không chán. Vậy mà trong số các cô gái hương sắc như thế, không ai lọt được vào mắt xanh của lãnh chúa. Nguyên nhân chủ yếu là do những cô gái xuất thân ở Azuma[38] thường không khéo léo, bàn chân thô kệch, cổ to mập và da khô ráp. Tuy tính tình thành thực, chất phác nhưng thiếu sự cuốn hút đối với nam giới vì không biết cách khơi gợi sự ham muốn của đàn ông, cũng không biết e lệ, rụt rè khi cần thiết. Những cô gái như thế khó trở thành đối tượng yêu đương của một ai đó.
Còn có thể tìm những người con gái xinh đẹp, quyến rũ ở đâu ngoài Kyoto chứ? Một trong những điểm đặc biệt làm cho họ quyến rũ, đáng yêu hơn cả đó là lời ăn tiếng nói. Đây không phải là điều học mà có thể có được. Đó là một sự kế thừa truyền thống, đã thấm vào huyết quản một cách tự nhiên của những con người sống ở kinh đô quyền quý. Thể hiện rõ nhất là cả nam và nữ xứ Izumo[39] phần lớn đều nói ngọng, phát âm không rõ. Nhưng người ở tận vùng đảo Oki xa xôi, tuy dung mạo quê mùa mà cách nói chuyện không khác gì người ở vùng Kyoto. Ngoài ra, cốt cách phong lưu, trang nhã tạo nên sự quyến rũ như thế cho các cô gái còn thể hiện ở sự yêu thích “cầm, kỳ, hương, ca”[40]. Tương truyền khi xưa Thiên hoàng Godaigo lạc bước đến hòn đảo này, và những phong tục, truyền thống hoàng gia được Người để lại vẫn được lưu truyền từ đó đến nay. “Tóm lại, có lẽ sẽ tìm thấy người phù hợp ở Kyoto”. Họ nghĩ vậy và sai lão nô bộc lớn tuổi chuyên lo việc trông coi nữ nhân trong nhà, vốn là người phục vụ ở okumuki[41] lâu năm, lên Kyoto để tìm kiếm. Người này hơn bảy mươi tuổi, mắt đã mờ, phải đeo kính mới thấy rõ, hàm răng trên rụng gần hết nên đã quên hương vị món bạch tuộc từ lâu, thậm chí cả món dưa chua cũng phải cắt nhỏ cho dễ ăn. Từ sáng đến tối, lão nô sống một cuộc sống tẻ nhạt, không niềm vui. Dù ông ta có đóng khố cũng chẳng khác gì nữ giới nên có đề cập đến chuyện sắc dục thì cũng chỉ dừng ở mức độ nói những chuyện tục tĩu chứ không gì khác.
Tuy vậy, với tư cách người phục vụ cho samurai, ông ta luôn phải mặc quần hakama ống rộng với áo katanugi(43) phủ qua vai. Do phục vụ ở khu okumuki nên không được phép đeo kiếm lẫn đoản đao, thay vào đó ông ta giữ chiếc chìa khóa bạc của cánh cửa thông nhau giữa hai khu vực omotemuki và okumuki. Việc cử ông ấy lên Kyoto để tuyển chọn các cô gái cũng giống như đặt một tượng Phật bằng đá trước một con mèo, không việc gì phải lo lắng. Nhưng nếu đó là một chàng trai trẻ thì mọi việc sẽ khác, không thể để “mỡ treo miệng mèo” như thế.
Lên đến Kyoto, xứ tịch quang tịnh thổ[42], lão nhân tìm đến tiệm Sasaya chuyên buôn vải và trao đổi ngân lượng ở phố Muromachi.
– Chuyện lần này không thể giao cho người trẻ. Tôi muốn gặp để bàn chuyện riêng, bí mật với vợ chồng ông.
Ông ta bắt đầu câu chuyện với vẻ thận trọng. Nghe điều này, vợ chồng người chủ tiệm tỏ vẻ lo lắng và chờ đợi điều ông ta sắp nói.
– Tôi đến để tìm thiếp cho lãnh chúa! – Ông ta ngập ngừng nói.
– À, chuyện đó không phải là điều lạ đối với các vị lãnh chúa. Ngài mong muốn tìm kiếm cô gái có dung mạo thế nào, thưa ngài?
Lão nhân mở chiếc hộp và rút ra một bức tranh cuộn.
– Tôi muốn nhờ tìm kiếm một người giống như thế này.
Ông ta nói. Họ cùng nhìn vào bức tranh.
– Tôi muốn tìm người độ tuổi khoảng mười lăm, mười sáu. Khuôn mặt tròn, da phớt hồng màu hoa anh đào, mắt, mũi, miệng, tai hội đủ đặc điểm của vẻ đẹp hoàn hảo thời nay. Đôi mắt to tròn, lông mày rậm, khoảng cách giữa hai hàng lông mày rộng, sống mũi cao và thẳng, miệng nhỏ với hàm răng đều và sáng trắng lấp lánh, tai dài và mỏng. Trán để đẹp tự nhiên, cổ cao, tóc búi gọn, không một cọng tóc rơi rớt. Những ngón tay dài, thon và mềm mại, móng tay mỏng. Đôi chân nhỏ nhắn, ngón chân cái hơi chìa ra[43], bàn chân không bị to bè. Thân hình thanh thoát, cao hơn người thường, eo thon, mông nở. Vẻ bề ngoài duyên dáng, sang trọng. Tính tình hiền lành, nhất là “cầm, kỳ, thi, họa” đều phải xuất sắc. Tức “vạn sự tinh thông”, đặc biệt, trên cơ thể không được có bất kỳ một nốt ruồi nào.
Nghe vậy, người chủ tiệm vải nói:
– Mặc dù kinh thành rộng lớn, con gái đẹp không thiếu nhưng người có đủ các tiêu chuẩn như ông yêu cầu thì đúng là hiếm đấy. Tuy nhiên, vì đây là mong muốn của lãnh chúa, người lại chịu chi ngân lượng thì nếu có người như vậy trên đời này, chúng tôi sẽ cố gắng tìm cho ra.
Sau đó ông ta bàn bạc với Hanaya Tsunoemon phố Takeya[44], người rất thành thạo trong những cuộc mua bán, thương lượng tìm du nữ, thê thiếp, người hầu như thế này.
Sau khi nhận việc, người trung gian nhận mười lượng vàng trong số một trăm lượng nhận được ban đầu. Mười lượng vàng này được đổi thành những đồng monme bạc, và người mai mối nhận khoảng mười monme để làm những việc lặt vặt. Trong thời gian học việc, những cô gái không có quần áo đẹp có thể tự thuê trang phục để tạo vẻ bề ngoài tươm tất. Với hai mươi monme một ngày, họ có thể thuê được một bộ kimono bằng lụa loại thường, một chiếc đai lưng khổ rộng bằng chất liệu vải Nishijin[45] theo kiểu nhà Đường, một chiếc áo lót màu đỏ tía, một chiếc áo choàng ngắn tay, thậm chí họ còn được phát cho một tấm nệm lót chân để trải trong kiệu. Khi được chọn chính thức, các cô gửi một miếng bạc để tạ lễ cho người trung gian. Những cô có gia cảnh thấp kém thì cậy nhờ người có nhà cửa đất đai, gia thế để họ chịu làm cha mẹ nuôi. Đổi lại, cha mẹ nuôi sẽ nhận tiền mừng và tặng vật quý giá, hoặc nếu cô gái sinh con trai nối dõi cho lãnh chúa, cha mẹ nuôi cũng sẽ được nhận gạo chu cấp vào những dịp lễ, Tết.
Nếu muốn vào những nơi cao sang hơn nữa thì phải tốn kém hơn. Có khi các cô phải sử dụng nhiều hơn số tiền hai mươi monme vào việc thuê kimono. Có cô sẽ bỏ thêm ba monme rưỡi để thuê một chiếc kiệu có hai người khiêng để có thể đi bất cứ nơi nào trong kinh đô. Ngoài ra, đến buổi xem mắt, có cô còn phải trả sáu monme để thuê một người hầu gái nhỏ (chừng mười ba đến mười lăm tuổi) và tám monme cho một người hầu gái lớn (hai bốn, hai lăm tuổi), cho họ ăn ngày hai bữa sáng, tối để họ cùng đi với mình. Sau tất cả những chuẩn bị kỹ lưỡng, tốn kém như thế, nếu cô gái không được lựa chọn thì xem như cô đã mất không hơn hai mươi bốn monme. Cuộc đời thật bạc làm sao.
Cũng có những thương nhân quyền thế từ Osaka, Sakai trên đường đi đến Shimabara hoặc Shijogawara[46] sẽ gọi người đánh trống và các cô gái Kyoto muốn làm thê thiếp đến mua vui cho những người khách giàu có từ Shikoku lên kinh. Nếu vừa ý cô nào, họ sẽ giữ lại và thỏa thuận với người chủ để mượn cô mua vui tại chỗ. Nếu cô gái tỏ vẻ bất ngờ, bỏ ra về, họ sẽ tìm cách thuyết phục, hoặc với những cô gia cảnh nghèo khó thì chuyện bán mình để lấy hai đồng vàng cũng không có gì lạ. Những cô gia cảnh khá giả hơn một chút thì ít có chuyện đó.
Dù đã cho lão nô xem hơn 170 cô gái trẻ đẹp được Hanaya Tsunoemon tuyển chọn từ trước, nhưng không ai trong số đó làm ông hài lòng. Đang bối rối thì họ nghe tiếng đồn về tôi liền hỏi thăm người dân sống ở ngôi làng Kohata[47] và đến Uji nơi tôi đang sống để đón về Kyoto. Lúc đó tôi đang trong dáng vẻ thường ngày, không hề chải chuốt hay trang điểm cầu kỳ. Sau khi ngắm nhìn tôi một cách chăm chú, lão nhân nói rằng tôi xinh đẹp hơn rất nhiều so với bức tranh vẽ ông mang theo từ Edo nên không tìm kiếm nữa. Xem như mọi việc đã được quyết định đúng như mong đợi. Và thế là tôi trở thành kuni gozen[48], thiếp của lãnh chúa.
Sau đó tôi được dẫn đến Musashi xa xôi, vào ở nhà dưới[49] tại Asakusa, bắt đầu tận hưởng cuộc sống trong nhung lụa, giàu sang, vui thú bất kể ngày đêm, như ở tận bên nhà Đường (Trung Hoa) mà được ngắm hoa anh đào ở Yoshino mãn khai. Thậm chí họ còn gọi cả đoàn kịch nghệ[50] Sakai đến để thưởng thức, cười vui.
Một cuộc sống như mơ, tưởng như không còn mong muốn gì hơn thế nữa. Tuy nhiên, đáng buồn là phụ nữ luôn nông cạn, làm gì vẫn không quên chuyện ái tình. Thế nhưng, luật lệ võ gia cực kỳ nghiêm khắc, những người phụ nữ sống ở đây thậm chí chẳng mấy khi thấy mặt đàn ông, nên đương nhiên chẳng biết đến mùi áo khố người khác phái.
Cứ mỗi lần xem tranh shunga của Hishikawa[51], tôi như quên mất bản thân, không thể kiềm chế được những cảm xúc lạ dâng trào trong lòng. Bản thân tôi cảm thấy như có một sức mạnh vô hình lôi kéo và không thể kìm hãm được ngọn lửa ham muốn đang bùng cháy ngày càng dữ dội. Cảm giác ấy xuất hiện và lan dần đến tận gót chân rồi đến ngón giữa của bàn tay tôi. Tự mình an ủi như thế cũng không thỏa mãn lòng ham muốn, tôi chỉ biết mong chờ một tình yêu đích thực sẽ đến vào một ngày nào đó.
Các vị lãnh chúa đều rất bận và dành nhiều thời gian cho những việc quan trọng bên ngoài nên thường thân thiết với những người hầu thân cận, những chàng trai trẻ tuổi ngày đêm phục vụ bên mình hơn. Hoặc nếu có thời gian dành cho phụ nữ thì cũng thường dành cơ hội hiếm hoi đó cho người thiếp mà mình sủng ái, bỏ bê vợ cả. Cứ nghĩ đến đó là lòng ghen tuông ngấm ngầm của người vợ cả sẽ càng trở nên dữ dội hơn. Không có gì trong thế giới này đáng sợ bằng sự ghen tuông của một người phụ nữ, bất kể địa vị cao hay thấp.
Bất hạnh thay, tôi tuy được lãnh chúa sủng ái hàng đêm nhưng điều đó cũng không có ý nghĩa gì. Tuy còn trẻ nhưng lãnh chúa phải dùng đến những viên địa hoàng[52] mà vẫn hoàn toàn không có hiệu quả. Tôi đã không thể bày tỏ với ai về nỗi niềm và sự bất hạnh không gì hơn này. Lãnh chúa cũng ngày đêm đau khổ, dần trở nên hốc hác, thân thể gầy yếu đi. Và thế rồi, kẻ ăn người ở trong nhà lãnh chúa vốn chẳng biết đến tình yêu là gì, cho rằng “cũng tại con gái kinh đô đam mê sắc dục” khiến tôi trở thành kẻ tội lỗi, cuối cùng gửi trả tôi về quê. Đối với người phụ nữ, không gì đáng buồn hơn sự bất lực bẩm sinh của người đàn ông.
* Thuốc làm tăng sinh lực.
VẺ ĐẸP CỦA NÀNG MÊ DỤC TÌNH
Người đẹp được tuyển chọn từ muôn vàn mỹ nữ kinh thành
Đạt đến địa vị đỉnh cao của du nữ – Tayu[53]
Nàng xinh đẹp không cần ta phải nói
Hãy nghe nàng kể chuyện
Bao nhiêu chuyện đời phiêu lưu.
“Thế giới phù du này đầy những cay đắng
Đáng thương thay cho những ham muốn của bản thân
Uớc gì tôi có thể từ bỏ nó
Thì cuộc đời tôi đã có giá trị hơn.”
Ở cổng phía Tây của ngôi đền Kiyomizu có một người phụ nữ ngồi gảy đàn shamisen. Tiếng hát êm dịu của người đàn bà ăn xin, hè cũng như đông, chỉ mặc mỗi chiếc áo bông không lớp lót, mặc những cơn gió lạnh thổi dữ dội qua những ngọn núi từ bốn hướng. Tôi thử hỏi thăm: “Bà ấy có hoàn cảnh ra sao trong quá khứ?”. Người ta kể rằng vào những ngày phố du nữ còn ở đường Rokujo[54], người phụ nữ này rất nổi tiếng, được biết đến như một Katsuragi Tayu thứ hai[55]. Mùa thu năm ấy, khi đi ngắm những cây hoa anh đào đang bắt đầu chuyển sang màu đỏ sẫm, tôi đã từng cùng lũ bạn chỉ trỏ, cười cợt người phụ nữ ấy. Nhưng thật khó mà đoán biết được số phận của con người. Đáng buồn là cha mẹ tôi sau đó gặp chuyện rắc rối. Chỉ một lời nhờ cậy của người quen, cha mẹ tôi đã đứng ra làm người bảo lãnh vay tiền. Sau người đó bặt tăm tung tích, cha mẹ tôi phải đứng ra gánh nợ thay. Không còn cách nào khác, cuối cùng họ đành bán tôi cho quán du nữ Kanbayashi ở Shimabara với giá năm mươi lượng.
Khi đó tôi mới chỉ mười sáu tuổi, vẻ đẹp tựa trăng rằm của tôi đã khiến người chủ mới vui mừng khôn xiết. Phần lớn, các cô gái bước vào nghề du nữ như thế này đều phải học việc từ vị trí người hầu của một du nữ cấp cao nào đó và tự mình nhanh chóng nắm bắt kỹ năng chứ không có bất kỳ khóa học đặc biệt nào. Nhưng tôi không trải qua thời gian học việc, ngay lập tức được cho ra phục vụ với tư cách du nữ bậc thấp. Cách ăn mặc, trang điểm theo phong cách của du nữ của tôi cũng khác với sở thích của những người xung quanh.
Tôi cạo nhẵn lông mày và tô mực đen, búi tóc kiểu oshimada không dùng miếng độn, chỉ dùng một sợi dây thắt, buộc tất cả các búi tóc lại với nhau và cuộn lại, cẩn thận không để rơi một cọng tóc nào sau gáy. Tôi cho người cắt tay áo kimono theo kiểu được ưa chuộng nhất, độ dài khoảng hai mét, chạm đất. Phần thắt lưng cũng không cần nhét thêm miếng đệm kèm. Tôi thích tạo vẻ đẫy đà cho phần mông nên không thắt chặt chiếc obi bản lớn mà nới lỏng nó thật gợi cảm trên ba lớp áo mặc chồng lên nhau. Thắt lưng kimono dài ba bản[56] và cũng thắt cao hơn những người phụ nữ bình thường.
Không chỉ ăn mặc kỹ càng mà du nữ cũng thay đổi cách đi tùy lúc. Khi đi trên đường, chân không mang vớ và bước đi chậm rãi theo hình chữ bát. Nhưng khi về đến gần quán, gót chân trở nên nhanh nhẹn. Trong phòng khách, đi thật nhẹ nhàng để không gây tiếng động. Lên cầu thang thì bước chân nhanh nhẹn. Mang dép gọn gàng mà không cần nhìn xuống chân. Và không hề tránh người đi ngược lại.
Du nữ thường dùng ánh mắt đưa tình, quyến rũ dù đó là một người đàn ông không quen biết, chỉ đang đứng ngắm Tayu đi trên đường. Chỉ bằng ánh mắt đó thôi cũng đủ khiến anh ta tưởng rằng mình đã lọt mắt xanh của cô nàng du nữ. Chiều tối, các cô thường ngồi trước quán, nếu thấy người quen biết đến gần thì đưa mắt mời gọi từ xa. Nếu người đó chẳng đoái hoài gì đến, các cô níu kéo những anh chàng cầm trống đi cùng họ, nhất định không để lỡ cơ hội. Các cô khen kiểu hoa văn trên áo, hay kiểu tóc, thậm chí cả chiếc quạt thời thượng của các chàng, lòng tự nhủ nhất định tìm cho ra chỗ khen để lấy lòng họ. “Hỡi chàng trai đã làm xiêu lòng em, anh đã học ai kiểu tóc đó vậy?”, nói rồi cô vỗ nhẹ vào lưng anh chàng, vờ bỏ đi. Không người đàn ông hiểu chuyện nào lại khó chịu với những lời tâng bốc và cách thức giả vờ đó. Anh ta biết chắc rằng khi có cơ hội, chỉ cần tán tỉnh là nàng sẽ thuộc về mình. Lúc đó, anh ta sẵn sàng ca ngợi nàng hết lời trước mặt đại nhân đi cùng. Thậm chí, khi có tiếng đồn không hay về nàng, anh ta sẵn sàng bênh vực, bảo vệ nàng. Cũng có cách vo tròn những lá thư của những người khách khác, ném vào họ để thể hiện thái độ chỉ biết có chàng. Cách này vừa không tốn đồng nào, lại đơn giản nhưng những du nữ ngốc nghếch thì thậm chí không biết cách làm vậy.
Có cô dung mạo không thua gì Tayu vậy mà cả những ngày monhi[57] vẫn không tìm được bất kỳ một vị khách nào, đành tự trả tiền cho mình như thể đã hẹn được với khách.
Nhưng màn kịch của cô ấy dễ dàng bị phát hiện bởi thu nhập hôm đó không chỉ tính tiền phòng mà còn có cả tiền ăn, uống của khách. Cô ngồi thui thủi một mình trong góc phòng, lặng lẽ nhai cơm nguội với món dưa chua trộn trứng, chỉ mong không bị ai nhìn thấy. Cả khi quay về phòng cũng phải thăm dò thái độ của bà chủ, nhỏ giọng yêu cầu người giúp việc chuẩn bị nước tắm cho mình để “thanh tẩy”. Các cô còn nhiều nỗi khổ tâm khác nhưng những cô thờ ơ với khách chỉ vì không vừa ý mình, ăn không ngồi rồi như thế chỉ làm phiền chủ thì đúng là không biết nhìn xa trông rộng.
Khi tiếp khách tại một tiệc rượu, các du nữ cũng chỉ nên tỏ vẻ đáng yêu bằng cử chỉ, điệu bộ, tập trung tiếp khách, chứ không nên trò chuyện, đối đáp quá thông minh. Những lỗi như vậy có thể không đáng bận tâm nếu khách tìm đến vui chơi là một vị khách quen, thực sự hào hiệp và cũng rất thích đùa. Nhưng nếu đó là một người đàn ông thiếu kinh nghiệm, anh ta sẽ bối rối, trở nên sợ hãi phụ nữ, không cảm thấy thoải mái. Những người đàn ông như thế sẽ luôn khịt mũi mà không động đậy tay chân ngay cả khi vào giường. Thỉnh thoảng có mở miệng thì giọng nói cũng run rẩy. Đang dùng tiền của mình vậy mà phải chịu đựng khổ sở như thế thì chẳng khác nào người không tinh thông nghệ thuật trà đạo mà bị đẩy vào ngồi chỗ danh dự trong tiệc trà vậy.
Các cô du nữ không được ghét bỏ mà đối xử lạnh lùng với những người đàn ông thiếu kinh nghiệm như thế. Họ sẽ tỏ ra sành sõi ngay từ đầu nên du nữ cũng phải biết khéo léo, không nới thắt lưng kimono và cư xử thận trọng. Khi vào phòng ngủ, đa số đàn ông sẽ chủ động tiến lại gần và nhẹ nhàng đặt chân lên người du nữ. Dù vậy, cô ta vẫn nằm im lặng, chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra. Người khách bắt đầu run lên vì căng thẳng và đổ mồ hôi. Sau đó, anh ta lắng nghe thình hình các phòng bên cạnh. Có thể là một cặp du nữ và người khách đã quá quen thuộc, hoặc tuy gặp nhau lần đầu nhưng do người khách đầy kinh nghiệm nên đã tạo không khí thân mật giữa họ. Nàng du nữ thầm thì:
– Cơ thể chàng vạm vỡ hơn những gì em mong đợi qua lớp áo bên ngoài.
Tiếp đến là tiếng họ ôm chặt nhau, người khách cũng không ngại tấm bình phong chắn hai phòng ở đầu giường, hành động dần trở nên mạnh bạo hơn. Du nữ cũng thật lòng bật khóc, tiếng chăn gối bị ném bừa bộn và nghe cả tiếng chiếc lược cài bị gãy. Trên tầng hai thì có tiếng nói “đến mức này sao?” cùng âm thanh sột soạt của những tờ khăn giấy lau mũi. Phòng bên cạnh, vị khách dường như vẫn đang chìm trong giấc ngủ say khi nàng du nữ khẽ khàng đánh thức:
– Bên ngoài trời dần sáng, em thật không đành lòng.
Người đàn ông mơ màng nói:
– Hãy tha thứ cho tôi, nhưng tôi không thể được nữa.
Lại có tiếng hỏi “phải chăng do rượu?” và ngay sau đó là tiếng sột soạt của quần áo được cởi ra. Đó thực sự chẳng phải là niềm hạnh phúc dành cho một người con gái đang khao khát ái tình sao? Xung quanh chỉ toàn những âm thanh làm xao động lòng người.
Với những gì xảy ra trong những căn phòng gần đó, vị khách thiếu kinh nghiệm không thể chợp mắt được một chút nào dù chỉ là một giấc ngủ ngắn. Cuối cùng, đành đánh thức bạn tình dậy và nói:
– Sắp đến Lễ hội Hoa cúc[58], liệu có vị khách đặc biệt nào sẽ đến thăm em vào hôm đó hay không?
Những lời này như một sự hứa hẹn nhưng nàng ấy không tỏ vẻ vui mừng mà chỉ trả lời rằng:
– Không chỉ ở Lễ hội Hoa cúc mà cả vào dịp Tết Nguyên Đán, em đều phải tiếp khách.
Câu trả lời lấp lửng khiến vị khách bối rối, không biết đáp lại thế nào. Sau đó, họ chia tay như những cặp khách khác, nàng du nữ cố tình xõa tóc ra và cột theo kiểu chasen, đai lưng kimono cũng cột lỏng lẻo như thể giữa họ đã có một đêm tình ái đầy say mê.
Người khách này có thể sẽ ôm hận trong lòng khi nàng du nữ đã đối xử lạnh nhạt như thế với anh ta. Lần ghé thăm tiếp theo, anh ta có thể gọi những cô gái khác để phục vụ cho cuộc vui chơi của mình, kéo dài năm đến bảy ngày khiến nàng du nữ lúc trước phải hối tiếc. Hoặc cũng có thể vị khách đó sẽ không đến nơi này nữa mà tìm vui ở các chàng trai trẻ đẹp. Cũng có thể ngay hôm đó, khi ra về, bằng giọng lạnh lùng anh ta hối thúc bạn bè đi cùng mình đang lưu luyến chia tay các cô gái: “Thôi đủ rồi, mau trở về thôi” và bỏ về, không chút luyến tiếc nàng du nữ ấy.
Nhưng cũng có cách để ngăn chặn điều này. Ví dụ, trước mặt mọi người, nàng du nữ tìm cách vuốt mớ tóc lòa xòa bên tai của người đàn ông rồi thì thầm với anh ta rằng: “Thật nhẫn tâm khi chàng ra về mà không có lấy một lời mời em cởi thắt lưng”. Vừa nói vừa vỗ nhẹ lưng anh ta rồi quay vào bếp. Nhóm bạn đi cùng sẽ nhận ra và khen ngợi anh ta “mới lần đầu mà đã biết cách chinh phục người đẹp, thật tài giỏi làm sao”. Nghe vậy chắc chắn người đàn ông sẽ vui mừng mà nói: “Tôi là người mà nàng ấy sẵn sàng đánh đổi cả đời mà”. Chưa hết, anh ta còn nói tiếp:
– Đêm qua, sự quan tâm của nàng ấy rất tuyệt vời. Nàng cứ nhất định đấm bóp đôi vai nhức mỏi lâu nay của tôi. Thành thật mà nói, tôi không thể hiểu tại sao nàng lại say đắm tôi đến vậy. Chắc chắn không phải vì ai đó đã nói ý thích của tôi, hoặc đã cho nàng biết rằng tôi là một người đàn ông giàu có đấy chứ?
– Không phải vậy đâu, nếu chỉ vì lòng tham thì du nữ không quan tâm đến mức vậy đâu. Xem ra khó có thể bỏ rơi nàng ta rồi nhỉ?
Bạn bè anh ta sẽ hùa nhau ca ngợi. Thế là sau đó, nàng du nữ nghiễm nhiên chiếm được người đàn ông.
Với cách xoay chuyển tình thế bất lợi một cách ngọt ngào như vậy, không khó để nàng du nữ có thể khiến cho khách sẵn sàng dâng cả đời mình cho nàng. Nàng du nữ cũng không thể viện lý do lần đầu gặp nhau để từ chối một người khách tầm thường. Người đàn ông cũng có thể bị những nàng du nữ giàu kinh nghiệm như Tayu làm lung lay tinh thần mà bỏ lỡ cơ hội thưởng thức người đẹp, khiến anh ta chia tay trong luyến tiếc. Ngược lại, du nữ cũng không thể xiêu lòng vì vẻ ngoài khôi ngô tuấn tú của khách. Một khi người đó có địa vị cao ở chốn kinh kỳ thì dù có là một ông già hay ai đi nữa, các nàng vẫn phải một lòng đón tiếp. Đương nhiên, với họ, một chàng trai trẻ, khéo chiều phụ nữ, lại thêm vẻ bề ngoài đẹp đẽ thì còn gì bằng. Thế nhưng, ở đời làm gì có chuyện lý tưởng đến vậy.
Hình mẫu người khách lý tưởng đương thời của các du nữ là người mặc áo dệt chỉ sọc nhỏ cao cấp màu vàng trơn cả hai mặt trái phải, bên ngoài khoác một chiếc áo mỏng màu đen, tay ngắn, dệt bằng lụa Habutae, thắt chiếc đai lưng màu đỏ sẫm dệt từ loại tơ Hachijo, trên ngực áo có gắn huy hiệu hình rồng, chân trần mang đôi dép rơm loại dùng một lần. Khi đến, chàng sẽ khoan thai bước vào, hai thanh kiếm ngắn đeo bên hông nhô ra một chút so với bao kiếm, tay cầm một chiếc quạt phẩy nhè nhẹ nơi ống tay áo. Được một lúc, chàng sẽ đến chỗ chậu rửa tay, dù trong chậu có nước cũng sẽ yêu cầu thay nước mới rồi súc miệng một cách nhẹ nhàng. Sau đó, chàng sẽ sai người hầu gái gọi người hầu của mình để lấy gói thuốc lá mang theo được bọc trong loại giấy trắng cao cấp Hosho và đặt khăn giấy Nobe cao cấp gần chỗ ngồi để sử dụng tùy thích. Tiếp đó, chàng sẽ cho gọi Hikibune[59] đến và nói “nhờ cô một tay” rồi để nàng cho tay vào ống tay áo, xoa bóp từ cổ xuống vai cho mình. Hoặc mời một du nữ đến múa hát điệu Kaga đang được yêu thích, nhưng lại không dành nhiều sự chú ý cho tiết mục đó. Khi nàng du nữ còn đang ca hát giữa chừng, người khách quay sang bắt chuyện với người đánh trống, khen ngợi “vai phụ Mekari[60] trong vở kịch No hôm qua còn hơn cả Takayasu[61] đấy”, hoặc “Cách đây vài hôm tôi cũng đã tham dự buổi bàn luận về thơ cổ với các vị quan cao cấp trong triều đình. Theo như xem xét và suy đoán, đó là tác phẩm của Ariwara no Motokata[62]”. Với những người khách bắt đầu bằng đôi ba đề tài văn chương phong lưu, vẻ như tinh thông mọi chuyện trên đời như thế thì cả Tayu cũng cảm thấy thua kém, trong lòng nảy sinh phiền muộn cho thân phận của mình. Nàng cảm thấy mọi việc người khách nói có uy lực đến mức khiến nàng sẵn sàng vứt bỏ lòng kiêu hãnh vốn có để lấy lòng người khách bằng những lời nói hài hước, pha trò xen vào lúc thích hợp.
Sự kiêu hãnh và chiều chuộng của các nàng du nữ tùy thuộc vào mức độ hào phóng của khách. Thời khu phố Yoshiwara mới ở Edo phồn thịnh, có một tay chơi tên Sakakura quan hệ rất thân thiết với một Tayu tên Chitose. Chitose rất thích uống rượu, với mồi nhắm là món cua ướp muối. Nhưng phải là loại cua đặc biệt sống ở sông Mogami. Có lần Sakakura đã bỏ tiền ra thuê một họa sĩ trường phái Kano vẽ gia huy hình lá tre lên những mảnh vỏ cua bằng bột vàng. Sakakura định giá mỗi chiếc vỏ cua được vẽ như thế bằng một miếng vàng và tặng Chitose khiến cô có thể sống sung sướng cả năm, chẳng thiếu thứ gì.
Ở Kyoto thì Ishiko là một ví dụ tiêu biểu khác. Nhân vật này có sự say mê cuồng nhiệt với nàng Tayu tên Nokaze. Ishiko luôn mua những món đồ quý hiếm và hợp thời nhất, nhanh hơn ai hết, để làm quà tặng cho Nokaze. Một lần, Nokaze nhận được một chiếc kimono mùa thu màu đỏ bằng lụa cao cấp nhuộm hoa văn tròn nhỏ như đốm lông hươu sao. Mỗi điểm giao nhau của hoa văn được đục lỗ và chà nến bằng phương pháp thủ công, có thể nhìn xuyên thấu lớp lụa hồng bên trong. Số tiền Ishiko bỏ ra để mua chiếc áo là ba quan bạc, thật không gì xa xỉ bằng.
Ở Osaka cũng từng có một người khách tự xưng Nisan, đã mua trọn Tayu Dewa nay không còn quán Nagasakiya nữa nhưng vẫn thuộc hàng khá giả. Những ngày thu ảm đạm, Nisan hào phóng trả tiền mua luôn các du nữ ế khách ở phố Kuken để chiều lòng Dewa. Dịp khác, khi ngoài vườn cây hồ chi nở hoa, những giọt sương vẫn còn đọng trên lá, Dewa xúc động trước vẻ đẹp ấy:
– Bông hoa này như thảm ngủ trưa của những chú hươu thương vợ. Tuy chúng có sừng nhưng chẳng đáng sợ chút nào. Ước gì em có thể thấy cảnh này trong cuộc sống thực[63].
– Chẳng có gì khó!
Nisan ngay lập tức cho người phá hủy phía sau phòng khách, làm thành một khu vườn trồng toàn hoa hồ chi và sai người hầu ngay trong đêm đó đến nhờ những người ở vùng núi Tamba tìm vô số hươu đực, hươu cái mang về. Hôm sau, khi Dewa đã được ngắm nhìn tận mắt cảnh đẹp nên thơ ấy rồi, Nisan cho người trả lại y nguyên như ban đầu.
Những người sinh ra với thân phận thấp hèn nhưng dám làm những việc xa xỉ mà ngay cả những người cao quý cũng khó lòng thực hiện thì sớm muộn gì cũng bị thần thánh trừng phạt. Khi còn là du nữ, gặp phải những người khách không ưng ý, tuy bán mình cho họ nhưng tôi lạnh lùng phục vụ để rồi số lượng khách đến tìm tôi ngày càng ít đi. Và đương nhiên, hiện giờ, ở vị trí của một Tayu đã lu mờ khiến tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ về những ngày huy hoàng. Người ta chỉ có thể “kén cá chọn canh” khi còn xuân sắc, đến khi nhan sắc tàn phai thì dù khách có là gia nhân, gõ mõ, chân ngắn, sứt môi cũng lấy làm vui khi họ tìm đến mình. Mới thấy, không gì buồn tủi bằng thân phận du nữ.
❀ ❀ ❀
[1] * Shimabara là khu phố du nữ (yukaku) nổi tiếng ở Kyoto. Du nữ (yujo/asobime) có thể hiểu là kỹ nữ, gái làng chơi. Khác với geisha được đào tạo chuyên nghiệp về biểu diễn nghệ thuật. Ở Nhật, dưới triều đại Edo (1603 – 1868), có 5 nơi nổi tiếng về các du nữ đó là: Shimabara và Yoshiwara (Kyoto), Shinmachi (Osaka), Maruyama (Nagasaki) và Kanayama (thuộc đảo Sado, Niigata). – Tất cả chú thích trong sách đều của người dịch.
[2] * Ý nói nếu chìm đắm trong sắc dục sẽ đoản mệnh. Tuy đây là ý thơ cổ trong Lã Thị Xuân Thu hay Văn Tuyển của Trung Quốc nhưng đương thời, ở Nhật, ý này đã được tục ngữ hóa nên không hẳn Saikaku đã trực tiếp dựa vào cổ thư.
[3] * Tiếng Nhật: Jinjitsu, chỉ ngày mùng 7 Tết. Ở Nhật, người ta ăn cháo có 7 loại rau vào ngày này và cắt móng tay lần đầu tiên trong năm mới. Đây là một trong năm ngày lễ lớn của người Nhật, cùng với Lễ hội Búp bê (3 tháng 3), Tết Đoan Ngọ và Lễ hội Cá chép (5 tháng 5), Lễ hội Thất tịch (7 tháng 7) và Lễ hội Hoa cúc (9 tháng 9).
[4] * Nay thuộc quận Ukyo, Kyoto.
[5] * “Đường hoa lăng” – gia huy của võ tướng Ouchi thời Chiến quốc nên còn gọi là Ouchibishi (Đại nội lăng). Là một trong những hoa văn thịnh hành thời bấy giờ.
[6] * Tên của một trong bốn mùi hương trong cùng một thân cây có hương thơm quý giá được gọi là Ichiboku shimei (Nhất mộc tứ minh). Bốn mùi hương có tên: Fujibakama (Lan), Hatsune (Sơ âm), Shiragiku (Bạch cúc), Shibafune (Sài chu).
[7] *Ở đây ý chỉ con đường dẫn đến am cũng như “đường tình”.
[8] * Một loại nhạc cụ truyền thống của Nhật.
[9] Thiên hoàng Hanazono (hoặc Go Hanazono) là vị Thiên hoàng thứ 102 của Nhật, trị vì từ 1428 đến 1464.
[10] * Một trong những kiểu búi tóc thời bấy giờ.
[11] * Ở đây chỉ phong cách hoa mỹ vương giả khởi phát từ viện Toufukumon (Đông Phúc Môn) của Hoàng hậu Masakao (con gái Tokugawa Hidetada), thời Thiên hoàng Gomizu.
[12] * Quả cầu vải được đan, thêu bằng chỉ nhiều màu sắc, chữ “sắc” ở đây chỉ hình ảnh xoay tròn đầy màu sắc khi quả cầu bay trên không, đồng thời cũng chỉ bản thân trò chơi quyến rũ, mang màu sắc tình ái.
[13] * “Lửa canh của binh sỹ trong cung cháy sáng ban đêm, tàn lụi ban ngày.” Ý nói mọi vật rồi cũng hóa kỷ niệm.
[14] *Trong thư tình, người ta viết tên các vị thần để thề thốt một tình yêu chân thực, phần đó sẽ không bị đốt bỏ.
[15] * Ngôi đền Yoshida thuộc quận Sakyo, Kyoto. Nó được xây dựng vào năm 859 bởi dòng họ Fujiwara và là “biểu tượng” của dòng dõi Thiên hoàng giai đoạn đầu của thời Heian. Từ thời Kamakura đến Muromachi, ngôi đền này đã được dòng họ Yoshida sửa sang và bắt đầu thờ cúng những vị được phong là “thần” của dòng họ Yoshida bắt đầu qua việc chôn và thờ Yoshida Kanetomo.
[16] * “Asaborake” (sớm mai) trích từ một ý thơ trong tập thơ cổ Senzaishu hay còn gọi là Senzai Wakashu gồm hơn 1000 bài thơ waka do Fujiwara no Shunzei tuyển chọn và hoàn thành vào năm 1187. Nguyên văn: Asaborake (朝ぼらけ)
[17] * Cầu Uji thuộc thành phố Uji, vùng ven thành phía Nam của Kyoto. Địa danh “Cầu Uji” đã trở thành biểu tượng của tình yêu trong văn học Nhật Bản truyền thống qua hình ảnh quen thuộc trong Truyện kể Genji của Murasaki.
[18] * Xét với câu bên dưới “cách đây 40 năm” thì có thể hiểu ở đây chỉ thời kỳ Kanei (1624~).
[19] * Ở đây ý nói kiệu rước dâu.
[20] * Ý nói người con gái tuổi còn quá nhỏ để biết đến chuyện yêu đương nhưng đã biết đến sắc tình nên đã phó mặc cuộc đời cho luyến ái khiến cho tâm hồn trở nên vẩn đục. Giờ cũng không hẳn đã thanh tẩy tâm hồn trong sáng trở lại được nên sống ẩn cư thế này. Cuộc đời xoay vần quanh từ “sắc” - “yamabuki” (hoa yamabuki có màu vàng) - “thung lũng hoa” (yamabuki no seze: ở đây ngụ ý Cầu Uji với chữ “seze” – xem chú thích trang trước) - “thung lũng tình yêu” - “vẩn đục” - “thanh tẩy” - “trú ẩn”.
[21] *Chùa Kiyomizu (Thanh Thủy Tự) là Di sản Văn hóa của Kyoto được xây dựng vào năm 778, đầu thời kỳ Nara. Tuy nhiên, chùa nhiều lần bị cháy, và những kiến trúc hiện nay của chùa được xây từ năm 1633. Trong chùa có thờ Quan Âm nghìn tay. Tuy nổi tiếng là một ngôi chùa Phật giáo, nhưng trong quần thể kiến trúc ở đây không chỉ có chùa mà còn có cả đền thờ của đạo Shinto. Đền thờ được nhiều khách tham quan chiêm bái nhất là đền Jishu thờ Thần tình yêu. Trong đền có hai tảng đá đặt cách nhau 18 mét. Nhiều khách tham quan nhắm mắt cố gắng đi được từ tảng đá này tới tảng đá kia với hy vọng sẽ tìm được bạn để kết đôi. Ngay phía sau tòa kiến trúc chính là một thác nước có tên Otowa no taki chảy từ trên cao xuống tạo thành ba dòng. Người dân Nhật tin rằng uống nước ở cả ba dòng của thác này sẽ trường thọ, khỏe mạnh và thành công trong học tập.
[22] * Còn là tên lễ hội lớn ở Kyoto.
[23] * Từ Kamitachiuri đến Nijo được gọi là Kamigyo – chỉ vùng phía trên của Kyoto; còn từ Oshikouji xuống đến phía Nam gọi là Shimogyo – chỉ vùng phía dưới Kyoto.
[24] * Nguyên văn của cụm từ “Hana no iro mo utsurite” được trích từ ý trong bài thơ cổ của nữ sĩ Ono no Komachi. Saikaku mượn hình ảnh sự thay đổi màu sắc của hoa đào để chỉ những người phụ nữ cũng đã tàn phai nhan sắc vì trải qua những cuộc tình.
[25] * Điệu múa của các thiếu nữ vào ngày lễ Thất tịch. Trưa ngày 7/7 và 15/7, họ mặc y phục múa, vừa hát vừa gõ trống, đánh quạt và múa quanh phố phường.
[26] *Sông Abe thuộc tỉnh Shizuoka ngày nay.
[27] * Suruga thuộc phía Đông tỉnh Shizuoka ngày nay, là một trong những thị trấn quan trọng nhất thời phong kiến.
[28] * Tokyo ngày nay.
[29] *Nghệ thuật này gọi là Hachinin gei (Bát nhân nghệ) phổ biến từ năm 1658 và lưu hành rộng rãi đến 1661, thường thì 8 người chơi 8 nhạc cụ cùng lúc. Sau đó nâng lên 15 đến 18 người. Hình thức này gần giống như loại hình Đờn ca tài tử của Việt Nam.
[30] * Onna kabuki là hình thức biểu diễn kabuki (ca vũ kỹ) chỉ với những động tác của nữ. Loại hình này phổ biến vào giai đoạn đầu thời kỳ Edo và bị cấm vào năm 1629.
[31] * Các thiếu niên chưa đến tuổi trưởng thành hoặc các thiếu niên đóng vai nam sắc trong kabuki.
[32] * Núi Higashi nằm về phía Đông Nam của Kyoto. Nơi đây có ngôi đền Yasui. Vùng này có rất nhiều quán ăn và trà quán.
[33] * Thuộc Shinmachi, Osaka.
[34] * Sông Takase là một phân nhánh của sông Kamo, nó bắt nguồn từ Nijo Kiyamachi, chảy dọc theo trục chính của đường Kiyamachi và hội tụ với sông Uji tại cảng Fushimi. Trong suốt thời đại Edo, nó đóng vai trò là cầu nối chuyên chở hàng hóa. Sông Takase cũng là một trong những danh thắng nổi tiếng với vẻ đẹp của hoa anh đào.
[35] *Nguyên văn “Matsu no kaze, Edo wo narasazu”. “Matsu no kaze” dựa theo ý từ bài hát đồng dao là Takasago, sau được đưa vào trong vở kịch No của Zemi. Tuy mượn mô típ “Gió thổi qua cây thông” (Matsu no kaze) nhưng Saikaku đã khéo léo “cải biên” (thay vì là “Eda wo narasazu” – không làm rung những nhánh cây) thành “Edo wo narasazu” – không làm rung/lay động bầu không khí của Edo).
[36] * Nếu lãnh chúa mất đi mà không có người nối dõi thì gia nhân, thuộc hạ sẽ trở thành “lãng nhân” (ronin) thất nghiệp.
[37] * Chỉ sự ân ái.
[38] * Chỉ vùng phía Đông Nhật Bản, tức Edo thời bấy giờ. Ngược lại là kinh đô Kyoto.
[39] * Nay thuộc tỉnh Shimane.
[40] * Các môn nghệ thuật: đàn koto, cờ vây, hương đạo, ca đạo.
[41] * Chỉ khu vực dành cho nữ giới và trẻ em, phân biệt với khu vực omotemuki của lãnh chúa.
[42] * Kiểu mặc áo không xỏ tay một bên.
[43] * Chỉ thế giới mà chân lý và trí tuệ thống nhất làm một, nơi đức Phật sinh sống.
[44] * Tiêu chuẩn đẹp và nữ tính thời bấy giờ.
[45] * Takeya thuộc Kyoto, được biết đến như thành phố của thợ thủ công trong thời kỳ Edo.
[46] * Loại vải truyền thống được dệt ở Nishijin, Kyoto.
[47] * Thuộc Kyoto. Khu vực gần một trong bảy nhà hát kịch kabuki nổi tiếng nhất ở Kyoto. Tại đây, các vở kabuki với các vai “giả gái” (onnagata) luôn được đàn ông đóng rất thành công.
[48] * Thuộc phía Bắc Uji.
[49] * Tên gọi chỉ thê thiếp của lãnh chúa khi ở quê nhà. Vì luật lệ đương thời buộc vợ cả và con cái của lãnh chúa ở Edo như một hình thức bắt làm con tin để ràng buộc lòng trung thành của các lãnh chúa với tướng quân. Tuy nhiên, do vợ cả của lãnh chúa đã mất nên người thiếp mới này cũng được đưa về Edo.
[50] * Thê thiếp ở nhà dưới (shimoyashiki), lãnh chúa ở nhà trên (ueyashiki).
[51] * Vốn có luật không được gọi diễn viên múa hát, kịch nghệ ra vào biệt điện của lãnh chúa nhưng đôi khi luật lệ không được gìn giữ.
[52] * Hishikawa Moronobu: được coi là “ông tổ” của thể loại tranh ukiyoe của Nhật, là họa sỹ chuyên về thể loại tranh “shunga (xuân họa: một loại tranh mang tính sắc dục)”. Mikaeri bijin zu (tạm dịch “Mỹ nhân ngoái nhìn”) là một trong những tuyệt tác tiêu biểu của ông.
[53] * Tayu (Thái phu) hay còn gọi là “Matsu no kurai” (Tùng chi vị) – bậc cao nhất trong giới du nữ thời bấy giờ. Tiếp theo có các cấp bậc Tenjin (Thiên thần), Kakoi (Vi). Du nữ ba cấp bậc này sẽ được mời từ quán du nữ (yujoya) đến dương ốc (ageya) để phục vụ khách.
[54] * Khu phố du nữ này được hình thành vào khoảng năm 1602, nó được di chuyển từ khu phố Yanagi đến Muromachi ở đường Rokujo. Sau đó hai năm, khu phố Shimabara mới được hình thành ở phía Tây Bắc của thần xã Nishi Honganji.
[55] * Katsuragi vốn là tên của một trong những du nữ bậc Tayu lúc bấy giờ ở Kyoto. Gắn “nghệ danh” này cho một cô gái nhằm nhấn mạnh tài năng của người ấy.
[56] * Bình thường chỉ dài hai bản.
[57] * Văn nhật: những ngày được coi là có thể “làm ăn” thuận lợi của các du nữ nhờ số đông khách tìm đến như Tết Đoan Ngọ, Lễ hội Hoa cúc, Tết Nguyên Đán.
[58] * Ngày 9 tháng 9 hàng năm. Lễ hội này còn gọi là Choyo no Setsuku.
[59] *Du nữ đi theo Tayu.
[60] * Địa danh thuộc tỉnh Fukuoka ngày nay, ở đây chỉ Đền thờ Thần đạo Mekari được xây dựng vào năm 200 và nghi lễ “cúng thần bảo hộ” tại đây thường gắn với vị thần biển.
[61] * Takayasu là một trường phái kịch No, khởi đầu với tên tuổi của Takayasu Ijuro.
[62] * Nhà thơ thời Heian, con trai của nhà thơ Narihira. Ông là tác giả của tập đầu tiên của tập thơ Kokinshu.
[63] * Ở đây có ý đề cập đến mối quan hệ gắn bó của hoa hồ chi (hagi) và loài hươu nai trong văn học Nhật. Trong Vạn diệp tập có nhiều bài thơ đề cập đến cảnh hươu ngủ dưới tán hoa hồ chi, hay mô tả hình ảnh hoa hồ chi như dõi theo chú hươu về lại rừng như người chồng dõi theo người vợ.