Chuột Nước đang bồn chồn, và hắn không thực sự hiểu vì sao. Thoạt nhìn, vẻ lộng lẫy của mùa hè vẫn ở cao trào, và dẫu trên những cánh đồng cày xới, màu xanh đã nhường chỗ cho sắc vàng, dẫu những chùm thanh lương trà đang ngả đỏ, và các khu rừng đây đó phảng phất một nét hoang dã hung hỏa, thì ánh sáng, hơi ấm và màu sắc vẫn hiện diện đủ đầy, chưa hề vương chút dự cảm lạnh lẽo nào về một năm sắp qua. Thế nhưng, bản đồng ca râm ran thường lệ từ những vườn cây và hàng rào đã lắng xuống, chỉ còn là khúc chiều ca ngẫu hứng của một vài giọng ca chưa mệt mỏi; chim cổ đỏ bắt đầu cất tiếng khẳng định sự hiện diện; và trong không gian đã manh mún một cảm giác đổi thay, ly biệt. Chim cuốc, tất nhiên, đã lặng tiếng từ lâu; nhưng nhiều người bạn có cánh khác, vốn bao tháng qua là một phần quen thuộc của phong cảnh lẫn cộng đồng nhỏ nơi đây,
cũng vắng bóng, và có cảm giác các hàng ngũ cứ thưa dần đi theo từng ngày. Chuột Nước, vốn luôn tinh tường trước mọi chuyển động của loài bay lượn, nhận ra chúng ngày càng có xu hướng bay về phương nam; và ngay cả khi nằm trên giường vào ban đêm, hắn ngỡ như mình có thể nghe thấy, vút qua bóng tối trên cao, tiếng đập và rung của đôi cánh đầy nôn nóng, vâng theo một tiếng gọi khẩn thiết.
Đại Khách sạn của Tự nhiên cũng có Mùa của nó, giống như bao nơi khác. Khi các vị khách lần lượt thu dọn hành lý, thanh toán và ra đi, khi những chiếc ghế tại bàn ăn chung thu hẹp lại một cách đáng thương sau mỗi bữa ăn; khi các dãy phòng bị niêm phong, thảm được cuộn lại, và các bồi bàn bị cho thôi việc; những vị khách trọ ở lại, theo chế độ dài hạn, cho đến khi khách sạn mở cửa hoàn toàn vào năm tới, không tài nào tránh khỏi ít nhiều chạnh lòng trước những cuộc dời chân và từ biệt ấy, trước những lời bàn tán sôi nổi về kế hoạch, lộ trình và chốn dừng chân mới, trước sự hao hụt mỗi ngày trong dòng chảy tình bằng hữu. Người ta đâm ra bất an, chán nản, và dễâm u cáu kỉnh. Tại sao cứ phải khát khao đổi thay? Sao không lặng lẽ ở lại đây như chúng ta, rồi cùng vui vẻ? Bạn đâu biết cái khách sạn này lúc trái mùa
trông thế nào, và chúng ta vui biết bao giữa những người ở lại cùng nhau trải qua trọn vẹn một năm đầy thú vị. Quả thực chẳng sai chút nào, hẳn những người kia luôn đáp lời như thế; chúng tôi rất ganh tị với các bạn—và có lẽ một năm nào đó—nhưng ngặt nỗi lúc này chúng tôi đã bận rộn—và kìa xe buýt đang đợi ngoài cửa—đã đến giờ rồi! Thế là họ ra đi với nụ cười cùng cái gật đầu, để lại trong chúng ta nỗi hụt hẫng và chút hờn dỗi. Chuột Nước là một sinh vật có lối sống khép kín, bám rễ sâu vào mảnh đất này, và bất kể ai đi, hắn vẫn ở lại; dẫu vậy, hắn vẫn không thể không nhận ra những gì đang sục sôi trong không gian, và cảm nhận ít nhiều ảnh hưởng của nó ngấm vào xương tủy.
Thật khó để tập trung làm việc gì cho nghiêm túc khi muôn người đang dọn dẹp di dời thế này. Rời khỏi bờ nước, nơi đám sậy mọc dày và cao bên dòng suối đang cạn dần và ì ạch chảy, hắn lang thang hướng về vùng đồng quê, băng qua vài thửa ruộng chăn thả đã bắt đầu khô cạn và phủ đầy bụi, rồi lao vào biển lúa mì bao la, vàng óng, dập dờn và rì rào, tràn ngập những chuyển động êm đềm cùng những tiếng thì thầm nhỏ nhoi. Ở đây, hắn rất thích lang thang qua khu rừng gồm những thân cây cứng cáp, vững chãi, vươn cao mái vòm trời vàng óng của riêng chúng lên trên đầu hắn—một mái vòm trời luôn
nhảy múa, lấp lánh, thì thầm dịu dàng; hoặc nghiêng ngả mạnh mẽ theo cơn gió thoảng rồi vươn lên với một cái hất đầu cùng nụ cười vui vẻ. Nơi đây cũng có rất nhiều người bạn nhỏ của hắn, một cộng đồng hoàn chỉnh tự thân, có cuộc sống trọn vẹn và bận rộn, nhưng luôn sẵn sàng chút thời gian rảnh để trò chuyện, trao đổi tin tức với khách ghé thăm. Tuy nhiên, hôm nay, dẫu vẫn lịch sự, lũ chuột đồng và chuột nhắt xem ra có vẻ tâm tư bận rộn. Nhiều con đang cặm cụi đào bới và đục khoét các đường hầm; số khác tụm lại từng nhóm nhỏ, nghiên cứu các bản thiết kế và sơ đồ của những căn hộ nhỏ, được quảng cáo là tiện nghi, gọn gàng và nằm ở vị trí thuận lợi gần các cửa hàng. Vài con đang kéo ra những chiếc rương bám đầy bụi và giỏ đựng quần áo, số khác đã xắn tay áo bận rộn đóng gói đồ đạc; trong khi khắp nơi, những đống và bó lúa mì, lúa yến mạch, lúa mạch, hạt dẻ gai cùng các loại hạt nằm ngổn ngang sẵn sàng để vận chuyển.
"Kìa cậu Ratty đây rồi!" chúng kêu lên ngay khi trông thấy hắn. "Đến phụ một tay đi Rat, đừng đứng ngẩn ra đó nữa!"
"Các cậu đang giở trò gì thế?" Chuột Nước nghiêm khắc hỏi. "Các cậu thừa biết còn lâu mới đến lúc
phải nghĩ đến chuyện tìm chỗ trú đông cơ mà!"
"Ồ vâng, chúng tôi biết chứ," một chú chuột đồng giải thích với vẻ hơi ngượng ngùng; "nhưng chuẩn bị sớm bao giờ cũng hơn chứ bộ? Chúng tôi thực sự phải chuyển toàn bộ đồ đạc, hành lý và thức ăn ra khỏi đây trước khi mấy cỗ máy kinh khủng kia bắt đầu rẹt rẹt quanh các cánh đồng; rồi thì, anh biết đấy, những căn hộ đẹp nhất thường bị thuê sạch rất nhanh vào thời gian này, và nếu chậm chân thì anh chỉ còn cách vớ lấy bất cứ thứ gì; với lại chúng cũng cần sửa sang chán chê mới dọn vào ở được. Tất nhiên, chúng tôi biết mình hơi vội; nhưng chúng tôi mới chỉ bắt đầu thôi mà."
"Thôi đi, bắt đầu với chả bận rộn," Chuột Nước nói. "Hôm nay trời đẹp lắm. Đi chèo thuyền, hay dạo dọc các hàng rào, hoặc tổ chức dã ngoại trong rừng, hay làm gì đó đi."
"Ờ, chắc là hôm nay thì không, cảm ơn anh nhé," chú chuột đồng vội vã đáp. "Có lẽ hôm khác—khi chúng tôi rảnh hơn—"
"Hừ," Chuột Nước khinh khỉnh quay gót bỏ đi, chẳng may vấp phải một cái hộp đựng mũ và ngã nhào kèm theo vài lời cằn nhằn mất lịch sự.
"Nếu người ta cẩn thận hơn," một chú chuột đồng lên giọng khá nghiêm khắc, "và chú ý lối đi của mình, thì đã chẳng tự làm đau bản thân—rồi lại mất tự chủ. Tránh cái túi du lịch kia ra đấy, Rat! Tốt hơn là anh nên ngồi đâu đi. Phải tiếng nữa hoặc hơn chúng tôi mới có thời gian rảnh để tiếp anh."
"Cái gọi là 'rảnh rỗi' của các cậu chắc còn lâu mới tới trước lễ Giáng sinh, tôi thấy rõ điều đó," Chuột Nước bực bội đáp lời trong lúc dò dẫm bước ra khỏi cánh đồng.
"Hắn hơi chán nản quay trở lại dòng sông quen thuộc—dòng sông trung thực, hiền hòa của hắn, nơi chưa từng bao giờ thu dọn hành lý, dời đi hay tìm chỗ trú đông."
"Ẩn mình trong bụi liễu ven bờ, hắn thoáng thấy một con én đang đậu. Chẳng mấy chốc có con thứ hai bay đến, rồi con thứ ba; và bầy chim, bồn chồn không yên trên cành cây, thì thầm to nhỏ với nhau đầy vẻ nghiêm túc."
"Sao, đã thế rồi ư," Chuột Nước bước tới và cất tiếng hỏi. "Vội vàng cái gì chứ? Tôi thấy thật là nực cười."
"Ồ, chúng tôi đã đi ngay đâu, nếu ý anh là thế," con én đầu tiên đáp. "Chúng tôi mới chỉ lên kế hoạch và sắp xếp mọi thứ thôi. Đang bàn bạc ấy mà—lộ trình năm nay sẽ đi thế nào, dừng chân ở đâu, vân vân và vân vân. Thế mới là một nửa cái thú chứ!"
"Thú vị ư?" Chuột Nước nói; "Đó chính là điều tôi không tài nào hiểu nổi. Nếu các anh phải rời khỏi chốn dễ chịu này, rời xa những người bạn sẽ nhớ thương các anh, và những tổ ấm ấm cúng mà các anh vừa mới ổn định, thì chà, khi thời khắc ấy điểm, tôi tin chắc các anh sẽ can đảm cất bước, đối mặt với mọi rắc rối, bất tiện, đổi thay và bỡ ngỡ, rồi giả vờ như mình không hề đau khổ lắm. Nhưng lại đi muốn bàn về chuyện đó, hay thậm chí nghĩ về nó từ sớm thế khi mà thực sự chưa cần—"
"Không, dĩ nhiên là anh không hiểu rồi," con én thứ hai nói. "Trước hết, chúng tôi cảm thấy nó đang cựa quậy trong lòng, một thứ nỗi niềm bồn chồn ngọt ngào; rồi những ký ức lần lượt ùa về, tựa như những chú chim bồ câu đưa thư biết bay về tổ. Chúng chao lượn qua những giấc mơ của chúng tôi ban đêm, chúng bay cùng chúng tôi trong những vòng lượn ban ngày. Chúng tôi khao khát được hỏi han lẫn nhau, được so sánh những ghi chép và tự nhủ rằng tất cả những điều ấy là có thật, khi từng chút một, hương thơm, âm thanh và tên gọi của những xứ sở bị lãng quên từ lâu cứ thế dần quay trở lại và vẫy gọi chúng tôi."
"Các anh không thể ở lại thêm đúng năm nay thôi sao?" Chuột Nước đầy vẻ tha thiết gợi ý. "Tất cả chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để làm cho các anh cảm thấy như ở nhà. Các anh không thể tưởng tượng nổi chúng tôi có những khoảng thời gian tuyệt vời thế nào ở đây, trong lúc các anh ở tít đằng xa đâu."
"Tôi đã từng thử 'ở lại' một năm," con én thứ ba kể. "Tôi đã quá yêu nơi này đến nỗi khi thời điểm đến, tôi đã nấn ná ở lại và để những con khác đi trước. Vài tuần đầu thì mọi chuyện vẫn ổn, nhưng sau đó, ôi chao, những đêm dài đằng đẵng làm sao! Những ngày buốt giá, không một bóng mặt trời! Bầu không khí ẩm ướt và lạnh ngắt, tìm đỏ mắt không ra một con côn trùng! Không, chẳng ích gì; lòng dũng cảm của tôi đã sụp đổ, và vào một đêm giá rét, bão bùng, tôi đã chắp cánh bay thẳng vào sâu trong đất liền vì những cơn gió đông bắc thổi dữ dội. Tuyết rơi dày đặc khi tôi vượt qua các đèo của những ngọn núi lớn, và tôi đã phải chật vật lắm mới lách qua được; nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ quên được cảm giác hạnh phúc khôn tả khi ánh mặt trời ấm áp chiếu rọi tấm lưng mình một lần nữa, lúc tôi lao xuống những hồ nước nằm xanh thẳm và phẳng lặng bên dưới, cùng hương vị của con côn trùng béo múp đầu tiên! Quá khứ tựa như một cơn ác mộng; tương lai trải dài một kỳ nghỉ ngơi hạnh phúc khi tôi di chuyển về phương nam tuần qua tuần, thong thả, lười biếng, nán lại bao lâu tùy thích, nhưng luôn lắng nghe tiếng gọi! Không, tôi đã nhận được bài học cho mình; chẳng bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện cãi lệnh nữa."
"A vâng, tiếng gọi của Phương Nam, của Phương Nam!" hai con én kia ríu rít với giọng mơ màng. "Những khúc ca, những sắc màu, bầu không khí rực rỡ ấy! Ôi, anh có nhớ..." và quên mất cả Chuột Nước, chúng chìm đắm trong những hồi tưởng nồng nhiệt, trong khi hắn say sưa lắng nghe và trái tim như bừng cháy trong lồng ngực. Tự trong thâm tâm, hắn cũng biết rằng cuối cùng sợi dây đàn vốn ngủ quên và chưa từng được ngờ tới ấy đang rung lên. Chỉ những lời trò chuyện râm ran của bầy chim sắp bay về phương nam ấy, những lời thuật lại mờ nhạt và gián tiếp của chúng, mà vẫn đủ sức đánh thức cảm giác hoang dại mới mẻ này, chạy dọc râm ran khắp cơ thể hắn; thử hỏi nếu là một khoảnh khắc thực sự thì sẽ lay động hắn đến nhường nào—một cái chạm nồng nàn của ánh nắng phương nam đích thực, một luồng hương thơm nguyên bản? Nhắm nghiền đôi mắt, hắn dám thả mình mơ mộng trong phút chốc, và khi mở mắt ra lần nữa, dòng sông chợt trở nên xám ngắt lạnh băng, những cánh đồng xanh bỗng xám xịt và vô hồn. Đoạn, trái tim trung thực của hắn dường như đang trách móc phần yếu đuối đầy phản bội trong con người mình.
"Thế sao các anh còn quay trở lại đây làm gì nữa?" hắn gặng hỏi bầy én với chút tỵ hiềm. "Các anh tìm thấy điều gì hấp dẫn ở cái xứ sở nhỏ bé nghèo nàn, tẻ nhạt này chứ?"
"Và anh có nghĩ rằng," con én đầu tiên cất lời, "tiếng gọi kia cũng hướng về chúng tôi khi đến mùa hay không? Tiếng gọi của những thảm cỏ đồng bằng tươi tốt, những vườn cây ẩm ướt, những ao hồ ấm áp dập dìu côn trùng, của đàn gia súc gặm cỏ, của mùa gặt cỏ, và tất cả những ngôi nhà trang trại quây quần bên Mái Hiên hoàn hảo?"
"Anh có cho rằng," con thứ hai hỏi, "mình anh là sinh vật duy nhất khao khát đến cháy lòng được nghe lại tiếng hót của chim cuốc hay sao?"
"Đúng thời điểm," con thứ ba đáp, "chúng tôi sẽ lại nhớ nhà khôn nguôi vì những đóa súng hiền hòa trôi dạt trên mặt nước một dòng sông Anh quốc. Nhưng hôm nay, tất cả những điều ấy có vẻ thật nhạt nhòa, mong manh và xa vời lắm. Lúc này đây, dòng máu trong huyết quản chúng tôi đang nhún nhảy theo một điệu nhạc khác."
"Chúng lại ríu rít chuyện trò với nhau lần nữa, và lần này khúc ca ngây ngất của chúng kể về những vùng biển tím ngắt, những bãi cát vàng óng và những bức tường rêu phong ẩn hiện bóng thằn lằn."
"Chuột Nước bồn chồn bước đi lần nữa, leo lên sườn dốc thoai thoải nhô lên từ bờ bắc con sông, rồi nằm dài phóng tầm mắt hướng về vành đai Downs vĩ đại đang chắn ngang tầm nhìn xa hơn về phía nam—đường chân trời giản đơn bấy lâu nay của hắn, Dãy Núi Mặt Trăng của hắn, biên giới phía sau là chốn chẳng có gì khiến hắn bận tâm hay muốn tìm hiểu. Hôm nay, khi hướng về phương nam với một nỗi khát khao mới chớm nở trong tim, bầu trời quang đãng phía trên đường viền thấp dài ấy dường như đang rung lên đầy hứa hẹn; hôm nay, điều khuất mắt là tất cả, sự vô danh chính là thực tế duy nhất của cuộc đời. Phía bên này đồi giờ đây chỉ là một khoảng trống trải, còn bên kia là bức tranh toàn cảnh đông đúc và rực rỡ mà đôi mắt nội tâm của hắn đang nhìn thấy vô cùng rõ ràng. Những vùng biển nào đang trải dài phía bên kia, xanh thẳm, cuồn cuộn và có những ngọn sóng bạc đầu! Những bờ biển ngập tràn ánh nắng, nơi những căn biệt thự trắng lấp lánh tựa vào rừng ô-liu! Những bến cảng yên bình, tấp nập những con tàu oai hùng hướng về các hòn đảo tía ngập tràn rượu vang và gia vị, những hòn đảo nằm thấp thoảng giữa làn nước uể oải lười biếng!"
"Hắn đứng dậy và quay lại hướng dòng sông; rồi lại đổi ý, tìm ra con đường mòn phủ đầy bụi. Ở đó, nằm nửa mình vùi trong đám thảm thực vật dày, mát lạnh ven hàng rào bao quanh, hắn có thể trầm ngâm nghĩ về con đường trải nhựa và cả thế giới kỳ diệu mà nó dẫn tới; nghĩ về tất cả những lữ khách từng bước qua đây, cùng những vận may và cuộc phiêu lưu mà họ đã lên đường tìm kiếm hoặc tình cờ gặp được—ngoài kia, ở phía bên kia—bên kia!"
"Tiếng bước chân vang lên bên tai, và bóng dáng một kẻ đi đường với vẻ mệt mỏi hiện ra; hắn nhận ra đó là một chú chuột, và trông vô cùng bám đầy bụi bặm. Khi đến gần, người lữ hành cúi chào bằng một cử chỉ lịch sự mang chút phong vị ngoại quốc—ngập ngừng giây lát—rồi với nụ cười thân thiện, bước khỏi lối mòn và ngồi xuống bên cạnh hắn trong đám cỏ mát rượi. Trông anh ta có vẻ mệt mỏi, và Chuột Nước để mặc cho anh nghỉ ngơi không gặng hỏi, phần nào thấu hiểu những suy nghĩ trong đầu anh ta; đồng thời cũng biết rõ giá trị mà đôi khi mọi loài đều gán cho sự đồng hành lặng thầm, khi những cơ bắp rã rời được thả lỏng và tâm trí tạm ngừng quay cuồng."
"Người lữ hành gầy gò, sắc sảo, bờ vai hơi gom lại; đôi bàn chân mỏng và dài, khóe mắt hằn nhiều nếp nhăn, và anh ta đeo đôi khuyên tai vàng nhỏ trên đôi tai được cắt tỉa gọn gàng, cân đối. Chiếc áo len dệt của anh mang màu xanh phai, chiếc quần đùi vá víu và vấy bẩn có nền màu xanh, cùng những món đồ đạc nhỏ nhặt mang theo được gói gọn trong một chiếc khăn tay bằng vải cotton xanh."
"Sau khi nghỉ ngơi một lát, người lạ thở dài, hít một hơi không khí và nhìn quanh."
"Đó là mùi cỏ ba lá, luồng gió ấm thổi qua," anh nhận xét; "và kia là tiếng bò đang gặm cỏ phía sau chúng ta, thở khì khì nhè nhẹ giữa mỗi miếng ăn. Có tiếng những người gặt lúa đằng xa, và đằng kia làn khói lam chiều của một mái nhà tranh uốn lượn bên mé rừng. Dòng sông chảy đâu đó gần đây, vì tôi nghe thấy tiếng kêu của một con gà nước, và qua vóc dáng của anh, tôi đoán anh là một thủy thủ nước ngọt. Mọi thứ trông như đang ngủ say, thế nhưng vẫn liên tục chuyển động. Đó là một cuộc đời tươi đẹp mà anh đang sống, bạn tôi ạ; chắc chắn là tuyệt vời nhất trên đời, miễn là anh đủ sức để sống nó!"
"Vâng, đó là cuộc sống, là cuộc sống duy nhất để sống," Chuột Nước mơ màng đáp lại, với sự xác tín không hoàn toàn sôi nổi như thường lệ.
"Tôi không hoàn toàn nói thế," người lạ thận trọng đáp; "nhưng chắc chắn nó là tốt nhất. Tôi đã thử qua rồi, và tôi biết. Và chính vì tôi vừa thử nó—sáu tháng ròng rã—và biết nó là tốt nhất, nên giờ tôi mới ở đây, đau chân và đói khát, lê bước rời xa nó, bước đi về phương nam, tuân theo tiếng gọi xưa cũ, trở về với cuộc sống cũ, cuộc sống vốn dĩ thuộc về tôi và không chịu buông tha tôi."
"Hóa ra đây lại là một kẻ như thế nữa sao?" Chuột Nước trầm ngâm. "Và anh vừa đến từ đâu vậy?" hắn hỏi. Hắn hầu như không dám hỏi anh ta đang định đi đâu; hắn dường như biết rõ câu trả lời quá rồi.
"Một nông trại nhỏ xinh," người lữ hành ngắn gọn đáp. "Tít trên hướng ấy—" anh ta hất cằm về phía bắc. "Khỏi cần bận tâm làm gì. Tôi có mọi thứ mình muốn—mọi thứ chính đáng có quyền mong đợi từ cuộc đời, và hơn thế nữa; thế mà tôi vẫn ở đây! Dù sao thì vẫn mừng vì được ở đây, mừng vì được ở đây! Thêm được bao nhiêu dặm đường, thêm được bấy nhiêu giờ tiến gần hơn đến ước nguyện của trái tim!"
"Đôi mắt sáng ngời của anh ta dán chặt vào đường chân trời, và anh dường như đang lắng nghe một âm thanh nào đó còn thiếu vắng từ vùng đất nội địa ấy, dù nơi đó vốn vang vọng khúc ca vui tươi của những đồng cỏ và trang trại."
"Anh không phải là người của chúng tôi," Chuột Nước nói, "cũng chẳng phải nông dân; thậm chí, tôi đoán, không phải người xứ này."
"Đúng thế," người lạ đáp. "Tôi là một chú chuột miền biển, đúng vậy, và cảng quê hương nguyên thủy của tôi là Constantinople, dẫu ở đó tôi cũng xem như một người ngoại quốc theo mộthướng nào đó. Chắc bạn đã nghe nói về Constantinople rồi chứ? Một thành phố tươi đẹp, cổ kính và huy hoàng. Và có lẽ bạn cũng từng nghe kể về Sigurd, Vua xứ Na Uy, cùng chuyện ngài đã giương buồm đến đó với sáu mươi chiếc thuyền thế nào, cách ngài và đoàn tùy tùng cưỡi ngựa qua những con đường được trang hoàng lộng lẫy bằng sắc tía và vàng vì vinh dự của họ; cùng việc Hoàng đế và Hoàng hậu đã thân chinh đến dự yến tiệc trên chiến thuyền của ngài ra sao. Khi Sigurd trở về nước, nhiều người Na Uy trong đoàn đã ở lại và gia nhập đội cận vệ của Hoàng đế, còn tổ tiên tôi, một người sinh ra ở Na Uy, cũng ở lại cùng những chiếc tàu mà vua Sigurd hiến tặng Hoàng đế. Chúng tôi vốn là những người miền biển từ muôn đời nay, và cũng chẳng có gì lạ; còn với tôi, thành phố nơi tôi sinh ra chẳng còn là nhà nữa, cũng như bất kỳ bến cảng dễ chịu nào nằm giữa nơi đó và sông Thames ở London vậy. Tôi thuộc làu tất cả, và chúng cũng quen thuộc với tôi. Cứ thả tôi xuống bất kỳ bến cảng hay bờ biển nào của chúng, là tôi thấy mình đã về nhà."
"Chắc anh đi những chuyến hải trình lớn lắm nhỉ," Chuột Nước hỏi với sự tò mò ngày một tăng. "Hàng tháng trời không thấy bóng đất liền, lương thực thì cạn dần, nước uống được phân phát định mức, và tâm trí giao hòa cùng đại dương bao la, kiểu dạng thế ấy?"
"Hoàn toàn không," Chuột Mối biển thành thật đáp. "Một cuộc sống như anh miêu tả không hề hợp với tôi chút nào. Tôi làm nghề chạy tàu ven bờ, và hiếm khi khuất tầm mắt đất liền. Chính những khoảng thời gian vui vẻ trên bờ mới là điều thu hút tôi, chẳng kém gì chuyện đi biển. Ôi, những thành phố cảng phương nam ấy! Mùi hương của chúng, những ngọn đèn neo đậu ban đêm, ánh hào quang quyến rũ!"
"Chà, có lẽ anh đã chọn con đường tốt hơn," Chuột Nước nói, nhưng có phần hoài nghi. "Vậy hãy kể cho tôi nghe một chút về những chuyến hải trình ven bờ của anh, nếu anh muốn, và loại 'chiến lợi phẩm' nào mà một chú chuột có tinh thần phiêu lưu có thể hy vọng mang về nhà để sưởi ấm những năm tháng xế chiều bằng những ký ức hào hùng bên ngọn lửa; bởi vì thú thật với anh, cuộc đời tôi hôm nay bỗng thấy có phần chật hẹp và quanh quẩn quá."
"Chuyến đi biển cuối cùng của tôi," Chuột Biển bắt đầu kể, "đưa tôi đặt chân đến xứ sở này, mang theo những kỳ vọng lớn lao cho trang trại nội địa, sẽ là một ví dụ điển hình cho bất kỳ chuyến đi nào, và quả thực, là hình ảnh thu nhỏ cho cuộc đời rực rỡ sắc màu của tôi. Rắc rối gia đình, như thường lệ, là ngọn nguồn. 'Cờ bão' nội bộ đã được kéo lên, và tôi dấn thân lên một con tàu buôn nhỏ khởi hành từ Constantinople, băng qua những vùng biển cổ điển nơi từng con sóng đều rung động với một ký ức bất tử, hướng đến các hòn đảo Hy Lạp và vùng Cận Đông. Đó là những ngày vàng son và những đêm ngát hương! Cứ ra vào bến cảng suốt dọc đường—bè bạn cũ ở khắp mọi nơi—ngủ trong một ngôi đền mát mẻ hoặc bể nước cổ bị bỏ hoang khi trời oi bức—yến tiệc và ca hát sau khi mặt trời lặn, dưới những vì sao lớn lấp lánh trên bầu trời nhung mịn! Từ đó chúng tôi quay thuyền ngược lên biển Adriatic, bờ biển ngập tràn bầu không khí sắc hổ phách, hồng và xanh ngọc lam; chúng tôi nằm neo trong những vũng biển rộng kín gió, lang thang qua những thành phố cổ kính và cao quý, cho đến cuối cùng vào một buổi sáng, khi mặt trời uy nghi mọc lên sau lưng, chúng tôi tiến vào Venice trên con đường vàng rực. Ồ, Venice là một thành phố tuyệt vời, nơi một chú chuột có thể thong thả lang thang và vui chơi thỏa thích! Hoặc khi mỏi chân phiêu du, có thể ngồi bên mép Đại Kênh vào ban đêm, yến tiệc cùng bạn bè, khi không gian ngập tràn âm thanh và bầu trời lấp lánh ánh sao, còn những ngọn đèn chớp lóa lung linh trên mũi thép bóng loáng của những chiếc thuyền gondola đỗ san sát đến mức anh có thể bước qua kênh từ bờ bên này sang bờ bên kia! Và rồi món ăn—anh thích động vật có vỏ chứ? Thôi nào, chúng ta sẽ không dây dưa mãi về chuyện đó nữa."
"Anh ta im lặng một lát; và Chuột Nước, cũng lặng thầm và bị mê hoặc, bồng bềnh trôi trên những con kênh trong mơ và nghe văng vẳng khúc ca ảo ảnh ngân lên giữa những bức tường xám mờ vỗ sóng."
"Cuối cùng chúng tôi lại giương buồm xuôi về phương nam," Chuột Biển tiếp tục, "chạy dọc bờ biển Ý, cho đến khi cuối cùng cập bến Palermo, và tại đó tôi rời tàu để có một khoảng thời gian dài vui vẻ trên bờ. Tôi không bao giờ gắn bó quá lâu với một con tàu; người ta sẽ trở nên hẹp hòi và định kiến. Hơn nữa, Sicily là một trong những địa bàn săn bắn ưa thích của tôi. Tôi quen biết mọi người ở đó, và phong cách của họ rất hợp với tôi. Tôi đã trải qua nhiều tuần lễ vui vẻ trên hòn đảo, tá túc cùng bạn bè ở vùng sâu trong nội địa. Khi cảm thấy bồn chồn trở lại, tôi tranh thủ một con tàu đang buôn bán với Sardinia và Corsica; và tôi vô cùng mừng rỡ khi được cảm nhận luồng gió tươi mát và hơi nước mặn mòi phả vào mặt một lần nữa."
"Nhưng chẳng phải dưới cái—hầm tàu, như các anh gọi ấy—rất nóng và ngột ngạt sao?" Chuột Nước hỏi.
"Kẻ đi biển nhìn anh với cái nháy mắt thoáng qua. "Tôi là tay lão luyện rồi," hắn đơn giản đáp. "Buồng của thuyền trưởng là đủ tốt cho tôi."
"Đó là một cuộc đời gian khổ, qua những gì người ta kể," Chuột Nước lẩm bẩm, chìm đắm trong suy tư sâu sắc."
"Đối với thủy thủ đoàn thì đúng là thế," người đi biển trầm ngâm đáp, lại với một cái nháy mắt thoáng qua."
"Từ Corsica," hắn tiếp lời, "tôi quá giang một con tàu chở rượu vang vào đất liền. Chúng tôi đến Alassio vào lúc chiều tối, thả neo, kéo những thùng rượu vang lên và quăng chúng xuống nước, buộc chúng lại với nhau bằng một sợi dây dài. Thế là thủy thủ đoàn nhảy xuống xuồng chèo vào bờ, vừa đi vừa hát vang, kéo theo sau chiếc đuôi bồng bềnh dài ngoẵng của những chiếc thùng, trông giống như một dặm cá heo. Trên bãi cát, họ đã chuẩn bị sẵn ngựa, để kéo những chiếc thùng ngược con dốc đứng của thị trấn nhỏ với tiếng lách cách, hò reo và vó ngựa khua rộn rã. Khi chiếc thùng cuối cùng đã được đưa vào trong, chúng tôi đi thư giãn, nghỉ ngơi, ngồi đến tận đêm khuya chén chú chén anh với bạn bè, và sáng hôm sau tôi vào rừng ô-liu rậm rạp để nghỉ ngơi một thời gian. Vì lúc bấy giờ tôi đã tạm biệt các hòn đảo, các bến cảng và tàu thuyền thì vô số kể; thế nên tôi sống một cuộc đời lười biếng giữa những người nông dân, nằm ngắm họ làm việc, hoặc vươn dài người trên sườn đồi với biển Địa Trung Hải xanh thẳm ở tít tắp bên dưới. Và cứ thế, qua từng chặng thong thả, khi thì đi bộ, khi lại đi thuyền, tôi đến Marseille, hội ngộ những bạn tàu cũ, thăm thú những con tàu đại dương vĩ đại và lại tham gia những bữa yến tiệc. Nhắc đến động vật có vỏ mà xem! Chà, đôi khi tôi mơ về động vật có vỏ ở Marseille, và thức giấc trong nước mắt!"
"Đó là một cuộc đời gian khổ,
qua những gì người ta kể," Chuột Nước lẩm bẩm
"Điều đó nhắc tôi nhớ ra," Chuột Nước lịch sự lên tiếng; "anh vừa vô tình nhắc đến chuyện mình đang đói, và đáng lẽ tôi phải lên tiếng sớm hơn. Dĩ nhiên là anh sẽ ở lại dùng bữa trưa với tôi chứ? Hang của tôi ở ngay gần đây thôi; trời đã quá trưa rồi, và anh cứ tự nhiên dùng bất cứ thứ gì có sẵn nhé."
"Nghe thật tử tế và huynh đệ làm sao!" Chuột Biển nói. "Tôi thực sự đói khi ngồi xuống đây, và từ lúc vô tình nhắc đến món động vật có vỏ, cảm giác cồn cào trong bụng đã lên đến đỉnh điểm. Nhưng anh có thể mang thức ăn ra đây luôn được không? Tôi vốn chẳng mặn mà gì với việc chui xuống dưới boong tàu trừ khi bắt buộc; và thế rồi, trong lúc chúng ta ăn, tôi có thể kể cho anh nghe nhiều hơn về những chuyến hải trình và cuộc sống tươi đẹp mà tôi dẫn dắt—ít nhất là nó rất tươi đẹp đối với tôi, và qua sự chú ý của anh, tôi đoán nó cũng hợp ý anh; trong khi nếu chúng ta vào nhà, chắc đến chín mươi phần trăm là tôi sẽ lăn ra ngủ mất thôi."
"Đó quả là một gợi ý tuyệt vời," Chuột Nước nói và vội vã chạy về nhà. Ở đó, hắn lấy chiếc giỏ đựng bữa trưa và chuẩn bị một bữa ăn đạm bạc, trong đó, nhớ đến gốc gác và sở thích của người lạ, hắn cẩn thận cho vào một thước bánh mì dài kiểu Pháp, một khúc xúc xích thơm lừng mùi tỏi, một miếng phô mai nặng mùi đến mức chảy nước mắt, và một chiếc bình cổ dài bọc rơm chứa đầy ánh nắng được chưng cất và thu hoạch từ những sườn đồi Nam Âu xa xôi. Mang theo chiến lợi phẩm ấy, hắn quay lại với tốc độ tối đa, đỏ mặt vì hài lòng trước những lời khen ngợi của người thủy thủ già dành cho gu thẩm mỹ và sự tinh tế của mình, khi cả hai cùng mở giỏ và bày biện thức ăn lên thảm cỏ ven đường."
"Chuột Biển, ngay khi cơn đói được xoa dịu phần nào, tiếp tục câu chuyện về chuyến hải trình mới nhất của mình, dẫn dắt người nghe giản dị của mình đi từ bến cảng này đến bến cảng khác của Tây Ban Nha, thả anh ta xuống Lisbon, Oporto và Bordeaux, giới thiệu những bến cảng dễ chịu ở Cornwall và Devon, rồi ngược dòng Eo biển đến bến đỗ cuối cùng ấy—nơi mà sau những ngày dài ngược gió, chống chọi giông bão và dãi dầu sương gió, anh đã bắt gặp những gợi ý và điềm báo kỳ diệu đầu tiên về một Mùa Xuân khác, và được truyền cảm hứng bởi điều đó, đã lao vào một chuyến đi dài ngày trong đất liền, khao khát thử nghiệm cuộc sống tại một trang trại yên bình nào đó, nơi cách xa tiếng gầm gào mệt mỏi của mọi đại dương."
"Bị mê hoặc và run rẩy vì phấn khích, Chuột Nước theo chân Nhà thám hiểm từng dặm đường một, qua những vịnh biển bão bùng, qua những vũng tàu đông đúc, vượt qua các cửa biển trong con nước xiết, ngược dòng những con sông uốn lượn giấu mình những thị trấn nhỏ bận rộn sau khúc cua bất ngờ; rồi để mặc anh ta với một tiếng thở dài tiếc nuối tại trang trại nội địa tẻ nhạt của mình, nơi mà anh chẳng mảy may muốn nghe đến điều gì."
"Đến lúc này bữa ăn đã kết thúc, và Người đi biển, khỏe khoắn và sảng khoái hơn, giọng nói ngân vang hơn, ánh mắt bừng sáng như thể được bắt nhịp từ ngọn hải đăng xa xôi nào đó, rót đầy ly rượu vang đỏ rực rỡ của phương nam, rồi ngả người về phía Chuột Nước, ép buộc ánh mắt hắn và giữ chặt hắn, cả thể xác lẫn tâm hồn, trong lúc anh cất lời. Đôi mắt ấy mang sắc xám xanh pha lẫn bọt biển đổi thay của những vùng biển phương bắc cuộn trào; trong ly rượu lấp lánh sắc hồng ngọc nóng bỏng tựa như trái tim của phương nam, đang đập vì những ai có đủ dũng khí đáp lại nhịp đập ấy. Ánh sáng kép ấy, sắc xám biến ảo và sắc đỏ kiên định, đã chế ngự Chuột Nước và giữ chân hắn lại, say đắm, mê muội và bất lực. Thế giới tĩnh lặng bên ngoài ánh sáng ấy lùi xa tít tắp và tan biến. Và câu chuyện, câu chuyện kỳ diệu cứ thế tuôn chảy—hay đó hoàn toàn là lời nói, hay thỉnh thoảng nó chuyển thành khúc ca—bài ca của các thủy thủ khi kéo chiếc neo đẫm nước, tiếng ngân vang trầm đợt của dây chằng trong cơn gió đông bắc gào thét, khúc ballad của người ngư dân kéo lưới lúc chiều tà trước bầu trời màu mơ chín, những hợp âm ghi-ta và mandolin từ thuyền gondola hay thuyền caique? Nó có biến thành tiếng gió, thoạt đầu u sầu, rồi sắc nhọn giận dữ khi mạnh dần lên, vút lên thành tiếng hú xé rách, rồi hạ xuống thành dòng suối âm nhạc róc rách từ rìa cánh buồm căng phồng? Tất cả những âm thanh ấy, người nghe bị thôi miên dường như đều nghe thấy, cùng với tiếng kêu đói khát của mòng biển và hải âu, tiếng sấm trầm đục của con sóng vỡ bờ, tiếng kêu phản kháng của lớp sỏi đá. Nó lại chuyển về ngôn ngữ bình thường, và với trái tim đập rộn ràng, hắn đang dõi theo những cuộc phiêu lưu qua hàng tá thành phố cảng, những trận chiến, những cuộc trốn chạy, những pha tập hợp, tình bằng hữu, những sứ mệnh hào hùng; hoặc hắn lục lọi các hòn đảo tìm kho báu, câu cá trong những đầm phá phẳng lặng và ngủ ngày dài trên bãi cát trắng ấm áp. Hắn được nghe kể về những chuyến đánh bắt cá biển sâu, những mẻ lưới dài cả dặm thu hoạch bạc triệu lấp lánh; về những hiểm nguy bất ngờ, tiếng sóng gầm rú trong đêm không trăng, hay mũi tàu cao vút của chiếc tàu biển lớn hiện hình phía trên qua màn sương mù; về khúc ca khải hoàn trở về nhà, mũi đất được vòng qua, ánh đèn bến cảng mở ra; những nhóm người lờ mờ nhìn thấy trên cầu tàu, tiếng gọi vui tươi, tiếng lướt nước của dây neo; bước chân mỏi mệt ngược con dốc nhỏ hướng về ánh sáng ấm áp của những ô cửa sổ có rèm đỏ."
"Cuối cùng, trong giấc mơ tỉnh táo của mình, hắn có cảm giác Nhà thám hiểm đã đứng dậy, nhưng vẫn đang nói, vẫn giữ chặt hắn bằng đôi mắt xám màu biển."
"Và giờ đây," anh ta nhẹ nhàng cất lời, "tôi lại lên đường, bước tiếp hướng tây nam qua bao ngày dài bụi bặm; cho đến cuối cùng tôi chạm tới thị trấn biển xám xịt nhỏ bé mà tôi vô cùng quen thuộc, bám lấy một sườn dốc của bến cảng. Ở đó qua những ô cửa tối, anh nhìn xuống những bậc thềm đá, được che phủ bởi những chùm hoa valerian hồng rực và kết thúc ở một mảnh nước xanh lấp lánh. Những chiếc thuyền nhỏ buộc vào vòng sắt và cột trụ của bức tường biển cổ được sơn vẽ sặc sỡ như những chiếc thuyền tôi từng leo lên leo xuống thời thơ ấu; cá hồi tung tăng nhảy múa trong con nước lớn, từng đàn cá thu lướt qua và vui đùa dọc cầu tàu và bãi bồi, và bên khung cửa sổ những con tàu lớn lướt qua, ngày lẫn đêm, tiến về bến đậu hoặc ra khơi xa. Ở đó, sớm hay muộn, tàu bè từ mọi quốc gia hàng hải sẽ cập bến; và ở đó, vào giờ khắc định mệnh, con tàu tôi chọn sẽ thả neo. Tôi sẽ thong thả, tôi sẽ nán lại và chờ đợi, cho đến khi cuối cùng con tàu phù hợp xuất hiện chờ tôi, được kéo ra giữa dòng, chìm sâu vì trọng tải, mũi tàu hướng thẳng ra cửa cảng. Tôi sẽ lẻn lên tàu, bằng xuồng hoặc theo đường dây neo; và rồi một sáng nọ tôi sẽ thức giấc giữa tiếng hát và tiếng bước chân nện rầm rầm của các thủy thủ, tiếng kêu lanh lảnh của trục tời và tiếng lách cách của xích neo đang được kéo lên vui vẻ. Chúng ta sẽ căng buồm dọc và buồm trước, những ngôi nhà trắng ven cảng sẽ trôi chậm qua khi con tàu bắt đầu ăn lái, và chuyến hải trình đã chính thức bắt đầu! Khi con tàu lao về phía mũi đất, nó sẽ khoác lên mình tấm áo bằng vải bạt; và rồi, một khi ra đến ngoài khơi, là tiếng vỗ đập chắc nịch của những ngọn sóng xanh vĩ đại khi con tàu nghiêng mình theo gió, hướng thẳng về phương nam!"
"Còn anh, anh cũng sẽ đi cùng, người em trai trẻ; bởi những ngày tháng trôi qua chẳng bao giờ trở lại, và phương nam vẫn đang chờ đợi anh. Hãy dấn thân vào cuộc phiêu lưu, lắng nghe tiếng gọi, ngay bây giờ trước khi khoảnh khắc không thể vãn hồi trôi qua! Đó chỉ là tiếng đóng sập cửa phía sau lưng, một bước chân hân hoan tiến về phía trước, là anh đã bước ra khỏi cuộc sống cũ và bước vào cuộc sống mới! Rồi một ngày nào đó, một ngày nào đó xa xôi sau này, hãy thong thả quay về đây nếu anh muốn, khi chiếc cốc đã cạn và vở kịch đã hạ màn, và ngồi xuống bên dòng sông yên bình của mình với một kho tàng ký múc những kỷ niệm tuyệt vời làm bạn đồng hành. Anh có thể dễ dàng đuổi kịp tôi trên đường, vì anh còn trẻ, còn tôi thì đang già đi và bước đi nhẹ nhàng. Tôi sẽ nán lại, và ngoảnh nhìn lại; và cuối cùng tôi nhất định sẽ thấy anh đang tiến đến, đầy hào hứng và nhẹ nhõm, với cả phương nam hiển hiện trên gương mặt!"
"Giọng nói nhỏ dần và lịm đi tựa như tiếng kèn tí xíu của một loài côn trùng vụt tắt vào thinh lặng; và Chuột Nước, tê liệt và trân trối nhìn chằm chằm, cuối cùng chỉ còn thấy một chấm nhỏ xa xôi trên bề mặt trắng xóa của con đường."
"Một cách máy móc, hắn đứng dậy và tiến hành thu dọn lại giỏ đựng bữa trưa, cẩn thận và không vội vã. Một cách máy móc, hắn trở về nhà, gom lại vài món đồ thiết yếu nhỏ nhặt cùng những báu vật đặc biệt mà hắn yêu thích, rồi bỏ chúng vào một chiếc túi đeo hông; hành động với sự chậm rãi, di chuyển quanh phòng như kẻ mộng du; đôi tai vẫn lắng nghe với đôi môi hé mở. Hắn vác chiếc túi qua vai, cẩn thận chọn một cây gậy chắc chắn cho hành trình của mình, và không chút vội vã, nhưng cũng không chút do dự nào, hắn bước qua ngưỡng cửa đúng lúc Chuột Chũi xuất hiện ngoài cửa."
"Ơ hay, cậu chuẩn bị đi đâu thế Ratty?" Chuột Chũi ngạc nhiên khôn tả hỏi, túm lấy cánh tay hắn.
"Đi về phương nam, cùng với những người khác," Chuột Nước lẩm bẩm bằng một giọng đơn điệu mơ màng, mắt không hề nhìn lấy đối phương. "Ra biển trước rồi lên tàu, và thế là đến với những bờ biển đang vẫy gọi tôi!"
"Hắn kiên quyết bước tới, vẫn không vội vã, nhưng với mục đích kiên định đến cùng; thế nhưng Chuột Chũi, lúc này đã hoàn toàn hoảng sợ, đứng chắn trước mặt hắn và nhìn sâu vào mắt hắn,
"để rồi nhận ra chúng đờ đẫn, vô hồn và chuyển sang sắc xám loang lổ, biến ảo—không phải đôi mắt của người bạn hắn, mà là mắt của một loài thú nào đó! Quật ngã hắn một cách mạnh mẽ, Chuột Chũi kéo hắn vào trong nhà, quật ngã xuống đất và giữ chặt lấy."
"Chuột Nước giãy giụa tuyệt vọng trong chốc lát, rồi sức lực dường như đột ngột rời bỏ hắn, và hắn nằm bất động, kiệt sức, nhắm nghiền mắt và run rẩy. Chẳng mấy chốc Chuột Chũi đỡ hắn đứng dậy và đặt ngồi vào ghế, nơi hắn ngồi sụp xuống, cơ thể thu ro lại, toàn thân rung lên vì những cơn run bần bật, dần chuyển thành một cơn nấc nghẹn ngào khô khốc đầy kích động. Chuột Chũi chốt chặt cửa, quăng chiếc túi xách vào ngăn kéo rồi khóa lại, và lặng lẽ ngồi xuống chiếc bàn bên cạnh người bạn, chờ cho cơn phát ban kỳ lạ qua đi. Dần dần, Chuột Nước chìm vào một giấc ngủ chập chờn, bị ngắt quãng bởi những cú giật mình và những lời lẩm bẩm hỗn độn về những điều kỳ lạ, hoang dã xa lạ đối với Chuột Chũi vốn chẳng hề hay biết; và từ đó hắn chìm sâu vào giấc ngủ say."
"Với tâm trạng vô cùng lo lắng, Chuột Chũi rời đi một lát để bận rộn với công việc gia đình; và trời đã sẩm tối khi hắn quay trở lại phòng khách và tìm thấy Chuột Nước ở đúng nơi hắn đã bỏ lại, quả thực đã tỉnh hẳn, nhưng vô cùng bơ phờ, im lặng và chán nản. Hắn liếc nhanh vào đôi mắt người bạn; vô cùng mãn nguyện khi thấy chúng đã trong trẻo, sẫm màu và nâu ấm trở lại như trước; rồi hắn ngồi xuống, cố gắng vực dậy tinh thần cho bạn và giúp hắn kể lại những gì đã xảy ra."
"Tội nghiệp Ratty đã cố gắng hết sức để từ từ giải thích mọi thứ; nhưng làm sao hắn có thể diễn tả bằng những lời lẽ lạnh lùng những thứ vốn phần lớn chỉ là gợi ý? Làm sao gợi nhắc lại cho người khác nghe những âm thanh biển cả ma mị từng hát cho hắn nghe, làm sao tái hiện gián tiếp sự kỳ diệu từ hàng trăm hồi ức của người đi biển? Ngay cả với chính bản thân hắn, khi bùa chú đã tan vỡ và ánh hào quang đã vụt tắt, hắn cũng thấy khó lòng giải thích nổi những điều mà chỉ vài giờ trước đó lại tưởng chừng là chân lý tất yếu và duy nhất. Thế nên cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi hắn không tài nào truyền đạt nổi cho Chuột Chũi bất kỳ ý niệm rõ ràng nào về những gì hắn đã trải qua ngày hôm nay."

"Đối với Chuột Chũi, chừng này là quá rõ ràng: cơn bộc phát, hay cơn tấn công ấy, đã qua đi và để lại cho hắn sự tỉnh táo, dẫu vẫn còn run rẩy và gục ngã vì phản ứng phụ.
"Thế nhưng hắn dường như đã mất hết hứng thú với những thứ vốn dĩ làm nên cuộc sống thường nhật của mình, cũng như với mọi dự báo tươi đẹp về những ngày tháng và hoạt động thay đổi mà sự đổi mùa chắc chắn mang lại."
"Thế là, một cách ngẫu nhiên và có vẻ dửng dưng, Chuột Chũi chuyển câu chuyện sang vụ mùa đang được thu hoạch, những chiếc xe ngựa cao ngất cùng đàn gia súc đang gồng mình kéo, những đống rơm rạ ngày một lớn, và vầng trăng lớn mọc lên trên những cánh đồng trống trải điểm xuyết các bó lúa. Hắn nói về những quả táo đang ngả đỏ xung quanh, về những hạt dẻ đang chuyển màu nâu, về mứt, hoa quả ngâm và việc cất các loại rượu thảo mộc; cho đến khi qua những bước đệm nhẹ nhàng ấy, hắn chạm đến giữa mùa đông, với những niềm vui nồng nhiệt cùng cuộc sống gia đình ấm cúng, và lúc đó hắn trở nên dạt dào cảm xúc chẳng khác nào một nhà thơ."
"Dần dần, Chuột Nước bắt đầu ngồi dậy và tham gia cùng. Ánh mắt đờ đẫn của hắn bừng sáng, và vẻ đăm chiêu lắng nghe cũng vơi bớt phần nào."
"Chẳng mấy chốc, Chuột Chũi tinh tế lẻn đi và quay lại với một cây bút chì cùng vài tờ giấy gấp đôi, đặt chúng lên bàn ngay sát khuỷu tay bạn mình."
"Cũng khá lâu rồi cậu không làm thơ đấy nhé," hắn nhận xét. "Cậu có thể thử sức
"vào tối nay xem sao, thay vì—chà, cứ mãi gặm nhấm mọi chuyện như thế. Tớ có cảm giác cậu sẽ thấy dễ chịu hơn rất nhiều khi viết ra được cái gì đó—dù chỉ là mấy vần thơ thôi cũng được."
"Chuột Nước đẩy tập giấy ra xa với vẻ mệt mỏi, nhưng Chuột Chũi khôn ngoan tranh thủ rời khỏi phòng, và khi hắn ngó vào lần nữa một lúc sau đó, Chuột Nước đã hoàn toàn chìm đắm và điếc đặc trước thế giới xung quanh; lúc thì nguệch ngoạc viết, lúc lại mút đầu bút chì. Đúng là hắn mút bút chì nhiều hơn là viết; nhưng đó lại là niềm vui lớn lao đối với Chuột Chũi khi biết rằng sự chữa lành ít ra đã bắt đầu."