
ĐỨA TRẺ NỘI TÂM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CUỘC SỐNG HIỆN TẠI
Sau khi hoàn thành khóa học tiến sĩ và quay về Hàn Quốc chưa được bao lâu, vận may đã đến với tôi. Tôi nhanh chóng được nhận vào làm giảng viên một trường đại học. Niềm hy vọng một ngày nào đó được đứng trên bục giảng của giảng đường đại học là nguồn động lực lớn nhất giúp tôi vượt qua những năm tháng du học khó khăn. Giờ đây, khi đã chạm tay vào cánh cửa mơ ước ấy, tôi không thể ngăn bản thân cảm thấy bồi hồi, xúc động. Những ngày khó khăn lướt qua như một thước phim. Thế nhưng mọi chuyện rối tung ngay từ ngày đầu tiên.
Ngày đầu tiên có tiết dạy ở trường, đang trên đường đến lớp, một em sinh viên nhận ra tôi là giảng viên mới đã mời tôi một ly cà phê mua ở máy bán hàng tự động. Cũng sắp đến giờ vào lớp, nên tôi từ chối và bước vào giảng đường. Một lúc sau, khi tôi đang định bắt đầu tiết học, cửa lớp bật mở và một em sinh viên đi vào. Là em sinh viên đã mời tôi cà phê khi nãy. Thế nhưng, biểu cảm của em ấy rất lạ, nhìn tôi bằng ánh mắt sắc lạnh.
Đúng như dự đoán, trong suốt tiết học, em ấy liên tục đặt câu hỏi cho tôi. Sinh viên ngày nay thường có hai kiểu hỏi: Một số người hỏi vì thực sự tò mò muốn biết, số còn lại đặt câu hỏi để xem mức độ hiểu biết của giảng viên như thế nào. Hành động liên tục hỏi của em ấy thuộc vế thứ hai. Sang tiết học tiếp theo, em ấy lại tiếp tục như thế. Mới đầu tôi có đôi chút lúng túng, nhưng sau khi biết mục đích của em ấy, tôi thấy khó chịu, máu tăng xông lên não. Cảm nhận được căng thẳng giữa tôi và em ấy, các sinh viên khác trong lớp bắt đầu bứt rứt và bực bội trong lòng trước sự thiếu quyết đoán của giảng viên - không thể trị được sinh viên gây phiền nhiễu. Bây giờ, tôi đã xử lý linh hoạt hơn những câu hỏi như thế và còn có thể phê bình khéo mục đích hỏi, nhưng tại thời điểm đó, tôi có chút sợ hãi trước thái độ của các sinh viên ngang bướng. Thậm chí, em ấy còn ngầm đe dọa sẽ đăng lên trang web của trường rằng không hài lòng về tiết học của tôi. Cuộc đời giảng viên tôi hằng ao ước trở thành cơn ác mộng trong nháy mắt. Tôi căng thẳng mỗi khi đứng lớp vì em ấy, và cả người rã rời sau mỗi tiết học. Còn đầu cái thời mơ mộng được làm giảng viên, một nỗi hoài nghi về cuộc đời làm nghề giáo dâng lên trong tôi.
Khi sắp kết thúc học kỳ, cảm xúc trong tôi cứ như mớ bòng bong, nên tôi muốn kết thúc tiết học cuối cùng thật ý nghĩa. Tôi chuẩn bị ít đồ uống, bánh kẹo đem đến lớp, vừa ăn vừa có thể trò chuyện với sinh viên. Bàn ghế trong lớp được sắp xếp lại theo kiểu bàn tròn và tôi chọn cho mình một vị trí, nhưng không hiểu sao ngay kế bên tôi là em sinh viên ấy. Tôi cảm thấy lo lắng. “Cái cậu này định quấy phá mình tới cùng sao?”
Em ấy cầm chai nước hoa quả đã uống một nửa mời tôi đang ngồi kế bên. Đầu tôi rối như tơ vò. “Dù sao mình cũng là giảng viên trẻ, đáng nhẻ ra phải mời một chai nước hoa quả chưa mở mới phải phép chứ nhỉ? Như thế này không phải là quá xem thường mình hay sao?” Hàng vạn câu hỏi bay ngang qua đầu tôi, nhưng sau cái giá phải trả cho hành động từ chối cà phê, tôi nhận lấy chai nước và uống hết trong vòng một nốt nhạc. Và chuyện thật như đùa đã xảy ra. Cái khoảnh khắc tôi đặt chai nước hoa quả đã uống cạn xuống, biểu cảm của em ấy bất ngờ thay đổi. Đó là vẻ mặt trong sáng, tinh khôi hệt như khi mời tôi cà phê trên hành lang vào lần đầu gặp mặt. Và em ấy còn hứng khởi hỏi rằng tôi có bao giờ thấy căng thẳng với em ấy không.
“Học kỳ vừa qua thầy đã vất vả rồi ạ. Những bài giảng của thầy rất bổ ích. Kỳ sau, em muốn học tiếp môn thầy dạy.”
Tôi không nói nên lời. Nhưng dù thế nào, nhờ có chai nước hoa quả mà tôi dần thân thiết hơn với cậu sinh viên khiến tôi đau đầu, nhức óc đó. Cho tới khi kết thúc chương trình cao học, em ấy học môn tôi dạy thêm hai lần nữa. Sau này, em ấy kể cho tôi nghe câu chuyện lúc nhỏ, đến tận lúc đó tôi mới hiểu được lý do tại sao lại phát sinh tình huống khó nói nên lời như vậy.
“Lần đầu tiên gặp thầy, em lấy hết dũng cảm mời thầy một ly cà phê, nhưng lại bị từ chối. Cái khoảnh khắc xấu hổ cầm cốc giấy trên tay, nồi đau đớn em chôn giấu tận cùng trái tim bỗng trỗi dậy. Vô số cảm xúc hỷ nộ ái nộ cứ thế ập đến. Đó là vết thương bố mẹ đã khắc vào tim em trong quá khứ.”
Lớn lên trong sự lãnh đạm của bố mẹ, ngay từ khi còn nhỏ, em luôn bị từ chối mỗi khi yêu cầu điều gì đó. Tổn thương khi bị từ chối ăn sâu bám rễ trong vô thức của em ấy đã đem tất cả uất ức, phẫn nộ và thất vọng về bố mẹ phóng chiếu lên tôi. Cốc cà phê tôi từ chối có lẽ đã khiến tổn thương trong quá khứ của em ấy mưng mủ.
Tổn thương thời thơ ấu thường được chúng ta phóng chiếu lên người khác khi trưởng thành, và hiện tượng này được gọi là hiện tượng chuyển di. Hiện tượng chuyển di - do Preud đặt tên này là hiện tượng những trải nghiệm trong quá khứ tác động tiêu cực đến các mối quan hệ trong hiện tại, khiến chúng ta hiểu lầm và nhầm tưởng về đối phương. Vì sự chuyển di của em sinh viên ấy, tôi đã mệt mỏi, khổ sở suốt một học kỳ mà không rõ lý do.
Đứa thứ hai xinh xắn, đáng yêu hơn
Hiện tượng chuyển di xuất hiện trong mọi mối quan hệ nhân sinh, kể cả là quan hệ bố mẹ - con cái hay quan hệ vợ chồng. Sự thiên vị khi đối xử với con cái của bố mẹ đa phần là do hiện tượng chuyển di. Mọi người thường nói “con nào chẳng là con”, dù là con cả, con thứ, hay con út, bố mẹ đều thương yêu như nhau. Thế nhưng, sau khi tham vấn cho rất nhiều người, tôi thấy đó chỉ là “lời Khổng Tử” có sự sai khác với thực tế. Những người có con đều nói rằng có những đứa họ thương hơn, có những đứa họ thấy chững chạc và đáng tin cậy hơn anh chị em khác. Vì những trải nghiệm thời thơ ấu của bản thân, trong vô thức, bố mẹ đối xử thiên vị hơn với đứa này, nghiêm khắc hơn với đứa kia.
Soo Bin là con út trong một gia đình có ba chị em. Vì gia đình không dư dả, nên khi còn nhỏ, Soo Bin đã phải cạnh tranh khốc liệt với các chị. Nếu không làm gì, đến cả bộ áo mới để mặc cô cũng sẽ không có, nếu không phản ứng dữ dội, có lẽ cô đã không thể học lên đại học. Cô luôn ghen tị với chị cả - người luôn được bố mẹ kỳ vọng rất nhiều. Sau khi kết hôn, Soo Bin sinh được hai người con gái. Kỳ lạ thay, cô không có chút tình cảm với đứa đầu, mỗi khi con bé làm gì thì cô đều thấy không vừa mắt. Còn đứa thứ hai thì ngược lại, mỗi khi nhìn đứa thứ hai, trong lòng cô lại thấy xót xa, đáng thương và đối xử rất tốt với nó. Trong vô thức, Soo Bin đang coi đứa con đầu là người chị cả khiến cô khổ sở, còn đứa thứ hai là bản thân cô - người luôn bị chèn ép, phải cạnh tranh với các chị trong quá khứ. Đây chính là vì hiện tượng chuyển di thực tế, tình yêu thương dạt dào và sự quan tâm vô bờ bến với đứa con thứ hai của Soo Bin là sự bù đắp cho chính bản thân không được yêu thương trong quá khứ.
Tìm kiếm một người chồng thay thế bố
Hiện tượng chuyển di đặc biệt tác động tiêu cực đến hôn nhân. Với một trái tim bị tổn thương lúc còn nhỏ và muốn được bù đắp, chúng ta rất dễ đưa ra đòi hỏi quá đáng với bạn đời của mình. Thế nhưng bạn đời của chúng ta không phải là một con người hoàn hảo có thể đáp ứng mọi đòi hỏi của chúng ta. Khi đối phương không thể đáp ứng được, những đòi hỏi quá mức ấy biến thành sự thất vọng, bất mãn và cả hối hận.
Min Young là một cô gái sắp bước sang tuổi ba mươi. Cô than vãn rằng mình ngày càng kiệt sức vì sự ích kỷ và vô tâm của chồng. Vì quá thất vọng về người chồng không bao giờ hiểu cảm xúc của bản thân, nên cô đã tìm tới phòng tham vấn. Sau khi trò chuyện với Min Young, tôi đã hiểu lý do tại sao cô ấy lại thất vọng cực độ về chồng mình. Bố Min Young qua đời khi cô lên sáu tuổi. Cô rất yêu bố và lúc nào cũng quấn quýt lấy bố, nên sự ra đi của bố đã để lại vết thương lớn trong lòng cô. Khi chưa kết hôn, Min Young rất được phái mạnh yêu thích. Nhiều chàng trai ngỏ lời, nhưng cô không hề mở lòng. Phải đến khi gặp một người đàn ông ấm áp, giàu tình cảm như bố mình, trái tim cô mới lạc nhịp. Và chàng trai ấy chính là chồng cô hiện tại.
Hiện tượng chuyển di đã xuất hiện trong mối quan hệ của Min Young và chồng. Cô mong muốn chồng mình khỏa lấp tình yêu thương mà bố đã không thể cho cô vì ra đi quá sớm. Thế nhưng, trong hôn nhân, chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ và vai trò của một người chồng thôi đã là điều cực kỳ tuyệt vời. Chồng là chồng, bố là bố. Min Young đã kỳ vọng sự yêu thương giống như của bố từ chồng để rồi thất vọng và đẩy cuộc hôn nhân tới bờ vực khủng hoảng. Cô nói rằng cô không thể nào chịu nổi cảnh chồng mình lăn ra ngủ vào cuối tuần vì mệt mỏi. Người bố trong ký ức thuở nhỏ của cô luôn dành cả ngày cuối tuần cho cô, cõng cô trên vai đi dạo hay mua kẹo bông cho cô ăn. Thay vì xót xa, Min Young lại thấy chán ghét bộ dạng mệt mỏi của chồng. Và lý do là vì cô đang đem nhiệm vụ, vai trò của một người bố đặt lên vai người chồng.
Sau khi đề nghị tham vấn vợ chồng, tôi đã gặp chồng của Min Young, và suy đoán của tôi không sai. Người chồng chỉ nghĩ rằng bản thân cần chăm chỉ làm việc vì gia đình và không hề biết bản thân đang bị kỳ vọng làm được những việc như bố vợ đã làm. Anh cảm thấy bị tổn thương khi vợ không hề công nhận mình dù bản thân anh đã nỗ lực rất nhiều vì gia đình.
Khi vợ chồng cứ liên tục cãi vã một cách khó hiểu, khi cuộc sống hôn nhân mệt mỏi mà không biết lý do tại sao, chúng ta hãy thử suy nghĩ xem, phải chăng vấn đề nằm ở bản thân mình mà không phải ở đối phương. Đặc biệt, khi chúng ta có một tuổi thơ không được hạnh phúc, khả năng vấn đề nằm ở bản thân càng cao hơn. Đa phần những người dễ chuyển di cảm xúc, thường bị tổn thương sâu sắc khi còn nhỏ. Đứa trẻ nội tâm bị tổn thương thời thơ ấu đang tác động đến cuộc sống hiện tại. Khi cuộc sống mệt mỏi và đau đớn vì gặp tổn thương khi còn nhỏ, hiện tượng chuyển di xuất hiện dưới hình thức đổ lỗi cho đối phương. Chúng ta hợp lý hóa hay công kích rằng cuộc sống hôn nhân lâm vào khủng hoảng là do sự thiếu sót và khuyết điểm của đối phương. Vậy nên chúng ta sẽ rất đau đớn khi nhận ra những đau khổ và phiền muộn đến từ cuộc sống hôn nhân là vì hiện tượng chuyển di. Tuy nhiên, nếu chúng ta không quan tâm đứa trẻ bị tổn thương bên trong mình, không chú ý đến hiện tượng chuyển di, mọi chuyện cứ thế tiếp diễn và những mối quan hệ đau khổ không thể chấm dứt. Để giải quyết lành mạnh hiện tượng chuyển di, chúng ta cần thời gian. Và khi nhìn vào nội tâm trong thời gian dài, có thể chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn. Vì ở đó là nỗi đau và tổn thương chúng ta cố trốn chạy hay che giấu.
Em sinh viên khiến tôi khổ sở suốt những ngày đầu đứng trên bục giảng đại học đã giải quyết được vấn đề khi nhìn nhận khách quan cảm xúc tiêu cực như oán trách, phẫn nộ dâng trào bên trong lúc bị tôi từ chối thiện ý. Chúng ta bị tổn thương và trong lòng dậy sóng, nhưng đó không phải là vì đối phương mà là vì vết thương trong quá khứ của bản thân, khi nhận thức được điều này, chúng ta sẽ dễ dàng tìm được hướng giải quyết cho mâu thuẫn.
VẪN CÔ ĐƠN DẪU ĐANG BÊN CẠNH GIA ĐÌNH THÂN THƯƠNG
Trong số những người quen thân thiết đã lâu của tôi, có một giảng viên lúc nào cũng than vãn về sự cô đơn. Cô ấy là con thứ tư trong một gia đình đông anh chị em, và lớn lên trong sự thiếu thốn tình thương ấm áp của bố mẹ. Khi ấy, chuyện mưu sinh chẳng dễ dàng gì nên bố mẹ cô lúc nào cũng tất bật lo miếng cơm manh áo cho gia đình. Và người thay bố mẹ quan tâm, yêu thương cô là người dì.
“Đang sống chung với gia đình tôi thì một ngày nọ dì chuyển nhà. Khi chiếc xe chất đầy đồ đạc của dì lăn bánh, tôi vừa khóc lóc ầm ĩ vừa năn nỉ dì đừng đi, rồi leo lên luôn xe chuyển đồ. Vì thương tôi nên dì đã đưa tôi theo đến nhà mới. Chủ nhà thấy một đứa trẻ bước từ trên xe chuyển đồ xuống liền đùng đùng nổi giận, hỏi rằng rõ ràng dì tôi đã bảo là nhà không có con nhỏ. Vốn dĩ dì định dỗ dành tôi dù chỉ là một đêm, nhưng không còn cách nào khác đành phải đưa tôi về nhà ngay. Suốt quãng đường về nhà, tôi khóc không ngừng cái cảm giác mất mát và cô đơn của ngày hôm ấy vẫn in đậm trong trái tim tôi suốt ba mươi năm qua cho đến hiện tại. Bây giờ, mỗi lần nhớ lại ngày hôm ấy, tôi lại thấy nghẹn ngào. Có lẽ, tôi vẫn chưa thể thoát khỏi hố sâu cô đơn ấy.”
Giờ đây, cô ấy vẫn luôn cảm thấy cô đơn và sống trong sự bất an rằng phải chăng những người mình thương yêu sẽ dần bỏ mình ra đi. Sợ hãi những đứa con và người chồng mình yêu thương đến một lúc nào đó sẽ rời xa mình giống như dì của ngày ấy, nên dù đang cùng gia đình quây quần bên bàn ăn tối, sâu thẳm trong trái tim cô vẫn là sự cô đơn ngự trị. Chúng ta thấy cô đơn khi ở một mình, nhưng thực tế ngay cả lúc ở bên cạnh những người bản thân thương yêu, chúng ta vẫn cô đơn. Hay chính xác hơn là cảm giác sợ phải ở một mình.
Chúng ta luôn cô đơn
Người trải qua những tháng ngày thơ ấu trong cô đơn rất dễ cảm thấy cô đơn. Càng là người như vây, họ càng gồng mình lên để không phải cô đơn trong cuộc sống. Họ lao đầu vào công việc hay không ngừng quan tâm đến người khác và bận tối mắt tối mũi để không cô đơn. Thế nhưng, dù gắng sức như thế nào, họ vẫn lạc lối trong cô đơn.
Nói một cách khách quan, tại sao những người không hề cô đơn lại liên tục kêu than bản thân cô đơn? Đó là vì kênh cảm xúc của họ đã hỏng. Cảm xúc của chúng ta không phản ánh đúng bản chất của những sự kiện đã xảy ra. Khi kênh cảm xúc cố định tại một vị trí, chúng ta liên tục bị ám ảnh bởi cùng một cảm xúc. Có chín mươi kênh truyền hình nhưng nếu chúng ta chỉ bật cố định một kênh, ví dụ như kênh game thì màn hình liên tục phát game, kênh thể thao thì màn hình liên tục phát thể thao suốt hai tư giờ.
Gia đình là nơi chúng ta sinh ra và hình thành những mối quan hệ đầu tiên. Chúng ta xây dựng mối quan hệ trong gia đình như thế nào, có cảm xúc ra sao, điều đó sẽ cố định kênh cảm xúc được phát sóng trong suốt cuộc đời chúng ta.
Quan hệ gia đình tác động đến cuộc sống của chúng ta, tạo niềm tin và sự kỳ vọng nền tảng cho các mối quan hệ sẽ xây dựng, vậy nên quan hệ gia đình ảnh hưởng rất nhiều tới các mối quan hệ như bạn bè, người yêu, vợ chồng, con cái. Có thể nói quan hệ gia đình là khuôn mẫu cho mọi mối quan hệ khác của chúng ta. Quan hệ gia đình có hình dáng như thế nào thì các mối quan hệ sau này cũng có hình dáng tương tự như thế. Những người trải qua thời thơ ấu cô đơn thường cô đơn trong vô thức và phản ứng khá nhạy cảm với cảm xúc cô đơn trong cuộc sống đời thường.
Thế nhưng, khi cô đơn, họ lại không hề biết rằng sự có đơn ấy đến từ thế giới nội tâm sâu bên trong bản thân mình.
Họ đổ lỗi là tại môi trường, tại gia đình, tại mọi người xung quanh, và không hề biết thực sự tại sao bản thân thấy cô đơn. Một trong những ví dụ điển hình cho việc đổ lỗi cho môi trường xung quanh mà không thể nhìn nhận ra vấn đề tới từ bản thân là những buổi họp lớp. Hầu hết mọi người đều thấy buồn chán mỗi khi đi họp lớp. Khi được hỏi lý do tại sao, mọi người trả lời rằng “Xem nào... Lần nào cũng phải nghe mấy đứa thành công khoe khoang, rồi kể mấy chuyện công việc nhàm chán mà ai cũng biết hết rồi.” Tuy nhiên, buổi họp lớp không hề nhàm chán mà lý do là vì chúng ta thấy cô đơn khi ở đó, vì chúng ta thấy khó chịu và đôi khi tự ti khi so sánh bản thân với bạn học cũ.
Phải chăng chúng ta sẽ không còn cô đơn sau khi kết hôn?
Một trong những lầm tưởng sai lầm về kết hôn đó là bản thân sẽ hết cô đơn sau khi kết hôn. Rất nhiều người kết hôn vì cảm thấy cô đơn, vì thấy trống vắng, vì chán ngán cảnh ăn cơm một mình. Nhưng thực tế, kết hôn ngược lại có thể khiến chúng ta ngày càng cô đơn. Càng là người kết hôn vì cô đơn, càng có một nỗi cô đơn khác cùng với nỗi trống vắng khi một mình đang chờ đợi họ.
Cho tới trước khi kết hôn, tôi đã ở trọ một thời gian dài. Tôi rất ghét cảm giác lạnh lẽo của căn phòng trọ ảm đạm, trống vắng mỗi khi trở về phòng sau giờ học. Tôi đã nghĩ rằng cách giải quyết duy nhất là nhanh chóng yêu đương, như thế mới hết lạnh lẽo. Cuối cùng, tôi đã có người yêu và kết hôn, nhưng kết hôn rồi, tôi vẫn thấy cô đơn, cô độc. Mỗi khi mâu thuẫn với vợ, chúng tôi lại có rạn nứt tình cảm sâu sắc. Những lúc ấy, thậm chí tôi đã nghĩ rằng một mình làm bạn với sự cô đơn nơi phòng trọ còn tốt hơn.
Chúng ta thường hay bị tổn thương hoặc cảm thấy cô đơn vì những người gần gũi với bản thân. Càng là người quan trọng với chúng ta, vết thương ấy càng sâu. Những người già - trải qua tháng năm cô độc của tuổi già cảm thấy cô đơn nhất khi nào? Đó là khi những đứa con họ trân quý, yêu thương không còn quan tâm đến họ. Chúng ta dễ đau lòng, cảm thấy cô đơn và bất an vì những người quan trọng trong lòng chúng ta như bạn đời hay người yêu, bố mẹ, bạn thân, đồng nghiệp hay cấp trên. Đặc biệt trong gia đình, nếu như thời thơ ấu là bố mẹ thì sau khi kết hôn là bạn đời.
Một lần đang nghe nhạc trên đài, tôi bắt gặp câu hát “kết hôn là một hành động điên rồ”. Về sau tìm hiểu, tôi mới biết câu hát đó nằm trong bài Splendid Single.
Kết hôn là một hành động điên rồ.
Tôi thực sư nghĩ vậy. Bởi chúng ta đã chọn rời bỏ thế gian tươi đẹp này mà ràng buộc nhau rồi lo lắng không yên...
Nếu kết hôn để vơi đi nồi cô đơn là một “hành động” điên rồ giống như lời bài hát, vậy độc thân sẽ không cô đơn? Nếu độc thân vẫn cô đơn, vậy làm thế nào để thoát khỏi lời nguyền ngàn năm về sự cô đơn? Có lẽ chúng ta nên tham khảo lời khuyên của những tác giả được cả thế giới biết đến hơn là của tôi - một người dù lúc còn ở trọ một mình hay sau khi kết hôn vẫn thấy cô đơn. Erich Fromm - tác giả của cuốn sách The Art of Loving được dịch sang ba mươi tư thứ tiếng và bán được hàng triệu bản - là nhà tâm lý học xã hội, nhà phân tâm học. Ông định nghĩa tham vấn là “hiểu về chính mình”. Theo định nghĩa này, tham vấn không phải là trị liệu tâm lý mà là hành vi giúp tìm ra ngọn nguồn tại sao chúng ta cứ mãi lặp đi lặp lại bất hạnh và không thể thoát khỏi vũng lầy ấy bằng cách hiểu hơn về bản thân. Vậy nên điều quan trọng là chúng ta phải hiểu được cảm xúc, hiểu được trái tim mình chư không đơn thuần nhận ra là “À, khi còn nhỏ mình đã bị tổn thương và đã cô đơn.” Tiếng Hàn chỉ có một từ có nghĩa là “hiểu”. Nhưng trong tiếng Đức có tới hơn năm từ mang ý nghĩa ấy. Hay nói cách khác, “hiểu về bản thân” theo định nghĩa của Erich Fromm là đối diện và tiếp nhận những tổn thương của bản thân bằng cả trái tim và cảm xúc. Khi thực sự hiểu những tổn thương của bản thân, chúng ta có thể nhìn nhận một cách khách quan. Chúng ta sẽ biết được ngọn nguồn của sự cô đơn cứ đè nặng trong lòng và nỗi lo lắng ngày càng lún sâu trong cô đơn hơn khi những người chúng ta thương yêu rời bỏ mình mà đi.
Đương nhiên, hiểu ra bản chất của sự cô đơn ăn sâu cắm rễ trong chúng ta không đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ thoát khỏi cô đơn. Vì cảm giác bất an về sự rời đi của những người bản thân yêu thương và sự cô đơn luôn luôn đeo bám từ những ngày thơ ấu đã lặp đi lặp lại như một thói quen sống. Tuy nhiên, khi biết được bản chất thì ít nhiều sẽ có sự khác biệt. Sau khi biết được ngọn nguồn của nỗi cô đơn, chúng ta cần đối thoại và thuyết phục bản thân mỗi ngày. Trong quá khứ, mỗi khi sự bất an và cô đơn ùa đến, chúng ta lại rơi vào hố sâu cảm xúc ấy để rồi đau khổ, nhưng giờ đây, chúng ta cần khách quan hóa và giải quyết chúng. Nếu sự bất an và cô đơn kéo đến, chúng ta hãy thuyết phục bản thân rằng “Phải rồi, chúng đến từ bên trong mình, không phải là vì đối phương”, “Mình đang tái hiện, lặp đi lặp lại dòng cảm xúc và khuôn mẫu quan hệ gia đình thời thơ ấu trong vô thức”. Như vậy, chúng ta có thể kiểm soát, ru ngủ sự bất an và nỗi cô đơn đang trào dâng. Trị liệu không phải là xóa bỏ vết thương không còn vết tích. Rất tiếc là chúng ta không thể nào xóa sạch hoàn toàn tổn thương của những ngày xưa cũ. Điều chúng ta có thể làm là ngăn cản những vết thương quá khứ làm tổn thương cảm xúc của hiện tại.
Khi tham vấn cho mọi người, tôi thường nhận được câu hỏi: “Tôi đã được tham vấn rồi nhưng tại sao vết thương vẫn còn đó, không thay đổi gì?” Vết thương của chúng ta không thể được giải quyết chỉ với tham vấn. Nhưng tham vấn giúp chúng ta nhận ra vết thương của bản thân, thuyết phục bản thân thông qua điều đó, và cuối cùng chúng ta có thể tự mình kiểm soát, xử lý những tàn dư khổ đau do vết thương ấy mang lại.
NGƯỜI CHỒNG CÓ MỘT TUỔl THƠ CÔ ĐƠN
Đứa trẻ ấy đã có những tháng ngày tuổi thơ làm bạn với cô đơn. Bố mẹ cậu bé vì bận làm ăn buôn bán nên ngày nào cũng đêm muộn mới trở về nhà, còn cậu bé thì cô đơn một mình vì trong nhà không có anh chị em. Những lúc cô đơn, cậu bé lại ngồi thẫn thờ ở dưới cầu thang. Không một ai quan tâm, chăm sóc bằng tình thương và sự ấm áp cho đứa trẻ co ro nơi góc cầu thang ấy. Đứa trẻ ngày ấy giờ đây đã là một người đàn ông trưởng thành hơn bốn mươi tuổi, là nhân viên công ty, và còn là chồng, là bố của hai đứa trẻ. Thế nhưng ngay cả hiện tại, anh vẫn cô đơn. Có một người vợ yêu thương anh ấy, có những đứa con cần anh ấy, vậy nhưng lúc nào anh ấy cũng thấy lạc lõng ngay trong chính gia đình mình. Kể cả khi cùng gia đình ăn cơm, xem ti vi, tâm hồn anh ấy vẫn tìm về góc cầu thang hay ngồi co ro gặm nhấm cô đơn lúc còn nhỏ. Trong thâm tâm, anh ấy tự dựng bức tường ngăn cách với người thân trong gia đình, và không ngừng chạm vào vết thương thuở nhỏ.
Và tôi cũng được nghe những lời chia sẻ từ người thân trong gia đình anh ấy. Người vợ cần chồng và con cần bố. Người vợ trong lòng trống trải vì chồng chỉ biết đến công việc. Dẫu biết chồng vì lo cho gia đình mới lao đầu vào công việc, nhưng cô ấy hoài nghi không biết điều đó có thực sự tốt cho gia đình hay không. “Bố ơi, tối nay về nhà chơi với con nhé.” Cậu con trai năm hai tiểu học gọi cho bố. Một gia đình vắng bóng người chồng, người bố. Nếu thực sự đàn ông vì công việc mà không có thời gian cho gia đình thì có lẽ phụ nữ trên thế giới này cần phải có ba người chồng - người vợ nói một cách mỉa mai. Một người chồng kiếm tiền, một người chồng tâm sự với vợ và một người chồng chơi đùa yêu thương cùng con.
Anh ấy đặt công việc lên hàng đầu, không quan tâm, săn sóc gia đình không phải vì anh ấy không yêu vợ, không yêu con. Làm như vậy vì anh ấy nghĩ rằng đó là điều tốt nhất bản thân có thể làm cho vợ, cho con, và không biết bản thân có thể đóng vai trò gì trong gia đình. Làm thế nào để người chồng thoát khỏi gông xiềng cô đơn bản thân tự tạo ra, và lắng nghe mong muốn thiết tha của vợ, của con?
Tìm kiếm ai đó khi bị tổn thương
“Khi còn nhỏ, bạn có từng bị tổn thương, hay khi nản lòng, bạn sẽ chạy đến bên ai trước tiên?”
Mỗi lần tôi hỏi khách đến tham vấn như thế này, họ lại mắt tròn mắt dẹt nhìn tôi. Một số người hoàn toàn không nhớ gì đến chuyện xa xưa và làm vẻ mặt hoài nghi “Bác sĩ tham vấn tâm lý này muốn biết cái gì đây?” Một số người ngập ngừng một lúc rồi trả lời “Không ai cả.” Còn có người thì chia sẻ rằng họ chỉ ở trong phòng, hay ôm cún con rồi trốn vào một góc nào đó. Và cùng có nhiều câu trả lời là họ định kể với bố mẹ nhưng lại không có bố mẹ hoặc bố mẹ quá bận để nghe họ nói.
Con người có xu hướng dựa dẫm vào người mình thấy thân thiết và tin tưởng nhất khi mệt mỏi hay phiền muộn để được an ủi và vững lòng. Đối tượng chúng ta muốn dựa dẫm không nhất định phải là người giúp chúng ta giải quyết vấn đề. Chỉ cần giãi bày nỗi lòng với đối phương thôi là tâm trạng chúng ta đã tốt hơn. Beverly Engel - chuyên gia tham vấn hàng đầu thế giới về ngược đãi tình cảm và sự tức giận, xuất hiện trong các chương trình ti vi nổi tiếng như Oprah Winfrey Show, CNN,... và là người đi đầu trong việc dựa tham vấn tâm lý phổ biến đến nhiều người - đã nói như thế này: “Một lời nói, một cái ôm ấm áp của bố mẹ - người chúng ta tin tưởng và dựa dẫm khi còn nhỏ có thể khiến máu nơi vết thương đầu gối ngừng chảy.”
Nhưng người không đến bên ai khi bị tổn thương cũng đồng nghĩa với việc họ chưa từng một lần được chữa lành vết thương bởi ai đó. Họ trở thành người câm không thể thốt lên tiếng đau dù bị đau. Vậy nên sâu bên trong trái tim họ chỉ có sự cô đơn, trống vắng.
Gia đình khiến bản thân không có cảm giác thuộc về
Tất cả chúng ta có sự liên kết với bố mẹ, gia đình, bạn đời, thuộc về những nơi như doanh nghiệp, cộng đồng khu vực và từ đó, chúng ta xác định được mình là ai và có được sự an yên. Bị bỏ rơi ở nơi bản thân thuộc về để lại những nhát cắt sâu trong tim chúng ta. Tổn thương ấy được thể hiện ra ngoài dưới dạng bạo lực. Có nhiều người thể hiện sự bạo lực ngay với chính bản thân mình, và hình thức cực đoan nhất của điều này là tự sát. Ngày nay, trên khắp báo đài luôn tràn ngập tin tức về những tội ác kinh khủng, đầy bi kịch xảy ra trong các gia đình. Theo Christian Pfeiffer - Viện trưởng Viện nghiên cứu tội phạm Hanover, Đức, đối với người phụ nữ đã kết hôn, người đàn ông nguy hiểm nhất là chồng của họ. Rất nhiều trường hợp tội phạm thực hiện hành vi một cách bốc đồng sau cú sốc rạn nứt quan hệ với vợ và bị vợ bỏ rơi. Bị bỏ rơi ở nơi bản thân thuộc về hay bởi người mình luôn gắn bó sẽ để lại vết thương lòng vô cùng sâu sắc.
Một nơi mà trong mỗi chúng ta, ai cũng đều có cảm giác gắn bó chính là gia đình. Chúng ta thấy bản thân có cảm giác thuộc về khi có sự liên kết sâu sắc với gia đình và gắn bó thân thiết với mọi người trong gia đình. Và cảm giác này là ngọn nguồn của hạnh phúc và yêu thương. Chúng ta không hề đơn độc mà thuộc về một gia đình và những người khác cũng có sự gắn kết với chúng ta không chỉ cho chúng ta câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi “Tôi là ai?” mà còn đem lại sự ổn định về mặt tâm lý.
Trong khu phố tôi sống thời đi du học, có một bác sĩ đã hơn sáu mươi tuổi. Bà là người theo chủ nghĩa độc thân, không kết hôn và cứ ở vậy, nhưng bà nhận con nuôi, hết lòng yêu thương và nuôi dưỡng con nuôi thành công trong xã hội. Vậy nên bà là một người rất được kính trọng. Có một lần tôi trò chuyện với bà về việc nhận con nuôi, và là một người Hàn Quốc, tôi đã cực kỳ xấu hổ khi nghe câu chuyện từ bà. Hầu hết bé trai được nhận nuôi ở Đức đều mang quốc tịch Hàn Quốc. Vốn dĩ bà cũng định nhận nuôi một đứa trẻ Hàn Quốc, nhưng bà đã nhận nuôi và chăm sóc một đứa trẻ Campuchia bà tình cờ biết đến. Bây giờ, tôi không biết thời cuộc thay đổi như thế nào, nhưng thời ấy, trong mắt người Đức, Hàn Quốc là một quốc gia “xuất khẩu” con nuôi. Những đứa trẻ sinh ra ở Hàn Quốc được các gia đình Đức nhận nuôi sau khi trưởng thành thường quay trở về thăm Hàn Quốc ít nhất một lần, hay gửi tin về Hàn Quốc và tìm kiếm bố mẹ thật sự của họ. Tại sao họ lại tìm những ống bố bà mẹ đã bỏ rơi bản thân? Vì sự thúc giục của dòng máu đang chảy bên trong cơ thể? Không. Những đứa trẻ ấy muốn biết rốt cuộc chúng là ai, vốn dĩ thuộc về một nơi như thế nào. Họ muốn gặp gia đình đã bỏ rơi bản thân và xem xem cội nguồn và nơi họ đáng nhẽ ra phải thuộc về như thế nào. Vì đó là những điều cần thiết để họ tạo dựng bản sắc cá nhân.
Những người không thể tìm được cảm giác thuộc về từ gia đình thường hay bị từ chối bị tổn thương lòng tự trọng và bản sắc cá nhân. Họ coi mình là sự tồn tại vô dụng, không có giá trị. Khi một người có lòng tự trọng thấp trưởng thành, lập gia đình, tâm lý này sinh ra những hành vi khiến họ bị coi là ích kỷ, chỉ biết đến công việc của bản thân và không quan tâm đến gia đình. Nhưng thực lòng họ không hề như vậy, chỉ là họ không biết làm thế nào để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người, có thể tạo ra một bầu không khí tươi vui
Ngay cả trong các đoàn thể xã hội khác ngoài gia đình, những người có tổn thương như vậy bị coi là sự tồn tại khác người, khó hòa hợp. Họ chỉ trích bản thân và người khác gay gắt, đồng thời phản ứng nhạy cảm thái quá với bình phẩm của người khác. Khi có bất đồng ý kiến hay mâu thuẫn với người khác, họ không thể xử lý và thấy mệt mỏi. Chúng ta không thể mong đợi sự thấu hiểu, thỏa thuận, hay thảo luận chín chắn ở họ. Và điều này đã lấy đi ở họ niềm vui sống một cuộc sống đa dạng, phong phú. Đương nhiên, họ cũng không thể xây dựng mối quan hệ sâu sắc. Đôi khi, họ trở nên thân thiết với ai đó, nhưng đến cuối cùng mối quan hệ ấy cũng lâm vào bế tắc khi họ bám dính đối phương quá mức. Rồi khi mâu thuẫn như thế này lặp đi lặp lại, họ dần xa lánh gia đình, mọi người xung quanh và cật lực tìm đối sách bảo vệ bản thân đã tổn thương vì bị bỏ rơi. Đó có thể là bùng nổ cơn giận, ám ảnh, có ý định tự sát, lười biếng quá mức, trầm cảm, sống phóng đãng về mặt tình dục, hay nghiện ngập. Thiếu cảm giác thuộc về dẫn đến tình trạng thiếu tình yêu, sự công nhận và là nguồn gốc của mọi vấn đề.
Chúng ta cần cố gắng để biến ngôi nhà thành một tổ ấm - nơi các thành viên cảm thấy bình yên và thuộc về. Đặc biệt là người đã trải qua sự cô đơn trong những tháng ngày thơ ấu. Càng là người như vậy càng cần cố gắng nhiều hơn nữa để không lặp lại bản thân của hồi nhỏ. Quãng thời gian cô đơn ấy, chúng ta chỉ là những đứa trẻ yếu đuối không thể làm gì khác, nhưng giờ đây chúng ta đã trưởng thành và phải tự chịu trách nhiệm cho chính bản thân mình. Đừng phủ nhận con người hiện tại của bản thân và hãy giang tay đón nhận. Hãy thử tìm hiểu xem các thành viên khác đang mệt mỏi, chịu đựng, nhẫn nhịn như thế nào. Chúng ta cần quan tâm đến cảm xúc của bản thân, dần dần thoát khỏi hố đen tâm hồn - nơi chúng ta tự cô lập và là nơi trú ẩn của bản thân. Càng là người lớn lên trong bất hạnh, quá trình trao đi yêu thương cho gia đình và cảm nhận tình yêu thật lòng từ mọi người trong gia đình sẽ càng là trải nghiệm lạ lẫm và không dễ dàng, nhưng kết quả của quá trình ấy sẽ là ánh sáng sưởi ấm cuộc đời của chúng ta cũng như tương lai của gia đình mà chúng ta trân quý.
VẾT THƯƠNG LÒNG ĐỂ LẠI DẤU VẾT TRÊN CƠ THỂ
Trước khi thực hiện tác phẩm, các đạo diễn phim điện ảnh, phim truyền hình cân nhắc chọn ai thử vai diễn rất kỹ, và họ gặp rất nhiều ứng cử viên. Nhưng không biết có phải các đạo diễn có “mắt thần” nhìn người hay không, khi gặp một diễn viên mới lần đầu tiên, họ đã có ngay linh cảm đối phương có thể làm nên thành công hay không. Đạo diễn Yoon Seok Ho của bộ phim truyền hình Bản tình ca mùa đông - bộ phim châm ngòi cho sự bùng nổ của làn sóng Hallyu - đã có cảm giác như vậy vào lần đầu tiên gặp diễn viên Bae Yong Joon. Ngay lập tức ý nghĩ “chính là người này” nảy ra trong đầu. Thế nhưng, khi được hỏi lý do, đạo diễn Yoon Seok Ho không thể giải thích được là tại sao.
Trực giác của đạo diễn đến từ sóng năng lượng tỏa ra trên cơ thể diễn viên. Cơ thể và nội tâm của chúng ta có sự tuần hoàn năng lượng và kết nối sâu sắc. Cơ thể là tấm gương phản chiếu tâm hồn, cung cấp manh mối quan trọng về những gì đang diễn ra trong tâm trí chúng ta. Và cơ thể lưu giữ mọi vết tích của quá khứ. Ví dụ như cơ thể ghi nhớ mùi vị thức ăn chẳng hạn. Người ăn khoai lang bị đau bụng chỉ cần nhìn thấy khoai lang là đã không muốn ăn. Hay chúng ta nuốt nước miếng khi nghe ai đó nhắc tới “quả mơ” vì cơ thể chúng ta đã ghi nhớ vị chua của mơ. Cơ thể chúng ta ghi nhớ sang chấn (trauma, chấn thương) trong lòng theo cách như vậy, và có thể tái hiện lại những sang chấn ấy bất cứ lúc nào.
Đại văn hào Endō Shūsaku của Nhật Bản với kiệt tác Trầm mặc (Silence) đã nhiều lần được đề cử cho giải Nobel Văn học và là cây đại thụ của làng văn học thế kỷ 20. ndō Shūsaku đã viết câu chuyện về một người đàn ông trung niên có ký ức sang chấn khắc sâu trên cơ thể. Người đàn ông trung niên ấy có một cuộc sống rất đỗi bình thường. Bỗng dưng một ngày nọ, sau khi vào nhà vệ sinh, ông ngồi xổm xuống. Khoảnh khắc ấy, đầu gối ông cứng đơ và làm thế nào cũng không thể đứng lên được. Ông được đưa đến bệnh viện kiểm tra nhưng cơ thể hoàn toàn không có dấu hiệu bất thường. Có xoa bóp thế nào chân ông cùng không duỗi thẳng ra được. Cuối cùng, bác sĩ phải tiến hành phân tích tâm lý và đã tìm ra nguyên nhân. Lúc còn trẻ, khi đang còn ở trong quân đội, ông được cấp trên ra lệnh kết liễu tù binh bằng lưỡi lê. Tù binh ngồi xổm trong tư thế hai tay bị trói phía sau. Và ông đã phải đâm chết người tù binh ấy bằng lưỡi lê theo lệnh cấp trên. Vì sự tàn nhẫn và cảm giác tội lỗi khi giết người bằng chính đôi tay của mình, ông đã cố gắng quên đi và sự kiện ấy đã trôi vào dĩ vãng. Nhưng rồi, ngày hôm ấy, cái khoảnh khắc ông ngồi xổm trong nhà vệ sinh trong tư thế giống hệt người tù nhân đã bị ông giết năm ấy, những mảnh ký ức khủng khiếp về sang chấn ông xóa bỏ hiện về trong vô thức khiến cơ thể ông bị tê liệt.
Ký ức về tổn thương hằn sâu trên cơ thể
Theo Joachim Bauer - giáo sư trương Đại học Freiburg Đức và là bác sĩ chuyên khoa đầu ngành của y học trị liệu tâm lý, ký ức về sang chấn luôn tiềm ẩn vô thức bên trong chúng ta, và lưu lại dấu ấn cố định - được gọi là engram trong sinh học thần kinh - trên cơ thể. Engram, dấu vết của sang chấn, có thể “ngủ đông” trong suốt một thời gian dài mà không gây ra bất kỳ đau đớn nào cho chúng ta. Một vài năm hay có thể là vài chục năm sau, khi chúng ta bị stress quá mức, ký ức về sang chấn ngày ấy mới đột ngột tỉnh giấc và nỗi đau từng được cất đi lại tái xuất hiện.
Hwang, một người nội trợ đã ở tuổi ba mươi, cảm thấy khó khăn trong chuyện quan hệ vợ chồng. Mỗi lần chồng muốn, cô lại thấy bất an, lo lắng. Khi chồng cô động chạm lên cơ thể, cổ co rúm lại theo phản xạ, và khi buộc phải quan hệ, sau khi kết thúc, cô tức giận và cảm thấy xấu hổ đến mức không thể diễn tả thành lời. Hwang rất yêu chồng. Đối với Hwang, chồng cô là một người đàn ông tình cảm, đáng trân quý, nhưng cô lại ghét cay ghét đắng làm chuyện dó. Mỗi khi chồng thể hiện tình cảm, cô không những không cảm thấy ấm áp hay sung sướng mà ngược lại trở nên cứng đờ.
Hồi tiểu học, Hwang đã từng bị anh trai nhà kế bên quấy rối tình dục. Dù chuyện đã xảy ra rất lâu, nhưng cơn giận và sự tủi hổ của ngày hôm ấy vẫn ở đâu đó trên cơ thể cô. Dấu vết tổn thương của ngày hôm ấy vẫn còn đó trong cô và khiến cô khổ sở ngay cả trong chuyện quan hệ vợ chồng.
Việc liên tục cảm thấy tổn thương sau lần bị quấy rối tình dục hồi nhỏ như trường hợp của Hwang được Sigmund Freud [*] gọi là “cách thức ghi nhớ sang chấn”. Cơ thể chúng ta ghi nhớ quá khứ bằng việc tiếp tục cảm nhận nỗi đau đớn khủng khiếp của quá khứ. Theo quan điểm của Freud, cơ thể chúng ta muốn kiểm soát những nỗi đau ấy bằng cách tái hiện lại nỗi đau trong quá khứ. Hay nói cách khác là lặp đi lặp lại nỗi đau trong quá khứ để kiểm soát sang chấn.
[*] Sigmund Freud (1856-1939) là một bác sĩ về thần kinh và là nhà tâm lý học người Áo. (Mọi chú thích trong cuốn sách đều là của người dịch và ban biên tập.)
Đôi khi “tiếp xúc” là cách giải quyết tốt nhất.
Khi tham vấn cho cá nhân hay gia đình bị tổn thương, nhà trị liệu gia đình Virgina Satir thường khuyến khích mọi người tiếp xúc cơ thể.
Với bố mẹ có con vô cớ bắt nạt em nhỏ, bà khuyến khích bố mẹ chơi đùa bằng cơ thể và mát xa cho bé.
Sau ba tuần thực hiện điều này, đứa trẻ đã có sự thay đổi đáng kinh ngạc.
Còn trong trường hợp vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bà cũng khuyến nghị hai vợ chồng mát xa tay chân cho nhau trong hai mươi phút, nắm tay và nhìn thẳng vào mắt nhau năm phút mỗi ngày.
Và quan hệ chẳng khác gì kẻ thù không đội trời chung của hai vợ chồng đã khác xưa.
Phải chăng chúng ta cũng cần có sự tiếp xúc ấm áp của cơ thể.
Càng có nhiều sang chấn, càng nhạy cảm với stress
Tâm lý học xuất phát từ tiền đề là trải nghiệm thời thơ ấu không ngừng tác động đến cuộc sống tương lai. Theo sinh lý thần kinh học, trải nghiệm sang chấn thời thơ ấu làm sai lệch tác động hóa sinh bên trong não. Kết quả là hormone stress được bài tiết quá mức và thần kinh dần trở nên mẫn cảm. Vậy nên, khi trưởng thành, chỉ cần stress nhẹ cũng có thể phá vỡ hệ thống bài tiết hormone, đồng thời toàn bộ cơ thể chuyển sang trạng thái báo động, dần kiệt sức và trở nên ủ rũ. Nếu tình trạng này kéo dài hoặc xuất hiện thường xuyên, chúng ta rất dễ bị mắc các bệnh liên quan đến stress như trầm cảm, sợ hãi, bất an, rối loạn ám ảnh cưỡng chế.
Nhiều người nhạy cảm với stress hơn những người khác. Người nhạy cảm với stress dễ bị stress và mất rất nhiều thời gian để giải tỏa nó. Những người như thế này thường là người hay bị stress khi còn nhỏ. Trải nghiệm sang chấn thay đổi thể chất, khiến họ trở nên nhạy cảm với stress. Mọi người thường nghĩ người trải qua nhiều sang chấn được tôi luyện trong đau thương nên dễ hồi phục hơn, nhưng thực tế thì khác. Người chịu nhiều tổn thương đau đớn hơn rất nhiều. Và ngược lại, người ít bị tổn thương và nhận được sự quan tâm ấm áp của bố mẹ sẽ giải quyết stress rất tốt. Người đi qua nhiều sang chấn khi còn nhỏ khó có thể giải tỏa và rất dễ bị stress, bởi hệ thống xử lý stress của họ đã bị hư tổn.
Christine Caldwell - giáo sư khoa Tham vấn tâm lý học cơ thể của Đại học Naropa (Mỹ), là người khai phá địa hạt này. Theo Christine Caldwell, để giải quyết sang chấn trên cơ thể, con người thường tìm đến “phương thức thoát xác”. Chúng ta rời khỏi cơ thể bằng những cơn nghiện. Nghiện là phản ứng thân thể được tạo ra bởi sang chấn khi còn nhỏ. Rất nhiều người phụ thuộc vào đồ uống có cồn, nicotine, cờ bạc, game, tình dục,... và thoát khỏi đau đớn của sang chấn bằng cách rời khỏi cơ thể trong chốc lát. Nghiện có đặc tính lặp đi lặp lại. Cơ thể chúng ta dần trở nên “thân thiết” với người bạn mang tên “nghiện” thông qua sự lặp lại.
Xung quanh chúng ta có không ít người lựa chọn nghiện một thứ gì đó để giảm đau đớn. Họ muốn thoát khỏi đau khổ bằng những cơn nghiện và rồi dần dần lệ thuộc vào nó. Thế nhưng có một vấn đề, đó là tính nhờn thuốc. Chúng ta có thể thoát khỏi cảm giác đau đớn trong chốc lát bằng những hành động lệch lạc một lần, không có nghĩa là lần sau cũng sẽ được như vậy. Mùi vị và niềm hạnh phúc khi ăn một chiếc bánh mì của một người đang đói bụng không khác gì như đang được thưởng thức một bàn tiệc thịnh soạn. Tuy nhiên, ăn đến cái thứ hai, thứ ba,... càng ăn nhiều, cảm giác thỏa mãn càng rơi rớt dần. Kinh tế học gọi hiện tượng này là quy luật lợi ích cận biên giảm dần, và việc nghiện thứ gì đó cũng vậy. Đến một lúc nào đó, chúng ta không cảm thấy thỏa mãn khi được cho thêm một chiếc bánh mì. Nghiện không phải là công cụ xoa dịu nỗi đau mà là ngục tù. Giống như Marilyn Monroe đã qua đời vì ngộ độc thuốc, hay ông hoàng nhạc Pop Michael Jackson không thể nào chiến thắng nỗi đau của hiện thực dù đã dùng rất nhiều thuốc, nghiện không bao giờ là phương thức điều trị triệt để.
Băng bó vết thương tâm hồn
Không phải là chúng ta không thể điều trị sang chấn và sang chấn không bao giờ biến mất, dù không phải là việc dễ dàng nhưng sang chấn có thể điều trị được. Có một cuốn tiểu thuyết Nhật Bản với tựa đề The Bandage Club đã được chuyển thể thành phim và công chiếu ở Hàn Quốc. Cuốn sách là câu chuyện về những con người bị tổn thương. Nhân vật chính Wara đã phải chịu nỗi đau bố mẹ ly hôn vì bố ngoại tình. Tình cờ cô gặp một nam sinh tên là Dino, và hai người đã cùng lập nên trang web “The Bandage Club” để lắng nghe câu chuyện của những người bị tổn thương và chữa lành vết thương cho họ. Các thành viên của The Bandage Club khởi xương nghi thức đến hiện trường và “băng bó” nơi đã gây ra tổn thương khi nhận được yêu cầu từ những người bị tổn thương. Sau khi băng bó xong, họ chụp hình gửi cho đương sự và nhiệm vụ kết thúc. Một lần, để chữa lành tổn thương cho cậu bé đau khổ vì đã đá phản lưới nhà, các thành viên của The Bandage Club trực tiếp đến hiện trương, quấn băng quanh quả bóng và khung thành cậu bé đã đá phản lưới nhà. Hay một lần khác, vì một nữ sinh thất tình, họ đã băng bó cho chiếc xích đu - nơi bạn nữ ấy chia tay bạn trai. Cách thức chữa lành tổn thương của các thành viên The Bandage Club rất đơn giản. Chỉ là băng bó cho nơi tổn thương. Đây cũng là một cách thức cần thiết trong chữa lành sang chấn. Để giải quyết sang chấn chúng ta cần tìm ra nơi bị tổn thương và băng bó cho bộ phận đó. Giống như câu chuyện khung thành hay chiếc xích đu trong tiểu thuyết The Bandage Club, chúng ta phải tìm đúng và chính xác vị trí tổn thương trong tâm hồn.
Băng vải mà Virginia Satir - nhà trị liệu gia đình đi tiên phong trong lĩnh vực trị liệu gia đình sử dụng khi tham vấn cho các cá nhân hay gia đình bị tổn thương là “tiếp xúc”. Không chỉ tham vấn thông qua đối thoại và bằng ngôn ngữ, Virginia Satir còn giúp các gia đình và trẻ em có vấn đề hồi phục thông qua tiếp xúc cơ thể trực tiếp. Virginia Satir đã tham vấn cho một đứa bé nhạy cảm, cục cằn, hay bắt nạt em vô cớ. Bà đề nghị bố mẹ bé tiếp xúc cơ thể với bé bằng cách mát xa và chơi đùa bằng cơ thể cùng bé trong vòng ba tuần. Sau ba tuần, rất bất ngờ là đứa bé dễ bảo hơn và chơi với em ngoan hơn. Hay như trong trường hợp một cặp vợ chồng có mối quan hệ đang đi vào bế tắc, bà đã yêu cầu hai vợ chồng mát xa chân tay cho nhau trong vòng hai mươi phút, nắm tay và nhìn vào mắt nhau năm phút mỗi ngày. Kết quả là quan hệ vợ chồng đã có sự biến chuyển. Tiếp xúc cơ thể là tiếp xúc não bộ, và tiếp xúc não bộ là tiếp xúc trái tim. Tiếp xúc cơ thể - để tương tác với trái tim đem đến những kết quả đáng kinh ngạc, không chỉ xóa bỏ ký ức sang chấn hằn sâu trên cơ thể mà còn chữa lành và giúp chúng ta hồi phục.
Để chữa lành sang chấn in sâu trên cơ thể, chúng ta cần có sự hỗ trợ của các chuyên gia. Sau vụ bê bối Lewinsky, Tổng thống Bill Clinton đã phải đối mặt với khủng hoảng về cả chính trị lẫn đời sống hôn nhân, và hai vợ chồng Tổng thống đã tiến hành tham vấn tâm lý vợ chồng. Một số người cho rằng bà Hillary Clinton không ly hôn vì tham vọng chính trị làm Tổng thống trong tương lai, nhưng ở góc nhìn của một nhà tham vấn tâm lý gia đình, tôi thấy việc tham vấn tâm lý vợ chồng đã có tác động đáng kể.
Khi chúng ta đối mặt với vấn đề gì đó mà không biết phải xử lý như thế nào, hãy nhờ đến sự hỗ trợ của chuyên gia. Ô tô bị hỏng, chúng ta gửi đến trung tâm bảo dưỡng. Cơ thể đau ốm, chúng ta tới bệnh viện để điều trị. Thế nhưng, duy chỉ có vết thương tâm hồn, chúng ta có khuynh hương tự giải quyết. Mặc dù ô tô là một cỗ máy tinh vi với hàng ngàn bộ phận, nhưng nó cũng không thể so sánh với cơ thể con người - là một tiểu vũ trụ. Và cơ thể dù có phức tạp như thế nào, cũng không sâu sắc và tinh tế được như trái tim chúng ta. Sông sâu khó lội lòng người khó đo, không dễ gì có thể hiểu được trái tim con người. Khi gặp khó khăn trong việc tự mình giải quyết sang chấn thì nhanh chóng tìm đến sự hỗ trợ của chuyên gia mới là thượng sách.
THOẢI MÁI TRONG BẤT HẠNH VÌ ĐÃ QUÁ QUEN THUỘC
Một người phụ nữ lúc nào cũng thấy bất an, lo lắng nên đã tìm đến phòng tham vấn. Ngay cả khi đã yên vị trên ghế, cô vẫn thấp thỏm không yên. Cô than thở với ánh mắt bất an rằng mỗi ngày các hacker tấn công email của cô hàng chục lần và mật khẩu của sổ tài khoản ngân hàng bị thay đổi mà cô không hề hay biết. Rồi cô lặp đi lặp lại rằng chìa khóa nhà cũng bị đổi mà bản thân không biết gì, hay chỉ cần nhấc điện thoại lên là có tạp âm kỳ lạ, một minh chứng cho thấy việc bị nghe lén, hay như có ai đó định làm hại cô. Nếu những lời cô ấy than thở là thật, chắc hẳn có một âm mưu kinh khủng nào đó đang nhắm đến cô ấy. Thế nhưng tình huống này chỉ xuất hiện trong thể loại phim rùng rỢn, gay cấn, còn đời thực thì hầu như không. Những dấu hiệu có thể khẳng định cô ấy có vấn đề về thần kinh dần rõ nét. Càng tham vấn, nỗi bất an của người phụ nữ ấy càng hiện rõ.
Thứ ám ảnh cô là nỗi sộ “Liệu chồng mình có bỏ mình đi không?”. Cảm giác lo lắng về việc bị bỏ rơi phát triển thành sự nghi ngờ và bất an về tất cả mọi thứ xoay quanh cuộc sống, và biến tướng thành chứng ảo tưởng phóng đại. Vậy nên, không chỉ chồng mà tất cả mọi người đều trở thành đối tượng nghi ngờ, vì không một ai thấu hiểu những lời cô nói nên tình hình dần trở nên nghiêm trọng.
Không ai có ý định làm hại hay tấn công người phụ nữ này và chồng của cô ấy cũng chưa từng có ý nghĩ bỏ rơi cô ấy dù chỉ trong mơ. Thế nhưng, tại sao cô ấy cứ sống khổ sống sở, rồi trói buộc bản thân trong những nghi ngờ, bất an kinh khủng như vậy? Thực tế vấn đề khiến cô ấy đau khổ không phải từ bên ngoài. Điều đó đang ẩn mình ngay trong chính cô mà không phải nơi nào khác.
Lo lắng bị bỏ rơi
Rất nhiều người thường xuyên lo lắng người họ thương yêu đến một lúc nào đó sẽ bỏ họ ra đi và yêu cầu được tham vấn về quan hệ gia đình. Họ bị ám ảnh bởi suy nghĩ bị bỏ rơi hay những người thân yêu qua đời. Chỉ cần đối phương nổi giận thôi là nội tâm lại dấy lên nỗi bất an và họ khiến bản thân khổ sở với suy nghĩ “Đó, mình nghĩ có sai đâu”.
Sự lo lắng không dừng lại này là nỗi lo sợ vu vơ của bản thân họ, mà đôi khi còn biến thành hiện thực. Vì bất an, họ bám riết lấy người thân thiết với mình và cuối cùng khiến đối phương khiếp sợ. Ngược lại, có những trường hợp vì luôn thường trực một nỗi lo lắng không biết khi nào đối phương sẽ bỏ mình đi, họ cư xử một cách nghiêm khắc thái quá và làm cho mối quan hệ rạn nứt. Họ tỏ vẻ lạnh lùng, thò ơ với đối phương, không còn làm nũng, khác hẳn với cảm xúc thực sự của bản thân. Lo sợ bị bỏ rơi khi bản thân quá cuồng si, dành quá nhiều tình cảm cho đối phương, nên họ cố gắng kiểm soát cảm xúc của bản thân trước.
Lo lắng về việc bị bỏ rơi là hành vi tự hủy hoại bản thân vì sang chấn thời thơ ấu. Khi đến nhận tham vấn, người phụ nữ chia sẻ rằng sự ra đi của bố khi cô còn quá nhỏ đã để lại vết thương lớn trong lòng cô. Sang chấn thường dẫn đến hành vi tự hủy hoại bản thân, và rồi hành vi này khiến bất hạnh trong quá khứ cứ lặp đi lặp lại.
Nhiều trường hợp vì đau đớn bởi tổn thương từ thuở nhỏ, chúng ta cố gắng hết sức mình để trở thành người bạn đời, ông bố, bà mẹ tốt, nhưng cuối cùng lại khiến cho bạn đời, con cái của mình bị tổn thương. Và rồi khi phát hiện ra bản thân đang làm đau những người thân yêu, chúng ta rơi vào vũng lầy của cảm giác tội lỗi, trở nên tuyệt vọng, buồn phiền. Càng như vậy, chúng ta càng có hành vi quá đáng với người thân trong gia đình, hay đè nén cảm xúc của bản thân quá mức, để rồi một lúc nào đó chúng ta bùng nổ, khiến mọi người trong gia đình khổ sở.
Trong quá trình trưởng thành, chúng ta dần quen với những vai trò và cách đối xử nhất định. Nếu lớn lên trong môi trường bị ngược đãi, chỉ trích, bỏ mặc, mỉa mai thay khoảnh khắc chúng ta cảm thấy thoải mái và quen thuộc nhất lại là khi “được” ở trong môi trường như vậy. Nói đến việc ngược đãi, trong đầu chúng ta toàn hiện ra mấy trường hợp cực kỳ nghiêm trọng, nhưng thực tế, rất nhiều bố mẹ ngược đãi con trẻ trong vô thức. Thường xuyên trách mắng con, chỉ trích thậm tệ khiến lòng tự trọng của chúng thui chột, hay bảo vệ quá mức, không cho chúng tự lựa chọn bất kỳ điều gì,... đây đều là nhưng hành vi ngược đãi. Các bố mẹ đều biết ngược đãi là sai và cảm thấy hối hận khi làm như thế, nhưng tại sao chuyện này vẫn tồn tại trong cuộc sống của chúng ta?
Đó đúng là cách hành xử sai lầm, nhưng lý do bố mẹ vẫn như thế là vì bản thân họ luôn tìm kiếm và tạo ra một môi trường giống nhất với môi trường bản thân đã trưởng thành. Bản năng tìm kiếm môi trường, hoàn cảnh quen thuộc khiến chúng ta lặp lại khuôn mẫu cuộc sống thời thơ bé. Cách hành xử này dẫn đến tình trạng lặp đi lặp lại hành vi tự hủy hoại bản thân. Không chỉ vậy, điều này còn khiến những sự kiện đã diễn ra khi còn nhỏ kéo dài đến tuổi trưởng thành. Kết quả là một lúc nào đó, chúng ta từ bỏ hy vọng có thể kết thúc nỗi đau dai dẳng bấy lâu. Chúng ta kết luận rằng sang chấn là toàn bộ thế giới quan bản thân biết, và không thể nào trốn thoát khỏi đó. Một vòng luẩn quẩn được tạo ra.
Ám ảnh muốn lặp lại nỗi đau thuở bé
Nhận thức nỗi đau thời thơ ấu đang được lặp lại là một trong những điểm mấu chốt của phân tâm học. Freud đã gặp rất nhiều bệnh nhân cố tình tìm kiếm đau khổ. Họ lặp đi lặp lại hành vi hay các mối quan hệ tự hủy hoại chính mình. Freud thấy rằng mọi người bị ám ảnh bởi việc lặp lại hành vi đó và những trải nghiệm khi còn nhỏ là nguyên nhân của nỗi ám ảnh này. Hầu hết mọi người thường lặp lại khuôn mẫu cuộc sống lúc nhỏ. Các nhà tham vấn rất hay gặp phải thực tế mâu thuẫn như thế này. Tại sao lại tái hiện lại nỗi đau? Tại sao lại không thể thoát khỏi cuộc sống trong quá khứ và tiến tới một cuộc sống tốt đẹp hơn?
Một người phụ nữ tìm đến phòng tham vấn của tôi. Trong khi hai vợ chồng cãi nhau nảy lửa, dù đã giáng cú đấm vào mặt chồng nhưng cô vẫn không hả dạ nên đã đập vỡ cốc và đâm vào lưng chồng. Cô không thể nào chịu đựng nổi người chồng bất tài, không thành thật. Dẫu biết đánh chồng, đâm chồng là sai, nhưng cô than thở rằng bản thân cũng là nạn nhân sau những gì chồng cô đã làm. Khi tham vấn, tôi được biết cô ấy đã từng bị bố đánh đập dã man lúc còn nhỏ. Bố cô kết hôn tận bốn lần, nhưng cả bốn người vợ không thể nào chịu đựng nổi cảnh bạo lực gia đình và đã trốn chạy. Bất ngờ nữa là người bố khi còn nhỏ cũng từng trải qua sang chấn bạo lực kinh khủng. Ông nội đánh đập bà nội và bà nội bị bạo hành đã kết thúc cuộc đời mình bằng cách tự sát. Cứ hễ mở miệng là ông lại bảo bố phải đánh đập vợ con, rồi nuôi con bằng đòn roi. Bố cô nghe theo lời răn dạy về gia giáo của ông, và trở thành một người bạo hành gia đình không ai có thể chịu đựng được. Bao lực gia đình tồn tại qua nhiều thế hệ trong gia đình cô là sự lặp lại của bất hạnh đã tồn tại trong khoảng thời gian rất dài. Đằng sau sự phẫn nộ của cô ấy - nổi giận đùng đùng với chồng và không do dự thể hiện hành vi bạo lực là sự phẫn nộ với ông nội, với bố.
Trò chuyện với bản thân
Dù đã trưởng thành nhưng vẫn không thể thoát khỏi cuộc sống bất hạnh của quá khứ quả thực là một điều đau khổ. Aaron T. Beck - cha đẻ của liệu pháp nhận thức, nhà nghiên cứu hàng đầu về trầm cảm và bất an, đồng thời là giáo sư trường Đại học Pennsylvania, gọi khuôn mẫu cuộc sống lặp đi lặp lại bất hạnh như thế này là lược đồ. Đó là khuôn mẫu để chúng ta hiểu về thế giới và bản thân mà chúng ta tự xây dựng theo cách riêng của mình. Trải nghiệm và môi trường sống của mỗi người là khác nhau, vậy nên nội dung lược đồ của mỗi người không giống nhau. Vấn đề xảy ra khi nội dung lược đồ mang tính tiêu cực. Lược đồ tiêu cực là nguyên nhân cốt lõi gây ra các vấn đề tâm lý.
Để có thể điều trị chứng ám ảnh lặp đi lặp lại bất hạnh, chúng ta cần liên tục khám phá khuôn mẫu hành vi của bản thân. Khi phát hiện thấy sự lặp lại của bất hạnh, chúng ta hãy thuyết phục bản thân dừng những hành động như vậy lại. Hãy bắt chuyện với bản thân - đang muốn lặp lại bất hạnh của quá khứ trong vô thức và khuyên bản thân dừng hại. Hãy hét to với chính mình rằng “Stop”.
Đã từng có một người phụ nữ công sở khoảng ba mươi tuổi tới phòng tham vấn của tôi. Từ khi còn nhỏ, cô ấy đã đóng vai trò làm trọng tài trong gia đình để hàn gắn quan hệ của mẹ, bố, và các em. Bố mẹ lục đục nên cô luôn phải dò xét ánh mắt để sống. Cô an ủi mẹ khi mẹ kiệt sức vì cuộc sống hôn nhân khó khăn. Còn trước mặt bố, cô nũng nịu để giảm bớt sự căng thẳng.
Thế nhưng, cô lại không thể tháo gỡ những nút thắt trong cuộc đời của chính mình. Cô không thể gặp được người đàn ông khiến cô siêu lòng, dù đã qua tuổi kết hôn. À không phải là không gặp, mà là tất cả những người cô gặp đều đi ngang qua cuộc đời cô rồi tìm đến với cô gái khác. Nhiều khi gặp được người đàn ông tốt, cô lại giới thiệu cho người khác thay vì tiến tới hôn nhân, để rồi nuối tiếc và hối hận. Cô than thân trách phận “Tôi cũng chỉ là một chặng dừng trong chuyến xe buýt cuộc đời của họ.” Đóng vai trò người phân giải cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc của bố mẹ và mất niềm tin vào hôn nhân trong vô thức, đó chính là lý do tại sao cô ấy mãi chưa thể kết hôn.
Cách giải quyết cho vấn đề cô ấy đang đối mặt là hét lên rằng “Dừng lại ngay!” hoặc “Stop”.
“Hãy trò chuyện với bản thân mỗi khi bất an, rằng cuộc sống hôn nhân của bản thân cũng sẽ bất hạnh như bố mẹ.”
“Như thế nào ạ?”
“Mỗi khi bị ám ảnh bởi suy nghĩ tiêu cực, hãy nói với bản thân rằng “Dừng lại ngay””
“Chỉ cần nói như thế là giải quyết được vấn đề sao?”
“Chuyện lo lắng, bất an cuộc sống hôn nhân của bản thân cũng sẽ không hạnh phúc như bố mẹ là chuyện không thể tránh khỏi, nhưng cô cần thuyết phục bản thân đừng vì sự đè nặng của bất an mà từ bỏ hạnh phúc của chính mình!”
Thời gian đầu tiếp nhận tham vấn, mỗi ngày, cô ấy phải đối thoại với bản thân như đã được khuyên nhủ hàng chục lần. Đồng nghĩa với việc, cô ấy thường xuyên bị bất an. Nhưng rồi, sau nhiều lần tham vấn, thời gian cô ấy phải thuyết phục bản thân bắt đầu giảm dần, một ngày chỉ còn vài lần, và sau đó là vài ngày một hai lần. Sớm hay muộn, rồi cô ấy cũng sẽ thôi không còn là một điểm dừng trong cuộc đời một ai đó. Tôi rất háo hức được thấy hình ảnh cô ây không còn là một nhà ga - nơi tàu chỉ dừng chốc lát rồi đi qua mà trở thành nhà ga trung tâm - nơi các đoàn tàu tập kết.
BÍ MẬT CỦA NGƯỜI CHỒNG VÔ TÂM
Trong trận chiến Bình Nhưỡng, Sidney Stewar bị bắt, trở thành tù nhân của lính Nhật và bị giam trong rừng nhiệt đới Philippines. Trong lúc bị giam ở đó, ông đã chứng kiến một chuyện trái với lẽ thường. Những người tử vong trước trong số các tù nhân trong môi trường khắc nghiệt ấy lại là những vận động viên thể dục thể thao cơ bắp phát triển. Trông họ vạm vỡ nên có vẻ sẽ vượt qua được hoàn cảnh khắc nghiệt và sống sót đến cùng, nhưng thực tế họ là những người quen với môi trường không có nhiều biến động. Các vận động viên thể dục thể thao thường ăn đúng giờ ngủ đúng giấc, luyện tập ngủ nghỉ đều đặn để tăng cường sức khỏe. Trái ngược lại, người sống dai nhất trong môi trường khắc nghiệt là người ít nhiều có sự “ảo tưởng”, ví dụ như nhà thơ chẳng hạn. Thể chất tuy yếu nhưng họ có thể thoát khỏi khổ đau và chiến thắng sự khắc nghiệt của môi trường bằng những ảo tưởng của nội tâm.
Ảo tưởng là công cụ cho phép chúng ta tạm thời thoát khỏi trạng thái đau đớn và khơi dậy những cảm xúc tốt cho tâm hồn. Ảo tưởng giúp chúng ta vượt qua vòng xoáy của sự buồn chán, bất lực, căng thẳng, bất an và khủng hoảng do đau khổ của hiện thực mang lại. Có thể nói ảo tưởng là một loại ma túy con người tự tạo ra, và chỉ khác ma túy thật ở chỗ là không cần thuốc mà vẫn phát huy tác dụng.
Đắm chìm trong ảo tưởng để quên đi hiện thực
Trong cuốn The Fantasy Bond, Robert Firestone - nhà tâm lý học người Mỹ - đã viết rằng có một cơ chế phòng vệ được gọi là “ảo tưởng về tình yêu”. Những đứa trẻ không nhận được tình thương từ bố mẹ sẽ tạo ra ảo tưởng về tình yêu giống như ảo ảnh trên sa mạc để tự an ủi chính mình. Chúng tin rằng chúng vẫn được thương yêu dù bố mẹ chẳng hề dành tình yêu và sự quan tâm ấm áp cho chúng. Và kể cả bố mẹ có vô tâm, lạnh lùng đến mức nào, chúng vẫn một mực tin rằng có một tình yêu thầm kín giữa bản thân với bố mẹ và tạo ra mối quan hệ tình yêu không hề tồn tại.
Theo nhà tư vấn tâm lý gia đình John Bradshaw, những đứa trẻ xây dựng cơ chế phòng thủ mang tên ảo tưởng về tình yêu thường lý tưởng hóa bố mẹ và gia đình của bản thân, chúng nghĩ rằng bố mẹ cự tuyệt, bỏ rơi và can thiệp quá mức vào cưộc sống của chúng là vì chúng không ngoan. Chúng tán tụng mẹ và quy chụp mọi nguyên nhân là do bản thân. Vì đổ lỗi cho bản thân giúp chúng ít đau đớn hơn là thừa nhận bố mẹ không yêu thương mình.
Tuy nhiên, cơ chế phòng thủ ảo tưởng phát triển đến một mức độ nào đó sẽ gây ra vấn đề trong thực tế. Nhiều đứa trẻ ảo tưởng bố mẹ là người tốt, mặc dù thực tế bố suốt ngày đánh đập, ngược đãi, còn mẹ bất lực khi không thể bảo vệ các con, tôi không biết chúng có thể chiến thắng nỗi đau tinh thần ngay lập tức với thứ ảo tưởng ấy không, nhưng cuộc sống sau hôn nhân của chúng có thể tái hiện y hệt cuộc đời bố mẹ vì sự lý tưởng hóa cuộc sống hôn nhân và cách thức giáo dục của bố mẹ.
Park suốt ngày bị vợ cằn nhằn “Anh chẳng biết quan tâm đến gia đình, lúc nào cũng chỉ biết đến bản thân mình.” Thế nhưng, Park không chấp nhận được lối chỉ trích này. Vì anh ấy thấy bản thân mình yêu vợ, vui vẻ với các con. Park nói rằng hồi nhỏ mình là người gần gũi nhất với mẹ trong gia đình. Bố qua đời sớm nên mẹ vất vả khi cáng đáng cả trách nhiệm của bố, nuôi các con khôn lớn, thế nhưng mẹ vẫn yêu anh ấy vô cùng. Tuy nhiên, khi được đề nghị chia sẻ sâu hơn về mối quan hệ mẹ con, Park chỉ chớp mắt và không thể trả lời. Sau một hồi do dự, anh ấy đáp lại như thế này: “Mẹ không trực tiếp thể hiện tình thương, nhưng tôi biết bà rất yêu tôi.”
Tôi bắt đầu nghi ngờ Park đã khỏi động cơ chế phòng ngự mang tên ảo tưởng về tình yêu. Tôi gợi mở anh ấy nói thêm.
“Mẹ không thể hiện tình yêu dành cho tôi ra bên ngoài là vì bà không muốn anh em khác biết được. Tôi hiểu mẹ tôi mà.”
Tôi quay lại vấn đề hiện tại.
“Vậy anh thể hiện tình yêu với vợ con như thế nào?”
“Không cần tôi thể hiện ra ngoài, vợ con tôi đều biết tôi yêu thương họ thế nào. Trước khi kết hôn và cả hiện tại, tôi luôn tin tưởng và yêu vợ mình. Giữa chúng tôi tồn tại một sợi dây tình cảm bền chặt không cần nói vẫn hiểu được. Không phải có những điều sẽ không được tự nhiên nếu diễn tả thành lời hay sao?”
Ảo tưởng trong tâm lý học là cơ chế phòng ngự để quên đau đớn. Nhưng quá ảo tưởng có thể dẫn đến tâm thần phân liệt. Nếu chúng ta nhận thức rõ ranh giới giữa ảo tưởng và hiện thực khi chuyển qua chuyển lại giữa hai chế độ thì ảo tưởng là một cơ chế phòng ngự tuyệt vời cho nỗi đau. Thế nhưng, khi hiện thực quá mệt mỏi, khó khăn, cứ trốn mãi trong ảo tưởng, chúng ta sẽ dần chối bỏ hiện thực và rồi bị tâm thần phân liệt. Lý do khiến Park không thể hiện thực hóa những điều giản đơn như thỉnh thoảng đi ăn ngoài nhẹ nhàng, cái ôm yêu thương, lời nói ấm áp mà vợ con mong muốn là vì ảo tưởng kéo dài của anh ấy.
Sự thôi miên trong gia đình mang tên “tình anh em”
Tâm thần phân liệt là trạng thái chối bỏ thực tế và chỉ liên tục đắm chìm trong ảo tưởng. Murray Bowen - học giả tiên phong trong lĩnh vực tham vấn tâm lý gia đình, thấy rằng những gia đình gây ra chứng tâm thần phân liệt có bản ngã gia đình ở trạng thái chưa cá biệt hóa (undifferentiated family ego). Trong những gia đình như thế này, bản ngã của các thành viên không có sự tách bạch rõ ràng, họ bị rối loạn về mặt cảm xúc và bị trói buộc vào mối quan hệ yêu ghét ràng buộc lẫn nhau. Gia đình có bản ngã chưa cá biệt hóa rất dễ rơi vào trạng thái thôi miên gia đình (family trance) và không thế nắm bắt đúng hiện thực như những gì vốn có. Chúng ta rơi vào trạng thái nói gì làm nấy giống như người bị thôi miên ngay cả khi đó là quy định quá đáng hay yêu cầu sai trái của bố mẹ. Vì không thể tách biệt gia đình và bản thân, nên các thành viên trong gia đình coi mong muốn của gia đình là mong muốn của bản thân dù thực tế họ đang nghĩ tới một điều khác, đồng thời còn coi những việc phi lý diễn ra trong gia đình là bình thường.
Lee đã gần bốn mươi tuổi. Cô ấy đến tìm tôi, khẩn thiết yêu cầu tham vấn. Chồng Lee là con thứ hai trong gia đình có ba anh em và tình cảm của ba anh em nhà chồng rất khác người”. Mẹ chồng Lee sống chung cùng gia đình cô ấy. Và vấn đề bắt đầu nảy sinh khi người anh chồng - phá sản, ly hôn, không còn nơi đi chốn về tìm đến nhà cô ấy.
Nhà Lee chỉ có hai phòng ngủ. Phòng chính là phòng cùa hai vợ chồng, phòng nhỏ hơn là của bọn trẻ và bà nội. Thấy anh chồng cũng tội nghiệp nên cô ấy dành đồng ý để anh ấy đến ở cùng. Thế nhưng, khi trời đã về khuya và đến giờ đi ngủ, bỗng dưng chồng Lee bảo để anh chồng cùng ngủ ở phòng chính. Lee vô cùng bối rối. Phòng chính là phòng hai vợ chồng, kể cả là anh chồng thì chuyện ngủ cùng ở phòng chính cũng rất khó coi. Lee gợi ý rằng các con ngủ cùng hai vợ chồng, còn anh chồng và mẹ chồng ngủ ở phòng nhỏ, nhưng chồng cô ấy vẫn ngoan cố.
“Anh ấy là trụ cột của cả gia đình, sao lại để anh ấy ngủ ở phòng nhỏ được, phải là phòng chính!”
Không còn cách nào khác, đêm hôm đó, cô ấy đã phải ngủ cùng chồng và anh chồng ở phòng chính. Sáng sớm hôm sau, Lee giãi bày sự tình với mẹ chồng vì không thể nào thuyết phục nổi chồng, nhưng mẹ chồng cũng không nói gì. Mắt rơm rớm lệ, cô ấy than thở: “Chúng ta có phải là người Eskimo đâu mà để anh trai ngủ cùng trong phòng có vợ mình? Và tôi cũng không thể nào hiểu nổi anh chồng, bảo vào phòng chính ngủ là anh ấy vào luôn, và cả sự im lặng của mẹ chồng nữa, thật không biết nói gì.”
Trong trường hợp này, gia đình chồng của Lee không thể phân biệt ranh giới giữa hiện thực và ảo tưởng - là tình cảm anh em. Thực tế người chồng cũng không hề thấy thoải mái khi phải ngủ chung một phòng với anh trai. Thế nhưng, người chồng vẫn khăng khăng phải ngủ cùng là vì chồng và các anh em đã sống trong sự thôi miên gia đình là tình cảm anh em từ khi còn nhỏ. Bước vào một gia đình như thế này, Lee đã trở thành “người có hai mắt duy nhất giữa những người ngoài hành tinh một mắt”.
Ảo tưởng đem lại hiệu quả khi chúng ta có thể quay trở về hiện thực bất cứ lúc nào. Để quay trở lại hiện thực từ trong ảo tưởng, chúng ta cần có cái nhìn khách quan về gia đình của bản thân. Chúng ta cần chấp nhận những sự thật khó chịu, khó có thể công nhận, hay nói cách khác là điểm mù (blind spot) của gia đình mình. Điểm mù là vị trí khuất chúng ta không thể nhìn thấy trên gương chiếu hậu hai bên (side mirror) của xe ô tô. Chúng ta phải đối diện và thừa nhận những góc khuất hay chính là những sự thật không hề dễ chịu tồn tại trong gia đình.
Từ khi còn nhỏ, thông qua bố mẹ, chúng ta hình thành rất nhiều trạng thái thôi miên trong vô thức và có ý thức. Chúng ta tin tưởng vô điều kiện tín niệm và giá trị của bố mẹ, xem những điều đó là đương nhiên. Chúng ta lớn lớn trong vô vàn những ám chỉ vô thức và mệnh lệnh của bố mẹ, như là “Mày không có tí tố chất học hành nào.” “Không bằng một góc của chị.” “Không được phép về muộn.” Những quan niệm này khiến chúng ta bị thôi miên tuyệt đối cho tới khi chúng bị phá vỡ. Khi bố mẹ và con cái hay hai vợ chồng tác động qua lại lẫn nhau, tình trạng thôi miên càng mạnh. Sau khi trưởng thành và rời khỏi nhà, hoặc ly khai lành mạnh bản thân với gia đình chúng ta sẽ dần thoát khỏi sự thôi miên ấy.
Chúng ta cần mở lòng, cần có thái độ cởi mở nếu muốn thoát khỏi thuật thôi miên gia đình. Gia đình sống khép kín thường cứng nhắc và có những quy định nghiêm khắc như không được làm gì, phải làm gì. Nhìn bên ngoài, gia đình như vậy rất hòa thuận, hạnh phúc, nhưng thực tế đó lại là nơi sinh ra nỗi bất an, căng thẳng và khó chịu mà chúng ta không hề hay biết. Và đó là hòa bình nhuộm màu bất an vì rõ ràng trong gia đình có những điều cấm kỵ bất khả xâm phạm, nhưng chúng ta không dễ mở lời hay làm trái những điều này.
Còn trong gia đình cởi mở, mọi thành viên đều có thể đưa ra sự lựa chọn linh hoạt, phù hợp với tình huống vì mọi chuyện trong gia đình được ứng biến linh động. Các thành viên tách biệt lành mạnh về cả cảm xúc lẫn trí tuệ, nên họ có thể nhìn nhận đúng nghĩa hiện thực gia đình đang đối mặt. Để là một gia đình cởi mở, quan hệ vợ chồng phải công bằng, bình đẳng. Hai người cần thấu hiểu sự khác biệt của nhau, tôn trọng quyết định và sự lựa chọn của đối phương. Thay vì một trong hai vợ chồng đơn phương làm chủ, mỗi người thực hiện đúng vai trò phù hợp với hoàn cảnh, như vậy chúng ta sẽ có một gia đình lành mạnh. Sinh ra và lớn lên trong môi trường như thế này, đứa trẻ sẽ cảm thấy an toàn và yên tâm. Người có sự an toàn ấm áp ngự trị trong tim không cần cơ chế phòng thủ mang tên ảo tưởng.
Khi còn nhỏ, chúng ta thường bị thôi miên bởi bố mẹ với những câu như:
“Mày không có tí tố chất học hành nào.”
“Không bằng một góc của chị.”
“Không được phép về muộn.”
Sự thôi miên dù là có ý thức hay vô thức vẫn ảnh hưởng đến chúng ta dù khi đã trưởng thành.
Khi bố mẹ và con cái hay vợ chồng tác động qua lại lẫn nhau, trạng thái thôi miên càng vững chắc.
Cần tách bản thân khỏi gia đình nếu muốn thoát khỏi thuật thôi miên gia đình.
SỐNG HỒI TƯỞNG VỀ GIA ĐÌNH TA LỚN LÊN
Ánh sáng của những vì sao nhỏ bé lấp lánh mờ ảo trên bầu trời đêm là tia sáng của quá khứ. Phải mất hàng trăm nghìn năm ánh sáng, ánh sáng của những vì sao mới đến được Trái đất. Hình ảnh hiện tại của một gia đình cũng như vậy, những hình ảnh ấy vốn dĩ bắt nguồn từ quá khứ. Vậy nên, quan hệ gia đình có khuôn mẫu tuần hoàn (recurring pattern) trải dài qua nhiều thế hệ. Mâu thuẫn và vấn đề trong gia đình không kết thúc ở thế hệ chúng xảy ra mà còn được lặp lại ở thế hệ sau đó.
Tôi từng dùng phòng vệ sinh bên nhà vợ trong một lần qua chào hỏi trước khi kết hôn. Đập vào mắt tôi là những vật dụng mà phòng vệ sinh nhà tôi không có. Kem đánh răng được đặt bên cạnh những chiếc bàn chải xếp ngay ngắn, và phần cuối tuýp có gắn cuộn kẹp ép. Sau đó không lâu, chúng tôi kết hôn, và vợ tôi bài trí phòng vệ sinh nhà tân hôn y hệt như nhà cô ấy. Hình ảnh phòng vệ sinh nhà vợ được tái hiện y nguyên.
Đến cả việc dùng cuộn kẹp ép kem đánh răng mà khi ấy thấy thật lạ mắt cũng giống hệt.
Nhưng buồn một nổi là tôi không thể nào bóp kem chắt chiu từ dưới lên trên để dùng. Thấy tôi đụng đâu bóp kem đấy không kể trên dưới, vợ tôi cau có tại sao lại làm thế trong khi đã có cuộn ép kem. Chỉ vì sự khác nhau nhỏ nhặt trong thói quen mà ngày hôm ấy hai vợ chồng tôi đã cãi nhau một hồi. Nói là nhỏ nhặt, nhưng sự cố kem đánh răng những ngày đầu tân hôn không đơn giản chỉ là một trận cãi vã. Đó còn là cuộc xung đột văn hóa do sự va chạm của hai bối cảnh văn hóa khác nhau trước khi kết hôn.
Chúng ta đều muốn sống hồi tưởng về gia đình - nơi hai đứa trưởng thành, kể cả gia đình ấy có bi thảm, cô đơn, hay đầy bất an. Vì gia đình là nơi quá đỗi quen thuộc với chúng ta.
Theo Ivan Boszormenyi Nagy - một bác sĩ về tâm thần người Mỹ gốc Hungary và là một trong những người đi đầu khai phá lĩnh vực chuyên môn là trị liệu gia đình, khơi dậy phong trào vận động trị liệu gia đình thập niên 1950, một gia đình được lập mới không bắt đầu từ một mảnh đất hoang. Cả hai vợ chồng đều không thể thoát khỏi văn hóa và truyền thống gia đình đã ăn sâu cắm rễ trong họ. Mỗi người đều mang theo hành trang là truyền thống, văn hóa gia đình của thế hệ trước và bước vào cuộc sống hôn nhân mới. Hành trang ấy có cả những điều tốt và có cả những hạt mầm sinh ra bất hạnh.
Gây tổn thương cho gia đình trong vô thức
Tôi bắt gặp chuyện này ở ngân hàng mấy năm trước. Khi ấy đang độ cuối tháng nên ngân hàng tấp nập người ra kẻ vào. Xếp hàng trước tôi là một bà mẹ cùng với đứa con khoảng chừng năm tuổi. Đứng đợi quá lâu, đứa trẻ buồn chán và bắt đầu quấy khóc. Người mẹ mặc kệ, và thế là đứa trẻ ỉ ôi và vỗ vỗ vào đùi mẹ để xem mẹ - người đang không dỗ dành mình xem có tức giận hay không. Ngay lập tức, người mẹ đanh mặt, tát vào má đứa trẻ. Bỗng dưng bị tát vào má, đứa trẻ bật khóc, và mọi người xung quanh bắt đầu nhìn về phía ấy. Nhận thấy ánh nhìn của mọi người, người mẹ luống cuống, tiếp tục đánh để đứa trẻ thôi khóc. Tất cả mọi người ở ngân hàng lúc ấy ai ai cũng xót cho đứa trẻ liên tục bị mẹ tát.
Người phụ nữ ấy có phải là một người mẹ tồi khi vô tâm và bạo lực với con mình? Nếu có ai đó hỏi người phụ nữ ấy “Chị có yêu con mình không?”, chắc chắn người mẹ sẽ nổi đóa và trả lời rằng “Nói năng linh tinh gì thế. Đứa con bé bỏng là tất cả với tôi đấy.” Trên thực tế, nếu đứa trẻ gặp nguy hiểm, người duy nhất mạo hiểm mạng sống của bản thân, chạy thật nhanh vì đứa trẻ trong số những người có mặt ở ngân hàng không phải ai khác mà chỉ có người mẹ ấy. Người mẹ yêu thương con hết mực, người mẹ đánh con không nương tay, đâu mới là thật? Cả hai đều là thật.
Tony Humphreys là một nhà tâm lý học gia đình người Ireland nổi tiếng. Ông đã xuất bản mười hai cuốn sách, và những cuốn sách ấy đã được dịch sang hai mươi lăm thứ tiếng. Tony Humphreys đã tham vấn cho rất nhiều gia đình có vấn đề như bạo hành, ngược đãi trong suốt ba mươi năm nhưng ông chưa từng gặp dù chỉ một người cố tình làm hại con cái hay bạn đời của mình. Phần lớn những người ông gặp gây ra lỗi lầm, gây ra tổn thương cho con cái, bạn đời của mình, đẩy gia đình vào khủng hoảng và mâu thuẫn sâu sắc trong vô thức.
Ngay cả những người sai khiến gia đình theo ý mình, thao túng theo mong muốn của bản thân, hay bực bội, quát mắng, lãnh đạm cũng không hề có ý định như thế ngay từ đầu. Vậy tại sao những người này lại cư xử tùy tiện, gây tổn thương cho gia đình trong vô thức? Đó là vì bản thân họ cũng đã trải qua một thời thơ ấu như vậy. Vấn đề và nguy cơ của một gia đình cho thấy hạn chế của gia đình ấy. Nó được quyết định bởi môi trường các thành viên trong gia đình sinh ra, lớn lên. Trong số những gia đình đang đối mặt với khủng hoảng, có rất nhiều trường hợp lặp lại bất hạnh của thế hệ trước trong vô thức và bộc lộ y nguyên hạn chế của thế hệ trước trong gia đình hiện tại.
Lặp lại bất hạnh của bố mẹ
Người đàn ông ấy lớn lên trong khó khăn vì là một trẻ mồ côi, bị bỏ rơi khi bố mẹ ly hôn lúc còn nhỏ. Anh gặp gỡ, kết bạn với một người phụ nữ qua nhóm chat trên mạng và đã chia sẻ những tâm sự tận đáy lòng với người phụ nữ ấy. “Bố mẹ ly hôn và bỏ rơi tôi. Nhưng tôi không bao giờ như thế với gia đình mình, tôi tuyệt đối không sống cuộc sống như bố mẹ đã từng sống.” Xiêu lòng trước ao ước cháy bỏng của người đàn ông ấy - muốn xây dựng một tổ ấm hạnh phúc, người phụ nữ đã bất chấp sự phản đối kịch liệt từ gia đình và kết hôn. Thế nhưng, cuộc sống hôn nhân của hai người rất bi đát. Trước khi kết hôn, người đàn ông không hay uống rượu, nhưng kết hôn rồi ngày nào anh ta cũng uống rượu, quay trở về nhà là chửi mắng, đánh đập vợ, ngược đãi con trai. Người phụ nữ không biết kêu than với ai cuộc sống khủng khiếp này. Cô không thể mở lời vì đây là cuộc hôn nhân cô lựa chọn, bất chấp sự ngăn cản quyết liệt của gia đình.
Sau mười lăm năm sống trong đau khổ, người phụ nữ quyết định ly hôn, nhưng chỉ sáu tháng sau đó, cô nhận được phán quyết ung thư và qua đời. Cô đã tin tưởng và kết hôn với người đàn ông khát khao xây dựng một tổ ấm bé nhỏ, nhưng tất cả những gì cô có được là một cuộc sống bất hạnh và căn bệnh ung thư. Người con trai coi bố như con quái vật, từ chối sống cùng bố và về nhà bà ngoại.
Người đàn ông mồ côi ấy đã tái hiện lại cuộc sống gia đình thuở nhỏ, trái ngược hẳn với ao ước của bản thân. Một lần nữa, anh ta lại cô đơn một thân một mình. Người vợ chết vì ung thư trong nỗi đau hôn nhân, người con trai oán hận bố, tất cả đều đã bỏ anh ta ra đi.
Những người lớn lên trong gia đình bất hạnh có xu hướng tái hiện lại trải nghiệm trong quá khứ khi lớn lên trong vô thức. Ảnh hưởng của bố mẹ tới con cái - những đứa trẻ trưởng thành trong mối quan hệ gia đình bất hạnh khi còn nhỏ rất lớn. Căng thẳng và bất an đến từ mối quan hệ gia đình đau khổ trở thành căn bệnh mãn tính và trái ngược lại, họ còn thấy thoải mái khi ở trong tình huống tiêu cực. Giống như việc cảm thấy hạnh phúc lúc bị đánh đập hơn là “đợi chờ” đòn roi trong bất an, càng hạnh phúc, càng sung sướng, họ càng lo lắng và lao như con thiêu thân về phía bất hạnh, đau khổ, bất an. Họ ý thức được rằng cần phải thoát khỏi quan hệ gia đình bất hạnh, nhưng trong vô thức, họ lặp đi lặp lại bất hạnh giống như bị hút bởi nam châm. Ngay cả những người trông bình thường, chăm chỉ học hành, tích lũy kiến thức chuyên môn cũng lặp lại mối quan hệ gia đình méo mó mà không hề biết có một sự ràng buộc được chuyển giao giữa các thế hệ đang tồn tại trong gia đình.
Vậy làm thế nào để chấm dứt sự chuyển giao vấn đề gia đình giữa các thế hệ? Murray Bowen cho rằng những người đang đối mặt với vấn đề ấy cần nhìn nhận một cách khách quan về gia đình khi còn nhỏ. Cuộc sống hôn nhân hiện tại của bản thân có giống với bố mẹ trước đây hay không? Khi nổi giận có lặp lại hành vi như bố mẹ đã từng hay không, ví dụ như im lặng, cáu gắt, đáp lại bằng những lời mỉa mai, chửi mắng, so sánh với người khác, đe dọa,...? Chúng ta phải thẳng thắn nhìn lại những vấn đề này. Và chúng ta cần ngược dòng thời gian quay về quá khứ đối mặt với sự bất lực, phẫn nộ, cảm giác tủi hổ, sợ hãi khi còn là một đứa trẻ ở thời điểm ấy. Như vậy, chúng ta sẽ nhận ra rằng những hành vi quen thuộc thuở nhỏ bản thân hành động trong vô thức đang gieo rắc sự khổ sở bản thân đã phải trải qua lúc nhỏ lên con cái và bạn đời của mình. Đồng thời, chúng ta phải quyết tâm không truyền lại những trải nghiệm ấy cho bất cứ ai.
TIỆM CÀ PHÊ TÂM LÝ GIA ĐÌNH
#1 Gia đình và sang chấn tâm lý

CÀNG CHE GIẤU VÀ CHỐI BỎ, VẾT THƯƠNG CÀNG ĐAU ĐỚN
Sang chấn tâm lý (trauma) là tổn thương tinh thần sinh ra do rối loạn căng thẳng sau chấn thương. Tuy nhiên, không phải tất cả những vết thương lòng đều là sang chấn. Khi tay bị cứa nhẹ bằng một vật sắc, chúng ta cảm thấy đau và vết thương chảy máu, nhưng chỉ cần cầm máu rồi băng bó lại, chỉ sau vài ngày, vết thương lành lại như chưa từng xuất hiện. Thế nhưng với những vết thương sâu, vết thương không những không nhanh lành mà còn để lại sẹo sau khi được điều trị. Trong tâm lý học, sang chấn là vết thương lòng sâu sắc có tính chất liên tục và có thể không bao giờ biến mất.
Nơi thường xuyên xảy ra sang chấn không phải là những nơi đông người xa lạ qua lại như tàu điện ngầm hay các địa điểm công cộng mà là gia đình. Gia đình không phải là những người tình cờ lướt qua cuộc đời chúng ta rồi biến mất. Xác suất gặp lại những người khiến chúng ta khó chịu khi tiếp xúc ở tàu điện ngầm không cao, nhưng gia đình dù yêu hay ghét chúng ta vẫn phải đối mặt hằng ngày. Đây là lý do tại sao chúng ta cần có tâm lý học gia đình.
Theo một kết quả điều tra ở phương Tây, cứ bốn trẻ dưới mười tuổi thì có một trẻ phải vật lộn với sang chấn tâm lý, còn với người trưởng thành, cứ hai người có một người phải sống vật vã vì sang chấn. Sang chấn tâm lý không chỉ xuất hiện trong những trường hợp đặc biệt hay đen đủi. Boris Cyrulnik - bác sĩ khoa Thần kinh Tâm thần nổi tiếng người Pháp, nói rằng sang chấn hằn sâu vào tâm trí người bị hại và trở thành một phần của họ giống như âm binh bám riết không thôi. Sự kiện gây nên sang chấn có thể chỉ xảy ra một lần, nhưng cảm xúc của khi ấy dâng trào mỗi ngày, đôi khi một ngày hàng chục lần. Đặc biệt, khi đã trưởng thành, trải nghiệm sang chấn lúc nhỏ tác động rất lớn đến cuộc sống của nạn nhân. Bác sĩ Boris Cyrulnik đã phân tích hai nhân vật có cách thức đối mặt với sang chấn đối lập nhau trong cuốn sách “The Whispering of Ghosts: Trauma and Resilience”. Bạn có muốn gặp hai con người cũng là đối tượng nghiên cứu thú vị của tâm lý học không?
Bi kịch ít ai biết của người phụ nữ vạn người mê
Norma Jeane Mortenson là một người phụ nữ xinh đẹp nhưng đoản mệnh, ra đi ở tuổi ba mươi sáu. Bà kết hôn lần đầu tiên năm mười sáu tuổi nhưng ly hôn chỉ bốn năm sau đó Người chồng thứ hai của bà là cầu thủ đánh bóng huyền thoại Joe DiMaggio - người mà cho tới bây giờ mỗi khi nhắc đến “anh hùng bóng chày”, người Mỹ vẫn nhớ đến đầu tiên. Ly hôn với Joe DiMaggio, Norma Jeane Mortenson cưới nhà biên kịch Arthur Miller nổi tiếng với tác phẩm Death of Salesman. Tuy không đi đến kết hôn nhưng nhà khoa học thiên tài Albert Einstein cũng có mối quan hệ tình cảm với bà. Đến đây, có lẽ các bạn cũng đoán ra là ai phải không? Norma Jeane Mortenson trở thành diễn viên và người mẫu ảnh bằng vẻ đẹp trời sinh của mình. Và rồi bà đổi tên thành Marilyn Monroe. Những bộ phim có sự tham gia diễn xuất của Marilyn Monroe đều gây tiếng vang lỏn. Bà nhanh chóng trở thành ngôi sao hàng đầu Hollywood và Broadway. Không chỉ là người phụ nữ trong lòng những người đàn ông thời đó, Marilyn Monroe còn là biểu tượng gợi cảm và cái đẹp, sự ngây thơ suốt năm mươi năm qua cho đến thời điểm này.
Thế nhưng, cuộc đời của người phụ nữ ấy lại bi kịch đến mức không ai ngờ. Mẹ Monroe là bà mẹ đơn thân nghiện rượu nặng và không có khả năng nuôi dưỡng con cái. Monroe bị đưa đến trại trẻ mồ côi từ sớm.
Theo cuốn sách động vật học tôi mới đọc gần đây, thú cưng đổi chủ nhiều hơn hai lần không còn có thể làm thú cưng, do chúng có khuynh hướng trở nên hung dữ hay rầu rĩ quá mức sau cú sốc bị bỏ rơi. Đến cún con còn như vậy, người thì như thế nào? Khi còn nhỏ, Monroe đã bị chính mẹ ruột của mình bỏ rơi, liên tiếp chuyển từ trại trẻ mồ côi này sang trại trẻ mồ côi khác, từ gia đình này đến gia đình khác. Bà chuyển qua nhiều nơi, chuyển qua nhiều người nhưng chẳng một ai hay nơi nào cho bà tình yêu thương. Thậm chí năm chín tuổi, bà còn bị ông chú hàng xóm xâm hại tình dục. Lúc trưởng thành, trong mắt những người đàn ông xung quanh, bà chỉ là công cụ thỏa mãn người khác. Bà đi tìm tình yêu và sự quan tâm ấm áp từ những người đàn ông xung quanh, nhưng tiếc thay, tất cả bọn họ chỉ đùa cợt và muốn lợi dụng bà.
Những năm tháng trưởng thành nhuộm một màu bất hạnh, tuy nhiên, sau khi thành công trên con đường trở thành diễn viên, Monroe hoàn toàn có thể biến sắc đẹp và tiếng tăm ngôi sao của mình thành vũ khí bí mật chi phối đàn ông. Thế nhưng, bà đã không thể làm như vậy. Bà khát khao được nhưng người đàn ông bù đắp tình yêu thiếu thốn thuở nhỏ, và điều đó đã trở thành cạm bẫy.
Theo nhà tâm lý học Alice Miller, những người không được bố mẹ thương yêu thuở nhỏ khi càng có tuổi càng bị ám ảnh bởi tình yêu không thể nào khỏa lấp. Monroe càng cố bám chấp thì càng bị tổn thương. Bất chấp những tin đồn tình cảm, Monroe vẫn là người phụ nữ vạn người mê, thế nhưng, bà đã kết thúc cuộc đời của mình do dùng thuốc quá liều. Bà vật lộn để không phải trải qua sang chấn bị bỏ rơi một lần nữa, nhưng cuối cùng tổn thương chồng chất tổn thương. Nếu vậy, chẳng nhẽ không có cách nào khác để người phụ nữ đáng thương này thoát khỏi sang chấn hay sao? Để không sa lầy vào vũng bùn tổn thương và sống một cuộc sống lành mạnh, một cuộc đời bản thân làm chủ, Monroe cần phục hồi cái tôi đã bị tổn thương vì bất hạnh.
“Trải qua một tuổi thơ bất hạnh không có nghĩa là những tháng ngày sau này cũng bất hạnh!”
“Mẹ đau đớn vì một cuộc sống cô đơn, nổi giận vì sự bội bạc của cha, nhưng tôi thì khác. Tôi không bao giờ sống cuôc đời như cuộc đời của mẹ.” Monroe đã phải cố gắng học thuộc câu thần chú này để hồi phục cái tôi và khơi dậy sự tự tôn.
Vịt con xấu xí khắc phục sang chấn
Vịt con xấu xí là tác phẩm tiêu biểu phản ánh rõ nhất nội tâm của Andersen - không bám chấp lấy quá khứ bất hạnh và không bao giờ ngừng tung cánh bay về phía hạnh phúc. Vịt con xấu xí đã trải qua chuỗi ngày phiền muộn, bị mọi người xung quanh xa lánh, thờ ơ. Andersen không cố xóa đi sự bất hạnh ấy bằng cách coi như chưa từng xảy ra. Ông viết câu chuyện Vịt con xấu xí biến thành thiên nga sau khi thừa nhận bất hạnh và không từ bỏ nỗ lực hướng về tương lai. Vịt con xấu xí cũng chính là tự truyện về bản thân của Andersen.
Mặc dù có những năm tháng tuổi thơ buồn đau, nhưng Andersen đã chọn con đường khác. Andersen không giam mình trong những tháng ngày thơ ấu khó khăn ấy. Ông có cái nhìn tích cực về hành trình đi tìm hạnh phúc, không coi nỗi đau của hiện thực là ký ức chỉ muốn xóa bỏ. Với một cái nhìn khác về sang chấn và bất hạnh của bản thân, Andersen đã cho ra đời những câu chuyện thiếu nhi tuyệt vời, để lại dư âm ấm áp, sâu sắc, pha chút buồn man mác trong lòng người đọc như Cô bé bán diêm, Vịt con xấu xí,... Hành động gán ý nghĩa tích cực cho sự bất hạnh của bản thân của Andersen là sự thay đổi của giá trị quan cũng như quan điểm, hay nói cách khác là sự thay đổi của mô thức (paradigm).
Để điều trị sang chấn, chúng ta cần đối diện với sang chấn trong thời gian nhanh nhất có thể. Sự quan tâm tích cực, sự đồng cảm, chăm sóc ấm áp của gia đình rất quan trọng.
Khi bị sang chấn, trái tim chúng ta tự động khởi động cơ chế phòng ngự. Thế nhưng, cơ chế phòng ngự này không có tác dụng chữa lành tổn thương, không phải là cách giải quyết mà ngược lại còn dung dưỡng cho sang chấn vì đó chỉ là che giấu và tránh né. Chúng ta cần sớm điều trị sang chấn trước khi cơ chế phòng ngự được khởi động. Sự quan tâm, đồng cảm, và sự hậu thuẫn ấm áp dành cho người bị sang chấn sẽ chữa lành những tổn thương xuất hiện trong quá trình gian nan mang tên đối diện.
Một cuộc hôn nhân lý tưởng là khi hai vợ chồng có sự cá biệt hóa cao, có tính tự chủ, và yêu thương nhau mặn nồng.
— Murray Bowen