Hai Mặt Của Gia Đình

Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Iv.
Bí Mật Của Gia Đình Hạnh Phúc

❊ ❊ ❊

7

TRƯỚC TIÊN PHẢI YÊU THƯƠNG BẢN THÂN

Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in món quà Giáng sinh năm đầu tiểu học, đó là một chiếc súng ngắn tuyệt đẹp màu bạc. Tôi cực kỳ thích những thứ có thể cầm nắm bằng tay, có độ nặng, bóng láng và lạnh. Tôi thấy phấn khích cứ như mình là nhân vật chính của một bộ phim. Tôi phơi phới chạy khắp ngõ nhỏ trong khu khoe với lũ bạn. “Đêm qua, ông già Noel đã tặng tớ một món quà “cực phẩm”.” Lũ bạn vây quanh với vẻ mặt ghen tị càng khiến tôi hưng phấn hơn. Thế nhưng, câu nói của một đứa trẻ làm hỏng mọi thứ.

“Cái đó, không phải là ông già Noel mà là bố cậu đã lén đặt vào đêm qua đó.” Tôi hét lên với thằng nhóc đáng ghét ấy.

“Đừng có vớ vẩn. Tớ làm nhiều việc tốt nên ông già Noel đã tặng tớ đó, đây chính là chứng cớ. Cậu suốt ngày cáu kỉnh, nên ông già Noel chẳng tặng gì cho cậu...”

Và rồi sau khi quay trở về nhà, tôi cứ thấy khó chịu trong lòng. Tâm trạng phấn khích biến mất và chỉ còn lại sự tò mò ngứa ngáy. “Có thật là ông gia Noel đã tặng mình cây súng này không? Làm thế nào mà ông già Noel có thể biết được mình muốn có cây súng này?”

Ký ức thuở nhỏ ùa về khi tôi âm thầm chuẩn bị quà tặng cho con trai vào Giáng sinh năm ngoái. Khi tôi còn nhỏ, có rất nhiều đứa trẻ không tin vào ông già Noel, vậy nên tôi tò mò không biết cậu quý tử khôn lanh nhà tôi có tin rằng trên thế giới này có ông già Noel cưỡi xe trượt tuyết tuần lộc, bay trên cao hay không. Thế nhưng, sự lo lắng của tôi là thừa thãi. Cậu quý tử thức dậy vào sớm hôm sau, phát hiện ra món quà Giáng sinh đã la lét “Đêm qua ông già Noel đã tới nhà mình!” và chạy quanh phòng. Tôi cảm thấy yên lòng với hình ảnh ấy của con trai, đã là trẻ con thì đứa nào cũng có một chút ngây ngô.

Thế giới ước mơ và tưởng tượng của bọn trẻ được duy trì nhờ sự hỗ trợ của bố mẹ - những người tưới tắm cẩn thận cho những mộng tưởng ấy. Trong một chương trình ti vi đặc biệt dịp lễ Giáng sinh, một đứa trẻ mồ côi trầm lặng nói rằng em không tin vào ông già Noel. Ngay khi phóng viên hỏi lý do, em trả lời là: “Con chưa từng một lần nhận được quà từ ông già Noel.” Những đứa trẻ giễu cợt tôi rằng ông già Noel không tồn tại là những đứa trẻ chưa từng một lần nhận được quà từ ông già Noel. Hiện thực khắc nghiệt đã sớm cướp đi ước mơ và sự tưởng tượng của bọn trẻ. Thế giới của sự tưởng tượng và những câu truyện cổ tích trở thành cơ chế phong vệ bảo vệ bản ngã của những đứa trẻ yếu đuối. Khác với người lơn, trẻ con không dễ xử lý mọi thứ khi va chạm với hiện thực. Bọn trẻ bảo vệ cái tôi yếu đuối của chúng thông qua những câu chuyện cổ tích và sự tưởng tượng.

Yêu bản thân giúp chúng ta chiến thắng mọi nỗi buồn

Tất cả mọi người ai cũng cần có chủ nghĩa vị kỷ lành mạnh, hay nói cách khác là phải biết yêu bản thân mình. Yêu bản thân là trạng thái tâm trạng vui vẻ “Mình cũng là một người tốt.” Tình yêu bản thân được hình thành thông qua bố mẹ, đặc biệt là mẹ khi chúng ta còn nhỏ. Trong tâm lý học, người quan trọng nhất với trẻ trong ba năm đầu đời là mẹ. Trong ba năm này, nếu trẻ không hình thành tình cảm gắn bó với mẹ, sau này, cho dù là ai cũng không thể khỏa lấp được sự thiếu thốn ấy.

Trẻ ở thời kỳ còn ẵm ngửa không có sự nhận thức về bản thân. Chúng không biết bản thân là sự tồn tại khác biệt với người khác. Vậy nên, chúng không thể nhận thức được rằng đứa trẻ trong gương kia là mình khi chúng ta cho chúng soi gương. Trẻ con nhìn thấy mẹ chính là hình ảnh của bản thân qua tấm gương. Vậy nên, những đứa trẻ trong thời kỳ này nhìn gương mặt mẹ có nghĩa là chúng đang nhìn chính bản thân mình chứ không phải là nhìn mẹ. Nói một cách khác, trẻ con tìm kiếm bản sắc của mình thông qua biểu cảm của mẹ. Mẹ cười, trẻ cũng sẽ cười theo, bắt chước theo biểu cảm của mẹ.

Khi mẹ buồn bã, trẻ cũng có vẻ mặt buồn bã. Trẻ quan sát thế giới và bản thân thông qua biểu cảm của mẹ. Khi thấy mẹ cười, trẻ nghĩ mình đáng yêu. Khi mẹ ôm trẻ vào lòng và vỗ về, trẻ cảm thấy an toàn. Còn nếu mẹ có phản ứng lại với nhu cầu của trẻ, trẻ nhận thức rằng bản thân là một sự tồn tại quan trọng. Thế nhưng, nếu mẹ không cười, không ôm ấp, không vuốt ve, cũng chẳng yêu thương trẻ, trẻ sẽ coi mình là một sự tồn tại vô dụng.

Trẻ con trong độ tuổi từ một đến bốn rất dễ bị tổn thương. Trong giai đoạn này, trẻ phát triển tình yêu bản thân lành mạnh bằng sự quan tâm và tình yêu vô điều kiện của bố mẹ. Những đứa trẻ nhận được sự quan tâm ân cần, tình yêu ấm áp từ bố mẹ tự nhiên sẽ hình thành tình yêu bản thân. Chúng hài lòng và thấy bản thân thật tuyệt vời. Và chúng có thể dang cánh bay cao trong thế giới của những ước mơ và mộng tưởng. Hình ảnh này được thể hiện rất rõ khi trẻ chơi các trò chơi tưởng tượng, với bố mẹ, có thể buồn cười, nhưng đó là quá trình bình thường và rất quan trọng với trẻ. Và điều đó còn trở thành ngọn đèn soi đường cho trẻ vượt qua đường hầm tuyệt vọng và sợ hãi sau này.

Trường hợp của Park Seung Hyun được cứu thoát sau mười bảy ngày trong đống đổ nát khi trung tâm thương mại Sampoong sụp đổ năm 1995 đã cho thấy sự quan trọng của tình yêu bản thân. Trung tâm thương mại khổng lồ với hàng nghìn lượt khách mua sắm đã bị đổ sụp chỉ trong hai mươi giây giống như lâu đài cát bị sụp đổ và cướp đi sinh mạng của hơn 1.400 người. Đội cứu hộ đã vào cuộc nhưng công cuộc tìm kiếm nhưng người còn sống sót giữa đống bê tông đồ sộ rất chậm. Phải đến ngày thứ mười bảy kể từ thời điểm tòa nhà sụp đổ - thời điểm có lẽ không còn ai có thể sống sót được nữa, một bạn nữ đã được giải cứu, sau đúng 377 giờ đồng hồ tính từ lúc xảy ra sự cố. Đó là một Seung Hyun non trẻ mới mười chín tuổi.

Seung Hyun bị kẹt trong tình trạng không thể di chuyển cơ thể trong hiện trường của đống đổ nát, nước mưa ngập đến tận cổ trong suốt mười bảy ngày và đã được cứu sống như một kỳ tích khi đang giằng co với Thần Chết. Một phóng viên đã hỏi Seung Hyun làm thế nào có thể chống chọi trong khoảng thời gian khó khăn ấy. Seung Hyun cứ liên tục ngủ rồi tỉnh, ngủ rồi tỉnh trong cơn đói và sự sợ hãi cực độ, nhưng em chưa từng từ bỏ hy vọng được cứu sống dù chỉ một phút giây. Và Seung Hyun trả lời rằng sức mạnh khiến em có thể chống chọi được là những ký ức hạnh phúc khi còn nhỏ. Em đã vượt qua nỗi sợ hãi cái chết bằng cách mở hòm gương ký ức nhìn lại những chuyến du lịch cùng gia đình, từng khoảnh khắc hạnh phúc một. Những khoảnh khắc hạnh phúc, vui vẻ và tình yêu thương ấm áp của bố mẹ là sức mạnh vô cùng trân quý, giúp chúng ta chiến thắng nỗi buồn và sự sợ hãi phải trải qua trong cuộc đời. Và đây cũng là nguồn gốc hình thành tình yêu bản thân.

Tình yêu bản thân lành mạnh có sự liên kết với lòng tự trọng

Ngược lại, những đứa trẻ thiếu tình yêu bản thân vì bị bố mẹ từ chối, không được bố mẹ yêu thương rất dễ bị tổn thương và nản lòng khi bước chân ra ngoài thế giới. Tình yêu bản thân của chúng mong manh, dễ vỡ, nên chúng thu mình, cuộn mình lại để không bị tổn thương thêm nữa.

Những người chưa từng được yêu thương không thể nào có được tình yêu bản thân lành mạnh, vậy nên họ thường thiếu năng lực yêu thương người khác. Năng lực giải quyết căng thẳng kém nên họ dễ bị tổn thương và khát khao tình yêu, sự quan tâm của người khác. Và với tâm thế muốn thỏa mãn khát khao ấy, họ có khuynh hướng thao túng, kiểm soát và bóc lột người khác. Thiếu niềm tin vào bản thân, cảm thấy tự ti và thiếu tin tưởng trầm trọng, nên họ hay bị ám ảnh bởi quyền lực. Khi quyền lực trong tay bị nghi ngờ hay rơi vào tình thế nguy hiểm, họ dễ đánh mất lý tính nổi nóng và công kích đối phương. Đây là sự nỗ lực liều mạng để có được tình yêu bản thân “Mình là một người tốt.” Họ cố gắng để có được tình yêu bản thân, nhưng rồi kiệt sức và không thể đạt được mục tiêu. Thật đáng tiếc nhưng sự thiếu thốn tình thương khi còn nhỏ không thể nào dễ dàng bù đắp bằng cố gắng.

Yêu bản thân ảnh hưởng rất lớn đến chế độ ăn kiêng của phái nữ. Một bạn nữ sinh đại học tăng cân vì ăn quá nhiều đã tự trách bản thân mình. Em không ngừng so sánh bản thân với những bạn gái có thân hình mảnh mai khác và thấy bản thân thật vô dụng. Và em ấy lại tiếp tục ăn để vỗ về nỗi đau, lặp lại vòng luẩn quẩn. Điều khiến em nữ sinh này khổ sở không phải là cân nặng mà là thiếu tình yêu dành cho bản thân.

Yêu bản thân lành mạnh có sự liên quan với lòng tự trọng Ổn định. Lòng tự trọng có nghĩa là đánh giá toàn diện về bản thân, và có tác động đến mọi quyết định lớn nhỏ chúng ta cần đối mặt trong cuộc sống. Nhà tâm lý học Alfred Adler đã nói như thế này: “Những người tự đánh giá thấp bản thân mình không ngừng so sánh bản thân với người khác và cảm thấy bản thân thật thê thảm sau khi so sánh.”

Nhà trị liệu gia đình Virginia Satir chỉ ra rằng các vấn đề gia đình phát sinh là vì lòng tự trọng của hai vợ chồng thấp. Hai vợ chồng có lòng tự trọng thấp khó nói chuyện với nhau, vậy nên thường phát sinh mâu thuẫn, và hai người lại bị tổn thương lòng tự trọng.

Theo Virginia Satir, khi hai vợ chồng cãi nhau, có hơn hai mươi loại cảm xúc xuất hiện. Đó là những cảm xúc thông thường nhất như phẫn nộ, oán giận, hối hận,... và cuối cùng là suy nghĩ tự hạ thấp mình ập đến. Đó là ý nghĩ “Biết ngay mà. Mình thì làm được trò trống gì, với tình trạng...” khiến chút lòng tự trọng còn xót lại cũng rơi rớt hết. Và đó là thời điểm vòng luẩn quẩn bi kịch của mâu thuẫn gia đình bắt đầu.

Có một nhà Phê bình nội tâm trong tôi

Khi trẻ còn nhỏ, vai trò của bố mẹ trong việc lòng tự trọng và yêu thương bản thân lành mạnh cực ky quan trọng. Bố mẹ cần làm tấm gương tốt cho con trẻ. Tùy thuộc vào cái nhìn của bố mẹ với trẻ như thế nào, cảm nhận của trẻ vì giá trị bản thân không giống nhau. Theo Donald Winnicott - nhà phân tích tâm lý học và bác sĩ nhi khoa người Anh đã tham vấn cho hơn hai mươi nghìn trẻ em trong suốt bốn mươi năm, để xây dựng tình yêu bản thân lành mạnh ở trẻ, cần có những ông bố bà mẹ tốt - ôm trẻ, giáo dục trẻ nhất quán, đáp ứng nhu cầu của trẻ một cách xác đáng. Ông bố bà mẹ tốt là những ông bố bà mẹ bình thường, cố gắng hết mình và trung thực với “vị trí của bản thân”, không cần hoàn hảo nhưng biết sửa sai khi mắc lỗi sai.

Không một ai sinh ra đã là người thiếu sự yêu thương bản thân và có lòng tự trọng thấp. Thiếu sự yêu thương bản thân và lòng tự trọng thấp là kết quả khi không may tiếp thu kiến thức sai lúc nhỏ. Theo Virginia Satir, suy nghĩ tiêu cực là một trong những đặc điểm của gia đình có lòng tự trọng thấp. Để thoát khỏi tình trạng lòng tự trọng thấp, chúng ta cần khám phá cái tôi khiển trách ẩn mình trong nội tâm của bản thân.

Trong chúng ta tồn tại một nhà phê bình nội tâm đang cường điệu những mặt tiêu cực và lải nhải “Mày không làm được đâu.” “Mày mà làm được sao.” mỗi khi chúng ta phóng đại sai lầm của bản thân, chỉ trích rồi định làm điều gì dó. Nhà phê bình nội tâm thổi bùng suy nghĩa tiêu cực, gọi dậy sự bất lực, buồn chán, mất tinh thần.

Nhà phê bình nội tâm ngự trị trong chúng ta thường hay nói thế này:

Mày không đáng được yêu thương.

Không biết giống ai mà thế này?

Vì mày mà tao không sống nổi!

Sau này mày sẽ thành cái dạng gì đây!

Mày thật nhếch nhác. Lúc nào mới lớn đây!

Ngưng mấy lời vô dụng ấy đi! Mày thì biết cái gì!

Tất cả mọi thứ là tại mày.

Trước tiên, hãy viết vào sổ tay những câu nói của nhà phê bình nội tâm khiến bạn mệt mỏi. Đối diện với những câu chỉ trích như thế này rất đau đớn, nhưng chúng ta phải nhìn thẳng vào bên trong chúng ta nếu muốn thoát khỏi nhà phê bình nội tâm. Sau đó, khi nhà phê bình nội tâm tuôn những lời tiêu cực, bạn hãy hét lên trong tâm trí “Dừng lại” và nhận thức được rằng đó chỉ là âm thanh của chúng, không phải tiếng nói của bản thân. Chúng ta cần dần tách riêng bản thân với tiếng nói của nhà phê bình nội tâm đã ở trong chúng ta suốt một thời gian dài, và khi chúng biến mất, tình yêu bản thân và lòng tự trọng sẽ được hồi phục.

Có thể khôi phục lòng tự trọng hay không?

Căn cứ trên trải nghiệm của bản thân, Boris Cyrulnik -nhà nghiên cứu sang chấn nổi tiếng và là chuyên gia tâm thần người Pháp, cho rằng tình yêu bản thân và lòng tự trọng bị tổn thương khi còn nhỏ nhưng chúng có thể khôi phục nếu chúng ta gặp được những con người ấm áp. Ông đã mất bố mẹ trong trại tập trung người Do Thái khi còn nhỏ, và trở thành một cô nhi sống khổ sống sở, nhưng ông đã hồi phục nhờ ánh nhìn ấm áp của những người xung quanh. Ông đã kể câu chuyện này như một bằng chứng trong cuốn sách Un merveilleux malheur của mình.

Tháng 7 năm 2010, một số thùng khăn tay cùng với thư đã được gửi tới văn phòng chính phủ ở đảo Geoje. Với ý nghĩa như món quà gửi tặng người hàng xóm, mọi người cảm thấy rất biết ơn, nhưng câu chuyện về hai anh em đã hơn bảy mươi tuổi - nhân vật chính của bức thư còn khiến mọi người cảm động hơn.

Mọi người rất biết ơn những món quà được gửi đến, nhưng câu chuyện về hai anh em bảy mươi tuổi - chủ nhân của bức thư còn khiến mọi người cảm động hơn. Hai anh em rời Hamheung đi tị nạn khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra và thất lạc gia đình. Họ lưu lạc tối tận đảo Geoje, và ngồi trước một cơ quan chính phủ trong tình trạng bụng đói meo và sự sợ hãi vây quanh. Một viên chức nhà nước đi ngang qua cổng cơ quan và thấy họ. Viên chức ấy đã mua đồ ăn và an ủi họ bằng những lời ấm áp rằng hãy mạnh mẽ lên và sống. Sau đó, hai anh em đã trải qua rất nhiều phong ba bão táp, nhưng những lời khích lệ ấm áp khi ấy. họ đã sống cho đến bây giờ.

Những hành động ấm áp xoa dịu nổi buồn của người khác, cứ thế tiếp nối, tiếp nối. Sự quan tâm săn sóc ấm áp của những người xung quanh có thể khiến tình yêu bản thân bị tổn thương của những người đang run rẩy trong cô đơn, bất an và buồn bã được hồi phục.

“Những người tự đánh giá thấp bản thân không ngừng so sánh mình với người khác, và sau khi so sánh, họ thấy bản thân thật thê thảm.”

Nguồn cơn vấn đề gia đình là do hai vợ chồng có lòng tự trọng thấp. Hai vợ chồng có lòng tự trọng thấp rất khó nói chuyện với nhau, dẫn đến tình trạng phát sinh mâu thuẫn và lòng tự trọng một lần nữa bị tổn thương.

Để thoát khỏi tình trạng lòng tự trọng thấp, chúng ta cần khám phá cái tôi chuyên khiển trách ẩn mình trong chúng ta.

CÁC THÀNH VIÊN CÀNG TỰ LẬP, GIA ĐÌNH CÀNG HẠNH PHÚC

Người Đức cực kỳ ghét mùi tỏi, còn tôi lại là người Hàn Quốc chính hiệu nên cảm thấy đồ ăn thật vô vị nếu như không có tỏi. Vậy nên trong suốt thời gian du học, lúc nào tôi cũng phải chú ý đến mùi tỏi. Nếu như có lịch hẹn với giáo sư hướng dẫn luận văn tốt nghiệp, ít nhất là ba ngày trước ngày hẹn, tôi phải kìm chế đồ ăn có tỏi. Tuy nhiên, có một mùi mà người Đức không thể chịu đựng được hơn cả mùi tỏi, đó là mùi nước cá cơm. Trong khi người Hàn tưởng tượng đến xiên chả cá hay món mì sợi janchi “có nước dùng tuyệt vời” nếu ngửi thấy mùi nước cá cơm, thì người Đức hoàn toàn khác. Người Đức chưa từng biết đến mùi vị này nên họ thấy rất xa lạ. Với tôi, mùi nước cá cơm là mùi thơm quyến rũ, còn người Đức cực ghét mùi này. Đây là sự khác biệt văn hóa điển hình. Và cả trong văn hóa đời sống hôn nhân, hai quốc gia cũng có rất nhiều điểm khác biệt.

Độc lập đúng thời điểm

Trong gia đình Đức, người vợ thường trang điểm ngay trước khi chồng tan làm về. Nói cách khác, họ trang điểm vì chồng. Điều quan trọng nhất trong đời sống hôn nhân của người Đức là tình yêu của hai vợ chồng. Cuộc sống hôn nhân đi đến hồi kết khi tình yêu của hai người không còn. Khi một trong hai người nói với người còn lại rằng: “Mình à, tôi không còn tình cảm với mình nữa.” Điều này đồng nghĩa với chuyện ly hôn. Vậy nên, người vợ Đức trang điểm, đợi chồng đi làm về để duy trì lửa tình yêu, để giữ gìn hạnh phúc hôn nhân. Vậy còn Hàn Quốc thì như thế nào? Người vợ trong gia đình Hàn trang điểm không phải vì chồng mà là để đi ra ngoài. Người chồng không dễ gì thấy được bộ dạng trang điểm của vợ mình, vì người vợ trang điểm khi ra ngoài và tẩy trang khi về nhà. Trước khi kết hôn, không biết người chồng có thường xuyên được thấy hình ảnh xinh đẹp như hoa hay không, nhưng chắc chắn sau khi kết hôn, họ chỉ được nhìn thấy mặt mộc của vợ.

Hơn nữa, đời sống hôn nhân của người Hàn cũng khác với người Đức. Kể cả tình yêu giữa hai vợ chồng đã nguội lạnh, họ vẫn không tiến đến ly hôn. Cho dù người chồng có nói với vợ rằng “Anh không còn yêu em nữa”, quan hệ hôn nhân của họ cũng không kết thúc. Điều quan trọng trong hôn nhân của người Hàn không phải là quan hệ vợ chồng, mà là quan hệ với con cái. Sau khi có con, quan hệ vợ chồng được tái thiết lập, lấy con cái làm trung tâm. Vì con vì cái, hai người sẵn sàng gạt quan hệ vợ chồng sang một bên và tập trung vào nuôi dạy con cái. Và sau khi có con, không còn là hai vợ chồng ngủ cùng nhau, mà con sẽ ngủ cùng bố mẹ. Nét văn hóa này được duy trì ở nhiều gia đình cho tới khi trẻ vào tiểu học.

Ngược lại, trong gia đình Đức, con cái chỉ ngủ với bố mẹ khoảng mười ngày sau sinh, còn sau đó trẻ ngủ ở phòng riêng của mình. Cho dù đứa trẻ có quan trọng, đáng yêu thế nào, họ cũng không ưu tiên chuyện nuôi dạy con đến mức gây ảnh hưởng tới quan hệ vợ chồng. Tính toàn dân của người Đức bị đánh giá là lạnh lùng, khách quan, và cách thức nuôi dạy con cái như thế này cũng là một phần của tính toàn dân ấy. Bố mẹ người Đức đặt trên giường ngủ của trẻ một con gấu bông. Búp bé ấy ở bên cạnh bảo vệ trẻ suốt đêm dài. Vậy nên, khác với trẻ con Hàn Quốc, với trẻ con Đức, búp bê không đơn thuần chỉ là một món đồ chơi mà còn là người bạn quan trọng. Ngay cả khi đã trường thành và xây dựng gia đình, họ vẫn gìn giữ búp bê đã ở cùng bản thân thời thơ bé, và khi có những vị khách thân thiết đến thăm nhà, họ thường giới thiệu về búp bê của mình và hoài tưởng về những hồi ức cũ.

Trẻ con Đức không ngủ cùng bố mẹ kể từ khi còn nhỏ, nên khi lớn, chúng phẫn định rất rõ không gian của bản thân và không gian của bố mẹ. Trước khi vào phòng ngủ của bố mẹ, chúng gõ cửa và chỉ vào khi được cho phép. Thế nhưng, ở Hàn Quốc, phòng ngủ của bố mẹ không phải là không gian của riêng bố mẹ. Phòng ngủ cùng thuộc quyền sỡ hữu của trẻ và trẻ ra vào thoải mái không cần xin phép. Vì sự khác biệt về cách nuôi dạy con cái và văn hóa như thế này, trẻ con Hàn Quốc mất khá nhiều thời gian để tách khỏi bố mẹ. Trẻ con Đức thì ngược lại, chúng độc lập với bố mẹ rất nhanh. Những thanh niên hai mươi tuổi trước thềm nhập ngũ nước mắt lưng tròng vì chữ mẹ là đặc sản đến từ cách thức nuôi dạy con của Hàn Quốc. Còn với thanh niên Đức ở cùng độ tuổi, chúng ta rất khó bắt gặp hình ảnh này. Carl Gustav Jung - một bác sĩ tâm thần, một nhà tâm lý học người Thụy Sĩ đã khai phá lĩnh vực học thuật của riêng mình là tâm lý học phân tích, chia sẻ về phương pháp nuôi dạy của phương Đông và phương Tây, nếu phương Đông mang màu sắc hướng nội thì phương Tây mang màu sắc hướng ngoại.

Hàn Quốc và Đức có nhiều điểm khác biệt trong văn hóa đời sống hôn nhân và nuôi dạy con cái, nhưng cả hai quốc gia đều có chung một bài toán, đó là thể hiện tính tự chủ và độc lập với bố mẹ.

Người Đức dạy con phải biết tự chịu trách nhiệm về cuộc đời của bản thân và đảm bảo sự tự chủ, độc lập của chúng từ rất sớm, nên ở khía cạnh “ly khai và độc lập , trẻ con Đức nhanh hơn trẻ con Hàn Quốc. Tuy nhiên, con cái độc lập quá nhanh với bố mẹ nên sợi dây gắn kết bố mẹ và con cái trở nên lỏng lẻo. Còn thanh niên Hàn Quốc duy trì mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ với bố mẹ nên gặp khó khăn trong chuyện thoát khỏi quan hệ gắn kết bền chặt bấy lâu, ly khai và độc lập với bố mẹ hơn so với thanh niên Đức.

Trở thành người lớn là khi bọn trẻ nhận ra rằng “Mình có thể tự lập trong cuộc sống.” Xuất phát điểm là nhận thức rằng ngay cả bố mẹ cũng là “người khác không phải bản thân mình”. Người nhận thức được điều này có thể bắt đầu tự chịu trách nhiệm về bản thân. Người hiểu rằng không ai có thể sống thay cuộc sống của bản thân ngay cả mối quan hệ thân thiết như bố mẹ sẽ biết cách hoạt dụng đúng cách sự tự chủ và trách nhiệm. Và đương nhiên, những người như thế này sẽ có một gia đình ấm êm, một cuộc sống hôn nhân viên mãn.

Mẹ không nỡ rời xa con trai

Ngay cả khi đã học đại học, tôi vẫn hay mặc đồng phục đi học. Tại sao là sinh viên đại học mà còn mặc đồng phục? Mẹ tôi đặc biệt thích màu xanh dương nên toàn bộ quần áo tôi được mẹ mua cho đều là màu xanh dương. Quần lẫn áo sơ mi toàn là màu xanh khiến tôi trông rất quê, và bạn bè còn trêu chọc rằng “Đồng phục đó hả?”. Con mắt thời trang của mẹ tôi rất lỗi thời và dị thường, ngay cả hiện tại vẫn khiến mọi người xung quanh giật mình thảng thốt. Con cái có mua cho cái áo, bộ đồ tốt thế nào, bà cũng không mặc, chỉ mặc quần áo tự mua theo phong cách mà đến cả người siêu dễ tính cũng khó tiêu hoá.

Chuyện là vậy đó, nên thời đại học, tôi cực kỳ ghen tị với những bạn được mua mặc quần áo bản thân thích. Tuy nhiên, mẹ tôi không cho tôi cái quyền ấy. Mua quần áo bản thân ưng ý cho đứa con trai quý hóa là niềm vui và là đặc quyền chỉ mẹ mới có thể tận hưởng. Hiểu suy nghĩ của mẹ nên dù không thích nhưng không còn cách nào khác, tôi vẫn mặc quần áo mẹ mua đi học.

Mẹ còn hay nói thế này với tôi: “Sau này con tốt nghiệp đại học rồi, mẹ sẽ mua cho con một căn hộ, một căn chung cư cho người độc thân!”

Một lần tôi kể với bạn lời hứa này của mẹ, và bạn tôi hỏi lại với vẻ mặt nghi hoặc: “ừ, được mua chung cư cho quá tốt, nhưng sao lại là chung cư cho người độc thân?”

Ngày nào cũng nghe miết lời ấy nên tôi không thấy gì lạ, mãi đến lúc đó, tôi mới thấy tò mò. Hóa ra dù biết con trai đã trưởng thành nhưng trong thâm tâm mẹ rất sợ rời xa con trai. Thấy con trai đã lớn, ở cùng bố mẹ có phần bất tiện, nên mẹ suy tính chuyện mua một căn hộ chung cư cho người độc thân cho con trai nhưng không mảy may nghĩ tới chuyện con trai cũng sẽ giống như bao thanh niên bình thường khác sẽ kết hôn, sẽ có gia đình riêng của mình.

Phá hỏng cả cuộc sống hôn nhân

Giai đoạn chưa kết hôn - từ lúc độc lập khỏi bố mẹ cho đến trước khi xây dựng gia đình riêng - được gọi là thời kỳ trưởng thành độc thân. Điều quan trọng trong giai đoạn này là được bố mẹ cho phép độc lập, tự chủ và chuẩn bị xây dựng gia đình riêng trong tương lai. Những đứa trẻ có sự tự chủ và độc lập trong giai đoạn này có thể chuẩn bị cho tương lai trong một môi trường ổn định. Chúng có thể dồn hết năng lượng của bản thân vào việc tìm việc và chuẩn bị kết hôn. Chúng tạo lập những nhóm bạn cùng trang lứa đem lại cảm giác thân thiết, xây dựng tình bạn, và theo đuổi sự ổn định về mặt tình cảm. Những người như thế này thường có cuộc sống hôn nhân ổn định. Còn những người không thể độc lập, tự chủ khỏi bố mẹ trải qua thời kỳ trưởng thành độc thân trong ảm đạm và khả năng cuộc sống hôn nhân thất bại rất cao.

Con cái khi lớn muốn được bố mẹ công nhận và đối xử như một người trưởng thành. Sự công nhận con cái đã trưởng thành của bố mẹ cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận và tôn trọng sự lựa chọn, quyết định của con cái. Thế nhưng, nếu bố mẹ lờ đi sự trưởng thành của con cái, vẫn coi chúng như trẻ con và không tin tưởng, một cuộc chiến tranh nhàm chán giữa bố mẹ và con cái sẽ bùng nổ. Con cái đấu tranh để được bố mẹ công nhận là người trưởng thành. Con cái căng thẳng, xung đột và mâu thuẫn với bố mẹ trong mọi chuyện. Cả bố mẹ lẫn con cái đều thấy lo lắng, mâu thuẫn và mông lung ở lập trường của bản thân. Khi không được bố mẹ công nhận, cách thức công kích bố mẹ của con cái có xu hướng thụ động và tự làm khổ mình, tiêu biểu như bộ dạng bất lực, kết quả học tập đi xuống, mất động lực và hứng thú về tương lai. Những đứa trẻ trải qua giai đoạn đầu trưởng thành trong bất lực rất dễ bỏ lỡ những cơ hội quý giá để chuẩn bị cho tương lai. Và chúng còn có thể bị mang tiếng là đã gần ba mươi tuổi rồi nhưng nhìn không khác gì một người bất tài vô dụng, không làm được trò trống gì. Nếu còn kèm thêm lời khiến trách “Không nghe lời bố mẹ, chỉ biết chống đối lại bố mẹ, nên cho đến bây giờ mày có làm được cái gì nên hồn đâu”, dù thực tế không như vậy nhưng trái tim nhỏ bé của họ không khác gì bị cắm một nhát dao. Trong trường hợp này, nam giới càng ngày càng bất lực hơn, kết hôn muộn hơn, còn nữ giới thì ngược lại, nhanh chóng muốn kết hôn theo kiểu trốn chạy, phó mặc cho số phận để rời xa bố mẹ.

Lý do ngăn cản sự độc lập của con cái

Khi nghĩ tới những bất hạnh sinh ra do con cái không thể độc lập và tự chủ trong giai đoạn trưởng thành độc thân, chúng ta không thể hiểu tại sao bố mẹ can thiệp vào sự độc lập của con cái. Đương nhiên, bố mẹ không có lý do gì để cố tình cản trở sự trưởng thành của con cái. Chỉ là vì muốn gò con cái vào chiếc khuôn bản thân tạo ra, nên nhiều trường hợp bố mẹ đã gây trở ngại cho sự trưởng thành của con cái.

Những ông bố ba mẹ có tâm lý không muốn rời xa con cái thường xuyên nói những lời này.

“Con mà không có bố có mẹ là không làm nên trò trống gì đâu!”

“Con vẫn còn kém hiểu biết về cuộc sống lắm.”

Một câu nói bản thân không thích nghe nhưng khi cứ phải nghe đi nghe lại, chúng ta sẽ nhìn bản thân mình qua góc nhìn của bố mẹ trong vô thức; Điều nay được gọi là “nội nhập (in-trojection)”. Vì đối xử với bản thân theo góc nhìn của bố mẹ nên chúng ta càng bất lực trong mọi chuyện và không thể nào thoát khỏi vũng lầy bất tài. Nhìn thấy con cái bất lực, bố mẹ càng tin vào suy nghĩ của bản thân về con cái. Một lẽ đương nhiên, bố mẹ kiểm soát và can thiệp vào cuộc sống của con cái sâu hơn. Và khi con cái không thuận theo, bày tỏ quan điểm của bản thân, bố mẹ chỉ trích và cằn nhằn nhiều hơn. Với tình hình như thế này, gần như không có một lá bài con cái có thể lựa chọn.

Vậy làm thế nào để chúng ta có thể cắt đứt sự ràng buộc này và trưởng thành thành một người độc lập, tự chủ? Vốn dĩ để con cái có thể độc lập, cần có hỗ trợ của bố mẹ. Nếu bố mẹ cố ý ngăn cản, gây trở ngại, con cái rất khó độc lập và tự chủ, vì để bước ra thế giới ngoài kia, con cái cần đi qua cánh cửa mang tên “bố mẹ”. Khi bố mẹ cản trở, không muốn con cái bước vào đời, những đứa con trong thời kỳ độc lập cần phải biết nhìn nhận khách quan về bối cảnh gia đình mình. Một cách rất hữu ích là khám phá xem bố mẹ đã có một tuổi thơ như thế nào và độc lập, tự chủ khỏi ông bà mình như thế nào. Chúng ta sẽ tìm được câu trả lời ở đó. Khi không dễ dàng gì có được sự độc lập và tự chủ, bố mẹ sẽ lặp lại điều này với con cái mình trong vô thức. Chỉ cần khám phá ra được cơ chế ẩn này chúng ta đã có một bước tiến lớn. Khi nhận thức khách quan về bối cảnh gia đình mình, cảm giác tức giận và oán trách bố mẹ trong chúng ta sẽ nguôi ngoai đi. Thay vì đổ lỗi cho bố mẹ, rồi tổn thương, nản lòng, chúng ta chấp nhận hạn chế ấy, và bắt đầu tìm kiếm hướng đi tốt nhất cho bản thân trong hoàn cảnh hiện tại. Như vậy, chúng ta đã vượt qua một thử thách và có quyết tâm để bước những bước đầu tiên trên con đường kiếm tìm sự độc lập, tự chủ.

SỨC MẠNH CỦA GIAO TlẾP TRONG CHỮA LÀNH TÂM BỆNH

Mới gần đây, khu chung cư tôi từng sống đã xảy ra một chuyện. Buổi tối nọ, một người mẹ sau khi tan tầm về nhà đã nổi giận với cậu con trai đang học tiểu học vì cậu bé chơi điện tử suốt cả một ngày. Sáng hôm sau ngủ dậy, người mẹ không thấy bóng dáng con trai trong nhà. Người mẹ hoảng sợ kiểm tra từ phòng này đến phòng kia rồi cả nhà vệ sinh nhưng vẫn không thấy con trai đâu. Bỗng có dự cảm chẳng lành, cố chạy ra ban công và nhìn xuống dưới. Trên sân chung cư là thi thể của con trai. Sau khi biết chuyện này, phụ huynh trong khu chung cư có một luật bất thành văn là dù có chuyện muốn mắng con cũng không được mắng vào buổi tối. Dù có nóng giận với con cái, bố mẹ nên mắng vào ban ngày nếu có thể và trước khi đi ngủ hãy an ủi bọn trẻ rằng “Bây giờ con thấy khá hơn, đã vui rồi chứ?”

Những bi kịch thê thảm như thế này khiến tôi thấy chuyện giao tiếp giữa bố mẹ và con cái ngày càng khó khăn. Học hội tôi làm việc từng mời luật sư Kang ji Won - người đã và đang dành rất nhiều thời gian công sức cho vấn đề nhân quyền của trẻ em, thanh thiếu niên - về tổ chức hội thảo chuyên đề. Một khách mời đã hỏi luật sư Kang về động lực khiến ông theo đuổi lĩnh vực về trẻ em và thanh thiếu niên. Luật sư Kang trả lời rằng khi còn làm công tố viên, ông đã từng đảm nhận điều tra một cậu bé chưa tới mười lăm tuổi. Cậu bé đã gây ra một tai nạn nghiêm trọng, và đứng trước mặt công tố viên trong trạng thái mất hết tinh thần. Ngày hôm ấy, bỗng dưng luật sư Kang thấy tò mò và đã trò chuyện với cậu bé về gia đình, về cuộc sống thường ngày như một ông chú nhà hàng xóm thay vì là một công tố viên nghiêm khắc. Cậu bé trả lời rất thật thà. Trò chuyện được một lúc, bỗng dưng cậu bé nghẹn lời và nước mắt rơi lã chã. Luật sư Kang hỏi tại sao cậu bé khóc, và cậu bé đáp lại trong nghẹn ngào rằng: “Suốt mười lăm năm qua, công tố viên là người đầu tiên thật lòng lắng nghe câu chuyện của cháu như thế này.” Rõ ràng cậu bé có bố có mẹ, anh chị em và còn có cả những người bạn cùng nhau trò chuyện, nhưng không có một ai để cậu có thể sẻ chia tâm sự. Vấn đề thực sự của đứa trẻ này là thiếu đối thoại và không có gia đình để chia sẻ những câu chuyện trong lòng, và điều này đã tạo nên một Kang Ji Won của ngày hôm nay.

Thời gian gần đây, những gia đình có vấn đề như thế này ngày một nhiều lên. Các thành viên trong gia đình chẳng dễ gì mà chạm mặt nhau vì ai nấy đều bận rộn, nói gì đến chuyện chia sẻ tâm sự, đến cả chào hỏi nhau đôi lời còn khó khăn. Rất nhiều gia đình đã phát sinh vấn đề khi thiếu giao tiếp.

Phép màu nhỏ sinh ra từ cuộc trò chuyện

Não bộ của con người cảm thấy vui nhất là khi giao tiếp với người khác, đặc biệt là khi nhìn vào mặt nhau và nói chuyện. Ở khía cạnh hóa học, khi vui vẻ, não hoạt động tích cực hơn và giải phóng chất dopamine tạo cho con người cảm giác sung sướng. Ngược lại, con người cảm thấy không hạnh phúc là khi việc giao tiếp bị gián đoạn, không thể nhìn vào mắt đối phương rồi nói chuyện. Ngay cả trong gia đình, chuyện giao tiếp cùng bị gián đoạn thì chúng ta rất dễ mắc tâm bệnh.

Vợ tôi là bác sĩ trị liệu trò chơi, đã tổ chức chương trình tham vấn cho trẻ nhỏ ở cơ sở phúc lợi dành cho mẹ và bé. Vợ tôi không thể nào quên được buổi tham vấn với một bé gái xinh xắn tên là Min Jeong bị mắc chứng đái dầm [*] và mẹ của bé. Min Jeong là học sinh năm hai tiểu học, nhưng em không thể tự chủ đi tiểu cả đêm lẫn ngày nên vẫn phải dùng tã. Em bị cô lập, vì bạn bè nói rằng người em toàn mùi nước tiểu và tránh xa không chơi với em. Em còn thường xuyên bị mẹ mắng, nên lúc nào cũng ủ rũ và tự ti. Vợ tôi gặp Min Jeong lần đầu tiên vì lời nhờ vả của nhân viên phúc lợi xã hội phụ trách bé. Min Jeong ăn trộm học phí của những đứa trẻ khác rồi dùng số tiền đó để mua đồ dùng học tập, đồ chơi nấu ăn cho bạn bè xung quanh. Vì chuyện này, Min Jeong đã bị mẹ mắng mỏ thậm tệ. Nhân viên phúc lợi xã hội cảm thấy xót xa trước cảnh mẹ đơn thân nuôi con, cuộc sống khó khăn nên đã tha thiết nhờ vợ tôi tham vấn cho mẹ Min Jeong.

[*] Đái dầm (enuresis), một trong những bệnh rối loạn bài tiết, là trường hợp đi tiểu tiện ở trẻ đã hơn bốn tuổi - độ tuổi đã học được cách điều tiết bàng quang ngày và đêm. Chứng đái dầm có hai loại. Trong đó, chứng đái dầm nguyên phát là tình trạng không biết đi tiểu tiện ngay từ khi sinh, thường không rõ nguyên nhân. Còn chứng đái dầm thứ phát là bị đi tiểu không tự chủ trở lại vì nguyên nhân tâm lý (ví dụ như căng thẳng) sau hơn một năm từ khi được dạy đi tiểu. Tám mươi phần trăm chứng đái dầm ban đêm, mười lăm phân trăm là theo tuần, năm phần trăm còn lại là chứng đái dầm theo tuần và vào ban đêm.

Mẹ Min Jeong là một bà mẹ đơn thân. Mẹ Min Jeong kích động, kéo lấy vợ tôi than vãn làm thế nào Min Jeong lại có thể ăn trộm như thế. Cô đau khổ rằng thời còn trẻ bị đàn ông lừa gạt để rồi sinh con và đứa trẻ đã hủy hoại cuộc đời cô. Đợi cho cô ấy bình tâm, vợ tôi hỏi lại mẹ Min Jeong, có thật sự là đứa trẻ đáng yêu này đã phá hủy cuộc đời của cô hay không? Câu trả lời của mẹ Min Jeong hoàn toàn khác với ban đầu.

“Không. Lý nào lại vậy. Tôi có thể sống tiếp là nhờ Min Jeong. Nếu không có đứa nhỏ, có lẽ tôi đã không còn tồn tại trên cõi đời này.”

“Chị đã từng nói với con bé những lời này chưa?”

“Chưa. Hình như tôi chưa từng một lần nói với con bé.”

“Mẹ Min Jeong à, nếu vậy chị hãy nói với Min Jeong những lời y như vừa nãy chị đã nói.”

Vợ tôi đưa Min Jeong đang đợi bên ngoài phòng tham vấn vào. Mẹ Min Jeong nhìn cô bé rồi nói: “Mẹ yêu con. Mẹ không thể nào nghĩ tới một cuộc sống không có con. Những lời nói thậm tệ của mẹ suốt thời gian qua là vì yêu con, vì muốn con tốt hơn. Mẹ xin lỗi vì đã nói con thậm tệ suốt quãng thời gian qua.”

Người mẹ không thể thốt nên lời nữa, ôm chặt con gái vào lòng và bắt đầu khóc.

Một tuần sau, khi vợ tôi gặp lại Min Jeong, lâu lắm rồi hai mẹ con mới rạng rỡ như vậy và ngạc nhiên hơn là chứng đái dầm bám riết lấy Min Jeong thời gian qua cũng biến mất.

Thay đổi trong giao tiếp đã tạo nên phép màu đáng kinh ngạc trong gia đình. Những cuộc trò chuyện chân thành không chỉ khiến tâm hồn bị tổn thương được chữa lành mà còn có thể giải quyết cả những vấn đề tưởng như không thể giải quyết.

Giọt nước mắt của bố

Thời điểm tôi dậy thì, quan hệ của tôi và bố không được tốt lắm. Người bố luôn hết lòng hết dạ vì gia đình là một người gia trưởng và cực kỳ nghiêm khắc với tôi. Trong ký ức của tôi, suốt quãng thời gian trưởng thành, tôi chưa từng có một cuộc trò chuyện thân mật với bố. Tôi nghĩ rằng bố chỉ yêu thương mình em gái. Khi ấy, tôi lúc nào cũng ủ rũ, còn em gái tôi vừa đáng yêu vừa hoạt bát nên có rất nhiều bạn. Sang nào nó cũng đi làm từ phòng ngủ chính. Nó lục lọi bộ âu phục bố mặc ngày hôm trước, lấy đống tiền xu làm tiền tiêu vặt. Đây là đặc quyền củạ riêng em gái tôi. Nếu như tôi làm điều đó, chắc chắn tôi sẽ bị bố trách mắng thậm tệ

Sau những năm tháng dậy thì sống khổ sở như một đứa trẻ cô độc tồn tại mà như không tồn tại trong gia đình như vậy, tôi vào đại học. Hai năm đầu trôi qua nhanh như chớp mắt và rồi tôi nhận được giấy gọi nhập ngũ. Sáng sớm ngày nhập ngũ, tôi lúng túng vuốt quả đầu đã được cắt ngắn giống như lời mấy bài hát nổi tiếng và bước lên chuyến tàu nhập ngũ. Tôi ngồi cạnh bên cửa sổ nên nhìn thấy mọi người trong gia đình ra tiễn tôi ở phía xa xa. Chuyến tàu dần lăn bánh và tôi nhìn rõ gương mặt của mọi người hơn. Đập vào mắt tôi đầu tiên là mẹ và em gái với vẻ mặt nhẹ nhõm. Ngay sau khi tôi vừa xuất ngũ, mẹ và em gái tôi đã nói rằng quãng thời gian tôi đi nghĩa vụ là thời kỳ hoàng kim. Một tôi ủ rũ và trầm tính có lẽ khiến không khí trong gia đình không được thoải mái. Cuối cùng là bố. Thế nhưng dáng vẻ của bố khiến tôi rất sốc. Những giọt nước mắt lăn dài trên má bố. Dường như ông không thể kìm nén được cảm xúc của mình, run rẩy đôi vai và thổn thức.

Tôi đã rất kinh ngạc trước hình ảnh không thể nào ngờ tới ấy của bố. Tôi không thể nào tưởng tượng được rằng bố tôi sẽ khóc khi nhìn con trai rời đi. Đó là lần đầu tiên tôi nhận ra bố tôi yêu thương tôi nhiều như thế nào dù ông chưa từng một lần thể hiện ra bên ngoài. Bố tôi là một người mạnh mẽ nên tôi chưa từng nhìn thấy ông rơi nước mắt. Giống như bao ông bố Hàn Quốc khác, ông không biết cách thể hiện tình cảm của mình với con cái, đặc biệt với con trai là tôi. Vì tôi là con trai nên bố muốn nuôi dạy tôi thành một người mạnh mẽ. Thế nhưng, bố lại không hề biết cậu con trai của mình khao khát tình yêu thương của bố như thế nào, ước ao được nghe một lời nói ấm áp của bố như thế nao. Nỗi buồn trong tôi thời thơ ấu không phải là vấn đề tình thương. Dù là khi tôi còn là một đứa trẻ bé bỏng hay là thời điểm dậy thì khó khăn, bố vẫn luôn yêu thương tôi. Thế nhưng, suốt một thời gian dài, tôi đã không nhận ra tình yêu của bố dành cho mình. Vì bố chưa từng một lần thể hiện điều đó. Nỗi buồn trong tôi là từ vấn đề giao tiếp, không phải là vì thiếu thốn tình cảm hay sự yêu thương. Tổn thương của tôi là vấn đề thường thấy ở các gia đình Hàn Quốc. Tôi muốn những gia đình như vậy biết rằng tình yêu được truyền đi qua những cuộc trò chuyện và những cái ôm, không phải qua tâm hồn.

Bước đầu tiên trên chặng đường khôi phục sự giao tiếp đã bị phá vỡ giữa bố mẹ và con cái là lắng nghe. Bước đầu của giao tiếp không phải là truyền đạt suy nghĩ của bản thân mà là lắng nghe câu chuyện của đối phương. Hãy thử ngẫm nghĩ xem thường ngày chúng ta có lắng nghe con cái nói hay không. Khi con cái trò chuyện, chúng ta có dừng việc đang làm và nhìn vào mắt chúng hay không. Chúng ta có cho rằng những lời chúng nói là những lơi vô nghĩa và phớt lờ hay không. Có phải chúng ta luôn cố gắng nói lời bản thân muốn nói, cố gắng truyền đạt suy nghĩ của bản thân hay không. Có phải chúng ta lấy cớ vì con cái mà giáo huấn, mắng mỏ chúng, và không hề quan tâm đến cảm xúc của chúng hay không. Chúng ta cần nhớ rằng những đứa trẻ cần bố mẹ biết lắng nghe, suy nghĩ thấu đáo, không phải là những ông bố bà mẹ chỉ biết giáo huấn.

Tiếp theo đó là giao tiếp chân thành, nói cách khác là trung thực với cảm xúc của bản thân. Đừng bóp méo những cảm xúc của bản thân mà hãy cứ thể hiện đúng như vây, điều này rất quan trọng. Đừng phủ lên cảm xúc yêu thương, sự giận dữ, xấu hổ, sự cô đơn hay mệt mỏi của bản thân những cảm xúc tiêu cực, chúng ta cảm thấy như thế nào hãy thể hiện như vậy. Giống như cách mẹ Min Jeong thể hiện cảm xúc thật của mình với con gái mình, truyền đạt đúng cảm xúc của bản thân chính là sự giao tiếp chân thành.

Nếu như thời điểm tôi dậy thì, bố đặt tay lên vai tôi và thể hiện tình cảm tận đáy lòng mình rằng: “Con trai à, con mệt mỏi lắm phải không, bố luôn yêu thương và tin tưởng con.” Có lẽ cuộc đời tôi đã có nhiều đổi khác, theo hướng tích cực hơn bây giờ.

Buớc đầu tiên trên chặng đường khôi phục sự giao tiếp đã bị phá vỡ giữa bố mẹ và con cái là lắng nghe.

Bước đầu của giao tiếp không phải là truyền đạt suy nghĩ của bản thân mà là lắng nghe câu chuyện của đối phương.

Hãy thử ngẫm nghĩ xem thường ngày chúng ta có lắng nghe con cái nói hay không.

Khi con cái trò chuyện, chúng ta có dừng việc đang làm và nhìn vào mắt chúng hay không.

Chúng ta có cho rằng những lời chúng nói là những lời vô nghĩa và phớt lờ hay không.

Có phải chúng ta luôn cố gắng nói lời bản thân muốn nói, cố gắng truyền đạt suy nghĩ của bản thân hay không.

Có phải chúng ta lấy cớ vì con cái mà giáo huấn, mắng mỏ chúng hay không.

Những đứa trẻ cần bố mẹ biết lắng nghe, suy nghĩ thấu đáo, không phải là những ông bố bà mẹ chỉ biết giáo huấn.

Quan trọng là luôn nói sự thật

Người bà lên Seoul thăm nhà con trai. Bà đặt đứa cháu ngồi rồi hỏi với vẻ mặt tươi cười: “Con không thích bà nội ở lại nhà con lâu phải không? Con muốn bà về nhà càng nhanh càng tốt phải không?” Thông thường, người hỏi như thế này mong đợi câu trả lời là “Không, con thích bà ở đây cơ. Bà đừng về, bà ở đây với con.” Thế nhưng đứa cháu còn quá nhỏ và bối rối không biết nên trả lời như thế nào trong tình huống này. vẻ mặt tươi cười của bà giống như bảo đứa trẻ đồng ý với câu hỏi của mình, nhưng câu trả lời cho câu hỏi phải là phủ định lời của bà. Nói một cách phức tạp hơn, đây là tình huống yêu cầu phủ định nếu là giao tiếp ngôn ngữ, còn là khẳng định nếu giao tiếp phi ngôn ngữ (biểu cảm). Và những tình huống như thế này rất nhiều.

Sau đây là cảnh tượng vào giờ cô con gái tan làm trở về nhà trong một gia đình bố mất sớm, chỉ có hai mẹ con. Người mẹ nói với con gái mỗi tan làm về như thế này: Con à, mẹ sẽ chuẩn bị bữa tối. Con nghỉ ngơi đi.”

"Không không mẹ, con không mệt. Để con làm.”

"Thôi. Con cũng mệt mỏi với công việc ở công ty rồi. Ra xem ti vi đi.”

Sau một hồi nói qua nói lại như vậy, cuối cùng người mẹ chuẩn bị bữa tối, còn cô con gái ngồi xem ti vi. Một lúc sau, hai mẹ con ngồi đối diện nhau trên bàn ăn người mẹ chuẩn bị. Thế nhưng, bữa ăn chuẩn bị kết thúc thì người mẹ lẩm bẩm một mình. Lời than vãn bất ngờ của mẹ như đâm một nhát vào tim con gái.

“Ôi trời, cái số tôi. Đã già cả thế này rồi, không biết còn phải làm việc nhà đến lúc nào! Tôi đúng số khổ mà.”

“...”

Người mẹ đã khiến con gái của mình tổn thương vì lời nói của bản thân mà không hề hay biết. Người mẹ xót xa con gái tan làm muộn nên muốn chuẩn bị một bữa tối ấm áp cho con. Thế nhưng vì cũng đã có tuổi nên khi nấu nướng, chân bà đau nhức, rồi vai thì nhức mỏi. Và rồi bà tự dưng thở dài không biết còn phải chăm lo cho cô con gái đã quá tuổi lấy chồng đến khi nào. Cô con gái nghỉ ngơi vì mẹ nói là sẽ chuẩn bị bữa tối nghe lời than thở ấy giống như sét đánh ngang tai. Giao tiếp “nhập nhằng - nước đôi” với những cảm xúc trái ngược xuất hiện đồng thời như yêu và ghét, độc lập và phụ thuộc, tôn trọng và khinh bỉ,... với cùng một đối tượng giống như tình huống này được gọi là thông điệp kép hay ràng buộc kép (double bind).

Giao tiếp kiểu nước đôi

Theo nghiên cứu của Gregory Bateson - nha khoa học người Anh và cũng là người đi đầu trong lình vực tham vấn gia đình với nhiều thành tựu to lớn trong lý thuyết giao tiếp, phương thức giao tiếp nhập nhằng trong gia đình là một trong những nguyên nhân gây ra chứng tâm thần phân liệt. Khi trò chuyện, thông thường chúng ta chỉ gửi một thông điệp đến đối phương, thế nhưng khi chúng ta truyền đi nhiều hơn hai thông diệp và chúng mâu thuẫn với nhau, đối phương sẽ bối rối và điều này có thể gây nên chứng tâm thần phần liệt.

Ví dụ, khi người mẹ nói với con trai rằng: “Cheol Soo à, dừng bận tâm đến những điều mẹ bảo đừng làm!” Một Cheol Soo còn non nớt sẽ rơi vào hỗn loạn. Với trẻ con, nói đừng làm gì có nghĩa là cấm đoán, là không được phép. Chúng không dễ dàng gì mới học được điều này thông qua phần thưởng và hình phạt, cách nói chuyện của mẹ, nên sau đó bỗng dưng nói với chúng rằng “Bây giờ con làm điều đó cũng được”, chúng sẽ hoang mang không biết nên hiểu câu nói ấy như thế nào. Cheol Soo dần khó khăn trong việc nắm bắt ý nghĩa khi giao tiếp bằng lời với mẹ, em bắt đầu bị để ý ánh mắt của mẹ quá mức, và điều này gieo vào lòng Cheol Soo hạt mầm bất an. Khi tình huống như thế này cứ lặp đi lặp lại, Cheol Soo trở nên lo sợ không biết mẹ đang muốn truyền đi thông điệp gì mỗi khi nói chuyện với mẹ. Cheol Soo đang bất ổn về mặt cảm xúc như vậy nếu phải chịu áp lực mạnh mẽ từ bên ngoài tình hình sẽ trở nên trầm trọng. Bởi đây là con đường cao tốc dẫn đến chứng tâm thần phân liệt.

Bateson khám phá ra lý thuyết ràng buộc kép là lúc ông quan sát kỹ lưỡng một thanh niên bị tâm thần phân liệt. Cụ thể là khi tình hình bệnh nhân đã có chuyển biến tốt thì người mẹ đến thăm. Bệnh nhân mừng rõ khi nhận ra mẹ, chạy về phía mẹ và dang hai tay muốn ôm mẹ, nhưng khoảnh khắc ấy, người mẹ đã nghiêng mình tránh đi. Bệnh nhân bối rối đứng sững lại không biết nên phải làm gì, và câu nói tiếp đó của người mẹ khiến con trai càng thêm hoang mang. “Con trai à, con không yêu mẹ sao? Sao con lại đứng ngây người ra đó?” Bateson quan sát thấy rằng tình trạng tâm thần phân liệt của bệnh nhân sau khi nhận được thông điệp nhập nhằng, không rõ là mẹ yêu thương mình hay đang cự tuyệt mình nhanh chóng chuyển biến xấu trở lại.

Bateson còn sử dụng thiền Phật giáo của phương Đông làm ví dụ để giải thích về ràng buộc kép. Thiền sư đặt cây gậy lên đầu học trò và nói như thế này để dạy về giác ngộ. “Trên đầu con có cây gậy nào không? Nếu con nói có, ta sẽ đánh con, nếu con nói không, ta cũng sẽ đánh con. Và không nói gì con cũng bị đánh.” Trong trường hợp này, người học trò làm thế này không được, làm thế kia cũng không xong. Đây chính là một tình huống ràng buộc kép. Các gia đình có vấn đề thường khiến con cái rơi vào tình huống này. Trong vấn đáp về thiền, người học trò có thể cướp lấy cây gậy trong tay SƯ thầy rồi quất sư thầy một gậy, hoặc trả lời hoàn toàn khác đi là sẽ được SƯ thầy công nhận. Nảy ra suy nghĩ và suy nghĩ ngược lại có vẻ không liên quan như thế này để đạt được sự giác ngộ trong Phật giáo là phương thức tu hành rất quan trọng. Thế nhưng, gia đình của chúng ta không phải là nơi tu hành Phật giáo như thế này, và không có đường tránh hay lời giải cho những tình huống ràng buộc kép trong gia đình có vấn đề.

Ràng buộc kép khiến việc giao tiếp trở nên khó khăn và xuất hiện rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày. Thời gian đầu mới trở về Hàn Quốc, tôi đã phải làm công việc giảng viên hợp đồng theo giờ đầy khó khăn, thu nhập còn lẹt đẹt hơn cả dạy thêm cho sinh viên đại học để có một chỗ đứng trong trường đại học. Quãng thời gian đó túi tiền của tôi lúc nào cũng teo tóp và còn vất vả hơn cả thời du học nghèo rớt mồng tơi ở góc độ nào dó. Một ngày nọ, tôi định bụng đưa mẹ đến một nhà hàng đắt đỏ dùng bữa. Nhìn không gian sang trọng của nhà hàng, mẹ tôi kiên quyết cự tuyệt: “Con làm gì có nhiều tiền, sao lại đến mấy nơi đắt đỏ thế này.” Không thể nào đấu lại sự cố chấp của mẹ nên tôi nghĩ là không còn cách nào khác, rồi đưa mẹ về nhà, chuẩn bị đại khái một số món ăn kèm và dùng bữa với mẹ. Thế nhưng trong suốt bữa ăn, mặt mẹ cứ đăm đăm kỳ lạ. Quả nhiên mấy ngày sau tôi nhận được điện thoại từ em gái và đã biết được lý do. Ban đầu, mẹ tôi vốn dĩ rất ưng ý nhà hàng chúng tôi định dùng bữa, nhưng nghĩ tới túi tiền teo tóp của con trai nên thử từ chối một lần, nhưng không ngờ là con trai không nài nỉ thêm lần nào, liền đưa mẹ trở về nhà, nên bà buồn lòng. Những chuyện như thế này chuẩn văn hóa coi trọng thể diện của Hàn Quốc và thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày. Dầu nhỏ nhặt nhưng đấy cũng là một thể loại ràng buộc kép.

Dũng khí thừa nhận cảm xúc của bản thân

Tại sao lại có những tình huống khó chịu như thế này? Vì chúng ta chưa học được cách thể hiện cảm xúc của bản thân một cách trung thực. Biểu cảm chân thực sẽ làm lay động trái tim đối phương. Vậy nên càng là mối quan hệ thân thiết, chúng ta càng cần thể hiện chân thực cảm xúc của bản thân và nhờ đó mối quan hệ càng thêm thắm thiết. Thế nhưng, phần lớn người Hàn Quốc không thành thật với cảm xúc của chính mình. Đặc biệt, người Hàn Quốc coi việc thay đổi bản thân để đáp ứng sự kỳ vọng của bố mẹ hay người khác là điều đương nhiên, và càng lớn, họ càng khó thế hiện bản thân một cách tự nhiên và đón nhận cuộc sống như những gì vốn có. Khi còn nhỏ, chúng cảm thấy thế nào sẽ thể hiện như vậy, nhưng khi thường xuyên bị nhắc nhở là ích kỷ, bị bài xích hay bị xem thường là trẻ con không biết gì, dần dần chúng ta từ chối, tránh né việc thể hiện chân thật, và thay vào đó thể hiện một cách khoa trương, giả tạo, không như những gì bản thân thực sự cảm thấy. Hành động này là để che giấu người khác về sự bất an bên trong nội tâm chúng ta. Suy nghĩ trong lòng và những gì chúng ta thể hiện ra bên ngoài ở đây có đôi phần khác biệt, và điều này có thể khiến đối phương bối rối, tức giận.

Ha là một người phụ nữ đã ở độ tuổi cuối tứ tuần. Cô tìm đến phòng tham vấn là vì đứa con gái thứ hai của cô là nguyên nhân gây ra mọi phiền muộn trong nhà. Nhà Ha có hai cô con gái. Đứa đầu ngoan ngoãn, học hành chăm chỉ, không có gì cần phải bận tâm, nhưng đứa thứ hai lúc mười mấy tuổi đã từng định bỏ nhà đi và lúc nào cũng nổi loạn, chống đối lại mẹ và chị. Em còn không quan tâm đến học hành, có những hành động sai trái, nên nhiều lúc Ha không thích con gái thứ hai của mình chút nào. Ha dù rất yêu thương đứa đầu, nhưng sợ đứa thứ hai hờn dỗi, nên trái ngược lại, cô còn quan tâm đến đứa thứ hai nhiều hơn. Thế nhưng, đứa thứ hai không hiểu nỗi lòng này của cô, nên cô thấy rất thất vọng,

“Tại sao đứa đầu xinh xắn, đáng yêu hơn?”

“Đứa đầu từ khi còn bé ngoan ngoãn. Lớn lên, tính nó vẫn như vậy. Bố mẹ không cần lo lắng gì về nó, nên tôi thấy nó rất đáng yêu.”

Không khó để đoán được rằng đối với đứa đầu, kể cả Ha không làm gì, tình yêu thương của cô ấy vẫn tự nhiên được lan tỏa. Tôi tiếp tục hỏi cô ấy: “Thế chị có thể chia sẻ cụ thể hơn, chị quan tâm, săn sóc đứa thứ hai hơn đứa đầu như thế nào không?”

“Đứa thứ hai từ khi còn nhỏ đã là một đưa trẻ khó tính và tỉ mỉ. Nó thường hay ghen tị với chị và cũng khá ích kỷ. Thế nhưng, tôi đã cố gắng để đứa thứ hai không có suy nghĩ là chỉ chị nó mới được cưng chiều. Khi đứa đầu mắc lỗi, tôi mắng mỏ thậm tệ, nhưng với đứa thứ hai thì không như vậy. Hay những lúc có cả hai đứa, tôi thường nói rằng: “Con có biết mẹ yêu con nhiều như thế nào không”.”

Đây là một tình huống ràng buộc kép điển hình. Ngay từ khi còn bé, đứa thứ hai đã tin rằng bố mẹ yêu thương nó hơn chị. Nhưng đến thời kỳ dậy thì, không khó để đứa thứ hai nhận ra rằng cán cân tình yêu của bố mẹ nghiêng về phía chị gái của mình hơn. Kết quả là ngay khi nhận ra sự nước đôi của mẹ, đứa thứ hai đã vô cùng hỗn loạn, thất vọng, và điều này đã dẫn đến sự phẫn nộ cũng như trầm cảm ở đứa thứ hai. Điều thực sự khó khăn với đứa thứ hai không phải là chuyện mẹ cô yêu chị cô hơn cô mà là thái độ nước đôi của mẹ.

Trường hợp này đã cho thấy thể hiện không chân thật để lại tổn thương còn sâu sắc hơn cả những lời trách mắng. Nếu muốn thoát khỏi sự ràng buộc kép và thể hiện chân thực cảm xúc của bản thân, trước nhất chúng ta cần có dũng khí thừa nhận cảm xúc của chính mình. Dũng khí này xuất phát từ việc thừa nhận trạng thái nội tâm của bản thân. Trong trường hợp của Ha, đúng là đứa thứ hai có nhiều điểm không bằng chị đầu nếu so sánh nhưng cũng là con, đứa nào cũng đáng yêu, xinh xắn như nhau. Nếu giận thì nói là giận và chia sẻ rằng mẹ thấy buồn lòng khi con hành động như thế, đồng thời bày tỏ thẳng thắn suy nghĩ của bản thân về hành vi tiêu cực của đứa thứ hai. Như vậy, Ha có thể tránh được tình trạng tình hình trầm trọng hơn.

SỔ TÀI KHOẢN QUAN HỆ CHO NHẬN YÊU THƯƠNG

Cô dâu mới cưới chưa được bao lâu đã chịu tổn thương sâu sắc vì mẹ chồng và chồng. Chính xác là ba năm bảy tháng trước, cô vẫn đếm từng ngày kể từ hôm ấy. Sự việc ngày hôm ấy như thế này: Trong ngày mời khách sau khi kết hôn, đồ ăn bị thiếu và mẹ chồng đã than trách con dâu thiếu tinh tế, vầ nguồn cơn bắt đầu từ đây. Ở lập trường của người vợ, người dáng ghét hơn là chồng cô. Chồng cô không những không đứng về phía cô mà còn nói chen vào theo mẹ chồng “Cô ấy vốn không lanh lợi. Mẹ không biết sao?”. Cô không thể nào quên được cảm giác bị khinh thường khi ấy dù chuyện đã qua rất lâu. Người bị tổn thương vì chuyện này liệu rằng có phải chỉ có mình cô ấy?

Thực tế, người khổ sở không kém cô sau ngày hôm ấy là chồng cô. Mỗi ngày, người chồng sống trong sự coi thường là một người kém thông minh, không biết suy nghĩ của vợ. Người chồng không thể nào hiểu nổi tại sao vợ mình thuở yêu nhau ngoan ngoãn là thế mà bây giờ lại thay đổi thành như thế này. Hơn nữa, người chồng cũng không thể nào ngờ được lại là vì một lời bênh vực mẹ không suy nghĩ gì khi ấy.

Quan hệ vợ chồng có một nguyên lý, đó là luôn luôn trả lại những gì nhận được. Thời điểm người chồng có hành động khiến bản thân buồn lòng, người vợ nhẫn nhịn. Nhưng sau đó, khi có cơ hội thể hiện cảm xúc đã tích tụ, người vợ đáp trả lại cả cảm giác buồn bã và tổn thương đã nhận được ở lần trước. Chúng ta không hề có ý định trả thù rằng “Được rồi, mình làm thế với tôi chứ gì, để rồi xem!”, nhưng cảm giác bị tổn thương mỗi lần ẩn nấp đâu đó trong tim và đến lúc nào đó chúng ta muốn trả lại cho đối phương.

Thế nhưng có một điều rất thú vị, đó là nảy sinh tâm lý phục thù khi bị đối phương làm tổn thương là chuyện bình thường, nhưng khi không tích cực trả lại những gì đã nhận, chúng ta sẽ phải đối mặt với khủng hoảng nghiêm trọng hơn.

Sổ tài khoản quan hệ của hai vợ chồng

Ivan Boszormenyi Nagy đã đưa ra lý thuyết độc đáo rằng tồn tại “sổ tài khoản quan hệ” vô hình giữa hai vợ chồng sau khi kết hôn. Tùy thuộc vào số dư trong sổ tài khoản quan hệ, hai vợ chồng có thể trở thành cặp đôi “sến súa”, hoặc có thể biến thành quan hệ “không khác gì kẻ thù”. Giống như tài khoản ngân hàng, tài khoản quan hệ cũng có rút tiền và nộp tiền. Hành động tương ứng với nộp tiền rất đa dạng, ví dụ nhu sự quan tâm nhỏ nhặt dành cho đối phương hay yêu thương sâu sác. Còn rút tiền là giận cá chém thớt những điều nhỏ nhặt, rồi cằn nhằn, bạo lực, khinh miệt,... Nộp tiền càng nhiều, số dư tài khoản càng nhiều, còn rút tiền càng nhiều, số dư tài khoản càng ít đi và thậm chí có thể bị âm.

Để số dư tài khoản quan hệ tăng lên, hai vợ chồng cần cho đi nhận lại cân bằng. Khi việc cho nhận được duy trì cân bằng, hai vợ chồng tin tưởng đối phương hơn và sinh ra tình yêu có thể chiến thắng mọi nguy cơ.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem hai vợ chồng cho đi và nhận lại như thế nào. Trước tiên là ví dụ về vòng tuần hoàn tích cực. Người chồng nhận lương sau một tháng chăm chỉ đi làm. Khi đó, người chồng đưa (give) tiền cho vợ, còn vợ nhận (take) được tiền. Để cảm ơn người chồng đã vất vả kiếm tiền, sáng hôm sau, người vợ dậy sớm hơn bình thường, chuẩn bị những món ăn chồng thích. Lúc này, người vợ trả lại thứ được nhận từ chồng và chồng là người được nhận. Khi hai vợ chồng tương tác cho đi nhận lại như thế này, số dư tài khoản không ngừng tăng lên. Người chồng dùng bữa sáng và khen ngợi người vợ đã vất vả dậy sớm. Như vậy, người chồng lại nộp tiền vào tài khoản, còn người vợ nhận được yêu thương lại trăn trở trong hạnh phúc rằng mình sẽ làm gì cho chồng đây. Những cặp vợ chồng như thế này thường cảm thấy đong đầy yêu thương và hạnh phúc.

Còn trong trường hợp vòng tuần hoàn tiêu cực, điểm khác với vòng tuần hoàn tích cực rất đơn giản. Người chồng ngồi vào bàn ăn dùng bữa. Khó chịu vì chồng không nói một lời nào về những món ăn mà mình đã dậy sớm trổ tài chuẩn bị, người vợ hỏi rằng: “Mình à, thức ăn có hộp khẩu vị mình không? Thế nhưng, người chồng lạnh nhạt trả lời: “Hợp gì đâu, tôi chỉ ăn thôi! Và bầu không khí của bữa sáng đột nhiên gượng gạo. Đây là thời điểm sự cân bằng cho - nhận bị phá vỡ. Người vợ đã trả lại những gì đã nhận được từ chồng, lần này tới lượt người chồng trả lại những gì nhận được từ vợ, thế nhưng vòng tuần hoàn này bị phá vỡ và cảm giác chán ghét bỏ cứ ngày một tích tụ. Đây là nguyên nhân gốc rễ gây hại cho mối quan hệ vợ chồng.

Khi cho - nhận cân bằng, số dư tài khoản quan hệ tăng vùn vụt và tạo nên sức mạnh giúp hai vợ chồng vượt qua mọi sóng gió. Ngược lại, nếu số dư chẳng là bao và thậm chí còn âm, hai vợ chồng chịu đựng khổ sở bằng cách vay thẻ này trả thẻ kia và chỉ cần đối mặt với căng thẳng hay khủng hoảng nhỏ nhặt, mối quan hệ dễ đổ sụp như lâu đài cát.

Khi tình yêu là đường một chiều, quan hệ sẽ tan vỡ

Trong các mối quan hệ đối nhân xử thế, người hay vợ chồng, cho nhận phải cân bằng chúng ta mới cảm thấy thỏa mãn. Dù là quan hệ yêu đương cũng vậy, không có gì là miễn phí. Phải cho đi mới có nhận lại, mối quan hệ được duy trì, và tình yêu cũng như sự tin tưởng giữa hai người mới ngày càng đong đầy.

Nhiều cặp vợ chồng vẫn duy trì tốt sổ tài khoản quan hệ dù nhìn bên ngoài việc cho nhận giữa hai người có vẻ không được cân bằng. Hai vợ chồng cùng đi làm kiếm tiền nhưng người vợ có chuyên môn nên thu nhập cao hơn. Buổi tối, khi nhà bị mất điện, người vợ chạy tới trước tiên, kiểm tra đường đây và sửa chữa. Trong khi đó, người chồng không hề mảy may nghĩ tới chuyện sửa chữa, thích thú chơi trốn tìm với các con. Nhìn hình ảnh này, chúng ta thấy có vẻ như người chồng đảm nhận ít vai trò hơn vợ và không cân bằng. Thế nhưng, người chồng có thể lấp đầy những phần mà vợ không thể làm cho bọn trẻ. Người chồng biết cách chơi với các con, rồi thỉnh thoảng còn đưa cả gia đình đi ăn ở nhà hàng sang trọng mà vợ thích để làm vợ vui. Chúng ta cảm thấy người vợ thiệt hơn trong việc cho nhận, nhưng không nhất thiết phải trả lại số tiền tương ứng. Vì sự chênh này đã được bù lại bằng những quan tâm, săn sóc nhỏ nhặt của người chồng.

Tuy nhiên, khi một phía chỉ cho đi, thấy mình không nhận lại được gì, người đó sẽ cảm thấy bản thân bị lợi dụng, thấy mình như nô lệ của đối phương, cảm thấy trống rỗng và kiệt sức. Khi những cảm giác này tích tụ ngày một nhiều, mối quan hệ của hai người sẽ nảy mầm sự bất mãn. Còn người còn lại thấy bản thân chỉ nhận mà không cho đi khổ sở vì cảm giác tội lỗi và mắc nợ. Khi sự cân bằng cho nhận giữa hai người bị phá vỡ, một bên thấy bất công, bên còn lại thấy mắc nợ.

Hai người gặp nhau, yêu nhau từ thời đại học. Người con trai đến từ tỉnh lẻ nên ở trọ và điều kiện gia đình cũng không được dư giả. Người con gái đi làm thêm, đưa hết số tiền kiếm được cho bạn trai và mỗi khi có thời gian lại đến phòng trọ của bạn trai dọn đẹp, giặt giũ. Cô không tiếc bất cứ thứ gì cho người con trai cô yêu.

Sau khi tốt nghiệp đại học, người con gái có việc làm trước. Người con trai không xin được việc đã tiếp tục học lên, lấy đã để bước vào đời. Trong suốt khoảng thời gian bạn trai học cao học, người con gái đã chi trả học phí và hỗ trợ hết mình. Cuối cùng, sau một thời gian dài chờ đợi, người con trai tốt nghiệp cao học và xin vào làm ở một công ty. Người con gái vô cùng vui mừng khi quãng thời gian khó khăn đã kết thúc, hai người có thể kết hôn và xây dựng một mái ấm hạnh phúc. Thế nhưng, không lâu sau đó, người con gái nhận được một thông báo choáng váng từ người con trai, đó là thông báo chia tay. Người con gái không thể nào chấp nhận được lời chia tay, cứ nhẩm đi nhẩm lại câu ấy nhiều lần. Gặp nhau thời đại học, yêu nhau, tận tình giúp đỡ để bạn trai có thể tự lập cho đến hiện tại, vậy mà “trái ngọt” nhận được lại là hai chữ chia tay, nên người con gái không thể nào tin được, không biết bản thân đã làm sai chuyện gì, ở đâu, và rơi vào trạng thái hoảng loạn. Người con trai ấy không hề có người con gái khác.

Người con trai ngày càng thấy lòng nặng trĩu. Vì chỉ nhận từ bạn gái, nên cậu dần thấy khó nhìn mặt cô ấy vì món nợ ân tình . Cứ hễ đứng trước mặt bạn gái là cảm giác mắc nợ lại bủa vây lấy cậu. Điều mà người con trai muốn là mối quan hệ nam nữ bình đẳng, không có nợ tinh thần. Cậu rất biết ơn người bạn gái đã tin tưởng và hết lòng hỗ trợ cậu suốt một thời gian dài, nhưng một mặt, cậu khổ sở vì suy nghĩ nợ nần. Và cậu muốn thoát khỏi cái suy nghĩ ấy.

Quan hệ giữa người với người rất kỳ lạ, rất dễ đối mặt với nguy cơ khi một bên cho đi quá nhiều. Bên chỉ nhận đương nhiên biết ơn, nhưng họ vật vã bởi cám dỗ trút bỏ gánh nặng tinh thần bằng cách thanh lý mối quan hệ. Vậy nên nếu chúng ta thực sự yêu quý đối phương, chúng ta đừng cho đối phương tất cả những gì chúng ta có. Người ta nói trong tình yêu cũng cần mưu mẹo chính là vì những tình huống như thế này. Chúng ta cần khôn khéo trong việc cân nhắc phạm vi mà ở đó chúng ta quan tâm, săn sóc người mình yêu thoải mái, vô tư nhưng đối phương không cảm thấy gánh nặng và đáp trả lại chúng ta.

GIỮ KHOẢNG CÁCH TÌNH CẢM VỚI GIA ĐÌNH

Hồi còn du học bên Đức, tôi từng chứng kiến cảnh cặp vợ chồng du học sinh Hàn Quốc cãi nhau rất đặc biệt. Sau khi cãi nhau, họ quay về phòng mình, trùm kín chăn nằm. Hai vợ chồng cứ như vậy chịu đựng giống như biểu tình im lặng trong không gian của bản thân. Ai trong hai người mở cửa phòng bước ra trước là người thua cuộc. Thấy hai người như vậy, tới chỉ thầm nghĩ vợ chồng nhà này lòng tự trọng cao ngất trời và còn cố chấp. Tôi không ngờ có ngày cuộc cãi vã của họ lại kết thúc bằng bi kịch.

Hôm ấy, hai vợ chồng lại lời qua tiếng lại, rồi ai về phòng nấy tiếp tục cãi nhau như mọi khi. Đúng khi ấy, người vợ đang mang thai. Người vợ hơn một ngày trời căng thẳng, không uống một giọt nước nào đột nhiên băng huyết trong khi hai vợ chồng vẫn đang chiến tranh. Hai người hoảng hốt, di chuyển ngay đến bệnh viện, nhưng cái thai đã bị mất. Chuyện này để lại tổn thương không thể nào xóa nhòa cho hai vợ chồng. Cuối cùng, hai người không thể chịu đựng được nữa và chia tay. Chứng kiến toàn bộ câu chuyện ấy, tôi thấy tiếc thay cho họ. Tai sao hai vợ chồng lại làm tổn thương nhau đến như thế? Cãi nhau không phải là vấn đề, vấn đề nằm ở cách cãi nhau.

Các cặp vợ chồng có hôn nhân không hạnh phúc, cãi nhau sai cách có một điểm chung. Đó là sự cá biệt hóa bản ngã kém. Cá biệt hóa bản ngã là một khái niệm phân tâm học và có nghĩa là con cái có thể độc lập và tách khỏi mẹ ở mức độ nào. Khi một đứa trẻ lẫm chẫm biết đi chăm chú nhìn ngắm gương mặt mình trong gương là lúc đứa trẻ ấy bắt đầu cá biệt hóa bản ngã. Hành động ngắm bản thân trong gương cho thấy trẻ bắt đầu coi bản thân là sự tồn tại độc lập với mẹ.

Những người cá biệt hóa bản ngã tốt có thể kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc một cách lý tính. Gia đình là một bể chứa cảm xúc. Các thành viên trong gia đình hành động cảm tính khi ở nhà hơn khi ở bên ngoài. Đó là lý do vì sao chúng ta cảm thấy tức giận với vợ hay chồng không có lý do, nổi giận với bọn trẻ trong vô thức. Nếu là mối quan hệ bên ngoài gia đình như ở trường hay chỗ làm, tức giận, chúng ta cũng không thể thể hiện trực tiếp sự tức giận ấy của bản thân. Chính vì vậy, nơi chúng ta sống và chịu nhiều tổn thương nhất là gia đình. Chúng ta chịu tổn thương sâu sắc ngay trong chính gia đình mình - tổ ấm tình yêu. Gia đình thường có nhiều hành động phản xạ theo cảm tính nên chúng ta cần ly khai bản thân khỏi những cảm xúc ấy.

Cá biệt hóa bản ngã có mối quan hệ mật thiết với năng lực điều chỉnh, kiểm soát cảm xúc, đặc biệt là cảm xúc bất an. Gia đình là nơi chất chứa những cảm xúc phức tạp, nên nếu không muốn gây tổn thương cho nhau, chúng ta cần sử dụng năng lực trí tuệ, hay nói cách khác là sức mạnh của lý tính. Sử dụng đúng mức sức mạnh lý tính chính là năng lực cá biệt hóa bản ngã. Khi gia đình bị nhấn chìm trong bất an, các thành viên có sự cá biệt hóa bản ngã kém không đủ khả năng giải quyết cảm xúc bất an và đối mặt với những khó khăn lớn hơn vì hành động tăng động. Ngược lại, các thành viên có sự cá biệt hóa bản ngã tốt có thể khắc phục khủng hoảng, đối phó với cảm xúc bất an một cách lý tính.

Người có đời sống cảm xúc khỏe mạnh và không khỏe mạnh

Điểm khác biệt của người có đời sống cảm xúc khỏe mạnh và không khỏe mạnh không nằm ở việc ai chịu được nhiều stress hơn mà là ai xử lý stress tốt hơn. Người có đời sống cảm xúc khỏe mạnh không có nghĩa là họ ít bị stress hơn, họ là người giải tỏa stress và bất an một cách lành mạnh. Người không thể tự mình giải quyết stress và dễ bị rơi vào trạng thái bất an là người có sự cá biệt hóa bản ngã kém. Ngược lại, người ứng phó tốt với stress, kiểm soát tốt cảm giác bất an bất ngờ ập đến là người có sự cá biệt hóa bản ngã cao.

Cá biệt hóa bản ngã không liên quan đến môi trường bên ngoài mà là trạng thái nội tâm bên trong. Cùng là đối mặt với một tình huống nguy cấp, nhưng tùy theo mức độ cá biệt hóa bản ngã, cách thức xử lý và phản ứng khác nhau và kết quả cũng khác nhau. Chúng ta hãy cùng xem ví dụ sau. Một hậu bối tình cờ bắt gặp một tiền bối đang nghe điện thoại trên đường, hậu bối ấy mừng rỡ lại gần chào hỏi, nhưng tiền bối mải mê với cuộc điện thoại nên không biết và đi qua. Trong tình huống này, nếu ở vị thế của hậu bối ấy đương nhiên sẽ cảm thấy bị tổn thương. Khi đó, tùy theo mức độ cá biệt hóa bản ngã của hậu bối ấy mà cách thức xử lý hoàn toàn khác nhau.

Đầu tiên, nếu hậu bối ấy là người có trạng thái cá biệt hóa bản ngã thấp. Hậu bối ấy sẽ cảm thấy bản thân bị coi thường và tức giận với tiền bối. Hậu bối ấy cho rằng vì đối phương mà bản thân bị tổn thương. Vì suy nghĩ này, hậu bối có thái độ công kích và xung đột với tiền bối trong khi tiền bối kia không biết chuyện gì đang xảy ra.

Trong trường hợp hậu bối có mức độ cá biệt hóa bản ngã tầm trung và cùng là tình huống như thế, hậu bối sẽ cho rằng tổn thương là do bản thân không phải vì tiền bối kia. Hậu bối ấy nghĩ rằng bản thân đã làm sai gì đó nên tiền bối mới ngoảnh mặt làm ngơ và lo sợ. Kiểu người như thế này sẽ đi về phía tiền bối, hỏi xem bản thân đã làm sai chuyện gì và xin tha thứ. Khác với trường hợp đầu tiên, trường hợp này không phát sinh mâu thuẫn, nhưng lại tạo nên một tình huống không thoải mái.

Còn trường hợp có sự cá biệt hóa bản ngã cao thì như thế nào? Hậu bối ấy không tức giận với tiền bối, cũng không bất an rằng bản thân có làm gì sai hay không. Cùng là tình huống bị tổn thương khi tiền bối không quan tâm tới lời chào hỏi và đi qua, nhưng cách thức xử lý lại khác nhau. Hậu bối ấy bước về phía tiền bối và thoải mái nói rằng lúc nãy bản thân có chào hỏi.

“Tiền bối à, em chào mà hình như tiền bối không nghe thấy, tiền bối đang gọi điện cho ai mà chăm chú thế?”

Ở đây hoàn toàn không có chuyện gạn hỏi là lỗi của bản thân hay là lỗi của đối phương, chỉ diễn tả đúng như tình huống. “A, lúc nãy tôi đang gọi điện thì hình như có ai chào hỏi, hóa ra là đằng ấy!”

Bằng cách này, vị tiền bối đã bày tỏ được sự áy náy của bản thân, và vấn đề được giải quyết mà cả hai bên đều thấy thoải mái.

Trong cả ba trường hợp, tình huống là như nhau. Người có sự cá biệt hóa bản ngã thấp đổ lỗi cho người khác, cho rằng vì đối phương nên bản thân mới tức giận. Họ hoàn toàn không nghĩ ra rằng bản thân có sự lựa chọn khác.

Còn người có sự cá biệt hóa bản thân cao duy trì được cân bằng trong suy nghĩ và cảm xúc. Họ không nổi giận và kích động tức thì mà xử lý với sự khách quan và khả năng tự kiềm chế - có thể vượt qua mọi kích động về mặt cảm xúc. Chịu nhiều stress cũng như đối mặt với nhiều khủng hoảng trong cuộc sống, nhưng họ giải quyết vấn đề trong một tâm trạng ổn định, không khiến bản thân hay đối phương tổn thương và có thể xây dựng được mối quan hệ gia đình lành mạnh. Khi nên duyên vợ chồng với người có sự cá biệt hóa bản ngã tốt, chúng ta sẽ không cáu kỉnh hay tức giận với bạn đời hay con cái của mình, cũng như không lệ thuộc vào rượu hay công việc khi phát sinh tình huống khủng hoảng và căng thẳng. Chúng ta không gắp căng thẳng của bản thân bỏ sang tay thành viên khác trong gia đình, giải tỏa và xoa dịu tâm trạng theo cách thức lành mạnh. Chúng ta ít bị chi phối bởi khủng hoảng trong cuộc sống cũng như cảm giác bất an sinh ra từ đó, và xây dựng được những mối quan hệ gia đình hạnh phúc.

Thế nhưng, người có sự cá biệt hóa bản ngã kém cư xử cảm tính và hành động bổc đồng khi đối mặt với khủng hoảng. Họ dễ dàng thể hiện sự tức giận hay thất vọng của bản thân. Hơn nữa, họ để tâm quá mức tới phản ứng của người khác, phụ thuộc hay chống đối lại người khác. Càng bất an, họ càng kích động. Yêu nhau sâu đậm và đi đến hôn nhân, nhưng khi không thể xử lý đúng cách trong những tình huống khủng hoảng và căng thẳng xảy ra trong cuộc sống thường ngày, hai vợ chồng rất dễ làm tổn thương nhau và đẩy cuộc hôn nhân vào hố sâu mỏi mệt.

Hai vợ chồng có sự cá biệt hóa bản ngã thấp

Theo Murray Bowen, khả năng ứng phó với stress của hai vợ chồng có sự cá biệt hóa bản thân thấp rất kém, nên họ không thể chịu đựng được cảm giác bất an sinh ra từ stress, để rồi khó khăn giữa hai vợ chồng ngày càng chồng chất. Khi có mâu thuẫn, vì không có khả năng xử lý đúng cách, nên hai vợ chồng dần xa cách vì bất an và stress sinh ra từ mâu thuẫn. Khi cứ ngày càng xa cách, đôi khi hai người sẽ cố gắng thái quá để xích lại gần nhau hơn. Quan hệ hai vợ chồng cứ xa cách rồi gần gũi quá mức, lặp đi lặp lại như thế này. Hai vợ chồng va chạm, xung đột với nhau trong mọi chuyện, dẫn đến bất hòa quá mức, căng thẳng mãn tính, và rồi hai bên dễ có thái độ miệt thị, tiêu cực với đối phương. Chỉ cần quan sát những cặp vợ chồng hối hận vì đã kết hôn ở xung quanh, các bạn sẽ hiểu được điều này. Căng thẳng và mâu thuẫn liên tục có thể dẫn đến cảm giác bất lực không thể thu hẹp khoảng cách giữa hai vợ chồng, đau đầu mãn tính và chứng trầm cảm. Điều này tạo nên một kiểu vợ ốm yêu, ra vào bệnh viện thường xuyên hoặc nằm nghỉ trên giường. Bệnh tật của người vợ là triệu chứng cơ thể do stress và lo lắng mà cuộc sống hôn nhân đem lại. Trong mâu thuẫn vợ chồng kinh niên, những người mẹ cảm thấy lo sợ và bất an thường bám dính lấy con cái. Khi cảm giác bất an trào dâng mãnh liệt, họ có xu hướng kiểm soát hay bảo vệ con cái quá mức, phóng chiếu sự bất an của bản thân lên con cái. Khi đó, bọn trẻ có hai kiểu phản ứng, hoặc là thuận theo hoặc là chống đối. Người mẹ nhầm tưởng rằng sự quan tàm, bảo vệ quá mức bắt nguồn từ sự lo sợ và bất an của bản thân là yêu thương con cái. Trong tình huống này, bọn trẻ không thể độc lập và tách khỏi mẹ, khiến sự cá biệt hóa bản ngã của chúng thấp dần đi. Nhiều đứa trẻ khi còn nhỏ thuận theo hành vi sinh ra do sự bất an của mẹ, nhưng đến tuổi dậy thì, chúng chống đối lại và có những hành vi lệch lạc. Bọn trẻ không phải muốn thoát khỏi mẹ mà chúng muốn thoát khỏi sự bất an quá mức của mẹ. Thế nhưng, hành vi lệch lạc của con cái càng khiến người mẹ bất an hơn và rơi vào trạng thái hoảng loạn. Càng bất an, người mẹ càng bám dính lấy con cái. Và đôi khi có những hành động cực đoan giữa bố mẹ và con cái. Nhiều người mẹ tự sát trước mặt con để có thể kiểm soát chúng lần nữa, hay có người cố tình giam bọn trẻ trong bệnh viện tâm thần. Để né tránh sự lo sợ và bất an của bản thân, họ cố gắng phá hủy con cái bằng cách biến chúng thành những đứa trẻ không kiểm soát được.

Chìa khóa giải quyết căng thẳng và mâu thuẫn nằm trong tay chúng ta

Chìa khóa để giải quyết quan hệ vợ chồng không hạnh phúc và quan hệ con cái khó khăn không nằm trong tay đối phương. Và chồng, vợ hay con cái thay đổi không phải là cách giải quyết. Chìa khóa giải quyết mâu thuẫn và căng thẳng phát sinh giữa hai vợ chồng hay giữa bố mẹ và con cái nằm trong tay bản thân chúng ta không phải ai khác. Khi sự cá biệt hóa bản thân cao, chúng ta ứng xử linh động, linh hoạt hơn trong các mối quan hệ gia đình, đồng thời điều tiết và giải tỏa stress tốt.

Sự cá biệt hóa bản ngã không tăng trong một sớm một chiều, nhưng không có nghĩa là sự cá biệt hóa bản ngã là cố định hay không thể thay đổi. Khi đã trưởng thành, để thay đổi sự cá biệt hóa bản thân đã hình thành trong mối quan hệ với bố mẹ tư khi còn nhỏ, chúng ta phải biết đồng cảm với bản thân và người khác. Chúng ta không nên phản ứng cảm tính tức thì khi bị stress, mà trước tiên cần thừa nhận cảm xúc của bản thân, và đứng ở lập trường của đối phương - người khiến chúng ta bất an để suy nghĩ rồi mới xử lý. Thay vì giải quyết một cách cảm tính, một cách vô thức những stress hay khủng hoảng ập đến bất ngờ trong cuộc sống, chúng ta hãy ngẫm nghĩ thêm một lần nữa. Vì sự cá biệt hóa bản ngã thấp hình thành trong gia đình khi còn nhỏ, đôi khi có cố gắng chúng ta cũng không dễ dàng thay đổi được. Thế nhưng nêu chịu khó ngẫm nghĩ thêm một lần để nhận ra rằng sự tức giận, bất an chúng ta đang cảm thấy bắt nguồn từ nội tâm bên trong chúng ta chứ không phải vì yếu tố bên ngoài và giải quyết ít cảm tính hơn, chắc chắn sẽ có sự đổi khác. Đây chính là cách khắc phục sự cá biệt hóa bản ngã thấp. Càng thực hành nhiều, những chuyện chúng ta hối hận sẽ càng giảm đi.

SỐNG NHƯ MỘT GIA ĐÌNH

Trước đây, nhà năm sáu đứa con là chuyện bình thường, nhưng giờ đây nuôi một hai đứa thôi cũng đủ khó khăn rồi. Nhà tôi có mỗi một cậu con trai nhưng tôi và vợ tôi rất thận trọng và không dễ gì để nuôi nó.

Hai vợ chồng tôi đều đi làm kiếm tiền nên con trai tôi luôn luôn thấy thời gian ở cùng bố mẹ ít ỏi. Lúc nào nó cũng háo hức chờ tới cuối tuần. Một cuối tuần nọ, nó mè nheo đòi cả nhà đi ăn ở một nhà hàng gia đình. Vợ chồng tôi không muốn trải qua một ngày nghỉ hiếm hoi ở nơi đông người, tuy nhiên vì chiều lòng con trai nên không còn cách nào khác. Đi bộ từ nhà tới nhà hàng gia đình gần nhà mất chừng bốn mươi phút, nhưng cậu con trai tôi lại rủ rê đi bộ thay vì đi xe ô tô, vì nó muốn đạp xe đạp. Kết quả là chúng tôi đi bộ còn con trai tôi đi xe đạp. Sau khi dùng bữa xong, trên đường trở về nhà, nó nài nỉ chúng tôi đi mua bánh kẹo ở một siêu thị gần nhà. Chúng tôi thuyết phục nó về nhà vì vừa mới ăn no căng bụng ở nhà hàng, còn đâu chỗ cho bánh kẹo., nhưng nó vẫn đòi cho bằng được. Tuần nào nó cũng yêu cầu, mè nheo theo cách này. Vợ chồng tôi rất vui khi có thời gian bên con, nhưng cứ gần hết hai ngày cuối tuần là hai vợ chồng mệt rã rời. Trở thành “ông bố bà mẹ yêu con dại khờ” nhìn mụn con muộn mằn nở nụ cười mãn nguyện thật dễ, nhưng để làm “ông bố bà mẹ tốt” không hề đơn giản, vì ông bố bà mẹ tốt phải biết từ chối và khiến bọn trẻ nản lòng đúng mức đúng thời điểm.

Freud gọi con người chúng ta là “sinh vật không biết thỏa mãn”. Dù là bố mẹ tận tụy như thế nào cũng không thể đáp ứng tất cả những yêu cầu của lũ trẻ sớm nắng chiều mưa. Giờ đây, bọn trẻ có nhiều vấn đề hơn, tần suất gây rắc rối nhiều hơn hẳn thế hệ trước. Trẻ bị rối loạn tăng động cùng giảm chú ý (ADHD) tăng gấp vài lần so với quá khứ và số lượng học sinh không thể thích nghi với cuộc sống ở trường học vì thiếu kỹ năng mềm không ngừng tăng lên đang là xu thế. Các cơ quan trị liệu trò chơi và tham vấn cho trẻ em chật kín người. Đến cả tham vấn cũng phải đặt chỗ trước và phải đợi một thời gian lâu mới đến lượt của mình.

Những đứa trẻ chỉ muốn tìm kiếm sự thoải mái

Konrad Zacharias Lorenz - học giả người Áo được trao giai thưởng Nobel về y học và sinh lý học năm 1973, cho rằng thái độ muốn thỏa mãn tức thời là một trong những tội ác của xã hội hiện đại. Đời sống xã hội ngày càng tiện lợi hơn và thỏa mãn tức thời (sofort befriedigung) là mong muốn rất bình thường. Con người bám chặt lấy cảm giác vui vẻ một cách điên cuồng, và ngược lại dùng mọi cách để tránh xa phiền muộn. Thế nhưng, khi cố gắng tránh né phiền muộn, chúng ta không thể nào nếm được dư vị khoái cảm - cảm giác vui vẻ thực sự. Khoái cảm là niềm vui chỉ những người khó khăn chinh phục đỉnh núi cao mới cảm nhận được. Niềm vui sướng chúng ta được thưởng thức sau khi trải qua khó khăn và đau khổ muôn trùng chính là khoái cảm.

Phải qua cơn bĩ cực mới đến hồi thái lai, hay nói cách khác, khi cứ cố tránh né chuyện phiền phức, chúng ta không thể nào nếm được niềm vui sướng sau khi vượt qua khó khăn, và cuộc sống chỉ còn lại sự nhàm chán, vô vị. Thế nhưng, con người lại không thích điều đó. Và để được như vậy, chúng ta tìm đến những sự kích thích mới mẻ, từ đó dẫn đến tình trạng nghiện điên cuồng những thứ mới lạ.

Thời gian gần đây, đến cả nước Mỹ cũng không thể thoát khỏi sự trì trệ kinh tế sau cuộc khủng hoảng tín dụng dưới tiêu chuẩn và văn hóa bắt đầu đổi khác. Nhưng thời gian ở Mỹ, tôi vẫn thường xuyên thấy cảnh các gia đình thuộc tầng lớp trung lưu mỗi lần chuyển nhà lại thanh lý toàn bộ đồ nội thất đã sử dụng, hay đổi nhà đồng nghĩa với việc đổi mới toàn bộ đồ nội thất. Không phải vì đồ đã quá cũ nên họ bỏ đi mà là vì nghiện đồ mới. Quan sát cách sống như thế này, Lorenz đã dự đoán vòng tuần hoàn cung cầu - nền tảng cơ bản của kinh tế sẽ phải đối mặt với khủng hoảng. Theo phân tích của Lorenz, phát cuồng và khát khao những món đồ mới dẫn đến thói xa xỉ và khiến năng lực cạnh tranh của các quốc gia phương Tây bị tổn thất, còn các quốc gia phương Đông lành mạnh - ít bị nhiễm thói xa xỉ bắt đầu nổi trội lên. Tình hình kinh tế thế giới gần đây - các quốc gia Anh Mỹ bị sụt giảm đáng kể, còn Trung Quốc, Ấn Độ hay các quốc gia Đông Nam Á thừa thế xông lên đã chứng minh phần nào phân tích của Lorenz.

Sự thỏa mãn tức thời, cơn sốt điên cuồng với những thứ đồ mới, hay cuộc sống né tránh phiền muộn đang gieo rắc hội chứng Null Bock (Null Bock Syndrome) lên thế hệ con cái của chúng ta. Hội chứng Null Bock là khái niệm bắt nguồn từ tiếng Đức và dùng để chỉ thế hệ muốn có được sự thỏa mãn tức thời. Nói cách khác là thế hệ thờ ơ với mọi chuyện, vất vưởng, không có tính trách nhiệm, và không chú ý gì đến đạo đức xã hội hay bố mẹ. Chúng lãnh đạm với thứ gọi là nghĩa vụ hay trách nhiệm và chỉ sáng mắt trước những ham muốn tức thời của bản thân. Theo các chuyên gia, gần ba mươi phần trăm thanh thiếu niên, trẻ em Hàn Quốc cần được tham vấn. Thời gian gần đây, câu cửa miệng của các giáo viên xung quanh tôi là xuất hiện nhiều ‘‘đứa trẻ mới” khác với trước đây. Đặc điểm của những đưa trẻ mới như thế này. Chúng hoàn toàn không nghe theo yêu cầu của người khác. Giáo viên phải lặp đi lặp lại rất nhiều lần một yêu cầu và phải khó khăn lắm chúng mới hiểu đó là yêu cầu dành cho bản thân rồi giả vờ làm theo. Bọn trẻ không quan tâm tới những việc chúng không hứng thú, khi tâm trạng tồi tệ, ngay lập tức chúng kêu ca và thậm chí là ném đồ đạc trong khi giáo viên đang nhìn. Với chúng, những việc vất vả, rắc rối chỉ là đối tượng tránh né. Chúng dễ dàng từ bỏ nếu không làm được. Rất khó để tìm thấy hình ảnh đứa trẻ mới như thế này dồn hết tâm sức và cố gắng để đạt được điều gì đó ngoài việc chơi game - đem lại cảm giác thỏa mãn tức thời. Các chuyên gia giáo dục cho rằng phương thức giáo dục hiện tại có nhiều điểm hạn chế trong xu thế số lượng những “đứa trẻ mới” như thế này ngày càng gia tăng. Con đường đời mà những đứa trẻ này sẽ chọn là con đường không bóng nỗi khổ và thoải mái nhất có thể.

Xu thế này lan rộng tới cả thế hệ trên U20. Số lượng những bạn trẻ độ tuổi U20, U30 không muốn làm gì, chỉ ru rú trong nhà đang tăng lên. Ở Nhật Bản, những người cô đơn sống ẩn dật như thế này lên tới một triệu người. Họ lệ thuộc vào bố mẹ giống như loài chuột túi, lãnh đạm với mọi thứ, tránh né sự bất tiện và khổ cực dù nhỏ nhặt, đồng thời thu mình bên trong thế giới nhỏ bé của riêng bản thân và sống.

Erich Fromm từng nói rằng: “Đằng sau những đứa trẻ có vấn đề là những phụ huynh có vấn đề.” Một câu nói đau thấu xương. Những “đứa trẻ mới” có mối quan hệ mật thiết với thể chế xã hội hiện đại - thay đổi nhanh như chớp mắt. Rất nhiều nhân tố như phương tiện truyền thông và quảng cáo kích thích ham muốn, cuộc sống tiêu dùng phong phú, tốc độ thay đổi chóng mặt đang tác động đến cơ cấu tổ chức. Thế nhưng, không có nghĩa là tất cả mọi đứa trẻ đều trở thành “đứa trẻ mới" hay bị nhiễm hội chứng Null Bock. Sự đột phá nằm ở vai trò của gia đình.

Nơi cho ta sức mạnh bước ra ngoài thế giới

Các nhà tâm lý học xã hội và tâm lý học phát triển coi “tạm hoãn sự thỏa mãn nhu cầu” là bài toán quan trọng trong quá trình phát triển của con người. Tạm hoãn sự thỏa mãn nhu cầu ở đây có nghĩa là khả năng không đáp ứng yêu cầu trước mắt ngay lập tức và tạm hoãn vì những kết quả và phần thưởng có được sau này. Để hỗ trợ trẻ trong vấn đề này, bố mẹ cần thực hiện hai vai trò mâu thuẫn với nhau. Đôi khi, chúng ta thỏa mãn nhu cầu của trẻ ngay lập tức, nhưng đồng thời vì sự phát triển bản ngã của trẻ, chúng ta cũng phải cân nhắc việc đáp ứng nhu cầu ấy. Chúng ta không thuận theo những gì trẻ mong muốn ngay lập tức, trì hoãn tạm thời hoặc đôi khi từ chối một cách dứt khoát. Khi bị cự tuyệt, trẻ rất đau buồn. Vậy nên khi từ chối những điều trẻ muốn, bố mẹ cần yêu thương và quan tâm trẻ nhiều hơn lúc bình thường. Như vậy, trẻ hiểu rằng không phải chúng bị cự tuyệt mà điều chúng yêu cầu mới là đối tượng bị cự tuyệt. Và nhờ đó, chúng học được rằng có thể không thể có được thứ bản thân muốn ngay lập tức, nhưng khi nhẫn nhịn chờ đợi sẽ được thỏa mãn nhiều hơn dưới một hình thức khác. Chuyện học hành cũng có thể tốt hơn nếu chúng nén nhịn mong muốn tức thời và chờ đợi thành công cũng như cảm giác thỏa mãn lớn hơn. Thông qua quá trình này, trẻ hình thành kỹ năng mềm cần thiết khi sống cùng người khác, đặc biệt là phát triển lòng tự tôn. Năng lực kiểm soát nhu cầu được hình thành trong quá trình giáo dục phù hợp của bố mẹ là sức mạnh để trẻ vượt qua những cơn khủng hoảng, những vấn đề va chạm trong cuộc sống, đánh bay sự vô vị, nhàm chán của cuộc sống. Không có thành công nào không có thử thách.

Năng lực kiểm soát và kìm nén nhu cầu tức thời của trẻ hình thành trong quá trình rèn luyện khiến trẻ nản lòng đúng mức của bố mẹ. Đương nhiên, khi khiến trẻ nản lòng quá mức, sự rèn luyện này có thể dẫn đến kết quả ngược lại. Nản lòng quá mức châm ngòi cho cảm giác thèm khát và thiếu thốn sự thỏa mãn ở trẻ, và dẫn đến tình trạng trẻ rơi vào vòng xoáy ham muốn một cách tham lam. Thế nhưng, thời gian gần đây, rất ít trẻ được trải nghiệm với sự nản lòng. Jirina Prekop nói rằng rất nhiều đứa trẻ trở thành bệnh nhân suy nhược thần kinh bất hạnh vì quá trình giáo dục không bóng dáng của sự nản lòng. Nhiều phương pháp trị liệu dành cho trẻ thờ ơ với mọi chuyện nhưng quen hơi sự kích thích ngẫu hứng và thỏa mãn tức thời đang được phát triển, và nền tảng của phương pháp trị liệu là đau khổ vừa phải.

Ở Đức, huấn luyện cứu hộ trên biển là một hình thức tri liệu dành cho những thanh thiếu niên buồn chán. Có lẽ các bạn sẽ thắc mắc là cứu những người rơi xuống nước thì liên quan gì đến cuộc sống của những thanh thiếu niên ấy, nhưng bất ngờ là phương pháp này rất hiệu quả. Tầm quan trọng của sự sống khi đối mặt với tình huống cực hạn là thuốc chữa bệnh, là sự kích thích dành cho những đứa trẻ có bản ngã yếu ớt. Ở Hàn Quốc cũng có chương trình trại huấn luyện hải quân lục chiến tương tự như thế này. Hay như thời gian gần đây, ở Nhật Bản rất thịnh hành trường dạy cưỡi ngựa để trị liệu cho thanh thiếu niên. Trường dạy cưỡi ngựa là nơi trải nghiệm đau khổ ở hình thức tinh tế hơn cứu hộ trên biển hay huấn luyện hải quân lục chiến. Mặc dù kinh phí rất đắt đỏ, nhưng hàng dài người chờ xếp hàng để đăng ký. Các thanh niên nhập học trường này được phân công một con ngựa. Chúng phải chịu trách nhiệm từ việc huấn luyện đến quản lý ngựa. Không dễ gì cho những đứa trẻ đã quá quen thuộc với môi trường sạch sẽ của thành phố dọn đẹp phân ngựa đầy mùi và trải cỏ khô cho chuồng ngựa, nhưng khi làm những công việc này, bọn trẻ tương tác với động vật, học được sự ổn định về mặt cảm xúc, tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ. Thông qua những trải nghiệm đau khổ, bọn trẻ sẽ nhận ra ý nghĩa của cuộc sống, tận hưởng cảm giác hoan hỉ sau khi chịu đựng khổ đau và thay đổi.

Người ta nói cuộc đời là bể khổ. Nói một cách bi quan, cuộc sống của chúng ta băng qua biển lớn khổ đau biết đâu sẽ một lần gặp được hòn đảo để ngả lưng nghỉ ngơi. Đau khổ quá nhiều và quá lâu khiến cuộc sống của chúng ta tan nát, nhưng một chút căng thẳng, một chút đau khổ sẽ giúp chúng ta tỉnh táo, khơi dậy tinh thần thử thách và khiến chúng ta nhận ra giá trị của sự thỏa mãn chân chính tìm thấy sau khổ đau. Trải nghiệm này cực kỳ cần thiết với những đứa trẻ đang độ tuổi thanh thiếu niên - thời kỳ hình thành bản ngã. Sự êm ấm và hạnh phúc trong gia đình cũng tương tự như vậy. Chúng ta cần hoan nghênh những vị khách khổ đau và nản lòng nhỏ bé.

Không có hòa bình, niềm vui hay hạnh phúc nào dễ dàng có được. Chúng ta trả tiền dùng dịch vụ để mua sự thoải mái, nhưng để xây dựng một gia đình lành mạnh, chúng ta cần biết tạm hoãn nhu cầu, kiên nhẫn với nỗi đau và sự bất tiện. Gia đình không chỉ là tổ ấm, là thành trì cuối cùng - nơi chúng ta vỗ về, an ủi nhau, mà còn là nơi nuôi dưỡng sức mạnh để chúng ta rời tổ, giương cánh bay ra thế giới ngoài kia. Gia đình là một mối quan hệ như vậy.

Minh Thùy (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.