Bên trong nhà thờ bằng đá phiến thiết ám đầy bồ hóng bên cạnh hồ gạch vụn, chen đầy người mặc đầm vải màu nhạt và những bộ vest vai nhọn bằng sợi tổng hợp. Mắt Ahmad hoa lên, và không dịu đi tí nào khi nhìn những cửa sổ kính màu mô tả đám người ăn mặc giả dạng kiểu Trung Đông đang diễn tả những sự kiện trong hành trình của kẻ đối với họ là Thượng Đế đi qua cuộc đời ngắn ngủi và nhục nhã của ông ta. Thờ phượng một Thượng Đế mà ai cũng biết là đã chết, ý tưởng này đối với Ahmad chẳng khác gì một mùi hôi thối lẩn khuất không tìm được nguồn, một chỗ tắc nghẽn trong hệ thống ống nước, một con chuột chết đâu đó giữa các lớp vách. Thế nhưng các giáo hữu, nhiều người trong số họ thậm chí da còn tái hơn cậu trong chiếc sơ mi trắng tinh, lại tắm trong niềm hạnh phúc được tẩy rửa sạch sẽ trong buổi họp sáng Chủ nhật của họ. Những hàng dài nam nữ ngồi lẫn lộn, và khu vực bừa bộn kiểu sân khấu ở phía trước với đồ đạc có núm gắn cố định và bộ ba khung cửa sổ cánh cao phủ bụi vẽ hình một con bồ câu sắp đậu xuống đầu một người đàn ông râu trắng, và tiếng rì rầm chào hỏi cùng tiếng cọt kẹt khi những cặp mông nặng nề dịch chuyển trên băng ghế gỗ, toàn bộ khung cảnh ấy đối với Ahmad có vẻ giống một rạp hát trước khi chiếu phim hơn là một thánh đường Hồi giáo trang nghiêm, với những tấm thảm dày hút âm thanh, hốc tường lát men trống trơn và những điệu ngân ê a, lā ilāha illā Allah, phát ra từ những người đàn ông tỏa mùi lao động nặng nhọc ngày thứ Sáu, mỗi khi làm các cử chỉ thờ phụng nhất loạt, nhịp nhàng, bị lại ép sát vào nhau như đốt của một con sâu. Thánh đường Hồi giáo luôn là lãnh địa của các ông; còn ở đây, đàn bà thống trị trong ánh lung linh mùa xuân của họ, da thịt mềm mại tràn trề của họ.
Cậu đã hy vọng đến đúng khi chuông mười giờ đổ để lẻn vào cửa sau thì sẽ không bị ai thấy, nhưng cậu được đón chào một cách kiên trì bởi một hậu duệ béo múp của dân nô lệ trong bộ đồ màu quả đào có nhánh huệ chuông đính vào một bên ve áo rộng. Gã da đen trao cho Ahmad một tờ giấy màu gấp gọn và dẫn cậu đi theo lối giữa hai hàng ghế, tới những băng ghế hàng đầu. Nhà thờ gần kín người, chỉ những băng ghế đầu - rõ ràng chẳng mấy ai ưa - là còn trống. Vốn đã quen thấy những người hành lễ ngồi xổm và quỳ dưới sàn nhà, làm tôn tầm cao của Thượng Đế phía trên họ, Ahmad cảm thấy dù đang ngồi mình vẫn cao đến hoa mắt, bất kính. Tác phong ngồi thẳng một cách uể oải của người Cơ Đốc giáo, giống như đang xem chương trình giải trí, tạo cảm giác rằng Chúa là một diễn viên giúp vui, khi ngưng biểu diễn, Người có thể bị đưa xuống khỏi sân khấu để cho màn khác lên.
Ahmad nghĩ sẽ chỉ có mình mình ngồi băng ghế này thôi, như để bù lại cho sự lạ lẫm của cậu, cho nỗi bồn chồn mà cậu có thể cảm thấy vì có mặt ở đây, nhưng một người dẫn chỗ khác lại tới, lăng xăng lùa theo lối đi trải thảm một đại gia đình da đen lô nhô chen chúc những cái đầu tết lọn buộc ruy băng của đám con gái nhỏ. Ahmad bị đẩy tuốt tới đầu kia băng ghế, và để ghi nhận cậu đã mất chỗ, ông trưởng tộc vươn tay qua đùi vài đứa con gái nhỏ để chìa cho Ahmad bàn tay nâu to bè và một nụ cười chào đón lấp lánh chiếc răng vàng. Bà mẹ của lũ con này, quá xa không thể với tới người lạ mặt, cũng hân hoan tươi cười cùng một cái vẫy tay và gật đầu từ xa. Đám con gái nhỏ nhìn lên, bày ra những tròng mắt trắng hình bán nguyệt. Tất cả sự thân thiện kiểu da đen này - Ahmad không biết làm sao để khước từ nó, hoặc những kiểu xâm nhập xa hơn nữa mà buổi lễ này sẽ buộc cậu chịu đựng. Cậu thực sự ghét Joryleen đã dụ cậu vào cái bẫy lằng nhằng thế này. Cậu nín thở như để tránh bị lây sự ô uế và nhìn thẳng về phía trước, nơi những hình khắc lạ lùng trên cái mà cậu cho là thứ minbar của người Cơ Đốc giáo từ từ hiện rõ thành những thiên thần có cánh; cậu nhận ra vị thổi chiếc sừng dài trong số đó là Gabriel, và do đó đám quần tụ ấy chính là Ngày Phán xét đã khiến Mohammed bột phát ra những bài thơ xuất thần nhất của Ông. Ahmad nghĩ, quả là sai lầm khi kiếm cách mô tả công trình không thể bắt chước được của Thượng Đế Đấng sáng tạo, al-Khāliq, bằng những hình tượng mà chính từ đường vân đã thấy rõ chúng chỉ là gỗ, Đấng Tiên tri biết, chỉ có hình tượng bằng ngôn từ mới nắm bắt được linh hồn nhờ bản chất tâm linh của nó. Hãy bảo họ, nếu loài người và Jinn họp nhau lại để làm một kinh sách giống như Qur’an này, thì chúng sẽ không làm được một quyển giống như nó, mặc dù chúng cố gắng hỗ trợ lẫn nhau.
Cuối cùng buổi lễ cũng bắt đầu. Sau một khoảng im lặng đầy mong đợi, tiếng sấm ập xuống, vang dội. Nhờ những buổi tập trung tại trường Trung tâm mà khi nghe âm sắc giống như đồ chơi ấy, Ahmad nhận ra là tiếng đàn organ điện, kẻ họ hàng tội nghiệp của cây đại phong cầm đích thực mà cậu chợt thấy đang nằm đóng bụi phía bên kia thứ minbar Cơ Đốc giáo. Tất cả đứng lên hát. Ahmad cứ thế đứng lên, như có xích buộc cậu với những người khác. Một đám người mặc áo choàng xanh, là ca đoàn, tràn theo lối đi giữa rồi lấp vào những khoảng trống đằng sau một lan can thấp mà có vẻ như giáo đoàn không dám vượt qua. Ca từ được hát lên, bị méo đi bởi nhịp điệu và giọng uể oải của đám zanj này, nói về một ngọn đồi xa và một cây thánh giá cũ kỹ xù xì theo như cậu hiểu. Từ trong trạng thái im lặng kiên định cậu nhận ra Joryleen trong ca đoàn, một nhóm phần lớn là đàn bà, các bà đồ sộ mà ở giữa họ Joryleen trông trẻ trung nhí nhảnh và lại còn khá mảnh mai. Rồi cô cũng nhận ra Ahmad trên băng ghế đầu; nụ cười của cô làm cậu thất vọng bởi vẻ lo lắng, thăm dò, vụt qua. Cô cũng biết cậu không nên có mặt ở đây.
Đứng lên, hạ xuống, mọi người trong hàng ghế trừ cậu và bé gái nhỏ nhất đều quỳ xuống rồi trở lại thế ngồi. Rồi tới phần xướng và đáp tập thể mà cậu không thể hòa theo, dù ông bố có chiếc răng vàng chỉ cho cậu trang ở mặt trước quyển thánh ca. Chúng con tin điều này điều nọ, tạ ơn Chúa vì điều này điều nọ. Sau đó vị imam Cơ Đốc giáo, một người đàn ông khuôn mặt nghiêm khắc, nước da màu cà phê với cặp kính không dây và cái đầu hói cao bóng nhẫy, đọc một câu cầu nguyện dài. Giọng khàn khàn được khuếch đại bằng thiết bị điện, vang dội cả từ phía sau cũng như phía trước nhà thờ; trong khi ông, hai mắt nhắm chặt đằng sau cặp kính, chúi sâu hơn nữa vào cõi tối đen mà trí óc ông nhìn thấy khi cầu nguyện, thì những giọng từ giáo đoàn đó đây hô lời hòa theo - “Thật là chính đáng!” “Quá đúng, thưa Cha!” “Ngợi ca Chúa!” Dâng lên như mùi mồ hôi trên da, tiếng lầm rầm tán thành tiếp tục theo sau bài thánh ca thứ hai nói về những niềm vui khi đi cùng Jesus, nhà thuyết giáo bước lên minbar cao trang trí những thiên thần chạm khắc. Với giọng còn ngân vang hơn, đầu đưa đẩy khi vào, khi ra khỏi tầm hệ thống khuếch âm khiến giọng ông khi nhỏ tí khi ầm vang giống như đang gào lên từ cột buồm cao nhất của một con tàu bị bão quăng quật, ông nói về Moses, người dẫn dắt đám dân được Chúa chọn rời khỏi kiếp nô lệ nhưng chính mình lại bị từ chối không được vào Đất Hứa.
“Tại sao vậy?” ông hỏi. “Moses đã phụng sự Chúa, làm người phát ngôn khắp trong và ngoài Ai Cập. Người phát ngôn: Tổng thống của chúng ta ở Washington cũng có một người phát ngôn, các đầu não công ty của chúng ta trong các văn phòng cao vợi ở Manhattan và Houston, họ có những nam phát ngôn nhân, đôi khi là nữ phát ngôn nhân, vai trò người phát ngôn đến với họ một cách tự nhiên hơn, đúng vậy không, các anh em?”
Có những tiếng cười bật vang và tiếng cười rúc rích, khiến ông làm một đoạn lạc đề: “Ơn Chúa, những chị em yêu quý của chúng ta rất giỏi nói. Thiên Chúa không ban cho Eve sức mạnh ở bả vai và cánh tay như đàn ông chúng ta, nhưng người cho bà sức mạnh miệng lưỡi gấp đôi chúng ta. Tôi nghe có tiếng cười, nhưng đây là một vấn đề nghiêm túc, đó chẳng qua là sự tiến hóa, giống như người ta đang dạy con cái ngây thơ của chúng ta trong mọi trường công lập. Nhưng nghiêm túc đấy: không ai còn tự tin tự mình nói ra ý kiến của mình nữa. Quá nhiều rủi ro. Quá nhiều luật sư theo dõi và ghi lại những gì ta nói. Chà, nếu lúc này có ngay được một người phát ngôn thì chắc tôi đã ở nhà xem chương trình talk show có ông William Moyers hoặc ông Theodore Koppel, và dùng suất ăn thứ hai, lấy thêm một lát bánh mì, hoặc hai, hoặc ba lát thứ bánh mì nướng dầm trứng sữa tưới đẫm xi rô thơm ngon mà Tilly thân yêu vẫn làm cho tôi những sáng sau khi bà ấy mua cho mình một chiếc váy mới, chiếc váy hay chiếc ví da cá sấu hảo hạng nào đó khiến bà ấy có chút cảm giác tội lỗi.”
Cố át những tiếng cười hưởng ứng tiết lộ này, nhà thuyết giảng nói tiếp, “Theo cách đó, tôi có thể để dành tiếng nói của tôi. Cách đó, tôi không phải tự hỏi thành tiếng với tất cả các bạn đang lắng nghe, tại sao Chúa không cho Moses vào miền Đất Hứa. Giá như tôi có một người phát ngôn.”
Đối với Ahmad có vẻ như đột nhiên, giữa đám đông kafir da sẫm đầy trông đợi và sôi nổi này nhà thuyết giáo lại ngẫm ngại một mình, vì đã quên mất tại sao ông ở đây, tại sao tất cả bọn họ ở đây, trong khi từ bên ngoài vọng vào tiếng máy thu thanh mở to đến mức lố lăng từ những chiếc xe hơi đang lao vút trên đường phố. Nhưng đôi mắt người đàn ông vụt mở sau cặp kính và huỵch một cái lao bổ vào cuốn Kinh Thánh mép phủ nhũ vàng đặt trên minbar, ông nói, “Lý do là đây; Chúa đã nêu ra trong sách Phục truyền luật lệ ký, chương ba mươi hai, câu năm mươi mốt: ‘Bởi vì tại giữa dân Israel, ngươi đã phạm tội cùng Ta, nơi nước Meribah-Kadesh, trên đồng vắng Zin, và vì ngươi không tôn Ta thánh giữa dân Israel.’ ”
Nhà thuyết giảng, trong tấm áo chùng xanh dương ống tay rộng và sơ mi thắt nơ đỏ ló ra ở cổ áo chùng, quan sát giáo đoàn với đôi mắt mở to kinh ngạc và Ahmad có cảm giác ánh mắt ấy đặc biệt tập trung vào cậu, có lẽ vì cậu không phải là một khuôn mặt quen thuộc. “Điều đó nghĩa là gì?” ông nhẹ nhàng hỏi. “ ‘Phạm tội cùng ta’? ‘Không tôn Ta thánh’? Những người Israel đau khổ triền miên tội nghiệp này đã làm gì sai tại mạch nước Meribah-Kadesh, trên đồng vắng Zin đó? Ai biết giơ tay lên.” Không ai giơ tay, do bị hỏi bất ngờ, và nhà thuyết giáo hối hả tiếp, nhìn vào cuốn Kinh Thánh to tướng của ông lần nữa, lật một xấp trang có mép mạ vàng đến chỗ ông đã đánh dấu. “Tất cả nằm trong đây này, các bạn. Mọi thứ các bạn cần biết ở ngay trong đây. Cuốn Sách Thánh này kể lại một nhóm do thám tách ra từ đám dân mà Moses đang dẫn đường rời khỏi Ai Cập, họ đi sâu vào sa mạc Negev và lên phía Bắc đến dòng Jordan rồi trở lại và nói, theo chương mười ba trong sách Dân số ký, rằng vùng đất họ do thám được ‘đượm sữa và mật’, thế nhưng ‘dân sự ở trong xứ này vốn mạnh dạn, thành trì thật vững vàng và rất lớn’, và hơn nữa - hơn nữa, họ báo cáo - ‘con cái của Anak’ cũng ở đó, và họ là những người khổng lồ, bên cạnh họ ‘chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy’. Họ biết thế, và chúng ta biết thế, thưa các anh chị em - cạnh họ chúng ta chỉ là những con cào cào nhỏ bé già nua, những con cào cào sống trong cỏ dại vài ngày ngắn ngủi, trong cỏ khô trên đồng trước khi bị cắt, trong khu vực rìa sân bóng chày nơi chẳng ai từng đập được bóng, và sau đó chết đi, lớp vỏ ngoài của chúng, tinh vi chẳng kém mọi thứ khác mà Chúa lòng lành tạo dựng, bị nghiền vụn dễ dàng trong mỏ một con quạ hay chim én, mòng biển hay chìa vôi.”
Bây giờ hai tay áo xanh của nhà thuyết giáo bay phần phật và những hạt nước bọt li ti từ miệng ông lấp lánh trong ánh đèn bục giảng, và ca đoàn phía dưới ông lắc lư, bao gồm cả Joryleen. “Và Caleb nói, ‘Chúng ta hãy đi lên chiếm xứ ấy đi’ - ‘vì chúng ta thắng được, dù khổng lồ hay không. Hãy đi làm việc đó!’ ” Và người đàn ông cao lớn da màu cà phê đọc, nhanh và sôi nổi, theo nhiều giọng: “ ‘Cả hội chúng cất tiếng la lên, và dân sự khóc lóc trong đêm đó. Hết thảy dân Israel lầm bầm cùng Moses và ông Aaron; cả hội chúng nói cùng hai người rằng: Chớ chi chúng tôi đã chết trong xứ Ai Cập, hay là đã chết trong đồng vắng này!’ ”
Ông trang nghiêm nhìn xuống giáo đoàn, đôi tròng kính là hai vòng sáng lóa, và lặp lại, “ ‘Chớ chi chúng tôi đã chết trong xứ Ai Cập!’ Vậy vì cớ nào Đức Jehovah lại dẫn chúng ta rời chốn nô lệ vào xứ hoang dã này” - ông nhìn vào sách - “ ‘đặng bị gươm mà ngã? Vợ và con nhỏ chúng tôi sẽ bị làm một miếng mồi.’ Miếng mồi! A, nghiêm trọng đây! Nào ta hãy lùa đám lừa - lũ bò và lừa của ta - trở lại Ai Cập!” Ông nhìn vào sách, đọc to một đoạn: “ ‘Rồi dân sự nói với nhau rằng: Chúng ta hãy lập lên một quan trưởng, và trở về xứ Ai Cập đi.’ Pharaoh đó, ông ta không quá tệ. Ông ta đã cho chúng ta ăn, dù không nhiều. Ông ta cho chúng ta chòi để ngủ, mãi tận đầm lầy với đủ loại muỗi. Ông ta cho chúng ta những séc phúc lợi, khá đều. Ông ta cho chúng ta công việc bưng dọn khoai chiên tại nhà hàng McDonald’s, với mức lương tối thiểu. Ông ta thật thân thiện, vị Pharaoh đó, so với bọn khổng lồ kia, những con cái dềnh dàng của Anak.”
Ông đứng thẳng, rũ bỏ màn đóng kịch trong chốc lát. “Và Moses cùng người anh em Aaron đã làm gì trước tất cả trò kêu ca ấy? Sách nói ngay đây, trong đoạn mười bốn câu năm sách Dân số ký: ‘Moses và Aaron bèn sấp mình xuống trước mặt cả hội dân Israel.’ Họ từ bỏ. Họ nói với dân chúng, đám dân mà họ có bổn phận dẫn đường nhân danh Thiên Chúa toàn năng, họ nói, ‘Có lẽ các người đúng. Chúng ta không còn chịu nổi nữa. Chúng ta đã lang thang khỏi Ai Cập quá lâu. Vùng hoang mạc này thật chịu hết xiết.’
“Và Joshua - các bạn nhớ ông ta chứ, con trai của Nun, thuộc chi tộc Ephraim, ông ta là một trong số mười hai người trong nhóm do thám, cùng với Caleb - và Joshua đứng lên nói, ‘Khoan đã. Khoan đã, các anh em. Đám người Canaan đó có được miền đất tốt. Đừng sợ dân Canaan đó, vì’ - và hiện tôi đang đọc đây - ‘vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Jehovah ở cùng ta. Chớ sợ chi.’ ” Long trọng, chậm rãi, nhà thuyết giáo lặp lại, “ ‘Đức Jehovah ở cùng ta. Chớ sợ chi.’ Và những người Israel bình thường phản ứng ra sao khi hai chiến binh dũng cảm đứng lên nói, ‘Hãy đi. Đừng sợ dân Canaan đó’? Họ nói, ‘Hãy ném đá chúng. Ném đá tụi bất lương ồn ào kia.’ Và họ nhặt đá lên - có đá lửa xấu xí và sắc cạnh rải rác - và định đập nát đầu và miệng của Caleb và Joshua thì có chuyện kỳ lạ xảy ra. Để tôi đọc cho các bạn nghe điều đã xảy ra: ‘nhưng sự vinh quang Đức Jehovah hiện ra trên hội mạc, trước mắt dân Israel. Đức Jehovah phán cùng Moses rằng: “Dân này khinh Ta và không tin Ta đến chừng nào, mặc dầu các phép lạ Ta làm giữa chúng nó?” ‘ Manna từ trời đã là dấu hiệu. Nước từ núi đá Horeb đã là dấu hiệu. Tiếng nói từ bụi cây bốc cháy đã là dấu hiệu rõ ràng. Những cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm đã là dấu hiệu. Những dấu hiệu, những dấu hiệu suốt ngày đêm, hăm bốn trên bảy, như kiểu nói hiện nay.
“Thế mà, dân chúng vẫn không có đức tin. Họ muốn quay trở lại Ai Cập có vị Pharaoh thân thiện. Họ thích quỷ dữ mà họ biết hơn là Đức Chúa mà họ không biết. Họ vẫn say mê con bê vàng. Họ không phiền gì việc quay trở lại kiếp nô lệ. Họ muốn từ bỏ quyền công dân. Họ muốn quên đi những nỗi buồn trong ma túy và cách cư xử nhục nhã vào những tối thứ Bảy. Chúa nhân từ đã nói, ‘Ta không chịu đựng được đám dân này.’ Bộ tộc Israel này. Và Người đã hỏi Moses và Aaron, như thể chỉ để biết thông tin, ‘Ta sẽ chịu hội chứng hung dữ hay lầm bầm chống ta này cho đến chừng nào?’ Người không đợi trả lời; Người tự trả lời. Thiên Chúa, Người giết tất cả đội do thám trừ Caleb và Joshua. Người nói với mọi kẻ khác, hội chứng hung dữ đó, ‘Thây các ngươi sẽ ngã nằm trên đồng vắng này.’ Người tuyên án những kẻ khác, tất cả những ai hai mươi tuổi trở lên, những kẻ lầm bầm chống Người, phải chịu bốn mươi năm trên hoang mạc này - ‘và con cái các ngươi sẽ chăn chiên nơi đồng vắng trong bốn mươi năm, và sẽ mang hình phạt vì tội thông dâm của các ngươi, cho đến chừng nào thây của các ngươi ngã rạp hết trên đồng vắng.’ Hãy nghĩ về điều đó. Bốn mươi năm, không có giảm án phạt nhờ hạnh kiểm tốt.” Ông lặp lại, “Không giảm án phạt nhờ hạnh kiểm tốt, bởi vì các ngươi là một hội chúng hung dữ.”
Một giọng nam trong giáo đoàn la to, “Thật đúng, thưa Cha! Hung dữ!”
“Không giảm án phạt, bởi vì,” ông thầy tế Thiên Chúa giáo tiếp tục, “các ngươi thiếu đức tin. Niềm tin vào sức mạnh của Đức Chúa toàn năng. Đó là tội lỗi của các ngươi - để tôi cho các bạn cụm từ xưa kỳ diệu này trong trọn hai âm tiết của nó, tội-lỗi: ‘nhơn tội tổ phụ phạt con cháu trải ba bốn đời.’ Moses cố làm dịu Người lại, phát ngôn nhân van xin cùng thân chủ của mình. ‘Vậy xin Ngài, con khẩn cầu người,’ ông ta nói ở ngay trong Sách Thánh đây, ‘tha tội gian ác của dân này tùy theo ơn lớn của Chúa, như Chúa đã tha thứ từ Ai Cập đến đây.’
“ ‘Đừng hòng,’ Thiên Chúa đáp lại. ‘Ta phát mệt vì mọi sự tha thứ mà ta phải làm. Để thay đổi ta muốn chút vinh quang kia. Ta muốn thi thể của các ngươi.’ ”
Nhà thuyết giáo sụp xuống bục giảng với vẻ hơi uể oải, và đặt khuỷu tay lên cuốn Sách Thánh đồ sộ rìa mạ vàng. “Các bạn,” ông giãi bày, “các bạn có thể thấy điều Moses đang cố nói ra. Có gì khủng khiếp đến vậy, có gì...” - ông mỉm cười, phát âm từng chữ - “tội-lỗi đến vậy, trong việc đi vào lãnh thổ của kẻ thù, thám sát tình hình, trở về nhà và đưa ra một báo cáo trung thực, cẩn trọng? ‘Mọi thứ có vẻ không ổn. Những người Canaan và đám khổng lồ ấy kiểm soát chặt nguồn sữa và mật ong. Chúng ta nên rút lui.’ Nghe có vẻ rất hợp lẽ, đúng không? ‘Đừng chống đối người này. Ông ta có cổ phần và trái phiếu, ông ta có roi và dây xích, ông ta kiểm soát những phương-tiện-sản-xuất.’ ”
Vài giọng la to, “Thật chính đáng. Lẽ tự nhiên. Đừng chống đối người này.”
“Và để nhấn mạnh quan điểm của Người, Thiên Chúa đã giáng xuống tai ương và dịch bệnh, và người dân than khóc và quyết định - quá trễ - sẽ lên núi đối mặt với đám người Canaan bây giờ lại có vẻ không quá đáng ngại nữa, và Moses, phát ngôn nhân già nua tốt bụng đó, tay luật sư hiểu biết đó, khuyên họ, ‘Chớ đi lên đó, e các ngươi bị quân nghịch đánh bại chăng; vì Đức Jehovah không còn ở giữa các ngươi nữa.’ Nhưng những người Do Thái ương ngạnh này, họ cứ đi lên, và chúng ta đọc thấy gì, trong câu cuối cùng của sách Dân số ký đoạn mười bốn? ‘Dân Amalek và dân Canaan ở trong núi này đổ xuống, đánh bại và phân thây dân Israel cho đến Hormah.’ ‘Cho đến Hormah’ - đó là một chặng đường dài. Đường đến Hormah dài lắm. Các bạn thấy đó, Đức Chúa đã ở cùng họ. Người đã cho họ cơ hội tiến lên với Người trong vinh quang của Người, vậy mà họ đã làm gì? Họ đã do dự. Họ đã phản bội Người bằng sự do dự của họ - sự thận trọng của họ, sự-hèn-nhát của họ - và Moses và Aaron phản bội Người bằng cách để cho mình bị người ta tác động, như những chính trị gia mỗi khi tới kỳ bầu cử - những người thăm dò ý kiến và bọn phát ngôn, chúng đã tồn tại ngay từ hồi đó, trong thời đại Kinh Thánh - và vì thế họ bị giữ lại không cho vào vùng Đất Hứa, Moses và Aaron bị bỏ lại ở đó trên ngọn núi nhìn xuống vùng đất Canaan giống như những đứa trẻ dán mặt vào cửa kính tiệm bán kẹo. Họ không thể vượt qua. Họ ô uế. Họ không đạt chuẩn. Họ không để cho Thiên Chúa hành động thông qua họ. Họ có thiện ý của con người, nhưng họ không đủ tin cậy vào Thiên Chúa. Thiên Chúa đáng tin cậy. Người nói Người sẽ làm được điều không thể, Người sẽ làm điều đó, đừng bảo Người rằng Người không làm được.”
Ahmad thấy mình cũng kích động lên cùng với tất cả những người khác trong giáo đoàn lúc này đang động đậy và lầm rầm, thoát khỏi vòng kiềm tỏa để dõi theo mọi khúc ngoặt trong bài thuyết giảng, kể cả mấy cô bé thắt bím trên băng ghế cạnh cậu lúc này đang lắc lư đầu tới lui như để làm dịu cơn đau ở cổ, một đứa ngước nhìn Ahmad giống như một con chó mắt ốc nhồi đang tự hỏi liệu con người này có đáng để mình xin xỏ không. Đôi mắt cô bé sáng ngời như thể phản chiếu một kho báu mà nó đã phát hiện ra bên trong cậu.
“Đức tin,” nhà thuyết giáo tuyên bố bằng một giọng đã khàn đi sau con hùng biện, lạm sạm như cà phê bị bỏ quá nhiều đường. “Họ không có đức tin. Chính vì thế mà họ là một công đồng xấu xa. Đó là lý do người Israel bị giáng phạt dịch bệnh, nỗi ô nhục và thất bại trong chiến trận. Abraham, tổ phụ của bộ tộc, đã có đức tin khi ông giơ con dao lên toan hiến tế đứa con duy nhất của mình là Isaac. Jonah có đức tin trong bụng cá voi. Daniel có đức tin trong hang sư tử. Jesus trên thập giá đã có đức tin - Người hỏi Thiên Chúa tại sao lại bỏ rơi mình nhưng rồi ngay sau đó Người quay sang tên trộm trên thập giá bên cạnh mà hứa với kẻ đó, kẻ ác đó, ‘tên tội phạm chai lì’ đó, theo cách gọi của các nhà xã hội học, rằng ngay hôm đó hắn sẽ cùng Người ngụ ở Thiên đường. Martin Luther King có đức tin ở công viên Mali tại Washington, và trong khách sạn ở Memphis nơi James Earl Ray buộc mục sư King tuẫn đạo - ông đã đi đến đó để ủng hộ những công nhân vệ sinh đang đình công, những kẻ hèn mọn nhất, những tiện dân hì hục dọn rác của chúng ta. Rosa Parks đã có đức tin trên chuyến xe buýt ở Montgomery, Alabama.” Thân hình nhà thuyết giáo nhoài tới trước, vươn cao hơn, và giọng ông thay đổi khi có một ý tưởng chợt nảy ra. “Bà ấy chọn một ghế phía đầu xe buýt,” ông nói bằng giọng trò chuyện bình thường. “Đó là điều người Israel không làm. Họ sợ ngồi đầu xe buýt. Thiên Chúa đã nói với họ, ‘Chỗ đó, ngay sau lưng tài xế, vùng đất của Canaan đầy sữa và mật ong, chỗ đó là dành cho các ngươi,’ và họ nói, ‘Không cảm ơn Thiên Chúa, chúng con thích chỗ đằng sau xe buýt. Chúng con đang chơi súc sắc, chúng con có nửa lít rượu Four Roses để chuyền tay nhau, chúng con có tẩu cần sa thân yêu, có kim tiêm heroin dễ chịu, chúng con có những cô bạn gái vị thành niên phê cần sa để sinh con hoang cho chúng con, rồi chúng con sẽ để trong hộp đựng giày đem bỏ tại cơ sở xử lý và tái chế rác ở ngoại vi thành phố - đừng phái chúng con lên ngọn đồi đó, thưa Chúa. Chúng con không địch nổi những người khổng lồ. Chúng con không địch lại Bull Connor và đám cảnh khuyển của ông ta. Chúng con sẽ ở lại đằng sau xe buýt. Ở đó tối và dễ chịu. Thật thoải mái.’ ” Ông trở lại giọng của chính mình và nói, “Đừng giống họ, các anh chị em. Hãy cho tôi biết anh chị em cần gì.”
“Đức tin,” vài giọng yếu ớt xướng lên, dao động.
“Cho tôi nghe lại lần nữa, lớn hơn. Tất cả chúng ta cần gì?”
“Đức tín,” tiếng trả lời đồng nhất hơn. Cả Ahmad cũng tuyên bố từ này, nhưng nói nhỏ cho không ai nghe thấy, trừ bé gái cạnh cậu.
“Tốt hơn rồi, nhưng chưa đủ lớn. Chúng ta có gì, anh chị em?”
“Đức tin!”
“Đức tin vào cái gì? Cho tôi nghe nào, để những người Canaan phải run lên vì sợ.”
“Đức tin vào Chúa!”
“Phải, ôi, phải,” những giọng riêng lẻ thêm vào. Đó đây vài phụ nữ thổn thức. Người mẹ, còn trẻ và hấp dẫn, cùng băng ghế với Ahmad, đã lóng lánh nước mắt trên má, cậu thấy rõ.
Nhà thuyết giáo chưa tha họ hoàn toàn. “Chúa của ai?” ông hỏi, tự trả lời với vẻ phấn khích gần như trẻ con: “Chúa của Abraham.” Ông hít một hơi. “Chúa của Joshua.” Ông hít một hơi nữa. “Chúa của Vua David.”
“Chúa của Jesus,” một giọng từ phía đuôi nhà thờ cũ kỹ vọng tới.
“Chúa của Mary,” một giọng nữ vang lên.
Một giọng khác đánh bạo, “Chúa của Bathsheba.”
“Chúa của Zipporah,” một người thứ ba kêu lên.
Nhà thuyết giáo quyết định đã đến lúc kết thúc. “Chúa của tất cả chúng ta,” ông nói oang oang, chồm sát vào cây micro như một ngôi sao nhạc rock. Ông chùi cái đầu hói bóng nhẫy bằng chiếc khăn tay trắng. Người ông đẫm mồ hôi. Mồ hôi khiến cái cổ áo hồ bột của ông rũ xuống. Nãy giờ ông đã vật lộn với lũ ma quỷ theo cung cách da đen của ông, vật lộn cả với bọn ma quỷ của Ahmad. “Chúa của tất cả chúng ta,” ông lặp lại, một cách buồn thảm, “Amen.”
“Amen,” nhiều người đáp, lòng nhẹ nhõm và trống rỗng. Một khoảng im lặng, và sau đó là tiếng chân nhẹ nhàng gọn khéo của bốn người đàn ông mặc vest sóng đôi tiến lên theo lối đi giữa để nhận những chiếc đĩa gỗ trong khi ca đoàn loạt soạt ồn ào đứng lên chuẩn bị hát. Một ông nhỏ con mặc áo chùng, bù đắp cho dáng thấp lùn bằng kiểu tóc xù phồng cao, giơ hai cánh tay lên trong tư thế sẵn sàng khi mấy ông nghiêm trọng mặc vest vải sợi tổng hợp màu nhạt đón lấy cái đĩa nhà thuyết giáo trao cho rồi tản ra, hai người đi dọc lối đi giữa, hai người ở hai bên cánh. Họ chờ người ta bỏ tiền vào cái đĩa được lót nỉ đỏ để làm dịu tiếng xu lanh canh. Từ “ô uế” bất ngờ từ bài giảng trở lại; bụng dạ Ahmad run lên bởi tội lỗi ô uế của mình là vừa chứng kiến những kẻ ngoại đạo da đen đang thờ phượng thứ phi-Thượng-Đế của họ, tượng thần ba đầu của họ; nó giống như việc nhìn cuộc giao hợp của con người, những cảnh ướt át thoáng thấy qua vai những cậu trai xài ẩu máy vi tính ở trường.
Abraham, Noah: những tên này không xa lạ lắm với Ahmad. Đấng Tiên tri Mohammed trong chương ba đã khẳng định: Chúng tôi tin tưởng nơi Allah và nơi điều đã được ban xuống cho chúng tôi và điều đã được ban xuống cho Ibrahim và Isma’il và Ishaq và Ya’qub, và các bộ lạc và điều đã được ban xuống cho Musa và Isa và các Nabi từ Rabb của họ. Chúng tôi không kỳ thị phân biệt một ai trong họ. Những người quanh cậu đây cũng là Người dân Kinh sách theo kiểu của họ[1]. Tại sao các người phủ nhận lời Mặc khải của Allah? Tại sao các người cản trở ai có đức tin không cho theo Chính Đạo của Allah?
Đàn organ điện, dưới bàn tay của một người đàn ông mà sau gáy bày ra những cuộn thịt gấp nếp như muốn tạo thành một gương mặt nữa, buông từng âm thanh rỉ rả, rồi phụt ra một luồng giống như hắt một vệt nước lạnh giá. Ca đoàn, có Joryleen trong đó, ở hàng trước, bắt đầu hát. Ahmad chỉ để mắt vào cô, cái kiểu cô mở miệng thật rộng, cái lưỡi trong miệng thật hồng hào đằng sau những chiếc răng tròn nhỏ, giống như những viên ngọc lộ ra phân nửa. “Có Jesus, chúng ta có một người bạn tuyệt vời làm sao,” cậu hiểu những lời mở đầu này nói vậy, một cách chậm rãi, như thể đang kéo lê bài hát lên khỏi căn hầm chứa nỗi buồn nào đó. “Mọi tội lỗi và sầu khổ chúng ta phải mang!” Giáo đoàn sau lưng Ahmad chào đón những ca từ này bằng những âm thanh gầm gừ và lầm bầm tán đồng: họ biết bài hát này, họ thích nó. Từ lối đi bên cạnh, một người da đen cao hơn hầu hết mọi người, mặc áo khoác vàng chanh, với bàn tay to bè khiến cho chiếc đĩa quyên tiền trông chỉ bằng cỡ cái đĩa lót tách, chuyền nó vào hàng ghế nơi Ahmad ngồi. Ahmad lẹ làng chuyền nó qua người khác, không bỏ gì vào cả; nó muốn bay khỏi tay cậu, thứ gỗ này nhẹ đến đáng ngạc nhiên, nhưng cậu hạ nó xuống ngang tầm cô bé bên cạnh cậu, đôi bàn tay nâu lóng ngóng của cô, không hẳn là tay của một em bé, thò ra chộp lấy nó và chuyền đi. Cô bé, vốn nãy giờ ngước nhìn lên cậu với đôi mắt chó con sáng rực, đã nhích lại gần để thân thể bé nhỏ dẻo dai của cô chạm vào thân thể cậu, dựa rất nhẹ nhàng đến nỗi hẳn cô bé nghĩ cậu sẽ không nhận thấy, vẫn cảm thấy mình là kẻ xâm phạm, cậu kiên quyết phớt lờ cô bé, nhìn thẳng tới trước như để đọc lời từ miệng các thành viên ca đoàn mặc áo chùng. “Quả là một đă-ặc ân khi mang mọi thứ đến trước Chúa trong lời cầu nguyện,” cậu hiểu ra được vậy.
Chính Ahmad cũng thích cầu kinh, thích cảm giác đang trút tiếng nói thầm lặng trong đầu vào khoảng im lặng đang chờ đợi bên cạnh, khiến bản thân mở rộng vô hình vào một chiều kích thuần khiết hơn ba chiều kích của thế giới này. Joryleen có nói với cậu cô sẽ hát một đoạn đơn ca, nhưng cô vẫn đứng trong hàng, giữa một bà mập già hơn và một phụ nữ gầy nhom màu da như da thuộc sấy khô, tất cả đang đu đưa nhẹ nhàng trong lớp áo chùng xanh lấp lánh, miệng họ cử động khá đồng nhịp, nên cậu không nhận ra được giọng nào là của Joryleen. Mắt cô theo sát người chỉ huy có mái tóc xù phồng cao, và không một lần liếc về phía Ahmad, dù cậu đã liều chịu lửa Hỏa ngục khi nhận lời mời của cô. Cậu tự hỏi không biết Tylenol có nằm trong cái công đồng xấu xa sau lưng cậu không; vai cậu còn đau suốt một ngày tại chỗ Tylenol bấm vào. “ ‘... Tất cả bởi vì chúng ta không mang mọi thứ đến trước Chúa trong lời cầu nguyện’,” ca đoàn hát. Giọng của tất thảy những phụ nữ này, cùng với giọng trầm hơn của những đàn ông đứng ở hàng phía sau, có một cảm giác trực diện oai nghiêm, giống như một đội quân tiến tới không sợ bị tấn công. Nhiều cổ họng dồn lại thành một cỗ organ duy nhất, không gì đáp lại được, rầu rĩ, khác xa giọng đơn lẻ của một thầy tế ngâm nga nhạc kinh Qur’an, một thứ âm nhạc len vào những khoảng trống đằng sau mắt ta và ngấm vào sự im lặng của đầu óc ta.
Người chơi đàn điện tử lướt sang một điệu khác, một điệu vui nhộn chen đầy tiếng gõ, một tiếng gõ gỗ phát ra từ sau lưng ca đoàn, bởi một nhạc cụ, một bộ thanh gỗ, mà Ahmad không thấy được. Giáo đoàn chào đón bước chuyển nhịp này bằng tiếng lầm bầm tán thành, và cả ca đoàn bắt đầu đánh nhịp bằng bàn chân, bằng hông. Cỗ organ phát ra một âm thanh òng ọc như chùng xuống. Bài hát đang trút dần lớp bọc của ca từ lúc này đang trở nên khó hiểu hơn - điều gì đó về những thử thách, những cám dỗ và rắc rối bất cứ nơi đâu. Người phụ nữ khô quắt gầy gò cạnh Joryleen bước tới trước và, bằng giọng nghe như giọng đàn ông, một người đàn ông ẻo lả, hỏi giáo đoàn, “Chúng ta có thể tìm được một người bạn trung thành đến mức sẽ chia sẻ mọi ưu phiền của chúng ta không?” Đằng sau bà dàn hợp xướng tụng đúng một từ, “Lời nguyện, lời nguyện, lời nguyện.” Tay chơi organ nhún nhảy, có vẻ chơi theo ý mình nhưng vẫn theo được dàn đồng ca. Ahmad chưa hề biết organ có nhiều nốt trên bàn phím đến vậy, những nốt cao và những nốt thấp, tất cả dính chùm hối hả bốc lên cao, lên cao. “Lời nguyện, lời nguyện, lời nguyện,” dàn hợp xướng vẫn tụng, để cho ông mập chơi organ phô diễn đoạn độc tấu.
Sau đó đến lượt Joryleen; cô bước tới trong tiếng vỗ tay lộp bộp, và mắt cô lướt qua mặt Ahmad trước khi hướng khuôn mặt trái xoan với cặp môi đầy đặn về phía đám đông đằng sau băng ghế của cậu và cao hơn, trên bao lơn tầng trên. Cô hít một hơi; tim cậu ngừng đập, lo lắng cho cô. Nhưng giọng cô rải ra một sợi chỉ sáng óng, “Chúng ta có yếu ớt và đầy gánh nặng, bị vướng hàng đống lo lắng không?” Giọng cô trẻ, mong manh và tinh khiết, với một chút run rẩy trước khi vơi bớt bồn chồn. “Đấng cứu thế quý giá, vẫn là nơi ẩn náu của chúng ta,” cô hát. Giọng cô dịu xuống thành một màu vàng lóa, với một chút khàn đục, rồi bất ngờ giải phóng bốc lên thành một tiếng ré chói tai giống tiếng thét của một đứa bé đang nài xin mở cánh cửa khóa cho nó vào. Giáo đoàn lầm rầm tán đồng những đoạn phá cách đó. Joryleen la to, “Bạn bè của ngươi co-ó coi thường, bỏ rơ-ơi các ngươi không?”
“Hê, này, có không?” người phụ nữ mập cạnh cô la to, hùa vào như thể đoạn đơn ca của Joryleen là cái bồn tắm ấm áp quá mời gọi đến độ khó kềm lòng không bước vào. Bà nhảy vào không phải để xô lấn Joryleen mà để kết hợp cùng cô; nghe được giọng khác bên cạnh mình, Joryleen thử vài nốt phối, hát hòa theo, giọng trẻ măng của cô trở nên tự tin hơn, đắm vào cảm giác quên mình. “Trong vòng tay người,” cô hát, “trong vòng tay người, trong vòng tay người, người sẽ ôm và che chở ngươi; ở đó ngươi sẽ tìm thấy, ôi hạnh phúc thay vâng, một niềm an ủi.”
“Vâng, một niềm an ủi; vâng, một niềm an ủi,” bà mập lặp lại, rồi bước ra trong tiếng hô rộn nhìn nhận và yêu thương của đám đông, vì giọng của bà đưa họ lặn sâu xuống và rồi thoát ngay khỏi đáy cuộc đời của họ, Ahmad cảm thấy vậy. Giọng của bà đã sành sỏi nỗi đau khổ mà với Joryleen nói chung hãy còn ở phía trước, mới là một cái bóng phủ lên cuộc đời non trẻ của cô. Với thẩm quyền đó, người phụ nữ mập, mặt to như mặt một tượng thần cổ giáo bằng đá, bắt đầu lại, ở đoạn “Có Jesus chúng ta có một người bạn tuyệt vời làm sao.” Những lúm đồng tiền xuất hiện không chỉ phía dưới hai má bà mà còn ở hai khóe mắt, hai cánh mũi to bẹt của bà, khi mũi bà phồng ra theo một hướng dốc gắt. Bài thánh ca lúc này đã dội mạnh vào huyết quản và thần kinh của những người tập hợp ở đây đến độ có thể gặp được nó ở bất cứ điểm nào. “Mọi tội lỗi của chúng con, ý con muốn nói mọi tội lỗi và sầu khổ của chúng con - nghe thấy không, Chúa ơi?” Ca đoàn, cả Joryleen trong đó, vẫn vững vàng không nao núng trong khi bà mập xuất thần đánh hai cánh tay tới lui, vung vẩy một hồi trong vẻ đắc thắng hân hoan kiểu vờ hài hước của một người đang sải bước trên tấm ván xuống tàu sau khi vượt qua vùng biển đầy bão tố, và chĩa thẳng cánh tay vào những góc người quằn quại trên bao lơn, la to, “Nghe thấy không? Nghe thấy không?”
“Chúng tôi nghe, người chị em,” một giọng đàn ông đáp lại.
“Nghe thấy gì, người anh em?” Bà trả lời câu hỏi: “Mọi tội lỗi và sầu khổ chúng ta phải mang. Hãy nghĩ đến những tội lỗi đó. Nghĩ đến những sầu khổ đó. Chúng là con của chúng ta, không phải vậy sao? Tội lỗi và sầu khổ, những đứa con cố hữu của chúng ta.” Đội đồng ca cứ kéo dài giai điệu này, nhưng giờ nhanh hơn. Tiếng đàn organ loay hoay và giật cục, những que gõ cứ gõ ngoài tầm nhìn thấy, người phụ nữ mập nhắm mắt và bật ra từ “Jesus” ngay giữa nhịp phách liên tục một cách mù quáng, rút gọn nó thành, “Jeez. Jeez. Jeez,” và đột nhiên, cứ như một bài hát khác đang ngấm vào, chuyển sang “Tạ ơn Jesus. Tạ ơn, Chúa. Tạ ơn Người vì tình yêu này, suốt ngày, suốt đêm.” Khi dàn đồng ca hát, “Ôi ta phải chịu nỗi đau vô dụng làm sao,” bà thổn thức. “Vô dụng, vô dụng. Ta cần mang nó đến cho Jesus, ta cần, cần làm thế!” Khi dàn đồng ca, vẫn theo sự điều khiển của người đàn ông nhỏ con với mái tóc phồng cao, hát đến dòng cuối, bà cũng hát theo, “Mọi thứ, mọi thứ, mọi thứ nhỏ nhặt đến cho Chúa trong lời cầu nguyện. Yeaahuyess.”
Dàn đồng ca, trong đó miệng Joryleen là tươi tắn nhất, mở to hết cỡ nhất, ngừng hát. Ahmad cảm thấy mắt cậu nóng lên và bao tử cậu nôn nao đến độ cậu sợ mình có thể ói ra, ngay đây giữa những loài ma quỷ đang rên ư ử này. Những vị thánh giả tạo trên các cửa sổ cao ám đen bồ hóng nhìn xuống. Khuôn mặt một vị thánh râu bạc cau có bừng lên do một luồng ánh nắng thoáng qua. Cô gái nhỏ đã rúc vào bên hông cậu mà cậu không nhận thấy; nặng lên bất ngờ, cô bé vừa ngủ thiếp đi giữa tiếng nhạc vây quanh, rộng lớn. Những người còn lại trong gia đình, ngồi dọc theo băng ghế, mỉm cười với cậu, với cô bé.
Cậu không biết có nên chờ Joryleen bên ngoài nhà thờ không, khi giáo dân mặc đồ mùa xuân màu sáng chen nhau bước ra bầu không khí tháng Tư đang trở nên ẩm ướt và lạnh lẽo trong khi mây trên đầu trở nên tối xỉn. Sự do dự của Ahmad kéo dài thêm trong khi, hơi khuất sau cây thích hòe bên vệ đường còn sống sót sau cuộc tàn phá đã tạo ra hồ đá vụn, cậu kiểm tra cho chắc rằng Tylenol không có trong đám đông. Rồi, ngay khi cậu quyết định lẻn đi thì cô xuất hiện, bước tới chỗ cậu, bày ra tất cả nét tròn trịa của cô như trái cây trên đĩa. Một bên cánh mũi cô đeo một hạt cườm bạc phản chiếu bầu trời nhỏ xíu. Bên dưới lớp áo chùng xanh vẫn là thứ quần áo cô mặc đi học, không phải quần áo diện đi nhà thờ. Cậu nhớ cô đã nói với cậu không xem chuyện tôn giáo là nghiêm túc lắm. “Tớ có thấy cậu,” cô trêu chọc. “Ngồi với nhà Johnson, ngộ thiệt.”
“Nhà Johnson?”
“Đó là gia đình ngồi cạnh cậu. Họ là những nhân vật quan trọng của nhà thờ. Họ sở hữu mấy tiệm giặt ủi tự phục vụ ở khu thương mại và ở đằng Passaic. Cậu có nghe về người da đen tư-shản chưa? Họ đó. Cậu đang nhìn cái gì vậy, Ahmad?”
“Cái thứ nhỏ nhỏ trên mũi cậu đấy. Trước đây tôi không nhận thấy. Chỉ thấy mấy khoen nhỏ trên vành tai cậu thôi.”
“Mới mà. Cậu không thích à? Tylenol thì thích. Anh ấy nóng lòng chờ tớ xâu nút lưỡi.”
“Xỏ qua lưỡi à? Nghe ghê quá, Joryleen.”
“Tylenol nói Chúa thích phụ nữ chịu chơi. Thế ông Mohammed của cậu nói sao?”
Ahmad nghe thấy ý chế giễu nhưng vẫn cảm thấy mình cao khi đứng cạnh cô gái thấp, nảy nở này; cậu dòm xuống qua khuôn mặt cô đang ánh lên vẻ tinh quái, nhìn phần trên ngực cô lộ ra qua chiếc áo cánh mùa xuân cổ trễ, vẫn còn bóng loáng sau nỗi hào hứng và gắng sức của màn ca hát vừa rồi. “Người khuyên phụ nữ chớ phô bày nhan sắc ra ngoài,” cậu nói với cô. “Người nói phụ nữ tốt dành cho đàn ông tốt, và phụ nữ ô uế dành cho đàn ông ô uế.”
Mắt Joryleen mở to và cô chớp mắt, chấp nhận vẻ nghiêm trang lạnh lùng này như một phần của cậu mà cô có thể phải đối phó. “Ồ, tớ không biết theo cách chia đó thì tớ ở vào đâu nữa,” cô nói vui vẻ. “Khái niệm về ô uế của thiên hạ khá rộng vào thời buổi này,” cô nói thêm, đoạn chùi ngược mấy giọt mồ hôi rịn trên thái dương, nơi tóc cô mịn như ria mép của một cậu trai trước khi cậu ta nghĩ đến việc cạo. “Cậu thấy phần hát của tớ thế nào?”
Cậu suy nghĩ, trong lúc đám đông ríu rít tán gẫu thả bước qua sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ tuần này, và mặt trời khi ẩn khi hiện thả những bóng râm nhạt nhòa nhẹ tênh dưới tán lá thích hòe đang nhú. “Cậu có giọng hát tuyệt vời,” Ahmad nói với cô. “Rất thuần khiết. Nhưng mục đích sử dụng nó thì không thuần khiết. Phần hát, nhất là của bà mập đó...”
“Eva-Marie,” Joryleen đỡ lời. “Bà ấy là nhất. Bà ấy bao giờ cũng hát hết mình.”
“Tôi thấy bà ta hát có vẻ rất hoan lạc. Và tôi không hiểu nhiều lời trong đó. Jesus là người bạn tuyệt vời cho tất cả mọi người các cậu, ý là bạn theo kiểu nào?”
“Thực là một người bạn, thực là một người bạn,” Joryleen khẽ thở phì phì, bắt chước cách ca đoàn tách các đoạn của bài thánh ca để ám chỉ động tác lặp đi lặp lại của việc giao hoan (theo như cậu hiểu). “Ngài chỉ là vậy, thế thôi,” cô khẳng định. “Người ta cảm thấy dễ chịu hơn khi nghĩ ngài ở ngay đó. Nếu ngài không có ở đó để chăm lo thì còn ai, hả? Tớ đoán là với Mohammed của cậu cũng y vậy thôi.”
“Đấng Tiên tri có nhiều ý nghĩa đối với các tín đồ, nhưng chúng tôi không gọi người là bạn. Chúng tôi không thoải mái như vậy, như giáo sĩ bên cậu nói.”
“Này,” cô bé nói, “thôi mình không nói chuyện này nữa. Cảm ơn vì đã đến, Ahmad. Tớ không hề nghĩ cậu sẽ đến đấy.”
“Cậu đã xử đẹp với tôi, và tôi tò mò. Cũng có lợi, ở mức độ nào đó, khi biết rõ kẻ thù.”
“Kẻ thù? Chu cha. Cậu chẳng có kẻ thù nào ở đó cả.”
“Thầy dạy tôi ở thánh đường nói mọi kẻ ngoại đạo đều là kẻ thù của chúng tôi. Đấng Tiên tri nói rằng cuối cùng mọi kẻ ngoại đạo đều phải bị hủy diệt.”
“Ôi trời. Sao cậu lại thành ra thế này? Mẹ cậu cũng là một bà Ireland mặt đầy tàn nhang, đúng không? Tylenol nói vậy.”
“Tylenol, Tylenol. Cho tôi hỏi, cậu thân cỡ nào với cái suối nguồn thông thái đó vậy? Cậu ta có coi cậu là người nữ của cậu ấy không?”
“Ồ, anh chàng đó chỉ đang thử nghiệm mọi thứ. Anh ấy còn quá trẻ đâu thể bám cứng lấy bất cứ người bạn nữ nào. Thôi mình đi dạo đi. Nhiều người dòm ngó chúng ta quá.”
Họ đi dọc theo rìa phía Bắc khoảng đất trống đang chờ được xây dựng. Một tấm bảng to vẽ sơn mô tả một bãi đậu xe bốn tầng sẽ mang người mua sắm trở lại nội ô, nhưng suốt hai năm chẳng thấy xây dựng gì, chỉ có bức vẽ này, ngày càng bị viết vẽ bậy lên trên. Khi ánh nắng chếch từ hướng Nam bên trên những tòa nhà kính mới ở khu thương mại rọi xuyên qua những đám mây, người ta có thể thấy một đám bụi mịn bốc lên từ mớ xà bần, và khi mây trở lại thì mặt trời trở thành một vòng tròn trắng giống như một lỗ hổng hoàn hảo bị đốt xuyên qua, bằng đúng kích cỡ mặt trăng. Cảm giác ánh nắng ở một bên người khiến cậu ý thức về hơi ấm ở bên kia, hơi ấm của thân thể Joryleen đang đi cùng, một hệ thống gồm những vòng tròn và những bộ phận mềm mại gối lên nhau. Hạt bạc trên cánh mũi cô ánh lên một điểm nóng nhỏ; ánh nắng thọc cái lưỡi lấp lánh vào khoảng sâu hút ngay giữa chiếc áo cánh cổ khoét tròn của cô. Cậu nói với cô, “Tôi là một người Hồi giáo tốt, trong một thế giới chế giễu đức tin.”
“Thay vì là người tốt, cậu không bao giờ muốn có những cảm giác tốt sao?” Joryleen hỏi. Cậu tin cô thực sự tò mò; đức tin nghiêm khắc của cậu khiến cậu là một bí ẩn đối với cô, một kẻ khác thường.
“Có lẽ hai thứ đi với nhau,” cậu đoán. “Cảm giác tốt và người tốt.”
“Cậu đã đến nhà thờ của tớ,” cô nói, “tớ có thể đi cùng cậu đến thánh đường của cậu.”
“Điều đó không được. Chúng ta không được ngồi với nhau, và cậu không thể tham dự mà không qua một khóa hướng dẫn và cuộc chứng minh lòng thành.”
“Chà. E tớ không có đủ thời gian cho việc đó rồi. Cho tớ biết đi, Ahmad, cậu làm gì để cho vui?”
“Một số việc cũng như cậu làm thôi, mặc dù ‘vui’ như cách nói của cậu không phải là điều cốt yếu trong cuộc sống của người Hồi giáo tốt. Tôi học mỗi tuần hai buổi về ngôn ngữ và bài học trong kinh Qur’an. Tôi học ở trường Trung tâm. Mùa thu tôi chơi trong đội bóng đá - thực tình hồi mùa rồi tôi ghi năm bàn thắng, một bàn là phạt đền - còn mùa xuân chơi điền kinh. Để có tiền chi tiêu, và để giúp mẹ tôi - bà Ireland mặt đầy tàn nhang, như kiểu cậu gọi...”
“Đó là Tylenol gọi.”
“Như kiểu rõ ràng cả hai cậu gọi - tôi đứng bán hàng ở Shop-a-Sec từ mười hai đến mười tám giờ một tuần, và việc đó có thể ‘vui’, quan sát khách hàng cùng đủ thứ kiểu trang phục và trò điên khùng cá nhân mà thói dễ chấp nhận ở Mỹ vẫn hay khuyến khích. Chẳng có gì trong đạo Hồi giáo ngăn cấm việc xem tivi và đi xem phim, nhưng trên thực tế mấy thứ đó thấm đẫm tuyệt vọng và hoài nghi đến độ xua sạch hứng thú của tôi. Mà đạo Hồi giáo cũng không cấm việc kết giao với người khác giới, nếu ta tuân thủ những điều nghiêm cấm.”
“Nghiêm cấm đến độ chẳng có gì xảy ra, đúng không? Quẹo trái ở đây, nếu cậu định đưa tớ về tới nhà. Cậu biết là cậu không cần phải làm thế. Chúng ta sắp đi vào những khu phố tệ hại hơn. Cậu không muốn bị quấy rối đâu.”
“Tôi muốn đưa cậu về đến nhà.” Cậu tiếp tục, “Những điều cấm kỵ đó vì lợi ích của đàn ông thì ít mà vì lợi ích của phụ nữ thì nhiều. Sự trinh tiết và thanh khiết là điều tối quan trọng đối với giá trị của phụ nữ.”
“Ôi trời,” Joryleen nói. “Trong mắt ai? Ý tớ là ai làm cái việc đánh giá này?”
Cậu cảm thấy cô đang dẫn dắt cậu đến gần bờ vực phản bội lại đức tin của cậu chỉ bằng việc trả lời những câu hỏi của cô. Ở trường, cậu quan sát thấy trên lớp cô nói hay, đến độ các giáo viên bị cô thu hút, không nhận ra rằng cô đang dắt họ xa rời khỏi những bài học được ấn định và làm lãng phí thời gian của lớp. Cô có nét tính cách tai ác. “Trong mắt Thượng Đế,” cậu nói với cô, “như Đấng Tiên tri bộc lộ: ‘Hãy bảo những người phụ nữ có đức tin nên cụp mắt xuống và che phủ phần kín đáo của họ.’ Câu này cũng nằm trong cùng chương Qur’an khuyên phụ nữ chớ phô bày nhan sắc ra ngoài và kéo khăn choàng phủ lên ngực, và thậm chí chớ nện chân mạnh để cho người ta nghe tiếng vòng cổ chân vốn không bị ai nhìn thấy.”
“Cậu nghĩ tớ để hở tí hơi nhiều - nhìn ánh mắt cậu hướng tới chỗ nào là tớ biết.”
Chỉ nghe từ “tí” từ môi cô thôi cũng khiến cậu kích động một cách thiếu đứng đắn. Cậu nói, nhìn thẳng tới trước, “Sự thanh khiết tự nó là cùng đích. Như chúng ta đang bàn, nó gồm cả việc là người tốt lẫn việc có cảm giác tốt.”
“Còn đám trinh nữ ở thế giới bên kia thì sao? Sự thanh khiết rồi sẽ ra sao khi mấy chàng trai trẻ tử vì đạo sang tới đó, còn đầy nhóc tinh dịch?”
“Đức hạnh của họ hưởng phần thưởng của nó mà vẫn giữ nguyên thanh khiết, trong bối cảnh Thượng Đế đã tạo ra. Thầy tôi ở thánh đường nghĩ rằng các trinh nữ mắt huyền là tượng trưng cho một hạnh phúc cực độ mà con người không thể hình dung nếu không có hình ảnh cụ thể. Phương Tây vốn bị ám ảnh tình dục cho nên chẳng lạ gì khi họ chộp lấy hình ảnh đó để nhạo báng Hồi giáo.”
Họ tiếp tục theo hướng cô đã chỉ. Khu nhà quanh họ càng lúc trông càng nhếch nhác hơn; những bụi cây không được chăm sóc, nhà cửa không sơn, những miếng gạch vuông lót vỉa hè nhiều chỗ xộc xệch và nứt nẻ do rễ cây bên dưới; những khoảng sân nhỏ trước nhà vương vãi rác. Những dãy nhà bị trống vài cái, giống như răng bị nhổ bật, khoảng trống đó được rào lại nhưng lớp rào mắt cáo dày bị cắt và vặn xoắn dưới sức ép vô hình của những người ghét hàng rào, những người muốn tới đâu đó thật nhanh. Những ngôi nhà phố xây giống nhau trong một số khu trở thành một tòa nhà dài đơn nhất với nhiều cửa bong tróc và những bậc thềm bốn bậc, cũ bằng gỗ hoặc mới bằng xi măng. Trên đầu, những nhánh cây cao đan nhằng nhịt với dây điện tải điện khắp thành phố, như một chiếc thụ cầm chùng thấp ở những khoảng trống do đội quân cưa cây cắt tỉa. Hoa và lá non lấm chấm, màu không hẳn vàng cũng chẳng ra xanh, hiện ra rực rỡ trên nền trời từng mảng mây.
“Ahmad này,” Joryleen nói với vẻ bực tức bất ngờ, “giả sử không có gì trong đó là có thực - giả sử cậu chết và chẳng có gì ở đó, hoàn toàn không có gì hết thì sao? Vậy toàn bộ cái màn thanh khiết này còn có nghĩa gì?”
“Nếu không có gì trong đó là thực,” cậu nói với cô, bao tử cậu thắt lại trước ý nghĩ đó, “thì thế giới này quá kinh khủng đến độ không thể yêu thương được, và tôi sẽ không hối tiếc khi rời bỏ nó.”
“Ôi trời! Cậu đúng là người khác thường, thật đấy. Ở thánh đường đó chắc họ yêu cậu đến chết được.”
“Có nhiều người giống tôi,” cậu nói với cô, vừa kiên quyết vừa nhẹ nhàng, hơi khiển trách. “Một vài người” - cậu không muốn nói “da đen” vì từ này dù đúng về mặt chính trị nhưng lại nghe thiếu tử tế - “thuộc số mà cậu gọi là anh em của mình. Thánh đường Hồi giáo và các thầy ở đó cho họ những thứ mà nước Mỹ Cơ Đốc giáo từ chối - sự tôn trọng, và một thách thức đòi hỏi ở họ điều gì đó. Nó đòi hỏi sự khổ hạnh. Nó đòi hỏi sự tiết độ. Toàn bộ những gì nước Mỹ muốn ở công dân của nó là mua hàng - là tiêu pha vung tay quá trán và qua đó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cho chính ông ta và những người giàu khác, Tổng thống của cậu đã nói thế đấy.”
“Ông ấy không phải là Tổng thống của tớ. Nếu được đi bầu năm nay tớ sẽ bỏ phiếu đá ông ta ra, ủng hộ AI Sharpton.”
“Tổng thống nào nắm quyền cũng như nhau thôi. Tất cả họ đều muốn người Mỹ trở nên ích kỷ và chuộng vật chất, đóng tròn vai của mình để phục vụ chủ nghĩa tiêu dùng. Nhưng linh hồn con người đòi hỏi sự xả kỷ. Nó khao khát nói ‘Không’ với thế giới vật chất.”
“Cậu ăn nói như vậy làm tớ sợ quá. Nghe có vẻ như cậu ghét cuộc sống.” Cô nói tiếp, bộc lộ bản thân một cách thoải mái như cô đang hát. “Theo cách tớ cảm nhận, linh hồn là thứ xuất phát từ thể xác, giống như hoa mọc ra từ đất. Thù ghét thân xác cậu cũng giống như thù ghét bản thân cậu, thù ghét xương, máu, da và cứt đã khiến cho cậu là cậu như hiện giờ.”
Như khi đứng nhìn xuống vệt đường đi lấp lánh của con sâu hay ốc sên đã khuất dạng, Ahmad cảm thấy mình cao, cao đến mức hoa mắt, khi nhìn xuống đứa con gái tròn, thấp mà nỗi phẫn nộ trước lòng khao khát sự thanh khiết của cậu đã tạo cho giọng nói và đôi môi cô một vẻ nhanh nhẹn sống động. Nơi đôi môi tiếp giáp phần da khác màu của khuôn mặt cô có một cái gờ, một đường viền nhỏ như đường tròn mà cặn ca cao để lại trong lòng tách. Cậu nghĩ đến việc đắm mình vào thân thể cô và qua cảm giác đầy đặn và dễ chịu đi kèm với ý nghĩ đó cậu biết rằng đây là một ý nghĩ của quỷ.
“Không phải ghét thân xác của cậu,” cậu chỉnh lại cô, “nhưng cũng không trở thành nô lệ cho nó. Tôi nhìn quanh tôi, thấy toàn nô lệ - nô lệ cho ma túy, nô lệ cho những sở thích theo mốt, nô lệ cho tivi, nô lệ cho những người hùng thể thao còn không biết họ tồn tại, nô lệ cho những ý kiến vô nghĩa, báng bổ của người khác. Cậu có một trái tim nhân hậu, Joryleen, nhưng cứ cái lối suy nghĩ biếng nhác ấy là cậu đang thẳng tiến về phía Hỏa ngục.”
Cô đã dừng lại trên lề đường, ở một quãng đường buồn bã không bóng cây, và cậu nghĩ chính việc cô giận cậu, nỗi thất vọng gần muốn khóc của cô, đã khiến cô dừng lại, nhưng rồi cậu nhận ra khung cửa xám xịt đó là khung cửa nhà cô, với bốn bậc thềm gỗ ngả xám như sau những trận mưa bất tận. Ít nhất cậu cũng sống trong một tòa chung cư bằng gạch ở mé Bắc đại lộ. Cậu cảm thấy có lỗi đã làm cô thất vọng, vì khi rủ cậu đi bộ với mình cô đã mang kỳ vọng sẵn rồi.
“Cậu mới là người không biết mình đang đi về đâu, Ahmad ạ,” cô nói, quay lưng để vào, đặt một chân lên bậc thềm xám xỉn đầu tiên. “Cậu mới là người không biết mình hành động vì thứ mô tê quái quỷ gì.”
Ngồi tại chiếc bàn nâu tròn cũ nặng nề mà cậu và mẹ gọi là “bàn ăn” dù họ không bao giờ ăn tại đó, Ahmad nghiên cứu những cuốn sách mỏng trong bộ Học tại nhà để lấy bằng tài xế xe tải, bốn cuốn, mỗi cuốn được dập ghim. Shaikh Rashid đã giúp cậu gửi đặt mua ở Michigan, viết chi phiếu 89,5 đôla trừ vào tài khoản của thánh đường. Ahmad luôn luôn nghĩ lái xe tải là thứ việc dành cho những tên ngốc như Tylenol và nhóm của hắn ở trường, nhưng trên thực tế món này đòi hỏi phải có một lượng kiến thức chuyên môn đến phát hoảng lên được, kiểu như cả đống chất nguy hiểm phải được phân biệt rõ từng thứ bằng bốn loại nhân khác nhau có kích cỡ hăm bảy phân mỗi chiều và được gắn nghiêng thành hình thoi. Có những thứ khí dễ cháy như hydro và khí độckhí có hại như khí flo nén; có những chất rắn dễ cháy như ammonium picrate thấm nước và những chất tự bắt lửa như phốt pho trắng và những chất tự bắt lửa khi ướt như natri. Rồi có những chất độc thực sự như kali xyanua và những chất lây nhiễm như vi rút gây bệnh than và những chất phóng xạ như uranium và những chất ăn mòn như dung môi trong bình ắc quy. Tất cả thứ này đều phải chở bằng xe tải, và nếu bị đổ ra ngoài đến một lượng nào đó (tùy thuộc vào tính độc hại, tính dễ bay hơi, tính bền hóa học) cũng đều phải được báo cáo cho DOT (Bộ Vận tải) và EPA (Cơ quan Bảo vệ Môi trường).
Ahmad ngán ngẩm nghĩ về khối lượng giấy tờ, chứng từ vận chuyển đầy những con số và luật lệ và những điều cấm. Chất độc không bao giờ được vận chuyển chung với thức ăn cho người hay thú vật; những chất nguy hiểm cho dù đóng trong thùng chứa hàn kín cũng không bao giờ được để ở phía trước gần tài xế; phải để ý coi chừng nhiệt độ cao, rò rỉ, và tốc độ thay đổi đột ngột. Ngoài những chất độc hại còn có ORM (những chất liệu bị kiểm soát khác) là những thứ có thể có tác động gây mê hoặc mẩn ngứa hoặc đầu độc tài xế và hành khách, như monochloroacetone hoặc diphenylchloroarsine, và chất có thể gây hư hại cho xe nếu bị rò rỉ, như các chất lỏng ăn mòn brôm, natri cabonat, axit clohydric, dung dịch xút ăn da, và axit sulfuric loãng. Trên khắp xứ sở này, bây giờ Ahmad mới nhận ra, những chất nguy hại vẫn đang không ngừng văng ra, đổ tràn, bốc cháy, ăn mòn mặt đường và sàn xe tải - một trò quỷ ác hóa học để làm hiển hiện chất độc tinh thần của chủ nghĩa trọng vật chất.
Rồi, mấy tập sách mỏng cho cậu biết, khi vận chuyển chất lỏng với số lượng lớn trong xe bồn, còn có lượng hụt, cũng được gọi là độ vơi, tức là lượng hàng ít hơn thể tích thực, để bồn chứa không bị nổ tung khi vật liệu trong bồn giãn nở trong quá trình chuyên chở - chẳng hạn nếu nhiệt độ chung quanh lên đến khoảng 55 độ C. Và với xe bồn, tài xế cũng phải chú ý đến việc sánh chất lỏng, trong trường hợp bồn chứa có lòng nhẵn thì nghiêm trọng và nguy hiểm hơn trong trường hợp bồn chứa bên trong có vách ngăn nhiều lỗ thông hoặc các ngăn kín hoàn toàn. Tuy nhiên kể cả với những loại bồn này, nếu quẹo cua quá gắt chất lỏng dồn qua một bên vẫn có thể làm lật xe tải. Chất lỏng dồn tới trước có thể đẩy xe tải chồm tới đâm vào dòng giao thông đợi đèn đỏ hoặc trước biển báo dừng. Nhưng các quy định về điều kiện vệ sinh cấm sử dụng vách ngăn có lỗ thông với xe bồn chuyên chở sữa hoặc nước trái cây; những vách ngăn này gây khó cọ rửa bồn chứa, vì thế tạo điều kiện nhiễm khuẩn. Nghề chuyên chở đầy rẫy những nguy hiểm mà trước đây Ahmad chưa từng ngờ tới. Tuy nhiên nó kích thích cậu, khi xem bản thân - như viên phi công lái một chiếc 727 hoặc thuyền trưởng một tàu chở dầu cực lớn hay cái não bé xíu của một con thằn lằn sấm - đang lái chiếc xe khổng lồ băng qua mê cung những nguy cơ thảm khốc để đến nơi an toàn. Cậu thích thú khi nhận thấy trong các quy định lái xe tải có mối quan tâm bảo toàn sự thanh khiết gần như mang tính tôn giáo.
Có ai đó gõ cửa, lúc tám giờ mười lăm phút tối. Tiếng động đó, không xa cái bàn nơi Ahmad đang học dưới ánh sáng ngọn đèn chụp đứng cũ kỹ, khiến cậu thôi tập trung vào độ vơi và trọng tải, vào chất lỏng sánh và chảy mà choàng tỉnh dậy. Mẹ cậu nhanh chóng ló ra từ phòng ngủ, vốn cũng là phòng vẽ của chị, và bước - thậm chí chạy bổ - tới để mở cửa, vừa bước vừa luồn tay đánh bông mái tóc đỏ nhạt - dài đến gáy, nhuộm thêm mực lá móng - của chị. Chị đón chào những vụ gián đoạn kỳ bí kiểu ấy với nhiều hy vọng hơn Ahmad. Mười ngày sau khi dự lễ ở nhà thờ của bọn ngoại giáo, cậu vẫn còn lo lắng vì đã xâm phạm lãnh thổ của Tylenol; rất có khả năng tên du côn đó cùng băng nhóm của hắn sẽ chặn đường cậu lúc nào đó, thậm chí vào ban đêm, gọi cậu ra khỏi căn hộ nhà mình.
Mà cũng không phải không có khả năng, dù không nhiều lắm, rằng người gõ cửa là một phái viên của Shaikh Rashid. Thầy cậu có ít học trò. Gần đây ông có vẻ bồn chồn, như thể có gì đó đè nặng lên ông; Ahmad thấy dường như ông giống như một yếu tố được giũa cẩn thận trong một cấu trúc đang chịu quá nhiều sức nén. Tuần rồi ông thầy tế đã bộc lộ đức tính dễ cáu giận với cậu học trò trong khi thảo luận về một đoạn trong chương ba: Và những ai không có đức tin chớ nghĩ rằng việc Chúng ta gia hạn cho chúng là tốt cho bản thân chúng. Việc Chúng ta gia hạn cho chúng là chỉ để cho chúng chồng chất thêm tội lỗi; và chúng sẽ chịu một sự trừng phạt nhục nhã. Ahmad đã dám hỏi thầy chẳng lẽ trong lời mắng nhiếc này và trong nhiều đoạn kinh giống như vậy không có gì đó tàn ác sao. Cậu đã liều phát biểu, “Chẳng lẽ mục đích của Thượng Đế không phải, như Đấng Tiên tri đã nói, là cải đạo cho những kẻ ngoại giáo sao? Dù thế nào, chẳng lẽ không phải Người nên cho họ thấy lòng khoan dung, chứ không hả hê trước nỗi đau của họ sao?”
Viên thầy tế để lộ nửa khuôn mặt, phần dưới bị khuất trong hàm râu lốm đốm bạc được tỉa cẩn thận. Mũi ông mảnh, vồng cao và da hai má ông nhợt nhạt, nhưng không nhợt như da của người Anglo-Saxon hay Ireland, lắm tàn nhang và dễ ửng đỏ, giống như mẹ của Ahmad (một xu hướng mà cậu con trai, tiếc thay, có thừa hưởng), mà nhợt nhạt như sáp, thậm chí rắn đanh khó dò đoán kiểu Yemen. Bên trong bộ râu đó, đôi môi tím của ông giật giật. Ông hỏi, “Những con gián bò ra khỏi lớp ván chân tường và bên dưới bồn rửa bát, em có thương hại chúng không? Lũ ruồi bay vù vù quanh thức ăn trên bàn, bò lên nhờ những bàn chân bẩn thỉu vừa mới nhảy múa trên phân và trên đồ rác rưởi, em có thương hại chúng không?”
Sự thực thì Ahmad có thương hại chúng, cậu vẫn bị thôi miên bởi hàng đàn lũ côn trùng lúc nhúc dưới chân những con người như thần thánh, nhưng biết rằng bất kỳ sự thêm bớt ý kiến nào hoặc dấu hiệu nào tỏ ý muốn tranh luận tiếp đều sẽ chọc giận thầy, Ahmad đáp, “Không.”
“Không,” Shaikh Rashid đồng ý với vẻ hài lòng, trong khi đưa bàn tay thanh tú giật nhẹ râu mình. “Em muốn tiêu diệt chúng. Chúng làm em bực mình vì sự dơ bẩn của chúng. Chúng sẽ hoành hành trên bàn ăn của em, nhà bếp của em; chúng sẽ đậu vào chính thức ăn trên đường vào miệng em nếu em không tiêu diệt chúng. Chúng không có tình cảm. Chúng là hiện thể của Quỷ sứ, và Thượng Đế sẽ tiêu diệt chúng không chút khoan dung vào ngày đền tội cuối cùng. Thượng Đế sẽ hoan hỉ trước nỗi đau khổ của chúng. Hãy làm giống vậy, Ahmad. Cho rằng lũ gián đáng được hưởng lòng nhân từ là tự coi mình cao hơn ar-Raḥīm Đấng nhân từ, là cho rằng mình khoan dung hơn Đấng Khoan dung.”
Ahmad cảm thấy rằng, giống như với các chứng liệu về Thiên đường, thầy giáo cậu viện đến phép ẩn dụ để làm lá chắn che đậy thực tế. Joryleen tuy là kẻ ngoại giáo song có tình cảm; tình cảm nằm trong cách cô hát, trong cách những người ngoại giáo khác đáp lại tiếng hát. Nhưng vai trò của Ahmad không phải là tranh luận; vai trò của cậu là học, thuận theo vị trí của cậu trong hệ thống thế giới Hồi giáo bao la, hữu hình và vô hình.
Mẹ cậu quả đã vội đến mở cửa vì mong đợi một trong số các bạn trai của chị thật đấy, nhưng giọng chị trong tầm nghe của Ahmad dịu lại, bối rối nhưng không hoảng sợ, đầy kính trọng. Một giọng lịch sự, mệt mỏi hơi quen thuộc với Ahmad đáp lại, tự xưng là ông Levy, giáo viên tư vấn tại trường Trung học Trung tâm. Ahmad nhẹ nhõm; không phải là Tylenol hay bất cứ ai ở thánh đường. Nhưng sao lại là ông Levy? Cuộc trao đổi của họ ở trường khiến Ahmad nhấp nhổm; ông thầy tư vấn cho biết ông không hài lòng trước kế hoạch của Ahmad cho tương lai của cậu và bày tỏ ý muốn được can thiệp.
Làm sao ông tới được tận đây, khung cửa này? Chung cư này là một trong ba khu được xây cách nay hai mươi lăm năm để thay cho những dãy nhà phố quá ọp ẹp và đầy tệ nạn ma túy đến độ các quan chức của New Prospect nghĩ rằng những khu nhà mười tầng dành cho đủ loại tầng lớp thu nhập ắt phải là một sự cải thiện. Thêm nữa, họ đã tính toán, phần đất được thu hồi theo quyền trưng mua có thể được dùng làm công viên với những khu giải trí và, hơn nữa, một đại lộ hình vòng cung thúc đẩy mậu dịch với những thành phố nơi “thành phần tốt hơn” chiếm ưu thế. Nhưng, cũng như khi người ta tháo nước cho vùng đất đầy bệnh sốt rét, các vấn nạn lại quay về: con cái của bọn buôn ma túy trước đây tiếp quản công việc của cha chúng, đám con nghiện sử dụng ghế đá công viên, những bụi cây và cầu thang chung cư, đêm đêm cứ rảo tới rảo lui các hành lang. Quy hoạch ban đầu yêu cầu ở mỗi lối vào có một bảo vệ, nhưng thành phố phải thực hiện cắt giảm ngân sách nên ở các trạm bảo vệ với màn hình quan sát hành lang và lối ra vào người trực lúc có lúc không. Mười lăm fút nữa quay lại, thường thấy một thông báo viết tay gắn ở đó có khi hàng mấy tiếng liền. Vào giờ này buổi tối, cư dân và khách viếng thăm cứ thế đi thẳng vào. Ông Levy hẳn đã đi vào và dò tìm ở các hộp thư rồi đi thang máy lên gõ cửa nhà họ. Thế là ông đây, đứng ở bên trong cửa, ngoài nhà bếp, tự giới thiệu mình bằng giọng lớn hơn, trang trọng hơn giọng ông nói với Ahmad trong buổi gặp mặt tư vấn. Buổi đó, ông có vẻ như bóng gió, lười biếng, rã rời. Khuôn mặt mẹ Ahmad đỏ bừng, giọng chị cao và nhanh; chị phấn chấn trước cuộc viếng thăm từ một đại diện của giới công chức xa cách xưa nay chỉ lởn vởn phía trên cuộc sống cô đơn của họ.
Ông Levy nhận ra sự kích động của chị và cố làm vẻ như mọi việc đều bình ổn. “Tôi xin lỗi vì xâm phạm sự riêng tư của quý vị,” ông nói với một điểm nằm giữa khoảng bà mẹ đang đứng và đứa con trai đang ngồi, cậu không hề đứng lên khỏi chiếc bàn nâu. “Nhưng khi thử gọi số điện thoại trong hồ sơ ở trường của Ahmad, tôi chỉ nghe một đoạn băng thông báo không kết nối được.”
“Chúng tôi phải làm vậy, sau vụ Mười một tháng Chín,” chị giải thích, vẫn còn hơi thở gấp. “Chúng tôi nhận được nhiều cú điện chửi bới. Thói bài Hồi giáo ấy mà. Tôi đã xin đổi số và rút khỏi danh bạ, cho dù phải trả thêm mỗi tháng mấy đô la. Nói thật với ông, vậy cũng đáng.”
“Tôi rất tiếc khi nghe điều đó, bà... cô... Mulloy,” ông thầy tư vấn nói, và ông có vẻ hối tiếc thật, bên cạnh và vượt xa vẻ buồn rầu thường lệ của ông.
“Chỉ có một hai cuộc gọi,” Ahmad chen vào. “Không nhiều. Hầu hết người ta đều bình thường. Ý em là khi vụ đó xảy ra em chỉ mới mười lăm. Ai mà trách em được?”
Mẹ cậu, với cái kiểu chuyện bé xé ra to dễ làm người ta bực ấy, nói, “Không chỉ một hai cuộc gọi đâu, tôi dám nói với ông đó, ông Levine.”
“Levy.” Ông vẫn muốn giải thích lý do ông xuất hiện. “Lẽ ra tôi có thể gọi Ahmad đến văn phòng của tôi ở trường, nhưng tôi muốn nói chuyện với cô, cô Mulloy.”
“Xin gọi tôi là Teresa.”
“Teresa.” Ông bước tới bàn và nhìn qua vai Ahmad. “Đã bắt đầu rồi đấy. Học để lấy bằng lái xe tải. Tôi tin là em biết rồi đó, từ giờ tới năm hăm mốt tuổi em chẳng thể lấy được bằng lái gì hơn hạng C đâu. Không xe đầu kéo, không chất độc hại.”
“Vâng, em biết,” Ahmad nói, nhìn chăm chăm xuống trang giấy cậu đang cố học. “Nhưng hóa ra nó thật thú vị. Em muốn đằng nào cũng học rồi, sẽ học để biết hết.”
“Tốt đó, anh bạn. Đối với một chàng thông minh như em thì hẳn là khá đơn giản.”
Ahmad không sợ tranh luận với ông Levy. Cậu nói với ông, “Cái đó phức tạp hơn thầy nghĩ. Có nhiều quy định nghiêm ngặt, rồi lại có bao nhiêu là bộ phận của chiếc xe tải và đủ việc phải làm để bảo trì. Thầy đâu muốn chiếc xe tải bị hư hỏng, nó có thể nguy hiểm đấy.”
“Được rồi, cứ theo đuổi nó đi, con trai. Nhưng đừng để nó cản trở việc học tập của em. Còn một tháng nữa, với nhiều kỳ thi. Em muốn tốt nghiệp mà, đúng không?”
“Vâng, em muốn.” Cậu không muốn tranh luận về mọi chuyện, dù thật ra cậu phật ý trước cái hơi hướm đe dọa này. Họ nóng lòng cho cậu tốt nghiệp, để tống khứ cậu. Và tốt nghiệp để rơi vào cái gì? Một hệ thống kinh tế đế quốc chủ nghĩa bị lũng đoạn vì lợi ích của bọn Cơ Đốc giáo giàu có.
Ông Levy, nghe giọng cáu kỉnh của cậu, liền hỏi, “Em có phiền nếu tôi nói chuyện một lát với mẹ em không?”
“Không. Sao em lại phiền? Và nếu em phiền thì sao?”
“Ông muốn gặp tôi à?” Người phụ nữ xác nhận, để lấp liếm sự khiếm nhã của con trai chị.
“Một lát thôi. Một lần nữa, bà... à cô... gì nhỉ: Teresa! - Tôi rất tiếc đã quấy rầy cô, nhưng tôi là kiểu người mà nếu có chuyện gì làm tôi lo lắng, tâm trí tôi sẽ không để yên cho tới khi tôi giải quyết nó.”
“Ông dùng một tách cà phê chứ, ông...?”
“Jack. Mẹ tôi gọi tôi là Jacob, nhưng mọi người gọi tôi là Jack.” Ông nhìn mặt chị, đỏ và đầy tàn nhang, với đôi mắt lồi ra, hăm hở quá mức. Chị có vẻ sốt sắng muốn làm vui người khác. Công chức nhà trường thường không được bố mẹ học sinh tôn trọng, và với một số bậc bố mẹ thì ông là kẻ thù giống như cảnh sát, chỉ có điều còn giỡn mặt được chỉ vì không có súng. Nhưng ông đoán rằng người phụ nữ này, tuy thuộc thế hệ trẻ hơn ông, cũng đủ lớn tuổi để nhận được từ các nữ tu một nền giáo dục biết tôn ti trật tự, biết tôn trọng người khác. “Không, cảm ơn,” ông nói với chị. “Dù sao tôi vẫn là người khó ngủ.”
“Tôi có thể pha một tách cà phê không có cafein,” chị hứa, quá nhiệt tình. “Ông có chịu loại hòa tan không?” Mắt chị xanh nhạt, giống như những chai thủy tinh đựng Coca Cola ngày xưa.
“Tôi bị cô thuyết phục rồi,” ông đồng ý. “Nếu có thể nhanh. Ta đi đâu, để thôi quấy rầy Ahmad ở đây? Nhà bếp hả?”
“Trong đó bừa bộn lắm. Tôi chưa rửa bát đĩa. Tôi đã hy vọng vẽ tiếp được khi vẫn còn chút sức lực. Mình vào xưởng vẽ của tôi đi. Tôi có một cái bếp hâm.”
“Xưởng vẽ?”
“Tôi gọi nó vậy. Cũng là phòng tôi ngủ luôn. Đừng để ý cái giường. Tôi phải đa chức năng thôi, để Ahmad được chút riêng tư của nó trong phòng của nó. Chúng tôi đã ở chung phòng nhiều năm, có lẽ quá lâu. Những căn hộ rẻ tiền này, tường mỏng như giấy vậy.”
Chị mở cánh cửa mà chị đã từ đó bước ra, cách đây mười phút. “Ồ,” Jack Levy nói, khi bước vào. “Chắc Ahmad có nói với tôi rằng cô vẽ tranh, nhưng...”
“Tôi đang cố làm lớn hơn, và tươi hơn. Cuộc sống quá ngắn ngủi, tôi chợt nghĩ ra, tại sao cứ quá chú ý các chi tiết? Những phối cảnh, những bóng, những móng tay - người ta không để ý, và đám cùng cỡ với mình, những họa sĩ khác, quy kết mình chỉ là người vẽ minh họa. Một số khách hàng quen của tôi, như một cửa hàng quà tặng ở Ridgewood đã bán hàng của tôi bao lâu nay, hơi lúng túng trước hướng đi mới này của tôi, nhưng tôi nói với họ, ‘Tôi không thể làm khác, đó là con đường tôi phải đi.’ Nếu ông không tiến lên, ông sẽ chết, đúng không?”
Bước vòng quanh cái giường dọn dẹp cẩu thả, lớp mền phủ bị tốc bừa lên, ông quan sát những bức tường với cái nhìn kính nể. “Cô thực sự bán được thứ này à?”
Ông hối tiếc vì cách diễn đạt của mình; chị quay ra phòng thủ. “Một số, chứ không được hết. Ngay cả Rembrandt với Picasso cũng đâu bán hết mọi tác phẩm của mình khi bắt đầu.”
“Ồ, không, tôi không có ý...” Ông sôi nổi. “Chúng rất ấn tượng; chẳng qua là mới bước vào mình đâu ngờ được như vầy.”
“Tôi đang thử nghiệm với màu phụt thẳng ra từ ống,” chị nói, đã nguôi và sẵn lòng tiếp tục. “Người xem, theo cách đó, tự trộn màu bằng mắt mình.”
“Tuyệt vời,” Jack Levy nói, hy vọng kết thúc phần nói chuyện này. Đó không phải sở trường của ông.
Đặt trên bàn thợ mà trên mặt đóng cáu những mảng dầu tràn ra hoặc được chùi đi, có một bếp điện nhỏ, trên đó là ấm nước đang sôi. Ông nhận thấy tranh của chị khá phóng túng nhưng ông thích bầu không khí trong đây, sự bừa bộn và những đèn huỳnh quang trong suốt như nước đá trên đầu. Mùi thuốc vẽ, giống như mùi thơm của dăm bào, nói với ông về thời xa xưa khi người ta ngồi xổm trong nhà tranh mà làm mọi thứ bằng tay. “Có lẽ ông thích trà dược thảo hơn,” chị nói. “Trà cúc cam làm tôi ngủ như con nít.” Mắt chị liếc qua ông, thăm dò. “Trừ lúc tôi thức dậy bốn giờ sau đó.” Mắc đái, chị không nói tiếp ra.
“Vâng,” ông nói. “Vấn đề là ở đó.”
Bị ngắt lời và nhận ra điều đó, chị ta đỏ mặt và xoay qua coi ấm nước, nó đang phun ra một chùm hơi nước qua miệng vòi có gắn nắp. “Tôi quên ông nói gì về loại trà gì rồi. Cúc cam hay gì nhỉ?”
Ông cự tuyệt xu hướng ngả về tâm linh của người đàn bà này. Tiếp đây dễ chị sẽ lôi ra quả cầu pha lê và mớ thẻ xăm bói Dịch lắm. Ông nói, “Tôi tưởng chúng ta đã đồng ý uống cà phê hòa tan không có cafêin, cho dù nó luôn có vị cháy.”
Mặt chị vẫn đỏ bừng bên dưới mạng tàn nhang. “Nếu ông đánh giá nó như vậy, thì chắc ông chẳng muốn uống gì.”
“Không, không, cô... bà...” Ông bỏ ý định cố gọi tên chị. “Bất cứ thứ gì ướt và nóng đều tốt. Bất cứ thứ gì cô muốn. Cô tử tế quá. Tôi không mong đợi...”
“Tôi sẽ lấy ít cà phê không cafêin và thăm chừng Ahmad. Nó ghét học khi không có tôi ra ra vào vào phòng khách; nó cảm thấy nó không được công nhận, ông biết đó?”
Teresa biến mất, và khi chị quay lại với chiếc bình to tròn đựng thứ bột nâu trên tay - một bàn tay móng ngắn, chắc nịch, làm lụng đủ thứ - Jack đã tắt bếp hâm để nước không bốc hơi cạn. Việc làm mẹ của chị phải mất hết vài phút, ông nghe thấy tiếng chị trong phòng bên kia đang đùa giỡn bằng giọng nữ thăm dò, nhẹ nhàng, và giọng chẳng mấy trầm hơn của cậu con trai ca thán và nhấm nhẩn đáp trả chị bằng những lời phủ nhận ngấm ngầm của giới học sinh trung học mà ông biết quá rõ - như thể chính sự tồn tại của người lớn là một thử thách thô bạo và không cần thiết đặt ra cho chúng. Jack cố gắng bắt chuyện theo hướng đó: “Vậy cô xem con trai mình là một cậu trai mười tám tuổi bình thường, khá điển hình à?”
“Không phải vậy sao?” Khía cạnh người mẹ của chị là một khía cạnh nhạy cảm; đôi mắt xanh lục của chị thô lố nhìn ông xuyên qua hàng lông mi không màu hẳn thỉnh thoảng phải bôi thuốc nhuộm mi, nhưng hôm nay hoặc hôm qua thì không. Tóc ngay đường chân tóc của chị sắc nhạt hơn, dịu hơn so với màu đỏ ánh kim ở trên đỉnh đầu. Hình dáng đôi môi chị, môi trên đầy đặn hơi hé một chút như người đang lắng nghe chăm chú, giúp ông hiểu rằng mình đã dùng hết đợt bộc lộ sự thân thiện ban đầu của chị. Chị khởi đầu mạnh mẽ, rồi trở nên bồn chồn, ông thấy vậy.
“Có lẽ vậy,” ông nói với chị. “Nhưng có gì đó đang khiến nó phân tâm.” Ông đi vào công việc mà vì nó ông đến đây. “Nghe này. Nó không muốn trở thành tài xế xe tải đâu.”
“Không ư? Nó bảo nó muốn mà, thưa ông...”
“Levy, Teresa. Giống như trong ‘Down by the levee’ nhưng viết khác. Ai đó đang gây sức ép với Ahmad, vì lý do nào đó. Nó có thể đạt tầm cao hơn chứ không chỉ làm tài xế xe tải. Nó là đứa thông minh, đĩnh đạc, rất hướng nội. Thứ tôi muốn nó xem là những tập giới thiệu các trường đại học gần đây chưa bị trễ hạn xét tuyển. Princeton với Perm thì quá trễ, nhưng trường Cao đẳng Cộng đồng New Prospect - cô chắc biết nó ở đâu mà, trên kia, qua con thác - và Fairleigh Dickinson với Bloomfield thì nó có thể vào được, có thể đến những trường đó bằng xe buýt nếu cô không xoay xở được tiền ăn ở. Vấn đề sẽ là giúp nó khởi đầu ở đâu đó và, tùy theo nó học hành ra sao, hy vọng chuyển dần lên. Bất cứ đại học nào ngày nay cũng đều muốn có thành phần sinh viên đa dạng, chính sách của họ là vậy, và con trai cô, với tôn giáo tự chọn của nó, và, xin lỗi phải nói điều này, với dòng máu pha trộn của nó, là một kiểu thiểu số trong thiểu số - họ sẽ vồ lấy nó ngay.”
“Nó sẽ học gì ở đại học?”
“Những gì mà bất cứ ai cũng học - khoa học, nghệ thuật, lịch sử. Chuyện về loài người, về nền văn minh. Làm sao chúng ta đạt tới đây, hiện ta có gì. Xã hội học, kinh tế học, thậm chí nhân học - bất cứ điều gì kích thích nó. Hãy để nó lần tìm con đường của mình. Sinh viên đại học thời nay ít đứa nào biết chúng muốn làm gì ngay từ đầu, và đứa nào biết thì sẽ thay đổi. Đó là mục tiêu của đại học, để cô thay đổi đầu óc cô, để cô có thể xoay xở được trong thế kỷ 21. Tôi thì không làm được. Hồi tôi học đại học, có ai từng nghe nói tới khoa tin học chưa? Ai biết về bộ gien, biết làm thế nào mà người ta vạch ra được quá trình tiến hóa? Cô, cô trẻ hơn tôi nhiều, có thể cô làm được. Những bức tranh theo phong cách mới ấy của cô - cô đang khởi đầu.”
“Thực ra chúng rất bảo thủ,” chị nói. “Trừu tượng là thứ cũ rích.” Đôi môi hé mở của chị khép lại; nhận xét của ông về hội họa thật ngốc.
Ông vội hoàn tất bài thuyết phục của mình. “Còn Ahmad...”
“Ông Levy. Jack.” Chị đã trở thành một người khác, ngồi với ly cà phê không cafêin quá nóng của mình trên một cái đôn nhà bếp cao được mua không hề sơn và chưa bao giờ được đánh bóng. Chị đốt một điếu thuốc, đoạn chống một bàn chân mang giày đế kếp vải bố xanh vào thanh ngang của ghế và bắt tréo hai chân. Quần chị, chiếc quần bò trắng chật, để lộ mắt cá chân. Những đường gân xanh hằn khắp dưới lớp da trắng, làn da trắng Ireland; hai mắt cá gầy nhỏ lộ xương so với khối đồ sộ mềm mại của phần còn lại trên cơ thể chị. Trọng lượng của Beth có nhiều hơn hai mươi năm so với trọng lượng của người phụ nữ này để dồn xuống bên dưới, chảy xệ trên đôi giày của bà và làm mông bà biến dạng. Jack, dù ông từng hút thuốc Old Golds hai gói một ngày, đã trở nên khó chịu với những người hút thuốc, ngay cả trong phòng giáo viên của trường, và mùi thuốc lá đang cháy quá quen thuộc với ông nhưng gần như là khiếm nhã. Những động tác đỏm dáng của việc châm thuốc, hít vào, và dữ dội nhả khói qua đôi môi dẩu ra của chị đã tạo cho Terry - các bức tranh của chị được ký bằng tên đó, to và rõ ràng, không kèm họ - một nét thách thức. “Jack, tôi trân trọng mối quan tâm của ông dành cho Ahmad và tôi hẳn đã trân trọng hơn nữa nếu nhà trường thể hiện bất kỳ sự quan tâm nào đến con trai tôi trước thời điểm một tháng cách ngày tốt nghiệp.”
“Ở đó chúng tôi công việc ngập đầu,” ông ngắt lời. “Hai ngàn học sinh, phân nửa chúng gọi cá biệt còn là nhẹ. Những đứa gây chuyện nhiều nhất thì được chú ý nhất. Con trai cô không hề gây rối, ấy là sai lầm của nó.”
“Dù vậy, ở giai đoạn phát triển này nó xem những thứ trường đại học đem lại, những môn học mà ông liệt kê, như bộ phận của nền văn hóa Tây phương không có Chúa, và không muốn phải chịu nhiều hơn mức nó không thể nào thoát khỏi. Ông nói nó không hề gây rối, nhưng chuyện còn hơn thế nữa: nó coi thầy giáo của nó là những kẻ gây rối, họ trần tục và ích kỷ, chỉ làm mấy thứ đó để hưởng lương - làm việc thì ít mà lại còn được nghỉ hè. Nó nghĩ họ là gương xấu. Ông có nghe thành ngữ ‘ở cao hơn’ tất thảy không?”
Levy chỉ gật đầu, để cho người phụ nữ giờ đã chuyển sang tự phụ này tiếp tục. Những điều chị biết đâu sẽ nói cho ông nghe về Ahmad có thể có ích.
“Con trai tôi ở cao hơn tất thảy,” chị tuyên bố. “Nó tin vào Thượng Đế Hồi giáo, và vào những gì kinh Qur’an nói với nó. Dĩ nhiên tôi thì không, nhưng tôi không bao giờ phá hoại niềm tin của nó. Đối với người không có nhiều đức tin, đã rứt khỏi đám Công giáo khi mới mười sáu, thì niềm tin của nó có vẻ khá đẹp.”
Vậy cái đẹp là điều khiến chị hâm mộ - nỗ lực làm ra cái đẹp trên tường, toàn bộ chỗ thuốc màu bốc mùi ngọt đang khô đi đó, và để cho con trai chị mê đắm đến cạn kiệt trong niềm mê tín dữ dội, kỳ quái. Levy hỏi, “Làm sao nó trở nên... tốt đến thế? Bộ ngay từ đầu cô đã muốn nuôi dạy nó thành người Hồi giáo hả?”
“Không, lạy Chúa,” chị nói, rít một hơi dài, đóng vai cô gái cứng cỏi, đến độ đôi mắt kích động của chị có vẻ cháy bừng cùng đầu điếu thuốc. Chị cười to, sau khi nghe chính mình nói. “Ông thấy thú vị với cú lỡ lời như vậy chứ? ‘Không, nhân danh Chúa.’ Đạo Hồi vô nghĩa với tôi - còn thấp hơn vô nghĩa nữa, chính xác là: nó bị xếp hạng âm. Và nó không có nghĩa gì hơn đối với cha thằng bé. Tôi không hề thấy Omar đến giáo đường nào cả, và mỗi khi tôi thử nêu vấn đề này anh ta lại câm như hến, và trông cau có, cứ như tôi đang xông vào chỗ tôi chẳng có phận sự gì. ‘Người phụ nữ phải phục vụ người đàn ông, chứ không cố sở hữu anh ta,’ anh ta thường nói vậy, như đang trích dẫn một thứ Kinh Thánh vậy. Anh ta đã bịa ra câu đấy. Anh ta đúng là thứ đít ngựa vênh vang, khoác lác. Nhưng hồi đó tôi còn trẻ và đang yêu - chủ yếu là phải lòng cái kẻ, ông biết đó, cái kẻ xứ lạ, thuộc thế giới thứ ba, bị bạc đãi, và việc cưới anh ấy chứng tỏ tôi có tư duy tự do, phóng khoáng.”
“Tôi biết cảm giác đó. Tôi là người Do Thái, và vợ tôi đã từng theo Tin Lành.”
“Đã từng? Bà ấy cải đạo, như Elizabeth Taylor hả?”
Jack Levy cười khùng khục và, vẫn giữ chặt những tập danh mục trường đại học thừa thãi của ông, thừa nhận, “Lẽ ra tôi không nên nói ‘đã từng’. Bà ấy không hề thay đổi, bà chỉ dừng đến nhà thờ. Trong khi chị bà ấy làm việc cho chính phủ ở Washington và rất tích cực làm việc giáo hội, giống như mọi tín đồ tân tòng ở đó. Mà cũng có lẽ lý do chỉ là nhà thờ Tin Lành duy nhất quanh đây là của dân Lithuania, mà Elizabeth thì không thể coi mình là người Lithuania.”
“ ‘Elizabeth’ là cái tên hay. Ông có thể từ nó chế ra nhiều thứ. Liz, Lizzie, Beth, Betsy. Còn với Teresa ta chỉ chế được Terry, nghe như tên con trai.”
“Hoặc giống như một họa sĩ nam.”
“Ông thấy rồi à. Phải, tôi ký theo kiểu đó bởi vì họa sĩ nữ luôn có vẻ nhỏ bé hơn họa sĩ nam, bất chấp họ vẽ tranh giá trị cỡ nào. Với kiểu này, tôi bắt họ phải đoán.”
“Cô có thể làm nhiều thứ với ‘Terry’. Terry cloth. Terri-ble. Terri-fy. Và cả Terrytoons nữa.”
“Đó là cái gì?” chị hỏi với giọng hoảng hốt. Chị muốn ra vẻ thư thái, nhưng đây là một phụ nữ yếu đuối, đã cưới loại người mà bố và những anh em Ireland của chị hẳn đã gọi là mọi đen. Không phải là mẫu người mẹ biết cầm cương vững chắc; chị đã để đứa con nắm quyền kiểm soát.
“Ồ, là thứ có lâu lắm rồi - phim hoạt hình ở rạp chiếu phim. Cô trẻ quá không nhớ nổi đâu. Một trong những chuyện khi già khú là ta hay nhớ lại những thứ không ai khác nhớ.”
“Ông đâu có già khú,” chị tự động nói. Đầu óc chị chuyển mạch, “Có lẽ tôi đã xem một số trên tivi, khi tôi còn thường xem với bé Ahmad.” Đầu óc chị lại chuyển mạch. “Omar Ashmawy rất đẹp trai. Tôi thường nghĩ anh ta giống Omar Sharif. Ông có xem ông ta trong Doctor Zhivago chưa?”
“Chỉ trong Funny Girl thôi. Mà đấy là tôi đi xem Streisand.”
“Dĩ nhiên rồi.” Chị mỉm cười, môi trên hơi hé để lộ hàm răng Ireland không hoàn hảo, những răng nanh lòi xỉ. Chị và Jack đã đạt tới giai đoạn mà mọi chuyện họ nói với nhau đều thật dễ nghe, các giác quan đang nhạy hẳn. Ngồi bắt tréo trên chiếc đôn cao không sơn, chị vuốt lại tóc tai, vươn cổ ra và uốn éo lưng chầm chậm, như thể để tháo lỏng một chỗ vặn xoắn do đứng lâu bên giá vẽ. Chị có thể làm việc này nghiêm túc đến cỡ nào nhỉ? Ông đoán chị có thể cho ra ba bức một ngày nếu chị thử.
“Đẹp trai, sao? Con trai cô có...”
“Và anh ta là tay chơi bài bridge tuyệt vời cỡ quốc tế,” chị nói, không rời mạch suy nghĩ của mình.
“Ai? Ông Ashmawy hả?” ông hỏi, dù dĩ nhiên ông biết chị muốn nói ai.
“Không, người kia kìa, ngốc ạ. Sharif.”
“Con trai cô, tôi đã thử hỏi nó, có ảnh ba nó trong phòng nó không?”
“Một câu hỏi lạ lùng đấy, ông...”
“Ôi trời. Tôi là Levy. ‘Levy’ nghĩa là sắc thuế ấy. Mấy thứ thuế trường học chẳng hạn. Hay mấy thứ thuế giữ cho sông Mississippi không chảy tràn. Tạo một liên tưởng, tôi hay làm vậy với các tên gọi. Cô làm được mà, Terrytoons.”
“Điều tôi đang định nói, ông Down-by-the-Levee ạ, là hẳn ông phải đọc được ý nghĩ người ta. Mới năm nay, Ahmad lấy mấy tấm ảnh ba trong phòng nó đem bỏ úp mặt xuống vào ngăn kéo. Nó tuyên bố rằng sao chép lại hình ảnh một người do Thượng Đế tạo ra là hành vi báng bổ - một kiểu làm giả, nó giải thích vậy với tôi. Một thứ hàng nhái, giống như túi xách Prada mà dân Nigeria bán trên đường phố. Trực giác mách bảo tôi rằng tay thầy giáo tồi tệ ở giáo đường xúi giục nó chuyện này.”
“Tồi tệ thật, terri-ble,” Jack Levy nói nhanh. Bốn mươi năm trước ông đã nghĩ mình là người dí dỏm, bẻm mép. Thậm chí ông còn mơ gia nhập nhóm bút chuyên viết truyện cười cho một trong các kịch sĩ hài Do Thái trên tivi. Trong số các bạn bè đồng lứa ở trường đại học ông từng là một chàng thông minh, một tay lợi khẩu. “Tồi tệ ra sao?” ông hỏi. “Tại sao tồi tệ?”
Ra hiệu bằng tay và mắt về phía căn phòng nơi Ahmad có thể đang lắng nghe trong khi giả vờ ngồi học, chị hạ giọng, vì vậy Jack phải bước tới một bước gần hơn. “Ahmad thường về nhà với tâm trạng rối loạn sau những buổi học kinh ấy,” chị nói. “Tôi không nghĩ ông này - tôi đã gặp ông ta, nhưng chỉ thoáng qua - thể hiện đủ đức tin để thỏa mãn Ahmad. Tôi biết con trai tôi đã mười tám và không nên ngây thơ như thế, nhưng nó vẫn mong muốn người lớn phải hoàn toàn thành thật và chắc chắn về mọi việc. Ngay cả những việc siêu nhiên.”
Levy thích cách chị nói “con trai tôi”. Ở đây có cảm giác dễ chịu hơn so với những gì ông mong đợi sau cuộc nói chuyện với Ahmad. Chị có lẽ thuộc loại phụ nữ đơn thân cố gắng tồn tại chỉ đơn thuần nhờ vào sự trơ tráo, nhưng chị cũng là kiểu người biết chăm sóc người khác. “Lý do,” ông nói với chị, hạ giọng ra điều bí mật, “khiến tôi hỏi về bức hình ba nó là do tôi tự hỏi không biết liệu... đức tin này của nó có liên quan đến tâm lý đánh giá quá cao như ta thường gặp không. Cô biết đấy - không có mặt, thì chẳng thể làm gì sai. Thường chứng kiến nhiều chuyện như vậy trong, trong...” - tại sao ông cứ luôn vạ miệng thế này? - “các gia đình da đen, con cái thường lý tưởng hóa ông bố vắng mặt và hướng toàn bộ sự giận dữ vào người mẹ tội nghiệp, đang cố hết sức mình giữ cho chúng một mái nhà.”
Teresa Mulloy quả có bực mình; chị ngồi thẳng đơ trên đôn đến độ ông cảm thấy mặt đôn tròn gỗ cứng hằn vào cặp mông căng lên của chị. “Ông nhìn các bà mẹ đơn thân chúng tôi theo kiểu đó phải không, ông Levy? Bị coi thường và chèn ép hết mực như vậy chăng?”
Bà mẹ đơn thân, ông nghĩ. Thật là một cụm từ đa cảm, làm bộ dễ thương, có phần khiêu khích. Việc trò chuyện ngày nay trở nên tẻ nhạt làm sao, mọi nhóm trên đời trừ bọn đàn ông da trắng đều trong thế phòng thủ, giơ nắm đấm lên. “Không, không hề,” ông thoái lui. “Tôi thấy các bà mẹ đơn thân thật tuyệt vời, Terry ạ - họ chính là chất keo gắn kết xã hội chúng ta lại với nhau.”
“Ahmad,” chị nói, lập tức dãn ra một chút, theo kiểu một phụ nữ nhạy cảm thường làm, “thằng bé không hề có ảo tưởng về ba nó. Tôi đã nói nó hiểu rõ rằng ba nó là một kẻ thất bại đến cỡ nào. Một kẻ thất bại ngu ngốc, cơ hội, suốt mười lăm năm qua không hề gởi cho chúng tôi lấy một bưu thiếp, mẹ kiếp, nói chi đến séc.”
Jack thích từ “mẹ kiếp” - chị đang rất nhanh trở nên thoải mái. Chị đang mặc sơ mi lao động nam, thay vì áo choàng họa sĩ, vạt áo buông ngoài quần và bộ ngực chị đội lên bên dưới hai túi áo. “Chúng tôi là một thảm họa,” chị giãi bày, vẫn hạ giọng, ngoài tầm nghe của Ahmad. Như thể làm động tác dãn cơ trong khoảng trống phụ thêm của buổi xưng tội này, chị uốn lưng, như chú mèo con, vắt vẻo trên chiếc đôn cao trần trụi, hẩy ngực ra trước thêm mấy phân. “Anh ta và tôi thật khùng, khi nghĩ chúng tôi nên cưới nhau. Đứa này nghĩ đứa kia nắm giữ câu trả lời, trong khi chúng tôi thậm chí không nói cùng ngôn ngữ, theo nghĩa đen. Dù tiếng Anh của anh ta không tệ, công bằng mà nói. Anh ta học tiếng Anh từ hồi còn ở Alexandria. Đó là một lớp nữa khiến tôi xiêu lòng, cái giọng hơi lơ lớ của anh ta, gần như ngọng, có mùi Anh. Anh ta nói nghe tao nhã lắm. Và luôn luôn tươm tất, đánh bóng giày, chải tóc. Tóc đen bóng, rậm theo kiểu ông không bao giờ thấy ở người Mỹ, hơi xoăn ở phía sau tai và ở cổ, và dĩ nhiên da anh ta, rất mịn rất đều, sẫm hơn da Ahmad nhưng đầm màu một cách hoàn hảo, giống một tấm vải được nhuộm, màu nâu ô liu pha một thoáng muội đèn, nhưng nó không bong ra dính vào tay mình...”
Chúa ơi, Levy nghĩ, cô ta đang cao hứng, cô ta sắp mô tả với mình cái dương vật đỏ tía từ thế giới thứ ba của anh ta.
Chị cảm thấy vẻ ngao ngán của ông nên dừng lại, nói. “Đừng lo nghĩ rằng Ahmad có chút đánh giá quá cao nào. Nó khinh ba nó, lẽ thường thôi.”
“Nói cho tôi biết đi, Terry. Nếu ba Ahmad còn ở đây, cô nghĩ liệu Ahmad có hài lòng đi lái xe tải sau khi tốt nghiệp trong khi lại có điểm thi đủ vào đại học không?”
“Tôi không biết. Omar chắc cũng không làm nổi ngay cả việc đó. Có khi đang lái anh ta lại đâm mơ màng và để xe trôi khỏi mặt đường. Anh ta lái xe tồi hết thuốc chữa; ngay hồi đó, dù lẽ ra phải làm người vợ trẻ dễ bảo nhưng cứ hễ ngồi lên xe là tôi giành tay lái. Tôi nói với anh ta, ‘Đó cũng là mạng sống của tôi nữa.’ Tôi hỏi anh ta, ‘Làm sao anh trở thành người Mỹ được nếu anh không biết lái xe?’ ”
Làm sao mà Omar lại hóa thành đề tài câu chuyện thế này? Jack Levy có phải là người duy nhất trên thế giới quan tâm đến tương lai của thằng nhỏ này không? “Cô phải giúp tôi,” ông hăm hở nói với chị, “để hướng tương lai của Ahmad sao cho hợp với tiềm năng của nó.”
“Ô, Jack,” chị nói, vừa mơ hồ huơ điếu thuốc vừa hơi lắc lư trên ghế, như một nữ tiên tri trên cái ghế ba chân, rồi tuyên bố. “Bộ ông nghĩ người ta nhận ra khả năng của mình giống như nước nhận ra mức nước sao? Tôi chưa bao giờ tin vào chuyện con người giống như bình đất sét, cần được người ta tạo hình. Hình dáng nằm bên trong, ngay từ ban đầu. Tôi đã đối đãi với Ahmad bình đẳng từ khi nó mười một tuổi, khi nó bắt đầu sùng đạo như thế. Tôi khuyến khích nó trong chuyện đó. Tôi đón nó ở giáo đường sau giờ học vào những tháng mùa đông. Tôi cần phải nói là tay thầy tế của nó không hề bước ra chào hỏi một tiếng. Ông ta ghét bắt tay tôi, tôi dám nói vậy. Ông ta không hề để lộ chút quan tâm nhỏ nhất đến việc cải đạo cho tôi. Nếu Ahmad đi con đường ngược lại, nếu nó chống đối cái trò Thượng Đế ngay từ đầu, kiểu tôi ngày trước, tôi cũng sẽ để mặc chuyện đó xảy ra. Tôn giáo đối với tôi chỉ là vấn đề thái độ. Đấy là cách đồng ý với cuộc đời. Ông phải có lòng tin rằng có một mục đích, nếu không ông sẽ chìm. Khi vẽ, tôi phải tin rằng cái đẹp sẽ sinh ra. Vẽ trừu tượng, ông không có một phong cảnh đẹp hoặc một cái bát đựng mấy quả cam để dựa vào, nó phải xuất phát hoàn toàn từ ông. Ông phải nhắm mắt lại, có thể nói vậy, và làm một cú nhảy. Ông phải nói đồng ý.” Sau khi phát biểu đã thỏa mãn, chị vươn người tới một cái bàn thợ và dụi tắt điếu thuốc trong một cái nắp hũ đầy tro. Động tác đó kéo lớp áo sơ mi của chị căng ra trên ngực và làm mắt chị thêm lồi. Chị đưa đôi mắt, màu xanh nhạt đờ đẫn ấy sang vị khách và nói thêm như chợt nghĩ ra, “Nếu Ahmad tin vào Thượng Đế nhiều như vậy thì hãy để Thượng Đế chăm sóc nó.” Chị làm dịu bớt vẻ vô cảm và đùa cợt trong câu ấy bằng cách chuyển sang giọng bào chữa: “Cuộc sống của ta không phải là thứ cần được kiểm soát. Chúng ta không kiểm soát việc thở của chúng ta, sự tiêu hóa của chúng ta, hoặc nhịp đập của trái tim chúng ta. Cuộc sống là thứ để sống. Hãy để nó xảy ra.”
Giờ thì chuyện đâm ra kỳ lạ. Chị ta cảm nhận được sự lo lắng của ông, nỗi muộn phiền của ông lúc bốn giờ sáng, và đang chăm sóc cho ông, giọng chị xoa nắn ông. Ông thấy thích, ở mức độ nào đó, khi phụ nữ bắt đầu lột trần suy nghĩ của họ trước mặt ông. Nhưng ông ở đây đã lâu rồi. Beth chắc giờ đang thắc mắc; ông đã nói với bà phải ghé trường Trung tâm lấy ít tài liệu về các trường đại học. Đây không phải nói dối; giờ ông đã phân phát những tài liệu ấy. “Cảm ơn chị đãi cà phê,” ông nói. “Tôi thấy buồn ngủ rồi.”
“Tôi cũng vậy. Mà sáu giờ tôi phải làm việc rồi.”
“Sáu giờ à?”
“Ca làm việc sớm ở Saint Francis. Tôi làm hộ lý. Thật tình tôi không hề muốn trở thành y tá, quá nhiều thứ hóa chất và rồi tới quá nhiều việc hành chánh; họ dần cũng đâm vênh váo như đám bác sĩ. Hộ lý làm những việc y tá thường làm. Tôi thích thực hành - làm việc với con người ngay tại đó vì những nhu cầu thực sự của họ. Nhu cầu cái bô trên giường. Ông không nghĩ tôi kiếm sống từ mấy cái đó đúng không?” Chị phác một cử chỉ, với hai bàn tay móng ngắn làm đủ các việc, về phía những bức tường đầy màu sắc.
“Không,” ông thừa nhận.
Chị ào ào tiếp. “Đó là đam mê của tôi, thói buông thả theo lạc thú của tôi - niềm chân phúc của tôi, như thằng cha trên tivi thường nói mấy năm trước. Một số được người ta mua, chắc chắn rồi, nhưng tôi chả mấy quan tâm. Vẽ tranh là đam mê của tôi. Bộ ông không có đam mê nào sao, Jack?”
Ông lùi lại; chị bắt đầu có vẻ như bị ám, một nữ tư tế trên chiếc ghế ba chân, đầu tóc tua tủa rắn. “Không hẳn.” Mỗi sáng ông ra khỏi giường cứ như gạt sang bên một tấm chăn bằng chì, và đâm đầu lao vào thêm một ngày toàn vẫy tay chào tạm biệt bọn trẻ khi chúng lướt mất vào vũng lầy của thế giới này. “Cô có bao giờ nghĩ,” ông không thể không nói thêm, “bởi đã quen chăm sóc người bệnh, rằng nên thúc đẩy Ahmad trở thành bác sĩ không? Nó có phẩm cách, có phong thái. Tôi dám giao cho nó cả mạng sống của tôi, nếu tôi bệnh.”
Mắt chị nheo lại, trở nên tinh quái và - một từ mà mẹ ông thường dùng, chủ yếu về những phụ nữ khác - thô lậu. “Học ngành y vừa lâu vừa tốn kém lắm Jack à. Và những bác sĩ tôi biết chẳng làm gì ngoài phàn nàn về công việc giấy tờ và kêu ca rằng bị các công ty bảo hiểm o ép sai khiến. Hồi xưa làm nghề này là được người ta tôn trọng và kiếm được khá tiền. Nhưng nay ngành y không còn là lĩnh vực như hồi xưa nữa. Cuối cùng nó sẽ phải xã hội hóa theo cách này hay cách khác, bác sĩ sẽ được trả lương giống như thầy giáo vậy.”
Ông bật cười to trước cú hiểm này. Chị có nhiều nước đi nhanh trí. “Và điều đó thì không tốt,” ông thừa nhận.
“Cứ để nó chờ đợi niềm đam mê của nó,” chị tư vấn cho vị giáo viên tư vấn. “Tạm thời lúc này thì cứ xe tải, đi đây đi đó. Nó nói với tôi, ‘Mẹ, con muốn đi khám phá thế giới.’ ”
“Theo tôi hiểu về bằng CDL, bây giờ cho đến năm hăm mốt tuổi nó sẽ chỉ khám phá được quanh quẩn trong New Jersey thôi.”
“Đó vẫn là khởi đầu,” chị nói, rồi lẹ làng tuột khỏi ghế đôn. Chị bỏ không cài hai nút trên cùng của chiếc sơ mi lao động nam lấm đầy thuốc vẽ, vì vậy ông thấy phần trên hai vú của chị nẩy tưng. Người đàn bà này có nhiều câu đồng ý trong mình.
Nhưng cuộc gặp gỡ đã xong; đã tám rưỡi. Levy mang ba tập giới thiệu đại học chẳng ai đoái hoài trở lại căn phòng nơi cậu trai vẫn đang ngồi học, và dừng lại bên cái bàn tròn sậm cũ nặng nề - một kiểu đồ thừa kế, nó gợi ông nhớ lại những món đồ nặng nề rầu rĩ mà ba mẹ và ông bà của ông đã có trong ngôi nhà nơi ông lớn lên, mãi tận ở đường Totowa. Nhìn từ đằng sau, cổ Ahmad trông gầy một cách mỏng manh, mép trên hai vành tai nhiều nếp xoắn, gọn ghẽ lộ ra mấy đốt tàn nhang thừa hưởng từ mẹ cậu. Levy thận trọng đặt mấy tập giới thiệu lên mép bàn và chạm vào vai cậu trai, qua lớp sơ mi trắng, để gợi sự chú ý. “Ahmad, rảnh thì lướt qua mấy tập này, xem thử có gì trong đó khiến em có hứng tới mức cần trao đổi với tôi không. Đổi ý về việc nộp đơn vẫn chưa trễ đâu.”
Cậu trai cảm nhận cú chạm đó liền đáp lại, “Đây là thứ đáng chú ý nè, thầy Levy.”
“Cái gì vậy?” Ông cảm thấy gần gũi và dễ chịu hơn với cậu trai này, sau khi đã gặp mẹ cậu.
“Đây là một câu tiêu biểu mà họ sẽ hỏi.”
Levy đọc qua vai cậu:
55. Bạn đang lái xe bồn và hai bánh trước bắt đầu trượt. Trường hợp nào sau đây có khả năng xảy ra nhất?
a. Bạn sẽ đánh tay lái ngược lại như cần thiết để giữ vững kiểm soát.
b. Độ sánh của chất lỏng sẽ điều chỉnh toa bồn.
c. Độ sánh của chất lỏng sẽ điều chỉnh đầu kéo.
d. Bạn sẽ tiếp tục đi theo đường thẳng và cứ lao tới bất chấp bạn bẻ lái cỡ nào.
“Nghe có vẻ một tình huống khá xấu,” Levy thừa nhận.
“Theo thầy câu trả lời là câu nào?”
Ahmad đã cảm thấy người đàn ông đến gần, và rồi cú chạm đường đột, nhiễm độc trên vai. Bây giờ cậu cảm nhận được, quá gần đầu cậu, cái bụng của người đàn ông đó, hơi ấm từ nó phả ra mang theo một mùi, nhiều mùi - một chiết xuất hỗn hợp mồ hôi và rượu, tính Do Thái và tính không có Chúa, một mùi ô uế bị khuấy lên do cuộc trao đổi với mẹ Ahmad, bà mẹ đáng ngượng mà cậu cố giấu, cố giữ cho riêng cậu. Hai giọng người lớn bện vào nhau sặc mùi tán tỉnh, thật ghê tởm, hai con thú già nua ngoại giáo nảy sinh thiện cảm với nhau trong phòng bên. Ông Levy, sau khi tắm mình trong chuỗi lảm nhảm của chị, trong niềm khao khát vô độ muốn buộc cả thế giới chấp nhận cái nhìn sến sẩm của chị về bản thân mình, giờ nghĩ ông được quyền đóng một vai thân thiện, như người cha, với con trai chị. Lòng thương hại và tính tự phụ đã thúc đẩy cảm giác gần gũi hôi hám, khó coi này. Nhưng kinh Qur’an kêu gọi người ngoan đạo phải có thái độ lịch sự; tên Do Thái này, dù tự mời tới đây, vẫn là khách trong lều của Ahmad.
Kẻ xâm nhập này uể oải đáp, “Tôi không biết, cậu bé ạ. Độ sánh chất lỏng không phải là thứ tôi tiếp xúc thường xuyên lắm. Cho tôi chọn câu ‘a’, đánh tay lái ngược đi.”
Bằng một giọng lặng lẽ giấu kín cảm giác trào dâng đắc thắng nho nhỏ trong cậu, Ahmad nói, “Không, câu trả lời là ‘d’. Em thấy nó trên mấy tờ đáp án họ cho mình.”
Cái bụng cạnh tai cậu phát ra tiếng ùng ục bồn chồn, và khuôn mặt cậu không thấy phía trên cái bụng ấy lẩm bẩm. “Hơ. Đừng cố công lèo lái. Cũng hao hao điều mẹ cậu vừa nói với tôi. Hãy thư giãn. Thuận theo ân phước dành cho của cậu.”
“Một lát sau xe tải sẽ tự chậm lại,” Ahmad giải thích.
“Ý muốn của Allah,” ông Levy nói, cố tỏ ra đùa cợt, hoặc thân thiện: cố chen mình vào nơi mà phần sâu kín của Ahmad đã đóng chặt, đầy tràn Đấng Bao la.
Mặt tiếp giáp giữa trường Trung tâm cùng khuôn viên xưa cực kỳ rộng rãi của nó với đất đai tư hữu của thành phố đã trở nên phức tạp hơn nhiều so với những năm hồi các sân chơi còn mở rộng phía sau trường, không rào chắn, về phía một con phố gồm những ngôi nhà kiểu thời Victoria đa dạng và cách xa nhau đến độ trông cứ như ngoại ô. Vùng này, ở phía Tây Bắc Tòa Đô chính tuyệt mỹ, là lãnh địa của tầng lớp trung lưu kiếm tiền nhờ các nhà máy xay dọc con sông, cách một quãng đi bộ ngắn từ khu nhà trọ của dân lao động ở mạn dưới khu thương mại một thời tấp nập. Nhưng, nghĩ kỹ, Jack Levy nhận thấy những ngôi nhà gần như ngoại ô này đã trở thành khu cho thuê bình dân. Các tay thầu, vốn luôn tìm cách cắt giảm chi phí, đã chia chúng thành nhiều căn hộ và phân nhỏ các bãi cỏ rộng trước nhà, hoặc không thì xóa bỏ luôn để có chỗ xây nhà phố cho thuê giá rẻ. Áp lực dân số và những bước xâm lấn của bọn ưa phá hoại đã ăn vào những lô đất trống đầy cỏ của trường và cuối cùng khiến cho sân bóng bầu dục, vốn vào mùa xuân trở thành điểm thi đấu điền kinh, và các sân bóng chày, mà khu vực sân ngoài vào mùa bóng bầu dục trở thành sân bóng cho đội tuyển dự bị của trường, bị dời đi xa thêm mười lăm phút xe buýt, một việc được đủ loại hội đồng thành phố cho là một sự tái sắp xếp khôn ngoan và có lợi, tới khu đất mua lại của một trại bò sữa cũ, Whelan & Sons Dairy, sữa của khu này đã đóng góp canxi cho xương của nhiều thế hệ trẻ New Prospect. Những đồng cỏ nội ô thành phố đã trở thành khu ổ chuột đông nghẹt.
Trường trung học to lớn này và mấy tòa nhà phụ hồi đó được cánh thợ nề Ý xây tường bao quanh, tường ấy sau này lại bị những cuộn dây kẽm gai sáng giới đặt chồng lên. Việc lập rào chắn này được làm từng chút một, đuổi theo những lời khiếu kiện, các vụ đập phá và những đợt bùng phát tranh graffiti xịt tường. Những thành lũy gỉ sét, nham nhở này tạo ra những khu vực tách biệt ngoài ý muốn, kiểu như mấy thước vuông sân xi măng nứt nẻ chạy dọc theo tòa dinh thự bằng gạch vàng bị vùi lấp phân nửa chứa những nồi hơi khổng lồ, vốn xưa đốt bằng than, vẫn phả hơi nước vỗ đập hung bạo vào từng lớp học. Một bức tường gạch vàng còn gắn bảng bóng rổ nhưng vòng rổ bị bẻ gập một góc gần như thẳng đứng bởi những anh chàng bắt chước phong cách úp-rổ-rồi-đu của mấy tay chuyên nghiệp chơi trong NBA. Cách đó hai mươi bước, trong tòa nhà chính, những cánh cửa đôi có gắn thanh chống va đập bên trong được chặn mở lúc thời tiết ấm; chúng dẫn trực tiếp tới cầu thang thép đi xuống tầng hầm có những buồng thay quần áo, nam một đầu nữ một đầu và, ở giữa, cửa hàng ăn tự phục vụ, xưởng mộc và xưởng máy tiện dành cho học sinh trường nghề. Dưới chân, trong những vết nứt trên nền xi măng là cỏ dại, cây hoa phổi, bồ công anh và những đụn nhỏ hạt li ti, ánh lên như bã cà phê, từ lớp đất bên dưới mà lũ kiến mang lên trên. Những nơi xi măng bị xói mòn hoàn toàn và rã thành đất, các thứ cỏ dại cao hơn, rau sam, cây chữa rắn cắn, cây sữa đông và một loài cúc dại đã bén rễ, vươn những cọng thân mảnh khảnh lên trong ánh ngày dài.
Tại khu đất đầy cát sỏi và không ai thèm đến tuần tra này, chẳng dùng được vào việc gì với vòng bóng rổ méo mó ngoại trừ để lẻn vào hút hít hoặc làm một ngụm hoặc các cậu trai xung đột nhau gặp nhau làm một cuộc sống mái, Tylenol đón đầu Ahmad, còn đang mặc quần đùi thể thao. Xe buýt của trường đã đưa cậu đến bãi đậu xe sau buổi tập ở nơi trước là nông trại cách bãi đậu mười lăm phút đi xe. Hôm nay cậu có mười phút để tắm, thay quần áo rồi chạy qua bảy dãy nhà tới thánh đường để dự lớp học kinh Qur’an mỗi tuần hai lần; cậu đã hy vọng tiết kiệm ít nhiều đường đất bằng cách đi tắt qua những cánh cửa đôi giờ này chắc để ngỏ. Vào cái giờ trễ tràng như vầy, khu này thường vắng vẻ, trừ dăm học sinh lớp chúi đến đây tập ném rổ, chẳng nề hà cái vòng rổ bị bẻ lệch một góc. Nhưng hôm nay một nhóm cả da đen lẫn Mỹ La tinh, mà băng đảng được khẳng định qua những sợi thắt lưng xanh đỏ trên cái quần quá khổ lụng thụng cùng những dải vải buộc đầu và băng trùm đầu, đang hòa lẫn phóng túng bên nhau, cứ như thời tiết dễ chịu này đã tuyên bố một cuộc đình chiến.
“Ê, thằng Ả Rập.” Tylenol đứng chắn ngay trước mặt cậu, kèm theo vài tên khác mặc áo thun xanh lam bó sát. Ahmad cảm thấy nguy nan, gần như trần trụi trong cái quần chạy bộ, đôi vớ sọc, đôi giày đế núm cực nhẹ và áo sát nách sũng mồ hôi cả trước lẫn sau thành hình con bướm đen; cậu cảm thấy mình thật đẹp, khi phơi trần cặp chân tay dài như thế, cái đẹp như một lời lăng nhục đối với bọn côn đồ của thế giới này.
“Ahmad,” cậu chỉnh lại, và vẫn đứng đó nghe hơi nóng do gắng sức, do những cú chạy nước rút và nhảy cao muốn vỡ tung tim, dâng lên từ các lỗ chân lông của cậu. Cậu cảm thấy mình sáng chói, và đôi mắt nhỏ sâu của Tylenol nheo lại, nhìn vào cậu.
“Nghe nói mày đến nhà thờ nghe Joryleen hát. Sao vậy?”
“Cô ấy kêu tôi đến.”
“Kêu cái cục cứt. Mày là thằng Ả Rập. Mày không được đến đó.”
“Mà tôi đã đến rồi. Mọi người rất thân thiện. Có gia đình còn bắt tay và cười toe toét với tôi.”
“Họ không biết mày là ai. Mày vào đó được là nhờ dối trá.”
Ahmad đứng hơi thủ thế, hai bàn chân trong đôi giày nhẹ tênh đặt hơi xa nhau giữ thăng bằng, đón đội cú đòn sắp giáng xuống của Tylenol.
Nhưng cái nheo mắt bực bội đã trở thành một nụ cười khẩy. “Sau đó người ta thấy hai đứa bay đi bộ với nhau.”
“Phải, sau buổi lễ. Thì sao?”
Bây giờ, chắc chắn đòn hành hung sẽ xảy ra. Ahmad dự tính vờ ngả đầu sang trái và sau đó thọc tay phải vào phần bụng mềm của Tylenol, sau đó lên gối thật mạnh. Nhưng đối phương đã để cho nụ cười khẩy nở thành một nụ cười nhăn nhở. “Thì đâu có sao, theo con bé. Có mấy chuyện nó muốn tao nói với mày.”
“Ồ, vậy hả?” Những tên khác, bọn lâu la mặc sơ mi xanh, lắng tai nghe. Kế hoạch của Ahmad là, sau khi cho Tylenol thở dốc và gập đôi người trên nền xi măng bể nát, cậu sẽ luồn lách giữa mấy tên đang há hốc kinh ngạc này để trú vào chỗ tương đối an toàn của ngôi trường.
“Con bé nói nó ghét mày. Joryleen nói nó chả thèm sục con mẹ họ gì vì mày đâu. Mày biết sục con mẹ họ là gì không, thằng Ả Rập?”
“Tôi có nghe mấy từ đó.” Cậu cảm thấy mặt cậu đanh lại, như thể có thứ gì đó ấm đang dần phủ lên đó.
“Vậy nên tao đâu thèm quan tâm gì mày với Joryleen nữa,” Tylenol kết luận, chồm tới gần hơn, gần như là đắm đuối. “Tụi tao cười nhạo mày, hai đứa tao. Nhất là khi tao chơi con nhỏ. Gần đây tụi tao chơi hoài. Sục con mẹ họ là khi mày tự làm vụ đó một mình, giống như tất cả bọn Ả Rập chúng mày. Tụi bay đồng tính ráo trọi, trời ạ.”
Đám khán giả quanh chúng cười ầm, và Ahmad biết qua độ nóng trên mặt rằng cậu đang đỏ rụng lên. Điều này làm cậu cực kỳ tức giận đến mức khi cậu điên cuồng len qua những tấm thân vạm vỡ kia hướng về phía dãy cửa dẫn đến phòng thay quần áo, đã trễ giờ tắm, trễ giờ vào học, không ai nhúc nhích toan ngăn cậu lại. Thay vào đó là những tiếng huýt sáo và la ó đằng sau cậu, như thể cậu là một cô gái da trắng với cặp giò đẹp.
Thánh đường, khiêm tốn nhất trong số mấy thánh đường ở New Prospect, chiếm tầng hai phía trên một tiệm làm móng và một quầy đổi chi phiếu, trong một dãy cửa hàng nhỏ gồm một hiệu cầm đồ cửa sổ bám đầy bụi, một tiệm sách cũ, một ông sửa giày kiêm thợ đóng xăng đan, một phòng giặt ủi người Hoa ở chân một đoạn cầu thang ngắn, một cửa hàng pizza, và một hiệu tạp phẩm chuyên thức ăn Trung Đông - đậu lăng khô, đậu răng ngựa, bột đậu hồi trộn dầu hummus và mứt mật ong trộn vừng halvah, rau đậu xay ướp gia vị falafel và bột couscous và rau trộn tabouli đóng trong bao bì in đơn giản, trông là lạ ở chỗ thiếu hình và thiếu chữ in to tướng, trong con mắt Mỹ của Ahmad. Khoảng bốn dãy nhà về phía Tây, nơi được gọi là khu Ả Rập bắt đầu với những người Thổ và Syria làm thợ thuộc da và thợ nhuộm trong mấy nhà máy cũ, chạy dài theo mé bên này của phố Main, nhưng Ahmad không bao giờ mon men đến đó; việc khám phá căn cước Hồi giáo của cậu kết thúc tại thánh đường. Thánh đường nhận cậu vào khi cậu mười một tuổi; nó cho cậu được sinh ra lần nữa.
Cậu mở một cánh cửa xanh bong tróc, số 2781½, giữa tiệm làm móng và cơ sở đổi tiền, có cửa kính to tướng che rèm sáo dài màu vàng, quảng cáo ở đây ĐỔI CHI PHIẾU: Phí tối thiểu. Cầu thang hẹp dẫn lên al-masjid al-jāmi’, nơi sấp mình. Cánh cửa màu xanh và cầu thang dài không cửa sổ từng làm cậu sợ trong mấy lần đầu đến đây, tìm kiếm thứ gì đó mà cậu đã nghe nói trong câu chuyện gẫu của mấy bạn học da đen về thánh đường của chúng, những nhà thuyết giáo vốn “không chấp nhận bất cứ thứ thối tha nào của lão trển.” Những bạn trai khác cùng tuổi cậu đã gia nhập ca đoàn nhà thờ hoặc cấp sói Hướng đạo sinh. Cậu nghĩ cậu có thể tìm trong tôn giáo này dấu vết người cha đẹp trai của cậu, đã lui đi đúng vào khi ký ức cậu bắt đầu hình thành. Người mẹ nông nổi của cậu, vốn không bao giờ đi lễ nhà thờ, và lên án những ràng buộc từ tôn giáo của chính chị, đã chiều ý mà lái xe chở cậu đi, những lần đầu đó và sau này, khi thời khóa biểu của chị cho phép, đến thánh đường trên tầng hai này, cho đến khi cậu là thiếu niên và tương đối an toàn trên đường phố. Đại sảnh được cải tạo thành nơi thờ phụng đã từng là phòng dạy múa, và văn phòng của thầy tế chiếm khoảng tiền sảnh nơi ngày trước đám học trò tới học nhảy thiết hài và khiêu vũ phổ thông, lũ trẻ con thì đi cùng bố mẹ, chờ đến giờ học. Vụ thuê mướn và cải tạo chỗ này diễn ra từ thập niên cuối của thế kỷ trước, nhưng Ahmad có cảm tưởng không khí ngột ngạt vẫn mang âm vang của một cây dương cầm bị nện ầm ĩ và hơi hướng của sự ráng sức vụng về, báng bổ. Những tấm ván sàn cong queo, mòn vẹt nơi biết bao bước chân huỳnh huỵch luyện tập giờ được phủ thảm phương Đông cỡ lớn, lớp này chồng lớp kia, rồi thảm đến lượt mình cũng lộ ra đôi chỗ sờn rách.
Một lao công, một ông già Li Băng nhăn nheo với tấm lưng còng và một chân què, đang hút bụi mấy tấm thảm và dọn dẹp văn phòng của ông thầy tế cùng với gian giữ trẻ được tạo ra để thỏa mãn thói quen giữ trẻ Tây phương, nhưng các cửa sổ, đủ cao để làm nhụt chí những ai toan dòm ngó những người khiêu vũ hoặc người thờ phượng, lại vượt quá tầm với của người lao công tật nguyền, và mờ đục đi vì bụi bẩn tích tụ. Nhìn qua những ô cửa ấy chỉ thấy mây, và những đám mây đều tối thui. Ngay cả lễ ṣalāt al-Jum’a vào thứ Sáu, khi một bài giảng đạo được thuyết trên bục, khu sấp mình vẫn thưa thớt, trong khi những thánh đường hiện đại chủ nghĩa hưng thịnh ở Harlem và Jersey City đầy nhóc dân mới nhập cư từ Ai Cập, Jordan, Malaysia và Philippines. Cộng đồng Hồi giáo da đen ở New Prospect, và những kẻ bỏ đạo ủng hộ tổ chức Quốc gia Hồi giáo, chỉ quanh quẩn trong các phòng rầm thượng và phòng hành lễ ở mặt tiền cửa hàng mà thôi. Shaikh Rashid mong mở một kuttab ở một trong các gian trên tầng ba của ông ta để dạy kinh Qur’an cho hàng đàn trẻ con độ tuổi tiểu học, song chẳng thành hiện thực là mấy. Những buổi học mà Ahmad bắt đầu cách nay bảy năm cùng bảy tám đứa khác, trong độ tuổi từ chín đến mười ba, nay chỉ mình cậu là học sinh duy nhất còn theo. Chỉ mình cậu với thầy giáo, mà giọng nói êm ái dù gì cũng đạt hiệu quả tốt nhất với một lượng khán giả nhỏ. Ahmad không hoàn toàn thoải mái với ông thầy, nhưng, như kinh Qur’an và các Hadith ra lệnh, cậu sùng kính ông ta.
Trong suốt bảy năm Ahmad vẫn đến một tuần hai lần, trong một tiếng rưỡi, để học kinh Qur’an, nhưng phần thời gian còn lại cậu không có cơ hội sử dụng tiếng Ả Rập cổ điển. Thứ ngôn ngữ hùng biện này, al-lugha al-fuṣḥā, vẫn cứ ngắc ngứ trong miệng cậu, với tất cả những âm tiết trong cổ họng và những phụ âm nhấn giọng có chấm của nó, và làm rối mắt cậu: kiểu chữ dính thành chuỗi, với những dấu phụ lắt nhắt kèm theo, cậu thấy trông nhỏ xíu, và việc đọc từ phải sang trái vẫn còn đòi hỏi phải có thao tác chuyển hộp số trong đầu cậu. Khi các bài học, sau khi từ từ đi hết văn bản thiên kinh, được ông thầy phân tích, tóm tắt và tinh lọc, Shaikh Rashid để lộ ông ta thích những chương kinh có từ sơ kỳ Mecca, ngắn hơn, mang chất thơ cùng xúc cảm mạnh mẽ và bí ẩn hơn so với những đoạn dài lê thê chán ngắt trong nửa đầu của thiên kinh, trong đó Đấng Tiên tri Mohammed khởi sự cai trị Medina với những luật lệ chi li và những suy tính thế tục.
Hôm nay thầy giáo nói, “Chúng ta hãy lật sang ‘Al-Fil’ [Con voi]. Đó là chương một trăm lẻ năm.” Vì Shaikh Rashid không muốn làm ô nhiễm tiếng Ả Rập cổ mà học trò ông phải gian nan lắm mới học được bằng những âm thanh của thứ tiếng hiện đại thông tục, al-lugha al-’āmmiyya, thứ phương ngữ Yemen liến thoắng của ông, ông tiến hành các buổi học bằng thứ tiếng Anh lưu loát nhưng có phần trịnh trọng, với đôi phần gớm chán, đôi môi tím lịm đóng khung trong đám râu ria gọn gàng mím lại như để giữ vững một sự xa cách khinh khỉnh. “Hãy đọc cho ta nghe với chút cảm xúc nhịp nhàng,” ông nói với Ahmad. Ông nhắm mắt để nghe rõ hơn; mi mắt nhắm của ông để lộ mấy mao mạch tía tỏa như mạng nhện, nổi rõ trên khuôn mặt trắng như sáp.
Ahmad đọc câu cầu khẩn công thức “bi-smi llāhi r-raḥ-māni r-raḥīm” (Nhân danh Thượng Đế rất mực độ lượng, rất mực nhân từ) và, với vẻ căng thẳng vì ông thầy đòi hỏi phải có nhịp điệu cảm xúc, cậu đọc to câu đầu tiên khá dài của chương: “a-lam tara kayfa fa’ala rabbuka bi-aṣḥābi ‘l-fīl.” (Há ngươi không thấy Chúa tể của ngươi đã đối phó với đoàn quân cưỡi voi như thế nào ư?) Mắt vẫn nhắm khi ngả vào tấm nệm của chiếc ghế xoay rộng rãi có lưng tựa cao màu xám bạc, nơi ông ngồi tại bàn làm việc mà tiếp đứa học trò đang ngồi nơi góc bàn trên chiếc ghế dựa vuông đơn giản bằng nhựa đúc như kiểu thường thấy trong nhà ăn của một phi trường thành phố nhỏ, ông thầy nhắc nhở, “Ṣ, ḥ: hai âm riêng biệt, không phải ‘sh’. Phát âm như trong, ừm, trong ‘asshole’. Tha lỗi cho ta; đó là từ duy nhất trong ngôn ngữ của bọn ma quỷ nảy ra trong đầu ta. Đến âm tắc thanh hầu, đừng nhấn mạnh quá; tiếng Ả Rập cổ không phải là thứ ngôn ngữ đánh lưỡi châu Phi. Lướt âm một cách trang nhã, như thể nó là bản năng thứ hai. Dĩ nhiên, nó là vậy với người bản ngữ, và những học sinh đủ siêng năng. Giữ đúng nhịp điệu, bất chấp những âm khó. Nhấn âm tiết cuối, âm tiết bắt vần. Còn nhớ quy tắc đó không? Trọng âm rơi vào một nguyên âm dài giữa hai phụ âm, hoặc vào một phụ âm được theo sau bởi một nguyên âm ngắn rồi tới hai phụ âm. Làm ơn nói tiếp đi, Ahmad.” Ngay cả cách phát âm từ “Ahmad” của ông thầy cũng có cái lưỡi bén mềm mại, sự uốn lượn đầy xúc cảm, của âm sát vòm họng.
“... a-lam yaj’al kaydahum fī taḍlīl...”
“Tăng mạnh âm ‘līl’ đó,” Shaikh Rashid nói, mắt vẫn nhắm, run run như có một cục thạch bên dưới. “Em có thể nghe nó kể cả trong bản dịch cổ hồi thế kỷ 19 của đức cha Rodwell: ‘Há Ngài đã không phá hỏng kế hoạch của bọn chúng hay sao?’ ” Mắt ông hé mở khi ông giải thích, “Những người hoặc bạn đồng hành, ý là vậy, của con voi. Chương này được cho là muốn đề cập đến một sự kiện có thật, một cuộc tấn công vào Mecca của Abraha al-ḥabashī, tổng đốc Yemen, vùng đất đầy cây oải hương của tổ tiên chiến binh của ta. Quân đội vào thời đó dĩ nhiên là phải có voi; voi là xe tăng Sherman M1, là xe Humvee bọc thép của thời ấy; chúng ta hãy hy vọng chúng được trang bị lớp da dày hơn những chiếc Humvee bất hạnh được cấp cho binh lính dũng cảm của Bush ở Iraq. Sự kiện lịch sử này được cho là xảy ra khoảng thời điểm Đấng Tiên tri ra đời, năm 570 Công nguyên. Ông hẳn đã nghe họ hàng - không phải bố mẹ ông, vì bố ông chết trước khi ông ra đời còn mẹ ông chết khi ông lên sáu, mà có lẽ là ông nội ông, ‘Abd al-Muṭṭalib, và chú ông, Abū Ṭalib - nói về trận đánh huyền thoại này, bên ngọn lửa trại của bộ tộc Hashim. Có một thời gian ông được giao cho một vú nuôi người Bedouin, và có lẽ từ bà này, người ta cho là vậy, ông đã hấp thu sự thuần khiết thần thánh của tiếng Ả Rập.”
“Thưa thầy, thầy nói ‘được cho là’, nhưng câu đầu tiên của chương này hỏi, ‘Há ngươi không thấy ư?’ - như thể Đấng Tiên tri và những người lắng nghe ông đã thấy nó.”
“Bằng huệ nhãn,” thầy giáo thở dài. “Bằng huệ nhãn, Đấng Tiên tri đã thấy nhiều thứ. Còn chuyện cuộc tấn công của Abraha có trong lịch sử hay không, thì các học giả, tuy cùng thành kính, cùng vững tin như nhau rằng kinh Qur’an khởi xuất nhờ thần hứng, lại bất đồng. Hãy đọc cho ta nghe ba câu cuối, là ba câu chứa đầy thần hứng đặc biệt sâu xa. Giữ hơi thở đều. Ưu tiên đẩy hơi qua mũi. Cho ta nghe được gió sa mạc.”
“wa arsala ‘alayhim ṭayran abābīl,” Ahmad ngân nga, cô buông giọng mình vào nơi có lực hút và cái đẹp sâu hơn trong cổ họng, để cậu cảm thấy sự rung động thần thánh trong các xoang mũi cậu. “tarmīhim b-ḥijāratin min sijjīl,” cậu tiếp tục, gắng sức làm nên một độ ngân vang om kín ít nhất là trong tai mình, “fa-ja ‘alahum ka- ‘asfin ma’kūl.”
“Tốt hơn đấy,” Shaikh Rashid gật gù một cách biếng nhác, ra hiệu chấm dứt bằng cách phẩy bàn tay trắng mềm mại với những ngón tay dài nghều ngào, dù rằng thân thể ông nhìn chung mảnh mai và nhỏ nhắn, bên trong chiếc áo chùng caftan thêu tinh xảo. Bên dưới lớp áo, ông mặc thứ quần lót màu trắng được gọi là sirwāl, và quanh cái đầu bé xíu là cái mũ ren trắng không vành, ’amāma, xác định ông ta là thầy tế. Đôi giày đen của ông, nhỏ xíu và cứng ngắc như giày trẻ con, thò ra khỏi gấu áo caftan khi ông nhấc chân đặt lên chiếc đôn gác chân cũng bọc loại vải sang trọng lấp lánh hàng ngàn sợi chỉ bạc như chiếc ghế bành giống ngai vàng mà từ trên đó ông ban lời giáo huấn. “Và những câu kinh tuyệt vời đó nói gì với chúng ta?”
“Chúng nói với chúng ta,” Ahmad đánh bạo, đỏ mặt xấu hổ vì mình đang bôi bác văn bản thiên kinh bằng một lời diễn giải luộm thuộm, chưa kể còn không dựa mấy vào khả năng đọc trực tiếp tiếng Ả Rập cổ mà chủ yếu vào việc lén lút nghiên cứu những bản dịch tiếng Anh, “chúng nói với chúng ta rằng Thượng Đế phái chim bay từng đàn đến, quăng chúng vào những viên đá đất nung và làm cho bọn cưỡi voi thành như lá cỏ bị nhai nuốt. Bị diệt sạch.”
“Phải, đại khái là vậy,” Shaikh Rashid nói. “ ‘Những viên đá đất nung’, như em diễn tả, có lẽ tạo thành một bức tường mà sau đó đổ ập xuống, dưới cơ man nào là chim, nó vẫn còn bí ẩn với chúng ta ở mức nào đó, dù chắc hẳn trong suốt như pha lê trong nguyên bản kinh Qur’an khắc vào đá ở trên Thiên đường. Ôi, Thiên đường; ai cũng nôn nóng về đó.”
Cảm giác đỏ mặt của Ahmad từ từ tan đi, để lại trên mặt cậu một lớp váng khó chịu. Ông thầy tế lại đã nhắm mắt mơ màng. Khi sự im lặng căng ra đến khốn khổ, Ahmad hỏi, “Thưa thầy, bộ thầy cho rằng phiên bản chúng ta có đây, được các vị trưởng giáo caliph đầu tiên san định nội trong hai mươi năm sau khi Đấng Tiên tri tạ thế, vẫn ít nhiều chưa hoàn hảo so với phiên bản vĩnh cửu sao?”
Ông thầy tuyên bố, “Những bất toàn tất đã nằm trong chính chúng ta - trong sự ngu dốt của chúng ta, và trong những ghi chép của các môn đệ và thư lại đầu tiên từ lời của Đấng Tiên tri. Chẳng hạn, chính nhan đề của chương này có thể là do người ta ghi sai về quốc vương của Abraha, Alfilas, vần cuối bị đánh mất nên còn lại là al-Fīl - ‘con voi.’ Có thể cho rằng những bầy chim là ẩn dụ chỉ một kiểu phi đạn nào đó được máy bắn đá phóng đi, bằng không chúng ta sẽ phải chấp nhận hình ảnh thô vụng rằng những sinh vật có cánh, không kinh khủng bằng thần điểu Roc trong Ngàn lẻ một đêm nhưng có lẽ đông đảo hơn, đang nghiền mỏ vào những viên gạch nung, bi-ḥijāratin. Em sẽ nhận thấy rằng chỉ trong câu kinh này, câu thứ tư, mới có những nguyên âm dài không rơi vào cuối câu. Tuy Đấng Tiên tri coi thường danh xưng nhà thơ, thế nhưng ông, nhất là trong những câu vào sơ kỳ Mecca này, đã đạt được những hiệu ứng phức tạp. Nhưng, phải, phiên bản được truyền tới chúng ta, tuy gọi nó là bất toàn sẽ là báng bổ, thì, bởi sự ngu dốt phàm trần của chúng ta, lại rất cần được lý giải, và những lời lý giải, trong tiến trình mười bốn thế kỷ, lại rất khác nhau. Nghĩa chính xác của từ abābīl chẳng hạn, qua bao thời gian như thế vẫn còn là phỏng đoán, vì nó không xuất hiện ở đâu khác. Có một thuật ngữ trong tiếng Hy Lạp, Ahmad thân mến, để chỉ một từ độc nhất và vì thế bất khả xác định như vậy: hapax legomenon[2]. Cũng trong chương đó, sijjīl là một từ bí ẩn khác nữa, dù nó xuất hiện ba lần trong thiên kinh này. Chính Đấng Tiên tri đã dự đoán những khó khăn kiểu ấy, và trong câu thứ bảy của chương ba, ‘Gia đình Al-Imran’, đã thừa nhận rằng một số câu thì rõ ràng - muḥkamāt - nhưng những câu khác chỉ có Thượng Đế mới hiểu. Những đoạn không rõ ràng đó, vốn được gọi là mutashābihāt, luôn bị kẻ thù của đức tin đích thực cố tìm cho ra, những kẻ ‘trong lòng có ý tưởng lệch lạc’ như Đấng Tiên tri diễn đạt, trong khi con người ngoan đạo và thông thái nói, ‘Chúng tôi tin nơi nó; toàn bộ nó xuất phát từ Thượng Đế của chúng tôi.’ Ta có làm con chán không, cưng của ta?”
“Ồ, không,” Ahmad đáp, thật lòng; vì khi ông thầy tiếp tục lẩm bẩm một cách hờ hững, đứa học trò cảm thấy một vực thẳm đang mở ra bên trong nó, một đáy sâu của cái xa xưa không thể tiếp cận và không thể hiểu thấu.
Ông thầy tế, chồm tới trên chiếc ghế kỳ vĩ, nói tiếp bằng thần thái thuyết trình hăm hở, với những động tác đầy phẫn nộ của đôi tay có ngón dài. “Bọn học giả Tây phương vô thần với tâm địa xấu xa mù quáng cứ cho rằng Thiên Kinh là những đoạn lộn xộn và những văn kiện giả mạo chắp vào nhau một cách vội vã tùy tiện và sắp xếp theo thứ tự ngô nghê nhất từng có trên đời, thứ tự theo khối lượng đơn thuần, những chương dài nhất đi trước. Họ quả quyết đã tìm ra vô số những chỗ tối tăm và khó hiểu. Chẳng hạn như đã từng có một cuộc tranh luận gần đây, khá thú vị về những tuyên bố học thuật của một chuyên gia người Đức về ngôn ngữ Trung Đông cổ, một tay Christoph Luxenberg nào đó, cho rằng nhiều từ khó hiểu của kinh Qur’an sẽ biến mất nếu đừng đọc các từ ấy theo tiếng Ả Rập mà đọc như các từ đồng âm khác nghĩa trong tiếng Syria. Quái gở nhất là hắn khẳng định rằng, trong hai chương tuyệt vời ‘Al-Dukhn’ [Khói mờ] và ‘Al-Tur’ [Núi], những từ mà theo truyền thống được đọc là ‘những trinh nữ với đôi mắt to đen láy’ thực ra có nghĩa là ‘những quả nho khô trắng’ ‘trong veo như pha lê’. Tương tự, những thiếu niên vĩnh viễn tươi trẻ, sánh với những hạt trân châu rải rác, được trích dẫn trong Chương ‘Al-Insn’ [Loài người] phải được diễn dịch thành ‘những quả nho khô ướp lạnh’ - ám chỉ một thức uống bằng nho khô mát được khoản đãi hết mực lịch lãm tại Thiên đường trong khi những kẻ bị kết tội phải uống thứ kim loại nấu chảy ở Địa ngục. Ta sợ cách xét lại này sẽ khiến Thiên đường kém hấp dẫn đi nhiều đối với đông đảo thanh niên. Em nghĩ gì về điều đó, với tư cách một chàng trai dễ thương?” Với vẻ nhiệt tình hầu như hài hước, ông thầy chồm thẳng tới trước, đặt hai bàn chân xuống sàn nhà khiến đôi giày đen thoát khỏi tầm nhìn; môi và mắt ông mở to chờ đợi.
Giật mình, Ahmad nói, “Ồ, không. Em khát khao Thiên đường,” dù vực thẳm bên trong cậu tiếp tục mở rộng.
Shaikh Rashid dẫn tới: “Nó không chỉ hấp dẫn, không chỉ là một nơi xa xôi nào đó thật thú vị để đến thăm, kiểu như Hawaii, mà là một thứ gì đó chúng ta khao khát, khao khát mãnh liệt, không phải thế sao?”
“Chính thế.”
“Đến nỗi chúng ta chán thế giới này, một hình bóng quá mờ nhạt và buồn thảm của thế giới sau?”
“Vâng, chính xác.”
“Và cho dù các trinh nữ mắt huyền chỉ là nho khô trắng, điều đó có làm giảm lòng khao khát Thiên đường của em không?”
“Ồ, không, thưa thầy, không hề,” Ahmad đáp, khi những hình ảnh thuộc thế giới bên kia ấy quay cuồng trong đầu cậu.
Nếu như một số người có thể coi những khoảnh khắc mang tâm trạng khiêu khích của Shaikh Rashid là châm biếm, và thực tình hơn cả thế, là nguy hiểm vờn chơi với Lửa Hỏa Ngục, thì Ahmad luôn luôn coi chúng là phương pháp gợi hỏi, một cách khơi gợi để mở ra, ở học trò của ông, mảng tối tăm và phức tạp cần thiết, nhờ thế làm phong phú thêm một đức tin nông cạn và cực kỳ ngây thơ. Nhưng hôm nay lối châm biếm mang tính gợi mở này nghe rát hơn, và bụng dạ cậu xốn xang, cậu chỉ muốn buổi học này kết thúc.
“Tốt,” ông thầy tuyên bố, môi ông chúm lại thành một nụ thịt nén chặt. “Riêng ta thì cảm tưởng của ta về câu đó luôn luôn là thế này: các trinh nữ là hình ảnh ẩn dụ cho một niềm hoan lạc ngoài sức tưởng tượng, một niềm hoan lạc thanh khiết và miên viễn, chứ không phải sự giao hợp theo nghĩa đen với phụ nữ bằng xương bằng thịt - những phụ nữ nồng ấm, đầy đặn, tuân phục. Chắc chắn việc giao hợp như người ta vẫn trải nghiệm thông thường là cốt tủy đích thực của tính phù du trần thế, của niềm vui phù phiếm.”
“Nhưng...” Ahmad buột mồm, lại đỏ mặt.
“Nhưng gì?”
“Nhưng Thiên đường phải có thật chứ, một nơi có thật.”
“Dĩ nhiên rồi, con trai - còn là gì khác được nữa? Nhưng, để tiếp tục chút đỉnh vấn đề sự hoàn hảo văn bản, ngay cả trong những tuyên ngôn hiền hòa hơn ở những chương kinh được cho là ra đời trong giai đoạn Đấng Tiên tri cai quản Medina, đám học giả vô thần cũng khẳng định phát hiện ra nhiều chỗ gượng. Con có thể đọc cho ta không - ta biết, những chiếc bóng đang dài ra, ngày xuân ngoài cửa sổ đang tàn dần một cách thảm hại - đọc cho ta đi, làm ơn, câu mười bốn của chương sáu mươi bốn, ‘Al-Taghbun’ [Người thắng kẻ bại].”
Ahmad lóng ngóng tìm trang đó trong cuốn kinh Qur’an quăn mép của cậu, và lần mò đọc lớn “yā ayyuhā ‘lladhīna āmanū inna min azwājikum wa awlādikum ‘aduwwan lakum fa ‘ḥdharūhum, wa in ta’fū wa taṣfaḥū wa taghfirū fa-inna ‘llãha ghafūrun raḥīm.”
“Tốt. Ý ta là được. Chúng ta phải rèn luyện cật lực hơn, dĩ nhiên, về ngữ âm của con. Con có thể nói nhanh cho ta biết đoạn này nghĩa là gì không, Ahmad?”
“Ơ, nó nói rằng trong số các vợ và con cái của các người, có người thù nghịch các người. Bởi thế, hãy cảnh giác họ. Nhưng nếu các người, ơ, lượng thứ bỏ qua và tha thứ cho họ thì quả thật Allah hằng tha thứ, rất mực nhân từ.”
“Nhưng vợ và con cái của các người! ‘Người thù nghịch’ gì ở họ? Tại sao họ cần sự tha thứ?”
“Ồ, có lẽ vì họ làm ta sao lãng khỏi jihād, khỏi cuộc đấu tranh để trở nên thánh thiện và gần Thượng Đế hơn.”
“Xuất sắc! Con quả là một học trò tuyệt vời, Ahmad! Bản thân ta cũng không thể diễn đạt ý đó tốt hơn. ‘tạ’fū wa taṣfaḥū wa taghfū’ - ‘āfa và saṣfaḥa, chùn lại và quay lưng đi! Hãy tồn tại mà không cần đến đám phụ nữ sở hữu xác thịt thế tục này, cái thứ hành lý trần gian này, những kẻ nô lệ ô uế quỵ lụy trước vật chất này! Hãy đi gọn nhẹ, thẳng tới Thiên đường! Nói cho ta nghe, Ahmad thân yêu, con có sợ bước vào Thiên đường không?”
“Ồ, không, thưa thầy. Tại sao con lại sợ? Con mong đợi nó, như mọi người Hồi giáo tử tế mong đợi.”
“Phải. Dĩ nhiên họ mong đợi. Chúng ta mong đợi. Con làm ta hài lòng. Trước buổi học kế tiếp, chuẩn bị kỹ hai chương ‘Ar-Rahman’ [Đấng rất mực độ lượng] và ‘Al-Wāqi’ah’ [Biến cố]. Theo số đếm thì đó là chương năm mươi lăm và năm mươi sáu, sát cạnh nhau, thật tiện lợi. Ồ, mà này Ahmad...”
“Dạ?” Ngày xuân, bên ngoài những cửa sổ hướng lên cao, đã chuyển sang tối, một bầu trời màu chàm bị những ngọn đèn hơi thủy ngân nội ô New Prospect nhuốm xỉn đến độ chỉ hiện rõ được một mớ sao. Ahmad cố nhớ lại xem theo giờ làm ở bệnh viện của mẹ cậu thì giờ bà đã được phép về nhà chưa. Nếu không thì có lẽ sẽ có một tách sữa chua trong tủ lạnh, hoặc cậu phải chấp nhận những thứ thức ăn nhẹ có độ sạch sẽ đáng ngờ ở tiệm Shop-a-Sec.
“Ta tin con sẽ không quay lại nhà thờ của bọn da đen ở trung tâm thành phố nữa.” Ông thầy tế ngập ngừng, rồi nói tiếp như đang trích dẫn một đoạn thánh văn: “Sự ô uế có thể làm như tỏa sáng, và ma quỷ bắt chước thiên thần rất giỏi. Hãy giữ Chính Đạo - ihdinā ‘ṣ-ṣirāṭa ‘l-mustaqīm[3]. Hãy cảnh giác với bất cứ ai, khiến con sao lãng khỏi hiện hữu thuần khiết của Allah, dù họ có làm con vui lòng đến đâu.”
“Nhưng cả thế giới này đều khiến ta sao nhãng như thế,” Ahmad thú nhận.
“Không hẳn vậy. Bản thân Đấng Tiên tri cũng là một con người trần tục: thương nhân, người chồng, người cha của mấy đứa con gái. Nhưng ở những năm ngoài bốn mươi ông đã trở thành phương tiện truyền bá mà Thượng Đế chọn để qua đó phát ra lời cực đỉnh và tối hậu của Người.” Chiếc điện thoại di động nằm sâu trong mấy lớp quần áo chồng lên nhau của vị học giả bất ngờ phát ra âm thanh khẩn thiết réo vang, nửa như tiếng nhạc, và Ahmad lợi dụng lúc này để bỏ chạy ra ngoài, lao vào buổi tối, vào thế giới với những ngọn đèn xe hối hả về nhà, với mùi thức ăn chiên trên lề đường và những cành cây sáng trắng vì đám hoa chùm hoa chuỗi lẳng nhẳng phía trên.
Dù chúng sến sáo quê mùa là vậy, và dù ông từng tham dự bao lần rồi, nhưng những buổi lễ tốt nghiệp tại trường Trung tâm luôn làm cho Jack Levy muốn rơi nước mắt. Tất cả đều bắt đầu với hành khúc “Pomp and Circumstance” và cuộc diễu hành trang trọng của những học sinh năm cuối mặc áo chùng đen thùng thình và đội chiếc mũ vuông chông chênh một cách đáng ngại, và kết thúc bằng màn diễu hành náo nhiệt hơn, toe toét cười, vẫy chào bố mẹ và mũ tung bay ngược lên theo lối đi trong giai điệu của bài “Colonel Bogey’s March” và “When the Saints Go Marchin’ In”. Ngay cả đứa học sinh quậy phá và bất trị nhất, ngay cả những học sinh với dòng chữ FREE AT LAST (Sau cùng ta cũng tự do) viết bằng băng trắng trên chiếc mũ tú tài hoặc cài một nhành hoa giấy ngổ ngáo xoắn vào dây núm tua, cũng có vẻ mềm lòng trước tính chất kết thúc của buổi lễ và những câu tôn vinh sáo mòn của các diễn văn. Hãy đóng góp cho nước Mỹ, người ta bảo chúng. Hãy đứng vào chỗ của mình trong đội quân hòa bình của sự nghiệp dân chủ. Ngay cả trong khi phấn đấu để thành công, hãy tử tế với đồng loại. Hãy nghĩ đến điều tốt đẹp chung, mặc cho bao vụ tai tiếng về trò bất lương của doanh nghiệp và sự thối nát trong chính trị mà các phương tiện truyền thông ngày ngày trưng ra khiến chúng ta ngán ngẩm chán chường. Cuộc sống thực bắt đầu lúc này, bọn học sinh được thông báo như thế; Vườn Địa đàng là nền giáo dục công lập đã đóng sập cổng ra vào. Levy ngẫm nghĩ, một khu vườn nơi những bài học thuộc lòng bị bỏ mặc một cách chán chường, nơi bọn ngu dốt và xấu thói thống trị bọn rụt rè và vâng lời, nhưng vẫn là một khu vườn, một mảnh đất đầy cỏ dại gieo hy vọng, một luống ươm mầm gồ ghề và thiếu cuốc xới cho những gì mà đất nước này muốn chính mình đạt tới. Hãy bỏ qua bọn cảnh sát vũ trang bố trí đây đó cuối khán phòng và những máy dò kim loại ở mọi cửa vào nào không được khóa và xích lại. Thay vào đó hãy nhìn vào những học sinh năm cuối đang tốt nghiệp, vào vẻ hăm hở tươi cười của chúng khi làm lễ, vào sự cổ vũ tận tình dành cho tất cả bọn chúng chẳng từ chối đứa nào, kể cả những đứa chểnh mảng và ngờ nghệch nhất, cuộc tuần hành ngắn ngủi của chúng qua sân khấu, bên dưới phần tiền cảnh theo kiểu nhà hát Roxy, giữa hai hàng hoa và chậu cọ, để nhận bằng tốt nghiệp từ tay Nat Jefferson trau chuốt, người đứng đầu hệ thống trường học New Prospect, trong khi tên của chúng được vị quyền hiệu trưởng trường trung học, Irene Tsoutsouras bé nhỏ, xướng lên trong máy vi âm. Sự đa dạng của những tên họ được lặp lại bằng sự đa dạng của đủ thứ giày dép ló ra dưới gấu áo chùng nhấp nhô khi chúng bước ung dung trên những đôi giày Nike rách tã, hoặc rảo bước kiêu hãnh trên giày cao gót, hoặc kéo lê lệt xệt những đôi xăng đan lỏng lẻo.
Jack Levy bắt đầu thấy nghèn nghẹn. Tính ngoan ngoãn của con người, sự sẵn lòng cố hữu luôn muốn làm vui lòng người khác ở họ. Những người Do Thái Âu châu mặc quần áo đẹp nhất của mình để bị áp giải tới trại tử thần. Các nam sinh nữ sinh, đột nhiên thành đàn ông đàn bà, bắt bàn tay thành thạo của Nat Jefferson, điều họ chưa hề làm trước đây và sẽ không bao giờ làm nữa. Ông giám học da đen vai rộng, một chuyên gia trượt lướt trên những con sóng chính trị địa phương suốt trong khi lực lượng bầu cử chính yếu đã chuyển từ người da trắng sang người da đen và bây giờ sang người nói tiếng Tây Ban Nha, làm mới lại nụ cười cho từng khuôn mặt tốt nghiệp, nhưng trong mắt của Jack Levy ông ta thể hiện lòng ưu ái đặc biệt cho những học sinh da trắng, một thiểu số rõ ràng ở đây. Cảm ơn các em vì đã gắn bó với chúng tôi, cái bắt tay nồng ấm kéo dài của ông ta nói thế. Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ / New Prospect / trường Trung tâm đạt hiệu quả. Giữa danh sách dường như bất tận đó, Irene đọc to, “Ahmad Ashmawy Mulloy”. Cậu trai di chuyển một cách thanh nhã, cao nhưng không lóng ngóng, diễn vai của cậu nhưng không cường điệu - quá đường hoàng đến độ không thể, giống như một số người khác, à ơi với những người ủng hộ trong đám khán giả đang vẫy tay và cười rúc rích. Cậu có ít người ủng hộ - những tiếng vỗ tay chỉ lộp bộp lác đác. Đứng trong hàng đầu giữa hai thành viên ban giảng huấn, Levy đưa một khớp ngón tay lén lút chặn những giọt nước mắt manh nha làm nhồn nhột hai bên mũi ông.
Lời nguyện tạ ơn được cất lên bởi một linh mục Công giáo, và một thầy tế, như một sự dỗ dành cộng đồng Hồi giáo. Một giáo sĩ Do Thái và một mục sư Tin Lành phái Trưởng Lão đã phát biểu trước đó, cả hai đều đọc những lời cầu nguyện dài quá mức theo nhận định của Jack Levy. Ông thầy tế, trong áo chùng caftan và chiếc khăn xếp trắng tinh khôi quấn chặt, đứng trên bục diễn giả mà nói bằng giọng mũi một chùm tiếng Ả Rập xoắn xuýt cứ như thọc một lưỡi dao găm vào cử tọa im lặng. Sau đó, có lẽ là dịch ra, ông dâng lời cầu nguyện bằng tiếng Anh, “Đấng Hằng Biết Điều Vô hình và điều bộc lộ! Đấng Vĩ đại! Đấng Tối cao! Thượng Đế là Đấng Sáng tạo mọi thứ! Người là Độc nhất! Đấng Chinh phục! Người cho mưa từ trên trời xuống: do đó, những thung lũng dồn nước chảy xuống theo định lượng; tiếp đó, có những dòng thác cuốn bọt nước nổi trên mặt trôi đi nơi khác. Và từ những khoáng chất được nấu trong lò lửa để tìm kim khí hầu dùng làm đồ nữ trang và dụng cụ nấu nướng cũng có một lớp váng tương tự. Phần bọt sẽ cuốn đi như rác rến, còn điều gì có lợi cho nhân loại thì sẽ tồn tại trên mặt đất. Với những người tốt nghiệp hôm nay, chúng ta nói, hãy nổi lên bên trên lớp bọt, lớp váng, thay vào đó hãy trụ lại một cách hữu ích trên mặt đất. Đối với những người mà Chính Đạo dẫn vào nguy hiểm, chúng ta lặp lại những lời của Đấng Tiên tri: ‘Và chớ nói về những ai đã hy sinh tính mạng cho Chính nghĩa của Allah rằng họ đã chết rồi. Không, họ vẫn còn sống!’ ” Levy ngắm kỹ ông thầy tế - một người mảnh mai, hoàn hảo, hiện thân của một hệ thống tín điều mà cách nay chưa nhiều năm đã gây ra cái chết cho hàng trăm người từ Bắc New Jersey đi làm trong nội ô, trong số nhiều người khác. Từ những vị trí trên cao thuận lợi ở New Prospect, các đám đông tụ tập để xem khói tuôn ra từ hai tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới và tản ra trên khu Brooklyn, đám mây duy nhất của cái ngày trong trẻo đó. Khi Levy nghĩ về Israel nằm giữa các nước thù nghịch và về mấy thánh đường Do Thái khốn khổ còn sót lại của châu Âu đang cần cảnh sát canh gác ngày đêm, thiện chí ban đầu của ông đối với ông thầy tế này biến mất: người đàn ông trong lớp áo chùng trắng ấy như cái xương thọc vào họng buổi lễ này. Levy không quản việc cha Corcoran bằng giọng mũi đã đóng lời chúc lành của Đấng Chúa nhân ba lên nắp quan tài buổi lễ lê thê này; người Do Thái và Ireland đã sống chung trong các thành phố Mỹ suốt nhiều thế hệ, và chỉ thế hệ bố và ông nội của Jack, chứ không phải thế hệ Jack, mới phải chịu lời gán tội là “quân giết Chúa”.
“Nào ông bạn, mình xong rồi,” thầy giáo bên phải ông nói. Đó là Adam Bronson, một di dân từ Barbados, dạy toán kinh tế cho lớp mười và lớp mười một. “Tôi luôn luôn cảm ơn Chúa khi năm học trôi qua mà không có một vụ sát hại nào.”
“Anh xem tin tức quá nhiều đấy,” Jack nói với ông ta. “Mình đâu phải trường Columbine; đó là ở Colorado - miền Tây hoang dã. Trường Trung tâm ngày nay an toàn hơn thời tôi còn bé ở đây. Hồi đó các băng đảng da đen có súng tự chế và không có cổng an ninh hay nhân viên bảo vệ. Các học sinh trực hành lang được coi là nhân viên an ninh. Chúng mà không bị xô ngã xuống cầu thang là may lắm rồi.”
Adam nói với ông, bằng cái thổ âm khó mà hiểu nổi của ông ta, âm nhạc từ một hòn đảo hiền hòa, một cái trống thép vỗ từng hồi xa xa: “Ban đầu khi mới đến tôi không tin được rằng trong các hành lang và căng tin đều có cảnh sát. Ở Barbados chúng tôi dùng chung những cuốn sách tả tơi và viết lên cả hai mặt của tờ giấy kẻ hàng, mọi mẩu giấy vụn, được học hành là quá quý với chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ mơ đến giở trò nghịch ngợm. Ở đây trong tòa nhà tráng lệ này các ông cần có nhân viên bảo vệ cứ như nhà tù, và lũ học trò làm đủ trò phá hoại. Tôi không hiểu được lòng căm ghét kiểu Mỹ đối với trật tự nghiêm túc.”
“Hãy coi như đấy là lòng yêu tự do. Tự do là tri thức.”
“Học trò của tôi không tin chúng sẽ có lúc cần môn toán kinh tế trong đầu. Chúng cho rằng máy vi tính sẽ làm mọi thứ cho chúng. Chúng nghĩ đầu óc con người đã được nghỉ lễ vĩnh viễn, và từ giờ trở đi không có gì khác để làm ngoài thụ hưởng các món giải trí.”
Các giáo viên bước hàng hai nhập vào cuối đoàn tuần hành, và Adam, sóng đôi với một giáo viên từ hàng ghế bên kia lối đi, bước trước Levy nhưng rồi ngoảnh lại tiếp tục cuộc trò chuyện. “Jack, cho tôi biết đi. Có điều này tôi ngượng khi phải hỏi người khác. Cái ông J-Lo là ai vậy? Học trò tôi cứ liên tục trích dẫn ông ta.”
“Cô chứ không phải ông. Ca sĩ. Nữ diễn viên.” Jack gọi với tới trước. “Gốc Tây Ban Nha. Thân hình bảnh. Mông to, hình như thế. Tôi không biết gì nữa. Đến một lúc nào đó trong đời,” ông giải thích, sợ rằng tay Barbados này nghĩ ông bất lịch sự, “những người nổi tiếng không còn có giá trị với ông như trước kia nữa.”
Giờ ông mới để ý, vị giáo viên mà ông đi sóng đôi trong phần kết lễ là một phụ nữ, cô Mackenzie, dạy văn học Anh lớp mười hai, tên là Caroline. Mảnh mai, cằm vuông, mê chăm sóc thể hình, cô để mái tóc đang bạc dần theo kiểu bốp ngày xưa, tóc mái cắt ngang chân mày. “Carrie,” Jack nói một cách thân tình. “Vụ tôi nghe cô chỉ định đọc cuốn Sexus cho học sinh lớp mười hai là sao vậy?” Cô sống với một phụ nữ khác ở Paramus và Jack cảm thấy ông có thể đùa giỡn với cô như đùa một ông bạn.
“Đừng thô tục vậy, Jack,” cô nói, không thèm cười với ông. “Đó là một trong mấy hồi ký của ông ta đấy chứ, cuốn có bãi biển Big Sur trong cái tựa đó. Tôi đưa nó vào danh sách tùy chọn, không ai buộc phải đọc nó cả.”
“Phải, nhưng những đứa đã đọc thì thấy được gì?”
“Ô,” giọng chớm thù địch, chán nản của cô nói với ông, qua tiếng ồn ào và tiếng bước chân loạt soạt và tiếng nhạc kết lễ, “chúng coi nó là bình thường. Chúng đã thấy hết mọi chuyện đó, ở nhà.”
Toàn bộ đám người tập hợp bừa bộn trong sự kiện hội hè này - đám trẻ nhận bằng tốt nghiệp, giáo viên, bố mẹ, ông bà cô chú cậu dì, cháu trai cháu gái - chen lấn rời khán phòng vào hội trường phía trước, nơi những chiếc cúp thể thao đứng nghiêm trong những hộp dài giống như kho báu của một pharaoh đã chết, được phong kín, cái quá khứ ma thuật, đoạn ùa ra ngoài qua những cánh cửa trước rộng mở toang ra ánh nắng đầu tháng Sáu và khung cảnh hồ gạch vụn bẩn thỉu, rồi ùa xuống những bậc thềm to rộng phía mặt tiền, la ó huýt sáo ồn ào đắc thắng. Những bậc thềm bằng đá hoa cương tráng lệ này từng một thời dẫn xuống vạt cỏ xanh mênh mông và những hàng cây bụi đối xứng; nhưng những đòi hỏi của xe hơi đã gặm nhấm và sau đó lấn vào lề bên này, mở rộng đại lộ Tilden (Ủy ban Hội đồng Thành phố hoàn toàn thuộc phe Dân chủ đặt tên lại một cách đầy thách thức như vậy sau vụ thay đổi kết quả bầu cử tổng thống năm 1877 bởi một ủy ban bầu cử do phe Cộng hòa thống trị toa rập với một miền Nam nóng lòng xóa bỏ sự hiện diện của quân đội miền Bắc đang bảo vệ dân cư da đen miền Nam) để bây giờ bậc thềm hoa cương thấp nhất tiếp xúc thẳng với một bên lề đường, một lề đường ngăn cách với mặt đường trải nhựa bởi một dải cỏ hẹp chỉ xanh tươi được vài tuần, trước khi cái nóng nung người của mùa hè và vô số bước chân vô ý biến nỗ lực sinh sôi vào mùa xuân của nó thành một thảm cỏ chết phẳng bẹt. Bên ngoài lề đường, đại lộ rải nhựa, nhăn nhúm như mặt giường dọn vội với những ổ gà được vá tới vá lui và những đoạn trũng lộ nhựa đường gây ra bởi sức nặng của xe hơi và xe tải liên tục vùn vụt lao qua, vào giờ này đã được ngăn lại không cho giao thông bằng những hàng rào sơn sọc màu cam, để cho đám đông dự lễ tốt nghiệp có chỗ đứng mà đắm mình trong niềm vui chúc tụng chính mình, chờ những đứa mới tốt nghiệp trả lại áo chùng bên trong tòa nhà và chia tay nốt bạn bè trường lớp.
Đi loanh quanh trong đám đông này, chẳng hề vội về nhà đối mặt với buổi khởi đầu một mùa hè chỉ có vợ ông làm bạn, và ủ ê cảm thấy sau cuộc trao đổi vui vẻ với Carrie Mackenzie rằng ông đang dần lạc lõng trong một xã hội sao-cũng-được, Jack Levy tình cờ chạm mặt Teresa Mulloy. Mặt nổi đầy tàn nhang và ửng đỏ vì nóng, chị có một cành lan đã héo rũ gắn vào áo vest nhăn nhúm bằng vải lanh nhạt. Ông chào chị một cách nghiêm trang: “Xin chúc mừng, cô Mulloy.”
“Xin chào!” chị đáp lại, biến nó thành một dịp cảm thán, và chạm nhẹ vào cánh tay ông, như thể để tái lập mối thân tình mới nảy nở trong lần gặp mặt vừa rồi. Chị nói với ông, hổn hển chộp lấy những lời đầu tiên vừa đến với chị, “Hẳn ông sắp có một mùa hè thú vị!”
Ý tưởng đó khiến ông ngạc nhiên. “Ô - cũng như cũ thôi,” ông nói với chị. “Chúng tôi không làm gì nhiều. Beth chỉ nghỉ ở thư viện được ít tuần. Tôi cố dạy thêm kiếm tiền tiêu vặt. Tụi tôi có một thằng con ở New Mexico và thường đến thăm nó một tuần vào tháng Tám; ở đó nóng nhưng không oi bức như ở đây. Beth có một bà chị ở Washington, nhưng ở đó còn oi bức hơn, cho nên chị ấy thường đến chơi với bọn tôi và bọn tôi sẽ dành một tuần đến vùng đồi núi nào đó, bờ bên này hay bên kia con sông hẻm núi Delaware. Nhưng hiện chị ấy bận túi bụi, luôn luôn có tình trạng khẩn cấp này nọ, đến độ mùa hè này...” Câm miệng đi, Levy. Đừng nói chuyện đó quá cặn kẽ. Có lẽ là tốt khi chữ “tụi tôi” thoát ra, nhắc người phụ nữ này nhớ ông đã có vợ. Thật sự là ông cảm thấy họ thuộc vào cùng một chuỗi tiếp nối, bởi chung làn da sáng và xu hướng trở nên tròn trịa, chỉ có điều Beth già hơn hai mươi năm. “Còn hai người thì sao? Cô với Ahmad ấy.”
Trang phục của chị cũng đủ trang nghiêm - bộ vest vải lanh màu vỏ trứng bên ngoài áo sơ mi trắng - tuy những thêm thắt màu sắc vẫn gợi ra một tinh thần tự do, một nghệ sĩ cũng như một người mẹ. Những chiếc nhẫn ngọc lam gồ ghề đè nặng trên đôi tay săn chắc, móng ngắn, và cánh tay chị, lộ rõ những sợi lông tơ sáng trắng trong ánh mặt trời, đeo đầy vòng xuyến san hô và vàng va vào nhau. Ngạc nhiên nhất là một khăn quàng cổ bằng lụa lớn, in hoa văn trừu tượng góc cạnh và những vòng tròn thô lố, được buộc lại dưới cằm chị và trùm kín tóc chị trừ rìa tóc lờ mờ, với vài sợi tóc đỏ lơ thơ, giáp đuôi chân mày gồ lên màu da trắng của dân Ireland. Đưa mắt nhìn vào mắt Levy, và thấy chúng dán chặt vào chiếc khăn trùm đầu ra vẻ đoan trang một cách vui nhộn của mình, chị bật cười và giải thích, “Thằng bé muốn tôi trùm nó. Nó nói nếu có một điều nó muốn cho lễ tốt nghiệp thì đó là mẹ nó đừng trông giống một con điếm.”
“Chúa ơi. Nhưng dù sao nó cũng hợp với chị một cách kỳ cục. Còn hoa lan cũng là ý của nó hả?”
“Không hẳn thế. Bọn con trai khác đều gắn cho mẹ chúng, thành thử nếu không làm theo thì chắc nó sẽ khó xử. Thằng bé cũng có chút tính tuân thủ đó.”
Khuôn mặt chị với đôi mắt xanh lồi ra, nhạt tựa sỏi thủy tinh, như đang từ một góc khăn quàng nhìn ra ông; kiểu che phủ của chiếc khăn lộ vẻ khiêu khích, ngụ ý một sự trần trụi đến độ choáng váng tối hậu. Chiếc khăn trùm đầu của chị nói lên sự phục tùng, nó làm ông xao động. Ông tiến đến gần hơn do sức ép của đám đông, như thể che chở cho chị. Chị nói với ông, “Tôi nhìn thấy một số bà mẹ trùm khăn khác, những người Hồi giáo da đen thật ấn tượng trong y phục toàn trắng, và một số đứa con gái tốt nghiệp người Thổ - khi còn con gái tụi tôi gọi họ là ‘Thổ’, mấy gã da sậm tại nhà máy í, nhưng dĩ nhiên họ không hoàn toàn là dân Thổ. Tôi nghĩ, tôi cuộc là ở bên dưới khăn tóc của tôi đỏ nhất. Những nữ tu sẽ khoái lắm. Họ từng nói tôi khoe khoang những nét hấp dẫn của tôi. Lúc đó tôi tự hỏi nét hấp dẫn là gì, và làm thế nào khoe khoang được chúng. Với tôi dường như chúng có sẵn đó, vậy thôi. Cái gọi là những nét hấp dẫn của tôi.”
Chị cũng nhiễm xu hướng nói lảm nhảm như ông, ở đây trong đám đông đầy kích động này. Ông nói khẽ, thật lòng, “Cô thật là bà mẹ tốt, khi chiều ý Ahmad.”
Mặt chị mất đi ánh đùa cợt. “Nó đòi hỏi ít lắm, thực đấy, suốt bao năm, mà bây giờ nó sắp xa nhà rồi. Nó luôn có vẻ lẻ loi quá. Nó tự làm lấy chuyện Allah này kia của nó, tôi chẳng giúp gì cả. Thực sự không có chút giúp đỡ nào - tôi còn bực là nó quan tâm quá nhiều đến một ông bố vốn chẳng làm gì cho nó. Cho chúng tôi. Nhưng tôi độ chừng một đứa con trai thì cần một ông bố, và nếu không có bố nó sẽ bịa ra một ông. Ông thấy Freud đại hạ giá kiểu đó thế nào?”
Liệu chị có biết chị đang chơi ác với ông, khiến cho ông muốn chị không? Beth hẳn không bao giờ nghĩ đến việc đề cập đến Freud. Freud, người đã khích lệ cả một thế kỷ cứ tiếp tục phang nhau. Levy nói, “Trên đó Ahmad trông đẹp trai lắm, trong chiếc áo chùng. Tôi rất tiếc là mình bắt đầu tìm hiểu con trai cô quá trễ. Tôi thấy có cảm tình với nó, dù tôi ngờ rằng nó thì không có cảm tình với tôi.”
“Ông sai rồi, Jack - nó trân trọng việc ông muốn nó nâng cao tham vọng. Có lẽ nó sẽ tự làm chuyện đó sau. Còn bây giờ nó đang dồn sức tập trung lấy bằng lái xe tải. Nó đã đậu kỳ thi viết và hai tuần nữa sẽ kiểm tra sức khỏe. Với hạt Passaic thì làm ở đằng Wayne. Họ cần bảo đảm anh không bị mù màu và có đủ tầm nhìn ngoại vi. Tôi luôn cho rằng Ahmad có đôi mắt tuyệt vời. Đen tuyền. Bố nó có đôi mắt nhạt hơn, cũng lạ, kiểu màu vàng hoe. Tôi nói ‘lạ’ bởi vì ông hẳn nghĩ mắt của Omar đen hơn, vì mắt tôi vốn đã nhạt rồi.”
“Tôi thấy một chút màu xanh của cô trong đôi mắt của Ahmad.”
Chị phớt lờ câu tán tỉnh này và nói tiếp, “Nhưng không được hai mươi trên hai mươi. Mắt của Ahmad ấy. Có vẻ hai mươi trên ba mươi hơn - loạn thị - nhưng nó luôn quá tự phụ đến độ không chịu đeo kính. Chắc ông nghĩ mộ đạo đến như nó thì hẳn không tự phụ, nhưng nó có đấy. Có lẽ đó không phải tự phụ, mà là nó nghĩ Allah sẽ cho anh cặp kính nếu Người muốn anh đeo kính. Nó không nhìn rõ được quả bóng khi chơi bóng chày; đó là lý do nó chọn chơi điền kinh trong mùa xuân.”
Mớ chi tiết bất ngờ này về một cậu bé mà Jack Levy vẫn nghĩ không khác gì lắm với hàng trăm đứa khác mà ông đối phó mỗi năm càng làm tăng mối nghi ngờ rằng người đàn bà này muốn gặp lại ông. Ông nói với chị, “Tôi chắc nó sẽ không cần mấy tập tài liệu giới thiệu đại học mà tôi để lại hồi tháng trước đâu.”
“Tôi hy vọng nó còn tìm lại được: phòng của nó bừa bộn lắm, chỉ trừ góc cầu nguyện là không thôi. Đáng ra nó phải trả lại cho ông, Jack ạ.”
“No problema, senora.” Ông nhận ra rằng quanh họ, trong đám đông chen lấn, hân hoan, nhưng đã kịp thưa hơn, những người khác đang liếc về phía họ và chừa cho họ một khoảng trống nhỏ, họ cảm thấy có gì đó đang nhen nhóm ở đây. Ông cảm thấy mình bị lây tội bởi sự hào hứng quá mức của Terry khi ông cố kiên trì cười đáp lại nụ cười trên khuôn mặt lấm tấm tàn nhang, sáng, tròn của chị.
Bóng một đám mây lớn tối tăm xua ánh mặt trời đi và trùm vẻ ảm đạm lên khung cảnh này - hồ gạch vụn, con đường bị ngăn xe cộ, đám đông bố mẹ họ hàng ăn mặc rực rỡ, táo bạo, mặt tiền dân sự của trường Trung tâm, những cổng chính có hàng cột trụ và những cửa sổ có chấn song của nó, chiều cao giống như tấm phông của một sân khấu opera làm cho hai ca sĩ đang song ca này có vẻ nhỏ xíu.
“Ahmad không trả lại cho ông ở trường, thật là bậy quá,” mẹ cậu nói. “Giờ thì đã trễ.”
“Tôi nói rồi, không thành vấn đề. Hay lúc nào đó tôi ghé chơi nhân thể lấy lại luôn?” ông hỏi. “Tôi sẽ gọi điện báo trước để chắc là cô có ở nhà.”
Khi còn bé, sống ở đường Totowa khi nó vẫn còn là vùng nông thôn trừ vài ngôi nhà một tầng rộng rãi mới xây, đi bộ tới trường vào mùa đông, đôi khi Jack còn mạo hiểm, để thử nghiệm dũng khí của mình, bước lên mặt băng trên một đầm lầy đã bị san lấp để xây dựng từ lâu, nằm trên đường tới trường. Nước không đủ sâu để bị chết đuối - những gò cỏ và sậy cho thấy độ sâu cạn xợt của nó - nhưng nếu ông sụp xuống đó, đôi giày da đi học xịn của ông sẽ ngấm nước đầy bùn và thậm chí có thể bị hư, và trong một gia đình mà tình hình tài chính thiếu thốn như gia đình ông, đó sẽ là một tai họa. Ở ngay rìa bạc của đám mây, ánh nắng xuyên qua, chiếu lấp lánh trên khăn lụa trùm đầu của Terry, và ông run rẩy chờ nghe tiếng băng nứt lắc rắc.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Ả Rập ‘Ahl al-Kitb, thuật ngữ để chỉ những dân tộc phi Hồi giáo nhưng cũng có kinh văn được cho là do Thượng Đế mặc khải, chủ yếu là dân Do Thái và tín đồ Cơ Đốc giáo.
[2] Tiếng Hy Lạp: được nói ra chỉ một lần.
[3] Xin ngài hướng dẫn chúng tôi theo con đường ngay chính, Qur’an 1:6.