Chuông điện thoại reo. Beth Levy vật vã nhỏm người khỏi chiếc ghế ưa thích của bà, một chiếc ghế tựa lắc lư được gọi là La-Z-Boy, bọc lớp nhựa vinyl nâu nhạt giả da bò nhăn và được thiết kế với một chỗ gác chân có đệm điều khiển bằng đòn bẩy, nãy giờ bà đã ngồi trên đó ăn một đĩa bánh quy yến mạch nho khô - ít calo hơn bánh quy kem hoặc sô cô la viên - trong khi đang xem chương trình All My Children trên kênh WABC trước khi chuyển kênh sang phim bộ As the World Turns bắt đầu chiếu lúc hai giờ. Bà thường nghĩ nên gắn một sợi dây dài hơn vào đầu nối để có thể mang điện thoại đến bên ghế bà ngồi và để nó dưới sàn vào quãng giờ này, những hôm bà không đến thư viện Clifton, nhưng bà lại không bao giờ nhớ nhờ Jack mua sợi dây dài hơn ở cửa hàng bán điện thoại, tít đằng thương xá trên đường 23. Khi bà còn con gái chỉ cần gọi AT&T là họ sẽ phái ngay một gã mặc đồng phục xám (hay xanh nhỉ?) mang giày đen đến lắp đặt mọi thứ để lấy vài đô. Hồi ấy là dịch vụ độc quyền, và bà biết độc quyền là điều xấu - gọi điện thoại đường dài bị tính tiền theo phút, trong khi bây giờ bà có thể nói chuyện với Markie hoặc Herm mấy tiếng liền mà hầu như không tốn gì cả - nhưng giờ thì không có vụ sửa điện thoại luôn. Điện thoại hư là vất luôn, giống như máy vi tính cũ hoặc tờ báo hôm qua vậy.
Thêm nữa, ở mức độ nào đấy bà cũng không còn muốn làm cho cuộc sống dễ chịu cho bản thân về mặt vật chất hơn mức đã có; từng li từng tí thể dục thảm hại mà bà làm được đều cần thiết cho bà. Hồi còn trẻ và đã lập gia đình, bà dành suốt buổi sáng chạy loanh quanh dọn giường, hút bụi và dọn dẹp chén bát; nhưng rồi bà trở nên thành thạo đến độ có thể làm tất cả các việc này hầu như trong giấc ngủ; chỉ cần mộng du qua một căn phòng là bà dọn xong giường và sắp xếp các thứ ngăn nắp đâu ra đó; dù quả thực bà không hút bụi như cách ngày xưa làm nữa - máy móc đời mới nhẹ hơn và được coi là có hiệu quả hơn, bà biết, nhưng bà chưa bao giờ gắn đúng bàn chải cho đầu vòi, bà thấy khoang chứa nhỏ mà bộ phận hút chân không mang theo đi khắp nơi bên trong thật khó tháo; gắn các thứ lại với nhau thật cứ như một câu đố ráp hình, so với loại máy thẳng đứng kiểu cũ mà ta chỉ cần bật nút lên, bề mặt hút bụi áp lên tấm thảm giống như máy xén cỏ trên bãi cỏ, với cái đèn nhỏ xinh xắn ở đằng trước, giống chiếc xe ủi tuyết ban đêm. Bà hầu như không thấy cần gắng sức chút nào khi làm công việc nhà. Nhưng hồi đó cái thể trọng phải lê đi của bà hãy còn nhỏ hơn - nó là thánh giá mà bà phải mang, là cuộc hành xác của bà, như mấy người sùng đạo thường nói.
Rất nhiều đồng nghiệp của bà ở thư viện Clifton và bọn trẻ tuổi vào ra thư viện đều có điện thoại di động ngay trong ví hoặc đeo ở thắt lưng, nhưng Jack nói cái đó phiền toái ghê lắm, tiền cứ đội thêm, như truyền hình cáp, vốn là thứ bà muốn, chứ không phải ông. Cái được gọi là cuộc cách mạng điện tử này, theo lối Jack nói về nó, đã dẫn đến vô vàn những mưu đồ rút rỉa êm ái tiền bạc của chúng ta trong những khoản chi phí hằng tháng cho các dịch vụ chúng ta không cần, nhưng có cáp thì hình ảnh rõ ràng sắc nét hơn mà - không bị lưu ảnh, không bị đảo hình hay giật cục - và những chọn lựa thì nhiều hơn tới mức không thể so sánh được; có những đêm chính ông cũng bật kênh Lịch sử. Tuy ông khẳng định sách tốt hơn và sâu sắc hơn, nhưng ông hầu như không bao giờ đọc trọn được một cuốn. Còn về điện thoại di động, ông thực tình còn nói với bà, ngay vào mặt bà đây, rằng ông không muốn lúc nào cũng bị gọi tới, nhất là nếu ông đang dạy kèm - nếu cần gọi cấp cứu y tế bà nên gọi 911 chứ không phải gọi ông. Điều này thật không tế nhị lắm. Bà biết, ở mức độ nào đó, ông sẽ không quan tâm bà có chết hay không. Việc đó có nghĩa là bớt được một trăm hai mươi ký trên đôi vai ông. Mặt khác bà biết ông sẽ không bao giờ bỏ bà: ý thức trách nhiệm Do Thái và lòng trung thành đa cảm của ông, mà hẳn cũng mang tính Do Thái. Nếu bị ngược đãi và sỉ nhục suốt hai ngàn năm, thì trung thành với những người mình yêu thương chính là phương thức sống còn rất tốt.
Họ đúng là đặc biệt, Kinh Thánh không sai về điều đó. Tại nơi làm việc trong thư viên, chính họ là người pha trò đủ kiểu và đưa ra các ý tưởng. Trước khi bà và Jack gặp nhau tại Rutgers, tuồng như bà chưa từng bị dòng nhân điện chạm phải. Những phụ nữ khác ông từng biết, gồm cả mẹ ông, hẳn phải rất thông minh. Rất trí thức theo kiểu Do Thái. Ông đã nghĩ bà thật ngộ, thoải mái và vô tư quá đỗi, và khờ khạo nữa, dù ông không hề nói rõ vậy. Ông đã nói với bà rằng bà lớn lên bị bọc kín trong Thượng Đế Bố già che chở của phái Luther. Ông bóc trần lớp màng phủ nỗi bồn chồn của bà và xông vào bà; ông ép vào bà, cùng khắp, hồi ấy ông gầy hơn, và rất tự phụ, hóa ra là một thầy giáo bẩm sinh, ông liến thoắng, nhanh nhẹn, nghĩ ông có thể trở thành một người viết truyện cười cho diễn viên Jack Benny, hay ở thời điểm đó là Milton Berle nhỉ?
Ai biết bây giờ ông ở đâu, chỗ nào đó ngoài kia trong ngày hè nóng bỏng nhớp nháp không thể chịu đựng nổi này khi bà hầu như không thể di chuyển. Bà thích ở sở làm hơn, ít nhất ở đó còn có máy điều hòa nhiệt độ chạy tốt; cái máy được gắn vào cửa sổ phòng ngủ của ông bà hầu như chỉ gây được tiếng ồn, và ông cứ tiếc điện không cho lắp một cái dưới nhà. Đàn ông, họ đi rong, tham gia vào xã hội. Bà luôn có xu hướng lặng lẽ, chắc chắn thua Hermione, cứ luôn miệng về những lý thuyết và lý tưởng của chị ấy. Bố mẹ họ làm chị ấy nổi khùng, chị ấy nói vậy, bởi lúc nào cũng chấp nhận theo lối mòn bất cứ thứ gì mà những công đoàn và các đảng viên Dân chủ và tờ Saturday Evening Post tung ra, trong khi Elizabeth lại thấy tính thụ động cổ hủ của họ làm bà yên lòng. Elizabeth luôn luôn bị thu hút tới những nơi lặng lẽ, công viên, nghĩa trang, thư viện trước khi chúng trở nên ồn ào như bây giờ, một số thậm chí còn phát nhạc nền giống như nhà hàng, phân nửa những gì người ta mượn về là băng ghi âm và bây giờ là DVD. Khi còn con gái bà thích sống ở phố Pleasant, chỉ cách công viên Awbury một quãng đi bộ ngắn, rất nhiều không gian xanh và, xa hơn một chút, vườn Bách thảo sát phố Chew, cây sồi rủ giống như một lều tuyết vĩ đại xanh mướt bao quanh ta và ý niệm của bà về Thiên đường không hiểu sao lại gắn với những chóp ngọn đong đưa của những thân cây cao, rất cao đó, những cây bạch dương bày ra mặt dưới lá màu trắng trong mỗi làn gió thoảng nhẹ như thể có những linh hồn sống bên trong, ta có thể hiểu sao người nguyên thủy từng thờ phượng cây cối. Hướng kia đưa ta, bằng xe điện chạy trên đại lộ Germantown chỉ cách đó một dãy nhà, đến công viên Fairmont, một nơi thực sự bất tận, với dòng suối Wissahickon chảy qua, trạm dừng tại trường thần học Luther với những tòa nhà bằng đá cũ xinh xắn và những chủng sinh trẻ tuổi đẹp trai và mộ đạo hết sức; có thể thấy họ trên các lối đi, trong bóng râm, hồi ấy không có mấy thứ âm nhạc ghita và nữ mục sư và nói chuyện về hôn nhân đồng giới như giờ. Giới trẻ trong thư viện tranh luận giống như đang ở trong phòng khách nhà họ, ở rạp chiếu phim cũng vậy, chẳng có thể thống gì cả, tivi đã phá hỏng cung cách của mọi người. Khi bà và Jack bay tới New Mexico để thăm Markie ở Albuquerque, cái lối những hành khách khác mặc quần cụt và những thứ trông giống đồ ngủ trên máy bay thật bất lịch sự: ngày nay tivi đã khiến người ta tự nhiên thoải mái ở mọi nơi, không quan tâm đến chuyện mình trông thế nào, phụ nữ mập ú như bà vẫn mặc quần cụt; hẳn họ không bao giờ nhìn vào gương.
Làm việc bốn ngày một tuần ở thư viện, bà không thể xem đủ các tập phim buổi trưa để theo dõi từng biến chuyển của mạch truyện, nhưng các mạch truyện, ba hoặc bốn cái đan xen nhau theo kiểu người ta làm hiện nay, cũng diễn biến chậm đủ để bà không cảm thấy mình bị bỏ rơi. Nó đã trở thành một thói quen của bà trong bữa trưa, ăn bánh kẹp thịt hoặc rau trộn, hoặc thức ăn thừa của mấy bữa trước hâm lại trong lò vi ba, vì giờ Jack dường như không bao giờ ăn hết những gì trong đĩa của ông nữa, rồi thì lấy một ít bánh phô mai làm món tráng miệng hoặc vài cái bánh quy, yến mạch nho khô nếu bà đang trong thời kỳ lên cơn đức hạnh, đoạn ngồi vào ghế và để cho mọi thứ ập vào bà, cả đám nam nữ diễn viên trẻ ấy, thường hai hoặc ba người xuất hiện cùng một lúc tại một trong những bối cảnh trông quá lớn, mọi thứ đều mới mua, đến độ không hề giống một căn phòng thực sự, với một âm hưởng gượng gạo bàng bạc khắp nơi, và cái kiểu âm nhạc nhộn nhạo mà họ đều sử dụng, không phải nhạc phong cầm như trong kịch truyền thanh nhiều kỳ hồi xưa, mà là thứ âm thanh tổng hợp, bà độ chừng tên nó là vậy, nghe nhiều khi có vẻ rất giống tiếng thụ cầm nhưng lúc khác lại giống mộc cầm xen tiếng vĩ cầm, mọi thứ đều khẽ khàng để truyền đạt sự hồi hộp. Âm nhạc nhấn mạnh những lời thoại đối đầu hoặc tự bạch đầy kịch tính sẽ khiến cho các diễn viên nhìn nhau trong những cận cảnh sững sờ, tròng mắt mờ đi vì u buồn hoặc thù địch, những khó khăn nho nhỏ không ngừng được vượt qua trong mắt lưới vô tận những mối quan hệ của họ: “Tôi thực tình cóc thèm quan tâm đến hạnh phúc của Kendall...” “Chắc chắn bạn biết rằng Ryan không hề muốn có con, anh ta khiếp hãi lời nguyền giáng xuống gia đình...” “Toàn bộ cuộc đời tôi có vẻ nằm ngoài tầm tay tôi. Tôi không biết mình là ai hoặc nghĩ gì nữa...” “Tôi có thể thấy nó trong mắt anh; mọi người đều yêu kẻ chiến thắng...” “Cô phải yêu bản thân mình đủ để rời bỏ người đàn ông đó. Hãy để mẹ cô có được ông ta nếu đó là điều bà ấy muốn - hai kẻ đó xứng với nhau...” “Tôi thực lòng căm ghét bản thân mình...” “Tôi cảm thấy bị lạc trong sa mạc...” “Cả đời tôi chưa từng trả tiền để quan hệ tình dục, và bây giờ tôi cũng không khởi sự đâu.” Và sau đó một giọng ít sợ hãi, ít giận dữ hơn, nói thẳng với người xem: “Đường cong của một phụ nữ có thể gây ra đau do cọ xát. Nhà sản xuất thuốc Monistat cho phụ nữ hiểu rắc rối thầm kín này, vì thế họ đang giới thiệu một sản phẩm mới, vô tiền khoáng hậu.”
Với Beth có vẻ những nữ diễn viên trẻ nói chuyện theo một cách mới, ngôn từ cuộn lại ở cuối câu, đi ngược vào cổ họng giống như bắt đầu súc họng, và họ có vẻ tự nhiên hơn, hoặc ít gượng ép và cứng ngắc hơn đám nam thanh niên, những người có vẻ giống nam diễn viên đơn thuần hơn là những người nữ kia giống nữ diễn viên - giống Ken, bạn khác phái của búp bê Barbie, hơn những cô gái giống Barbie. Khi có ba nhân vật trên màn hình, thường sẽ là hai phụ nữ dìm hàng nhau vì một anh đàn ông non choẹt đang đứng đó lúng túng với hàm dưới cứng đờ, và nếu có bốn người thì một ông phải già hơn với mái tóc muối tiêu tuyệt đẹp giống hình cái đầu “Trước khi sử dụng” trong quảng cáo thuốc nhuộm tóc Grecian Formula dành cho đàn ông, và những dòng đối lưu trong không khí dày đặc lên cho đến khi thứ âm nhạc kỳ quái mỗi lúc một căng dần nhất thời giải thoát họ bằng cách báo hiệu rằng đã đến lúc cho một nhóm “thông điệp” khác. Beth rất khoái chí nghĩ rằng đây là cuộc đời, tất cả trò ganh đua đến mức giết người, tình dục và ghen tuông và lòng tham tiền tài đang đẩy họ tới đó, những kẻ được cho là bình thường trong cộng đồng Pine Valley tiêu biểu ở Pennsylvania kia. Bà quê ở Pennsylvania song chưa từng biết một nơi như vậy. Làm thế nào mà bà lại bỏ lỡ cuộc đời, nhiều phần của cuộc đời đến thế? “Toàn bộ cuộc đời tôi có vẻ nằm ngoài tầm tay tôi,” một nhân vật trong All My Children từng nói, có lẽ là Erin. Hoặc Krystal. Nhận xét này xuyên thấu qua Beth như một mũi tên. Bố mẹ yêu thương; một cuộc hôn nhân hạnh phúc tuy không hoàn toàn theo quy ước; đứa con một tuyệt vời; công việc cho mượn sách và tra cứu các vấn đề trên Internet, thú vị về mặt trí tuệ mà lại không mệt nhọc thân xác: thế giới này đã hiệp lực làm cho bà yếu đuối và béo phì, bị cách ly khỏi niềm đam mê và mối nguy hiểm luôn nổ ra ở bất cứ nơi nào con người thực sự cọ xát nhau. “Ryan, em muốn giúp anh đến mức em sẽ làm bất cứ chuyện gì; em sẽ đầu độc mẹ anh vì anh nếu anh yêu cầu.” Không ai nói những điều như thế với Beth cả; chuyện gay gắt nhất từng xảy ra với bà là bố mẹ bà từ chối xuất hiện tại lễ cưới không tôn giáo của bà với một người Do Thái.
Những anh đàn ông non nớt nhận những lời thề cháy bỏng này thường chậm trả lời. Sự im lặng trong khoảng trống không-đối-thoại này mang một đặc tính trọn vẹn, bí hiểm. Beth thường sợ họ đã quên lời thoại, nhưng rồi họ nói điều kế tiếp, sau một khoảng ngừng lâu tới mức ấy. Tới một mức độ không thấy trong những chương trình buổi tối - những show cảnh sát, hài kịch, bản tin với nhóm bốn người đùa giỡn (hai phát thanh viên một nam một nữ, một phóng viên thể thao năng nổ, và nạn nhân của những lời đùa cợt và ta thán có thiện ý của họ, người dự báo thời tiết hơi ngớ ngẩn) - những phim truyền hình nhiều tập chiếu ban ngày diễn ra trong im lặng dày đặc, tràn ngập, một thứ im lặng mà mọi tuyên bố gợi tình, thú tội căng thẳng, mọi trấn an giả dối và mọi oán hận sục sôi đều không thể làm mờ đi được, cả tiếng nhạc rung vang mang màu tâm linh và bài nhạc trẻ lạc điệu chen ngang bất ngờ để khép lại chương trình cũng không thể xóa đi. Cái im lặng đáng sợ ấy là lý do giữ tất cả họ ở đó, giống như những miếng nam châm trên cửa tủ lạnh, dàn diễn viên trong những căn phòng ba mặt vách âm vang của họ và Beth trên chiếc ghế bành cực rộng của bà, bực tức với chính mình vì đã không mang đủ bánh quy yến mạch trên đĩa và bây giờ điện thoại sẽ không ngừng reo khiến bà phải từ bỏ hòn đảo La-Z-Boy lót nệm hết sức thoải mái đúng vào lúc David, anh bác sĩ tim mạch đẹp trai đến độ không tin nổi thốt ra đầy điềm gở những lời trĩu nặng hàm ý nhắm vào Maria, nàng bác sĩ phẫu thuật não cực giỏi có anh chồng là nhà báo Edmund từng đoạt giải Pulitzer bị giết trong một tập phim trước mà Beth không may đã bỏ lỡ.
Bà nhổm lên từng chặng một, đầu tiên là kéo đòn bẩy để hạ thấp miếng gác chân và, chiến đấu chống lại chuyển động lắc lư, đưa bàn chân xuống sàn và giơ cả hai tay nắm chặt tay vịn bên trái của ghế bành để kéo mình gần như nhổm hẳn dậy, và cuối cùng, với một tiếng rên rỉ rõ to, nâng cả tấm thân bà cho trụ lên hai đầu gối cứng đờ đang từ từ thẳng ra đau buốt, vừa làm vừa thở hổn hển. Lúc bắt đầu quá trình này, bà đã nhớ là cần đặt chiếc đĩa không từ tay vịn ghế lên cái bàn phụ sao cho an toàn, nhưng bà lại quên điều khiển tivi trên đùi mình, nên nó rớt xuống sàn. Bà thấy nó ở đó, những nút đánh số trên thanh chữ nhật nhỏ ở dưới đó bên những đốm cà phê và thức ăn đổ tích tụ qua thời gian trên tấm thảm xanh nhạt. Jack đã cảnh báo bà rằng thảm này sẽ dễ thấy bẩn, nhưng loại thảm phủ kín sàn màu nhạt đang là mốt năm đó, tay bán thảm nói vậy. “Nó tạo vẻ hiện đại, mát mẻ,” hắn ta đảm bảo với bà. “Nó mở rộng không gian.” Mọi người đều biết thảm phương Đông là tốt nhất, vết ố lẫn vào khó thấy, nhưng biết bao giờ bà với Jack mới có khả năng mua thảm phương Đông? Có một chỗ trên đại lộ Reagan bán thảm cũ với giá mềm, nhưng bà và Jack chưa bao giờ cùng đi đường đó với nhau, mua sắm ở đó hầu hết là người da đen. Dù sao thì, với thảm cũ, thường không bao giờ biết những người trước đó đã làm đổ cái gì giấu kín trong sợi vải, cứ nghĩ vậy là thấy khó chịu, giống như thảm trong phòng khách sạn. Beth không thể chịu nổi ý nghĩ xoay mình lại cúi xuống nhặt điều khiển lên - cảm giác thăng bằng của bà ngày càng tệ đi theo tuổi tác - và phải có lý do cấp bách nào đó thì người gọi điện mới không gác máy. Có một thời gian họ gắn máy trả lời tự động, nhưng có quá nhiều cuộc gọi bực bội của các bậc bố mẹ có con không vào được trường đại học do Jack tư vấn đến độ họ cho tháo máy đi. “Nếu anh có mặt, anh sẽ đối phó được,” ông nói. “Nghe được giọng người thật ở đầu bên kia thì người ta sẽ không ăn nói khó chịu như vậy.”
Beth đi một bước nữa, bỏ mặc mấy người trên tivi xoay xở với cả đống chuyện khốn khổ của họ, và bước cà nhắc đến bàn cạnh tường nhấc điện thoại lên. Kiểu điện thoại mới được máng thẳng đứng trong giá, và một bảng nhỏ bên dưới chùm lỗ nhỏ ở đầu nghe được cho là để báo tên và số đang gọi. Nó hiển thị dòng chữ NGOÀI KHU VỰC, vì vậy đó hoặc là Markie hoặc chị gái của bà ở Washington hoặc là một tay tiếp thị qua điện thoại nào đó đang gọi từ bất kỳ nơi nào họ ở - có thể xa tít tận Ấn Độ. “A lô?” Những lỗ nhỏ ở đầu nói không áp sát tới miệng bà theo kiểu điện thoại cũ, những điện thoại đơn giản nặng nề hiệu Bakelite đen tuyền trung thực luôn nằm úp mặt trên giá đỡ, nên Beth thường hay cao giọng lên bởi bà không tin cậy nó.
“Beth, Hermione đây.” Herm luôn ăn nói có vẻ nhanh nhẹn, bận rộn, như thể để làm cô em lười biếng, ưa nuông chiều bản thân phải xấu hổ. “Sao em lâu quá vậy? Chị định gác máy đó.”
“Ôi, ước gì chị làm vậy.”
“Nói vậy nghe không hay chút nào.”
“Em không như chị, Herm. Em đâu còn đi đứng nhanh được.”
“Ai đang nói chuyện sau lưng em vậy? Có ai ở đó hả?” Bà nói liên tục, chuyện này nối tiếp chuyện kia. Nhưng sự thẳng thắn của bà, hầu như thô lỗ, là một phần sót lại đáng ưa từ cung cách dân Hà Lan ở Pennsylvania thời con gái của họ. Nó gợi cho Beth nhớ về nhà, nhớ vùng Tây Bắc Philadelphia với thảm thực vật ẩm ướt, những chiếc xe đẩy và những cửa hàng tạp hóa góc phố chất đầy bánh mì hiệu Freihofer và hiệu Maier.
“Là cái tivi. Em đang tìm cái điều khiển để tắt” - bà không muốn thừa nhận là mình quá lười biếng và dềnh dàng đến độ không thể cúi xuống nhặt nó lên - “nhưng tìm mãi không thấy cái thứ ma ôn quỷ vật đó đâu.”
“Vậy đi tìm đi. Nó ở đâu đó thôi. Chị có thể chờ. Tivi cứ léo nha léo nhéo như vậy thì tụi mình không thể nói chuyện được. Mà em đang xem cái gì vậy, giữa trưa thế này?”
Beth đặt điện thoại xuống mà không trả lời. Chị ấy làm giọng mẹ không hà, bà nghĩ, nặng nề bước đến chỗ cái điều khiển tivi - giống một cách kỳ lạ với điện thoại về bề ngoài và cảm giác, đen xỉn và đầy mạch điện: một cặp chị em không tương xứng - nằm ngửa trên tấm thảm xanh nhạt trải phủ kín sàn. Tay bán hàng đã gọi nó là “màu ngọc bích”. Với một tiếng rên gắng sức, một tay bám chặt tay ghế còn tay kia với xuống trong nỗ lực lớn đánh thức lại cảm giác tập thể dục trong những bắp thịt ít sử dụng của bà, một động tác uốn người arabesque penchée bà từng học trong lớp múa ba lê hồi tám chín tuổi, tại phòng tập của cô Dimitrova, bên trên một quán ăn tự phục vụ dưới phố Broad, bà nhặt nó lên chĩa vào màn hình tivi nơi vở As the World Turns đến hồi kết trên Chanel Seven, trong tiếng nhạc râm ran, báo điềm gở. Beth nhận ra Craig và Jennifer đang bàn cãi sôi nổi, và tự hỏi không biết họ đang nói gì ngay khi bà bấm tắt. Họ hóa thành một ngôi sao nhỏ, lần lữa thêm chưa đến một giây.
Trong lớp học ba lê, bà là đứa em mềm mại và nhiều hứa hẹn; Hermione thì, cô Dimitrova thường nói theo kiểu Bạch Nga đầy khinh thị của cô, thiếu ballon. “Nhẹ, nhẹ thôi,” cô la lên, những sợi dây chằng nhảy lên trong cổ họng gầy nhẳng. “Vous avez besoin de légèreté![1] Hãy nghĩ rằng các em là des oiseaux[2]! Các em là những sinh vật của không trung!” Hermione, cao lòng khòng so với tuổi và rõ ràng đã được trời định sẵn dung mạo tầm thường, là kẻ chậm chạp chân tay nặng nề, còn Beth là đứa cảm thấy, en faisant des pointes[3], mình giống như chim, quay tít với hai cánh tay khẳng khiu dang rộng.
“Em đang thở hổn hển,” Hermione kết tội bà khi Beth quay lại điện thoại và làu bàu buông phịch người xuống chiếc ghế cứng nhỏ đưa từ bàn nhà bếp lên khi Mark không còn ở đây để ăn cùng bố mẹ anh. Một bản sao ghế Shaker bằng gỗ thích, nó có mặt ngồi hẹp đến nỗi bà phải nhắm đưa mông vào đó sao cho chính xác; cách đây vài năm có lần bà ngồi xuống hơi chệch thế là ghế đổ nghiêng quăng bà xuống sàn. Lẽ ra bà đã gãy xương chậu nếu không có lớp nệm dày đến thế, Jack nói vậy. Nhưng lúc đầu ông không cười. Ông hoảng hốt chạy tới bên bà và khi bà nói rõ là không bị thương, ông có vẻ thất vọng. Hermione hỏi gay gắt, “Không phải em đang xem thông báo đặc biệt nào đấy chứ, hả?”
“Trên tivi hả? Không - bộ có thông báo hả?”
“Không, nhưng” - vẻ do dự của bà chị đầy sức nặng, giống như những đoạn ngưng trong mấy phim dài kỳ - “có những tin rò rỉ. Nhiều chuyện lộ ra trước thời điểm phải tiết lộ.”
“Cái gì lộ ra vậy?” Beth hỏi, biết rằng thản nhiên tỏ ra mình mù tịt là cách để cạy miệng Hermione, vốn luôn khát khao ra vẻ giỏi giang hơn cô em gái.
“Không có gì, cưng. Dĩ nhiên là chị không nói được.” Nhưng, không thể chịu đựng sự im lặng của Beth, bà nói tiếp, “Dân tán gẫu trên mạng đang sôi nổi. Tụi chị nghĩ có vụ gì đó đang nhen nhóm.”
“Ôi cưng,” Beth nói hiền lành. “Ông Bộ trưởng coi chuyện đó ra sao?”
“Vị thánh tội nghiệp. Ông ấy quá tận tâm, toàn bộ đất nước này nằm trên vai ông ấy. Chị thật lòng sợ rằng công việc giết chết ông ấy mất. Em biết là ông ấy bị cao huyết áp mà.”
“Trên tivi trông ông ta khá khỏe. Dù em tự hỏi không biết ông ta có nên chọn kiểu tóc hơi khác chút không. Nó khiến ông ta trông hung hăng. Nó đẩy dân Ả Rập và giới theo chủ nghĩa tự do vào thế phòng thủ.”
Bà không thể xua khỏi óc mình hình ảnh thêm một chiếc bánh nướng nho khô yến mạch nữa - nó sẽ vỡ tan trong miệng bà, nước bọt sẽ chừa lại những hạt nho khô cho lưỡi bà tìm và vuốt ve trước khi cắn xuống. Hồi xưa bà thường hút một điếu thuốc mỗi khi tán gẫu điện thoại; rồi Cục trưởng Y tế Cộng đồng cứ nói với bà là việc đó không tốt cho bà, vì vậy bà bỏ thuốc và tăng tới mười lăm ký trong năm đầu. Chính phủ quan tâm khi người dân chết làm gì? Chính phủ có sở hữu họ đâu. Càng ít người để cai quản thì họ càng khỏe, bà nghĩ vậy. Nhưng, cũng phải, ung thư phổi là thứ rút kiệt Chương trình Chăm sóc Y tế Medicare, và làm thiệt cho nền kinh tế hàng triệu giờ làm việc sinh lợi. “Em nghi,” Beth góp ý một cách thiện chí, “hầu hết vụ bàn tán này chỉ là do mấy sinh viên học sinh quậy phá. Nhiều đứa trong đó tự xưng mình là người của Đấng Tiên tri chỉ để chọc tức bố mẹ chúng, em biết mà. Ở trường Jack đang tư vấn có một thằng nhóc kiểu này. Nó nghĩ nó là người Hồi giáo bởi vì ông bố lười biếng của nó theo đạo đó, rồi thì không thèm lý tới bà mẹ Ireland Công giáo cần cù đang sống chung với nó. Hãy nghĩ xem nếu tụi mình dẫn về nhà mấy gã Hồi giáo để cưới thì bố mẹ tụi mình sẽ nói gì.”
“Thì em cũng đã làm được điều tốt hạng nhì đó,” Hermione nói với bà, trả đũa cho vụ phê bình kiểu tóc.
“Jack tội nghiệp,” Beth nói tiếp, bỏ qua lời cạnh khóe, “anh ấy đang vất vả kéo thằng nhóc này khỏi vòng trói buộc của giáo đường cậu ta theo. Họ giống dân chính thống Báp tít, chỉ có điều tệ hại hơn, bởi vì họ không lý tới chuyện mình có chết hay không -.” Là người giảng hòa bẩm sinh - có lẽ mọi cô em đều vậy - bà trở lại đề tài ưa thích của Hermione. “Nói cho em biết hồi này ông ta đặc biệt lo âu chuyện gì. Ông bộ trưởng đó.”
“Bến cảng,” câu trả lời có sẵn đến ngay. “Hàng trăm tàu công ten nơ vào ra các cảng Mỹ mỗi ngày, và không ai biết một phần mười trong số đó chứa gì. Chúng có thể mang vào vũ khí nguyên tử dán nhãn da thuộc Argentina hoặc thứ gì đó. Cà phê Brazil - ai dám chắc đó là cà phê? Hay là mấy con tàu chở dầu khổng lồ ấy, không chỉ dầu, mà là propane lỏng chẳng hạn. Chúng chở propane như thế đó, ở dạng hóa lỏng. Nhưng hãy nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra ở Jersey City hoặc dưới cầu Bayonne nếu chúng tới được đó với chỉ vài cân Semtex hoặc TNT. Sẽ cháy to lắm, Beth à: hàng ngàn người chết. Hoặc đường xe điện ngầm New York - xem vụ Madrid đi. Xem vụ Tokyo cách nay vài năm đi. Chủ nghĩa tư bản đã mở toang trước giờ - nó phải như vậy thì mới đạt hiệu quả. Hãy hình dung vài tên mang súng trường trong một khu mua sắm ở bất cứ đâu trên nước Mỹ. Hay tại Saks hoặc Bloomingdale’s. Còn nhớ thương xá Wanamaker hồi xưa không? Nhớ mình thường tới đó hồi nhỏ mà trong lòng sung sướng đến cỡ nào? Nó cứ như một thiên đường, nhất là mấy cầu thang cuốn và gian hàng đồ chơi ở tầng thượng. Tất cả đã hết rồi. Chúng ta không bao giờ còn được sung sướng như thế nữa - người Mỹ chúng ta.”
Beth cảm thấy tiếc cho Hermione, chuyện gì cũng cả lo, nên liền nói. “Ồ, chả phải phải hầu hết mọi người vẫn cứ loay hoay tiến tới đấy sao? Luôn có một nguy hiểm nào đó trong cuộc sống. Dịch bệnh, chiến tranh. Bão lốc ở Kansas. Người ta vẫn cứ đi tới. Chị tiếp tục sống cho đến khi bị buộc phải dừng lại, mà khi đó thì chị hết còn biết gì rồi.”
“Chính thế, chính là thế, Betty; chúng đang cố buộc chúng ta phải dừng lại. Mọi nơi, bất cứ đâu - chỉ cần một quả bom nhỏ, vài khẩu súng. Một xã hội rộng mở thì quá thiếu bảo vệ. Mọi thứ mà thế giới tự do thời nay đạt được đều mong manh đến thế đấy.”
Chỉ có Hermione vẫn gọi bà là Betty, và chỉ khi chị ấy bực mình. Jack và bạn đại học của bà gọi bà là Beth, và sau khi bà lấy chồng cả bố mẹ bà cũng cố chuyển sang cách gọi mới. Để tẩy xóa sai lầm nhỏ này, Hermione vuốt ve bà, cố lôi kéo bà chia sẻ lòng say mê của chị ấy đối với ông bộ trưởng. “Ông ấy và các chuyên gia bên chị đang cố suy nghĩ ngày đêm về những kịch bản tình huống tồi tệ nhất. Chẳng hạn như máy vi tính, Beth à. Chúng ta đã xây dựng chúng thành hệ thống khiến cho mọi người phụ thuộc vào đó, không chỉ các thư viện mà cả công nghiệp, ngân hàng, các công ty môi giới chứng khoán, các hãng máy bay, cả nhà máy năng lượng hạt nhân - kể hoài không hết ấy chứ.”
“Em hiểu điều đó mà.”
Hermione hoàn toàn không nhận ra vẻ mỉa mai này, nói tiếp, “Có thể có thứ họ gọi là cuộc tấn công mạng. Họ có những con sâu lọt qua được tường lửa và cài những vi mã, họ đặt tên vậy, các vi mã này gửi về những thông điệp mật mô tả mạng lưới mà chúng đã thâm nhập vào và làm tê liệt mọi thứ, làm rối loạn cái họ gọi là các bảng đường truyền và len lỏi qua những giao thức cổng nối để không chỉ thị trường chứng khoán và đèn giao thông mà tất cả mọi thứ đều tê liệt - mạng lưới điện, bệnh viện, cả bản thân Internet nữa, em tưởng tượng được không? Những con sâu này được lập trình để lan truyền lan truyền mãi cho đến khi ngay cả chương trình tivi em đang xem cũng sẽ tiêu tùng, hay nói cách khác chẳng chiếu gì ngoài Osama bin Laden trên tất cả các kênh.”
“Herm, cưng này, em chưa từng nghe ai nói chữ ‘tiêu tùng’ từ hồi rời Philadelphia cả. Chẳng phải mấy con sâu với vi rút này vẫn được phát đi liên tục sao, và nguồn xuất phát hóa ra là từ một đứa nhóc mới lớn kỵ xã hội đáng thương nào đó ngồi trong căn phòng bẩn thỉu của nó ở Bangkok hoặc Bronx sao? Chúng khuấy hôi lên được ít lâu nhưng chúng không làm sụp được thế giới này. Cuối cùng chúng lại bị bắt bỏ tù thôi. Chị đã quên tất cả những người đàn ông thông minh, cả phụ nữ nữa, đã thiết kế mấy cái tường lửa hay gì gì đó. Chắc chắn họ luôn có thể đi trước dăm ba tên Ả Rập cuồng tín - có phải tụi nó phát minh ra máy tính giống như chúng ta đâu.”
“Không, nhưng người Ả Rập đã phát minh ra số không, có thể em không biết. Họ không cần phải phát minh ra máy tính thì mới biết dùng máy tính xóa sổ chúng ta. Bộ trưởng gọi đó là cuộc chiến tranh mạng. Chúng ta đang dính vào đó, dù muốn hay không, chiến tranh mạng. Lũ sâu đã được phát tán tứ tung; Bộ trưởng ngày ngày phải xem xét hàng trăm báo cáo nói với ông về những cuộc tấn công.”
“Tấn công mạng.”
“Đúng. Em nghĩ nó buồn cười, nghe giọng em chị biết, nhưng không buồn cười đâu. Cực kỳ nghiêm túc đấy, Betty.”
Chiếc ghế Shaker này bắt đầu làm bà đau. Hồi đó hẳn họ có những kiểu thân thể khác bây giờ, đám người theo phái Quaker và Thanh giáo ấy: triết lý khác nhau về tiện nghi và thiết yếu. “Em không nghĩ nó buồn cười, Herm à. Dĩ nhiên những chuyện rất xấu có thể xảy ra, một số đã xảy ra, nhưng...” Bà quên chữ “nhưng” này muốn dẫn tới cái gì. Bà nghĩ hay mình xách cái điện thoại cầm tay này đi xuống bếp thò tay vào ngăn đựng bánh nướng. Bà yêu cảm giác khi sờ vào những chiếc bánh ấy, loại bánh đặc biệt mà chỉ một cửa hàng góc phố kiểu xưa còn lại trên phố 11 là còn bán. Jack vẫn thường mua mớ bánh đó cho bà. Bà tự hỏi không biết chừng nào Jack về; dạo này những buổi tư vấn của ông có vẻ kéo dài hơn thường lệ. “Nhưng em không biết gần đây có quá nhiều cuộc tấn công mạng như vậy.”
“Phải, đó là nhờ ông Bộ trưởng. Ông ấy thậm chí nửa đêm cũng nhận báo cáo. Khiến ông ấy già sọm đi, thật tình là thế. Tóc hai bên thái dương bạc trắng, mắt trũng sâu. Chị cảm thấy bất lực.”
“Hermione này, không phải ông ta có vợ rồi sao? Cả đống con nữa? Em thấy họ trên báo, tất cả đi nhà thờ vào lễ Phục sinh.”
“Phải, dĩ nhiên ông ấy có. Chị biết điều đó. Chị biết chỗ của mình. Mối quan hệ giữa chị với ông ấy hoàn toàn là công việc. Và, vì em khiêu khích quá - chuyện này là rất bí mật nhé - một trong những khu vực bọn chị nhận được báo cáo nhiều nhất là Bắc New Jersey. Tucson, khu Buffalo, và Bắc New Jersey. Ông ấy rất kín miệng - phải vậy thôi - nhưng có một số tay imam, nếu chị phát âm đúng chữ đó, rõ ràng cần phải theo dõi. Tất cả họ đều thuyết giảng những điều kinh khủng chống nước Mỹ, nhưng một số còn đi xa hơn thế. Ý chị là, họ ủng hộ bạo lực chống đất nước này.”
“Ô, ít nhất thì đó cũng là thầy tế đạo Hồi. Nếu đám giáo sĩ Do Thái cũng làm vậy, Jack sẽ phải tham gia. Dù anh ấy không hề đi nhà thờ. Nếu có biết đâu anh ấy sẽ hạnh phúc hơn.”
Cơn bực tức của Hermione bùng phát: “Thực tình, đôi khi chị tự hỏi không biết Jack nghĩ gì về em; em không coi bất cứ gì là nghiêm túc cả.”
“Đó là một phần của sự hấp dẫn đấy,” Beth nói với bà chị. “Anh ấy là người trầm cảm, và anh ấy thích cái kiểu nhẹ nhõm vô tư lự của em.”
Có một quãng ngừng, bà cảm thấy chị bà đang cưỡng lại lời đối đáp hiển nhiên này: hiện giờ bà chẳng còn là hạng nhẹ nhõm nữa. “Thôi được,” Hermione thở dài ở đằng Washington. “Chị cho em trở về với bộ phim nhiều kỳ của em. Điện thoại kia của chị đang nhấp nháy đỏ; ông ấy muốn gì đó.”
“Mình nói chuyện thế này là tốt,” Beth nói dối.
Bà chị đã thế chỗ mẹ bà trong việc không để cho bà quên bà đã lầm lạc cỡ nào. Theo cách họ nói thì Beth đã “buông thả”. Một mùi bốc lên cánh mũi bà từ những khe sâu giữa những lớp mỡ, nơi những bọn mồ hôi đen tích tụ; trong bồn tắm da thịt bà nổi lềnh bềnh quanh bà như một giề bong bóng khổng lồ bềnh bồng nổi trôi lờ đờ, nhão sệt. Làm thế nào mà chuyện này lại xảy ra với bà? Khi còn con gái bà vẫn ăn những gì bà thích; bà không bao giờ nghĩ mình ăn nhiều hơn người khác, và đến nay vẫn vậy: chỉ là thức ăn dính vào bà nhiều hơn. Bà đọc thấy một số người có tế bào lớn hơn người khác. Cách chuyển hóa chất khác nhau. Có lẽ đấy là do bị bó chân trong căn nhà này, và căn nhà trước đây - trên phố 18, và căn nhà trước đó nữa, gần khu trung tâm hơn căn này cỡ nửa dặm, trước khi tình hình khu đó trở nên quá tệ - bị giam hãm bởi một người đàn ông đã bỏ mặc bà mà không hề tỏ ra như thế. Hằng ngày kiếm sống ở trường trung học, ai mà chê trách ông ấy được? Khi còn là người vợ trẻ bà thường thông cảm, nhưng khi có tuổi bà dần nhận ra ông nghiêm trọng hóa mọi chuyện thế nào, rời nhà lúc trời còn tối om lạnh ngắt và mãi đến tối mịt mới về nhà sau những nhiệm vụ ngoại khóa, những học sinh cá biệt, những cuộc họp khẩn với các phụ huynh lơ là bổn phận. Ông thường về nhà bơ phờ vì tất cả những vấn đề ông không thể giải quyết, những cuộc đời khốn khổ sống ở New Prospect không mục đích và bây giờ được truyền lại cho con cái: “Beth, họ cóc thèm quan tâm. Họ không hề biết thế nào là sống có tổ chức. Họ không thể tưởng tượng được cuộc sống xa hơn cú choác kế tiếp, cuộc chè chén kế tiếp, chuyện rắc rối kế tiếp với cớm hoặc ngân hàng hoặc Cơ quan Nhập tịch và Di trú. Đám trẻ tội nghiệp, chúng không hề được hưởng sự xa xỉ là sống đời trẻ thơ. Em thấy chúng bước vào lớp chín với chút hy vọng nhỏ nhoi còn lại trong chúng, một vết tích của lòng hăng hái thường thấy ở bọn học sinh lớp hai, một niềm tin rằng nếu nắm vững luật lệ và chăm chỉ rèn luyện thì sẽ được tưởng thưởng; và đến khi tốt nghiệp, nếu chúng tốt nghiệp được, chúng ta đã xóa sạch thứ đó trong lòng chúng. ‘Chúng ta’ là ai? Nước Mỹ, anh cho là vậy, dù thật khó xác định chính xác nó sai ở chỗ nào. Ông nội anh đã nghĩ số phận của chủ nghĩa tư bản đã bị định đoạt, nó tất yếu ngày càng trở nên áp chế cho đến khi giai cấp vô sản phá tan mọi rào cản và thiết lập thiên đường của công nhân. Nhưng điều đó đã không xảy ra; hoặc giai cấp tư sản quá thông minh hoặc tầng lớp vô sản quá ngu ngốc. Để chắc ăn, chúng đổi nhãn ‘chủ nghĩa tư bản’ thành ‘hệ thống tự do kinh doanh’, nhưng vẫn còn quá nhiều cảnh người diệt người. Quá nhiều kẻ thua, và kẻ thắng ăn quá đậm. Nhưng nếu em không để cho bọn chó quần nhau cho ra lẽ, chúng sẽ ngủ cả ngày trong ổ chó. Vấn đề cơ bản theo cách nhìn của anh là, xã hội cố trở nên văn minh, và tính văn minh thì không ăn thua gì trong trạng thái tự nhiên. Không ăn thua chút nào. Tất cả chúng ta nên trở lại làm người săn bắn hái lượm, với tỷ lệ có việc làm trăm phần trăm, và một lượng chết đói đáng kể.”
Rồi Jack về nhà với trạng thái mệt mỏi bởi vì những vấn đề ngoài tầm giải quyết đang trở nên đáng chán, và ông có nhúc nhích chút nào để giải quyết thì cũng chỉ là một thói quen lệ thường, một sự lặp lại, một công việc, một công việc lừa gạt. “Điều thực sự khiến anh não ruột,” ông thường nói, “là chúng không chịu hiểu chúng đang phải sống tồi tệ như thế nào. Chúng nghĩ chúng sống khá tốt, với bộ đồ mới sặc sỡ rẻ tiền mà chúng mua được nửa giá, hoặc trò chơi điện tử siêu bạo lực mới nhất, hoặc một đĩa CD mới thời thượng nào đó mà ai cũng phải có, hoặc thứ tôn giáo ngớ ngẩn mới toanh cho ta ru ngủ đầu mình trở về thời kỳ đồ đá. Nó khiến ta nghiêm túc tự hỏi liệu con người có đáng được sống không - liệu những kẻ hoạch định các cuộc thảm sát ở Rwanda và Sudan và Iraq có nghĩ đúng không.”
Và khi để cho bản thân ngày càng mập ra bà đã đánh mất khả năng làm cho ông vui vẻ lên như bà từng làm. Ông sẽ không bao giờ nói thế. Ông không bao giờ thô lỗ. Bà tự hỏi không biết có phải chính chất Do Thái trong ông - tính nhạy cảm, gánh nặng trách nhiệm, thực tình còn là ý thức về vị trí kẻ trên, đã khiến ông giữ kín nỗi buồn cho riêng mình, thức dậy sớm là đến bên cửa sổ thay vì nằm ráng trên giường với nỗi buồn ấy làm bà thức giấc. Họ đã có một cuộc sống tốt đẹp bên nhau, Beth kết luận trong khi nhỏm người khỏi mặt ghế Shaker nhỏ xíu bằng gỗ cứng, gắng hết sức, ấn một tay trên lưng ghế, cẩn thận không làm nó nghiêng đổ vì thể trọng của bà. Đó sẽ là một cảnh chẳng hay ho gì, nằm bò trên sàn với cái xương chậu bể, thậm chí không thể với tay kéo áo choàng tắm đang mặc xuống giùm nhân viên cấp cứu khi họ đến.
Bà phải thay chiếc áo choàng tắm ra và đi mua sắm. Nhu yếu phẩm của họ đã cạn - xà phòng, nước giặt tẩy, khăn giấy, giấy vệ sinh, xốt mayonnaise. Bánh quy và thức ăn nhẹ. Bà không thể nhờ Jack mua tất cả các thứ này trong khi ông đã mua các món ăn hâm bằng lò vi ba từ ShopRite hoặc thức ăn làm sẵn từ cửa hàng người Tàu mỗi khi họ yêu cầu bà ở lại thư viện đến sáu giờ. Còn thức ăn cho mèo nữa. Carmela đâu rồi? Con mèo này không được vuốt ve đủ, nó ngủ suốt ngày dưới ghế dài, chán nản, đêm thì chạy lông rông như thú hoang. Triệt sản nó quả là sai, nhưng nếu không làm vậy ta sẽ có mèo con đầy nhà.
Bà và Jack đã có một cuộc sống tốt đẹp bên nhau, Beth tự nhủ, kiếm sống bằng việc cạo giấy - bây giờ là mài bàn phím máy vi tính - và thoải mái ân cần với mọi người. Thế là nhiều hơn mức người Mỹ thời xưa được phép làm, lao động quần quật trong nhà máy khi thành phố vẫn còn là nơi chế tạo mọi thứ; người ta sợ người Ả Rập đến vậy, nhưng chính người Nhật, người Trung Quốc, người Mexico, người Guatemala và các sắc dân khác ở những bậc lương thấp mới là những kẻ đang giết chúng ta, khiến cho lực lượng lao động của chúng ta thất nghiệp. Chúng ta đến đất nước này rồi quây dân Da đỏ vào những khu bảo tồn và xây dựng nhà chọc trời làm đường siêu tốc và rồi tự dưng mọi người đều muốn một phần trong thị trường nội địa của chúng ta, giống như con cá voi bị đàn cá mập moi ruột trong truyện của Hemingway; à nhưng đó là con cá kiếm. Cũng ý đó thôi. Và Hermione cũng may mắn, kiếm được một việc làm quan trọng ở Washington với một trong các nhân vật then chốt của chính quyền, nhưng thật buồn cười cái kiểu chị ấy cứ lảm nhảm hoài về ông chủ - cứu tinh của tất cả chúng ta, chị ấy nói vậy đấy. Những kích thích tố bị dồn ứ sẽ dẫn đến tâm lý của bà cô không chồng, giống như những nam nữ tu sĩ trở nên quá độc ác và phóng đãng, không tin vào bất cứ thứ gì họ đã rao giảng, nếu cứ xét qua hành động của họ, xâm hại những đứa trẻ tội nghiệp tin cậy đang cố trở thành người Công giáo tử tế. Lập gia đình và học biết đàn ông thường làm những trò gì, họ có mùi và cư xử ra sao, dù sao cũng là bình thường: nó giải phóng những kìm nén và dập tắt những ý tưởng lãng mạn ngớ ngẩn. Trên đường đến cầu thang và phòng ngủ của bà để thay quần áo mặc ra phố (nhưng quần áo gì? là vấn đề; sẽ chẳng thứ gì che đậy được cả năm chục ký dư; chẳng thứ gì khiến bà lại trông thanh thoát trên đường phố nữa), Beth nghĩ mình sẽ không từ việc nhìn vào nhà bếp xem liệu có gì trong tủ lạnh để nhấm nháp cho dù bà mới ăn trưa xong. Như để trấn áp nỗi thôi thúc đó bà ngồi phịch lại vào chiếc ghế lắc lư, và kéo cần nâng thanh gác chân lên để làm dịu cơn đau co bóp ở hai mắt cá. Chứng phù, bác sĩ gọi tên nó thế, nơi ngày xưa Jack chỉ cần cong ngón giữa và ngón cái là ôm trọn. Ngay khi thôi ngồi lọt thỏm trong ghế dựa, bà nhận ra mình mắc tiểu. Chà, cứ phớt lờ đi, rồi nhu cầu ấy sẽ biến mất, kinh nghiệm sống đã dạy cho bà điều đó.
Giờ thì cái điều khiển tivi đâu rồi? Bà đã nhặt nó lên và bấm tắt tivi, rồi ký ức của bà trống rỗng. Thật đáng sợ, sao mà ký ức của bà hay trống rỗng đi như thế. Bà kiểm tra hai tay vịn ghế và vận sức dòm xuyên qua tay ghế xuống tấm thảm màu ngọc bích mà gã đó bán cho bà, lần thứ hai trong ngày nghĩ về cô Dimitrova và bài tập căng người. Chắc là nó đã nằm thăng bằng trên một bên tay ghế rồi sau đó trượt vào kẽ nệm khi bà buông người xuống đây thay vì lên lầu để thay quần áo. Các ngón tay phải của bà lần mò khe hở chật chội đó, thứ nhựa vinyl giả da bò từ thời miền Tây hoang dã xa xưa mà hẳn là không kỳ diệu đến thế nếu ta có mặt ở đó, và sau đó các ngón tay trái lần mò khe phía bên kia, rồi thì quả là bắt gặp nó - chiều dài lạnh nham nhám của cái bấm chuyển kênh. Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu cơ thể bà không cản trở quá mức như vậy, đẩy tấm nệm quá sát vào tay vịn ghế đến độ bà phải cẩn thận để móng tay không vướng phải đường chỉ khâu hoặc thứ gì đó bằng kim loại. Có đủ loại cặp tóc, tiền xu, thậm chí cả kim và đinh ghim tích tụ trong những khe hở này. Mẹ bà lúc nào cũng khâu khâu vá vá thứ gì đó trên chiếc ghế bành bọc vải ca rô có diềm cũ cạnh cửa sổ tại nhà để có ánh sáng, bậu cửa sổ sâu bằng gỗ với những tấm rèm chấm bông và khay phong lữ thảo nhìn ra phong cảnh cây cỏ xanh tươi đến độ nhiều chỗ đất ẩm vẫn hoàn ẩm qua cả trưa. Bà chĩa hộp điều khiển và bấm sang Chanel Two, CBS, và các điện tử nhận được lệnh từ từ tụ lại, tạo thành âm thanh và hình ảnh. Nhạc nền trong phim As the World Turns, một điều khó nhận thấy, có nhiều chất giao hưởng hơn, ít chất đại chúng hời hợt hơn nhạc nền trong bộ All My Children - nhạc cụ bộ gỗ và bộ dây trầm bổ sung thêm những âm thanh ma quái, một tiếng gõ giống như tiếng nện móng guốc xa dần. Beth có thể nhận ra qua tiếng nhạc hào hứng và biểu lộ trên khuôn mặt các nam nữ diễn viên trẻ vừa mới thốt ra lời thoại - những vẻ giận dữ, nhíu mày, thậm chí sợ hãi - rằng điều họ vừa nói với nhau là rất quan trọng, mấu chốt, một vụ chia tay hoặc một vụ giết người đã được thỏa thuận, nhưng bà đã bỏ lỡ nó; bà đã không bắt kịp được thế giới chuyển mình. Beth gần phát khóc.
Nhưng cái cách cuộc đời này cứu vãn người ta thật kỳ lạ. Carmela, không biết từ đâu, hiện đến và nhảy lên đùi bà. “Nãy giờ Bé cưng ở đâu vậy?” Beth hỏi bằng giọng cao vót sung sướng. “Mẹ nhớ con quá!” Tuy nhiên, liền sau đó, bà nóng nảy đẩy con mèo đang lựa chỗ trên khối da thịt mênh mông ấm áp của bà để kêu rừ rừ khỏi lòng mình, và loay hoay lần nữa nhỏm dậy khỏi chiếc ghế lắc lư. Đột nhiên, có quá nhiều việc phải làm.
Hai tuần sau ngày tốt nghiệp trường Trung học Trung tâm, Ahmad đỗ kỳ thi lấy giấy phép lái xe tải tại cơ sở sát hạch ở Wayne. Mẹ cậu, vốn vẫn cho phép cậu tự nuôi dạy bản thân ở nhiều phương diện, đi cùng cậu trên chiếc xe bảy chỗ Subaru màu mận móp méo chị dùng để đến bệnh viện hoặc để chở tranh đến cửa hàng quà tặng ở Ridgewood và những nơi trưng bày tác phẩm nghệ thuật khác của chị, gồm cả những cuộc triển lãm không chuyên khác nhau ở hội trường các trường học và nhà thờ. Muối mùa đông đã ăn mòn mép dưới khung sườn, và kiểu lái xe cẩu thả của chị cùng với lối mở cửa vội vã của các xe khác trong bãi đỗ xe và những nhà để xe có mặt sàn dốc trôn ốc đã gây thiệt hại cho hai bên hông và vè chắn bùn. Vè chắn bùn bên phải phía trước, hậu quả một vụ hiểu lầm tại một ngã tư có biển báo dừng, được một trong các bạn trai của chị đắp bằng chất trám thân xe Bondo, đấy là một cậu trẻ hơn chị nhiều, từng thử vầy vọc làm tượng bằng phế liệu và đã chuyển đến Tubac, Arizona, trong khi miếng đắp hãy còn chưa thể chà láng và sơn lại được. Vì vậy nó vẫn cứ là một mảng màu keo trét thô nhám, và ở nhiều chỗ khác, phần lớn ở mui và nắp khoang máy, nước sơn, bị phơi ngoài trời trong mọi thời tiết, đã phai từ mận sẫm sang màu hồng trái đào. Ahmad thấy như mẹ cậu có vẻ phô phang sự nghèo túng của chị, phô phang sự thất bại hằng ngày trong việc hòa nhập vào tầng lớp trung lưu, cứ như thất bại ấy nằm trong bản chất của cuộc đời nghệ sĩ và quyền tự do cá nhân vẫn được coi là quý giá đến thế đối với dân Mỹ ngoại đạo. Mẹ cậu, với cả kho vòng đeo cổ tay cổ chân và quần áo lạ lùng kiểu dân du cư, như cái quần bò tẩy màu và áo chẽn da nhuộm màu tía chị mặc hôm nay, mưu toan làm cậu bối rối bất cứ khi nào họ cùng nhau đến chỗ công cộng.
Ngày hôm đó tại Wayne, chị còn cợt nhả với một ông già đứng tuổi, một viên chức khốn khổ của bang phụ trách giám sát kỳ thi. Chị nói, “Tôi không biết sao nó nghĩ nó muốn lái xe tải. Ý đó nó lấy từ ông thầy tế của nó - không phải mẹ nó, mà ông thầy tế của nó. Thằng bé cưng của tôi tự xưng là người Hồi giáo.”
Người đàn ông ngồi sau bàn giấy tại Trung tâm Dịch vụ Địa phương MVC ở Wayne có vẻ bối rối bởi cơn thổ lộ tâm sự của người mẹ này. “Làm nghề này tiền nong có thể ổn định,” ông ta nói, sau khi suy nghĩ.
Ahmad nhận thấy lời lẽ đến với người công bộc này một cách đau đớn, tiêu phí một nguồn lực trong ông ta mà cậu cảm nhận được là quý giá và ít ỏi. Mặt ông ta, thu ngắn lại khi ông cúi xuống mặt bàn, dưới những ống đèn huỳnh quang nhấp nháy, bị biến dạng đi chút ít, như thể nó từng bị gạn nhăn vì một cảm xúc gay gắt quét qua và sau đó đông cứng lại. Đây là kiểu sinh vật vô vọng mà mẹ cậu vẫn hằng phung phí những lời ve vãn, bất cần biết điều đó thiệt hại đến phẩm giá của con trai chị. Người đàn ông này tồn tại quá lờ đờ trong mạng lưới những quy tắc của ông ta đến độ không lĩnh hội nổi rằng Ahmad, dù đủ lớn để xin giấy phép lái xe tải hạng C, vẫn chưa hoàn toàn là người đàn ông thực thụ để tách khỏi mẹ cậu. Chỉ ý thức được thái độ thiếu đúng đắn và có khả năng là giễu cợt của người phụ nữ này, ông ta giật lá phiếu kiểm tra sức khỏe đã điền xong khỏi tay người xin dự thi và bắt Ahmad chúi mặt vào một cái ô, ô này yêu cầu cậu đọc, mỗi lần một mắt, những mẫu tự tô nhiều màu khác nhau, phân biệt đỏ với xanh và cả xanh lẫn đỏ với màu hổ phách. Cỗ máy này đánh giá xem cậu có phù hợp để lái một cỗ máy khác hay không, và người phụ trách bài kiểm tra đã bị đông cứng thành một khối bực bội bởi vì tình trạng làm cùng một công việc từ ngày này sang ngày nọ đã biến ông thành một cỗ máy nữa, một yếu tố dễ bị thay thế trong sự vận hành của phương Tây tàn nhẫn, trọng vật chất. Chính Hồi giáo, Shaikh Rashid nhiều lần giải thích, đã bảo tồn những máy móc đơn giản và nền khoa học của người Hy Lạp khi cả châu Âu Cơ Đốc giáo trong tình trạng dã man đã quên các thứ như thế. Trong thế giới hiện đại này, những nhân vật anh hùng Hồi giáo chống lại Quỷ dữ đều nguyên là bác sĩ kỹ sư, thông thạo sử dụng những máy móc như máy vi tính, máy bay và bom vệ đường. Hồi giáo, không như Cơ Đốc giáo, không sợ sự thật khoa học. Đấng Allah đã tạo ra thế giới vật chất, và mọi công cụ của nó khi được đưa vào sử dụng cho mục đích thiêng liêng đều trở nên thiêng liêng. Cứ thế Ahmad, giữa những suy tưởng như thế, đã nhận được giấy phép lái xe tải. Bằng hạng C không đòi hỏi thi thực hành trên đường.
Shaikh Rashid rất hài lòng. Ông nói với Ahmad, “Bề ngoài có thể đánh lừa. Dù ta biết trong con mắt giới trẻ thánh đường của chúng ta có vẻ tồi tàn và mong manh xét theo những phục sức bên ngoài, nhưng nó được đan kết bằng những mối dây bền chặt và được xây dựng trên những niềm tin ăn sâu trong tâm hồn con người. Thánh đường có bạn bè, những người bạn có quyền lực cũng như rất sùng đạo. Mới hôm trước trưởng gia đình Chehab nói với ta rằng doanh nghiệp ăn nên làm ra của ông ta cần một tài xế xe tải trẻ, không có những thói quen ô uế và kiên định đức tin của đạo.”
“Bằng của em chỉ là hạng C,” Ahmad nói với ông ta, lùi một bước khỏi lối vào thế giới người lớn mà cậu có cảm giác là quá dễ và quá nhanh. “Em không lái xe ra ngoài bang hay chở những chất nguy hiểm được.”
Cậu đang vui thú, trong những tuần sau khi tốt nghiệp, được sống với mẹ trong tình trạng nhàn rỗi, làm việc toàn những giờ thất thường, dưới ánh đèn sáng gắt tại Shop-a-Sec, thực hiện trung thành nghi thức hành lễ hằng ngày của cậu, đánh bạo đi xem một hai bộ phim và thán phục kiểu tiêu xài đạn dược của Hollywood cùng vẻ đẹp của những vụ nổ, vận chiếc quần đùi điền kinh cũ chạy khắp phố, đôi khi vào khu những dãy nhà phố nơi cậu đã đi bộ vào trưa Chủ nhật nọ với Joryleen. Cậu không hề gặp cô, chỉ gặp những cô gái màu da tương tự có cách thả bộ thơ thẩn giống cô, biết mình đang được người ta ngắm. Khi chạy qua những dãy nhà tồi tàn, cậu nhớ lại cuộc nói chuyện láng máng của ông Levy về trường đại học và môn học mơ hồ nhưng tuyệt vời của nó, “khoa học, nghệ thuật, lịch sử”. Ông thầy tư vấn này đã ghé qua căn hộ thật, một hai lần, nhưng, dù khá thân thiện với Ahmad, ông nhanh chóng cáo lui, cứ như không nhớ mình đến vì việc gì. Không lắng nghe kỹ câu trả lời, ông hỏi Ahmad xem các kế hoạch của cậu tiến triển ra sao và liệu cậu có ý định sống tiếp ở đây hay thoát ly gia đình để khám phá thế giới, theo kiểu thanh niên nên làm. Điều này nghe có vẻ kỳ cục từ miệng ông Levy, người sống cả đời ở New Prospect, trừ thời gian học đại học và tại ngũ như phần đông đàn ông Mỹ hồi đó. Tuy vào thời điểm ấy cuộc chiến xấu số của Mỹ chống lại quyền tự quyết của Việt Nam đang tiến triển nhưng ông Levy không hề nhận lệnh điều ra khỏi nước Mỹ, vẫn làm việc bàn giấy, một điều khiến ông cảm thấy mình có lỗi, vì cho dù cuộc chiến tranh này là một sai lầm nhưng nó tạo cơ hội chứng tỏ lòng can đảm và thể hiện tình yêu nước của ông. Ahmad biết điều này bởi vì thỉnh thoảng mẹ cậu nói với cậu về ông Levy - ông có vẻ là người đáng mến, dù không phải là người rất hạnh phúc, không được ban giám hiệu đánh giá đúng mức, và không còn đóng vai trò quan trọng gì đối với vợ và con trai ông. Mẹ cậu độ này ưa tán chuyện và tò mò khác thường; chị quan tâm đến Ahmad nhiều hơn cậu quen mong đợi, mỗi khi cậu ra ngoài là đều hỏi khi nào cậu về, và đôi khi tỏ ra khó chịu khi cậu trả lời, “Ồ, thì lúc nào đấy.”
“Vậy chính xác là khi nào mới được?”
“Mẹ! Để con yên. Nhanh thôi. Con có thể qua mò tìm ở thư viện.”
“Con có cần ít tiền xem phim không?”
“Con có tiền, và con vừa mới xem hai bộ phim, một phim có Tom Cruise và một có Matt Damon. Cả hai đều nói về dân ám sát chuyên nghiệp. Thầy Rashid nói đúng - phim ảnh thật ngu ngốc và tội lỗi. Chúng là hình mẫu của Địa ngục.”
“Ô chao, sao mình trở nên thánh thiện thế! Bộ con không có bạn bè sao? Bộ không phải đám con trai cỡ tuổi con thường có bạn gái sao?”
“Mẹ, con không phải là đứa đồng tính, nếu đó là điều mẹ ám chỉ.”
“Làm sao con biết?”
Cậu sốc, “Con biết chứ.”
“Ô, mẹ chỉ biết,” chị nói, chải ngược tóc ra sau bằng những ngón tay trái cong lại trong một động tác lướt nhanh thừa nhận tính chất lôi thôi của cuộc nói chuyện này và báo hiệu sẵn lòng kết thúc nó, “là mẹ không bao giờ biết khi nào con mới đùng một cái trở về.”
Bây giờ, với chính giọng điệu ít nhiều gắt gỏng đó, Shaikh Rashid trả lời, “Họ không muốn em lái xe khỏi bang. Họ không muốn em chở chất nguy hiểm. Họ muốn em chở đồ nội thất. Công ty của nhà Chehab là Excellency Home Furnishings, trên Đại lộ Reagan. Em hẳn đã đi qua đó, hoặc nghe tôi đề cập đến gia đình Chehab.”
“Gia đình Chehab hả?” Nhiều lần Ahmad sợ rằng, bị bao phủ trong cảm giác Thượng Đế đứng bên cạnh cậu - quá gần đến độ nhập thành một bản thể thần thánh duy nhất, gần kề cậu hơn tĩnh mạch nơi cổ cậu, như kinh Qur’an diễn tả - cậu ít nhận thấy những chi tiết tầm thường hơn những người khác, những người không tôn giáo.
“Habib và Maurice,” ông thầy tế nói rõ với vẻ nóng nảy làm lời lẽ của ông ngắt nhau ra một cách chính xác như hàm râu tỉa tót của ông vậy. “Họ là người Li Băng, không theo phái Maronite cũng không theo phái Druze. Họ đến đất nước này khi còn trẻ hồi thập niên sáu mươi, khi mà Li Băng có vẻ sắp trở thành chư hầu của thực thể phục quốc Do Thái. Họ mang theo ít vốn và đầu tư vào công ty Nội thất Excellency. Ý tưởng cơ bản của họ là kinh doanh những đồ đạc rẻ tiền, còn mới hoặc đã qua sử dụng, dành cho dân da đen. Nó đã thành công. Con trai của Habib, được gọi thân mật là Charlie, vẫn lo việc bán hàng và giao hàng, nhưng họ muốn anh ta giữ chức vụ quan trọng hơn trong văn phòng, vì giờ Maurice đã về nghỉ ở Florida, trừ vài tháng hè mới quay lại, và bệnh đái tháo đường của Habib ngày càng làm ông ta hao mòn sức khỏe. Charlie sẽ - nói sao đây? - cầm tay chỉ việc cho em. Em sẽ thích anh ta, Ahmad. Anh ta rất Mỹ.”
Đôi mắt xám nữ tính của người đàn ông Yemen nheo lại với vẻ thích thú. Với ông, Ahmad là người Mỹ. Có nhiệt tình đến đâu, có nghiên cứu kinh Qur’an kỹ lưỡng đến đâu cũng không thể thay đổi chủng tộc của mẹ cậu hay sự vắng mặt của ba cậu. Người cha vắng mặt, bổn phận làm cha không thể bắt người đàn ông trung thành với gia đình, đấy là một trong những dấu ấn của cái xã hội suy đồi và mất gốc rễ này. Shaikh Rashid - một người đàn ông mảnh mai, gầy như lưỡi dao găm, với một vẻ quỷ quyệt nguy hiểm, nhiều lúc ngụ ý rằng kinh Qur’an có thể đã không tồn tại vĩnh cửu từ trước ở Thiên đường, nơi đấng Mohammed đã đến trong chuyến du hành một đêm trên con ngựa thần Buraq - không muốn đóng vai người cha; trong sự quan tâm của ông ta với Ahmad có thứ gì đó mang tính đàn anh và châm biếm, một chút vẻ thù địch.
Nhưng ông nói đúng, Ahmad quả có thích Charlie Chehab, một tay cao trên thước tám chắc nịch ở tuổi ngoài ba mươi, khuôn mặt ngăm đen hằn vết nhăn, với cái miệng rộng nhanh nhảu hoạt động không ngừng. “Ahmad,” anh ta nói, phân sức nặng đều nhau cho các âm tiết, kéo dài chữ “a” thứ hai như trong “Baghdad” hoặc “mad”. Anh ta hỏi, “Vậy cậu mát vì cái gì?” Không đợi trả lời, anh ta nói tiếp, “Chào mừng đến với thứ gọi là Excellency. Khi đặt tên cho nó cha và bác tôi không hoàn toàn biết tiếng Anh; họ nghĩ nó có nghĩa là thứ gì đó tuyệt hảo.” Khuôn mặt anh ta khi nói chuyện biểu lộ những dòng tâm tư phức tạp như khinh bỉ, tự rẻ rúng, ngờ vực, và (với chân mày nhướng lên) một ý thức vui nhộn về việc chính anh ta và người nghe anh ta ít nhiều cùng bị đặt vào một tình huống khó khăn.
“Bọn ta biết tiếng Anh,” cha anh ta ngồi bên cạnh phản đối. “Bọn ta biết tiếng Anh từ trường American School ở Beirut. ‘Excellency’ nghĩa là thứ gì đó thượng hạng. Giống như ‘new’ trong New Prospect. Không phải là triển vọng mới bây giờ, nó là mới hồi đó. Nếu bọn ta gọi nó là ‘Chehab Furnishings’, người ta hỏi, ‘Đó nghĩa là gì, từ “Chehab” đó?’ ” Ông ta gắt nhẹ âm “ch”, một âm thanh làm Ahmad nhớ lại những bài học kinh Qur’an của cậu.
Charlie cao hơn cha anh ta đến cả ba tấc, anh ta dễ dàng ôm lấy cái đầu già hơn, tái hơn đó trong một cánh tay và siết nhẹ một cú trìu mến, một màn trình diễn vô hại thế ôm đối thủ trong môn đấu vật. Trong vòng tay ấy, cái đầu của ông già Chehab trông giống một quả trứng khổng lồ, hói trên đỉnh và có lớp da mỏng hơn da của đứa con trai có khuôn mặt cao su. Khuôn mặt của người cha có phần trong suốt và phù, có lẽ bởi vì căn bệnh đái tháo đường mà Shaikh Rashid đã đề cập. Bất chấp vẻ xanh xao thiếu sinh khí, cung cách của ông ta không có vẻ bệnh tật; dù già hơn, so với ông Levy chẳng hạn, ông ta trông vẫn trẻ hơn, bụ bẫm, dễ kích động và sẵn lòng nghe đùa giỡn, thậm chí từ chính con trai mình. Ông ta nói với Ahmad: “Nước Mỹ. Tôi không hiểu cái lối căm ghét này. Tôi đến đây lúc còn trẻ, đã có vợ nhưng phải bỏ vợ tôi lại quê nhà, chỉ mình tôi và em trai tôi, và không đâu có lòng căm ghét và trò bắn giết như ở đất nước tôi, mọi người đều chia thành bộ lạc. Người Cơ Đốc giáo, Do Thái, Ả Rập, trung lập, đen, trắng, ở giữa - mọi người đều hòa thuận với nhau. Nếu ta có thứ gì tốt để bán, người ta mua. Nếu ta có việc cần làm, người ta làm. Mọi thứ rõ ràng, nhìn bề ngoài ấy. Nó khiến việc kinh doanh dễ dàng. Ngay từ đầu, không rắc rối. Trong Thế giới cũ chúng tôi nghĩ nên định giá của mình cao lên, sau đó sẽ mặc cả xuống. Nhưng không ai hiểu, ngay cả đám zanj nghèo khổ bước vào mua ghế xô pha hay ghế bành, họ đều trả tiền theo giá trên nhãn giống như trong cửa hàng tạp hóa. Nhưng ít người đến. Chúng tôi hiểu, thế là bèn gắn lên đồ đạc cái giá mà chúng tôi muốn bán được - giá thấp hơn - và nhiều người đến. Tôi nói với Maurice, ‘Đây là đất nước thân thiện và trung thực. Chúng ta sẽ không gặp vấn đề gì.’ ”
Charlie đã buông ông ra, nhìn vào mắt Ahmad, vì chàng nhân công mới này cao bằng anh ta dù nhẹ hơn những mười lăm ký, và nháy mắt. “Bố này,” anh ta nói, với tiếng ậm ừ kiên nhẫn. “Có nhiều vấn đề lắm. Dân zanj từng không được có quyền gì. Họ phải chiến đấu mới giành được. Họ bị ném đá tới chết và không được phép vào nhà hàng, thậm chí họ có vòi nước uống riêng, họ phải đấu tới Tối cao Pháp viện thì mới được coi là con người. Ở Mỹ, không có gì miễn phí, mọi thứ đều là một cuộc chiến đấu. Không có ummah (quốc gia), không có shari’a (luật lệ Hồi giáo. Hãy để chàng trẻ tuổi đây nói cho bố biết, cậu ta vừa tốt nghiệp trung học. Mọi thứ đều là cuộc chiến, đúng không? Hãy nhìn nước Mỹ ở nước ngoài - chiến tranh. Họ áp đặt một đất nước toàn dân Do Thái vào xứ Palestine, ngay cổ họng Trung Đông, và bây giờ họ lại mở đường vào Iraq, để biến nó trở thành một nước Mỹ nhỏ, và có được dầu hỏa.”
“Đừng tin nó,” Habib Chehab nói với Ahmad. “Nó tuyên truyền đó, nhưng nó biết mình được sống thoải mái ở đây. Nó là người tốt. Thấy chưa, nó cười kìa.”
Và Charlie không chỉ mỉm cười; anh ta cười to, ngửa đầu ra sau bày nguyên vòng cung hàm răng trên ra, và bắp thịt lưỡi đầy nhú lấm tấm, giống một con sâu to tướng. Đôi môi co dãn của anh ta khép lại thành một nụ cười khẩy trầm ngâm; đôi mắt anh ta, cảnh giác bên dưới đôi mày rậm, chăm chú quan sát Ahmad.
“Cậu cảm thấy thế nào về tất cả chuyện này, Madman? Ông thầy tế đó nói với chúng tôi cậu rất sùng đạo.”
“Tôi cố đi theo Chính Đạo,” Ahmad thừa nhận. “Ớ đất nước này, điều đó không dễ dàng. Có quá nhiều nẻo đường, người ta bán quá nhiều thứ vô dụng. Họ khoác lác về tự do, nhưng tự do không có mục đích lại trở thành một thứ nhà tù.”
Ông bố cắt ngang, nói lớn tiếng. “Các người chưa hề biết gì về nhà tù. Ở đất nước này, người ta không phải sợ nhà tù. Không giống Thế giới cũ. Không giống dân Ả Rập Saudi, không giống Iraq trước đây.”
Charlie nói vỗ về, “Bố này, nước Mỹ có số tù nhân đông nhất thế giới.”
“Không đông hơn nước Nga đâu. Không hơn Trung Quốc, nếu chúng ta biết được.”
“Dù sao cũng khá đông - lên đến hai triệu. Con gái da đen thiếu con trai để chia nhau. Họ ở tù hết ráo, vì Chúa.”
“Chúng dành cho bọn tội phạm, các nhà tù ấy. Một năm ba bốn lần chúng đột nhập vào cửa hàng. Nếu không tìm được tiền chúng đập phá đồ đạc và làm bậy khắp nơi. Ghê tởm!”
“Bố, họ bị thiệt thòi đủ thứ. Với họ, chúng ta là bọn giàu.”
“Ông bạn Saddam Hussein của các người ấy, ông ấy biết các nhà tù. Ở đất nước này, người bình thường chẳng biết gì về nhà tù. Người bình thường chẳng có gì phải sợ. Anh ta làm việc của anh ta. Anh ta tuân thủ luật pháp. Luật ấy dễ theo mà. Đừng ăn cắp. Đừng giết người. Đừng phang bà xã của người khác.”
Một số bạn học của Ahmad ở trường Trung tâm phạm luật và bị kết án trong tòa án vị thành niên, vì sử dụng ma túy, phá cửa ăn trộm và lái xe khi say rượu. Những đứa tệ nhất trong đám coi tòa án và nhà tù như một phần của cuộc sống bình thường, chả có gì đáng sợ; chúng đã đành cam chịu nó. Nhưng mong muốn của cậu được đóng góp thông tin này cho cuộc tranh luận đã bị dập tắt bởi câu nói của Charlie, với cách diễn đạt kéo dài thông minh, vừa nhắm đến giảng hòa vừa đồng thời khao khát đưa ra luận điểm chốt hạ. “Bố này, còn cái trại tập trung be bé của chúng ta ở vịnh Guantanamo thì sao? Đám bậu xậu khốn khổ đó thậm chí không có được luật sư. Thậm chí họ không thể kiếm được một ông thầy tế không làm chỉ điểm.”
“Chúng là lính phe địch,” Habib Chehab nói sưng sỉa, mong cuộc thảo luận kết thúc nhưng không chịu đầu hàng. “Chúng là đám nguy hiểm. Chúng muốn hủy diệt nước Mỹ. Chúng nói với các phóng viên như thế, cho dù chúng được ta nuôi nấng tốt hơn bọn Taliban nuôi. Chúng nghĩ vụ Mười một tháng Chín là một trò đùa lớn. Nó là chiến tranh đối với chúng. Đó là thánh chiến. Chính bọn chúng nói thế. Chúng mong đợi gì, người Mỹ nằm rạp dưới chân và không tự vệ gì chăng? Ngay cả bin Laden, hắn cũng tính sẽ bị phản công lại mà.”
“Thánh chiến không nhất thiết phải hàm ý chiến tranh,” Ahmad góp ý, giọng cậu khàn khàn một cách bẽn lẽn. “Nó có nghĩa là sự phấn đấu, theo con đường của Thượng Đế. Nó có thể hiểu là cuộc đấu tranh nội tại.”
Ông Chehab già nhìn cậu với vẻ thích thú mới mẻ. Mắt ông ta không có màu nâu sẫm như mắt con trai; chúng màu cẩm thạch vàng, giữa tròng trắng long lanh nước. “Cậu là đứa tốt đấy,” ông ta nói nghiêm trang.
Charlie quàng cánh tay mạnh mẽ quanh đôi vai gầy của Ahmad nhu để bộc lộ tình đoàn kết giữa ba người. “Không phải với ai ông ấy cũng nói thế đâu,” anh ta giãi bày với chàng tân binh.
Cuộc phỏng vấn này diễn ra ở phía sau công ty, nơi một mặt quầy dài cắt rời mấy cái bàn làm việc bằng thép và hai khung cửa kính mờ đằng sau khỏi phần còn lại của tòa nhà. Toàn bộ không gian còn lại được dùng làm phòng trưng bày, một căn phòng ác mộng chứa ghế, bàn nhỏ, bàn cà phê, đèn bàn, đèn đứng, trường kỷ, ghế bành, bộ bàn ghế ăn, ghế gác chân, tủ ly, đèn chùm treo dày đặc như dây nho rừng, những giá đèn treo tường tráng men hoặc mạ kim loại, những tấm gương lớn nhỏ từ loại trơn đến đầy hoa văn, khung gương gồm hoa lá sum suê mạ vàng hay mạ bạc, những dải băng chạm trổ và những con đại bàng nhìn nghiêng, cánh vươn lên và móng vuốt bấu chặt; những con đại bàng Mỹ giương mắt nhìn cậu từ bên trên cái bóng đáng giật mình của Ahmad, một cậu trai gầy mảnh mang hai dòng máu, mặc sơ mi trắng và quần bò đen.
Ông bố lùn, mập mạp, với cái mũi gồ bóng nhẫy và hai túi bọng sậm màu bên dưới đôi mắt vàng lấp lánh, nói: “Dưới nhà chúng tôi có đồ đạc ngoại thất, bàn ghế đặt trên bãi cỏ và hàng hiên, đồ mây tre đan và đồ gấp được, thậm chí cả những căn chòi xếp bằng nhôm, có bọc lưới để ngăn không cho bọ ngoài sân sau bay vào, dành khi gia đình muốn thay đổi không khí. Trên lầu là dành cho đồ đạc trong phòng ngủ, giường với táp đầu giường và tủ ngăn kéo, bàn trang điểm cho quý bà, tủ quần áo dành cho nơi không có đủ tủ xép, ghế bố dài cho quý bà gác chân, ghế dựa bọc nệm và ghế đôn với cùng phong cách thư giãn, những đèn bàn nhỏ ánh sáng dịu hơn để đi kèm theo những chuyện trong phòng ngủ, cậu biết đấy.”
Charlie, có lẽ thấy Ahmad đỏ mặt, nóng nảy lên tiếng, “Cũ, mới, chúng tôi không lấy đó làm khác biệt đáng kể. Tự bảng giá nói lên mọi chuyện, cộng thêm tình trạng của món hàng nữa. Đồ trang trí nội thất không giống như xe hơi; nó chẳng có nhiều bí mật gì. Cậu thấy thứ gì là đúng thứ nấy. Việc của cậu với tôi cần làm là, thứ gì trên một trăm đô thì chúng ta giao hàng miễn phí ở bất cứ nơi nào trong bang. Người ta thích thế. Chả phải chúng ta có nhiều khách hàng vãng lai từ Cape May đâu, nhưng cứ nghĩ có miễn phí là người ta thích.”
“Và thảm nữa,” Habib Chehab nói. “Họ muốn thảm phương Đông, cứ như dân Li Băng là từ Armenia, từ Iran vậy. Vì vậy chúng tôi giữ hàng tuyển ở dưới nhà, bất cứ thứ gì trên sàn đều có thể mua và chúng tôi làm sạch. Có nhiều nơi bán thảm đặc biệt dọc theo đại lộ Reagan, nhưng người ta tín vào những món giá mềm của chúng tôi.”
“Họ tin vào chúng ta, bố,” Charlie nói. “Chúng ta có tiếng tốt.”
Ahmad nghe những mùi bốc lên từ tất cả thứ trang bị dồn đống lại để sống cái hào quang trần thế của giống người xác thịt, thấm đẫm trong những nệm những thảm và chụp đèn vải lanh này, sáu bảy tư thế và nhu cầu tội nghiệp được lặp đi lặp lại theo vô vàn kiểu phong cách và chất liệu giữa những bức tường phủ đầy gương nhưng rốt cuộc vẫn là sự bẩn thỉu thường nhật ấy, cái hao mòn và buồn chán của nó, những không gian đóng kín, những sàn và trần không ngừng đo đạc tính hữu hạn, sự ngột ngạt và vô vọng thầm lặng của cuộc sống không có Thượng Đế làm bạn đồng hành thân thiết. Khung cảnh này làm sống dậy cảm giác bị chôn trong những nếp gấp thời thơ ấu của cậu - niềm vui giả tạo của việc đi mua sắm, vẻ hoang đàng trá ngụy đầy quyến rũ của sự sung túc nhân tạo. Cậu thường cùng mẹ lên thang cuốn và đi qua những lối đi thơm ngát của khu thương xá tàn tạ cuối cùng trong khu phố mua sắm, hoặc chạy lúp xúp để đuổi kịp bước sải chân tràn đầy sức sống của chị, ngượng nghịu vì sự lạc điệu giữa những nốt tàn nhang của chị với nước da nâu xám của chính mình, băng qua những bãi đỗ xe rải nhựa để vào không gian mênh mông như nhà chứa máy bay được dựng lên vội vã theo kiểu “siêu cửa hàng” trong đó hàng hóa đóng gói được chất đống cao lên thấu xà nhà để lộ. Trong những chuyến đi đó, với mục đích cụ thể là mua đồ thay một món gia dụng không thể sửa chữa nào đó hoặc thứ trang phục con trai nào đấy mà tốc độ lớn như thổi của cậu đòi hỏi, hoặc, trước khi Hồi giáo giúp cậu được miễn nhiễm, một món trò chơi điện tử thèm muốn từ lâu nhưng chỉ sau một mùa là đã lỗi thời, hai mẹ con bị vây bủa bốn phương tám hướng bởi những thứ hấp dẫn độc đáo mà họ không cần và không có khả năng mua, những món sở hữu tiềm năng mà những người Mỹ khác dường như có được dễ như chơi nhưng đối với họ thì không thể nào ngắt véo được từ đồng lương của một hộ lý không chồng. Ahmad nếm trải sự sung túc của nước Mỹ bằng cách liếm mặt dưới của nó. Lũ ma quỷ, vô số thùng hàng lòe loẹt này dường như đều là ma quỷ, những tầng giá cao chót vót chứa đồ thời trang vớ vẩn của hôm nay, những dãy kệ trò chơi chạy bằng vi mạch, tất cả được diễn đạt trong những bức hí họa tai hại thôi thúc dân chúng hãy mua, hãy tiêu thụ chừng nào thế giới vẫn có tài nguyên để mà tiêu thụ, mà ngốn ngấu nơi máng ăn trước khi cái chết khép lại vĩnh viễn những cái miệng háu đói. Trong toàn bộ cái trò dụ dỗ người túng thiếu lâm vào cảnh nợ nần này, cái chết là nhân tố quyết định, là quầy tính tiền nơi những đồng đô la đang cạn dần kêu leng keng. Nhanh lên, mua ngay đi, vì những niềm vui thuần khiết giản đơn của kiếp sau chẳng qua là bịa đặt rỗng tuếch mà thôi.
Dĩ nhiên ở cửa hàng Shop-a-Sec cũng có hàng bán hạ giá, nhưng chủ yếu là túi và hộp thức ăn nhiều muối, nhiều đường, có hại, và vỉ đập ruồi bằng nhựa, và bút chì, làm ở Trung Quốc, với những cục tẩy vô dụng; nhưng ở đây trong gian trưng bày tráng lệ này Ahmad cảm thấy cậu sắp được gia nhập vào đạo quân buôn bán, và bất chấp sự hiện diện gần gũi của Thượng Đế, mà mọi thứ vật chất chỉ làm nên cái bóng của Người, cậu vẫn thấy kích động. Chính Đấng Tiên tri cũng từng là thương nhân. Con người vô đức tin không cảm thấy mỏi mệt trong việc cầu nguyện điều tốt lành cho bản thân mình, chương bốn mươi mốt nói thế. Trong số những điều tốt lành này phải kể đến hàng hóa của thế giới. Ahmad còn trẻ; cậu lập luận rằng còn khối thời gian để cậu được tha thứ vì chủ nghĩa vật chất, nếu như tha thứ là cần thiết. Thượng Đế gần kề hơn tĩnh mạch nơi cổ cậu, và Người biết cảm giác khao khát tiện nghi là như thế nào, nếu không Người đã chẳng tạo ra thế giới bên kia tiện nghi đến như vậy: kinh Qur’an khẳng định trên Thiên đường có thảm và trường kỷ.
Ahmad được đưa đi xem chiếc xe tải, chiếc xe tải tương lai của cậu. Charlie dẫn cậu đi qua những bàn giấy, dọc theo một hành lang sáng lờ mờ nhờ ô cửa kính trên mái nhà, vằn vện bóng những nhành cây rụng, lá và hạt có cánh khô. Hành lang này có máy nước nóng lạnh, một cuốn lịch có ô số ghi kín những ngày giao hàng, và một thứ mà Ahmad sẽ dần hiểu ra là đồng hồ điểm danh cáu bẩn, trên bức tường cạnh đó là giá đặt thẻ chấm công được bấm lỗ đều đặn của mỗi nhân viên.
Charlie mở một cánh cửa khác và chiếc xe tải nằm đó, lui sát vào một hành lang bốc dỡ hàng bằng gỗ dày bên dưới mái nhà chìa ra. Là một cái thùng vuông vức màu cam cao, mỗi cạnh được gia cố bằng những thanh nẹp kim loại tán đinh, chiếc xe tải khiến Ahmad bị sốc, bởi mới gặp nó lần đầu; ấn tượng của cậu về nó từ cái bục bốc dỡ hàng là một con vật có cái đầu bằng to bè đang tiến tới quá gần, sục mũi vào bục như thể chờ được cho ăn. Hông nó màu cam, hơi xỉn một chút vì bụi đường, có kẻ chữ nghiêng màu xanh đậm viền vàng Excellency, rồi thì ngay bên dưới, bằng chữ in hoa, HOME FURNISHINGS, và, nhỏ hơn, địa chỉ và số điện thoại cửa hàng. Mấy bánh sau là bánh đôi. Kính chiếu hậu mạ crôm dềnh dàng nhô ra hai bên hông. Buồng lái được gắn với thùng xe vuông vức, không có khoảng trống ở giữa. Nó thật bề thế, nhưng thân thiện. “Con xe này già rồi nhưng đáng tin cậy lắm,” Charlie nói. “Một trăm mười ngàn dặm rồi mà không có trục trặc nào đáng kể. Xuống làm quen với nó đi. Đừng nhảy, bước qua mấy bậc này. Tụi tôi không muốn cậu gãy mắt cá chân ngay ngày đầu nhận việc đâu.”
Không hiểu sao Ahmad cảm thấy khu vực này đã thành quen thuộc. Trong tương lai cậu sẽ dần biết rõ nó hơn - sàn bốc dỡ hàng này, bãi đậu xe với nền bê tông nứt nẻ bị nung trong cái nóng mùa hè lung linh, những tòa nhà thấp bằng gạch vây quanh và mặt lưng chen chúc của những căn nhà phố, một thùng rác lưu động lớn gỉ sét nằm trong góc có lẽ từ một cơ sở nào đó đóng cửa đã lâu, âm thanh biển khói mơ hồ từ những đợt xe cộ lao vút qua trên đại lộ bốn làn đường. Không gian này rồi sẽ luôn mang vẻ gì đó huyền ảo trong lòng cậu, một thứ gì đó êm đềm không thuộc thế giới này, một đặc tính kỳ lạ như thể bị nhìn qua kính phóng đại từ một cao điểm bao quát nào đó. Đó là một nơi Thượng Đế đã thổi hơi vào.
Ahmad bước xuống bậc thềm bốn bậc bằng ván dày và đứng ngang sàn chiếc xe tải. Một huy hiệu ngay cửa tài xế ghi Ford Triton E-350 Super Duty. Charlie mở cánh cửa đó và nói, “Của cậu đây, Madman. Leo lên đi.”
Buồng lái lưu cữu một mùi nồng như da thuộc từ thân thể đàn ông, từ khói thuốc lá lâu ngày, từ cà phê nguội và thịt kẹp trong bánh mì kiểu Ý ăn trên đường đi. Sau bao nhiêu giờ nghiên cứu những tập tài liệu để lấy bằng lái xe tải nói tới nói lui về bộ ly hợp kép, về việc giảm số trên dốc nguy hiểm, Ahmad ngạc nhiên khi không thấy cần sang số trên sàn xe. “Làm sao sang số được?”
“Không sang số,” Charlie nói với cậu, mặt cau lại khó chịu, nhưng giọng vẫn bình thản. “Số tự động. Giống như trong cái xe gia đình quen thuộc của cậu vậy.”
Chiếc Subaru khốn khổ của mẹ cậu. Người bạn mới của cậu cảm thấy cậu ngượng ngùng, liền nói với giọng trấn an, “Bộ số chỉ cho cậu thêm việc để lo lắng. Một cậu chúng tôi nhận vào làm, trước hai tay tài xế gần đây của tụi tôi, đã sang số lùi khi xe đang xuống dốc làm bật cả cần.”
“Nhưng trên đồi dốc không phải mình phải trả số sao? Thay vì đạp thắng và làm mòn bố.”
“Cứ việc; cậu cứ trả số trên cần sau tay lái. Nhưng ở Jersey khu này không có đồi dốc gì. Mình có đang ở Tây Virginia đâu.”
Charlie rành các bang; anh ta nhiều kinh nghiệm. Anh ta đi vòng quanh buồng lái và bằng một cú thót nhanh gọn, hai cánh tay vươn ra như tay khỉ, anh ta nhảy tọt vào ghế cạnh tài xế. Với Ahmad việc đó cứ như có người nhảy lên giường với cậu vậy. Charlie móc ra một gói thuốc lá nửa đỏ từ túi áo sơ mi - một thứ vải thô cứng giống như vải bò, nhưng có màu xanh quân đội thay vì xanh lơ - và khéo léo bóp một cái làm mấy điếu thuốc đầu lọc vàng nâu ló ra vài phân. Anh ta hỏi Ahmad, “Hút cho vững thần kinh không?”
“Cảm ơn sếp, không. Tôi không hút thuốc.”
“Thiệt à? Vậy khôn đó. Cậu sẽ sống mãi mãi, Madman ạ. Cậu có thể bỏ tiếng ‘sếp’ đi. Gọi bằng ‘Charlie’ thôi. Được rồi: xem cậu lái con này thử coi.”
“Ngay bây giờ à?”
Charlie khịt mũi, bung một cụm khói ra vùng rìa tầm nhìn của Ahmad. “Cậu thích tuần tới hơn à? Cậu đến đây làm gì? Đừng lo lắng thế. Dễ ợt hà. Bọn khờ cũng làm suốt, tin tôi đi. Đây có phải khoa học tên lửa đâu.”
Tám giờ rưỡi sáng - Ahmad cảm thấy nhập môn giờ này là quá sớm. Nhưng nếu Đấng Tiên tri đã giao phó thân xác của Ông cho con ngựa Buraq dữ tợn, thì Ahmad cũng có thể leo lên chiếc ghế đen cao đó, nứt nẻ ố bẩn tét rách bởi những người ngồi trước, và lái chiếc thùng có bánh xe màu cam cao ngất này. Động cơ, khi chìa khóa xoay đẩy nó vào quá trình đốt nhiên liệu, phát ra âm trầm đục, như thể nhiên liệu là một chất đặc, vón hơn dầu xăng. “Nó chạy dầu diesel hả?” Ahmad hỏi.
Charlie phả thêm luồng khói khật khừ: nó cứ tuôn ra không ngớt từ sâu trong phổi anh ta. “Cậu đùa đấy hả, nhóc? Có từng lái động cơ diesel chưa? Làm chỗ này hôi rình lên, rồi thì chờ động cơ nóng lâu ơi là lâu. Cậu không thể chỉ chui vào rồi đạp lút ga đâu. Dù sao cũng phải nhớ một điều: không có kiếng chiếu hậu phía trên bảng đồng hồ đâu. Đừng hốt hoảng khi cậu nhìn do thói quen mà chẳng thấy gì ở đó. Hãy sử dụng kính hai bên. Một điều nữa, hãy nhớ rằng mọi thứ phải mất lâu hơn - dừng lại lâu hơn, và khởi động cũng lâu hơn. Ở chỗ đèn đỏ, cậu không thắng được bất kỳ cuộc đua nước rút nào đâu; đừng cố. Nó giống như một bà cụ già; đừng thúc ép nó, mà cũng đừng đánh giá thấp nó. Cậu rời mắt khỏi mặt đường một giây thôi là nó có thể giết người ta ngay. Nhưng cũng đừng để tôi làm cậu hoảng sợ. Được rồi, hãy thử xem. Đi nào. Đợi đã: hãy bảo đảm cậu cho nó vào số de. Chúng tôi đã nhiều lần va vào sàn bốc dỡ hàng này rồi. Chính tay tài xế tôi mới nhắc đó. Cậu biết tôi đã học được gì qua bao năm tháng không? Không có điều nào ngu ngốc đến mức người ta không bắt tay làm luôn. Lùi lại, làm một cú quay đầu xe ba bước, đi thẳng ra khỏi bãi đậu xe, đó là đường 13, và rẽ phải ra đại lộ Reagan. Cậu không rẽ trái được, có một dải phân cách bằng xi măng, nhưng, như tôi nói, chẳng có điều gì quá ngu ngốc đến độ người ta không làm, nên tôi cứ phải nói lại.”
Charlie vẫn nói trong khi Ahmad cẩn thận de chiếc xe tải, lùi một nửa vòng tròn gọn ghẽ, và gài số tiến rời khỏi bãi đậu. Cậu phát hiện ra rằng, ở vị trí cao hơn mặt đất tới chừng này, cậu lơ lửng trên cao, nhìn xuống mui các xe khác. Khi chạy tới nhập vào đại lộ, cậu bẻ cua quá gắt làm các bánh sau cán lên lề đường, nhưng hầu như không cảm thấy. Cậu đã được chuyển sang một thước đo khác, sang một bình diện khác. Charlie đang bận dụi điếu thuốc vào gạt tàn trên bảng đồng hồ và không nói đến cú leo lề này.
Qua vài dãy nhà, mắt Ahmad có được thói quen vọt sang trái về phía tấm kiếng hông dài, và rồi xuyên qua cửa sổ bên kia để nhìn kiếng hông bên phải. Những ảnh phản chiếu màu cam, nẹp crôm của hai bên hông thùng xe Excellency mà cậu thoáng thấy không còn khiến cậu hoảng sợ nữa mà đã trở thành một phần của cậu, giống như những bờ vai và cánh tay vẫn hiện ra trong nhận thức ngoại vi của cậu khi đi bộ trên đường. Trong những giấc mơ từ thời thơ ấu đôi khi cậu có thể bay dọc theo hành lang hoặc lướt trên vỉa hè cách mặt đất vài tấc, và đôi khi thức dậy với tình trạng cương cứng hoặc, đáng xấu hổ hơn, một đốm to ướt nhẹp phía trong khóa kéo quần ngủ. Cậu đã tìm lời khuyên về tình dục trong kinh Qur’an song chẳng thấy gì. Nó nói về sự ô uế nhưng chỉ liên quan đến phụ nữ, kinh nguyệt của họ, việc họ cho con bú. Trong chương hai, cậu tìm thấy những lời bí ẩn, Vợ của các ngươi là miếng đất trồng của các ngươi. Do đó, hãy đến gần mảnh đất trồng của các người tùy lúc và theo cách mà các ngươi muốn; nhưng hãy chuẩn bị tư tưởng trước cho bản thân của ngươi. Và hãy sợ Allah, và biết rằng các ngươi sẽ phải gặp Ngài trở lại. Trong đoạn trước đó, cậu đọc thấy rằng phụ nữ là ô nhiễm. Bởi thế, hãy xa phụ nữ trong thời gian có kinh kỳ, và chỉ đến gần họ khi nào họ sạch sẽ. Do đó, khi họ sạch sẽ rồi, các ngươi có thể đến với họ lúc nào, nơi nào như Allah đã chỉ thị cho các ngươi. Quả thật, Allah yêu thương những người năng sám hối và những người giữ mình sạch sẽ. Ahmad cảm thấy sạch sẽ trong chiếc xe tải này, tách biệt khỏi thế giới hạ tiện kia, những đường phố đầy chất thải của chó và những mẩu giấy mẩu nhựa bay vật vờ; cậu cảm thấy sạch sẽ và tự do, thả tung con diều thùng xe màu cam đằng sau cậu trong hai khung kiếng hông.
“Đừng vượt phải,” Charlie bất ngờ cảnh cáo cậu, bằng một giọng chói lên vì cảnh giác. Ahmad chậm lại, không nhận ra cậu đang vượt qua những xe khác ở bên trái, trên làn đường ngay sát dải phân cách giao thông, một chuỗi những rào chắn Jersey cứng ngắc, xấu xí.
“Tại sao gọi là rào chắn Jersey?” cậu hỏi. “Ở Maryland chúng được gọi là gì?”
“Đừng đổi đề tài, Madman. Khi lái xe tải, cậu không thể ngồi đó mà mơ mộng. Cậu nắm sự sống và cái chết trong tay, chưa nói đến những sửa chữa sẽ đội tiền đóng bảo hiểm lên nếu cậu làm hỏng. Không được lạng lách và lê la tán chuyện qua di động như người ta thường làm trên xe hơi. Xe lớn hơn, cậu phải tốt hơn.”
“Vậy sao?” Ahmad cố gắng đùa cợt để anh chàng lớn tuổi hơn này, người anh em Mỹ gốc Li Băng của cậu, thoát ra khỏi tâm trạng nghiêm trọng khắc khổ của anh ta. “Không phải xe con nên tránh đường cho tôi à?”
Charlie không nhận ra Ahmad đang trêu chọc. Anh ta vẫn quan sát mặt đường, qua kính chắn gió, và nói, “Đừng ngu ngốc, nhóc: họ không thể tránh được. Giống như bọn thú vật vậy. Cậu không thể bắt chuột và thỏ giữ cùng tiêu chuẩn như sư tử và voi. Cậu đâu có yêu cầu Iraq tuân theo cùng tiêu chuẩn như Mỹ. To hơn, cậu cần phải tốt hơn.”
Ahmad thấy giọng điệu chính trị này hơi kỳ lạ, có phần lạc điệu. Nhưng cậu đang trên đường với Charlie, nên cậu ngoan ngoãn bằng lòng với chuyến chạy thử này.
“Chúa ơi,” Jack Levy nói. “Cuộc đời là thế này đây. Anh đã quên mất và không hề mong đợi có ai đó gọi anh nhớ lại.” Thận trọng như vậy, trong những tình huống thế này, dù không gọi tên bà, ông bày tỏ một kiểu ngưỡng mộ vợ ông, người một thuở xa xưa đã từng có lượt làm cho ông thấy cuộc sống là thế nào.
Teresa Mulloy, trần truồng bên cạnh ông, đồng ý, “Đúng vậy,” rồi nói thêm, để tự vệ, “nhưng nó không kéo dài.” Khuôn mặt chị, với nét bầu bĩnh và cặp mắt hơi lồi, ửng đỏ đến độ những nốt tàn nhang nhòa đi, nâu nhạt trên nền hồng.
“Vậy có cái gì kéo dài?” Jack hỏi. Chị thực sự không muốn ông đồng ý với cái nhún vai thờ ơ như thế. Vẻ ửng hồng trên mặt chị trở thành sắc đỏ dừ vốn đi liền với nỗi đau bị trách mắng, một lớp che đậy cho thế trơ trọi của chị trong cuộc phiêu lưu không lối thoát này: lại một bạn tình đã có vợ nữa. Ông ta sẽ không bao giờ bỏ bà Beth béo ú của ông ta, mà liệu chị có thực sự muốn ông ta làm thế không? Ông ta hơn chị hai mươi ba tuổi, và chị cần một người đàn ông ở cùng chị hết phần đời còn lại.
Mùa hè ở New Jersey đã đạt tới độ oi bức dai dẳng của tháng Bảy, nhưng dù vậy, cảm thấy không khí vẫn mát mẻ trên làn da rực tình của họ, cặp tình nhân đã kéo khăn trải giường lên, nhăn nhúm và ẩm do nằm bên dưới thân thể họ. Jack ngồi dậy tựa vào gối, để lộ những bắp thịt nhão nhoẹt và lớp cáu bẩn xám xịt trên bộ ngực, và Terry, với vẻ trơ tráo phóng túng dễ yêu, kéo lớp khăn mé bên chị lên cũng không cao hơn, nên bộ ngực chị, trắng như xà phòng nơi ánh nắng không bao giờ chạm tới, thoải mái cho ông ta ngắm nghía và cảm được độ đầy đặn của nó trong tay lần nữa nếu muốn. Ông yêu sự mũm mĩm, dù cũng có lúc nó trở nên quá nhiều. Mùi thơm thoang thoảng của dung môi pha sơn dầu và dầu lanh dẫn dụ Jack vào đây trên cái giường của người tình ông. Như Terry nói, chị đang làm những món lớn hơn và tươi hơn. Khi giữa cuộc làm tình chị ngồi trên háng ông, xâu bản thân mình vào đồ nghề cương cứng của ông, ông cảm thấy màu sắc phản chiếu từ những bức tường của chị chảy xuống hai bên lườn chị cùng hai bàn tay ông, hai bên lườn màu trắng Ireland, óng chuốt, thon dài, hằn rõ những xương sườn của chị. Với Beth, ông không thể hình dung sức nặng của bà trên khung xương chậu của ông, hoặc hai chân bà giạng ra đủ rộng; họ đã hết sạch các tư thế, trừ tư thế úp thìa, và thậm chí ở tư thế đó cái mông khổng lồ của bà cũng đẩy văng ông ra như một đứa bé ghen tị trên giường của họ.
“Vấn đề là,” Jack nói tiếp, nghe thấy trong sự im lặng của Terry động tác thoái lui trước sự kém tế nhị nào đó về phía ông, “chừng nào nó còn tiếp tục thì nó không kéo dài cũng chẳng sao - Mẹ thiên nhiên nói, ‘Ai quan tâm?’ Cảm giác như nó sẽ kéo dài mãi mãi. Anh ngưỡng mộ cặp tí của em, anh có nói điều đó chưa?”
“Nó đang bắt đầu chảy xệ. Anh mà thấy nó khi em mới mười tám. To hơn, cân đối và vươn thẳng ra.”
“Terry, làm ơn. Đừng làm anh hứng lên nữa. Anh phải đi đây.” Ngực của Beth, ông còn nhớ được, cũng từng trông giống cái tô úp, bằng cỡ tô ngũ cốc điểm tâm, núm vú săn cứng như quả việt quất trong miệng ông.
“Giờ anh đi đâu, Jack?” Giọng Terry rã rời. Cô tình nhân luôn biết chắc người đàn ông giỏi nói dối, trong khi người vợ chỉ có thể đoán.
“Dạy thêm. Dạy thêm thật mà, tận bên kia thành phố. Anh đi xe; mà một tiếng rưỡi nữa bà ấy cần xe để đến thư viện.” Trong khoảng trống mà cơn ngất ngây sau cực khoái để lại trong đầu, ông không chắc chắn bao nhiêu phần trăm những điều ông nói là sự thật. Nhưng sẽ đến lúc Beth cần chiếc xe này, ông biết vậy.
Terry, nghe ra giọng thiếu chắc chắn của ông, phàn nàn, “Jack, anh lúc nào cũng vội ra về. Bộ người em có mùi hôi hay gì đó hả?”
Câu này thật độc ác, bởi vì thực sự Beth có mùi; nó tỏa đầy giường vào ban đêm, một mùi phân hủy bốc ra từ những nếp nhăn hằn sâu của bà, làm tăng thêm nỗi khiếp sợ và bất an về đêm của ông.
“Đời nào,” ông nói, mới chỉ học được chừng ấy tiếng lóng từ đám học trò. “Ngay cả cái...” ông ngập ngừng, sắp vượt quá giới hạn.
“Cái lồn em. Nói ra đi.”
“Cả cái đó cũng không,” ông thừa nhận. “Nhất là ở đó. Em thật ngọt ngào. Em là viên kẹo của anh.” Nhưng thực tình là ông cố tránh không áp mặt quá lâu vào giữa hai chân chị, vì sợ Beth ngửi thấy mùi của người đàn bà khác khi họ hôn chúc nhau ngủ ngon - chỉ là một cái hôn phớt, nhưng là một thói quen kéo dài suốt cuộc hôn nhân ba mươi sáu năm của họ.
“Nói em nghe về cái lồn em đi, Jack. Em muốn nghe. Thoải mái đi.”
“Thôi mà, Terry. Chuyện này gớm quá.”
“Tại sao, thứ con cu nghiêm trang kia? Đồ Do Thái e thẹn. Lồn em gớm cái gì?”
“Không có gì, không có gì,” ông xuôi xị, xuống nước. “Nó quá ngon lành, nó quá tuyệt luôn, nó...”
“Nó? Sao? Cái gì được nhận tất cả những lời đẹp đẽ ấy? Ngon lành rồi quá tuyệt luôn ấy.”
“Cái lồn em.”
“Tốt. Tiếp đi.” Có lẽ mục đích của chị là muốn ông dùng từ đó, như ông dùng chị, mà không chú ý đầy đủ, mà không ghi nhận toàn bộ hình ảnh - mùi thơm, những thứ lặt vặt chung quanh, nỗi nhức nhối cô đơn của chị khi ông rút ra, ý thức của chị về thân phận bị sử dụng, và bị sử dụng theo một cách nhờm gớm như thế.
“... nó ướt,” ông nói tiếp, “nó có lông xù, nó mềm mại như một bông hoa ở bên trong, và dãn tốt...”
“Ồ,” chị nói, “dãn tốt. Cái này thú vị đây. Và nó muốn - nói em nghe nó muốn gì đi.”
“Nó muốn được hôn, được liếm, được vọc, và được đi vào - đừng bắt anh nói tiếp nữa, Terry. Làm anh mất hết hứng thú. Anh phát điên vì em, em biết vậy mà. Em là người đẹp nhất...”
“Em biết tỏng rồi,” chị giận dữ nói, đoạn hất khăn đắp ra và gập người rời khỏi giường, mông chị lúc lắc và bắt đầu chảy xệ, giống như khi chị nói về bộ phận kia. Mông chị đang hình thành những nếp nhăn. Như cảm được mắt ông đang dán vào mông mình, chị xoay người lại ngay cửa phòng tắm, thoáng phô ra mảng lông màu nâu đỏ, toàn bộ vẻ mềm mại trắng nhễ nhại của chị - bánh mì trắng không vỏ cứng - được bày ra, một cách đầy thách thức như ông cảm thấy, một lời mời gọi đến với lòng tốt của chị mà ông đã không đón nhận một cách đủ nồng nhiệt. Hình ảnh chị, trần truồng và đầy nữ tính như thế, nhạy cảm và đầy đặn như thế, làm miệng ông khô rang, hút hết sinh khí của cuộc sống áo xống chỉn chu, đạo mạo thường ngày khỏi người ông. Chị nối đuôi câu nói giùm ông: “... sau Beth từ khi bà ấy mập lên như heo. Anh đủ vui để đụ tôi, nhưng anh không muốn nói ‘đụ’ vì sợ bà ấy sẽ nghe thấy bằng cách nào đó. Xưa anh vẫn đụ rồi biến với cớ anh sợ Ahmad có thể quay về nhà bất cứ lúc nào, nhưng giờ nó đi làm suốt ngày thì anh luôn có một lý do nào đó khác để khỏi quanh quẩn thêm ở đây dù chỉ một phút. Cứ hưởng thụ tôi thôi, tôi chỉ yêu cầu chừng đó, nhưng, không, người Do Thái thì phải ăn năn, đó là cách để chứng tỏ họ đặc biệt đến chừng nào, họ trội hơn mọi người khác ra sao, Thượng Đế chỉ giận dữ với mình họ, với cái giao ước quý giá thối tha của họ. Anh làm tôi phát ói, Jack Levy à!” Chị dập mạnh cửa phòng tắm, nhưng nó vướng vào tấm thảm len lót phòng tắm và đóng lại một cách miễn cưỡng, nhưng cũng kịp cho trong một thoáng ánh đèn được bật lên giận dữ ông thấy cặp mông Ireland của chị, chưa từng được ánh nắng sa mạc hôn lên, đung đưa.
Jack nằm đó, cảm thấy rầu rĩ, muốn mặc lại quần áo nhưng biết điều này sẽ chứng minh nhận định của chị là đúng. Cuối cùng khi chị ra khỏi phòng tắm, sau khi gột sạch dấu vết của ông bằng một trận tắm vòi sen, chị lượm đồ lót dưới sàn nhà lên, và rất từ tốn mặc vào. Bộ ngực chị đong đưa khi cúi xuống, và đó là bộ phận đầu tiên chị che lại, chụp chúng vào trong hai cái quả tơ mềm của chiếc áo ngực, rồi với tay ra sau với vẻ nhăn nhó để cài khóa. Rồi chị thọc chân vào quần lót, giữ cho mình đứng vững bằng cách vươn một cánh tay với bàn tay săn chắc cân đối vịn vào mặt tủ đầy những ống sơn dầu xếp thành hàng. Chị giật bằng một tay rồi bằng cả hai tay mảnh ni lông ấy lên một cách khéo léo; mảng lông quăn màu đỏ lòi ra, ngay lúc nó bị bắt gọn, bên trên băng chun lưng quần như bọt trên miệng một ly bia rót vội. Áo ngực của chị màu đen nhưng cái quần lọt khe thì màu tím nhạt. Băng chun lưng quần trễ thấp, bày ra mảng bụng màu ngọc trai gồ lên chừa chỗ đợi đáy một thứ quần cạp trễ táo bạo hết cỡ, nhưng thứ chị mặc vào kế tiếp lại là chiếc quần bò cạp cao kiểu xưa bình thường, có một hai bệt sơn đằng trước. Một chiếc áo nịt len sọc nổi và một đôi xăng đan vải nữa thôi, là chị sẽ được nai nịt đầy đủ, sẵn sàng đối mặt với đường phố và những cơ hội của nó. Một tên đàn ông khác có thể cuỗm mất chị. Jack sợ rằng mỗi lần ông thấy chị trần truồng đều có thể là lần cuối. Một cảm giác thê lương lướt qua ông chói gắt đến mức ông kêu lên, “Đừng mặc cái mớ vớ vẩn ấy vào! Quay lại giường đi, Terry. Làm ơn.”
“Anh đâu có thời gian.”
“Có đấy. Anh vừa nhớ lại, mãi ba giờ mới tới buổi dạy thêm. Dù sao thằng bé đó cũng thua trắng rồi, ở tận hạt Fair Lawn, ba mẹ nó nghĩ anh kèm nó vào Đại học Princeton được. Anh đâu làm nổi. Chiều anh chút được không?”
“Nào... chắc một lát thì được. Ôm ấp một cái thôi. Em rất ghét chúng ta cãi lộn. Chúng ta không nên có chuyện gì đáng phải cãi cả.”
“Chúng ta cãi nhau bởi vì chúng ta quan tâm đến nhau,” ông giải thích với chị. “Nếu không quan tâm, chúng ta sẽ không cãi.”
Chị mở khóa quần bò, hóp bụng vào và mang bộ dạng mắt trố rất khôi hài trong giây lát, rồi nhanh chóng luồn trở lại vào dưới tấm ga trải giường nhàu nát trong bộ đồ lót đen và tím nhạt. Có một vẻ đĩ thõa vô tư trong bộ đồ ấy, giống như vẻ hư hỏng trẻ con mà một số cô bé táo tợn ở trường Trung tâm vẫn bày ra, nó đánh thức nhịp đập rộn ràng lén lút từ dương vật ông. Ông cố gắng phớt lờ nó, quàng tay ôm lấy vai chị - những sợi lông tơ trên gáy chị vẫn còn ẩm sau khi tắm - và kéo chị đến sát ông hơn với vẻ bạn bè thuần khiết. “Ahmad thế nào rồi?” ông hỏi.
Terry trả lời một cách cảnh giác, thấy sự chuyển tiếp từ con điếm sang người mẹ quá đột ngột. “Có vẻ như nó làm tốt. Nó thích mấy người chủ thuê nó - một ông bố gốc Li Băng và con trai, họ chơi một kiểu như trò cớm tốtcớm xấu với nó. Anh con trai rõ ràng là loại người khác thường. Ahmad yêu xe tải.”
“Xe tải?”
“Lẽ ra có thể là bất cứ xe tải nào, nhưng chiếc này là chiếc xe của nó. Anh biết yêu là sao rồi đó. Mỗi sáng nó kiểm tra áp lực vỏ xe, thắng, đủ loại dầu nhớt. Nó nói với em về các thứ đó - dầu động cơ, dung dịch làm mát bộ tản nhiệt, nước rửa kính chắn gió, nước bình ắc quy, dầu tay lái, dầu cho hộp số tự động... Chắc có vậy thôi. Nó kiểm tra dây đai quạt xem chặt chưa và những gì nữa em chẳng biết. Nó nói đám thợ ở trạm sửa chữa, trong những lần kiểm tra định kỳ, quá hấp tấp và say mèm không thể làm cho tử tế. Chiếc xe tải đó thậm chí còn có tên nữa - Excellency. Excellency Home Furnishings. Họ nghĩ thế có nghĩa là thứ gì đó tuyệt hảo.”
“Ờ,” Jack thừa nhận, “cũng gần đúng. Vậy cũng dí dỏm phết.” Cảm giác cương cứng tăng trở lại khi ông nằm đó ráng nghĩ về Terry như một người mẹ và người làm việc, một hộ lý và một họa sĩ trừu tượng, một cá nhân thông minh có nhiều mặt mà ông hẳn sẽ hoan hỉ được quen biết kể cả nếu chị không khác giới với ông. Nhưng ý nghĩ của ông đã rời khỏi mớ đồ lót mượt mà của chị, tím nhạt và đen, và cái cách dễ dãi, thậm chí vô tâm mà chị cư xử với ông về mặt tình dục - tất cả kinh nghiệm đó, tất cả các bạn trai tích lũy trong mười lăm năm từ khi ba của Ahmad không giải được câu đố Mỹ và bỏ chạy. Ngay hồi đó chị đã là một cô gái dù được nuôi dạy theo tinh thần Công giáo cũng không thấy phiền gì chuyện sống chung với một tay đội khăn xếp, một gã Hồi. Chị là một người hoang dã, một kẻ phá bỏ luật lệ. Terri-ghê. Một Terri-gớm thần thánh[4]. Ông hỏi chị, “Ai nói với em về dân Do Thái và giao ước?”
“Em không biết. Một tay nào đó em từng biết.”
“Em biết anh ta theo nghĩa nào?”
“Em biết anh ta, Jack, nghe nè, không phải chúng ta đã thỏa thuận sao? Anh không hỏi và em không nói. Em đã bị bỏ rơi và sống đơn thân trong những năm người ta vẫn bảo là tươi đẹp nhất của đàn bà. Giờ em bốn mươi rồi. Đừng bực em vì một quá khứ cỏn con.”
“Dĩ nhiên trong đầu anh không hề bực. Nhưng, như chúng ta vừa nói, khi ta quan tâm, ta trở nên chiếm hữu.”
“Ta vừa nói chuyện đó sao? Em đâu có nghe thấy. Em chỉ nghe anh nghĩ về Beth. Beth thảm thương.”
“Ở thư viện bà ấy đâu thảm thương thế. Bà ấy ngồi đằng sau cái bàn chỉ dẫn và lang thang trên mạng còn ngon lành hơn anh nhiều.”
“Bà ấy nghe coi bộ giỏi há.”
“Không, nhưng bà ấy là một con người.”
“Tuyệt. Vậy ý anh là ai không phải người? Chắc em há?”
Tính khí nóng nảy kiểu Ireland khiến ta biết trân trọng những người phái Luther hơn. Dương vật của ông cảm thấy sự thay đổi trong thái độ của Teresa, và đang bắt đầu xìu xuống lại. “Chúng ta đều là con người,” ông xoa dịu chị. “Nhất là em. Nhưng về chuyện giao ước, anh chính là một gã Do Thái chưa bao giờ cảm thấy nó. Cha anh ghét tôn giáo, và giao ước duy nhất anh từng nghe nói tới là ở những khu dân cư không cho dân Do Thái vào. Hồi này chuyện mê đạo của Ahmad ra sao?”
Chị dãn ra một chút, nằm vùi xuống gối. Tia nhìn của ông đi sâu thêm vài phân vào chiếc áo ngực đen. Làn da nhiều tàn nhang ở nửa ngực trên của chị trông hơi nhăn, bị phơi ra dưới tác hại của ánh nắng từ năm này sang năm khác, tương phản với đường viền trắng như xà phòng ở bên kia mép áo ngực. Jack nghĩ, Vậy là có một tay Do Thái khác đã ở đây trước mình. Còn những người khác nữa là ai? Dân Ai Cập, Trung Quốc, có Chúa mới biết. Nhiều họa sĩ chị quen biết chỉ là những cậu trai bằng nửa tuổi chị. Với họ chị là một người mẹ chịu chơi. Có lẽ đó là lý do tại sao con trai của chị đồng tính, nếu nó là vậy thật.
Chị nói, “Thật khó nói. Thằng bé không bao giờ nói nhiều về chuyện đó. Thằng bé tội nghiệp, hồi xưa trông nó mỏng manh và sợ sệt làm sao khi em thả nó xuống ở giáo đường, một mình đi lên hết các bậc thang. Hết giờ khi em hỏi nó hôm đó ra sao, nó chỉ nói ‘Tuyệt,’ rồi câm như hến. Thậm chí nó còn đỏ mặt. Đó là chuyện mà nó không thổ lộ được. Nó bảo em là công việc này làm nó khó mà đến giáo đường mỗi thứ Sáu được, và cái tay Charlie luôn đi chung với nó thì chẳng có vẻ gì ngoan đạo cả. Nhưng anh biết không, thật tình thì Ahmad có vẻ thư thái hơn - ngay cái cách nó nói chuyện với em, có vẻ đàn ông hơn, nhìn thẳng vào mắt em. Nó hài lòng với chính mình, kiếm được tiền, và, em không chắc, có lẽ em tưởng tượng ra chuyện này, nó cởi mở hơn với những tư tưởng mới, chứ không đóng kín trong cái hệ niềm tin mà, theo quan điểm của em, là rất cố chấp và hạn hẹp. Nó đang nhận được những nguồn mới.”
“Nó có bạn gái không?” Jack Levy hỏi, biết ơn Terry vì quan tâm đến một đề tài ngoài những nhược điểm của ông.
“Không, theo như em biết,” chị nói. Ông yêu cái miệng Ireland đó khi chị trở nên đăm chiêu, quên khép cái môi trên hơi hếch lên của chị, với một chút thịt phồng lên ngay giữa. “Em nghĩ nếu có em sẽ biết. Nó về nhà mệt mỏi, để em dọn cho nó ăn, đọc kinh Qur’an hoặc gần đây là đọc báo - cái cuộc chiến chống khủng bố ngu ngốc này - để có cái nói chuyện được với tay Charlie, rồi đi ngủ trong phòng nó. Ga giường của nó” - chị thầm tiếc mình đã đưa ra đề tài này, nhưng vẫn tiếp tục - “sạch tinh.” Chị nói thêm, “Trước không phải lúc nào cũng vậy.”
“Làm sao em biết nếu nó có bạn gái?” Jack nài ép.
“Ồ, nó sẽ nói về chuyện đó, dù chỉ để chọc tức em thôi. Lúc nào nó cũng ghét chuyện em có bạn trai. Nó sẽ muốn đi chơi đêm, mà giờ nó không đi.”
“Vậy có vẻ không ổn lắm. Nó là đứa đẹp trai. Hay nó đồng tính?”
Câu hỏi đó không làm chị bối rối; chị đã nghĩ về điều đó. “Em có thể sai, nhưng em nghĩ nếu vậy em cũng sẽ biết. Ông thầy của nó ở giáo đường, tay Shaikh Rashid á, hơi gơm gớm; nhưng Ahmad biết. Nó kính trọng nhưng không tin cậy gã đó.”
“Em nói em đã gặp ông đó?”
“Chỉ một hai lần, khi đưa đón Ahmad. Gã ta rất hòa nhã và đúng mực với em. Nhưng em có thể cảm thấy sự căm ghét. Với gã ta em là một miếng thịt - thứ thịt không sạch sẽ.”
Thịt không sạch sẽ. Cảm giác cương cứng của Jack đã phục hồi. Ông cố tập trung, lâu hơn khoảng một phút, trước khi tiết lộ sự phát triển có thể là bất tiện này. Có một niềm hoan lạc, mà ông đã quên, trong việc chỉ cần có được món này - một khúc cứng, chắc, thúc bách đòi hỏi, cái trung tâm nhỏ vênh vang vừa được chọn lập cho phận người của ta, mang theo cảm giác rằng ta còn có nhiều hơn thế. “Còn công việc,” ông nói tiếp. “Nó có dành nhiều giờ không?”
“Vô chừng,” Terry nói. Cơ thể chị tỏa ra, có lẽ để đáp ứng cái gì lan tỏa từ ông, một hỗn hợp những mùi thơm rạo rực, trên hết là xà bông ở gáy chị. Đề tài về đứa con trai đang làm chị mất dần hứng thú. “Nó nghỉ khi đã giao xong hàng nội thất. Một số ngày nó về sớm, nhưng hầu hết thì trễ. Đôi khi tụi nó chạy đến tận Camden, hay thành phố Atlantic.”
“Để giao một món đồ nội thất thì vậy là xa đấy.”
“Không chỉ giao hàng mà còn có nhận hàng nữa. Nhiều món đồ nội thất của họ là đồ cũ. Họ mua đấu giá tài sản của người ta và cho xe tải chở đi. Họ có một kiểu mạng lưới; em không biết yếu tố Hồi giáo quan trọng cỡ nào. Hầu hết khách hàng của họ quanh New Prospect là gia đình da đen. Một số ngôi nhà của họ đẹp bất ngờ, Ahmad nói vậy. Nó thích được thấy những vùng khác nhau, những lối sống khác nhau.”
“Khám phá thế giới,” Jack thở dài. “Khám phá New Jersey trước hết. Anh đã làm thế, có điều anh bỏ qua phần thế giới. Giờ thì, cưng này” - ông hắng giọng - “em và anh có một vấn đề.”
Đôi mắt lồi màu xanh nhạt của Teresa mở to hơi hơi cảnh giác. “Vấn đề gì?”
Jack giở tấm khăn trải giường lên và cho chị thấy tình hình bên dưới thắt lưng ông. Ông hy vọng mình đã chia sẻ cuộc sống nói chung với chị đủ để chị chia sẻ điều này với ông.
Chị nhìn chăm chăm, và cong đầu lưỡi lên chạm vào phần giữa môi trên căng mọng. “Không phải vấn đề,” chị xác định. “No problema, señor.”
Charlie Chehab thường ngồi xe chung với Ahmad, cho dù Ahmad có thể tự mình xử lý lô hàng cần chất lên hoặc dờ xuống. Cậu trai ngày càng khỏe hơn qua việc nâng dỡ và chở hàng. Cậu đã yêu cầu ngân phiếu trả lương cho cậu - gần năm trăm một tuần, gấp hai lần mức Shop-a-Sec trả tính theo giờ - được ghi tên Ahmad Ashmawy, dù cậu vẫn sống với mẹ cậu. Bởi vì cả thẻ An sinh Xã hội lẫn bằng lái đều ghi họ cậu là Mulloy, chị đã đi với cậu đến ngân hàng, tại một trong những tòa nhà kính mới xây, để giải thích, và điền mẫu phiếu mới để lập một tài khoản riêng. Hồi gần đây chị vẫn thế: chị không chống đối cậu, dù trước kia cũng chẳng bao giờ chống đối gì nhiều. Nhìn lại, giờ cậu thấy, mẹ cậu là một người Mỹ tiêu biểu, thiếu niềm tin vững chắc cùng sự can đảm và niềm an ủi mà niềm tin mang lại. Chị là nạn nhân của sự sùng bái tự do Mỹ, tự do là trên hết, dù chuyện tự do được làm gì và với mục đích gì thì còn bỏ lửng bất quyết giữa trời. Những quả bom nổ tung giữa trời - khoảng không trống rỗng là biểu tượng hoàn hảo cho tự do kiểu Mỹ. Không có ummah gì ở đây, cả Charlie lẫn Shaikh Rashid chỉ ra - không có cấu trúc bao trùm của luật thánh nào khiến người giàu lẫn nghèo cúi mình sát vai nhau, không có bộ luật nào về đức hy sinh, cũng như không có sự tuân phục trong hoan lạc nào như sự tuân phục nằm sâu trong lòng Hồi giáo, đúng tên gọi của nó. Thay vào đó chỉ có sự khác biệt xung khắc của thói trục lợi riêng tư, những khẩu lệnh của nó là Hãy chớp thời cơ và Quỷ bắt kẻ chậm chân nhất và Thượng Đế giúp những kẻ tự giúp mình, vốn chuyển dịch thành Không có Thượng Đế, không có Ngày Phán xét; hãy tự giúp mình. Nghĩa kép của cụm từ “hãy tự giúp mình” - tự lực cánh sinh và “chộp lấy những gì có thể chộp” - khiến tay thầy tế thích thú; sau hai mươi năm sống giữa bọn ngoại giáo này, ông ta tự hào mình sử dụng lưu loát ngôn ngữ của họ. Đôi khi Ahmad phải đè nén nỗi ngờ vực rằng thầy của cậu sống trong một thế giới nửa thực nửa hư chỉ toàn từ ngữ thuần ròng và yêu thiên kinh Qur’an trên hết vì ngôn ngữ của nó, một vỏ khung làm bằng những câu tắt dữ dội mà nội dung chính là những âm tiết của nó, dòng chảy ngây ngất những âm “l” và “a” và những chỗ ngắt trong cổ họng, phảng phất như những tiếng gào la và vẻ lịch lãm của những chiến binh mặc áo choàng cưỡi ngựa dưới bầu trời không một gợn mây của sa mạc Arabia Deserta.
Ahmad xem mẹ cậu như một phụ nữ đã có tuổi mà trong lòng vẫn là một thiếu nữ, đang đùa giỡn với nghệ thuật và tình yêu - vì chị gần đây linh lợi hẳn lên với một vẻ bận tâm giúp con trai chị nhận ra có một người tình mới, cho dẫu người này, không như đa số bọn họ, không tới lui căn hộ và giành thế thống trị nhà này với Ahmad. Cô ta có thể là mẹ mày nhưng tao đụ cô ta, thái độ của họ nói thế, và điều này cũng sặc mùi Mỹ, thói coi trọng thành tích tình dục hơn mọi ràng buộc gia đình. Kiểu Mỹ là căm ghét gia đình và thoát ly khỏi nơi đó. Thậm chí các bậc bố mẹ cũng góp sức trong việc này, hoan nghênh những dấu hiệu độc lập từ con cái và cười khi chúng không nghe lời. Không hề có thứ tình yêu gắn kết mà Đấng Tiên tri Mohammed đã biểu lộ đối với con gái Fatimah của ông: Fatimah là một phần thân thể ta; bất cứ ai làm tổn thương nó, là đã tổn thương ta. và bất cứ ai làm tổn thương ta là đã làm tổn thương Thượng Đế. Ahmad không ghét mẹ cậu; mẹ cậu quá tán tác đến độ không thể căm ghét, quá lơ đãng vì mải đuổi theo hạnh phúc. Dù họ vẫn cùng sống trong căn hộ đẫm mùi sơn dầu ngọt ngào và hăng hắc đó, nhưng chị chẳng can dự gì tới cái tôi mà cậu bày ra với thế giới ban ngày, cũng như những bộ đồ nhớp nháp mồ hôi mà cậu mặc ngủ ban đêm và cởi ra trước lần tắm hoa sen vội vàng để bước vào vẻ thanh khiết sớm mai của một ngày làm việc, và chuyến đi bộ cả dặm đến chỗ làm. Trong mấy năm, việc thân thể họ chung nhau khoảng không gian giới hạn trong căn hộ có phần ngượng nghịu. Khái niệm cách cư xử lành mạnh của chị có cả chuyện xuất hiện trước con trai trong bộ đồ lót hoặc áo ngủ mùa hè làm lộ rõ đường nét những chỗ kín của chị. Trên đường phố mùa hè chị mặc áo dây và váy ngắn, áo cánh không cài nút ở trên và quần bò cạp trễ bó chặt nhất quanh nơi đầy đặn nhất của chị. Khi cậu phê phán quần áo của chị là thiếu đoan trang và khêu gợi, chị chế nhạo và trêu ghẹo cậu cứ như cậu đang tán tỉnh chị. Chỉ ở bệnh viện, với đồng phục hộ lý xanh nhạt, lùng nhùng một cách đứng đắn, mặc phủ ngoài những bộ đồ ngoài phố hở hang, chị mới đáp ứng được mệnh lệnh của Đấng Tiên tri Mohammed dành cho phụ nữ, trong chương hai mươi bốn, là họ nên kéo khăn choàng phủ ngực và chỉ phô bày nhan sắc với chồng, cha, con trai và anh em trai và nô lệ của họ và hoạn quan và, Thiên kinh nhấn mạnh, những đứa bé không quen với các phần kín đáo của đàn bà. Khi còn là một đứa trẻ lên mười hoặc nhỏ hơn, cậu đã nhiều lần, để lấp vào việc thiếu cô giữ trẻ, chờ mẹ tại bệnh viện Saint Francis, và vui mừng khi thấy chị cuống quýt vì công việc gấp gáp, bên dưới thắt lưng bị nhốt kín trong cái quần hộ lý và đôi giày chạy bộ đế dày, không có những cái lắc chân phá vỡ sự im lặng. Thời điểm căng thẳng xuất hiện khi, ở tuổi mười lăm, cậu cao hơn chị, và bắt đầu có một vệt lông tơ sậm màu ở môi trên: vẫn chưa tới bốn mươi, chị còn khờ khạo hy vọng bắt được một ông, tóm được một bác sĩ giàu có từ giữa chốn hậu cung gồm những cô phụ tá trẻ trung duyên dáng của ông ta, mà đứa con trai thiếu niên thì lại tố giác rằng chị đã trung niên.
Theo quan điểm của Ahmad chị có phong cách và hành xử trẻ hơn một bà mẹ đúng nghĩa. Ở những quốc gia Địa Trung Hải và Trung Đông, phụ nữ rút vào trong những nếp nhăn và tình trạng sồ sề đầy tự hào; sự trộn lẫn bất nhã giữa một bà mẹ và một bạn tình là không thể được. Tạ ơn Allah, Ahmad chưa hề mơ đến việc ngủ với mẹ cậu, không bao giờ cởi quần áo chị trong những ngóc ngách đầu óc nơi Quỷ sứ nhét điều đồi bại vào giấc mơ đêm và giấc mơ ngày. Sự thật là, ở hết mức cậu cho phép mình nối những ý nghĩ như thế với hình ảnh của mẹ cậu, chị không phải là mẫu người cậu thích. Da thịt chị, lốm đốm hồng và lấm chấm tàn nhang, có vẻ trắng một cách bất thường, giống như da người mắc bệnh hủi; thị hiếu của cậu, phát triển trong những năm ở trường trung học Trung tâm, là những làn da sẫm hơn, màu ca cao, màu đường thắng và màu sô cô la, là sự kỳ bí quyến rũ của những đôi mắt có sắc đen, thoạt nhìn thì đen đặc, sẫm dần thành màu tía quả mận hoặc màu nâu lấp lánh của xi rô - mà kinh Qur’an tả là những tròng mắt đen to, được giữ kín trong gian riêng của họ. Thiên kinh hứa hẹn: Và có những tiên nữ với đôi mắt to, giống như những viên ngọc được giữ kỹ: một phần thưởng cho những việc mà họ đã từng làm. Ahmad xem mẹ cậu là một sai lầm mà ba cậu đã phạm phải nhưng cậu sẽ không bao giờ phạm.
Charlie đã có vợ, một phụ nữ Li Băng mà Ahmad hiếm khi gặp, đến cửa hàng khi gần đóng cửa, vào lúc bản thân chị ta đã xong công việc hằng ngày, ở một văn phòng luật chuyên điền đơn nộp thuế cho những người không thể tự làm và cũng là nơi tiến hành can thiệp về mặt giấy tờ với chính quyền thành phố, bang và quốc gia khi mỗi cấp đó đòi mọi công dân phải cống nạp cho nó. Có một vẻ nam tính trong những bộ Âu phục của chị ta, và chỉ nước da màu ô liu cùng cặp chân mày dày, không tỉa tót mới giúp phân biệt chị ta với một người da đen. Tóc chị ta xù bung quanh đầu vài phân, nhưng trong tấm hình Charlie để trên bàn làm việc thì chị ta đội một cái khăn quàng to trùm kín tóc, mỉm cười phía trên khuôn mặt hai đứa con nhỏ. Anh ta không bao giờ nói về vợ, tuy thường nói về phụ nữ, nhất là phụ nữ xuất hiện trên phim quảng cáo tivi.
“Cậu có thấy cô nàng trong mẩu quảng cáo thuốc cường dương Levitra cho mấy thằng không lên nổi không?”
“Tôi ít khi xem tivi lắm,” Ahmad nói với anh ta. “Giờ tôi không còn là con nít nữa, nên nó chẳng còn hấp dẫn tôi.”
“Ồ, nên xem đi - nếu không làm sao cậu biết được những tập đoàn điều hành đất nước này đang làm gì chúng ta? Con nhỏ trong mẩu quảng cáo thuốc Levitra chính là thứ tôi coi là cái hĩm thập thành, đang kêu gừ gừ về ‘cục cưng’ của nó và kiểu anh ta khoái cái ‘chất lượng’ trong những lần cương cứng của mình - con nhỏ không nói ‘những lần cương cứng’ nhưng cả mẩu quảng cáo chỉ nói lên điều đó thôi, những con cu cương đủ cứng, chứng rối loạn cương dương là điều lớn nhất mà những nhà bào chế túm được kể từ thuốc an thần Valium - và cái kiểu cô ta thả ánh mắt về nơi xa rồi bày ra đôi mắt mơ màng, cậu thấy được liền, thấy qua đôi mắt một phụ nữ, con cu bự thẳng đơ của anh chàng, cứng như đá, và miệng cô ta diễn cái màn nho nhỏ thú vị này - cô ta có cái miệng tuyệt vời - nó kiểu như dập dờn, những bắp thịt nhỏ xíu trên đôi môi ấy, vì vậy cậu biết cô ta đang hình dung nó, nghĩ đến việc bú nó - và rồi, với cái vẻ, cậu hiểu không, với đủ kiểu mơ màng hài lòng và thỏa mãn tình dục, cô ta quay sang anh chàng này - một người mẫu nam nào đó, hẳn là dân đồng tính trong đời thực - và, nhanh như chớp, nói, ‘Coi kìa!’ và chạm vào má anh ta nơi anh ta đang khoe lúm đồng tiền, lỏn lẻn lắng nghe cô ta mô tả anh tuyệt vời ra sao. Cậu tự hỏi họ đã làm cái trò quỷ này ra sao - mất bao nhiêu lần quay vào băng video trước khi cô ta nghĩ ra vụ đó, hay là người viết kịch bản cho mẩu quảng cáo này đã nghĩ ra và viết trước khi quay - nhưng nó có vẻ tự phát quá chừng, phải tự hỏi làm cách nào họ khiến cho cô ta trông phê pha như thế. Cô ta thực sự có cái vẻ được làm tình đã đời thường thấy ở phụ nữ, cậu biết không? Và không chỉ nhờ hiệu ứng làm nhòe ảnh đâu.”
Đây, Ahmad thầm nghĩ một cách hơi rầu rì, là kiểu nói chuyện của đàn ông, mà cậu, trong áo sơ mi trắng và quần bò đen nghiêm khắc, đã né được hồi còn học trung học, và là kiểu nói chuyện mà ba cậu có thể đã nói với cậu theo kiểu chừng mực và ít tục tĩu hơn, nếu như Osmar Ashmawy còn ở lại mà đóng vai trò một người cha. Ahmad biết ơn Charlie vì đã đưa cậu vào thế giới của tình bạn đàn ông. Hơn cậu mười lăm tuổi hoặc nhiều hơn, và đã có gia đình dù anh ta không có vẻ như thế, dường như Charlie cho rằng Ahmad đã biết mọi thứ anh ta biết, hoặc nếu chưa biết thì cậu ta cũng muốn biết. Chàng trai nhận thấy nói chuyện với Charlie từ góc nghiêng, mắt nhìn tới trước qua kính chắn gió, hai tay để trên tay lái, thì dễ hơn là nói chuyện trực diện với anh ta. Cậu nói với anh ta, ngượng chín khi bày tỏ lòng sùng đạo của mình, “Tôi không nghĩ là tivi khuyến khích suy nghĩ trong sạch.”
“Quỷ ơi, không. Tỉnh dậy đi: nó không nhắm tới việc đó. Hầu hết chỉ là thứ cứt đái họ bày ra để lấp vào giữa những phần quảng cáo. Đó là điều tôi khoái được làm, nếu như không bận giữ cho doanh nghiệp của bố tôi đừng bị phá sản. Em của ông ấy đã kéo nó theo và bây giờ ngồi dưới Florida ăn chia tiền lời, vắt kiệt chúng tôi. Tôi thích làm phim quảng cáo. Lên kế hoạch chi tiết, lắp ráp các yếu tố lại với nhau - đạo diễn, diễn viên, phông cảnh, kịch bản; những thứ đó phải có kịch bản - sau đó tống nó cho công chúng, ngay giữa mặt, khiến họ không còn có thể suy nghĩ mạch lạc nữa. Những lời gan ruột, nói cho họ biết họ không thể sống thiếu cái gì. Chứ họ cũng cho chúng ta cái gì khác đâu, cái đám trùm truyền thông đó? Tin tức toàn những món sướt mướt - phát thanh viên Diane Sawyer, lũ trẻ sơ sinh Afghanistan tội nghiệp, ô hu hu - không thì tuyên truyền toạc móng heo; Bush phàn nàn chuyện Putin trở thành Stalin, nhưng chúng ta còn tồi tệ hơn cái bọn Kremlin cổ lỗ rệu rã xưa nay nữa kìa. Những thế lực mới thời nay, các tập đoàn quốc tế, thì muốn rửa cho trôi não cậu luôn, chấm hết. Chúng muốn biến cậu thành cỗ máy tiêu dùng - xã hội chuồng gà. Tất cả trò giải trí này là cứt đái Madman à, đúng cái thứ cứt đái từng giữ cho dân lao động làm xác sống trong giai đoạn Đại Suy thoái, chỉ có hồi đó cậu mới đứng xếp hàng và trả hai mươi lăm xu để xem một bộ phim, còn ngày nay họ cho không, vì những người đăng quảng cáo trả một triệu một phút để có cơ hội thọc vào đầu cậu.”
Ahmad, đang lái, cố gắng đồng ý: “Nó không đi trên Chính Đạo.”
“Cậu đùa hả? Đó là con đường Gạch Vàng, được lát bằng những ý định ngấm ngầm.” Ng-ấm-ng-ầm, Ahmad nghĩ, nhớ lại lần cuối cậu bị thuyết giảng. Ở mé bên tầm nhìn của mình cậu thấy những bụi nước miếng bắn ra từ miệng Charlie trong cơn thao thao bất tuyệt. “Thể thao,” anh chàng này phun ra. “Họ chi cả tỉ tỉ cho bản quyền truyền hình thể thao. Đó là thực tế mà không thực. Đồng tiền đã hủy hoại những liên đoàn chuyên nghiệp, không ai gắn bó với đội của họ nữa, họ rời đội để có thêm mười lăm triệu nữa trong khi tiền đang có họ cũng đã không đếm xuể rồi. Hồi xưa còn có lòng trung thành với đội và sự gắn bó địa phương nào đó, nhưng lũ ngốc trên khán đài bình dân không biết họ đang thiếu mất cái gì. Chúng nghĩ mọi chuyện xưa nay luôn là vậy, những vận động viên tham lam và những kỷ lục bị phá vỡ mỗi năm. Barry Bonds - anh ta giỏi hơn Ruth, giỏi hơn DiMaggio, nhưng ai mà thương được tên con hoang say xỉn khó ưa đó? Người hâm mộ bây giờ không biết thế nào là tình yêu. Họ không quan tâm đến nó. Thể thao giống như trò chơi điện tử, người chơi là những bức ảnh toàn ký ba chiều. Cậu lắng nghe talk show trên truyền thanh và muốn nói với đám fan cuồng của Green Bay Packers hay Winniberg hoặc bất cứ những kẻ nào cứ hò hét bất tận kia, ‘Ôi, làm ơn kiếm việc gì khác mà làm đi.’ Chúa ơi, lũ ngốc tội nghiệp ghi nhớ nằm lòng tất cả mớ thống kê đó, cứ như mình mới là kẻ được trả đồng lương A-Rod không bằng. Và cái gọi là phim hài mà các đài truyền hình đẻ ra nữa - Chúa ơi - ai cười chứ? Nó là thứ cứt đái. Còn chương trình của Leno với Letterman, lại cứt đái nữa. Nhưng còn những mẩu quảng cáo, chúng thật tuyệt vời. Chúng như là trứng Fabergé vậy. Khi ai đó trên đất nước này muốn bán cho cậu thứ gì đó, họ thực sự xắn tay áo lao vào. Họ trở nên nồng nhiệt. Cậu xem cùng một mẩu quảng cáo hai mươi lần, cậu thấy mỗi giây được tính bằng vàng như thế nào. Chúng đầy những thứ mà các nhà vật lý gọi là thông tin. Chẳng hạn, liệu cậu có biết người Mỹ có bệnh tật đến mức ấy, đầy chứng khó tiêu và bệnh bất lực và hói đầu, luôn đái dầm và bị rát lỗ đít, nếu như cậu không xem quảng cáo? Tôi biết cậu nói cậu không bao giờ xem, nhưng thực tình cậu không nên bỏ lỡ mẩu quảng cáo Ex-Lax với cô nàng khêu gợi có mái tóc dài suôn và hàm răng dài ngon lành đặc Mỹ cứ nhìn thẳng vào ống kính mà nói với cậu, chỉ cậu thôi, đang ngồi đó với bao Fritos của cậu, rằng cô ta rất mê ăn vặt - gầy như que củi, được cho là có thói mê ăn vặt - và đôi khi phải chiến đấu với chứng táo bón? Cô ấy bao nhiêu tuổi? Hai mươi lăm là cùng, và da rám như Lance Armstrong, và cậu có thể cuộc rằng cô ta cả đời không sót một ngày đi đồng nào, nhưng giám đốc Ex-Lax muốn các bà ngoài đó không thấy xấu hổ vì ruột già của mình bị nghẽn. ‘Nghe này,’ ông ta muốn nói với họ, giám đốc Ex-Lax nói, ‘ngay cả một cô nàng trắng trẻo ngon lành đặc Mỹ giống vầy cũng không phải lúc nào cũng ỉa được, hoặc giữ quần lót được khô ráo trên sân golf, hoặc giữ cho chứng bệnh trĩ của cô ta không làm hỏng bét một ngày trên khán đài sân vận động; vì vậy, bà nội ơi, bà không phải là một mẩu phế thải trong đống rác, bà đang cùng hội cùng thuyền với đám con gái trẻ trung quyến rũ ham chơi này đấy!’”
“Đây là một xã hội sợ bị già đi,” Ahmad đồng ý, nhẹ nhàng đạp thắng đề phòng đèn xanh ở đằng xa chuyển sang đỏ trước khi chiếc xe tải tới đó. “Bọn ngoại giáo không biết cách chết.”
“Đúng,” Charlie nói, giọng không thể dừng lại của anh ta tạm dừng, và nghe có vẻ thận trọng. “Vậy ai biết?” anh ta hỏi.
“Những người có đức tin thực sự,” Ahmad nói với anh ta, vì anh ta đã hỏi. “Họ biết rằng Thiên đường chờ kẻ chính trực.” Dòm qua kính chắn gió cao đầy bụi của chiếc Excellency để nhìn ra con đường tráng nhựa trộn đá dăm ố dầu cùng những chiếc đèn hậu và những vệt nắng phản chiếu chói chang tạo thành ngày hè trên tuyến đường xe tải ở New Jersey, cậu trích dẫn kinh Qur’an: “Allah làm cho các người sống, rồi làm cho các người chết, rồi sẽ tập trung các người vào Ngày Phục Sinh, điều mà không có chi phải nghi ngờ cả.”
“Chắc chắn rồi,” Charlie nói. “Hay thật. ‘Không có chi phải nghi ngờ cả.’ Tôi thì, nếu có một lý do hay, tôi sẽ hoan hỉ thanh lý luôn. Cậu thì, cậu còn quá trẻ. Cậu có cả cuộc đời trước mặt.”
“Không phải thế,” Ahmad nói. Cậu không nghe trong câu trả lời thô lỗ của Charlie độ rung của nỗi nghi ngờ, sắc lung linh êm mượt của ý châm biếm mà cậu vẫn nhận ra trong giọng của Shaikh Rashid. Charlie là tay lăn lộn trong đời, nhưng Hồi giáo chắc chắn là một phần của cuộc đời đó. Người Li Băng không tinh ranh và hai mặt như người Yemen hoặc đẹp trai và ưa biến mất như người Ai Cập. Cậu rụt rè nhận xét, “Tôi đã sống lâu hơn nhiều người tử đạo ở Iran và Iraq.”
Nhưng Charlie vẫn chưa hết chuyện về những phụ nữ anh ta thấy trên các mẩu quảng cáo truyền hình. “Và bây giờ,” anh ta nói, “sau khi những tập đoàn dược phẩm đã vớ bở với Viagra các thứ, họ chuyển sang bán món cải thiện tình dục, họ gọi tên như vậy, cho phụ nữ. Có một đoạn quảng cáo - có thể cậu chưa xem nó, nó không được chiếu thường xuyên - thể hiện một phụ nữ, có vẻ xuề xòa và lý tính, một giáo viên, cậu hình dung được đấy, hoặc quản lý nhỏ của một công ty kỹ thuật bậc trung nào đó, không phải loại hàng đầu, với một nét cau mày nhẹ trên mặt để cậu biết cuộc sống của cô ta đang thiếu cái gì đó, và âm nhạc tạo thêm một dòng chảy ngầm, kiểu như một cung thứ lẳng nhẳng, và đùng một cái cậu thấy cô ta lướt đi lơ lửng bọc trong thứ trang phục mỏng tang, chân trần; tốt hơn cô ta nên để chân trần, bởi vì khi nhìn kỹ cô ta đang đi bộ trên mặt nước, kéo theo những gợn sóng lăn tăn, ở đó ngay bên bờ nước chỉ sâu cỡ một tấc nhưng dù thế cô ta vẫn không chìm xuống, có một kiểu tóc mới, và được trang điểm đẹp hơn, khiến cho khuôn mặt cô ta mơ màng cả đi - tôi nghĩ người ta có thứ kẹp banh nào đó đặt vào mắt mấy con nhỏ để làm cho tụi nó có nét mặt như thế - và rồi cậu hiểu ra lý do, logo của ‘chất làm tăng kích thích tố’ mới mẻ này, họ đặt tên nó thế. Thông điệp là, cô nàng đã được người ta thịt. Cô ta vừa hành mình tới đờ đẫn bằng nhiều nhiều cơn cực khoái chất chồng. Nếu là quảng cáo hồi cách đây mươi mười lăm năm thì họ đã chẳng bao giờ thừa nhận điều đó - rằng phụ nữ muốn điều đó, họ rất muốn nó; được người ta chơi thỏa thuê là một liều thuốc thư giãn và một phương pháp giúp làm đẹp. Còn cậu thì sao? Madman? Gần đây cậu được nhiều chứ?”
“Nhiều cái gì?” Tâm trí của Ahmad có lẽ đang lang thang. Họ đã rời khỏi đường cao tốc tại Bayway và đang ở một thị trấn vô danh nào đó có rất nhiều xe đậu hai bên đường tạo thành những chỗ cổ chai khiến chiếc Excellency len qua vất vả.
“Khe lông ấy mà,” Charlie nói với vẻ cáu kỉnh, nín thở khi chiếc xe tải màu cam sượt ngang một chiếc xe buýt học sinh ì ạch chở đầy những khuôn mặt nhỏ bé nhìn chăm chăm. “Bướm ấy,” anh ta giải thích rõ. Khi Ahmad đỏ mặt không trả lời, Charlie thông báo bằng giọng kiên quyết lặng lẽ, “Tụi tôi sẽ giúp cậu nếm mùi đời.”
Những thành phố miền Bắc New Jersey khá giống nhau - những mặt tiền cửa hàng, những vỉa hè, những đồng hồ đỗ xe, những bảng hiệu bằng đèn ống và những mảng xanh đô thị lướt qua nhanh - tạo cảm giác bị kẹt cứng dù trong một chiếc xe đang di chuyển. Những vùng đất mà cậu và Charlie cùng nhau lái qua, với mùi nhựa đường bị chảy mềm trong mùa hè và dầu xe chảy tràn và mùi hành cùng phô mai bốc từ những quán ăn nhỏ ra đường phố, thì cứ y hệt nhau cho đến khi họ xuống dưới phía Nam Amboy hoặc đường từ cao tốc Jersey rẽ vào Sayreville. Nhưng khi hết thành phố này nối tiếp thành phố khác thì Ahmad dần thấy rằng không có hai thành phố dù nhỏ nào là y hệt nhau, và trong mỗi thành phố lại có vẻ đa dạng xã hội riêng. Trong một số khu dân cư những ngôi nhà lớn lui vào xa đường cái bò lan trong bóng râm trên những bãi cỏ tươi tốt đầy cây bụi được chăm tỉa cẩn thận trông như lính canh. Excellency ít khi giao hàng tới những ngôi nhà như thế, mà vượt qua chúng trên đường tới những dãy nhà nội thành, nơi những bậc thềm trước nhà từ lề đường dẫn thẳng lên cửa chính, không hề có lấy một mẩu gì có thể tạm gọi là khoảng sân trước. Những người chờ đợi hàng giao thường sống ở đây: những gia đình da sẫm hơn với những giọng nói và tiếng tivi vọng ra từ những phòng sâu bên trong, ngoài tầm nhìn, thể như phòng ngủ này kế phòng ngủ khác của các thành viên gia đình cứ nối lồng vào nhau mọc ra từ hành lang. Đôi khi có những dấu hiệu của nghi thức Hồi giáo - thảm cầu nguyện, phụ nữ đeo khăn trùm đầu, hình lộng khung của mười hai trưởng giáo kể cả Mahammad al-Mahdi, bậc trưởng giáo lánh mình, với khuôn mặt không hình dạng, chứng tỏ hộ này thuộc phái Shia. Những ngôi nhà này khiến Ahmad thấy bứt rứt, giống như cậu bứt rứt trước những khu đô thị nơi các cửa hàng quảng cáo bằng tiếng Ả Rập xen lẫn tiếng Anh và các thánh đường được tạo ra bằng cách gắn hình trăng lưỡi liềm thay cho cây thánh giá trên nóc một nhà thờ Tin Lành đã trả về thế tục. Cậu không thích rề rà tán gẫu như Charlie, cố duy trì nói chuyện dù người đối thoại nói bằng phương ngữ Ả Rập nào đi nữa, với tiếng cười và cử chỉ để lấp đầy khoảng cách trong giao tiếp. Ahmad cảm thấy lòng tự hào về sự cô lập và bản sắc do chủ tâm muốn có của cậu bị đe dọa bởi đám đàn ông bình thường, lao khổ và đám phụ nữ xoàng xĩnh, thiết thực, gia nhập Hồi giáo một cách biếng nhác như thể đó đơn thuần là vấn đề lai lịch sắc tộc. Dù cậu không phải là tín đồ Hồi giáo duy nhất ở trường Trung tâm, nhưng chẳng có ai hoàn toàn giống cậu - bố mẹ dị chủng mà vẫn nhiệt thành trong đức tin, một đức tin do cậu chọn thay vì chỉ thừa hưởng từ một ông bố hiện diện để củng cố lòng trung thành, Ahmad là dân bản xứ Mỹ, và trong những chuyến đi xuyên New Jersey cậu không quan tâm nhiều đến những nhóm dân Trung Đông bị mất chất bằng quan tâm đến thực tế Mỹ cực kỳ đa dạng bao quanh, một sự sôi động lan tỏa, với nó cậu cảm thấy nỗi thương hại nhè nhẹ như trước một thử nghiệm thất bại.
Đất nước mong manh, tồi tệ này có một lịch sử chẳng được phản ánh lại mấy trong Tòa Đô chính New Prospect bề thế và hồ gạch vụn của những công ty phát triển địa ốc mà trên hai bờ đối diện nhau là trường trung học và nhà thờ đen đầy bồ hóng với những cửa sổ có lồng sắt. Mỗi thị trấn cất giữa lòng mình những di tích của thế kỷ 19, những tòa nhà chuyên dụng bằng đá nâu thô kệch hoặc bằng gạch đỏ mềm với những gờ mái nhô ra và lối vào uốn vòng cung tròn, những tòa nhà kiêu hãnh trang trí công phu sẽ còn tồn tại lâu hơn các công trình kiến trúc dặt dẹo của thế kỷ 20. Những tòa nhà cổ hơn, đỏ đắn hơn này thể hiện một quá khứ công nghiệp thịnh vượng, một nền sản xuất sung mãn, máy móc và đường sắt được khai thác để phục vụ cuộc sống của một đất nước cần lao, một thời kỳ củng cố bên trong và chào đón dân nhập cư từ khắp thế giới. Rồi có một thế kỷ trước làm nền, giúp cho những thế kỷ kế tiếp có thể phát triển. Chiếc xe tải màu cam chạy ầm ầm qua những biển hiệu bằng sắt nhỏ và những đài kỷ niệm dễ bị bỏ qua dành cho một cuộc khởi loạn đã trở thành cách mạng; từ Fort Lee đến Red Bank, những trận đánh của nó đã xảy ra, để lại hàng ngàn cậu trai ngủ yên dưới cỏ.
Charlie Chehab, một con người gồm đủ thứ thành phần đa tạp, biết nhiều lạ thường về cuộc xung đột xa xưa đó: “New Jersey là nơi cuộc Cách mạng chuyển hướng. Long Island trước đó là một thảm họa; New York City cũng y như vậy. Rút lui, rút lui. Bệnh tật và đào ngũ. Ngay trước mùa đông năm bảy sáu sang bảy bảy, quân Anh từ Căn cứ Lee tràn xuống Newark, rồi tới Brunswick và Princeton và Trenton, dễ như chẻ tre. Washington lết qua sông Delaware với một đạo quân rách rưới. Rất nhiều lính đi chân trần, tùy cậu tin hay không. Chân trần, mà mùa đông thì đang đến. Tụi mình tiêu rồi. Ở Philadelphia, mọi người đều cố di tản ngoại trừ đám thân Anh, họ quanh quẩn chờ bọn lính Anh bè bạn đến đấy. Trên mạn New England, một hạm đội Anh chiếm Newport và Rhode Island mà không gặp kháng cự nào. Thế là kết thúc rồi.”
“Ờ, mà tại sao cuối cùng lại không?” Ahmad hỏi, không rõ tại sao Charlie nói câu chuyện yêu nước này nhiệt tình như thế.
“À,” anh ta nói, “có nhiều yếu tố lắm. Một số điều tốt đang xảy ra. Quốc hội lục địa Mỹ thức tỉnh và thôi không cố chỉ đạo cuộc chiến nữa; họ nói, ‘Được rồi, cứ để George làm vụ đó.’”
“Vậy là thành ngữ này xuất phát từ đó hả?”[5]
“Câu hỏi hay đó. Tôi không nghĩ thế. Vị tướng chỉ huy Mỹ thứ hai, một thằng ngu có tên Charles Lee - Căn cứ Lee được đặt theo tên thằng cha đó, cảm ơn con mẹ nó - đã để bị bắt trong một quán rượu ở Basking Ridge, bỏ cho Washington nắm toàn quyền. Ở thời điểm này Washington còn có tí quân nào thì đã là may mắn lắm rồi. Sau trận Long Island, quân Anh đã nhẹ nhàng hơn với chúng ta. Họ để cho quân đội lục địa rút lui và băng qua sông Delaware. Điều đó hóa ra là một sai lầm, vì, như họ chắc đã dạy cậu ở trường - ở trường họ dạy cậu cái chó gì vậy, Madman? - Washington và một nhúm chiến binh vì tự do rách rưới và gan góc băng qua sông Delaware vào ngày Giáng sinh và đánh tan những toán lính Đức đánh thuê đóng ở Trenton, và tóm được cả đống tù binh. Thêm nữa, khi Cornwallis đưa đại quân từ New York xuống và nghĩ mình đã vây hãm được người Mỹ ở phía Nam Trenton, thì Washington lẻn vượt rừng, vòng qua rừng thông hoang Barrens và đầm lầy Great Bear rồi hành quân về phía Bắc đến tận Princeton đấy! Mà ấy là cả đám lính rách rưới không được ngủ suốt nhiều ngày cơ đấy! Con người thời đó cứng rắn hơn. Họ không sợ chết. Khi Washington chạm trán một lực lượng Anh ở phía Nam Princeton, một tướng Mỹ tên Mercer bị bắt giữ và chúng gọi ông ta là tên phiến loạn tồi tệ và bảo ông ta xin tha chết, và ông ta nói mình không phải phiến loạn và không chịu cầu xin, thế là chúng đâm ông chết bằng lưỡi lê. Chúng không phải người tốt lành gì, bọn Anh ấy, không như kiểu chương trình Masterpiece Theatre vẽ vời ra đâu. Khi tình hình ở Princeton đang có vẻ ở mức tồi tệ nhất, Washington cưỡi một con ngựa trắng - đây là sự thật đích thực, cưỡi một con ngựa trắng thực sự - dẫn lính tiến vào giữa vùng hỏa lực của quân Anh và lật ngược tình thế, đuổi theo bọn lính Anh đang rút lui mà thét: ‘Một cuộc săn cáo tuyệt vời, anh em ơi!’ ”
“Ông ta nghe có vẻ tàn bạo quá,” Ahmad nói.
Charlie khịt mũi tạo cái âm thanh phủ nhận kiểu Mỹ, aaànn, tỏ ý bác bỏ, và nói, “Không hẳn thế. Chiến tranh là tàn bạo, chứ những người nhất thiết phải tiến hành chiến tranh thì không. Washington là một chính nhân quân tử. Khi trận Princeton kết thúc, ông dừng lại và khen ngợi một lính Anh bị thương rằng họ đã chiến đấu dũng cảm. Ở Philadelphia, ông bảo vệ những tù binh Đức đánh thuê trước đám đông cáu giận đang định giết họ. Hiểu không, đám lính Đức, như hầu hết lính Âu châu chuyên nghiệp, được huấn luyện chỉ tha chết trong những tình huống nào đó, ngoài ra họ không bắt tù binh - họ đã làm vậy ở Long Island, họ tàn sát chúng ta - thành ra họ ngỡ ngàng trước cách đối xử nhân đạo dành cho họ đến độ một phần tư số lính đó ở lại đây khi hết chiến tranh. Họ kết hôn với dân Hà Lan ở Pennsylvania. Họ đã trở thành người Mỹ.”
“Anh có vẻ ngưỡng mộ George Washington.”
“Ồ, sao không?” Charlie ngẫm nghĩ, như thể Ahmad đã giăng một cái bẫy. “Không thể không như vậy, nếu cậu quan tâm đến New Jersey. Đây là nơi ông thành danh. Điều vĩ đại ở ông, ông là người ham học hỏi. Ông học, thứ nhất, là cách hòa hợp với dân New England. Theo quan điểm của một điền chủ Virginia, dân New England là bọn vô chính phủ tùy tiện; trong đám binh lính của họ có cả dân da đen và da đỏ cứ như đó là người da trắng vậy, giống như họ vẫn thuê đám đó trên tàu săn cá voi của mình. Thật ra thì về mặt đó bản thân Washington cũng có một chàng da đen to con làm trợ thủ, cũng họ Lee, không bà con gì với tướng Robert E. Lee đâu. Khi hết chiến tranh, Washington đã trả tự do cho anh ta vì công phục vụ Cách mạng. Ông đã học được cách xem chế độ nô lệ là điều xấu xa. Kết cuộc ông khích lệ người da đen tòng quân, dù hồi đầu thì ông chống ý tưởng này. Cậu có nghe từ ‘thực dụng’ chưa?”
“Dĩ nhiên.”
“Đó là kiểu của Georgie. Ông ta học cách chấp nhận thực tại, học cách chiến đấu kiểu du kích: đánh và nấp, đánh và nấp. Ông ta rút lui nhưng không bao giờ chịu thua. Chúng ta giống quân Hamas. Chúng ta là al-Qaida. Vấn đề với New Jersey là,” Charlie vội nói thêm, khi Ahmad hít vội một hơi như cậu muốn ngắt lời, “người Anh muốn đấy trở thành kiểu mẫu của bình định - chiếm được cả con tim lẫn khối óc, cậu có nghe rồi đấy. Họ thấy việc họ làm ở Long Island là phản tác dụng, gặp nhiều phản kháng hơn, thế là họ cố chơi đẹp ở đây, để dụ dân thuộc địa về với mẫu quốc. Tại Trenton, điều Washington nói với người Anh là, ‘Đây là hiện thực. Còn hơn cả chơi đẹp.’ ”
“Còn hơn cả chơi đẹp,” Ahmad lặp lại. “Đó có thể là tựa một bộ phim truyền hình dài tập cho anh đạo diễn.”
Charlie không chấp nhận ý tưởng đùa vui này. Anh ta đang có điều muốn thuyết phục cậu. Anh ta tiếp tục, “Ông chứng tỏ cho cả thế giới thấy có thể làm được gì chống lại chênh lệch sức mạnh quá lớn, chống lại siêu cường. Ông đã chứng tỏ - và đây là chỗ giống với Việt Nam và Iraq - rằng trong một cuộc chiến tranh giữa một tên đế quốc chiếm đóng với người dân thực sự sống ở đó, người dân cuối cùng sẽ thắng. Họ biết địa thế. Họ có nhiều cái để mất còn. Họ không có chỗ nào khác để đi. Không chỉ có Quân đội lục địa ở New Jersey; còn có lực lượng dân quân, những toán quân địa phương nhỏ lẩn khuất khắp New Jersey, hành động đơn độc, bắn tỉa từng tên lính Anh một rồi biến mất, lui về vùng nông thôn - nói cách khác là không chơi sòng phẳng nếu tính theo luật lệ của bên kia. Vụ tấn công vào đám quân Đức đánh thuê cũng là đánh lén - giữa một trận bão tuyết dữ dội, vào đúng một ngày nghỉ khi mà ngay cả lính tráng cũng không đáng phải làm việc. Washington có ý nói, ‘Này, đây là cuộc chiến của chúng tao.’ về thung lũng Forge: Thung lũng Forge đã cướp hết danh tiếng, nhưng những mùa đông sau đó ông ta đóng quân ở New Jersey - tại Middlebrook trong vùng núi Watchung, rồi ở Morristown. Mùa đông đầu tiên tại Morristown là mùa đông lạnh nhất trong vòng một thế kỷ trở lại. Họ đốn hạ sáu trăm mẫu rừng sồi và dái ngựa để dựng lán trại và làm củi sưởi. Mùa đông đó tuyết rơi nhiều đến độ hàng tiếp liệu không thể chở tới được và họ gần như chết đói.”
“Xét tình hình thế giới hiện nay,” Ahmad góp ý kiến, nhằm bắt nhịp với Charlie, “nếu họ chết đói đi thì có lẽ tốt hơn. Nước Mỹ có thể đã trở thành một kiểu Canada, một đất nước hiếu hòa và biết điều, dù vẫn ngoại đạo.”
Tiếng cười ngạc nhiên của Charlie trở thành tiếng khịt trong mũi. “Cứ mơ đi, Madman. Ở đây có quá nhiều năng lượng làm sao mà hiếu hòa và biết điều được. Những luồng năng lượng tranh đua nhau - đó là điều hiến pháp đã tính đến. Đó là điều chúng ta có được.” Anh ta đổi tư thế trên ghế và lắc bao Marlboro cho một điếu rơi ra. Khói thuốc phủ kín khuôn mặt khi anh ta nhìn qua kính chắn gió và có vẻ ngẫm nghĩ về những gì vừa nói với tay tài xế trẻ của mình. “Lần sau khi đi về phía Nam theo đường 9 tụi mình phải quẹo qua Chiến địa Monmouth mới được. Người Mỹ rút lui, nhưng kháng cự quân Anh đủ mạnh để cho người Pháp thấy rằng họ đáng được ủng hộ. Cả người Tây Ban Nha và Hà Lan nữa. Cả châu Âu ra tay cố trả nước Anh về đúng chỗ của nó. Giống như nước Mỹ hiện nay. Thật mỉa mai: vua Louis XVI ủng hộ chúng ta tốn nhiều tiền đến độ ông ta đánh thuế người Pháp tới mức họ khởi nghĩa và chặt đầu ông ta. Cuộc cách mạng này dẫn đến cuộc cách mạng khác. Chuyện thường vẫn vậy.” Charlie thở ra nặng nề và tuyên bố bằng một giọng kín đáo, trang nghiêm hơn, như thể không dám chắc Ahmad nên nghe những lời này, “Cậu biết đấy, lịch sử không phải thứ kết thúc là xong. Hiện nay cũng vậy. Cách mạng không bao giờ ngừng. Cậu cắt đầu nó, nó mọc ra hai cái.”
“Quái vật Hydra,” Ahmad nói, để chứng tỏ cậu không hoàn toàn ngu dốt. Hình ảnh này xuất hiện hoài trong những bài giảng của Shaikh Rashid, minh họa cho sự vô ích của cuộc Thập tự chinh Mỹ chống lại thế giới Hồi giáo, và lần đầu Ahmad nhìn thấy nó là khi xem chương trình truyền hình cho trẻ em, những phim hoạt hình vào sáng thứ Bảy, trong khi mẹ cậu ngủ muộn. Chỉ có cậu với cái tivi trong phòng khách - cái hộp điện tử quá rối rít và tự phụ với những tiếng nấc tiếng nổ lốp bốp, những va chạm và những giọng the thé kích động của cuộc phiêu lưu trong phim hoạt hình, và khán giả của nó, đứa trẻ đang xem phim, hoàn toàn lặng lẽ và bất động, âm thanh được vặn nhỏ để cho mẹ nó ngủ bù cuộc hẹn hò đêm qua của chị. Quái vật Hydra là một sinh vật buồn cười, mọi cái đầu của nó nói chuyện với nhau trên những chiếc cổ uốn éo.
“Những cuộc cách mạng hồi xưa ấy,” Charlie tiếp tục, như bộc bạch tâm sự, “có nhiều điều để dạy cho cuộc thánh chiến của chúng ta.” Việc Ahmad không trả lời khiến anh ta hỏi nhanh bằng giọng thăm dò, “Cậu có ủng hộ thánh chiến không?”
“Sao tôi không ủng hộ được? Đấng Tiên tri đã nhấn mạnh việc đó trong Thiên kinh.” Ahmad trích dẫn. “Mohammed là sứ giả của Allah. Và những ai theo Người thì nghiêm khắc với những kẻ không có đức tin nhưng rất thương xót lẫn nhau.”
Tuy nhiên, cuộc thánh chiến có vẻ rất xa vời. Khi đi giao hàng trang trí nội thất hiện đại và thu gom những món đồ từng là hiện đại đối với chủ nhân đã chết, cậu và Charlie đã lái chiếc Excellency qua bãi lầy oi ả những tiệm pizza và tiệm làm móng, những cửa hàng bán đồ cũ và trạm xăng, những nhà hàng White Castle và Blimpie. Krispy Kreme và Lovely Laundry, Rims and Tires và 877-TEETH-14, Starlite Motel và Prime Office Suites, Bank of America và Metro Information Shredding, Testigos de Jehovah và New Christian Tabernacle: những bảng hiệu kìn kìn dày đặc tới chóng mặt gào lên về những cải thiện có thể thực hiện cho mọi cuộc đời bị nhồi nhét vào những nơi từng là đồng cỏ và nhà máy chạy bằng sức nước. Những kiến trúc tường dày với mong muốn trường tồn được dùng cho công vụ địa phương vẫn đứng vững, được duy trì làm viện bảo tàng hoặc tòa căn hộ hoặc cơ sở cho các tổ chức dân sự. Cờ Mỹ bay khắp nơi, một số tả tơi phai màu, rõ ràng đã bị bỏ quên trên các cột cờ. Có một thời gian niềm hy vọng của thế giới đã tập trung ở đây, nhưng thời đó đã là quá khứ. Ahmad nhìn qua kính chắn gió cao của chiếc Excellency thấy những bầy trẻ trung cỡ tuổi cậu, cả giống đực và giống cái, đang tụ tập trong cảnh lười nhác láo nháo, một sự lười nhác với vẻ đe dọa, làn da nâu của đám con cái phơi ra nhờ những chiếc quần cụt hà tiện vải và áo dây thun ôm sát người, còn bọn đực mặc áo thun ba lỗ, quần đùi lùng nhùng dị hợm, đeo khuyên tai đội mũ len sát đầu, những trò đùa bỡn chúng tự trêu mình.
Một cảm giác kinh hoàng trước gánh nặng phải sống một cuộc sống ập vào Ahmad qua ánh chói kính chắn gió đầy bụi. Những con thú chờ xuống Hỏa ngục, tụ tập theo mùi giao phối và trò tinh nghịch này lại có sự thoải mái của đám họ hàng thuần hóa, và mỗi con đều ấp ủ hy vọng hay kế hoạch nào đó về một tương lai, một công việc, một nơi đến, một khát vọng dù chỉ là ngoi lên trong hàng ngũ đám buôn bán ma túy hoặc ma cô. Trong khi cậu, Ahmad, với những khả năng mà ông Levy đã nói là cậu có dư thừa, lại không có kế hoạch nào: ngài Thượng Đế gắn với cậu giống như người anh em sinh đôi vô hình, cái tôi thứ hai của cậu, là một Thượng Đế không phải của tính táo bạo mà của sự phục tùng. Dù cậu cố gắng cầu nguyện năm lần một ngày, tuy chỉ là trong cái hang hình chữ nhật là thân xe tải này với những chiếc mền chất đống và những tấm xốp đóng hàng, hoặc trong khoảnh đất rải sỏi đằng sau một quán ăn bên đường nơi cậu có thể trải nệm ra cho một cuộc thanh tẩy năm phút, Đấng Độ lượng và Khoan dung vẫn không soi sáng con đường thẳng vào một cách hướng nghiệp nào cả. Như thể trong giấc ngủ ngọt ngào của lòng tận hiến cho đấng Allah, tương lai cậu đã bị xẻo cụt. Trong những quãng rù rì khi miệt mài nuốt những dặm đường, khi cậu thú nhận điều lo nghĩ của mình với Charlie, con người thường khi lắm mồm và hiểu biết rộng này có vẻ lảng tránh và lúng túng.
“Này, chưa đầy ba năm nữa cậu sẽ lấy được giấy phép lái xe tải hạng A, và có thể lái bất cứ loại hàng nào - chất độc hại, xe đầu kéo - ra ngoài bang. Cậu sẽ kiếm được khối tiền.”
“Nhưng cuối cùng để nhằm đến cái gì? Như anh nói, để tiêu thụ hàng tiêu dùng à? Để nuôi ăn và phủ quần áo cho cái thân này của tôi mà sau cùng cũng trở nên hom hem và vô giá trị à?”
“Đó là một cách nhìn vấn đề. ‘Đời chả ra gì, và rồi mày chết.’ Nhưng chẳng phải vậy là bỏ sót nhiều thứ sao?”
“Thứ gì? ‘Vợ và con’ như người ta nói à?”
“Phải, khi có vợ và con rồi thì đúng vậy, rất nhiều câu hỏi lớn kiểu tóm-lại-là-ý-nghĩa-gì của cuộc sinh tồn phải xuống hàng thứ yếu.”
“Anh có vợ con, nhưng hiếm khi anh nói với tôi về họ.”
“Nói gì bây giờ? Tôi yêu họ. À còn về tình yêu thì sao, Madman? Cậu không cảm thấy nó sao? Tôi nói rồi, tụi tôi phải giúp cậu nếm mùi đời mới được.”
“Đó là hảo ý của anh, nhưng làm chuyện đó ngoài hôn nhân thì ngược với đức tin của tôi.”
“Ô, thôi nào. Bản thân Đấng Tiên tri cũng đâu phải thầy tu. Ông nói mỗi người có thể có bốn vợ. Đứa con gái tụi tôi kiếm cho cậu sẽ không phải là đứa ngoan đạo đâu; nó là gái làng chơi. Chuyện đó không là gì với cô ta mà cũng chẳng nên là gì với cậu. Dù cậu làm gì hay không làm gì với cô ta thì cô ta vẫn là một kẻ ngoại giáo đáng tởm.”
“Tôi không khao khát sự ô uế.”
“Này, vậy cậu thèm khát cái quỷ gì, Ahmad? Quên cái vụ chơi bời này đi, xin lỗi vì đã nói vụ đó. Đơn thuần chỉ sống thôi thì sao? Hít thở khí trời, ngắm mây bay? Vậy không tốt hơn chết sao?”
Một cơn mưa hè nhỏ bất ngờ từ không trung - không mây, một màu xám chì rộng khắp, đôi chỗ có ánh nắng bị che khuất hắt xuyên qua - rơi lấm tấm trên kính chắn gió; với một cú chạm nhẹ của bàn tay Ahmad hai cần gạt nước bắt đầu chuyển động qua lại nặng nề. Cần gạt bên phía tài xế để lại một vòng cung hơi nước không quét đến, trên miếng cao su có một chỗ rách: cậu thầm ghi nhớ cần thay miếng cao su hỏng này. “Còn tùy,” cậu nói với Charlie. “Chỉ những kẻ không đức tin mới quá sợ chết.”
“Còn những niềm vui hằng ngày thì sao? Cậu yêu cuộc sống mà, Madman, đừng phủ nhận điều đó. Cái cách cậu đến làm việc sớm mỗi sáng, hăm hở xem có gì trên lịch làm việc của chúng ta. Chúng tôi từng thuê nhiều thằng làm trên xe tải này không xem gì cả, không quan tâm cái gì cả, tụi nó lờ đờ không chút sinh khí. Tụi nó chỉ quan tâm đến việc dừng tại chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh đặng ngốn cả đống rồi đi đái và hết giờ làm việc thì đi chơi và say sưa với bạn bè. Còn cậu, cậu có tiềm năng.”
“Tôi nghe nói điều đó rồi. Nhưng nếu tôi yêu cuộc sống, như anh nói, thì cũng bởi nó là một món quà từ Thượng Đế mà Người đã quyết định cho, và có thể quyết định lấy đi.”
“Được rồi. Theo ý Thượng Đế. Trong lúc chờ đợi thì cứ tận hưởng đi đã.”
“Tôi vẫn đang.”
“Được đấy.”
Một ngày tháng Bảy, trên đường trở về cửa hàng, Charlie bảo cậu quẹo vào thành phố Jersey, chạy qua một khu vực gồm các nhà kho đầy những hàng rào lưới mắt cáo, những cuộn dây kẽm gai sắc lẻm lấp lánh và những đường nhánh cho toa xe lửa chở hàng nay bị bỏ hoang gỉ sét. Họ tiếp tục đi qua những tòa chung cư cao bọc kính được xây thế chỗ những nhà kho cũ, tới một công viên ở một điểm mà từ đó tượng Nữ thần Tự do và vùng hạ Manhattan hiện ra rất gần. Hai anh chàng - Ahmad mặc quần bò đen, Charlie trong bộ áo liền quần màu ô liu xám rộng thùng thình và đôi ủng lao động màu vàng - gây nên ánh mắt ngờ vực từ những du khách Cơ Đốc giáo lớn tuổi khi họ đứng ra ngoài bục quan sát bê tông. Những đứa trẻ từ Trung tâm Khoa học Tự do có mái vòm cứ chạy vào chạy ra và nhảy lên hàng rào sắt thấp ngăn không cho người ta sẩy chân trượt xuống sông. Một cơn gió nhẹ và những gợn sóng lung linh như bọn ruồi nhuế lấp lánh chạy dập dờn xô vào vịnh Upper. Bức tượng nổi tiếng thế giới, màu xanh đồng bên kia sông, bày ra một hình dáng trông nghiêng hơi bị thu nhỏ từ góc nhìn này, nhưng vùng hạ Manhattan đâm tới trước giống như một mũi tàu dựng đứng tráng lệ. “Thật tuyệt,” Charlie quan sát, “khi thấy hai tòa tháp đó biến mất.” Ahmad mải mê ngắm cảnh đến độ không đáp lời; Charlie nói rõ ý hơn, “Chúng xấu xí - quá mất cân đối. Chúng không thích hợp.”
Ahmad nói, “Ngay cả từ New Prospect, từ ngọn đồi phía trên dốc thác, mình cũng thấy được chúng.”
“Cả nửa New Jersey có thể thấy cái thứ đáng nguyền rủa đó. Rất nhiều người chết trong hai cái đó sống ở New Jersey.”
“Tôi thấy tội cho họ. Nhất là những người nhảy ra. Kinh khủng quá, bị kẹt cứng như vậy trong cái nóng kinh hoàng đến độ nhảy xuống chết cho rồi còn tốt hơn. Thử nghĩ tới cảm giác chóng mặt đó mà xem, lúc nhìn xuống trước khi nhảy.”
Charlie nói vội vã, như đang đọc thuộc lòng, “Những người đó làm trong ngành tài chính, đẩy mạnh lợi ích của đế quốc Mỹ, cái đế quốc đang duy trì Israel và gây ra cái chết mỗi ngày cho người Palestine và Chechnya, người Afghanistan và Iraq. Trong chiến tranh, lòng thương hại phải gác lại.”
“Nhiều người chỉ là nhân viên bảo vệ và bồi bàn.”
“Phục vụ cho đế quốc theo cách của họ.”
“Một số trong đó là người Hồi giáo.”
“Ahmad, cậu phải nghĩ về vụ này như một cuộc chiến. Chiến tranh đâu có ngăn nắp sạch sẽ đâu. Có thiệt hại đi kèm. Bọn lính Đức đánh thuê mà George Washington lôi dậy khỏi giấc ngủ và bắn chết chắc chắn là những chàng trai Đức ngoan, gửi lương về nhà cho mẹ. Đế quốc luôn hút máu những dân tộc lệ thuộc một cách quá khéo léo đến độ họ không biết tại sao họ chết, tại sao họ không có sức mạnh. Kẻ thù ở quanh chúng ta, trẻ con và bọn mập mặc quần cụt nhìn chúng ta ghê tởm - cậu có nhận thấy không? - không hề xem mình là kẻ áp bức và giết người. Họ thấy mình vô tội, miệt mài với cuộc sống riêng tư. Mọi người đều vô tội - họ vô tội, những người nhảy khỏi tòa tháp đó vô tội, George W. Bush vô tội, một tên bợm đã cai rượu xuất thân từ Texas biết yêu bà vợ xinh đẹp và mấy đứa con gái hư đốn của mình. Nhưng, chính từ tất cả sự vô tội này, cái ác bằng cách nào đó đã hiện ra. Các cường quốc Tây phương ăn cắp dầu của chúng ta, chúng tước mất đất của ta...”
“Họ tước mất Thượng Đế của ta,” Ahmad hăng hái nói, ngắt lời ông thầy hướng dẫn cậu.
Charlie nhìn chăm chú một giây, rồi từ tốn đồng ý, như thể anh ta chưa hề nghĩ ra điều này. “Phải, chắc thế. Chúng tước mất của người Hồi giáo những truyền thống của mình và ý thức về bản thân mình, lòng tự hào về bản thân mà mọi người đều được quyền có.”
Đây không hẳn là điều Ahmad muốn nói, nó nghe hơi giả tạo, hơi khiên cưỡng và cách xa đấng Thượng Đế sống động cụ thể đứng bên Ahmad cũng gần gũi như ánh nắng đang sưởi ấm làn da cổ cậu. Charlie đứng đối diện cậu với cặp lông mày rậm cau lại và cái miệng mềm mại mím lại trong một kiểu ương ngạnh đau đớn; anh ta có vẻ cứng đờ của người lính, một sự triệt tiêu người bạn đồng hành thân ái thường xuyên nằm ở một bên tầm nhìn của Ahmad. Nhìn từ trước mặt, Charlie, râu quên cạo sáng nay, hai chân mày chạm nhau phía trên sống mũi nhăn lại, không hài hòa với vẻ đáng yêu mênh mông của ngày hôm nay - bầu trời trong vắt trừ một cụm mây như nạm bông xa xa phía trên Long Island, lớp thanh khí trên thiên đỉnh đậm đến độ tựa như một hố xanh vách tráng nhẵn, những tòa tháp tụ tập lại của vùng Hạ Manhattan là một khối lấp lánh đơn nhất, xuồng máy chạy đều đều và thuyền buồm nghiêng ngả trong vịnh, tiếng kêu la và nói chuyện của đám du khách tạo một mớ âm thanh vô hại quanh họ. Vẻ đẹp này, Ahmad nghĩ, phải có nghĩa gì đó - một gợi ý từ Allah, một điềm báo cho Thiên đường.
Charlie đang đặt cho cậu một câu hỏi, “Vậy cậu sẽ chiến đấu chống lại chúng chứ?”
Ahmad không bắt kịp “chúng” ám chỉ cái gì, nhưng cũng đáp “có” như đang trả lời một cuộc điểm danh.
Charlie có vẻ như lặp lại lời chính mình. “Cậu sẽ chiến đấu bằng cả cuộc sống của mình chứ?”
“Ý anh là sao?”
Charlie truy tới cùng, đôi mày anh ta nhíu xuống. “Cậu sẽ hiến cuộc đời mình chứ?”
Nắng ghé vào đậu trên cổ Ahmad. “Dĩ nhiên rồi,” cậu nói, cố làm cuộc trao đổi này nhẹ nhõm hơn bằng cách phẩy tay phải. “Nếu Thượng Đế muốn vậy.”
Chàng Charlie hơi giả tạo và đe dọa kia liền sụp đổ, được thay thế bằng tay liến thoắng tốt bụng, ông anh trai dỏm, đang cười toe để đẩy cuộc trao đổi này ra sau lưng, cất kín nó đi. “Đúng như tôi nghĩ,” anh ta nói. “Madman, cậu là một chàng trai gan góc ngon lành.”
Nhiều lần, khi mùa hè dần trôi qua và tháng Tám đem lại những bình minh trễ hơn cùng hoàng hôn sớm hơn, Ahmad được coi là đủ thạo việc, một thành viên đủ tin cậy của đội ngũ Excellency, để một mình đảm đương cả một ngày giao hàng, với một rơ moóc nhỏ sau xe tải. Cậu và hai người da đen hưởng lương tối thiểu - những “cơ bắp”, theo cách gọi của Charlie - chất xong hàng lên xe tải lúc mười giờ, và Ahmad lên đường với một danh sách địa chỉ, một bó hóa đơn, và bộ bản đồ Hagstrom in màu từ hạt Sussex xuống suốt tới Cape May. Những món hàng giao một ngày nọ gồm một món kiểu cũ, một ghế dài bọc da nhồi lông ngựa, tới một thành phố ở Upper Shore, phía Nam công viên Asbury; đó sẽ là chuyến đi xa nhất trong ngày và là địa chỉ cuối cùng của cậu. Cậu ra đường cao tốc Garden State qua ngả đại lộ 18, men theo bờ Đông của Kho đạn Hải quân Mỹ, và rời đường cao tốc ở giao lộ Đông 195, về phía căn cứ quân sự Camp Evans. Theo những con đường nhỏ hơn, qua những địa hình thấp đầy sương mù, cậu đưa chiếc xe tải về phía biển; mùi muối nồng hăng dần lên và thậm chí có âm thanh - nhịp thở được phân quãng chính xác của sóng bạc đầu.
Upper Shore là vùng đầy những kiến trúc kỳ quặc, những ngôi nhà có hình con voi hoặc hũ bánh quy, cối xay gió và hải đăng thạch cao. Charlie đã nhiều lần khoe khoang rằng, là một bang định cư lâu đời, trong các nghĩa trang của nó có những bia mộ được đẽo gọt hình một chiếc giày khổng lồ hoặc một cái bóng đèn hoặc chiếc Mercedes yêu quý của một người nào đó; trong những đồng hoang đầy thông và dọc những con đường núi, có nhiều dinh thự được cho là bị ma ám và những nhà thương điên, chúng thoáng qua tâm trí Ahmad khi ánh sáng ban ngày dần tàn. Đèn pha của chiếc Excellency soi sáng những nhà nghỉ ven biển san sát nhau, với sân cát trước nhà ít nhiều mọc cỏ hoang. Những nhà nghỉ ven đường và hộp đêm phô tên gọi bằng các bảng hiệu đèn ống với những mối nối điện không kín cứ kêu lẹt rẹt trong bóng chạng vạng. Những ngôi nhà gỗ đóng tinh xảo vốn xây làm nhà nghỉ cho những đại gia đình giàu có với đông đảo gia nhân nay đã bị xuống cấp mời chào PHÒNG và GIƯỜNG & ĐIỂM TÂM và CÒN CHỖ. Ngay cả trong tháng Tám đây cũng không phải là một điểm nghỉ dưỡng tấp nập. Dọc theo con phố có vẻ là phố chính có một hai nhà hàng đã được đóng ván ép niêm phong, sò trai cua tôm hùm vẫn còn được quảng cáo nhưng không còn được dọn lên nóng hổi nữa.
Từ những lối đi lát ván đã bạc màu dùng làm lề đường, từng đám người nhìn chăm chăm chiếc xe tải màu cam vuông cao nghệu của cậu cứ như sự xuất hiện của nó là cả một sự kiện; trong đủ loại quần áo tắm và khăn choàng tắm biển và quần cụt te tua và áo thun in những khẩu hiệu và câu đùa có mùi khoái lạc chủ nghĩa, họ trông giống như những người tị nạn không đủ thời gian để gom góp tài sản trước khi bỏ chạy. Trẻ con trong đám đó đội những chiếc nón lêu nghêu bằng xốp nhựa, còn những người có thể là ông bà chúng, đã từ bỏ mọi ý nghĩ về phẩm giá, tự biến mình thành lố bịch trong những bộ đồ bó sát với đủ màu sắc và kiểu dáng. Rám nắng và phì nộn, một số người cũng đội theo kiểu tự trào thỏa mãn những chiếc nón lễ hội bằng nhựa xốp giống như cháu nội của họ đội, những chiếc nón cao và có sọc như trong các sách thiếu nhi của Dr. Seuss hoặc kiểu mũ có hình dạng con cá mập há miệng hoặc chú tôm hùm đang giương găng tay hình cái càng đỏ to tướng. Lũ quỷ. Bụng của bọn đàn ông phệ xuống và những cặp mông khủng khiếp của bọn đàn bà đu đưa cực nhọc khi họ phục phịch đi trên con đường lát ván trên những đôi giày chạy bộ căng phồng. Đã sắp xuống lỗ rồi, lũ Mỹ già này bất chấp sự đúng mực và chuyển qua ăn mặc như con nít.
Tìm địa chỉ trên tờ hóa đơn cuối cùng trong ngày, Ahmad lái chiếc xe tải qua mạng lưới đường sá xa khỏi bờ biển. Không có lề đường hay vỉa hè ở đây. Rìa đường rải nhựa bở vụn ra thành những mảng cỏ xác xơ. Nhà quanh đây ghép ván, nhỏ và san sát nhau, có vẻ được bảo dưỡng tối thiểu và cho thuê theo mùa; khoảng phân nửa những nhà này bày ra dấu hiệu của cuộc sống bên trong - đèn, màn hình tivi nhấp nháy. Đồ chơi bãi biển tươi màu của trẻ con quăng bừa bãi ở mấy khoảng sân; những tấm ván lướt sóng và phao bơi hình SpongeBob hay quái vật hồ Ness nằm trên những hàng hiên bọc lưới để chờ cuộc vui chơi biển ngày hôm sau.
Số 292, phố Wilson. Ngôi nhà không có dấu hiệu bên ngoài cho thấy có người cư trú, các cửa sổ trước mành mành thả kín, nên Ahmad giật mình khi cửa trước thình lình bật mở chỉ vài giây sau khi cậu nhấn chuông. Một người đàn ông cao với cái đầu nhỏ trông còn nhỏ hơn bởi đôi mắt gần nhau và mái tóc đen cắt sát đứng đằng sau cửa lưới. Không giống đám đông gần bãi biển, ông ta mặc đồ chống nắng, quần dài xám và áo sơ mi dài tay có màu sắc không tả rõ được của một vết ố dầu, cài nút kín cổ tay và cổ. Cái nhìn của ông ta không thân thiện. Cả thân thể ông ta có một độ căng rắn rỏi; cái bụng phẳng đáng nể.
“À, ông” - Ahmad xem lại tờ hóa đơn - “Karini phải không? Tôi có món hàng giao từ Công ty Nội thất Excellency ở New Prospect.” Cậu lại xem hóa đơn lần nữa. “Một ghế đôn nệm dày bọc da nhuộm nhiều màu.”
“Ở New Prospect,” người đàn ông bụng phẳng lặp lại. “Không phải Charlie à?”
Ahmad hơi chậm hiểu. “À - giờ tôi lái xe này. Charlie bận ở văn phòng, đang tìm hiểu công việc văn phòng. Cha anh ấy bị tiểu đường.” Ahmad sợ người kia không hiểu hết những câu thừa thãi này, và cậu đỏ mặt, trong bóng tối.
Người đàn ông cao quay đi và nhắc lại hai từ “New Prospect” với những người khác trong phòng. Ahmad thấy có ba người nữa - toàn là đàn ông. Một người thấp và đậm chắc, lớn tuổi hơn hai người kia, họ thì không lớn hơn Ahmad bao nhiêu. Tất cả đều không mặc đồ nghỉ mát mà tựa như quần áo của dân lao động chân tay, ngồi trên đồ đạc thuê mướn như chờ công việc bắt đầu. Họ đáp lại bằng những tiếng lầm bầm tán thưởng mà trong đó Ahmad nghĩ cậu nghe thấy, chìm giữa những biến đổi trầm bổng, hai từ fulū và kāfir; người đàn ông cao nhận thấy cậu đang lắng nghe liền hỏi cậu gay gắt, “Enta bteḥki ‘arabī?”
Ahmad đỏ mặt và nói với ông ta, “La’ - ana aasif. Inglizi.”
Hài lòng, và bớt căng thẳng chút ít, ông ta nói, “Làm ơn mang vào. Chúng tôi đợi cả ngày nay.”
Công ty Nội thất Excellency không bán nhiều ghế đôn nệm dày; giống như Tòa Đô chính New Prospect, chúng thuộc về một thời đại hoa mỹ hơn. Được bọc trong lớp nhựa trong dày để bảo vệ mặt ngoài mềm mại gồm những miếng da nhuộm màu được may lại với nhau theo mô tip sáu cạnh trừu tượng, món đồ này, đã qua sử dụng nhưng còn rất lành lặn, là một khối hình trụ được nhồi nệm cứng đủ để chịu sức nặng của một người ngồi lên, nhưng đủ mềm để êm ái đỡ lấy đôi bàn chân đi dép lê của người ngồi duỗi chân thoải mái trên ghế bành. Nó nhẹ, ôm đầy tay, hơi kêu sột soạt khi Ahmad mang từ xe tải băng qua đám cỏ bông tua tới phòng khách, nơi bốn người đàn ông ngồi trong ánh sáng của mỗi một ngọn đèn bàn nhợt nhạt. Không ai làm cử chỉ đón nhận gánh nặng trên tay cậu.
“Cứ bỏ xuống sàn,” cậu được bảo vậy.
Ahmad đặt vật đó xuống. “Nó hẳn rất hợp ở đây,” cậu nói, nhằm phá vỡ sự im lặng trong phòng, và đứng lên, “Ông ký giùm vào đây được không, ông Karini?”
“Karini không có ở đây. Tôi ký thay Karini.”
“Không ai trong các ông là Karini à?” Ba người đàn ông nở nụ cười thoáng qua hớn hở của những người không hiểu người ta đang hỏi họ điều gì.
“Tôi ký thay cho Karini,” người đứng đầu nhóm khẳng định. “Tôi đồng sự Karini.” Không phản đối thêm, Ahmad đặt tờ hóa đơn lên mép bàn chỗ có ngọn đèn mờ và dùng cây viết chỉ vào chỗ cần ký. Người đàn ông rắn chắc không tên đó ký. Chữ ký hoàn toàn không thể đọc được, Ahmad nhận thấy, và lần đầu tiên cậu nhận ra rằng một người trong gia đình Chehab, cha hoặc con trai, đã nguệch ngoạc chữ “KP” trên tờ hóa đơn - không phí, món này dưới xa mức tối thiểu một trăm đô để được giao hàng miễn phí.
Khi cậu đóng khung cửa lưới lại sau lưng, có thêm mấy ngọn đèn nữa được bật lên trong phòng khách, và khi băng qua sân cỏ đầy cát ra đến xe tải cậu nghe được giọng lao xao phấn khích bằng tiếng Ả Rập, cùng mấy tiếng cười. Ahmad trèo lên ghế tài xế và nổ máy để bảo đảm rằng họ nghe tiếng cậu chạy xe đi. Cậu lái theo đường Wilson Way tới ngã tư đầu tiên và quẹo phải, đậu xe trước cửa một ngôi nhà trông có vẻ không ai ở. Nhanh chóng, lặng lẽ, thở nhẹ, Ahmad đi bộ ngược trở lại theo một con đường mòn trong đám cỏ mọc thay lề đường. Không thấy xe hay người nào đi lại trên con đường nhỏ nhếch nhác này. Cậu đi tới cửa sổ ngay bên hông phòng khách của ngôi nhà số 292, nơi một bụi cây tú cầu héo hắt với những cụm hoa màu lam nhạt khô xác tạo thành một chỗ ẩn nấp, và thận trọng nhìn vào.
Chiếc ghế đôn nệm dày đã bị lột lớp bọc bằng nhựa và đặt lên chiếc bàn cà phê mặt đá ngay trước một chiếc xô pha vải kẻ ô đã sờn. Bằng một con dao lưỡi trượt nằm trong cái vỏ tròn kích cỡ bằng đồng đô la bạc, người trưởng nhóm đã rạch những mũi khâu của một trong mấy miếng da tam giác tạo thành ngôi sao sáu cánh, một bông tuyết màu đỏ pha xanh, nơi mặt da tròn. Khi miếng tam giác này đã mở ra đủ lớn, bàn tay rắn rỏi của người trưởng nhóm có thể thọc vào bên trong và rút ra, kẹp giữa hai ngón tay dài, mấy mớ tiền Mỹ màu xanh. Qua bụi cây tú cầu khô héo, Ahmad không thể nhìn rõ mệnh giá, nhưng, xét theo vẻ trân trọng mà mấy người đàn ông dành cho mớ tiền họ đang đếm và xếp trên mặt bàn đá, thì mệnh giá hẳn là cao.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Pháp: Các em cần sự nhẹ nhàng.
[2] Tiếng Pháp: những con chim.
[3] Tiếng Pháp: khi đứng bằng mũi giày.
[4] Jack gọi tên Terry ghép với âm khác thành Terri-ble (khủng khiếp) và Terr-or (nỗi kinh hoàng).
[5] Thành ngữ “Let George do it” có nghĩa là “cứ để ai đó làm việc đó, ai cũng được”, nhưng tên George mà Charles gắn vào miệng Quốc hội lục địa Mỹ là ám chỉ tướng George Washington.