Kẻ Khủng Bố

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V

❊ ❊ ❊

Ngài Bộ trưởng đang bực bội khiến cho viên Thứ trưởng trung thành của ông rúm lại. Tâm trạng của ông ta quét qua người Hermione giống làn sóng đằng sau chiếc xuồng máy quét qua con sứa đang trôi bập bềnh. Một mặt, bà biết, ông ghét bị lôi trở lại văn phòng vào Chủ nhật; nó phá hỏng những buổi chiều nhàn nhã mà ông ưa thích bên cạnh bà Haffenreffer và gia đình của họ, hoặc xem một trận đấu cuối mùa của đội Orioles trên đằng sân nhà Baltimore hoặc tản bộ qua công viên Rock Creek, với tất cả bọn trẻ được nai nịt để chạy chơi trừ đứa thứ năm, nhỏ nhất, đã ba tuổi vẫn còn được ngồi trên xe đẩy. Bà Fogel, không chồng, không thể ghen tị với vợ và gia đình ông; bà hầu như không bao giờ gặp họ và họ là phần vô hình của ông, giống như những bộ phận được che giấu đứng đắn bên trong bộ com lê xanh và quần đùi của ông. Nhưng trong ý nghĩ đôi khi bà tháp tùng ông, tưởng tượng ra một con người thư thái hơn, giống một ông chồng hơn là kẻ chiến đấu căng thẳng chống lại những cái bóng xuất hiện trong văn phòng chật hẹp của ông. Hermione có trực cảm rằng, bởi hiện giờ cái nóng ẩm ướt của mùa hè rốt cuộc cũng đã giảm bớt và những cây sung dâu vàng và tiêu huyền quanh công viên Mali với những chiếc lá rộng bản đã nhuốm vẻ ảm đạm trang trọng, ngài Bộ trưởng khao khát được đi ra ngoài. Bà có thể thấy điều đó qua vẻ căng thẳng khiến căng phồng lưng chiếc áo vest rất sậm của ông ta. Đàn ông Mỹ ngày trước thường mặc com lê xanh hoặc nâu để đi làm - cha bà thường rời khỏi nhà trên phố Pleasant để đón xe điện, bao giờ cũng một bộ comlê sọc nâu, với áo vest, có khi mặc liền một tuần - nhưng hiện nay màu nghiêm túc duy nhất là màu đen, hoặc xanh đậm gần như đen, để tang cho những ngày tự do gần như miễn phí đã qua.

Ông đang bực bội, gần đây, với những sai sót thường tình nhưng bị báo chí làm rùm beng lên trong hệ thống an ninh phi trường. Có vẻ như mọi phóng viên lá cải và Dân biểu thuộc đảng Dân chủ khoái thu hút dư luận, nếu muốn là đều có thể đắc thắng vung dao, dùi cui và súng lục nạp đạn đã đi trót lọt qua dàn máy soi quét hành lý xách tay. Hai người họ, Bộ trưởng và Thứ trưởng, đã đứng sát vai với các nhân viên an ninh, từ từ bị mê hoặc bởi cuộc diễu hành vô tận của những vật mờ ảo bên trong vali được chiếu rọi thành những màu sắc không thực - màu xanh lục ngả da trời, những sắc độ phớt cam tươi tắn, màu hồng tía hoàng hôn, màu xanh lam sẫm không thể nhầm của kim loại. Những chìa khóa nhà và xe hơi xòe ra như bộ bài, đủ cả những khoen, dây xích nhỏ và những món lưu niệm be bé; cái nhìn trống rỗng không chớp của cặp kính đọc sách gọng kim loại trong những vali quần áo; những khóa kéo giống như bộ xương rắn tí hon; những mớ đồng xu bỏ dồn đống trong túi quần; những chuỗi đồ trang sức bằng vàng hoặc bạc; những chuỗi lỗ xâu dây giày của các đôi giày vải giày da; những núm những bánh răng kim loại nhỏ xíu trong đồng hồ báo thức du lịch; máy sấy tóc, dao cạo điện, máy nghe nhạc, máy quay phim cực nhỏ: tất cả đóng góp những tế bào tảo xanh thẫm màu đáy nước vào một biển nhợt nhạt những tia âm cực vặn vẹo. Chẳng ngạc nhiên là những vũ khí nguy hiểm hết lần này đến lần khác thản nhiên đi qua những cặp mắt đờ đẫn bởi tám tiếng đồng hồ giải đoán hình ảnh hai chiều của các trang bị được gói kín, tìm kiếm khối u độc hại, bóng đen bất ngờ nói lên ý định chết người, lẫn trong dòng chảy ào ạt của sự vô vị hằng ngày của cuộc sống Mỹ được cô đặc lại còn những chi tiết cơ bản - trang bị cần thiết để lưu lại vài ngày tại một thành phố hay bang khác trong sự thoải mái vật chất vốn là chuẩn mực khác thường so với toàn cầu của chúng ta. Một chiếc kềm cắt móng hay cặp kim đan - trong khi những thứ này bị phát hiện và tịch thu, thì những con dao dài cả tấc lại lọt qua được vì giống miếng kim loại định hình đế giày nhìn nghiêng bên mép, và một khẩu súng nhỏ chủ yếu bằng nhựa cứng đã lọt qua, dán trong lòng một cái tô quấy bột thiếc mà nếu dạng khối cầu của nó bị đưa ra nghi vấn thì có thể lý giải rằng đây là quà cho một đứa bé được rửa tội ngày mai ở Des Moines. Việc kiểm tra luôn luôn kết thúc, phải kết thúc, với việc ông Bộ trưởng vỗ lên bờ vai mặc đồng phục của đám canh cửa được trả lương bèo bọt và bảo họ cứ tiếp tục; họ đang bảo vệ nền dân chủ.

Trong bộ com lê đen ông rời khỏi cái cửa sổ sáng rực nhìn ra công viên Ellipse và Mali, những đồng cỏ bị giẫm nát nơi khối công dân cừu đang thơ thẩn trong những bộ đồ chạy bộ, quần cụt sặc sỡ và mang giày chạy bộ được tạo hình giống như phi thuyền trong những cuốn truyện tranh hồi thập niên ba mươi. “Tôi đang nghĩ,” ông giãi bày với Hermione, “có nên đặt khu Trung bộ Duyên hải miền Đông trở lại mức báo động cam không.”

“Thưa ngài, xin ngài thứ lỗi,” bà nói, “nhưng tôi có nói chuyện với em tôi ở New Jersey, và tôi không chắc người ta còn biết làm gì khác khi mức độ báo động tăng lên.”

Ngài Bộ trưởng nghiền ngẫm điều này một lát, bằng những cơ nhai mạnh mẽ, rầu rĩ của mình, rồi khẳng định, “Không, nhưng các giới chức thì biết. Họ nâng mức độ của chính họ; họ có cả một danh mục những biện pháp khẩn cấp ngay trước mặt.” Nhưng ngay khi thốt ra lời trấn an này ông vẫn cảm thấy khó chịu - bà có thể nhận ra điều đó qua đôi mắt đẹp nheo lại bên dưới cặp chân mày nâu đen rất đàn ông nhưng đường nét tuyệt đẹp - trước độ vênh giữa ý chí đơn độc của ông với vô số nhân viên đủ loại khác, hữu hiệu và xoàng xĩnh, thối nát và thượng hạng, những kẻ, giống như những đầu dây thần kinh đã mòn, có thể tiếp xúc hoặc không với khối quần chúng vô tư lự, lờ đờ, đông đúc.

Một cách bất lực, Hermione an ủi, “Nhưng tôi nghĩ người ta rất thích cảm giác rằng có những biện pháp đang được thi hành, bởi cả một bộ của chính phủ lo cho an ninh nội địa.”

“Rắc rối của tôi là,” ngài Bộ trưởng buột miệng, cũng thấy bất lực, “tôi yêu đất nước này đến độ không thể hình dung tại sao có người lại muốn làm nó sụp đổ. Thay vào đó những người này có thể đưa ra thứ gì? Nhiều Taliban hơn - nhiều áp bức phụ nữ hơn, nhiều tượng Phật bị phá nổ hơn. Bọn giáo sĩ ở Bắc Nigeria đang bảo người ta đừng cho con cái chủng ngừa bại liệt, rồi sau đó những đứa trẻ này được đưa vào trạm y tế trong tình trạng bại liệt! Họ chờ cho chúng bị liệt hoàn toàn rồi mới đưa chúng tới, sau khi làm đủ kiểu cúng bái nhảm nhí địa phương cho chúng.”

“Họ sợ mất thứ gì đó, một thứ quý giá với họ,” Hermione nói, run rẩy bên bờ mép một mức độ thân mật mới (những mức độ này thì tinh tế, và được lần dò qua trong vòng khuôn khổ nghiêm ngặt của một chính quyền thuần Cơ Đốc giáo và Cộng hòa). “Quý giá đến độ họ sẵn sàng hiến tế con cái mình cho nó. Chuyện đó cũng xảy ra trên đất nước này. Những giáo phái ngoại biên, nơi mà nhà lãnh tụ có sức hút nào đó ngăn không cho người ta tiếp xúc với lẽ thường tình. Con cái chết, rồi các bậc bố mẹ khóc trước tòa án và được tha bổng - bản thân họ cũng là trẻ con. Thật đáng sợ, có quyền người lớn ngược đãi con cái họ. Thật lòng mà nói, tôi lấy làm mừng, vì tôi không hề có con.”

Đây có phải là một lời năn nỉ? Một lời phàn nàn rằng, tuy cùng đứng bên bờ một ngày Chủ nhật tuyệt vời tại thủ đô của đất nước vĩ đại nhất trái đất, bà vẫn là một gái già chưa chồng còn ông là người đã kết hôn, bị trói buộc bởi lời thề theo tôn giáo của mình là phải kết hợp làm một, về mặt tâm linh và pháp lý, với mẹ của mấy đứa con ông? Chúng đáng phải là những đứa con của bà. Trong hoạt động của chính quyền quốc gia, trải qua mười hai, mười bốn giờ một ngày trong cùng một phòng hoặc những phòng cận kề nhau, họ cũng là một chẳng kém gì một đôi kết hôn hợp pháp. Vợ ông hầu như chẳng hiểu gì ông, so với Hermione. Ý nghĩ này khiến bà hài lòng đến độ phải nhanh chóng xóa đi nụ cười vô ý trên mặt mình.

“Mẹ kiếp!” Ông bật kêu lên, tâm trí ông nãy giờ lang thang theo ý riêng và chạm phải chính cái vấn đề nhức nhối đã mang ông trở lại văn phòng vào cái ngày được cho là ngày nghỉ này. “Tôi ghét phải mất một điệp viên. Ta có quá ít họ trong cộng đồng Hồi giáo, đó là một trong những điểm yếu của chúng ta, đó là cách chúng bất ngờ thọc trúng sườn ta. Ta thiếu người nói được tiếng Ả Rập, và phân nửa số người ta có lại không suy nghĩ giống như ta. Thứ tiếng này có điều gì đó kỳ quái - không biết sao nó làm người ta bạc nhược. Xem chúng huyên thuyên trên mạng đó - Bầu trời sẽ rách toang thành từng mảnh bên dưới con sông Tây phương. Ánh sáng sẽ được tiếp nhận. Cái đó có ý nghĩa đéo gì vậy? Tôi dùng từ tục, xin lỗi nghe, Hermione.”

Bà lầm bầm tha thứ, ghi nhận mức độ thân tình mới.

Ông nói tiếp, “Vấn đề của chúng ta là, điệp viên đó không báo gì cho ta, giữ kín quá nhiều thứ trong tay. Hắn không theo trình tự quy định. Hắn đang mường tượng về một tiết lộ, một cuộc vây ráp lớn, giống như trong phim, mà đoán xem ai đóng vai chính? Hắn. Chúng ta biết về đầu mối chuyển tiền ở Florida, nhưng kẻ gom tiền đã biến mất. Kẻ đó và anh trai hắn làm chủ một cửa hàng đồ gỗ giá hạ ở Bắc New Jersey, nhưng không ai trả lời điện thoại bao giờ hoặc không ra mở cửa. Chúng ta biết có dính gì đó tới một chiếc xe tải, nhưng chúng ta không biết nó ở đâu hoặc ai lái nó. Nhóm phụ trách thuốc nổ, chúng ta nắm được hai trong số bốn tên, nhưng chúng không chịu nói, hoặc là tay phiên dịch không cho ta biết chúng nói gì. Cả bọn đó che giấu cho nhau, kể cả mấy tay ăn lương của chúng ta, thật không tin được những người do chính mình tuyển nữa rồi. Rồi sẽ bầy hầy hết lên, và cô sẽ không biết vào một sáng Chủ nhật sẽ có cái xác nào xuất hiện!”

Ở Pennsylvania quê hương của họ, bà biết, vẫn có thể tin cậy người ta được. Một đô la vẫn là một đô la ở đó, một bữa ăn là một bữa ăn, một thỏa thuận là một thỏa thuận. Rocky trông ra dáng một võ sĩ đánh bốc, và đám bất lương hút xì gà, mặc com lê kẻ ca rô, và nháy mắt rất nhiều. Bà và ngài Bộ trưởng đã đi xa khỏi vùng đất nguyên sơ của tính thật thà chan hòa đó, vùng đất của những ngôi nhà phố được đánh số có lớp kính màu trong ô kính bán nguyệt bất biến bên trên cửa chính, của các cậu con trai nhà thợ mỏ trở thành cầu thủ ném bóng ngôi sao, của xúc xích heo rán bằng mỡ của chính nó và thịt băm đóng bánh rưới xi rô cây thích - những thức ăn chẳng thèm giả vờ không chứa cholesterol giết người. Bà ước mong được an ủi ngài Bộ trưởng, ép thân thể mảnh mai của bà giống như miếng thuốc dán lên cơn đau trách nhiệm quá mức của ông; bà muốn đỡ lấy trọng lượng đầy thịt của ông, căng tức cả bộ đồ màu đen theo nghi thức, lên bộ khung gầy gò của bà, và cưng nựng ông trên khung xương chậu của bà. Thay vào đó, bà hỏi, “Cửa hàng đó ở đâu?”

“Một thành phố tên New Prospect. Chẳng ai đến đó bao giờ.”

“Em tôi sống ở đó.”

“Thế hả? Bà ấy nên rời khỏi đó. Nó đầy dân Ả Rập - thứ gọi là dân Mỹ gốc Ả Rập. Những nhà máy cũ lôi họ đến và rồi từ từ phá sản. Cứ cái kiểu này thì sẽ đến lúc chẳng có thứ gì do nước Mỹ làm ra cả. Trừ phim ảnh, cứ mỗi năm mỗi dở hơn. Vợ tôi và tôi - cô gặp Grace rồi mà, đúng không? - từng thích phim lắm, tụi tôi thường đi xem phim suốt, trước khi bọn trẻ ra đời và tụi tôi phải thuê cô giữ trẻ. Judy Garland, Kirk Douglas - mỗi lần diễn họ đều diễn trung thực, hết mình, một trăm mười phần trăm. Bây giờ tất cả mọi chuyện về đám diễn viên nhóc tì này - dám đàn bà không thích người ta gọi mình là cô đào nữa, ai cũng là diễn viên - là ai lái xe khi đang xỉn và ai mang thai ngoài hôn thú. Họ khiến cho đám con gái da đen nghèo khổ mới lớn cứ nghĩ làm thế là hay hớm lắm, đem một đứa bé vào cuộc đời này mà không cần có cha. Chỉ có chính phủ Mỹ thôi. Họ phải chi trả tất, và chẳng nhận được câu cảm ơn nào: trợ cấp xã hội là quyền của chúng. Nếu có bất cứ điều gì chưa ổn ở đất nước này - mà tôi không nói là có gì không ổn nhé, so với bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả Pháp và Na Uy - thì đó là chúng ta có quá nhiều quyền mà không có đủ nghĩa vụ. Vậy đó, chừng nào Liên đoàn Ả Rập chiếm được đất nước này, người ta sẽ biết thế nào nghĩa vụ.”

“Chính xác như thế, thưa ngài.” Tiếng “ngài” là nhằm nhắc ông nhớ đến bản thân, những nghĩa vụ của chính ông trước tình hình khẩn cấp hiện nay.

Ông nghe ra điều đó. Ông quay trở lại trầm ngâm nhìn ngắm vẻ tĩnh lặng ngày Chủ nhật của thủ đô, có hồ Tidal Basin hiện ra phía xa xa, với cái núm trắng nhẵn, giống một đài thiên văn mà không có khe cho kính viễn vọng, là tòa nhà tưởng niệm Jefferson. Giờ người ta trách móc Jefferson vì ông giữ chặt lấy các nô lệ của ông và có con với một cô trong số đó, nhưng họ đã quên bối cảnh kinh tế của thời đó và quên rằng Sally Hemmings có màu da rất sáng. Đây là một thành phố tàn nhẫn, ngài Bộ trưởng nghĩ, một mớ rối rắm quyền lực trơn tuột, một mớ rải rác những tòa nhà trắng bề thế giống như bãi băng trôi đã nhấn chìm tàu Titanic. Ông quay sang nói với Thứ trưởng của mình, “Nếu cái trò ở New Jersey đó nổ tung thì sẽ không có chỗ trong ban ủng hộ tranh cử cho tôi đâu. Không thù lao diễn giả. Không khoản tạm ứng cả triệu đô cho hồi ký của tôi.” Đây là lời thú tội mà người đàn ông chỉ nói với vợ mình.

Hermione bị sốc. Ông đã tiến đến gần bà hơn nhưng đã mất điểm trong đánh giá của bà. Bà nói hơi chua chát, cố gợi ông nhớ lại hình ảnh công bộc vị tha, tốt đẹp của chính mình, “Thưa Bộ trưởng, không ai có thể làm tôi hai chủ. Thần tài là một chủ; ông chủ còn lại nếu tôi gọi tên ra thì e là thất thố.”

Ngài Bộ trưởng ngẫm nghĩ ý kiến này, chớp đôi mắt xanh nhạt lạ lùng, và chửi tục, “Ơn Chúa vì có cô, Hermione. Dĩ nhiên rồi. Quên Thần tài đi.” Ông ngồi vào chiếc bàn làm việc chật hẹp và quyết liệt bấm những chùm ba mã số kêu bíp bíp trên bảng điều khiển điện tử, đoạn ngả người trên chiếc ghế tối ưu công thái học để hét vào chiếc điện thoại loa ngoài.

Hermione thường không gọi điện thoại vào Chủ nhật. Bà thích gọi vào ngày làm việc trong tuần hơn, vì biết Jack khó mà có mặt ở nhà. Bà chẳng bao giờ có gì để nói với Jack, điều đó thường hơi làm tổn thương Beth; cứ như Hermione đang duy trì những thành kiến bài Do Thái kiểu Tin Lành lố bịch của bố mẹ họ. Beth cũng suy ra, vào những ngày làm việc bà chị “lớn” của bà còn có cái cớ là ánh đèn đỏ đang nhấp nháy trên cái điện thoại thứ hai khi chị ấy nghĩ Beth nói lan man quá lâu. Nhưng hôm nay chị ấy gọi trong khi chuông nhà thờ đang đổ, và Beth thấy vui khi nghe giọng bà chị. Bà muốn chia sẻ tin tốt lành của bà. “Herm này, em đã theo chế độ ăn kiêng và mới năm ngày em đã giảm được sáu ký!”

“Những ký đầu là dễ nhất,” Hermione đáp, luôn hạ giá trị bất cứ điều gì Beth đang làm hay nói. “Lúc này em mới chỉ mất nước, mà nó sẽ quay trở lại ngay. Thử thách thực sự là khi em thấy có chênh lệch và quyết định thả cửa để ăn mừng. Nhân tiện, đây có phải là thực đơn ăn kiêng theo Atkins không? Người ta nói nó nguy hiểm lắm. Ông ta sắp bị cả ngàn người kiện đó, bởi vậy nên cái chết đột ngột của ông ta mới có vẻ đáng ngờ như vậy.”

“Đó chỉ là thực đơn cà rốt và cần tây,” Beth nói với bà chị. “Mỗi khi thấy thèm ăn vặt, em liền kiếm một củ cà rốt non giờ bán khắp nơi. Còn nhớ cà rốt thường được chở từ những nông trại lớn ở Delaware vào Philadelphia, cột thành bó vẫn còn bám đầy đất cát không? Ôi, hồi đó em chúa ghét cảm giác cắn phải một đống hạt cát - sao mà ở trong đầu mình nó nghe to vậy! Những củ cà rốt non này thì không có nguy cơ đó; chắc chúng đến từ California và được gọt lại cho cùng một kích cỡ chính xác. Rắc rối duy nhất là nếu để quá lâu trong túi dán kín chúng sẽ bị nhớt. Rắc rối với cần tây là nhai được vài cọng là cả một cục sợi vón lại trong miệng. Nhưng em quyết chí ăn kiêng kiểu này. Nhấm nháp bánh ngọt dễ hơn, thề có Chúa, nhưng mỗi miếng lại tăng thêm calo. Mỗi cái bánh là một trăm ba mươi calo, đọc thấy thế trên bao bì em choáng luôn! Chữ in nhỏ xíu, thật là hiểm mà!”

Hermione chưa cắt ngang, thật là lạ đấy; Beth biết đề tài nhịn thức ăn của bà rất chán, nhưng bà chỉ có thể nghĩ tới chuyện đó, và việc nói chuyện về nó sẽ buộc bà theo đuổi nó, giữ cho bà khỏi rơi lại vào lối cũ, bất chấp những cơn đói lả và co thắt dạ dày. Dạ dày của bà không hiểu bà đang làm gì với nó, tại sao nó bị trừng phạt, không biết nó là kẻ thù tệ hại nhất của bà bao năm qua, nằm đó ngay dưới trái tim của bà, gào khóc đòi được nhét đầy. Carmela giờ không chịu nằm trên đùi bà nữa, vì bà đã trở nên dễ hốt hoảng và cáu kỉnh.

“Jack nghĩ sao về tất cả chuyện này?” Hermione hỏi. Giọng chị ấy nghe đều đều và trang nghiêm, có chút ngập ngừng và long trọng, cân nhắc lời lẽ. Viễn cảnh về một cô em dễ coi, mảnh mai, mới mẻ này là điều mà cả hai chị em có thể cười rúc rích với nhau, như họ thường cười hồi ở chung phòng trong căn nhà trên phố Pleasant, chung niềm vui sống. Khi trở nên nghiêm túc và siêng năng hơn, Hermione không còn biết cách cười rúc rích nữa; bà khó mà gạt bớt lo nghĩ. Beth tự hỏi không biết đó có phải là lý do khiến chị ấy không bao giờ tìm được một tấm chồng - Herm không biết cách làm đàn ông quên đi những rắc rối của họ. Chị ấy thiếu ballon, như cô Dimitrova nói.

Beth hạ giọng. Jack đang đọc sách trong phòng ngủ, và có lẽ ông đọc nửa chừng là đã ngủ mất rồi. Trường Trung tâm đã lại vào năm học, và ông đã tình nguyện dạy môn giáo dục công dân, bảo rằng ông cần gần gũi hơn với những đứa trẻ mà ông có bổn phận tư vấn. Ông quả quyết chúng đang tuột khỏi tay ông. Ông cho rằng mình quá già, nhưng đó chỉ là chứng trầm cảm khiến ông nghĩ vậy. “Anh ấy không nói nhiều,” bà nói với Hermione để trả lời câu hỏi của bà chị. “Em nghĩ anh ấy sợ đem lại xúi quẩy. Nhưng ảnh tất phải hài lòng, em làm điều đó vì ảnh mà.”

Herm hỏi, hạ gục bà lần nữa, “Có phải là ý hay không, khi làm chuyện gì đó bởi vì em nghĩ là chồng em muốn thế? Chị chỉ hỏi cho biết thôi - chị chưa từng có chồng mà.”

Herm tội nghiệp, chuyện này hẳn cứ ám ảnh chị ấy suốt. “À, chị thì” - Beth im bặt; bà định nói rằng Hermione thì chả khác gì đã lập gia đình, với ông chủ y như tay hậu vệ cứng đầu của bà - “khôn ngoan chẳng thua bất cứ ai, bất cứ phụ nữ nào. Em làm chuyện đó cũng vì bản thân em. Em cảm thấy khỏe hơn rất nhiều, mà ấy là mới giảm được sáu ký. Bọn con gái ở thư viện thấy được khác biệt ra sao - chúng rất là ủng hộ, dù ở tuổi chúng nó em không thể hình dung vóc dáng mình lại có ngày vượt tầm kiểm soát được. Em đã nói em muốn giúp xếp sách lên giá thay vì ngồi trên bộ mông to đùng đàng sau bàn giấy tra Google cho bọn trẻ lười biếng đến độ không thể học cách tự tra Google.”

“Jack nghĩ sao khi bị thay đổi chế độ ăn?”

“Ô, em cố không thay đổi chế độ ăn của ảnh, vẫn cho ảnh thịt với khoai tây. Nhưng ảnh nói thà được ăn rau trộn đơn giản với em còn hơn. Ảnh nói, càng già ảnh càng ngán ăn.”

“Đó là tính Do Thái trong chú ấy,” Hermione cắt lời.

“Ồ, em không nghĩ thế,” Beth nói, đầy kiêu ngạo.

Sau đó Hermione im lặng đến độ Beth tự hỏi không biết đường dây có bị ngắt không. Bọn khủng bố đã cho nổ tung ống dẫn dầu và nhà máy điện ở Iraq, chẳng có gì tuyệt đối an toàn nữa. “Thời tiết dưới đó ra sao?” Beth hỏi.

“Vẫn nóng, một khi ra khỏi nhà. Tháng Chín ở Washington có khi vẫn oi bức. Cây cối không đổi sang cái màu mà tụi mình thường thấy trong Vườn ươm Pennsylvania đâu. Ở đây phải đợi đến mùa xuân, hoa anh đào nở.”

“Bữa nay,” Beth vừa nói thì cái dạ dày đói của bà nhói một cái khiến bà phải nắm chặt lấy lưng ghế nhà bếp cho khỏi té, “em cảm thấy mùa thu trong không khí. Bầu trời thật trong vắt, giống hệt như” - giống như ngày mười một tháng Chín, bà định nói, nhưng dừng lại, nghĩ rằng có thể là kém tế nhị khi nhắc đến sự kiện đó với một thứ trưởng Bộ An ninh Nội địa, bầu trời xanh truyền tụng đã trở thành huyền thoại, một sự trớ trêu Thượng giới, một phần của truyền thuyết Mỹ giống như ánh chói đỏ của đạn pháo.

Hẳn họ đang nghĩ cùng một ý nghĩ, vì Hermione hỏi, “Em nhớ có lần em nhắc tới cậu trai Mỹ gốc Ả Rập mà Jack rất quan tâm, người thay vì nghe Jack tiếp tục học đại học thì đã thi lấy bằng lái xe tải theo yêu cầu của ông thầy tế tại giáo đường của cậu ta không?”

“Nhớ mài mại. Lâu nay không thấy Jack nói đến cậu ta nữa.”

“Jack có ở đó không?” bà hỏi. “Chị nói chuyện với chú ấy được không?”

“Với Jack?” Trước đây bà chưa từng muốn nói chuyện với Jack.

“Phải, với chồng em. Làm ơn đi, Betty. Có thể quan trọng đấy.”

Lại còn Betty nữa. “Như em nói, có lẽ ảnh ngủ rồi. Tụi em vừa đi bộ sớm nay, để em vận động. Vận động thân thể cũng quan trọng như ăn kiêng vậy. Nó giúp lấy lại vóc dáng.”

“Em làm ơn đi xem thử được không?”

“Xem ảnh thức hay không hả? Có lẽ em có thể nói lại việc của chị với anh ấy, nếu đúng là thế. Là ảnh đang ngủ.”

“Chị không nghĩ thế. Chị muốn tự mình nói với chú ấy thì tốt hơn. Em và chị có thể tán dóc tuần này, khi em xem bộ phim nhiều tập của em.”

“Em cũng bỏ phim luôn rồi - cứ hễ xem phim là em ăn vặt quá nhiều. Và họ cứ rối tung lên trong đầu em, cả mớ nhân vật ấy. Để em đi xem ảnh còn thức không.” Bà hoang mang và sợ sệt.

“Betty này, cho dù chú ấy ngủ - em đánh thức chú ấy dậy giùm được không?”

“Em ghét làm vậy lắm. Buổi tối anh ấy ngủ không ngon giấc.”

“Chị cần hỏi chú ấy một số việc ngay bây giờ, cưng. Không thể chờ được. Chị xin lỗi. Chỉ lần này thôi.” Lúc nào cũng là bà chị cả, biết nhiều hơn bà biết, sai bảo bà phải làm gì. Đọc ý nghĩ cô em một lần nữa, qua điện thoại, Hermione dịu dàng nhắc nhở Beth, bằng giọng nghe hệt như mẹ họ, “Bây giờ cho dù có gì xảy ra, đừng có bỏ việc ăn kiêng của em đấy.”

Tối Chủ nhật, Ahmad sợ cậu sẽ không ngủ được, vào buổi tối sẽ là tối cuối cùng của đời cậu nhún vai một cú sắc gọn quen thuộc. Căn phòng quanh cậu lạ hoắc. Đó là căn phòng mà ở đó không ai có thể tìm thấy cậu, Shaikh Rashid đã cam đoan khi đứng bên cậu trong phòng đó hồi chiều.

“Ai mà tìm con chứ?” Ahmad hỏi. Vị cố vấn nhỏ người, mảnh dẻ của cậu - Ahmad thấy thật kỳ lạ, khi hai người đứng sát nhau trong sự thông đồng, vì cảm nhận cậu đã dần cao hơn ông thầy cậu đến mức nào, người mà trong những buổi học kinh Qur’an đã bổ sung cho chiều cao của mình bằng chiếc ghế lưng cao có thêu chỉ bạc. Tối nay ông không mặc chiếc áo caftan thêu lấp lánh thường lệ mà là một bộ com lê xám kiểu Tây phương, như thể ăn mặc cho một chuyến đi làm ăn chung với bọn ngoại giáo. Còn cách giải thích nào khác tại sao ông lại cạo râu, hàm râu chớm bạc được xén tỉa công phu? Ahmad thấy nó từng che đậy một số sẹo nhỏ, những dấu vết trên làn da trắng như sáp của ông ta do một căn bệnh nào đó, đã bị diệt sạch ở phương Tây, mà một đứa trẻ ở Yemen mắc phải. Cùng với những vết xù xì này đôi môi tím lịm của ông đã lộ ra một nét khó chịu, một vẻ đàn ông cau có cố hữu mà ngày xưa lẩn khuất không nhận thấy khi đôi môi chuyển động quá nhanh, quá quyến rũ, tại khoảng da chìm giữa râu ria. Ông thầy tế không đội chiếc khăn xếp hoặc khăn lót amāma ren trắng, để lộ đường chân tóc hói sọi.

Đã teo lại trong đôi mắt Ahmad, ông hỏi, “Mẹ con sẽ không nhận ra con vắng mặt và báo cho cảnh sát chứ?”

“Cuối tuần này bà phải trực đêm. Con có viết cho bà vài dòng khi bà về nhà, nói con ở qua đêm tại nhà một người bạn. Bà có thể đoán là bạn gái. Bà cứ nhì nhằng con chuyện này, cho là con nên có bạn gái.”

“Con sẽ qua đêm với một người bạn đích thực hơn bất cứ đứa sharmooṭa đáng tởm nào. Kinh Qur’an tuyệt vời, bất diệt.”

Một cuốn kinh đóng bìa da màu đỏ mềm, phần tiếng Anh và Ả Rập song song nhau, được đặt trên cái bàn cạnh giường trong căn phòng chật hẹp, bày biện nghèo nàn này. Nó là vật duy nhất mới và đáng giá trong phòng - một căn phòng “an toàn” đủ gần trung tâm New Prospect để cửa sổ duy nhất cho phép nhìn thoáng thấy ngọn tháp hai mảng dốc của Tòa Đô chính. Tòa nhà với những tấm ngói vảy cá nhiều màu sắc vươn lên bên trên những tòa nhà nhỏ hơn, giống như một con rồng biển kỳ quái bị đóng băng giữa lúc phóng lên. Bầu trời đêm đằng sau nó đầy những vệt mây nhuộm màu hồng đỏ từ một mặt trời lặn khuất tầm nhìn. Hình ảnh mặt trời, khối lóa màu cam phản chiếu của nó, bị tóm bắt trong những mang cá bằng kính kiểu thời Victoria của ngọn tháp, những cửa sổ quanh một cầu thang trôn ốc bên trong đã bị đóng cửa không cho du khách viếng từ nhiều thập niên qua. Khi Ahmad căng mắt nhìn từ cửa sổ phòng mình, những ô kính cũ mỏng đầy bụi, gợn sóng, chứa những bong bóng khí nhỏ do cách sản xuất cổ xưa, cậu thấy ánh nắng dần tắt dường như làm chảy cái góc cao nhất của một trong các công trình dân dụng bọc kính thẳng đứng bổ sung sau này. Trên ngọn tháp hai mảng dốc của Tòa Đô chính có đồng hồ, và cậu sợ tiếng chuông của nó sẽ bắt cậu thức suốt đêm, khiến cậu thành một shahīd kém hiệu quả. Nhưng tiếng nhạc cơ giới của nó - mỗi khắc rung một tiết nhạc ngắn, nốt cuối cùng vuốt lên ngân vang như một chân mày nhướng lên dò hỏi, và ở khắc thứ tư là một tiết nhạc trọn vẹn hơn đi trước tiếng gõ báo giờ buồn bã - rốt cuộc lại như ru ngủ, trấn an cậu rằng căn phòng này thực sự an toàn, khi sau cùng ông thầy để cậu lại một mình.

Những người đã từng ở trong căn phòng nhỏ này chẳng để lại mấy dấu vết về hành trình qua đây của họ. Mấy dấu trầy trên lớp ván chân tường, hai ba vết thuốc lá cháy trên bệ cửa sổ và mặt bàn, nước bóng trên nắm cửa và ổ khóa do sử dụng thường xuyên, một mùi động vật thoang thoảng nào đó trên chiếc mền xanh ngứa ngáy. Căn phòng sạch sẽ một cách sùng kính, sạch đến cực đoan so với căn phòng của Ahmad trong căn hộ của mẹ cậu, nay vẫn còn những món đồ trần tục - đồ chơi chạy điện đã hết pin, tạp chí cũ về thể thao và xe hơi, những món quần áo muốn bày tỏ, qua độ bó sát và vẻ khắc khổ của chúng, sự phù phiếm tuổi mới lớn của cậu. Mười tám năm của cậu đã tích lũy những chứng cứ lịch sử, chứng cứ mà cậu tưởng tượng sẽ trở thành mối quan tâm lớn cho giới truyền thông: những bức ảnh lồng khung giấy cứng chụp đám trẻ nheo mắt trong ánh nắng tháng Năm trên bậc thềm đá nâu trường tiểu học Thomas Alva Edison, cặp mắt đen chằm chằm và cái miệng không cười của Ahmad giữa hàng ngũ những khuôn mặt khác, hầu hết đen và một số trắng, tất cả đổ đống trong đội lao động trẻ em hòng trở thành những người Mỹ biết chữ và trung thành; những bức ảnh đội điền kinh, trong đó Ahmad Mulloy đã lớn hơn và hơi mỉm cười; những dải băng huy chương hội thi điền kinh, lớp thuốc nhuộm rẻ tiền đã nhanh chóng phai màu; một lá cờ tam giác bằng nỉ của đội Mets hồi lớp chín đi xe buýt đến xem trận đấu ở sân Shea; một danh sách viết bằng chữ tuyệt đẹp tên các bạn trong lớp học kinh Qur’an trước khi lớp chỉ còn mình cậu; bằng lái xe hạng C của cậu; tấm ảnh ba cậu, với nụ cười sẵn sàng chiều lòng của người nước ngoài, một hàm ria mỏng hẳn đã có vẻ kỳ quặc từ hồi năm 1986, và mái tóc rẽ giữa, bóng loáng, được vuốt mượt sát da đầu trong khi mái tóc Ahmad thì, giống hệt ông về chất tóc và độ dày, được chải dựng đứng một cách tự hào, với chút keo xịt tóc. Khuôn mặt ba cậu, nó sẽ được truyền đi trên đài, đẹp trai theo mẫu thông thường hơn khuôn mặt cậu con trai, dù hơi đen hơn. Mẹ cậu, giống những nạn nhân lụt lội và lốc xoáy trên tivi, sẽ được phỏng vấn nhiều, mới đầu không mạch lạc, trong cơn choáng váng và nước mắt, sau thì bình tĩnh hơn, nói trong hồi tưởng đau buồn. Hình ảnh bà sẽ xuất hiện trên báo chí; bà sẽ trở nên nổi tiếng trong thoáng chốc. Có lẽ sẽ có một đợt tăng vọt doanh số bán tranh của bà.

Cậu mừng vì căn phòng an toàn này không có dấu vết gì về con người cậu. Cậu cảm thấy căn phòng này là buồng giảm áp cho cuộc thăng thiên bạo liệt đang chờ cậu, trong một vụ nổ nhanh và mạnh như con ngựa trắng Buraq vạm vỡ.

Shaikh Rashid có vẻ không muốn rời đi. Đã cạo râu và diện Âu phục, ông cũng chuẩn bị cho một cuộc khởi hành. Ông đi lại bồn chồn trong căn phòng nhỏ xíu, giật mở những ngăn kéo bàn giấy cứng đầu, và kiểm tra cho chắc rằng phòng tắm đủ quần áo tắm và khăn để Ahmad thanh tẩy theo nghi thức. Ông rối rít, hết chỉ vào tấm thảm cầu nguyện trên sàn, hốc cầu nguyện dệt vào mặt thảm quay về Mecca ở hướng Đông, và nhấn mạnh ông đã đặt sẵn trong tủ lạnh nhỏ một quả cam, sữa chua không kem và bánh mì cho bữa điểm tâm sáng mai của chàng trai - bánh mì rất đặc biệt, khibz el-Abbās, bánh mì Abbas, do tín đồ phái Shia ở Li Băng làm để kỷ niệm ngày Ashoura. “Nó được làm với mật ong,” ông ta giải thích, “cùng hồi và vừng. Điều quan trọng là con được mạnh mẽ vào sáng mai.”

“Chắc con sẽ không đói đâu.”

“Cố mà ăn. Đức tin của con vẫn mạnh mẽ chứ?”

“Con tin là thế, thưa thầy.”

“Với hành động vinh quang này, con sẽ trở thành bề trên của ta. Con sẽ nhảy vượt trước ta trong danh sách vàng trên Thiên đường.” Đôi mắt xám tuyệt đẹp của ông ta, với hàng lông mi dài, có vẻ ngấn nước và trở nên yếu đuối khi ông nhìn xuống.

“Con có đồng hồ không?”

“Có.” Một chiếc Timex cậu mua bằng khoản lương đầu tiên của mình, dềnh dàng như đồng hồ của mẹ cậu. Nó có mặt số to và kim dạ quang để xem vào ban đêm, khi khó nhìn rõ bên trong buồng lái tuy nhìn ra ngoài thì dễ.

“Nó đúng giờ chứ?”

“Con tin là vậy.”

Có một chiếc ghế dựa đơn sơ trong phòng, các chân buộc lại bằng dây vì những thanh ngang bị sút keo hết cả. Ahmad nghĩ sẽ là bất lịch sự nếu cậu chiếm chiếc ghế độc nhất trong phòng; thay vào đó, tự cho phép mình nếm trước tình trạng thăng hoa mà cậu sẽ có được, cậu nằm xuống giường, đan hai tay lại sau gáy để chứng tỏ rằng mình không có ý định ngủ thiếp đi, dù thực sự cậu cảm thấy mệt mỏi bất ngờ, như thể căn phòng nghèo nàn này có chỗ rò khí gây buồn ngủ ở đâu đó. Cậu không thoải mái dưới cái nhìn âu lo của ông thầy, và ước gì lúc này ông đi ra. Cậu thèm hưởng những giờ phút cô đơn trong căn phòng an toàn, sạch sẽ này, một mình với Thượng Đế. Cung cách kỳ lạ của ông thầy tế khi nhìn xuống cậu khiến Ahmad nhớ đến cảnh cậu đứng nhìn xuống con sâu và con bọ cánh cứng. Shaikh Rashid bị cậu mê hoặc, như một thứ gì đó kinh tởm nhưng thiêng liêng.

“Con trai yêu quý, ta không ép buộc con chứ, đúng không?”

“Ồ, không, thưa thầy. Sao có thể như vậy được?”

“Ý ta là con tự nguyện do trọn đức tin?”

“Vâng, và do căm ghét những kẻ chế giễu và coi thường Thượng Đế.”

“Tuyệt vời. Con không cảm thấy bị các trưởng bối lèo lái chứ?”

Đây là một ý tưởng lạ lùng, dù Joryleen cũng đã nêu ý tưởng đó. “Dĩ nhiên là không. Con cảm thấy được họ chỉ dẫn một cách thông thái.”

“Và con đường của con ngày mai đã rõ ràng?”

“Vâng. Con sẽ gặp Charlie lúc bảy giờ ba mươi tại cửa hàng Nội thất Excellency, và tụi con sẽ cùng nhau chạy xe đến chỗ chiếc xe tải đã chất sẵn hàng. Anh ấy sẽ đi cùng con một đoạn đến đường hầm. Sau đó con đi một mình.”

Một điều gì đó xấu xí, một cơn vặn vẹo méo mó, lướt qua khuôn mặt nhẵn nhụi của ông thầy tế. Thiếu đi hàm râu và tấm áo caftan thêu công phu, ông có vẻ bình phàm một cách gây khó nghĩ - vóc dáng nhỏ, một chút rụt rè trong phong thái, một chút tiều tụy, và không còn trẻ nữa. Duỗi người trên lớp chăn xanh thô ráp, Ahmad ý thức về sự trẻ trung, chiều cao và sức mạnh vượt trội của cậu, và về nỗi e sợ của ông thầy đối với cậu, như người ta sợ xác chết. Shaikh Rashid hỏi, do dự, “Còn nếu Charlie do rủi ro bất ngờ nào đó không có mặt ở đó, con có thể tiếp tục kế hoạch này không? Con có thể tự mình tìm thấy chiếc xe tải trắng đó không?”

“Được. Con biết con hẻm đó. Nhưng tại sao Charlie lại không có mặt ở đó?”

“Ahmad này, ta chắc anh ta sẽ có mặt. Anh ta là một chiến sĩ dũng cảm trong sự nghiệp của chúng ta, sự nghiệp của Thượng Đế đích thực, và Thượng Đế không bao giờ bỏ rơi những ai tiến hành chiến tranh vì Người. Allāhu akbar!”Những lời của ông hòa lẫn với những tiết nhạc xa xa của đồng hồ Tòa Đô chính. Bây giờ mọi thứ đều sở hữu một khoảng cách, một rung động tan dần. Ông thầy tế tiếp tục, “Trong chiến tranh, nếu người lính bên cạnh con ngã xuống, cho dù anh ta là bạn thân nhất của con, cho dù anh ta đã dạy cho con tất cả mọi điều về nghiệp lính, thì con chạy tìm chỗ trốn, hay con tiếp tục bước tới, thẳng vào họng súng của kẻ thù?”

“Tiếp tục bước tới.”

“Chính xác. Tốt.” Shaikh Rashid nhìn xuống chàng trai nằm trên giường một cách đầy yêu thương nhưng e dè. “Giờ ta phải rời con, Ahmad học trò đáng tự hào của ta. Con đã học rất tốt.”

“Con cảm ơn thầy đã nói thế.”

“Ta tin không có gì trong các buổi học của chúng ta lại đưa con đến chỗ nghi ngờ tính chất vĩnh cửu và hoàn hảo của pho Sách đứng đầu các Sách.”

“Thực sự là không, thưa thầy. Không có gì.” Tuy đôi khi Ahmad có cảm giác rằng thầy của cậu trong việc nghiên cứu của ông đã nhiễm những nghi ngờ như thế, song giờ không phải là lúc để chất vấn ông, đã quá trễ rồi; mỗi người chúng ta phải giáp mặt cái chết với phần đức tin mà chúng ta đã tạo ra trong lòng mình, và tích tụ chuẩn bị cho Biến cố. Liệu đức tin của cậu, cậu đã nhiều lần tự vấn, có phải chỉ là thói phù phiếm của thanh niên, một cách để tách biệt bản thân cậu với mọi kẻ xấu số khác, Joryleen và Tylenol và những kẻ lầm lạc khác, những người đã chết, tại trường Trung tâm không?

Ông thầy tế vội vã và lo âu, nhưng lưu luyến không nỡ chia tay cậu học trò, đang tìm lời nói cuối cùng. “Con có bản in những chỉ dẫn cho việc thanh tẩy cuối cùng, trước khi...”

“Vâng,” Ahmad đáp khi ông thầy chưa kịp nói xong.

“Nhưng quan trọng nhất,” Shaikh Rashid nhấn mạnh, “là cuốn kinh Qur’an thần thánh. Nếu linh hồn con có lúc yếu đuối trong đêm dài trước mặt, hãy mở nó ra, và để cho Thượng Đế duy nhất nói với con thông qua vị sứ giả cuối cùng hoàn hảo của Người. Bọn ngoại giáo rất ngạc nhiên trước sức mạnh của Hồi giáo: nó tuôn ra từ tiếng nói của Mohammed, một tiếng nói nam tính, một tiếng nói từ sa mạc và bãi chợ - một con người giữa chúng ta, người đã biết cuộc sống trần thế với mọi hứa hẹn của nó nhưng lại lắng nghe được tiếng nói từ xa xăm, và tuân phục sự điều khiển của nó dù nhiều người ở Mecca vội vàng chế giễu và xỉ vả Ông.”

“Thầy: con sẽ không yếu đuối.” Giọng Ahmad gần như mất kiên nhẫn. Khi sau cùng người kia đã đi, và khóa xích đã cài chặt, chàng trai cởi hết áo quần chỉ còn lại đồ lót và tiến hành nghi thức tắm rửa trong phòng tắm bé xíu, nơi bồn tắm đụng vai bất cứ ai ngồi trên bệ xí. Bên trong bồn một vết ố dài màu nâu minh chứng cho nhiều năm vòi nước chảy ra nước gỉ sét.

Ahmad mang chiếc ghế lẻ loi đến cái bàn duy nhất trong phòng, một cái táp đầu giường bằng gỗ thích đánh bóng có những rãnh màu tro sứt sẹo do những điếu thuốc bị bỏ cho cháy sém sâu vào rìa mặt bàn bào nghiêng. Một cách thành kính cậu mở cuốn kinh Qur’an quà tặng ra. Những trang giấy rìa mạ vàng mềm mại mở bung đến chương năm mươi, “Qāf”. Cậu đọc bản dịch tiếng Anh được in ở phía trái, một âm vang rõ ràng cho những điều Shaikh Rashid đã nói:

Chúng ngạc nhiên về việc có một người báo trước xuất thân từ chúng đến gặp chúng. Bởi thế, những kẻ không có đức tin lên tiếng: “Đây là một điều lạ lùng!

Có thật chăng, khi chúng tôi chết và thành cát bụi chúng tôi sẽ...? Đó là một sự trở về xa xôi vậy?”

Những lời này nói gì đó với cậu, nhưng ý nghĩa chưa đủ rõ. Cậu nghiên cứu bản Ả Rập trên trang đối diện, và nhận thấy rằng những kẻ ngoại đạo - kỳ lạ làm sao khi họ, bọn ma quỷ này, lại có tiếng nói trong kinh Qur’an thần thánh - nghi ngờ việc sống lại của thân xác, mà Đấng Tiên tri Mohammad vừa thuyết giảng. Ahmad cũng hầu như không thể hình dung ra sự hoàn nguyên của thân xác cậu, sau khi cậu rời bỏ nó thành công; thay vào đó cậu nhìn thấy linh hồn cậu, cái hiện hữu nhỏ bé bên trong cậu cứ nói “Tôi... tôi...,” bước vào cuộc sống đời sau ngay lập tức, như thể đi dấn qua một cánh cửa kính xoay. Trong chuyện này cậu giống như bọn vô tín ngưỡng: bal kadhdhabū bi ‘l-ḥaqqi lammā jā’ahum fa-hum fī amrin marīi. Chúng, cậu đọc phần tiếng Anh đối diện, phủ nhận chân lý khi nó đến với chúng cho nên chúng đâm ra lúng túng không biết thật hay giả.

Nhưng Thượng Đế, nói bằng ngôi thứ ba số nhiều lộng lẫy của Người, gạt bỏ sự lúng túng của họ: Há chúng không nhìn lên bầu trời bên trên chúng xem Chúng ta đã dựng và trang hoàng nó như thế nào, và không có một kẽ hở nào trong đó ư?

Bầu trời bên trên New Prospect, Ahmad biết, dày đặc khói thải và hơi ẩm mùa hè, một mảng nâu đỏ nhòe nhoẹt bên trên những mái nhà lởm chởm. Nhưng Thượng Đế hứa rằng có một bầu trời tốt đẹp hơn, một bầu trời toàn hảo, tồn tại bên trên nó, với mẫu hình những ngôi sao xanh sáng rực. “Chúng ta” tiếp tục, Và trái đất mà Chúng ta đã trải rộng và dựng trên đó những quả núi vững chắc, và làm mọc lên đủ cặp thảo mộc xinh đẹp, một sự quan sát và một sự nhắc nhở cho từng người tôi tớ quay về.

Vâng, Ahmad sẽ là tôi tớ của Thượng Đế. Ngày mai. Cái ngày đã ngay kề cậu. Cách mắt cậu vài phân, Thượng Đế đang ban phát cơn mưa của Người, cơn mưa khiến cho vườn tược đâm chồi nảy lộc, và lúa thóc của vụ thu hoạch, và cây chà là cao lớn đâm ra trái từng chùm lủng lẳng, chồng lên nhau, làm lương thực cho bầy tôi của Allah.

Chúng ta dùng nó để làm sống lại một mảnh đất đã chết khô cằn. Và việc phục sinh sẽ giống như thế. Một mảnh đất đã chết khô cằn. Đó là đất nước này.

Cuộc sáng tạo thứ hai cũng sẽ đơn giản và không thể bác bỏ được như cuộc sáng tạo thứ nhất. Phải chăng Chúng ta đã mỏi mệt với việc tạo hóa đầu tiên? Không, chúng nghi ngờ về sự tạo hóa mới.

Và chắc chắn Chúng ta đã tạo hóa con người và biết điều mà bản thân y thì thào xúi giục y bởi vì Chúng ta gần kề y hơn tĩnh mạch nơi cổ của y.

Câu kinh này đối với Ahmad luôn mang một ý nghĩa cá nhân, đặc biệt; cậu gấp cuốn kinh Qur’an lại, cuốn sách bìa da mềm nhuộm màu đỏ không đều của những cánh hoa hồng có gân, tin chắc rằng Allah có mặt trong căn phòng xa lạ, nhỏ bé này, yêu thương cậu, lặng nghe những lời thì thào, sự xao động không thể nghe rõ của linh hồn cậu. Cậu cảm thấy nhịp đập ở mạch cổ cậu, và nghe tiếng xe cộ của New Prospect, lúc lầm rầm, lúc gào rú (những chiếc mô tô, hay bộ giảm thanh đã mòn) cách đó mấy dãy nhà quanh hồ gạch vụn lớn ở khu trung tâm, nhỏ dần sau khi đồng hồ Tòa Đô chính gõ mười một tiếng. Cậu thiếp ngủ trong khi chờ nhạc báo mười lăm phút kế tiếp, dù cậu cứ ngỡ mình sẽ thức suốt đêm trong cơn run rẩy lơ lửng tái cả người của niềm hân hoan vị tha, cao cả trong mình.

Sáng thứ Hai. Giấc ngủ bất ngờ trượt khỏi cậu. Lại có cảm giác về một tiếng la đang yếu dần. Một khối đau rát trong dạ dày khiến cậu bối rối cho đến khi sau vài giây cậu nhớ lại ngày hôm nay, và sứ mệnh của cậu. Cậu vẫn còn sống. Hôm nay là ngày có một chuyến hành trình dài.

Cậu nhìn đồng hồ tay, được đặt cẩn thận trên bàn cạnh cuốn kinh Qur’an. Bảy giờ kém hai mươi. Tiếng xe cộ nghe đã rõ, đám xe cộ làm thành dòng chảy vô tư cậu sẽ tham gia và phá vỡ. Toàn bộ phía Đông sẽ bị tê liệt, nếu Thượng Đế muốn vậy. Cậu tắm dưới vòi sen trong buồng nhỏ được trang bị một tấm màn nhựa rách. Cậu chờ cho nước nóng lên, nhưng thấy không nóng cậu ép mình bước vào dòng nước lạnh. Cậu cạo mặt, dù cậu biết rằng tranh cãi dữ dội đã nổ ra về việc Thượng Đế thích gặp con người mặt đối mặt ra sao. Người nhà Chehab thích cậu cạo râu, vì những người Hồi giáo râu rậm, kể cả người ở tuổi thiếu niên, khiến những khách hàng da đen e dè. Mohammed Atta đã cạo râu, cùng hầu hết mười tám kẻ tử vì đạo nhiệt tình còn lại. Lễ kỷ niệm chiến công của họ là thứ Bảy vừa rồi, và kẻ thù sẽ lơi lỏng phòng vệ, giống như đoàn quân cưỡi voi trước cuộc tấn công của chim. Ahmad có mang sẵn túi đựng đồ thể dục nên cậu lấy trong đó ra đồ lót, vớ sạch và chiếc sơ mi trắng mới giặt tinh tươm cuối cùng, được giữ phẳng phiu một cách dễ chịu bằng mấy miếng bìa cứng.

Cậu cầu nguyện trên tấm thảm, hốc cầu nguyện giả trên nền hoa văn trừu tượng giúp cho cậu, giữa địa lý gây phân tâm của New Prospect, hướng về phía khối kiến trúc Ka’ba đen thiêng liêng ở Mecca. Khi chạm trán xuống mặt thảm đan, cậu nhận ra cùng cái mùi người thoang thoảng trong chiếc mền xanh. Cậu đã gia nhập vào đoàn rước của những người từng lưu lại đây trong căn phòng này trước cậu vì bất cứ mục đích ẩn giấu nào, tắm trong dòng nước lạnh gỉ rét, hút thuốc khi chuông đồng hồ điểm. Ahmad ăn, dù cảm giác thèm ăn của cậu đã biến mất trong khối căng thẳng nơi dạ dày, sáu múi cam, nửa tách sữa chua, và một phần to bánh mì Abbas, dù vị ngọt của mật và những hạt hồi không hề làm cậu thấy thơm ngon vào giờ này, khi chiến công vĩ đại đang áp sát lại gần cậu và dồn trào lên cổ họng cậu như một tiếng hô xung trận. Cậu đặt phần bánh mì ngày lễ dẻo dính ăn không hết vào tủ lạnh, trên miếng bìa lót áo sơ mi lớn nhất, với tách sữa chua và nửa trái cam, như thể dành cho người lưu trú kế tiếp, mà không thu hút kiến và gián tới bày tiệc. Đầu óc cậu lần mò qua màn sương giống như màn sương đi trước biến cố được mô tả trong chương kinh Mecca có tên là Tai họa, đó là ngày mà nhân loại sẽ như bươm bướm bay tán loạn và những quả núi sẽ bắn tung như cụm lông cừu được chải ra.

Lúc bảy giờ mười lăm cậu đóng cửa lại sau lưng, để lại trong căn phòng an toàn quyển kinh Qur’an và những lời chỉ dẫn việc thanh tẩy cho một shahīd khác, nhưng mang theo túi thể dục, trong đó nhét đồ lót, vớ và chiếc sơ mi trắng đã dơ của cậu. Cậu băng qua hành lang tối và bước ra một con ngõ vắng hoe, ẩm ướt vì cơn mưa nhỏ vào lúc nào đó hồi đêm. Định hướng bằng ngọn tháp của Tòa Đô chính, Ahmad đi về hướng Bắc, về phía đại lộ Reagan và cửa hàng Nội thất Excellency. Cậu quăng túi thể dục vào thùng rác ở góc phố đầu tiên cậu thấy.

Bầu trời không còn trong vắt nữa mà ẩm ướt và xám, một bầu trời thấp như phủ đầy lông rỉ xuống những dải lông tơ đầy hơi nước. Đêm vừa qua đã để lại ánh lấp lánh trên những con đường rải nhựa, những miệng cống, những dòng chảy ri rỉ và những vệt nhựa đường loang loáng. Sự ẩm ướt bám vào lá những cây bụi còn xanh mọc lan cạnh các bậc thềm và hàng hiên trước nhà, cùng những tấm nhôm chồng mí bọc ngoài vách nhà, màu bị rám hết cả. Hầu hết những ngôi nhà chen sát nhau mà cậu đi ngang hãy còn chưa hoàn toàn động đậy, dù từ những cửa sổ sáng đèn yếu ớt đằng sau, chỗ nhà bếp, tiếng bát đĩa xoong nồi và chương trình TodayGood Morning America báo hiệu người ta đang dùng điểm tâm, và một thứ Hai giống như nhiều thứ Hai khác ở Mỹ đang bắt đầu.

Một con chó khuất trong ngôi nhà đâu đó sủa vào bóng âm thanh của Ahmad đi qua trên lề đường. Một con mèo vàng với con mắt bị mù giống như một hòn bi trắng rạn nứt đang rúc sát cánh cửa lưới trước nhà trong khi chờ được cho vào; nó cong lưng lên và từ con mắt còn lành nheo lại lóe lên một ánh vàng, cảm thấy điều gì đó rờn rợn ở chàng trai lạ cao ráo đang đi qua. Không khí lướt râm ran trên mặt Ahmad nhưng mưa phùn chưa đủ để làm ướt áo sơ mi của cậu. Cậu cảm thấy lớp vải hồ bột khô cứng trên vai cậu; chiếc quần bò đen bó ống bọc lấy đôi chân dài trôi trong không gian ẩm ướt bên dưới thắt lưng. Đôi giày chạy bộ nuốt dần khoảng cách giữa bản thân cậu và số phận cậu; ở chỗ nào lề đường phẳng phiu, những gân sọc cầu kỳ dưới đế giày để lại những dấu vết ẩm ướt. Và điều gì cho ngươi biết Tai họa là gì? cậu nhớ lại, cả câu trả lời: Một ngọn lửa cháy dữ dội! Khoảng cách đến Excellency là tám trăm mét, sáu khối nhà chung cư và cửa tiệm nhỏ - một cửa hàng bán bánh Dunkin’ Donuts mở cửa và tiệm tạp phẩm góc phố đã mở lớp rào sắt, nhưng một tiệm cầm đồ và một đại lý bảo hiểm vẫn đóng kín. Đại lộ Reagan giờ này đã ồn ã giao thông, xe buýt đưa đón học sinh đã bắt đầu hoạt động, những bóng đèn đỏ bực bội nhấp nháy thay đổi trái phải thật nhanh trong khi chúng nuốt lấy từng đám trẻ con đeo ba lô sặc sỡ đứng chờ. Đối với Ahmad sẽ không có chuyện quay lại trường học nữa. Trường Trung tâm bây giờ, cùng với tất cả âm thanh leng keng đe dọa và trò nhạo báng phạm thượng của nó, có vẻ giống một lâu đài thu nhỏ như đồ chơi, một chỗ của trẻ con dành cho sự an toàn và quyết định bị trì hoãn.

Cậu chờ cho đèn giao thông hiện hình người đi bộ rồi mới băng qua đại lộ. Nền bê tông ố dầu nhớt quen thuộc với cậu trong vai trò bề mặt chịu đựng các vỏ bánh xe tải của cậu hơn là mặt phẳng lốm đốm khó hiểu, câm lặng dưới đôi chân này. Cậu quẹo trái và đi về phía Excellency từ mé Đông, qua nhà tang lễ với hàng hiên rộng và những tấm bạt màu trắng - UNGER & SON, một cái tên gợi đói phè phỡn lạ lùng - rồi tới cửa hàng vỏ xe vốn từng là một trạm xăng, những đầu bom bị nhổ đi nhưng trụ xăng vẫn còn nguyên. Ahmad dừng lại trên lề phố 13, nhìn qua khu đất Excellency. Không có chiếc xe tải màu cam ở đó. Không có chiếc Saab của Charlie ở đó. Có hai xe hơi lạ hoắc, một màu xám một màu đen, đậu xéo theo một kiểu vô tâm, rất choán chỗ, cùng những dấu hiệu của hoạt động bí ẩn: một bãi hỗn độn các ly xốp đựng cà phê và hộp xốp đựng thức ăn mua đem về bị buông rơi xuống nền xi măng nứt nẻ và rồi cán dẹp, dưới những bánh xe ra vào, giống như con thú bị xe cán trên đường.

Trên đầu, mặt trời chọc xuyên qua mây mù hắt xuống ánh sáng trắng yếu ớt, như ánh sáng của đèn yếu pin. Trước khi kịp có người phát hiện - dù có vẻ chẳng ai ngồi trong những chiếc xe lạ, ngang nhiên xâm nhập đó - cậu cúi người xuống, đi tiếp theo phố 13, và chỉ băng qua đường khi đã khuất đằng sau hàng cây bụi và cỏ cao mọc sau xe rác gỉ sét, trên phần đất không thuộc về Excellency mà thuộc về phía sau một quán ăn nhỏ xây hình toa xe điện kiểu xưa bị bỏ hoang từ lâu. Tàn tích được đóng ván bít kín này nằm tại góc một con phố hẹp, Frank Hague Terrace, những căn nhà liên kế mặt tiền phố này luôn yên tĩnh suốt những ngày làm việc trong tuần, cho đến giờ tan trường.

Ahmad nhìn đồng hồ tay, bảy giờ hai mươi bảy phút. Cậu quyết định chờ Charlie đến tám giờ mười lăm, dù kế hoạch của họ yêu cầu là bảy giờ ba mươi. Nhưng rồi cứ mỗi phút trôi qua cậu càng có cảm giác mạnh mẽ hơn rằng có gì đó không hay đã xảy ra; Charlie sẽ không xuất hiện. Nơi này đã bị đầu độc. Khoảng đất trống đằng sau cửa hàng thường gây cho cậu cảm giác có ai theo dõi cậu từ trên cao, nhưng giờ cậu cảm thấy không có Thượng Đế dõi theo, cũng không có hơi thở của Thượng Đế nữa. Chỉ có cậu, Ahmad, đang theo dõi, nín thở.

Một ông mặc com lê bất ngờ bước ra từ phía sau cửa hàng, đứng trên mặt sàn bốc dỡ hàng mà mấy tấm ván dày vẫn còn rỉ nhựa thông, và bước xuống những bậc thềm nơi Ahmad thường ngồi nghĩ vẩn vơ. Nơi đây cậu và Joryleen đã cùng nhau bước ra đêm đó và chia tay mãi mãi. Người đàn ông dạn dĩ đi đến xe của ông ta và nói chuyện với ai đó qua một thứ máy vô tuyến hoặc điện thoại di động ở ghế phía trước. Giọng ông ta, giống giọng cảnh sát, không quan tâm ai nghe thấy mình, nhưng giữa tiếng xe cộ ào ào chạy qua nó vọng tới chỗ Ahmad chẳng mang ý nghĩa nào hơn tiếng chim hót. Trong một giây khuôn mặt trắng của ông ta quay thẳng sang hướng Ahmad - một khuôn mặt no đầy nhưng không vui, khuôn mặt một phái viên của những chính quyền ngoại đạo, những thế lực cảm thấy quyền lực đang tuột mất - nhưng ông ta không thấy cậu trai Ả Rập này. Chẳng có gì để thấy, chỉ có xe rác gỉ sét trong đám cỏ.

Tim Ahmad đập như đêm cậu ở cùng Joryleen. Giờ cậu hối tiếc sự lãng phí đó, không sử dụng cô khi cô đã được trả tiền. Nhưng làm thế sẽ là xấu xa, lợi dụng cô trong tình trạng sa ngã, dù cô thấy tình trạng của mình không tệ quá và chỉ là tạm thời. Shaikh Rashid chắc sẽ không tán thành. Đêm qua ông thầy tế có vẻ bối rối, có gì đó đè nặng lên ông mà ông không muốn chia sẻ, một sự nghi ngờ nào đó. Ahmad luôn luôn cảm nhận được những nghi ngờ của thầy mình, bởi vì tuyệt không có nghi ngờ gì là điều rất quan trọng đối với cậu. Lúc này nỗi sợ hãi xâm chiếm Ahmad. Cậu cảm thấy mặt mình sưng phồng lên. Một lời nguyền đã giáng xuống chỗ thanh bình này, nơi từng là chốn yêu thích của cậu trong thế giới này, một ốc đảo không có nước.

Cậu bắt đầu bước đi, dọc theo phố Hague tĩnh lặng - bọn trẻ con phố này hiện ở trường còn phụ huynh thì đi làm - qua hai dãy nhà rồi sau đó đi tắt trở ra đại lộ Reagan, về phía khu Ả Rập, nơi giấu chiếc xe tải trắng. Đã có một lầm lẫn nào đó, Charlie hẳn là đợi cậu ở đấy mới phải. Ahmad đi vội lên, hơi đổ mồ hôi dưới ánh mặt trời mờ mờ. Những doanh nghiệp dọc đại lộ Reagan chuyên kinh doanh hàng hóa lớn - vỏ xe, thảm, giấy dán tường và sơn, dụng cụ nhà bếp lớn. Sau đó là những đại lý bán xe hơi, những khu đất mênh mông với xe hơi mới tinh đậu chật cứng như đội hình quân đội, xe bày bạt ngàn, kính chắn gió và phần mạ kền lấp lánh do ánh mặt trời đang xuyên qua màn mây, phản chiếu ánh sáng như thể quét trên một cánh đồng lúa mì ngả nghiêng trước gió, làm bắn ra những tia lấp lánh từ các sợi dây treo những lá cờ tam giác và dải băng óng ánh xoắn lại theo hình trôn ốc xoay chầm chậm. Một cách mới để thu hút sự chú ý, một sáng chế kỹ thuật gần đây, là những ống vải nhựa nhiều đoạn gắn với nhau, giống người thật một cách kỳ lạ, khi được thổi đầy hơi từ dưới lên thì vẫy những cánh tay và giật tới giật lui với vẻ quằn quại, kích động vẫy gọi liên tục, van xin người đi đường ghé vào mua một chiếc xe hơi, hoặc một đống bánh kếp nếu đặt trước một nhà hàng IHOP. Ahmad, người duy nhất đi bộ trên đoạn hè phố này của đại lộ Reagan, gặp một người khổng lồ bằng ống như thế cao gấp hai lần cậu, một âm hồn xanh lè múa may cuồng loạn mang một nụ cười đông cứng, mắt thô lố. Đi ngang nó một cách cảnh giác, vị khách bộ hành lẻ loi cảm thấy trên mặt và mắt cá chân cậu luồng hơi nóng đã khiến cho con quái vật nhăn nhở, khổ sở, van nài này có vẻ sống thực. Allah làm cho các người sống, Ahmad nghĩ, rồi làm cho các người chết.

Ở ngã tư kế tiếp cậu băng qua đại lộ. Cậu sải bước theo phố 16 về phía West Mam, qua một khu chủ yếu là người da đen giống khu cậu đi bộ đưa Joryleen về sau khi nghe cô hát ở nhà thờ. Cái miệng cô mở rộng như thế, màu hồng phấn của nó. Lần đó trên lầu, tất cả nệm giường được xếp san sát nhau, lẽ ra cậu nên để cô bú cậu như cô đề nghị. Đỡ bầy hầy hơn, cô nói. Mọi đứa con gái, không riêng gì gái điếm, hiện nay đều học cách làm chuyện đó, ở trường luôn có kiểu nói chuyện thô lỗ bừa bãi về vụ đó, đứa nào sẵn sàng làm chuyện đó, và đứa nào nói thích nuốt. Bởi thế, hãy xa phụ nữ và chỉ đến gần họ khi nào họ sạch sẽ. Do đó, khi họ sạch sẽ rồi, các ngươi có thể đến với họ lúc nào, nơi nào như Allah đã chỉ thị cho các ngươi. Quả thật, Allah yêu thương những người năng sám hối và những người giữ mình sạch sẽ.

Khi Ahmad vận màu đen trắng đi dọc con đường, đôi chân cắt nhau thoăn thoắt, nhưng mang một chút nét bản xứ của bước nhảy sáo kiểu Mỹ, cậu thấy vẻ tồi tàn trên các con phố, rác từ thức ăn nhanh và những món đồ chơi nhựa gãy vỡ, những bậc thềm và hàng hiên không sơn còn thẫm đen do cái ẩm ướt buổi sáng, những cửa sổ nứt rạn không được sửa sang. Lề đường đậu nối đuôi những xe hơi Mỹ từ thế kỷ trước, to hơn mức cần thiết và hiện đang rã ra từng mảnh, những đèn hậu nứt nẻ, nắp đậy trục bánh xe bị gỡ mất và các bánh xẹp lún trong rãnh nước. Giọng phụ nữ vang lên từ những căn phòng phía trong, mắng sa sả bọn trẻ được sinh ra ngoài mong đợi và hiện chẳng được ai ngó ngàng, đang tập họp quanh những tiếng nói thân thiện duy nhất trong tầm nghe của chúng, những tiếng nói từ tivi. Những người zanj từ vùng Caribbe hay người Cape Verde thì trồng hoa, sơn hàng hiên và thu được niềm hy vọng và sinh lực từ việc có mặt ở nước Mỹ, song những người sinh ra ở đây hết thế hệ này sang thế hệ khác đã vồ lấy sự bẩn thỉu và lười biếng như một cách phản đối, lời phản đối của dân nô lệ còn sót lại dai dẳng dưới dạng một khao khát làm mình hèn hạ đi, bất chấp luật lệ của mọi tôn giáo yêu cầu giữ mình sạch sẽ. Ahmad rất sạch sẽ. Cữ tắm lạnh sáng nay sống động như một làn da thứ hai cháy rực bên dưới quần áo cậu, một trải nghiệm trước về cuộc thanh tẩy vĩ đại mà cậu đang vội hướng tới. Đồng hồ của cậu chỉ tám giờ mười.

Cậu di chuyển nhanh, mà không chạy. Cậu không được gây chú ý, cậu phải lẻn đi qua thành phố này mà không ai thấy. Sau này sẽ tới lúc xuất hiện những tựa báo trang nhất, những bài tường thuật của CNN làm Trung Đông tràn ngập hân hoan, khiến lũ bạo chúa trong các văn phòng Washington xa hoa run rẩy. Còn lúc này nỗi run rẩy và sứ mệnh vẫn là của cậu, bí mật của cậu, nhiệm vụ của cậu. Cậu nhớ hình ảnh chính mình chạy, khom người xuống và vung vẩy hai cánh tay trần để đạt trạng thái thả lỏng, chờ tiếng súng của người phát lệnh và nhóm con trai tãi ra lao tới trước với những bước chân giận dữ nện thình thịch trên đường chạy rải than xỉ cũ kỹ của trường Trung tâm, và trước khi thân xác cậu chiếm quyền kiểm soát và trí óc cậu hòa tan trong adrenaline, cậu còn lo lắng hơn bây giờ, bởi vì việc cậu làm lúc này diễn ra trong lòng bàn tay của Thượng Đế, ý chí bao trùm mênh mông của Người. Thành tích chính thức tốt nhất của Ahmad khi chạy một dặm là 4 phút 48,6 giây, trên một đường đua bằng chất tổng hợp đàn hồi, màu xanh có nẹp đường ranh màu đỏ, tại một trường trung học khu vực ở Belleville. Cậu đã về thứ ba, và hai lá phổi cậu sau này có cảm giác như bị cháy khô trong ngọn lửa của nỗ lực nước rút qua mấy trăm mét cuối cùng; cậu đã vượt qua hai đứa khác, nhưng còn hai đứa nữa luôn ở ngoài tầm sải chân cậu, những ảo ảnh phía trước cứ lùi xa dần.

Sau năm dãy nhà, phố 16 gặp đường West Mam. Những tín đồ Hồi giáo cao tuổi đứng quanh quẩn như những bức tượng mềm mại trong những bộ vest màu tối hoặc vài người là áo chùng truyền thống bẩn bụi. Ahmad tìm đến mặt trước cửa hàng Pep Boys và Al-Aqsa True Value, rồi tới con hẻm phía sau mà cậu và Charlie đã đi bộ qua tới chỗ từng là Xưởng máy Costello. Cậu kiểm tra để chắc rằng không ai theo dõi khi đến gần cánh cửa hông nhỏ bằng kim loại hoa văn quả trám, sơn màu vàng nâu nhạt tởm lợm. Không có Charlie đứng bên ngoài. Không có âm thanh bên trong. Mặt trời đổ hơi nóng xuống, Ahmad cảm thấy hai vai và lưng đổ mồ hôi; áo sơ mi trắng của cậu không còn tinh sạch nữa. Ngày thứ Hai đầu tuần đang lao xao trên đường West Main cách đó nửa dãy nhà. Có người qua lại ít nhiều, xe hơi và khách bộ hành, trong con hẻm. Cậu xoay thử tay nắm bằng đồng thau mới trên cửa, nhưng nó không xoay. Cậu vẫn tiếp tục xoay, trong nỗi bực tức. Làm sao vật kim loại vô tri nhỏ bé này có thể ngăn cản được ý chí của as-Samad, Đấng Vĩnh cửu?

Kiềm chế hoảng loạn, Ahmad thử cánh cửa lớn, loại cửa trượt. Nó có một tay nắm dưới thấp mà khi ta xoay sẽ làm hai thanh kéo nhả một cặp chốt bên. Tay nắm xoay; cánh cửa làm cậu giật mình khi trượt lên trên với một sự dễ dàng dựa vào đối trọng, cảm giác như thể nó đang bay, một mômen cong của đường bay trước khi nó lách cách trượt vào các đường rãnh bên trên, trong bóng tối lờ mờ gần trần nhà.

Ahmad vừa rọi ánh sáng vào hang. Charlie không có ở trong không gian bụi bặm đó, cả hai đặc vụ, tay kỹ thuật viên và người phụ tá trẻ cũng không có đó. Những cái bàn thợ và bảng treo dụng cụ vẫn y chỗ cũ theo trí nhớ của Ahmad. Rác rưởi và những đống phụ tùng thải bỏ trong các góc có vẻ ít hơn trước. Xưởng sửa xe đã được dọn dẹp, sắp xếp ngăn nắp cho mục đích cuối cùng nào đó. Có một sự im lìm như ở ngôi mộ bị ăn trộm lần sau cùng. Người qua lại trong con hẻm ném vào hang những bóng chập chờn đáng ngại từ ánh sáng phản chiếu; khách qua đường lơ đãng ngó vào. Không ai ở đây nhưng có chiếc xe tải, chiếc GMC 3500 hình hộp với hàng chữ viết tay thiếu chuyên nghiệp WINDOW SHADES SYSTEMS.

Ahmad thận trọng mở cửa buồng lái và thấy thùng đạn màu nâu xám nhà binh vẫn nằm đó giữa hai ghế ngồi, được dán băng dính vào két đựng sữa. Chìa khóa khởi động lủng lẳng trên bảng táp lô, mời mọc kẻ xâm nhập xoay nó. Hai sợi dây bọc cách điện to vẫn chạy từ hộp kích nổ vào thân xe tải. Ô cửa kiểm tra, không cao hơn một người đàn ông cúi lom khom, trượt mở chỉ được chừng tấc rưỡi là những sợi dây điện luồn qua nó bắt đầu bị căng. Qua khoảng mở tấc rưỡi đó Ahmad ngửi thấy mùi hỗn hợp phân bón ammonium-nitrat và nhiên liệu xe đua nitromethane; cậu thấy những thùng nhựa trắng nhợt ma quái, mỗi cái cao cỡ thắt lưng cậu và mỗi cái chứa một trăm sáu mươi ký hỗn hợp nổ. Chất nhựa trắng bóng loáng của mấy thùng chứa tỏa ánh lờ mờ giống như một loại thịt. Những sợi dây điện vàng nối vào nhau cuộn vòng từ những ống ngòi nổ gắn chắc vào đáy của mỗi thùng nhựa, được tăng cường bằng bột nhôm và chất nổ PETN cực nhạy. Hai mươi lăm thùng chứa, như cậu lờ mờ thấy trong bóng tối, được xếp thành một hình vuông mỗi cạnh năm thùng, buộc gọn lại với nhau bằng những dây phơi đồ chắp đôi và bảo đảm chống trượt bằng cách buộc chặt vào những cọc ràng dây và những thanh sườn sắt bên hông thân xe. Tất cả trở thành một công trình nghệ thuật hiện đại, chắc chắn và mờ đục. Ahmad nhớ lại tay chuyên viên kỹ thuật mập lùn, những động tác trôi chảy tinh tế của đôi tay cáu dầu mỡ, và tưởng tượng ông ta đang mỉm cười khoe hàm răng thưa, với vẻ tự hào ngây thơ của một người lao động tay chân. Tất cả bọn họ, tất cả trong kế hoạch này, là những bộ phận của một cỗ máy tuyệt đẹp, cái này khớp bên cái kia. Những người khác đã biến mất nhưng Ahmad vẫn còn đó, để đặt bộ phận cuối cùng vào chỗ của nó.

Nhẹ nhàng cậu đẩy trượt cánh cửa gỗ nhỏ về chỗ cũ, trả mớ thùng nhựa chất đầy thuốc nổ lại về bóng tối thơm tho. Chúng đã được phó thác cho cậu. Giống như cậu, chúng là những người lính. Cậu đang ở giữa những người đồng đội, cho dù họ đã trở nên câm lặng, không để lại lời chỉ dẫn nào. Cửa sau xe tải đã được khóa bằng ổ khóa. Tấm bản lề lớn đã lật qua, khe hở chụp quanh vành thép chữ U dày nhô lên và một ổ khóa số nặng nề đã bấm vào đó. Ahmad không được cho biết mã số. Cậu hiểu thông điệp: cậu phải tin những người anh em của cậu, cũng giống như họ tin rằng cậu, khi họ vắng mặt không giải thích, vẫn tiếp tục kế hoạch này. Cậu đã trở thành công cụ đơn lẻ còn lại của Đấng Khoan dung, Đấng Vĩnh cửu. Cậu đã được cung cấp một chiếc xe tải giống hệt chiếc xe cậu lái thường ngày, để cho đường đi của cậu thẳng và êm xuôi. Ngập ngừng, cậu ngồi vào ghế tài xế. Lớp nhựa đen giả da cũ có vẻ ấm, như thể mới vừa có ai rời khỏi đây.

Một vụ nổ, cậu nhớ từ lớp vật lý tại trường Trung tâm, đơn giản chỉ là một chất rắn hoặc chất lỏng biến thành hơi một cách nhanh chóng, trong vòng chưa đầy một giây nở rộng gấp hàng trăm lần thể tích ban đầu của nó. Tất cả chỉ có vậy. Như thể từ bên lề một sự kiện hóa học lạnh lùng như thế, cậu thấy chính mình, nhỏ bé và chuẩn xác, leo lên chiếc xe tải chưa quen thuộc, khởi động máy, nhấp ga nhẹ nhàng, và de nó ra con hẻm.

Một việc nhỏ vẫn gây khó chịu. Xuống xe để hạ cánh cửa xưởng sửa chữa lách cách sau lưng họ - cậu, chiếc xe tải, và những cộng sự vô hình của cậu - Ahmad cảm thấy nước của trái cam điểm tâm và một cơn phấn khích pha lẫn lo âu bị đè nén đang ép vào bàng quang. Cậu nên làm nhẹ bụng cho chuyến hành trình trước mặt. Cậu đậu xe vào một bên con hẻm, để động cơ chạy không tải, đẩy cửa xưởng lên lại, và tìm ra phòng vệ sinh đằng sau cánh cửa bẩn thỉu không ghi dấu hiệu gì trong một góc phòng cạnh bàn thợ và bảng treo dụng cụ. Có một sợi dây dùng để bật bóng đèn điện trần trụi, và miệng bồn bằng sứ sáng hình ô van đựng một vũng nước đáng ngờ phải giội khi cậu làm xong cái việc thêm vào đó tia nước nhỏ từ cơ thể mình. Cậu rửa tay thật kỹ, sử dụng hộp đựng chất tẩy rửa dầu mỡ có sẵn chỗ bồn rửa. Cậu quay trở ra và kéo cánh cửa lách cách xuống bằng sợi dây gai có thắt nút, rồi mới hết hồn nhận ra thật ngu ngốc và nguy hiểm làm sao khi bỏ rơi chiếc xe tải, máy vẫn nổ, dù chỉ một hai phút. Cậu không suy nghĩ một cách bình thường, trong bầu khí thiên hứng nhưng mong manh của những thứ cuối cùng. Cậu phải giữ cái đầu tỉnh táo bằng cách hình dung mình là công cụ của Thượng Đế, lạnh và cứng và dứt khoát và không tư duy, đúng kiểu của một công cụ.

Cậu nhìn cái Timex, nó chỉ tám giờ chín phút. Đã mất thêm bốn phút nữa. Cậu cho xe tải lăn bánh, cố tránh những ổ gà, tránh bất ngờ dừng lại rồi chạy tiếp. Cậu đã trễ thời gian biểu mà cậu và Charlie đã ấn định, nhưng chưa đến hai mươi phút. Đã bình tĩnh hơn vì chiếc xe di chuyển, hòa lẫn vào dòng giao thông hằng ngày của thế giới này, cậu quẹo phải khi rời khỏi con hẻm và sau đó quẹo trái vào đường West Main, lại chạy qua cửa hàng Pep Boys, với hình vẽ gớm ghiếc ba người đàn ông, Manny, Moe và Jack, nối lại thành một thân hình lùn ba đầu.

Thành phố đã hoàn toàn thức giấc, nhấp nháy và chòng chành quanh cậu. Cậu hình dung chiếc xe tải của mình như một hình chữ nhật bị khoanh tròn trong tầm nhìn từ trên cao xuống giữa một cuộc rượt đuổi xe hơi, luồn qua các đường phố, dừng lại tại đèn hiệu giao thông. Chiếc xe tải này vận hành khác chiếc Excellency, vốn hay đu đưa dễ chịu, như thể người lái xe đang ngồi trên cổ một con voi. Khi lái chiếc Window Shades Systems, cậu không cảm thấy sự đồng cảm hữu cơ. Tay lái không vừa với đôi bàn tay cậu. Mỗi lồi lõm trên mặt đường đều làm chấn động cả khung xe. Các bánh trước cứ nhất định bẻ qua trái, cứ như một tai nạn nào đó đã làm khung xe bị cong. Khối lượng tải - gấp đôi McVeigh, lớn hơn và cô nén hơn bất kỳ lô hàng nội thất nào - liên tục từ đằng sau ép tới mỗi khi cậu đạp thắng tại đèn đỏ và kìm cậu lại khi xe lăn bánh lúc đèn xanh.

Để tránh trung tâm thành phố - trường trung học, Tòa Đô chính, nhà thờ, hồ gạch vụn, những tòa nhà chọc trời bằng kính bề thế được chính quyền cung ứng làm những món quà dỗ dành - Ahmad quẹo sang đường Washington, được gọi thế bởi vì, Charlie có lần bảo cậu, theo hướng ngược lại nó chạy qua một dinh thự mà vị tướng vĩ đại này từng dùng làm một trong các tổng hành dinh ở New Jersey của ông ta. Cuộc thánh chiến Hồi giáo và cuộc Cách mạng Mỹ là cùng một kiểu chiến tranh, Charlie từng giải thích - cuộc chiến tranh tuyệt vọng và tàn độc của kẻ yếu, bị kẻ mạnh đế quốc rủa là chơi bẩn theo luật lệ mà hắn đã đề ra vì lợi ích của chính hắn.

Ahmad bấm vào máy thu thanh trên bảng điều khiển; nó đang bật đài nhạc rap tởm lợm, phun ra lời dâm dục không thể hiểu nổi. Cậu tìm đài WCBS-AM trên bảng dò đài và được cấp báo rằng giao thông trên đường vòng dẫn vào đường hầm Lincoln bị kẹt cứng như thường lệ, nhích từng chút, hô-hô-hô. Tiếp theo đó là tiếng léo nhéo từ trực thăng và tiếng nhạc pop ầm ĩ. Cậu lại bấm tắt máy thu thanh. Trong xã hội ma quỷ này chẳng có gì phù hợp cho một người đàn ông nghe trong giờ cuối của đời mình. Im lặng tốt hơn. Im lặng là âm nhạc của Thượng Đế.

Ahmad phải thanh sạch, để gặp Thượng Đế. Một vệt nước lạnh giá ở khoảng bụng trên cao chảy lan xuống ruột khi cậu nghĩ tới việc gặp cái tôi kia, gần kề hơn tĩnh mạch nơi cổ cậu, mà cậu luôn cảm thấy bên cạnh, một người anh em, một người cha, nhưng là người cậu không bao giờ có thể quay sang đối mặt trực tiếp trong vẻ rực rỡ hoàn hảo của Người. Bây giờ cậu, kẻ không cha, không anh em, sẽ thực thi ý chí không thể lay chuyển nổi của Thượng Đế; Ahmad hối hả nhằm đem đến Hutama, Ngọn Lửa Hủy diệt. Chính xác hơn, Shaikh Rashid đã có lần giải thích, Hutama có nghĩa là thứ phá tan tành.

Trên đường 80 chỉ có một lối rẽ duy nhất xuống New Prospect. Ahmad lái xe tải theo hướng Đông Nam trên đường Washington cho đến khi Washington gặp đại lộ Tilden, đại lộ này đổ thẳng vào đường 80 đang trong luồng lao tới ầm ầm, vào giờ này trong ngày, về hướng thành phố New York. Cách lối rẽ ba dãy nhà về phía Bắc, tại một góc rộng rãi nơi trạm xăng Getty đối diện một cửa hàng Mobil, có cả một cửa hàng Shop-a-Sec, Ahmad thấy một dáng người hơi quen thuộc men theo lề đường vẫy tay, không vẫy như một người mong chờ taxi một cách ngớ ngẩn - taxi vốn không chạy rông ở New Prospect mà phải gọi điện kêu - mà vẫy đích danh cậu. Quả thực, ông chỉ vào Ahmad qua kính chắn gió; ông giơ hai tay lên như đang chặn lại một thứ gì đó tồn tại thực. Đó là ông Levy, mặc áo vest nâu không đồng bộ với cái quần xám. Ông mặc đồ để đến trường vào thứ Hai này nhưng thay vào đó ông lại đứng ngoài trời cách trường Trung tâm hơn một cây số về phía Nam.

Cảnh tượng bất ngờ này khiến Ahmad lúng túng. Cậu vật vã trấn tĩnh đầu óc quay cuồng của mình. Có lẽ ông Levy mang một lời nhắn từ Charlie, dù cậu không nghĩ họ biết nhau; tay giáo viên tư vấn này không hề thích việc cậu lấy bằng CDL và lái xe tải. Hay một thông điệp khẩn cấp từ mẹ cậu, có một khoảng thời gian trong mùa hè này chị đề cập đến ông Levy hơi quá thường xuyên, bằng giọng điệu cho thấy chị lại đang làm trò đáng thẹn thêm lần nữa. Ahmad không định dừng lại, như cậu sẽ không dừng trước đám quái vật nài nỉ, vặn vẹo, làm bằng ống nhựa và khí thổi, chuyên lôi kéo khách hàng rời đường lớn rẽ vào.

Tuy nhiên, đèn ở góc đường đã đổi màu, dòng xe cộ chậm lại và chiếc xe tải phải dừng. Ông Levy, di chuyển nhanh hơn Ahmad nghĩ, len qua những làn đường xe cộ dừng lại và với tay lên gõ nhẹ như ra lệnh vào cửa sổ bên ghế phụ cạnh tài xế. Bối rối, với tập tính không bất kính với thầy giáo, Ahmad vươn tay qua và nhấn chốt mở cửa. Cho ông lên ngồi bên cạnh cậu, chàng trai vội vàng lập luận, còn tốt hơn để ông ở ngoài và có thể gây báo động. Ông Levy kéo cửa bên ghế phụ, mở ra, và ngay khi dòng xe cộ phải tiếp tục di chuyển ông đu người lên ngồi phịch xuống mặt ghế đen nứt nẻ. Ông đóng sập cửa lại. Ông thở hào hển. “Cảm ơn,” ông nói. “Tôi đang sợ không chộp được em.”

“Sao thầy biết em ở đây?”

“Chỉ có một đường duy nhất để vào Đường 80.”

“Nhưng đây không phải là xe tải của em.”

“Tôi biết không nên tìm xe của em.”

“Sao thầy biết?”

“Chuyện dài lắm. Tôi chỉ biết lõm bõm. Window Shades Systems - thật buồn cười. Hãy cho ánh sáng vào. Ai nói mấy tay này không có óc hài huớc?” Ông vẫn thở hào hển. Nhìn vào khuôn mặt trông nghiêng của ông, ở chỗ Charlie thường ngồi, Ahmad chợt nhận thấy ông thầy tư vấn của mình già làm sao, khi bị tách khỏi cảnh náo nhiệt trẻ trung của trường trung học. Vẻ mệt mỏi đã tích tụ dưới hai mắt ông. Đôi môi ông trông chảy sệ, lớp da mí mắt ngay dưới chân mày ông lùng nhùng. Ahmad tự hỏi cảm giác ấy sẽ như thế nào, khi từng ngày trượt dần về phía cái chết tự nhiên. Bản thân cậu sẽ không bao giờ biết. Có lẽ sau khi đã sống lâu như ông Levy, ta không cảm thấy nó nữa. Vẫn thở hào hển, người đàn ông ngồi thẳng lên, hài lòng khi đạt được mục tiêu là lên được xe tải của Ahmad. “Cái gì đây?” ông hỏi, chỉ cái hộp kim loại xám xịt được dán vào két nhựa ngay chỗ trống giữa hai ghế ngồi.

“Đừng đụng nó!” Những từ này tuôn ra gay gắt đến độ Ahmad phải nói thêm do lễ phép, “Thưa thầy.”

“Tôi không đụng đâu,” Levy nói. “Mà em cũng đừng đụng vào nó.” Ông im lặng, xem xét mà không chạm vào nó. “Sản xuất ở nước ngoài, có lẽ Séc hoặc Trung Quốc. Chắc chắn nó không phải là kíp nổ LD20 quân dụng cũ của tụi tôi rồi. Tôi từng vào lính mà, dù người ta không hề đẩy tôi sang Việt Nam. Điều đó làm tôi buồn bực. Tôi không muốn đi, nhưng tôi muốn khẳng định mình. Em hiểu điều đó mà. Muốn khẳng định mình.”

“Không. Em không hiểu,” Ahmad nói. Sự xâm nhập bất ngờ này đã khiến cậu bối rối; ý nghĩ của cậu giống như những chú ong nghệ, va đập mù quáng vào những bức tường bên trong sọ cậu. Nhưng cậu tiếp tục lái một cách êm ả, lướt chiếc GMC 3500 qua khúc cua nối vào đường 80, xe sát xe vào giờ cao điểm này. Cậu đã dần quen với cách cư xử khó chịu của chiếc xe tải.

“Như tôi hiểu, họ thường quăng chất nổ vào bên trong những hố ngụy trang của Việt Cộng rồi bịt kín lại và cho nổ bằng những thứ này. Dập chuột chũi, tụi nó thường gọi vậy. Chả có gì đẹp đẽ. Nhưng, toàn bộ chuyện ấy cũng chẳng có gì đẹp đẽ. Trừ phụ nữ. Nhưng tôi nghe bảo không được tin cậy ngay cả phụ nữ. Họ cũng là Việt Cộng.”

Ahmad, đầu kêu u u, cố nói rõ quan điểm của mình: “Thưa thầy, nếu thầy có bất kỳ động tác nào nhằm làm đứt dây điện hoặc cản trở việc lái xe của em, em sẽ cho nổ tung bốn tấn thuốc nổ này. Miếng màu vàng là công tắc an toàn, và bây giờ em sẽ tắt đi.” Cậu chuyển nó sang phải - tách - và cả hai chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra. Ahmad nghĩ, Nếu có gì xảy ra chúng ta sẽ chẳng biết được. Không có gì xảy ra, nhưng công tắc giờ đã tắt. Việc duy nhất cậu cần làm là thọc ngón tay cái xuống cái hố nhỏ mà ở đáy là nút nổ màu đỏ, và chờ một phần triệu giây cho bột nổ bắt cháy lẹt xẹt qua thuốc nổ mồi và nhiên liệu xe đưa vào tới mấy tấn nitrate kia. Cậu cảm nhận cái nút đỏ nhẵn mịn ở đầu ngón tay cái, mà không rời mắt khỏi xa lộ đông nghẹt. Nếu tay Do Thái bệu này cử động để ngăn cản cậu, cậu sẽ gạt ông ta sang một bên như tờ giấy, giống như chải một cụm lông cừu.

“Tôi không có ý định như thế,” ông Levy nói với cậu, bằng giọng thoải mái giả tạo mà ông dùng để khuyên những học sinh thi trượt, những học sinh ngang ngạnh, những học sinh đã mất niềm tin vào chính mình. “Tôi chỉ muốn nói với em vài điều mà em có thể quan tâm thôi.”

“Điều gì? Nói đi, và em sẽ để thầy ra khi chúng ta tới gần đích đến của em.”

“Ờ, theo tôi điều chính yếu là, Charlie chết rồi.”

“Chết rồi?”

“Bị chặt đầu, sự thực là vậy. Khiếp quá hả? Anh ta đã bị tra tấn trước khi chúng làm vậy. Người ta tìm thấy xác sáng hôm qua, bị vứt ở Meadows, cạnh con kênh phía Nam sân vận động Giants. Chúng muốn người ta tìm thấy nó. Có một mẩu thư gắn vào xác, bằng tiếng Ả Rập. Xem ra là Charlie là mật viên CIA và phía bên kia cuối cùng đã đoán ra.”

Đã từng có một người cha biến mất trước khi ký ức của cậu kịp lưu lại hình ảnh ông ta, và sau đó là Charlie đã thân thiện với cậu và chỉ cho cậu những con đường, rồi bây giờ tay Do Thái mệt mỏi này trong bộ quần áo như thể mặc bừa vào trong bóng tối đã thế chỗ của họ, khoảng trống bên cạnh cậu. “Chính xác thì mẩu thư đó nói gì?”

“Ồ, tôi không biết. Vẫn như cũ thôi, đại khái là kẻ nuốt lời thề thì bội ước với chính mình. Thượng Đế sẽ không từ chối ban thưởng thích đáng cho ai.”

“Nghe có vẻ giống kinh Qur’an, chương bốn mươi tám.”

“Nghe có vẻ cũng giống kinh Torah nữa. Dù em nói gì. Có nhiều thứ tôi không biết. Tôi tham gia trễ.”

“Em hỏi thầy cái này nghe, làm sao thầy biết được những điều thầy biết?”

“Chị vợ tôi. Chị ấy làm việc ở Washington, Bộ An ninh Nội địa. Chị ấy gọi cho tôi hôm qua; vợ tôi có nói về sự quan tâm của tôi dành cho em, và họ tự hỏi không biết có mối liên hệ nào không. Họ không thể tìm ra em. Không ai tìm được. Tôi nghĩ để tôi thử coi.”

“Sao em phải tin bất cứ điều gì thầy nói?”

“Vậy thì đừng tin. Chỉ nên tin nếu nó khớp với những gì em biết. Tôi đoán là nó khớp. Nếu tôi nói dối thì hiện giờ Charlie ở đâu? Vợ anh ta nói anh ta đã biến mất. Cô ấy thề anh ta chỉ làm chuyện kinh doanh đồ nội thất.”

“Còn những người nhà Chehab khác, và những người mà họ cung cấp tiền bạc thì sao?”

Chạy sát đuôi xe của Ahmad là một chiếc Mercedes màu xanh đen, điều khiển là một anh chàng nóng nảy, trẻ đến độ khó mà mua nổi một chiếc Mercedes, trừ phi là do thao túng chứng khoán trên đầu những kẻ thiếu may mắn hơn. Những người này sống xa hoa ở những chỗ được gọi là thị trấn phòng ngủ ở New Jersey và nhảy xuống từ các tháp cao ốc khi Thượng Đế quật cho họ sụp. Ahmad cảm thấy mình cao cả hơn hẳn tay lái chiếc Mercedes kia, và thây kệ trò nhấn còi inh ỏi và lách ra lách vào khi tay đó tìm cách cường điệu lên mong muốn của mình rằng chiếc xe tải trắng đừng có chạy rề rà trên làn đường giữa nữa.

Ông Levy đáp, “Rút vào bí mật và phân tán, tôi cho rằng vậy. Họ bắt được hai người đang ở sân bay Newark tính bay đi Paris, còn bố của Charlie đang ở trong bệnh viện với cớ là bị đột quỵ.”

“Ông ấy thực sự bị tiểu đường mà.”

“Gì cũng được. Ông ta nói ông ta yêu đất nước này, con trai ông ta cũng vậy, và bây giờ con trai ông ta đã chết vì đất nước này. Có giả thiết cho rằng ông ta chính là người tố giác con trai mình. Ông chú ở Florida, FBI đã để mắt đến ông ta một thời gian rồi. Những cơ quan này bị quá tải và họ không liên lạc với nhau, nhưng không phải mánh lới nào họ cũng để lọt lưới đâu. Người chú sẽ hở ra, hoặc ai đó sẽ hở ra. Làm sao có chuyện người anh em này lại không biết người anh em kia đang làm chuyện gì được. Dân Ả Rập chuyên gây sức ép lẫn nhau bằng đạo Hồi: sao anh cự tuyệt ý chí của Allah được?”

Ahmad nói một cách khô khan, “Em không biết. Em không được hưởng cái may mắn có anh em.”

“May mắn nhỏ bé thôi, theo những gì tôi thấy ở trường. Tôi đọc được ở đâu đó rằng với chó rừng, ngay khi mới ra đời là lứa chó con đã chiến đấu tới chết rồi.”

Bớt khô khan, nhớ lại với một nụ cười, Ahmad nói với ông Levy, “Charlie rất hùng biện về thánh chiến.”

“Rõ ràng đó là một trong những trò diễn của anh ta. Tôi chưa từng gặp anh chàng này. Nghe có vẻ anh ta là một tay bạt mạng. Bà chị vợ của tôi nói - bà ấy thì chỉ làm được mỗi chuyện lặp lại lời ông sếp bà ấy thôi, bà ấy tôn thờ gã đó - rằng sai lầm của anh ta, sai lầm chết người của anh ta là chờ quá lâu mới giật bẫy. Anh ta đã xem phim quá nhiều.”

“Anh ta xem tivi vô kể. Anh ta muốn một ngày nào đó làm đạo diễn phim quảng cáo.”

“Ý tôi muốn nói là, Ahmad à, em không cần làm chuyện này. Kết thúc hết rồi. Charlie không hề có ý định để em hoàn thành chuyện này. Anh ta chỉ sử dụng em để xua đám kia ra.”

Ahmad xem xét lại toàn bộ cái mạng đang phơi mở, trơn tru của những gì cậu nghe được rồi kết luận, “Đó sẽ là một chiến thắng vẻ vang đối với khối Hồi giáo.”

“Hồi giáo? Bằng cách nào?”

“Nó sẽ tiêu diệt và gây khó khăn cho nhiều kẻ ngoại đạo.”

“Chắc em đang đùa,” ông Levy nói, khi Ahmad khéo léo chuyển xe từ đường 80 Đông sang 95 Nam, giành lấy làn đường bên trong không để cho chiếc Mercedes qua mặt cậu ở phía bên phải khi gần hết dòng giao thông tiếp tục chạy theo hướng Đông về phía cầu George Washington. Ở bên trái, sông Overpeck gợn sóng trong làn gió nhẹ khi chảy về sông Hackensack. Chiếc xe tải đang chạy trên đường cao tốc thu phí New Jersey, phía trên vùng đầm lầy đang bị khai thác ở bất kỳ mẩu đất nhỏ nào có thể tháo cạn được. Những nhánh đường cao tốc thu phí; nhánh về phía trái dẫn đến chỗ rẽ vào đường hầm Lincoln. Những kẻ lập mưu đã cẩn thận lắp một hộp phát tín hiệu đóng lệ phí tự động E-Z Pass ngay giữa kính chắn gió của chiếc xe tải; nó sẽ cho phép cậu chạy xe êm ngang qua buồng thu phí, anh tài xế trẻ tuổi chỉ lộ mặt trong giây lát trước mắt nhân viên thu phí hoặc bảo vệ.

“Hãy nghĩ tới mẹ em.” Vẻ thoải mái trò chuyện đã biến khỏi giọng của ông Levy; một chút gắt gỏng đã len vào. “Cô ấy sẽ không chỉ mất em mà còn bị xem là mẹ của một con quái vật. Một kẻ điên.”

Ahmad bắt đầu thấy khoan khoái với việc không bị động lòng trước những luận cứ của kẻ xâm nhập này. “Em chưa bao giờ quan trọng đối với mẹ em,” cậu giải thích, “dù em thừa nhận rằng bà đã giữ vẹn bổn phận của bà từ khi em chẳng may ra đời. Còn về chuyện mẹ của con quái vật, ở Trung Đông những bà mẹ của người tử vì đạo rất được quý trọng và nhận được trợ cấp đáng kể.”

Ông Levy nói, “Tôi tin chắc cô ấy muốn có em hơn món trợ cấp.”

“Cho em hỏi, thưa thầy, sao thầy dám chắc? Thầy biết rõ bà ấy tới cỡ nào?”

Những con mòng biển, lúc đầu cậu chỉ thấy vài con qua kính chắn gió, sau đó vài chục con lọt vào tầm mắt, rồi mấy chục tăng thành mấy trăm, lượn vòng bên trên một bãi đất hoang. Xa phía bên kia những đôi cánh bay hăm hở tụ lại của chúng, bên kia sông Hudson ảm đạm, sừng sững bóng dáng màu xám đá của thành phố to lớn đó, có khía lồi lõm như một chiếc chìa khóa khổng lồ, trái tim của Satan. Được thắp sáng từ phía Đông, những tòa nhà chọc trời in bóng lờ mờ ở phía Tây, một màn sương mù ngời sáng giữa các tòa. Sự im lặng của ông Levy báo hiệu một đợt công kích nữa vào những niềm tin của Ahmad, nhưng giữa lúc anh tài xế và ông hành khách cùng nhìn lướt qua mà không bình luận một trong những kỳ quan của thế giới, bất ngờ cảnh tượng đó biến mất khi dòng xe cộ dồn tới trước và được thay thế bằng những khoảng tương đối trống trải ở hai bên đường 95 - cỏ đầm lầy, xen kẽ là những thoáng trời xanh phản chiếu trong những con kênh đầy nước chảy lang thang giữa bùn lầy. Cao trên kính chắn gió, một tia lấp lóe hình chữ thập ánh bạc thoát lên từ Phi trường Quốc tế Newark, tạc vào bầu trời trống trải mờ đục một vệt hai sọc như một xa lộ cho những chiếc khác đi theo, trong một mạng lưới những đường hạ cánh mà các nhân viên không lưu giúp mọi người tuân thủ. Ahmad nhất thời cảm thấy phấn chấn, giống như một chiếc máy bay bốc lên thoát khỏi trọng lực.

Ông Levy phá hủy giây phút đó khi nói, “Này, chúng ta có thể nói về chuyện gì khác? Sân vận động Giants. Hôm qua em có xem trận đấu của Jets không? Khi thằng nhóc Carter đó phát bóng hỏng, tôi tự nhủ, Chúng ta lại thua nữa, giống như mùa rồi. Nhưng không, họ đã qua khỏi, băm mốt hăm bốn, dù ta không thể nhẹ người được cho đến khi tay hậu vệ thòng lính mới Coleman đó chặn được đợt tấn công cuối cùng của đội Bengals vào phút cuối.” Đây có lẽ là chất hài kiểu Do Thái, và Ahmad phớt lờ. Bằng một giọng chân thành hơn, Levy nói, “Tôi không tin được rằng em có ý định nghiêm túc giết hàng trăm người vô tội.”

“Ai nói vô thần là vô tội? Bọn vô thần nói vậy. Thượng Đế nói, trong kinh Qur’an, Hãy nghiêm khắc với những kẻ không có đức tin. Hãy đốt cháy chúng, bóp nát chúng, bởi vì chúng đã quên Thượng Đế. Chúng nghĩ cứ là chính chúng là đủ. Chúng yêu cuộc sống hiện tại hơn cuộc sống đời sau.”

“Cho nên bây giờ hãy giết chúng. Có vẻ khá khắt khe đấy.”

“Dĩ nhiên là thầy thấy vậy. Thầy là một người Do Thái lầm lạc, em tin vậy. Thầy không tin gì cả. Chương ba của kinh Qur’an nói rằng tất cả vàng trên thế giới này cũng không thể chuộc lại được những ai đã từng tin rồi giờ lại không tin, và rằng Thượng Đế sẽ không bao giờ chấp nhận sự sám hối của họ.”

Ông Levy thở dài. Ahmad có thể nghe thấy sự ẩm ướt, những giọt li ti của nỗi sợ hãi, kêu khò khè trong hơi thở của ông. “Phải, cũng có nhiều thứ kinh tởm và lố bịch trong kinh Torah. Những dịch bệnh, vụ tàn sát, giáng thẳng từ Jehovah xuống ta. Những bộ tộc không đủ may mắn để được chọn - cho chúng vào danh sách cấm, đừng có nhân từ với chúng. Hỏa ngục thì họ chưa vẽ ra hoàn chỉnh được, cái đó phải đợi đến Cơ Đốc giáo. Tỉnh ngộ đi - các thầy tu cố điều khiển con người qua nỗi sợ. Gợi lên Địa ngục - thủ đoạn gây sợ hãi cổ xưa nhất thế giới. Chỉ đứng sau tra tấn. Địa ngục tra tấn, về cơ bản thì thế. Em thực sự có thể tin vào tất cả chuyện này sao? Thượng Đế là kẻ tra tấn tối cao? Thượng Đế là Chúa tể diệt chủng?”

“Như lá thư được gắn vào xác Charlie có nói, Thượng Đế sẽ không từ chối việc ban thưởng cho ai. Thầy nhắc đến kinh Torah, theo truyền thống của thầy. Đấng Tiên tri có nhiều lời tốt đẹp dành cho Abraham. Em muốn biết: Liệu thầy có bao giờ tin chưa? Sao thầy lại từ bỏ?”

“Tôi đã từ bỏ từ khi ra đời rồi. Bố tôi căm ghét đạo Do Thái, cả ông nội tôi cũng ghét. Họ coi tôn giáo là nguồn gốc sự khốn khổ của thế giới này - nó khiến con người cam chịu những vấn đề của họ. Rồi họ lại chuyển qua thờ tôn giáo khác. Nhưng em đâu muốn nghe chuyện này.”

“Em không phiền đâu. Thật tốt khi chúng ta tìm cách nhất trí. Trước khi có nước Israel, người Hồi giáo và Do Thái là anh em. Họ nằm bên lề thế giới Cơ Đốc giáo, bọn hề dị chủng mặc quần áo buồn cười chẳng giống ai, giải trí cho dân Cơ Đốc giáo an toàn trong sự giàu có của họ, trong làn da trắng như giấy của họ. Thậm chí có dầu hỏa rồi họ vẫn khinh miệt chúng ta, ngăn không cho các ông hoàng Saudi hưởng quyền mặc nhiên của dân tộc mình.”

Ông Levy lại thở dài nặng nề. “Cái ‘chúng ta’ mà em đã nghĩ ra thật là kỳ khôi, Ahmad.”

Giao thông vốn đã đông nghịt, càng thêm chậm lại và dày đặc. Các biển báo ghi BẮC BERGEN, SECAUCUS, WEEHAWKEN, ĐƯỜNG 495, ĐI ĐƯỜNG HẦM LINCOLN. Dù cậu chưa từng làm chuyện này trước đó, dù có hay không có Charlie, Ahmad đi theo các biển hiệu một cách dễ dàng, trong lúc đường 495, ở tốc độ thỉnh thoảng mới nhích một chút, uốn thành một đường vòng trọn vẹn, đưa dòng xe cộ xuôi theo vách đá Weehawken xuống mức ngang mặt sông. Cậu tưởng tượng giọng bên cạnh cậu nói, Dễ òm há, Madman. Đây đâu phải khoa học tên lửa.

Trên đường dốc xuống, những dòng xe khác từ các đường nhánh mé Nam và Tây được trút vào đường chính. Ahmad nhìn vượt qua những mui xe thấy nơi đến chung cuối cùng của chúng, một bề mặt công trình dài bằng đá màu hung nâu và những tấm gạch ốp trắng viền khung ba cổng vòm tròn, mỗi cổng hai làn xe. Một biển báo ghi XE TẢI BÊN PHẢI. Những chiếc xe tải khác - UPS nâu, Ryder vàng, xe tải không mui đủ kiểu của giới thương nhân, xe công ten nơ kêu phì phò rú rít trong khi ì ạch kéo tới trước những khối nông sản tươi sống khổng lồ của “Bang nhà vườn” New Jersey trên đường đến những nhà bếp ở Manhattan - tấp sang phải, chạy mỗi lần chỉ được chừng mét, rồi thắng lại.

“Giờ là lúc nhảy ra đây, thầy Levy. Chứ đã vào đường hầm rồi thì em không dừng lại được.”

Ông thầy tư vấn đặt hai tay lên cặp đùi mặc quần tây xám không đồng bộ của ông, để Ahmad thấy ông không định chạm vào cửa. “Tôi không nghĩ mình sẽ ra khỏi xe đâu. Chúng ta cùng chung số phận, con trai à.” Tư thế của ông thật can đảm, nhưng giọng ông khản đặc, yếu ớt.

“Em không phải con trai thầy. Nếu thầy cố lôi kéo người khác chú ý, em sẽ cho nổ tung xe ngay đây, trong chỗ kẹt xe này. Thế là không lý tưởng nhưng cũng giết được khối người.”

“Tôi dám chắc em sẽ không cho nổ. Em là đứa quá tốt. Mẹ em thường kể với tôi em không thể giẫm lên một con bọ. Em sẽ cố xúc nó vào miếng giấy rồi ném ra cửa sổ.”

“Có vẻ như mẹ em và thầy đã nói chuyện nhiều với nhau.”

“Tư vấn thôi. Cả hai ta đều muốn những điều tốt nhất cho em.”

“Em không thích giẫm lên lũ bọ, nhưng đụng vào chúng cũng không. Em sợ chúng cắn, hoặc ỉa vào tay em.”

Ông Levy bật cười theo kiểu dễ mích lòng; Ahmad vẫn khẳng định, “Côn trùng có thể ỉa - tụi em học được vậy trong môn sinh vật. Chúng có bộ máy tiêu hóa và hậu môn và mọi thứ, giống như chúng ta.” Đầu óc cậu đang chạy hết tốc lực, đang húc vào những giới hạn của chính nó. Bởi vì có vẻ như không còn thời gian để tranh cãi, cậu chấp nhận sự hiện diện của ông Levy bên cạnh cậu như một thứ gì đó phi vật chất, nửa thực nửa hư, giống như cảm giác cậu luôn luôn có rằng Thượng Đế gần bên cậu hơn một người anh em, rằng bản thân cậu là một bản thể song trùng chỉ mới mở ra phân nửa, giống như một cuốn sách với hai tập hợp trang được đóng lại với nhau, chẵn và lẻ, đọc và chưa đọc.

Thật ngạc nhiên, ở đây tại ba cái miệng (Manny, Moe và Jack) dẫn vào đường hầm Lincoln, có cây cối lớn và cỏ xanh: bên trên dòng giao thông kẹt cứng, khi cảnh sục sôi lộn xộn những đèn thắng và đèn xi nhan cứ chớp tắt liên tục, một bờ đất cao nuôi dưỡng một mảng cỏ tam giác xén tỉa cẩn thận. Ahmad nghĩ, Đây là khoảnh đất cuối cùng mình nhìn thấy, vạt cỏ nhỏ mà trước nay chưa từng có ai đứng trên đó hay cắm trại trên đó hoặc từng để ý tới với những con mắt sắp bị mù.

Vài ông bà mặc đồng phục xanh xám đang đứng bên lề dòng giao thông kẹt cứng, nhích từng phân một. Nhóm cảnh sát này có vẻ là những khán giả hòa nhã hơn là người giám sát, đang tán gẫu từng đôi và tắm trong ánh nắng mới rạng lại nhưng vẫn còn mờ sương. Đối với họ việc kẹt xe này xảy ra trong mọi ngày làm việc vào những giờ này, là một phần của tự nhiên giống như bình minh hay thủy triều hay những tái diễn không suy nghĩ khác trên hành tinh này. Trong đám cảnh sát ấy có một phụ nữ khỏe mạnh, chiếc mũ cô đội cho phép mái tóc sáng màu buộc lại lộ ra ở cổ và tai, bộ ngực cô đội lên sau túi áo đồng phục, với huy hiệu và dây đeo đạn; cô thu hút được hai ông mặc đồng phục, một da trắng một da đen, hàm răng họ phô ra trong nụ cười thèm muốn và thắt lưng họ nặng vũ khí lủng lẳng. Ahmad nhìn vào cái Timex của cậu: tám giờ năm mươi lăm. Bốn mươi lăm phút đã qua trên chiếc xe tải. Mọi chuyện sẽ kết thúc khoảng chín giờ mười lăm.

Cậu đã đưa xe vào làn phải, khéo léo sử dụng kính chiếu hậu để khai thác chút do dự nhỏ nhất của chiếc xe cạnh cậu. Đám kẹt xe, một hồi tưởng như không thể xuyên qua được, đã tự sắp xếp thành những làn đường dẫn vào hai đường hầm chạy về Manhattan. Bất ngờ Ahmad thấy chỉ còn có năm sáu xe tải nhẹ và xe du lịch nằm giữa cậu và lối vào đường hầm bên tay phải. Có một chiếc xe tải thuê U-Haul dài ba mét rồi tới một chiếc xe bán thức ăn ốp nhôm, cài kín và được chốt chặt chờ tới lúc nó mở quầy ra và khởi động bếp để cung cấp thức ăn cho đám đông xuề xòa trên lề đường, và một số xe hơi thường, gồm một chiếc Volvo bảy chỗ màu đồng trong đó là một gia đình zanj. Với một cái vẫy tay lịch sự Ahmad ra hiệu cho tài xế chen vào trước xe cậu và dãy xe đã hình thành.

“Em sẽ không qua được quầy soát vé đâu,” ông Levy cảnh báo cậu. Giọng ông nghe căng thẳng, như có một tên du côn đang từ phía sau ôm siết ngực ông. “Em trông quá trẻ khó mà được phép lái khỏi bang.”

Nhưng không có ai trong trạm nhỏ được xây cho người thu phí. Không có ai. Đèn xanh lóe lên E-Z PASS ĐÃ TRẢ TIỀN và Ahmad với chiếc xe tải trắng được phép vào đường hầm.

Ánh sáng bên trong lập tức kỳ lạ: những viên gạch ốp, không hoàn toàn trắng mà màu kem bệnh hoạn, tạo thành những bức tường kín bọc lấy dòng chảy đôi những xe tải và xe hơi. Tiếng động bị nén lại như thể tạo ra một tiếng vọng, một dòng ngầm làm cho tiếng vọng ấy hơi ẩm ướt, như thể vọng lại từ một khoảng cách đầy nước. Ahmad cảm thấy mình đã ở dưới nước. Cậu hình dung sức nặng đen ngòm của dòng sông Hudson trên đầu, bên trên trần hầm ốp gạch này. Ánh sáng nhân tạo bên trong đường hầm dư thừa nhưng không thanh tẩy được cậu; xe cộ di chuyển theo tốc độ chiếc chậm nhất qua thứ bóng tối bị tẩy trắng. Có xe tải, một số quá lớn đến độ mui công ten nơ có vẻ cạ vào trần hầm, nhưng cũng có những xe hơi du lịch trong cuộc chen lấn đẫm mùi sắt thép ở cửa hầm đã bị lẫn vào đám xe tải.

Qua kính chắn gió Ahmad nhìn xuống ô cửa sau chiếc Volvo V90 bảy chỗ màu đồng. Hai đứa bé ngồi quay mặt ra sau ngước nhìn cậu, hy vọng có gì tiêu khiển. Chúng ăn mặc không tùy tiện mà cùng thứ quần áo lòe loẹt một cách vờ vĩnh, bừa bãi một cách cố tình mà trẻ con da trắng thường mặc trong một chuyến đi chơi gia đình. Gia đình da đen này đang thoải mái thong dong, cho đến khi Ahmad vẫy tay ra hiệu cho họ chạy trước cậu vào trong hàng.

Sau một nỗ lực ban đầu, một đợt di chuyển êm xuôi vào khoảng trống mà sau cùng đã có được nhờ chỗ nghẽn bên ngoài đường hầm được giải tỏa, dòng giao thông bị cản lại bởi một chướng ngại hoặc rắc rối ngoài tầm nhìn nào đó phía trước. Việc đi tiếp suôn sẻ hóa ra là một ảo tưởng. Các tài xế đạp thắng, đèn thắng chói lòa. Ahmad nhận ra mình không phải không biết ơn việc chậm lại, kiểu dừng rồi đi, đi rồi dừng này. Thế dốc xuống của mặt đường, gồ ghề và mấp mô khác thường so với một bề mặt chưa bao giờ bị phơi dưới thời tiết, đe dọa sẽ đưa cậu và ông hành khách cùng khối hàng của họ đi quá nhanh về phía điểm thấp nhất của đường hầm, mà vượt qua bên kia sẽ là điểm yếu về lý thuyết, ở quãng hai phần ba, nơi cậu được dặn rằng đường hầm sẽ uốn cong và là chỗ yếu nhất. Ở đó cuộc sống của cậu sẽ chấm dứt. Một ánh lung linh giống như ảo ảnh nhiệt đã ám ảnh tâm trí cậu: mảng tam giác cỏ được chăm sóc kỹ nhưng chưa ai động đến treo bên trên miệng đường hầm kia giờ cũng treo lơ lửng trong tâm trí cậu. Cậu đã cảm thấy thương hại nó, bị bỏ mặc như thế.

Tằng hắng cổ họng khô khốc, cậu sử dụng giọng của mình. “Trông em không trẻ,” cậu giải thích với ông Levy. “Đàn ông có máu Trung Đông bọn em trưởng thành nhanh hơn người Anglo-Saxon. Charlie thường nói em trông như hai mươi mốt và có thể lái xe tải lớn mà không bị ai chặn lại.”

“Tay Charlie đó, anh ta nói nhiều quá,” ông Levy đáp. Giọng ông nghe có vẻ khó chịu, giọng rỗng tuếch của một ông thầy.

“Thầy có thích em đừng nói khi thời điểm tới gần không? Biết đâu, dù từ bỏ đạo, thầy vẫn muốn cầu nguyện.”

Một trong hai đứa bé ở ghế sau chiếc Volvo, đứa con gái có mái tóc dày bới lên thành hai cục tròn lạ lùng, giống đôi tai của con chuột hoạt hình ngày xưa rất nổi tiếng, đang cố thu hút sự chú ý của Ahmad bằng cách mỉm cười; cậu phớt lờ con bé.

“Không,” Levy nói, như thể ngay cả âm tiết đơn ấy cũng làm ông đau khi nói ra. “Cứ nói chuyện chơi. Hỏi tôi gì đó đi.”

“Shaikh Rashid. Người cung cấp tin của thầy có biết chuyện gì đã xảy ra với ông ấy, trong vụ phát hiện này không?”

“Hiện tại thì gã ta đã biến mất. Nhưng gã ta sẽ không trở lại Yemen được đâu, tôi hứa với em đó. Những tên khốn này không thể cứ chuyện gì rồi cũng thoát nạn hoài hoài như vậy được.”

“Tối qua ông ấy có đến gặp em. Dường như ông ấy có vẻ buồn. Nhưng lúc nào ông ấy lại chẳng có vẻ buồn. Em nghĩ sự hiểu biết của ông ấy mạnh mẽ hơn đức tin của ông ấy.”

“Và gã ta không nói cho em biết trò khỉ này đã kết thúc sao? Người ta tìm được xác Charlie từ sáng sớm hôm qua.”

“Không. Ông ấy cam đoan Charlie sẽ gặp em theo kế hoạch. Ông ấy chúc em điều tốt đẹp.”

“Gã ta để em gánh vác một mình.”

Ahmad nghe ra giọng điệu khinh bỉ liền khẳng định. “Em đang gánh vác tốt.” Cậu khoe khoang, “Sáng nay, có hai chiếc xe lạ ở bãi đỗ xe Excellency. Em thấy một ông nói với giọng đầy thẩm quyền vào điện thoại. Em thấy ông ta nhưng ông ta không thấy em.”

Trước sự thúc giục của đứa bé gái, thằng em trai cùng nó áp mặt vào kính xe với đôi mắt tròn xoe và cái miệng méo, để làm cho Ahmad cười, để được cậu lưu ý.

Ông Levy ngồi sụp trong ghế, hoặc giả vờ thản nhiên hoặc trốn xuống bên dưới những hình ảnh trong tưởng tượng của ông. Ông nói, “Nước Mỹ của em lại làm hỏng việc nữa hả. Bọn cảnh sát đang bận kiếm mấy tách cà phê, nói chuyện tiếu lâm mặn với nhau qua máy liên lạc nội bộ, ai biết được? Nghe này. Có một điều tôi cần nói với em. Tôi đã chịch mẹ em.”

Ahmad để ý thấy các bức tường gạch ốp ánh lên màu đỏ hồng khi phản chiếu quá nhiều đèn đuôi xe sáng lên khi người ta liên tục đạp thắng. Xe cộ nhấp tới trước chừng một mét, rồi lại thắng.

“Tụi tôi ngủ với nhau suốt mùa hè,” Levy nói tiếp khi Ahmad không trả lời. “Cô ấy thật tuyệt. Tôi không biết rằng mình vẫn còn yêu được ai lần nữa - lại hào hứng bốc lên.”

Ahmad nói với ông, sau khi nghĩ kỹ, “Em nghĩ mẹ em ngủ với người khác rất dễ dàng. Các hộ lý vốn đã quen với thân xác con người ta, và bà tự cho mình là con người hiện đại được giải phóng.”

“Vậy thì đừng có rầm rĩ về chuyện đó, em muốn nói với tôi như thế: vụ đó chẳng có gì quan trọng. Nhưng nó quan trọng với tôi. Cô ấy trở thành cả thế giới đối với tôi. Mất cô ấy, giống như tôi chịu một ca mổ lớn. Tôi bị tổn thương. Tôi uống quá nhiều. Em không hiểu được đâu.”

“Em không có ý xúc phạm, nhưng xin thầy hiểu cho,” Ahmad nói, có phần trịch thượng. “Em chẳng vui sướng gì khi tưởng tượng mẹ em giao cấu với một tay Do Thái.”

Levy cười to - một tiếng sủa thô lỗ. “Này, thôi nào. Tất cả chúng ta ở đây đều là người Mỹ. Mục đích là như vậy - bộ ở trường Trung tâm người ta không nói với em ý đó sao? Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Do Thái; có cả người Mỹ gốc Ả Rập nữa đấy.”

“Kể tên một người coi.”

Levy bất ngờ. “Omar Sharif,” ông nói. Ông biết giá như trong một tình huống ít căng thẳng hơn ông có thể nghĩ ra những người khác.

“Không phải người Mỹ. Thử lại đi.”

“Ưm - tên ông ấy là gì nhỉ? Lew Alcindor.”

“Kareem Abdul-Jabbar,” Ahmad sửa lại.

“Cảm ơn. Trước thời em xa lắc.”

“Nhưng là một người hùng. Ông ta đã vượt qua rất nhiều định kiến.”

“Tôi nghĩ đó là Jackie Robinson, nhưng đừng bận tâm.”

“Chúng ta đang đến gần điểm thấp nhất của đường hầm hả?”

“Sao tôi biết được? Rốt cuộc thì chúng ta đang đến gần mọi thứ. Đường hầm này không cho em nhiều chỉ dẫn đâu, một khi em đã ở trong này. Hồi trước thường có đám cảnh sát đứng dọc theo lối đi bộ, nhưng nay em không bao giờ thấy họ nữa. Đó là khía cạnh kỷ luật, nhưng tôi nghĩ đám cảnh sát cũng từ bỏ kỷ luật khi mọi người khác đều làm vậy.”

Dòng di chuyển tới trước bị dừng lại đã mấy phút rồi. Những xe hơi trước và sau lưng họ bắt đầu bấm còi inh ỏi; tiếng động này truyền dài theo những tấm gạch ốp giống như hơi thổi trong một nhạc cụ khổng lồ. Cứ như khoảng tạm dừng này cho họ thời gian rỗi vô tận, Ahmad quay sang hỏi Jack Levy, “Trong các nghiên cứu xưa nay của thầy, thầy có bao giờ đọc nhà thơ và triết gia chính trị Ai Cập Sayyid Qutub chưa? Ông ta đến Mỹ cách nay năm mươi năm và đã sốc trước nạn phân biệt chủng tộc và sự phóng đãng công khai giữa các giới tính. Ông ta kết luận rằng không dân tộc nào xa cách Thượng Đế và lòng mộ đạo bằng người Mỹ. Nhưng khái niệm jāhiliyya, nghĩa là tình trạng u mê tồn tại trước khi có Mohammed, cũng lan tới những người Hồi giáo trần tục và khiến họ trở thành mục tiêu hợp pháp cho việc giết người.”

“Nghe có vẻ hợp lý. Tôi sẽ đưa ông ta vào danh sách đọc thêm tùy chọn, nếu tôi còn sống. Tôi đã ký hợp đồng dạy giáo dục công dân trong học kỳ này. Tôi chán phải ngồi suốt ngày trong cái phòng kho cũ kỹ đó cố thuyết phục những đứa cáu kỉnh chống xã hội đừng bỏ học rồi. Cứ để chúng bỏ học, là triết lý mới của tôi.”

“Thưa thầy, em lấy làm tiếc phải nói thầy sẽ không còn sống. Trong vài phút nữa em sẽ thấy mặt Thượng Đế. Lòng em tràn ngập niềm mong đợi đó.”

Dòng giao thông trên làn đường của họ nhích tới trước. Hai đứa bé trên xe trước mặt đã phát chán việc cố lôi cuốn sự chú ý của Ahmad. Thằng nhóc em, đội chiếc mũ lưỡi trai đỏ và mặc áo nhái áo thi đấu của đội Yankees với những sọc rất mảnh, đã cuộn người ngủ thiếp trong cảnh xe chạy cà giật không ngừng, trong tiếng rít và tiếng phì phì của thắng xe tải giữa chốn Địa ngục ốp gạch của xăng dầu tinh chế đang bị hóa thành khí CO. Đứa bé gái, với hai bún tóc dày, một ngón cái nhét trong miệng, dựa vào em nó mà nhìn Ahmad đờ đẫn, không còn đòi hỏi được cậu lưu tâm nữa.

“Tới luôn. Đi gặp lão con hoang đó đi,” Jack Levy nói với cậu, thôi không sụp xuống mà ngồi thẳng lên, sự kích động đã xua màu tái mét khỏi hai má ông. “Đi mà xem khuôn mặt thối tha của Thượng Đế đi, tôi mặc kệ. Sao tôi phải quan tâm chứ? Một phụ nữ tôi say mê đã bỏ rơi tôi, công việc của tôi chán ngắt. Tôi thức dậy mỗi sáng lúc bốn giờ và không thể ngủ lại. Vợ tôi - Chúa ơi, thật quá buồn. Bà ấy thấy tôi buồn bã thế nào và tự trách mình, vì đã mập lên một cách lố bịch như thế, nên đã đi theo một chế độ ăn kiêng triệt để có thể giết bà ấy. Bà ấy đang khổ sở quá đỗi vì không ăn. Tôi muốn nói với bà ấy, ‘Beth, quên đi, không có gì đưa được chúng ta trở lại, như khi còn trẻ đâu.’ Không phải là chúng tôi từng là thứ gì đó khác thường. Chúng tôi đã có vài trận cười, chúng tôi thường làm cho nhau cười vui và tận hưởng những điều đơn giản, đi ăn ngoài với nhau mỗi tuần một lần, đi xem phim khi chúng tôi không quá mệt, thỉnh thoảng chúng tôi ăn một bữa dã ngoại ở mấy cái bàn cạnh con thác. Chúng tôi có một đứa con, tên nó là Mark, sống ở Albuquerque và chỉ muốn quên chúng tôi, mà ai có thể trách cứ nó chứ? Chúng tôi cũng y như vậy với bố mẹ chúng tôi - chạy khỏi họ thôi, họ chẳng hiểu gì cả, họ chỉ tổ khiến chúng ta xấu mặt. Tay triết gia đó của em, tên ông là gì nhỉ?”

“Sayyid Qutub. Đúng hơn là Qutb. Ông ta là người mà Shaikh Rashid, ông thầy trước đây của em, rất yêu thích.”

“Ông ta nói về Mỹ hay đấy. Chủng tộc, giới tính - chúng làm ta hoảng sợ. Một khi em cạn kiệt, nước Mỹ không cho em nhiều. Nó thậm chí không để cho em chết, các bệnh viện toàn là tận lực hút tiền từ Chương trình Chăm sóc Sức khỏe. Các công ty dược phẩm đã biến bác sĩ thành bọn lừa đảo. Việc gì tôi phải quanh quẩn chốn này cho đến khi thứ bệnh tật nào đó biến tôi thành con bò sữa cho một đám lừa đảo? Hãy để Beth hưởng được chút gì tôi có thể để lại cho bà ấy; tôi cảm thấy vậy đấy. Tôi đã trở thành một cái tội nợ trên thế giới này, thêm chật đất. Tới đi, ấn cái nút chó đẻ của em đi. Giống như gã trên chiếc máy bay ngày mười một tháng Chín đã nói với ai đó qua điện thoại di động, nó sẽ nhanh thôi.” Jack thò tay ngang người cậu vươn tới chỗ hộp kích nổ và Ahmad một lần nữa lại đưa tay chộp lấy tay ông.

“Làm ơn, thầy Levy,” cậu nói. “Đó là việc của em. Ý nghĩa chuyện này sẽ từ chiến thắng biến thành thất bại, nếu thầy làm thế.”

“Chúa ơi, em nên làm luật sư mới phải. Được rồi, đừng bóp tay tôi nữa. Tôi chỉ đùa thôi.”

Đứa bé gái trong chiếc xe trước mặt đã thấy cuộc vật lộn ngắn này, và sự thích thú của nó đã đánh thức thằng em. Bốn con mắt đen láy của chúng nhìn họ chăm chăm. Ở bên lề tầm nhìn của Ahmad, ông Levy đang lấy tay này chà xát nắm tay kia. Ông nói với cậu, có lẽ để làm dịu cậu bằng lời vuốt ve, “Hè này em mạnh hơn trước. Cuối cuộc nói chuyện của chúng ta em đã bắt tay tôi quá yếu ớt đến độ cứ như xúc phạm.”

“Phải, em không còn sợ Tylenol nữa.”

“Tylenol nào?”

“Một đứa cũng mới tốt nghiệp Trung tâm. Một thằng ác ôn ngu si đã chiếm một cô gái em thích. Và cũng thích em, dù dưới mắt cô ấy hẳn là em có vẻ kỳ cục lắm. Cho nên đâu chỉ thầy mới có những khó khăn về tình cảm. Đó là một trong những lỗi lầm nghiêm trọng của phương Tây ngoại giáo, theo những nhà lý luận Hồi giáo, khi biến một chức năng thú vật thành thần tượng.”

“Nói cho tôi biết về những trinh nữ đi. Bảy mươi hai trinh nữ sẽ chăm sóc em ở thế giới bên kia.”

“Thiên kinh Qur’an không định rõ con số những ḥūrīyyāt. Kinh chỉ nói rằng họ đông, mắt đen, có cái nhìn e ấp, và chưa từng bị đàn ông hay âm hồn chạm vào.”

“Lại âm hồn nữa! Ôi, Chúa ơi.”

“Thầy chế nhạo, mà không hiểu ngôn ngữ,” Ahmad cảm thấy cơn đỏ mặt đáng ghét lướt qua mặt cậu khi nói chuyện với người chế nhạo cậu, “Shaikh Rashid giải thích âm hồn và trinh nữ là biểu tượng của tình yêu Thượng Đế dành cho chúng ta, vốn ở mọi nơi, luôn luôn được làm mới và con người phàm trần không thể lĩnh hội trực tiếp được.”

“Đồng ý, nếu đó là cách nhìn của em. Tôi không tranh luận. Ta không thể tranh luận với một vụ nổ.”

“Thứ thầy gọi là một vụ nổ thì với em là một lỗ châm kim, một khe hở nhỏ đưa quyền năng của Thượng Đế vào thế giới này.”

Dù đã có vẻ giây phút đó sẽ không bao giờ đến trong dòng giao thông bị nghẽn, một cảm giác trải phẳng tinh tế và độ nghiêng hơi dốc lên của mặt đường hầm báo cho Ahmad biết rằng đã tới điểm thấp nhất, và đoạn cong của bức tường ốp gạch ở phía trước, có thể thấy thấp thoáng qua dãy dài lêu nghêu những thân xe tải, đánh dấu điểm yếu nơi khối vuông gồm những chiếc thùng nhựa được buộc thành kiện chặt chẽ, gọn gàng đến mức cuồng tín phải được kích nổ. Tay phải cậu rời khỏi vô lăng và quơ qua hộp kim loại màu nâu xám nhà binh, có lỗ sâu nhỏ nơi ngón cái của cậu sẽ khớp vào. Khi nhấn vào đó, cậu sẽ kết hợp với Thượng Đế. Thượng Đế sẽ bớt cảnh cô độc khủng khiếp. Người sẽ chào đón con như con trai của Người.

“Làm đi,” Jack Levy giục. “Tôi sẽ chỉ thư giãn thôi. Chúa ơi. Gần đây tôi quá mệt mỏi.”

“Thầy sẽ không phải chịu đau đớn gì hết.”

“Phải rồi, nhưng sẽ đau đớn cho rất nhiều người khác,” ông già trả lời, chìm người vào ghế. Nhưng ông không thể ngừng nói. “Thế này không giống như tôi đã hình dung ra.”

“Hình dung cái gì?” Tiếng vọng tự nó phát ra trong trạng thái trống rỗng và thanh sạch của Ahmad.

“Chết. Tôi luôn nghĩ mình sẽ chết trên giường. Có lẽ đó là lý do tôi không thích nằm trên đó. Giường ấy.”

Ông ta muốn chết, Ahmad nghĩ, Ông ta chọc giận mình để mình làm việc đó vì ông ta. Trong chương năm mươi sáu, Đấng Tiên tri nói về giây phút khi linh hồn người sắp chết lên tới tận cổ họng anh ta. Phút giây đó là đây. Chuyến hành trình, miraj. Con ngựa Buraq đã sẵn sàng, đôi cánh trắng lấp lánh của nó kêu sột soạt, sải rộng. Nhưng cũng trong Chương đó, “Biến cố,” Thượng Đế hỏi, Chúng ta đã tạo hóa các ngươi, nhưng tại sao các ngươi không chấp nhận sự thật? Thế, há các người có thấy cái mà các người đã cho xuất ra chăng? Phải chăng các người là vị đã tạo ra nó hay Chúng ta là Đấng Tạo hóa? Thượng Đế không muốn hủy diệt: chính Người đã tạo ra thế giới này.

Cấu trúc những gạch ốp tường và gạch lát bị ám đen khói thải của trần hầm - vô số những hình vuông lặp lại lùi xa dần như một tờ giấy kẻ ô khổng lồ cuộn vào một chiều thứ ba - nổ tung về phía ngoài trong trí tưởng của Ahmad theo mệnh lệnh Sáng thế lớn lao, những đợt sóng đồng tâm nối tiếp nhau, cái này xô cái kia ra xa xa mãi từ điểm hư vô ban đầu, bởi Thượng Đế đã định đoạt sự chuyển biến lớn lao từ không hiện hữu sang hiện hữu. Đây là ý muốn của Đấng Nhân từ, Đấng Khoan dung, ar-Raḥmanar-Raḥīm, Đấng Hằng sống, Đấng Kiên nhẫn, Đấng Rộng rãi, Đấng Vĩnh cửu, Đấng Chí minh, Đấng Dẫn đường. Người không muốn chúng ta mạo phạm sự sáng tạo của Người bằng việc sẵn lòng chết. Người muốn sự sống.

Ahmad đưa tay phải cậu trở lại tay lái. Hai đứa bé trong chiếc xe phía trước, được bố mẹ cho ăn mặc dễ thương và chải chuốt cẩn thận, được tắm rửa và nựng nịu mỗi đêm, nhìn về phía cậu một cách trịnh trọng, cảm nhận được điều gì đó thất thường trong sự tập trung của cậu, điều gì đó trái tự nhiên trong vẻ mặt cậu, lẫn trong ánh loang loáng trên kính chắn gió của cậu. Như để trấn an, cậu nhấc mấy ngón tay phải khỏi tay lái mà vẫy, giống như chân của một con bọ cánh cứng nằm ngửa. Sau cùng cũng được cậu lưu tâm, bọn trẻ cười, và Ahmad đành cười đáp lại. Cậu nhìn xuống đồng hồ tay: chín giờ mười tám phút. Giây phút để gây thiệt hại tối đa đã trôi qua; khúc cong trong đường hầm đang từ từ được kéo rộng dần thành một hình chữ nhật đầy ánh sáng ban ngày.

“Sao?” Levy hỏi, như thể ông không nghe thấy rõ câu trả lời của Ahmad cho nhận xét cuối cùng của ông. Ông ngồi thẳng dậy ra khỏi tư thế lờ đờ.

Bọn trẻ da đen, cũng cảm thấy được giải cứu, chơi trò nhăn nhó mặt mũi qua cửa sau của chiếc Volvo, dùng ngón tay kéo đuôi mắt xuống và thè lưỡi ra lúc lắc lia lịa. Ahmad cô mỉm cười lần nữa và lặp lại cử chỉ thân thiện vẫy vẫy những ngón tay nhưng rất yếu ớt; cậu cảm thấy mệt lử. Cái miệng sáng trưng của đường hầm mỏ rộng ra nuốt chửng cậu cùng chiếc xe tải và những bóng ma của nó; tất cả cùng nhau thoát ra ngoài trong ánh sáng chán ngắt nhưng rạng rỡ của một ngày thứ Hai nữa ở Manhattan. Bất cứ thứ gì vừa khiến cho giao thông trong đường hầm đình trệ như thế, kẹt cứng đến bực mình như thế, cuối cùng đã phân tán, đã biến mất trong một không gian rộng mở được lát phăng giữa những tòa chung cư có chiều cao khiêm tốn, những bảng quảng cáo ngoài trời, những nhà phố bằng gạch và, cách vài dãy nhà, những tòa nhà chọc trời lắp kính trông mỏng manh. Đây hoàn toàn có thể là một khu vô danh ở Bắc New Jersey; duy chỉ có cái bóng, ở tuốt đàng trước, của tòa nhà Empire State, đã trở lại là tòa nhà cao nhất ở New York, là cho biết không phải vậy. Chiếc Volvo màu đồng tăng tốc quẹo sang phải, phía Nam. Bọn trẻ bị hấp dẫn bởi khung cảnh thành phố lớn, chúng quay đầu qua lại, chẳng cho Ahmad lấy một cái vẫy tay tạm biệt. Cậu cảm thấy bị hắt hủi, sau khi đã hy sinh đến vậy vì chúng.

Ngồi cạnh cậu ông Levy nói “Ôi trời!” theo kiểu bắt chước học sinh trung học một cách ngu ngốc. “Tôi bị ướt hết rồi. Em đã thuyết phục được tôi.” Ông nhận thấy mình chọn không đúng giọng nên liền nói thêm, dịu dàng hơn, “Làm tốt lắm, anh bạn. Chào mừng đến với Big Apple.”

Ahmad đã giảm tốc độ và dừng lại, không hoàn toàn giữa khoảng trống rộng mênh mông này. Những xe hơi xe tải phóng thoát ra từ phía sau chiếc xe tải trắng đỗ lại phải lạng tránh và bấm còi inh ỏi; những kính cửa hông trượt xuống và những cử chỉ rủa xả phun ra. Ahmad nhận ra chiếc Mercedes xanh đen đang tăng tốc kia và mỉm cười nghĩ rằng bất chấp mọi nỗ lực tức tối để vượt qua, nó vẫn ở sau lưng cậu, cùng với người lái nó, kẻ trộm cắp tiền đầu tư đầy tự phụ và vô giá trị kia.

Jack Levy nhận ra rằng giờ đây ông đã làm chủ tình thế. “Như thế,” ông nói. “Câu hỏi trở thành, Giờ chúng ta làm gì? Hãy đưa chiếc xe này trở lại New Jersey. Họ sẽ vui mừng gặp lại nó. Và vui mừng gặp lại em, tôi rất tiếc phải nói thế. Nhưng em chưa hề phạm tội, tôi sẽ là người đầu tiên chỉ ra điều đó, trừ tội lái xe chở chất nguy hiểm ra khỏi bang với một giấy phép lái xe tải hạng C. Chắc là họ sẽ thu hồi bằng lái của em, nhưng thế cũng tốt. Dù sao việc giao hàng nội thất cũng không phải là tương lai của em.”

Ahmad cho xe chạy tới chút ít, để đỡ cản đường dòng xe, chờ hướng dẫn. “Thẳng tới trước, và quẹo trái khi có thể,” cậu được chỉ dẫn thế. “Tôi không muốn chui lại vào bất cứ đường hầm nào với em và thứ này, cảm ơn. Chúng ta sẽ đi qua cầu George Washington. Em có nghĩ là chúng ta nên gạt lại chốt an toàn không?”

Ahmad thò tay xuống, giờ thì cậu rất sợ làm xáo động thiết bị được cài đặt cẩn thận đó. Cần gạt nhỏ màu vàng vang lên tiếng cách; lượng chất nổ nặng nề vẫn im lặng. Ông Levy, nhẹ nhõm rằng mình vẫn còn sống, tiếp tục nói. “Quẹo trái chỗ đèn tín hiệu đằng kia, tôi nghĩ chắc là đại lộ 10. Tôi đang cố nhớ không biết xa lộ West Side có cho xe tải chạy không. Có thể chúng ta phải đi vào đại lộ Riverside Drive, hoặc cứ chạy tới Broadway và theo đường đó đến tuốt cây cầu.”

Ahmad để yên cho mình được hướng dẫn, quẹo trái. Con đường thẳng tắp. “Em lái xe giống một tay chuyên nghiệp,” ông Levy nói với cậu. “Cảm thấy ổn chứ?” Ahmad gật đầu. “Tôi biết em đang bị sốc. Tôi cũng vậy. Nhưng thực sự không có chỗ để đậu chiếc xe cũ sì này. Một khi đến được cầu thì gần như mình về tới nơi rồi. Nó quẹo vào đường 80. Chúng ta sẽ đi thẳng đến đồn cảnh sát, sau lưng Tòa Đô chính. Chúng ta sẽ không để cho bọn con hoang đó dọa dẫm chúng ta. Việc em đem chiếc xe tải này trở về toàn vẹn khiến bọn họ trông có vẻ giỏi giang, và nếu có một chút thông minh họ sẽ biết điều đó. Nó có thể đã là một thảm họa. Bất kỳ ai toan hăm dọa em, hãy nhắc cho chúng biết em đã bị một đặc vụ CIA lừa, trong một chiến dịch nằm vùng đáng ngờ về pháp lý. Em là một nạn nhân - một con dê tế thần. Tôi không nghĩ Bộ An ninh Nội địa lại muốn các chi tiết này được tiết lộ cho giới truyền thông, hoặc được mổ xẻ trong phòng xử án nào đó.”

Ông Levy im lặng qua một hai dãy nhà, chờ Ahmad nói điều gì đó, rồi tiếp, “Tôi biết nói điều này nghe có vẻ hơi sớm, nhưng tôi không nói đùa về chuyện em là một luật sư giỏi đâu. Em bình tĩnh trước sức ép. Em ăn nói giỏi. Trong những năm tới, người Mỹ gốc Ả Rập sẽ cần rất nhiều luật sư đấy. Ối chà. Tôi đoán chúng ta đang trên đại lộ 8, tôi cứ nghĩ chúng ta đã tới đại lộ 10. Cứ đi tiếp - đường này sẽ đưa chúng ta đến Broadway tại vòng xoay Columbus. Tôi nghĩ họ vẫn gọi nó bằng tên đó, dù gọi dân Ý mạt rệp là không đứng đắn về mặt chính trị nữa. Bến xe buýt Port Authority bên trái em - tôi chắc em đã tới đó một hai lần. Sau đó chúng ta sẽ băng qua phố 42. Tôi nhớ hồi trước nó là một chỗ bẩn thỉu thực sự, nhưng hình như tập đoàn Disney đã làm sạch nó.”

Ahmad muốn tập trung vào thế giới mới mẻ quanh cậu, giữa những chiếc taxi vàng và đèn giao thông và khách bộ hành tụm lại ở mỗi góc đường, nhưng ông Levy cứ nảy ra những ý tưởng mới. Ông ta nói, “Mối quan tâm của tôi là liệu cái khối chết tiệt đó đã được nối dây thật chưa, hoặc phải chăng phe ta đã làm được một cú hai mang và nó không được nối dây. Đó là lá bài tẩy của tôi, nhưng tôi chỉ vui khi không phải lật nó ra. Ơn Chúa là em đã co vòi.” Điều này chính ông cũng thấy có vẻ thô thiển. “Hoặc đã thuận tình, ta hãy nói vậy. Cuối cùng đã hiểu ra vấn đề.”

Quanh họ, theo đại lộ 8 đến Broadway, thành phố to lớn này lúc nhúc người, một số ăn mặc bảnh bao, nhiều người ăn mặc tồi tàn, vài người đẹp đẽ nhưng hầu hết thì không, tất cả đều bị những tòa nhà cao vút quanh họ làm thu nhỏ lại bằng cỡ côn trùng, nhưng chạy lon ton, vội vã, hăm hở trong ánh nắng sáng trắng đục này theo kế hoạch hoặc mưu đồ hoặc hy vọng nào đó mà họ ấp ủ trong lòng, lý do để họ sống thêm một ngày nữa, mỗi người trong bọn họ còn sống nguyên mà bị xiên vào đinh ghim ý thức, chuyên chú vào việc thăng tiến cá nhân và tự bảo tồn. Vậy, và chỉ vậy. Lũ ma quỷ này, Ahmad nghĩ, đã tước đi Thượng Đế của mình.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.