Ở Senlis ông tìm được chỗ trong xe linh mục trưởng tu viện dòng Cordelier ở Bruges, đi dự cuộc họp toàn thể các thầy tu trong dòng Cordelier ở Paris trên đường về. Vị linh mục này có vẻ học thức hơn so với ấn tượng toát lên từ y phục thầy tu mặc trên người. Ông ta tò mò quan sát con người và cảnh vật, không phải không đôi chút am hiểu nhân gian. Hai người bạn đường nhẩn nha trò chuyện, trong khi lũ ngựa lầm lũi chống lại gió buốt đồng bằng Picardie. Zénon không giấu gì linh mục ngoài tên thật và việc ông đang bị săn đuổi vì cuốn sách; vả lại linh mục tu viện trưởng tinh tế đến mức ta có thể tự hỏi không biết ông ta có đoán ra điều gì hơn về bác sĩ Sébastien Théus ngoài những gì ông ấy lịch sự để lộ cho ta thấy. Khi qua Tournai xe đi chậm lại vì có đám đông đi kín đường; hỏi chuyện mới biết họ đến quảng trường xem anh thợ may nào đó tên Adrian bị treo cổ vì tội theo Calvin. Vợ anh ta cũng là tội nhân, nhưng vì nếu để một mụ đàn bà lủng lẳng giữa trời, váy bay trên đầu khách qua đường thì không lịch sự cho lắm, nên theo tục cũ người ta chôn sống mụ. Sự ngu ngốc tàn bạo làm cho Zénon kinh hoàng, song ông đã ngăn ghê tởm đằng sau khuôn mặt vô cảm, tuân theo nguyên tắc là không bao giờ để lộ tình cảm về tất cả những gì dính dáng đến cuộc tranh cãi giữa Sách lễ và Kinh thánh. Nhẹ nhàng phản đối dị giáo, linh mục tu viện trưởng cho rằng hình phạt hơi tàn khốc, và ý kiến thận trọng này làm Zénon thấy ông bạn đường gần như quá đỗi xúc động, vì cử chỉ ôn hòa mà ta không thể hy vọng thấy ở một người có cả địa vị lẫn chiếc áo thầy tu như ông ta.
Xe lại đi giữa đồng quê, và linh mục trưởng tu viện nói sang chuyện khác, Zénon chắc rằng ông ta vẫn còn thấy nghẹt thở vì sức nặng từng xẻng đất. Bỗng ông nhớ ra rằng đã một khắc trôi qua, ông đau đớn cho nỗi sợ hãi của người đàn bà kia, chắc chị ta đã không còn biết sợ hãi nữa.
Họ đi dọc theo lưới sắt và hàng lan can khá tiêu điều của lãnh địa Dranoutre; khi qua nhà Philibert Ligre, vị linh mục tu viện trưởng kể rằng ở Bruxelles ông ta làm mưa làm gió tại Hội đồng cố vấn cho Bà Nhiếp chính mới, hay Bà Quản gia mới, bà ta đang trị vì xứ Hà Lan. Từ lâu nhà Ligre giàu có không sống ở Bruges nữa; Philibert và vợ gần như thường xuyên sống ở lãnh địa Pradelles ở Brabant, ở đó họ có thể hầu hạ các chủ nhân ngoại quốc tốt hơn. Sự khinh bỉ của một người yêu nước dành cho người Tây Ban Nha và những kẻ xung quanh hắn làm Zénon chăm chú lắng nghe. Xa hơn một chút, mấy lính gác Wallone đội mũ sắt và quần da chẽn đang ngạo nghễ hỏi giấy người đi đường. Ông linh mục xua chúng đi, mặt lộ vẻ khinh miệt, lạnh lùng. Chắc chắn có gì đó thay đổi ở Flandre. Trên quảng trường lớn ở Bruges, hai người chào từ biệt nhau và hẹn sẽ giúp đỡ nhau sau này. Linh mục tu viện trưởng cho xe chạy về tu viện, còn Zénon, hài lòng vì được động chân duỗi tay sau nhiều giờ bất động trong chuyến đi, xách hành lý trên tay. Ông ngạc nhiên vì đã về lại những phố trong thành phố này mà không gặp trở ngại nào. Nơi đây đã ba mươi năm ông chưa nhìn lại.
Ông đã báo trước về việc ông trở về cho Jean Myers. Người thầy cũ và đồng nghiệp của ông đã nhiều lần mời ông về cùng sống trong ngôi nhà ấm cúng ở Kè Gỗ Cũ. Đón ông ở ngưỡng cửa là một bà giúp việc, tay cầm đèn. Zénon ùa vào cửa, và đụng mạnh vào bà già to béo cáu kỉnh không tránh ra nhường lối cho ông.
Jean Myers đang ngồi trong ghế bành, đôi chân thống phong duỗi nhẹ trước lửa. Chủ nhà và khách đều khéo léo kìm nén một cử chỉ ngạc nhiên. Jean Myers khô khan nay đã biến thành một cụ già bé nhỏ béo mập, đôi mắt tinh anh và nụ cười ranh mãnh lẩn vào trong những nếp nhăn hồng hồng; Zénon tuấn tú ngày xưa nay là một người đàn ông mệt mỏi với đôi lông mày xám. Bốn mươi năm chữa bệnh, thầy thuốc ở Bruges này đủ có những thứ cần thiết để sống sung túc; đồ ăn thức uống ở nhà ông đầy đủ, thậm chí quá nhiều đối với chế độ ăn cho người bị bệnh gút chân. Bầ người hầu Catherine, ngày trước ông có chọc ghẹo chút đỉnh, là người thiển cận, nhưng chăm chỉ, trung thành, không hay chuyện và không chứa chấp trong bếp những thằng nịnh đầm ga lăng thích ăn ngon hay sành rượu. Jean Myers quen miệng nói những câu đùa ưa thích về giới tu sĩ và các giáo thuyết; Zénon nhớ ngày trước ông thấy chúng thật thú vị, song bây giờ chúng khá nhạt nhẽo; tuy nhiên, nghĩ lại số phận người thợ may Adrian ở Tournai, Dolet ở Lyon, và Servet ở Geneve, thâm tâm ông lại nhủ vào thời đức tin đưa con người ta đến chỗ điên rồ, thì một con người được trọng vọng theo chủ nghĩa hoài nghi dí dỏm như Jean đã là hiếm lắm rồi; còn ông, dấn bước xa hơn vào con đường phủ định tất cả, để từ đó xem xét liệu có thể khẳng định lại cái gì đó, phá đi tất cả để tất cả tái hiện lại dưới bình diện khác hay dưới lớp vỏ khác, ông thấy không còn có thể giễu nhạo dễ dãi như vậy được nữa. Trong con người Jean Myers, chủ nghĩa hoài nghi của một phẫu thuật gia-thợ cạo pha trộn một cách thật lạ kỳ với những điều mê tín. Ông già cay cú quyết tâm khám phá thuật giả kim, mặc dù những công trình của ông trong lĩnh vực này chỉ như trò chơi trẻ con; Zénon phải cố né không để bị cuốn vào những giải thích về ba bí thuật khó giải thích hay thủy ngân mặt trăng, vì không muốn dông dài ngay trong buổi hội ngộ đầu tiên. Trong nghề thuốc, ông già Jean chuộng cái mới, nhưng vẫn thận trọng sử dụng những phương pháp thông thường; ông hy vọng Zénon có bài thuốc đặc trị chữa khỏi bệnh thống phong cho ông. Còn về chuyện cuốn sách đang bị săn lùng, ông già không sợ tiếng đồn về cuốn sách sẽ phương hại đến tác giả của nó ở Bruges, kể cả khi bác sĩ Sébastien Théus có bị lộ gốc gác. Chẳng ai buồn giở sách của ông trong cái thành phố chỉ chăm chú theo dõi các vụ cãi cọ về tường ngăn hai nhà, và lo lắng nhìn cát lấn cảng, như người bị sỏi thận lo nghĩ về căn bệnh của mình.
Zénon duỗi dài người trên chiếc giường được chuẩn bị cho ông trong căn phòng trên gác. Đêm tháng Mười trời lạnh. Catherine bước vào, tay cầm miếng giẻ len gói viên gạch vừa được ủ trong lò. Khuỵu đầu gối xuống, bà nhét chiếc gói nghi ngút khói vào chăn, tay bà ta chạm bàn chân lữ khách, rồi mắt cá, và xoa một lúc lâu, rồi bất chợt, không nói lời nào, bà ta dội xuống cơ thể trần những vuốt ve thèm khát. Dưới ánh sáng mẩu nến đặt trên rương, khuôn mặt người đàn bà không có tuổi, không khác mấy so với khuôn mặt cô gái hầu bốn mươi năm trước đã dạy ông cách làm tình. Ông không ngăn bà nặng nề nằm xuống bên cạnh trong tấm chăn chần bông. Ông qua đêm với bà ta lãnh đạm, giống như ăn bánh hay uống bia, không ghê tởm cũng không hứng thú. Khi ông tỉnh dậy, bà ta đã chăm lo phận sự hầu hạ của mình ở dưới nhà.
Bà không ngẩng mặt nhìn ông trong cả ngày hôm đó nhưng chu đáo phục vụ ông trong bữa ăn, ân cần chất phác. Đêm đến ông gài then cửa, và nghe những bước chân nặng nề đi xa sau khi đã tìm cách tháo chốt cố không gây tiếng động. Ngày hôm sau bà ta đối với ông không khác hôm trước; có vẻ như mụ đã đặt được sự tồn tại của mình lên ông một lần thành mãi mãi như lên một đồ vật, như đồ đạc và dụng cụ nấu bếp trong nhà bác sĩ. Hơn một tuần sau, do đãng trí, ông quên gài then cửa: bà bước vào với nụ cười ngây thơ, tốc cao váy để thấy rõ giá trị những đường nét hấp dẫn. Cử chỉ lố bịch này có cái lý của nó. Chưa bao giờ ông chứng kiến sức mạnh nguyên sơ của bản thân da thịt, hoàn toàn độc lập với con người, với gương mặt, với những đường nét cơ thể, thậm chí độc lập với khoái cảm nhục dục. Người đàn bà thở hổn hển trên gối ông là một Lemure, một Lamie, một trong những giống cái ác mộng mà người ta nhìn thấy trên nóc nhà thờ, có lẽ gần như đủ biết nói tiếng người. Đang trong khoái cảm, nhưng một tràng những lời tục tĩu thoát lên từ đôi môi dày, như bong bóng sủi, những từ ông không có dịp nghe lại hay sử dụng bằng tiếng flamand từ thuở còn mài đít trên ghế nhà trường; thế là ông lấy mu bàn tay che miệng bà lại. Buổi sáng hôm sau, sự ghê tởm nổi lên, ông tự trách mình đã thỏa hiệp với mụ ta như người ta trách mình đã bằng lòng ngủ đêm trên chiếc giường đáng ngờ trong quán trọ. Ông không bao giờ quên đóng kín cửa vào mỗi tối nữa.
Ông chỉ định ở lại nhà Jean Myers thời gian cần thiết để cho tan cơn bão dấy lên từ cuốn sách bị thu hủy. Nhưng đôi khi ông cảm giác sẽ sống ở Bruges cho đến cuối đời, hoặc là thành phố này là bẫy sập đã được đào cho ông ở cuối những chuyến du hành, hoặc là một thứ gì đó tựa như sức ì cản trở ông ra đi. Ông già liệt Jean Myers giao cho ông vài người bệnh ông ta đang theo dõi; số bệnh nhân ít ỏi không làm các thầy thuốc khác trong thành phố ham muốn như ở Bâle nơi Zénon đã làm các đồng nghiệp giận ứ người khi công khai dạy dỗ một đám sinh viên. Lần này, quan hệ với đồng nghiệp chỉ giới hạn ở những lần thăm hỏi hiếm hoi trong đó ngài Théus luôn ngả theo ý kiến những người cao tuổi nhất hay nổi tiếng nhất một cách lịch sự, hoặc chỉ nói vài câu ngắn gọn về mưa gió, hay vài sự kiện xảy ra trong vùng. Khi gặp bệnh nhân, tất nhiên là câu chuyện xoay xung quanh người bệnh. Nhiều người trong số này chưa bao giờ nghe nói đến cái tên Zénon, còn với một số khác nó chỉ mang máng lẫn trong những tiếng đồn trong quá khứ. Triết gia, trước đây đã từng dành một cuốn sách nhỏ nói về vật chất và các đặc tính của thời gian, nay có thể chứng kiến cát bụi thời gian nhanh chóng nhấn chìm ký ức con người. Ba mươi năm lẽ ra phải là nửa thế kỷ. Những lề thói và luật lệ hồi ông còn đi học được coi là mới mẻ và bị lên án thì nay người ta nói rằng chúng luôn luôn tồn tại. Những sự kiện hồi đó làm rung chuyển thế giới thì nay người ta không nhắc đến nữa. Những người chết cách đây hai mươi năm đã bị lãng quên nhầm lẫn với những người trước đó một thế hệ. Người ta vẫn còn nhớ một vài kỷ niệm về ông già Ligre giàu nứt đố đổ vách; song họ cãi nhau không biết ông ta có một hay hai con trai. Nhà ấy cũng có một thằng cháu, hay một thằng con hoang của Henri-Juste, về sau thằng ấy chẳng ra gì. Bố ông chủ ngân hàng trước kia được coi là Thống đốc kho bạc ở Flandre, như con trai bây giờ, hoặc là báo cáo viên tại hội đồng cố vấn Bà Nhiếp chính, như ngài Philibert. Nhà Ligre, đã lâu không ai ở, tầng dưới cho thợ thuê; Zénon đi thăm lại xưởng ngày xưa là lãnh địa của Colas Gheel; ông chú ý đến một sợi dây thừng. Không ai trong số thợ còn nhớ đến anh chàng cứ uống vài vại bia là lú lẫn nhưng dù sao trước khi xảy ra cuộc nổi loạn ở Oudenov và vụ treo cổ người bạn nối khố đã từng là người đầu trò và là một vương công theo cách của mình. Linh mục phụ tá Bartholomé Campanus vẫn sống, nhưng ít ra ngoài, đã tật nguyền do tuổi tác, và, may sao, Jean Myers không bị mời đến chữa bệnh cho ông ta. Tuy vậy Zénon vẫn thận trọng tránh nhà thờ Saint-Donatien, ở đó thầy giáo cũ của ông vẫn tham dự những buổi lễ trên ghế ngăn trong dàn nhạc.
Cũng vì thận trọng, ông nhét tấm bằng đại học Montpellier vào một cái tráp của Jean Myers, vì trên đó ghi rõ tên thật của ông, và chỉ giữ trong tay tấm giấy da tình cờ mua được của một bà góa lang băm người Đức tên Gôt. Và để đánh lạc dấu tích cho thật kỹ, ông đổi cái tên đó sang tiếng Hy lạp-Latinh để thảnh Théus. Cùng Jean Myers, ông bịa ra xung quanh con người không quen biết này một tiểu sử lờ mờ và tầm thường giống như một căn nhà chỉ có mỗi một tác dụng là có thể ra vào nhiều cửa. Để cho giống, ông thêm vào đó những sự kiện của chính đời ông, được chọn lựa kỹ lưỡng, sao cho chúng không làm ai ngạc nhiên hay quan tâm, mà nếu người ta có hỏi, thì cũng chẳng phải giải thích dài dòng thêm. Bác sẽ Sébastien Théus sinh ra ở Zutphen trong địa hạt tòa giám mục Utrcht, là con ngoài giá thú của một cô nông dân với một người thầy thuốc người Bresse phục vụ tại lâu đài Nữ hoàng Margueritte nước Áo. Được dạy dỗ ở Cleves nhờ tiền bảo trợ của một người muốn giấu tên, đầu tiên ông định vào tu viện dòng Augustin ở thành phố này, nhưng rồi không cưỡng nổi ý muốn theo nghiệp bố; ông đã học qua trường Đại học Ingolstadt, rồi Strasbourg, và đã làm nghề chữa bệnh một thời gian ở đó. Một đại sứ Savoie đưa ông về Paris và Lyon, nên ông cũng có biết chút ít nước Pháp và triều đình. Quay về Vương quốc, ông định lập nghiệp ở Zutphen, nơi bà mẹ phúc hậu vẫn đang sống, nhưng, dù không nói ra, song chắc hẳn là đã có chuyện không hay với bọn người theo dõi cái tôn giáo tự cho là cải cách bây giờ đang đầy rẫy ở đó. Đến lúc này vì cuộc sống ông đã nhận lời Jean Myers làm suất thế chân ông già, trước kia Jean đã quen biết bố ông ở Malines. Ông cũng cần phải làm phẫu thuật gia trong quân đội cơ đốc giáo của Vua Ba Lan, nhưng ông đẩy thời gian phục vụ sớm lên mười năm. Cuối cùng, ông có bà vợ đã chết là con gái một thầy thuốc ở Strasbourg. Mỗi lần kể đến câu chuyện cổ tích này, vả lại ông chỉ kể qua loa khi có những người tò mò hỏi, là ông già Jean Myers rất khoái. Nhưng đôi khi triết gia thấy cái mặt nạ vô nghĩa của bác sĩ Théus dính chặt trên mặt ông. Cuộc đời tưởng tượng này hoàn toàn có thể thành đời thật của ông. Một hôm ai đó hỏi ông có bao giờ gặp một người tên Zénon trong những chuyến đi của mình không, ông đã trả lời là không mà gần như không phải nói dối.
Dần dà, trong không gian màu xám của chuỗi ngày đơn điệu lồi lên những khoảng chìm khoảng nổi, hay những điểm mốc hiện rõ dần. Mỗi tối, vào lúc ăn súp, Jean Myers kể tường tận chuyện trong nhà những người Zénon đi thăm sáng hôm đó, những chuyện hài hay bi, bản thân chúng thì tầm thường, nhưng chúng lôi ra những thủ đoạn trong thành phố mơ hồ ngủ, cũng nhiều như thủ đoạn ở Hậu cung Vua Thổ, những trụy lạc không kém gì các nhà chứa thành Venise. Dăm ba tính khí và tư chất trồi lên trên những cuộc đời mờ nhạt của những kẻ trục lợi những người quản lý tài sản nhà thờ; nhiều phe cánh thành lập, cũng giống như ở mọi nơi, chúng dựa trên nền tảng là thói hám lợi hay mánh khóe, cùng chung sùng kính một thánh, có chung những nỗi đau hay những khiếm khuyết. Những nghi ngờ của các ông bố, những trò dại dột của bọn trẻ, những cãi cọ gắt gỏng của các đôi vợ chồng già không khác gì mấy so với những gia đình ở Vasa hay ở hoàng gia Ý, song điều đối nghịch là vụ việc tuy nhỏ bé nhưng vẫn làm cho người trong cuộc bị cuốn vào những tình cảm mạnh mẽ nhất. Những cuộc đời nói với nhau làm triết gia thấy đó chính là cái giá phải trả cho sự tồn tại không gắn bó. Họ có những suy nghĩ như suy nghĩ của con người: những suy nghĩ ấy nhanh chóng quy về một loại như đã được định từ trước; người ta hình dung ra ngay những ai sẽ gán mọi tội lỗi cho bọn không tín ngưỡng hay cải cách, và Bà Nhiếp chính luôn có lý trước mắt ai. Lẽ ra có thể kết thúc lời nói của họ, và bịa ra vào vị trí của họ những lời nói dối về chủ đề tệ nạn kiểu Ý mà người ta đã mắc phải khi còn trẻ, tránh né hoặc phớt lờ khi ông đòi những khoản tiền công của Jean Myers bị quên. Ông dám cược, mà không bao giờ nhầm lẫn, những gì sẽ được phát ra từ những đôi môi như khuôn bánh kẹp đó.
Nghịch lý thay, nơi duy nhất trong thành phố ông thấy dường như có cháy một ngọn lửa tự do tư tưởng chính là căn phòng linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier. Ông đã tới thăm ông ta với danh nghĩa bạn bè, rồi nhanh chóng thành bác sĩ riêng. Những chuyến viếng thăm thưa thớt, vì cả hai đều không có nhiều thời gian. Khi ông thấy cần phải đi xưng tội, Zénon chọn linh mục tu viện trưởng là người nghe sám hối cho mình. Vị tu sĩ này rất hà tiện những lời thuyết giáo sùng đạo. Nghe vốn tiếng Pháp tuyệt vời của ông ta, đôi tai thường xuyên kề cận thứ bột nhão flamand dịu lại. Hai người trò chuyện về mọi sự, trừ đức tin, nhưng họ nói nhiều nhất đến chuyện đời sống công cộng là thứ người chuyên giảng đạo này rất quan tâm. Có quan hệ khăng khít với một vài đức ông đang tìm cách chống lại những chuyên chế bạo tàn của kẻ ngoại bang, ông ta đồng tình với việc ấy, nhưng lại sợ một cuộc tắm máu sẽ diễn ra trên đất nước Bỉ. Khi Zénon nói lại với Jean những tiên liệu này, ông già nhún vai: bao giờ chả thế, những kẻ thấp cổ bé họng nai lưng ra để những người có thế lực ngồi mát ăn bát vàng. Song ông già cũng tức tối khi người Tây Ban Nha kia nói đến việc thiết lập những suất thuế mới đánh vào thực phẩm, và mỗi người sẽ phải chịu thêm một phần trăm thuế.
Thường mãi đến khuya Sébastien Théus mới trở về ngôi nhà ở Kè Gỗ Cũ, vì ông thích làn không khí ẩm trên phố và những cuộc tản bộ dài bên những cánh đồng màu xám hơn là ngồi trong căn phòng khách quá nóng giữa bốn bức tường. Một tối, vào mùa trời đêm xuống sớm, khi đi qua tiền sảnh, ông thấy Catherine đang giở xem mấy tấm ga trong hòm ở dưới cầu thang, bà không dừng tay thắp đèn cho ông như mọi khi, để lợi dụng chỗ quành hành lang lén cọ sát vào tà áo măng tô của ông. Trong bếp, lờ sưởi cũng tắt. Zénon dò dẫm châm nến. Thi thể vẫn còn ấm của Jean Myers được đặt ngay ngắn trên chiếc bàn phòng bên, Catherine bước vào, trong tay cầm tấm ga đã chọn để liệm xác.
- Ông chủ bị đột quỵ, - bà nói.
Trông bà giống người chuyên làm nghề rửa xác chết phủ khăn đen mà ông đã nhìn thấy trong các ngôi nhà ở Constantinople khi ông còn phục vụ Sultan. Ông không quá ngạc nhiên trước cái chết của Jean Myers. Bản thân ông già Jean cũng chờ thời điểm bệnh thống phong ăn vào tim. Vài tuần trước, dưới sự chứng kiến của một công chứng viên trong xứ đạo, ông già đã làm bản di chúc bao bọc bằng những lời sùng kính như thường lệ trong đó ông để lại của cải của mình cho Sébastien Théus, và để lại cho Catherine một phòng dưới mái nhà cho đến lúc bà qua đời. Triết gia nhìn gần hơn gương mặt bị co giật và phồng lên của xác chết. Một mùi đáng ngờ và một vết màu nâu ở khóe môi đã đánh thức sự ngờ vực trong ông; ông trèo lên phòng mình lục hòm. Chất nước trong chiếc lọ mỏng mảnh đã vơi hơn một ngón tay. Zénon nhớ là vào buổi tối nào đó ông đã cho ông già xem thứ hỗn hợp gồm nọc rắn và độc dược thực vật mà ông đã mua được trong một hiệu thuốc ở Venise. Có tiếng động yếu ớt làm ông quay đầu lại; Catherine đang quan sát ông, đứng trên ngưỡng cửa, như bà ta chắc hẳn đã rình ông qua cánh cửa bếp, khi ông khoe với thầy những thứ lượm lặt được qua các chuyến đi. Ông nắm lấy tay bà; bà khuỵu xuống, lắp bắp nói một tràng lẫn lộn trong tiếng khóc:
- Voor u heb ik het gedaan! - Tôi đã làm như vậy vì ông, bà nhắc lại giữa hai tiếng nấc.
Ông gạt mạnh bà ta ra và xuống xem xác chết. Theo cách của mình, ông già Jean đã nếm trải cuộc đời một cách thông thái; những đau đớn ông phải chịu không quá tàn bạo đến mức không cho ông an hưởng cuộc sống êm ái trên chiếc ghế bành trong vài tháng nữa: có thể đến một năm, hai năm nếu mọi sự tốt lành. Tội ác ngu ngốc này tước đoạt của ông một cách vô lý cái thú vui nhỏ mọn là được sống trên thế giới này. Ông già bao giờ cũng chỉ muốn điều tốt cho ông: Zénon thấy chua chát và thương cảm mãnh liệt cho ông già. Ông tức giận và thất vọng tột cùng trước kẻ đầu độc, có thể người bị hại cũng không cảm thấy đến mức như vậy. Jean Myers vốn luôn có tài khéo chuyển những chuyện ngu ngốc của thế giới này thành một câu chuyện cười; chuyện người hầu gái trụy lạc nhăm nhe làm giàu cho người đàn ông không bận tâm đến bà ta chắc chắn sẽ được kể thành một giai thoại ra trò nếu ông còn sống. Ông nằm kia, bình yên ngủ trên bàn, dường như ở nơi xa trăm dặm, ít nhất thì phẫu thuật gia-thợ cạo đang chế nhạo những ai vẫn tưởng tượng là mình suy nghĩ hay đau đớn, khi chân không còn bước và dạ dày không còn tiêu hóa.
Ông già được chôn cất trong giáo khu Saint-Jacques nơi ông sống. Từ đám tang trở về, Zénon nhận thấy Catherine đã chuyển mấy gói quần áo và đồ chữa bệnh của ông sang phòng ông chủ; bà đốt lò sưởi và sửa soạn cho chiếc giường lớn rất kỹ. Không nói gì, ông bê mấy thứ đồ về căn phòng nhỏ ông đã ở từ khi mới đến. Ngay sau khi nhận được quyền sở hữu, ông đã gạt bỏ hết những gì ông được hưởng bằng văn bản có công chứng, trao chúng cho nhà thương làm phúc cũ Sanit-Cosme, trên phố Longue, nằm sát nhà dòng Cordelier. Ở thành phố này những nhà giàu ngày xưa không còn nhiều nữa, hiếm khi người ta cúng cho nhà thờ; ngài Théus hào phóng liền được người ta rất mực kính phục, như ông đã tính. Căn nhà của Jean Myers từ giờ sẽ là nơi nương náu của các cụ già tàn tật; Catherine ở đó làm người hầu. Tiền mặt sẽ được dùng để chữa một phần nhà thương làm phúc Saint-Cosme đã đổ nát, trong những phòng còn tàm tạm, linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier, người cai quản bệnh viện này, giao cho Zénon dựng một trạm xá dành cho người nghèo trong khu phố và cho nông dân vẫn đổ lên thành phố vào những ngày chợ phiên. Một lần nữa vị trí này lại quá ít vẻ vang để thu hút sự ghen tức từ các đồng nghiệp đổ xuống đầu bác sĩ Théus; lúc này chiếc tổ vẫn còn chắc chắn. Con la già của Jean Myers được đưa về chuồng ngựa ở Saint-Cosme, và lão làm vườn trong tu viện được giao việc chăm sóc nó. Người ta dựng một chiếc giường cho Zénon trong một phòng trên gác, ông chuyển về đó một phần sách vở của nhà phẫu thuật-thợ cạo; vào bữa ăn người ta mang đồ từ nhà ăn lên cho ông.
Suốt mùa đông ông bận bịu với việc thay đổi sắp xếp chỗ ở; Zénon thuyết phục linh mục tu viện trưởng để ông dựng một phòng tắm hơi theo mốt Đức, ông cho ông ta đọc một vài ghi chép về cách chữa trị bệnh thấp khớp và giang mai bằng hơi nóng. Kiến thức cơ khí giúp ông dựng đường ống và sắp xếp cái lò cho rẻ tiền. Ở phố Hàng Len có một xưởng rèn trong chuồng ngựa cũ nhà Ligre; tối đến Zénon đến đó, ông giũa, hàn, dập, hỏi thêm ông chủ lò và đám giúp việc. Bọn con trai trong khu phố, thường tụ họp ở đó để giết thời gian, trầm trồ trước những ngón tay gầy gò khéo léo của ông.
Chính trong thời kỳ không biến động này lần đầu tiên ông bị nhận ra. Ông ngồi một mình ở phòng thuốc, như mọi khi sau khi hai tu sĩ đã đi về; đó là ngày chợ phiên, và dòng người nghèo thường lệ vẫn chưa dứt từ nửa đêm. Ai đó gõ cửa; đó là một bà lão cứ thứ bảy lại lên thành phố bán bơ, bà đến xin ông đơn thuốc chữa chứng đau dây thần kinh tọa. Zénon tìm trên giá một lọ sành có chứa thứ thuốc chuyển máu công hiệu mạnh. Ông tiến lại gần phía bà lão để giải thích cách dùng. Bỗng nhiên ông thấy trong đôi mắt màu xanh đã nhạt phai kia biểu thị sự ngạc nhiên vui mừng làm cho đến lượt ông cũng nhận ra bà. Người đàn bà này đã làm việc nấu nướng cho nhà Ligre, vào lúc ông còn bé xíu. Greete (ông đột nhiên nhớ ra tên bà) đã cưới anh hầu dẫn cậu về nhà sau lần trốn nhà đầu tiên. Ông nhớ ra bà rất tốt với ông khi ông trốn giữa đống xoong nồi tô bát; bà để ông lấy bánh nóng trên bàn và bột sống chuẩn bị đưa vào lò. Bà lão suýt kêu lên, ông đặt ngón tay lên môi. Già Greete có một con trai làm nghề đánh xe và thỉnh thoảng buôn hàng lậu qua bên giới Pháp; ông già khốn khổ của già, giờ đây gần như bị liệt, đã rời khỏi nhà chủ vì tội để mất mấy túi táo ở vườn cây cạnh trang trại của họ. Bà lão biết đôi khi cần ẩn mình, ngay cả khi người ta giàu có và cao quý, loại người mà bà vẫn xếp Zénon vào. Bà im lặng, song khi ra về, bà hôn tay ông.
Sự việc này lẽ ra phải làm Zénon lo lắng, vì nó chứng minh cho ông thấy ông rất dễ bị nhận ra lần nữa giống như thế; song ngược lại ông cảm thấy một niềm vui làm chính ông phải ngạc nhiên. Ông chắc chắn nhủ thầm là ở nơi kia, gần tường thành phố, mạn Saint-Pierre-de-la-Digue, có trang trại nhỏ nơi ông có thể nương náu trong trường hợp nguy hiểm, và có một anh đánh xe, chiếc xe và ngựa của anh ta có thể hữu ích. Nhưng đó chỉ là những cớ ông tự nêu ra cho mình. Đứa trẻ mà ông đã không nghĩ tới nữa, cái sinh vật trẻ con đã từng là ông hòa lẫn, theo nghĩa trừu tượng, vào Zénon bây giờ, có người vẫn còn nhớ tới nó để có thể nhận ra nó trong ông, và tình cảm về sự tồn tại của chính ông được củng cố bội phần. Giữa ông và một con người có mối liên hệ, dù rất mỏng manh, không phải về trí tuệ, như trong mối quan hệ của ông với linh mục tu viện trưởng, cũng không như những tiếp xúc da thịt hiếm hoi mà ông cho phép mình làm. Già Greete gần như tuần nào cũng đến để chữa những chứng bệnh do già lão; nhưng già không quên mang theo một món quà, chút bơ gói trong lá bắp cải, một góc bánh già tự làm, chút đường phèn, hay nắm hạt giẻ. Bà lão nhìn ông ăn bằng đôi mắt ấm áp. Giữa họ có tình thân thiết xuất phát từ một bí mật được giữ kín.