Kẻ Khủng Bố

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv

❊ ❊ ❊

Maurice, chú của Charlie và là em trai của Habib Chehab, hiếm khi từ Florida đến, nhưng cái nóng và ẩm ướt của Miami vào tháng Bảy và tháng Tám đã đẩy ông ta lên phía Bắc trong hai tháng đó. Ông ta tới lui nhà Habib ở Pompton Lakes và thỉnh thoảng cũng xuất hiện ở công ty Nội thất Excellency, nơi Ahmad gặp ông ta - một người rất giống anh trai mình, chỉ to con và trang trọng hơn, thường mặc những bộ đồ vải sọc sần, mang giày da trắng, áo sơ mi và cà vạt được phối màu hơi quá lộ. Ông ta trang trọng bắt tay Ahmad trong lần đầu họ gặp nhau, và cậu trai có một cảm giác không thoải mái rằng mình đang bị đánh giá, bởi đôi mắt thận trọng hơn mắt của Habib, thậm chí còn có nhiều vàng hơn trong đó, và kém nhanh chóng chuyển thành vẻ lấp lánh của niềm thích thú. Hóa ra ông ta là em trai, dù ông ta có phong thái tự tin của một người làm anh. Là con một, Ahmad bị mê hoặc bởi tình anh em - những thuận lợi và bất lợi của nó, phẩm chất của việc được nhân đôi theo nghĩa nào đó nhờ có nó. Giá cậu may mắn có một người anh em trai, Ahmad sẽ cảm thấy bớt cô đơn, có lẽ, và bớt dựa vào Thượng Đế mà cậu luôn mang theo, trong mạch máu và trong suy nghĩ. Bất cứ lúc nào ông ta và Ahmad gặp nhau trong cửa hàng, người đàn ông dẻo quẹo, bệ vệ trong bộ đồ màu nhạt này đều dành cho Ahmad một cái gật đầu khẽ cười như muốn nói, Tôi biết cậu, chàng trai trẻ. Tôi đi guốc trong bụng cậu.

Những đồng đô la giao cho bốn gã đàn ông trong căn nhà nhỏ ở khu Upper Shore mà Ahmad thoáng thấy vẫn vương vấn trong đầu cậu như một thứ gì đó dự phần vào thế lực siêu nhiên, cái vô biên không hình dáng đã hạ cố, bằng ý chí không lường được của riêng Nó, len vào cuộc sống của chúng ta. Cậu tự hỏi liệu mình có dám thú nhận khám phá ấy với Charlie không. Charlie có biết những thứ nằm trong cái ghế đôn nệm dày đó không? Bao nhiêu món đồ nội thất khác họ đã giao và thu mua có chứa thứ tương tự trong những hộc rỗng và khe hở? Và nhằm mục đích gì? hơi hướm bí ẩn của những sự kiện được tường thuật trên báo chí, những nhan đề bài báo mà cậu chỉ lướt qua, về bạo lực chính trị ở đâu khác và bạo hành gia đình ở địa phương, và trong những bản tin hằng đêm mà cậu bấm qua khi nhảy lướt các kênh trên chiếc tivi Admiral cổ lỗ của mẹ cậu.

Cậu đã mắc thói quen tìm kiếm trên tivi những dấu vết của Thượng Đế trong xã hội ngoại giáo này. Cậu xem những cuộc thi sắc đẹp trong đó những cô gái răng trắng da sáng bóng, cùng với một hai thí sinh da màu dự thi cho có, tranh nhau hớp hồn tay dẫn chương trình bằng tài hát múa và những biểu hiện thường xuyên mà vội vã tỏ lòng biết ơn Thượng Đế vì những ân sủng họ nhận được, những ân sủng mà họ có ý định dâng tặng, khi những ngày ca hát trong bộ đồ tắm của họ đã hết, cho đồng loại dưới hình thức những nghề cao quý như bác sĩ, nhà sư phạm, nhà nông học, hoặc sự nghiệp thánh thiện nhất là nội trợ. Ahmad phát hiện một kênh Cơ Đốc giáo đặc thù dẫn chuyện bởi những ông trung niên, giọng trầm, mặc những bộ vest có màu sắc khác thường, với ve áo rộng, lấp lánh, đang từ lối nói tu từ hoa mỹ (“Bạn đã sẵn sàng tiếp nhận Jesus chưa?” họ hỏi, và “Bạn có đón lấy Jesus trong tim bạn chưa?”) bỗng bất ngờ chuyển sang kín đáo lả lơi với đám khán giả nữ trung niên, nếu không thì bỗng búng ngón tay, chuyển về lại hát. Âm nhạc Cơ Đốc giáo làm Ahmad thích thú, nhất là những ca đoàn hát nhạc Phúc âm trong những chiếc áo chùng óng ánh, những phụ nữ da đen mập mạp nhún nhảy và uốn éo với một độ hăng hái mà có lúc vẻ như giả tạo nhưng vào lúc khác, khi ca đoàn tiếp tục hát, có vẻ như được khơi gợi đích thực từ bên trong. Đám phụ nữ huơ cao tay theo tiếng hát và vỗ tay theo kiểu lắc lư dễ lây lan truyền cả tới những người da trắng có mặt rải rác ở đó, bởi, giống như thể thao và tội phạm, đây là một lĩnh vực thuộc kinh nghiệm Mỹ nơi những người có nước da sậm đương nhiên chiếm thế thượng phong. Ahmad biết, qua những lời nói bóng gió khô khan, cười nửa miệng của Shaikh Rashid, về trạng thái đê mê và cuồng nhiệt của phái thần bí Sufi từng là căn bệnh của thế giới Hồi giáo thời xa xưa, nhưng không tìm thấy dù chỉ một tiếng vọng yếu ớt của nó trong những kênh Hồi giáo được phát đi từ Manhattan và thành phố Jersey - chỉ năm lần loan báo giờ cầu nguyện được phát kèm với một đoạn ảnh tĩnh về đại thánh đường Mohammed Ali trong thành Saladin ở Cairo, và những hội đồng giáo sư và giáo sĩ Hồi giáo đeo kính nghiêm trang thảo luận về cơn điên bài Hồi giáo đang dai dẳng ám ảnh phương Tây ngày nay, và những bài thuyết giáo do một thầy tế đội khăn xếp ngồi tại chiếc bàn trơ trụi rao giảng, được truyền lên sóng từ một máy quay cố định giữa một trường quay hoàn toàn không có ảnh tượng.

Chính Charlie là người khơi ra đề tài này. Ngày nọ trong buồng lái xe tải, khi họ đi qua một vùng trống trải khác thường ở Bắc New Jersey, giữa một nghĩa trang trải rộng và một góc còn sót lại của khu đầm lầy Meadow - cỏ đuôi chồn và sậy lá sáng bám rễ trong nước lợ - anh ta hỏi, “Có gì khiến cậu lo nghĩ vậy, Madman? Gần đây cậu có vẻ lặng lẽ.”

“Tôi thường vẫn lặng lẽ, không phải vậy sao?”

“Phải, nhưng lần này khác. Thoạt tiên là kiểu lặng lẽ ‘Cho tôi xem nào’, giờ thì nó là kiểu lặng lẽ ‘Có chuyện gì thế?’ ”

Ahmad không có nhiều bạn trong cuộc đời này đến độ cậu dám liều mất một người. Không thể rút lui từ ngã ba đường này được nữa, cậu biết; cậu chẳng có mấy chỗ để lui về. Cậu nói với Charlie, “Mấy ngày trước, khi đi giao hàng một mình, tôi thấy có chuyện kỳ lạ. Tôi thấy mấy ông moi hàng nắm tiền từ chiếc ghế đôn nệm dày mà tôi giao tới khu Shore.”

“Họ mở nó ra trước mặt cậu à?”

“Không. Tôi chạy xe đi, rồi bò trở lại và nhìn vào cửa sổ. Cung cách của họ khiến tôi nghi ngờ, và tò mò.”

“Cậu biết sự tò mò đã làm gì con mèo chứ?”

“Đã giết nó. Nhưng sự vô tri cũng rất tai hại. Nếu lo việc giao hàng, tôi phải biết mình giao cái gì chứ.”[1]

“Tại sao phải thế, Ahmad?” Charlie nói, giọng gần như nhân hậu. “Tôi đã nghĩ cậu thuộc loại không muốn biết nhiều hơn mức cậu có thể xử lý. Thật sự thì chín mươi chín phần trăm những đồ đạc cậu giao chỉ là đồ đạc mà thôi.”

“Nhưng ai là một phần trăm may mắn nhận được phần thưởng thêm?” Ahmad cảm thấy một sự tự do căng thẳng, vì bây giờ ngã ba đường đã trôi qua. Nó giống như, cậu hình dung, sự giải tỏa và ý thức trách nhiệm mà một người đàn ông và một người đàn bà cảm thấy khi lần đầu họ cởi quần áo trước mặt nhau. Charlie cũng có vẻ cảm thấy điều này; giọng anh ta nghe có vẻ nhẹ nhàng hơn, bớt đi một mức giả vờ.

“Người may mắn đó,” anh ta nói, “là những người có đức tin.”

“Họ tin vào thánh chiến à?” Ahmad đoán.

Charlie diễn đạt lại một cách cẩn thận: “Họ tin vào hành động. Họ tin rằng có thể làm được điều gì đó. Rằng người nông dân Hồi giáo ở Mindanao không nhất thiết phải chết đói, rằng trẻ em Bangladesh không phải bị chết đuối, rằng dân làng ở Ai Cập không cần bị mù vì bệnh sán máng, rằng người Palestine không cần bị trực thăng Israel oanh kích, rằng người ngoan đạo không cần ăn cát và cứt lạc đà trong thế giới này trong khi bọn Quỷ vương mập ú lên nhờ đường và thịt heo và dầu mỏ bị ép giá. Họ tin rằng hàng tỉ tín đồ Hồi giáo không nhất thiết phải bị hư hỏng mắt, hư hỏng tai, hư hỏng linh hồn bởi những trò giải trí độc hại của Hollywood và chủ nghĩa đế quốc kinh tế tàn nhẫn mà trong đó vị Thượng Đế Thiên Chúa-Do Thái giáo chỉ là một thần tượng mục nát, một chiếc mặt nạ tầm thường che đậy nỗi tuyệt vọng của bọn vô thần.”

“Tiền đó từ đâu ra vậy?” Ahmad hỏi, khi những lời của Charlie - xét cho cùng không khác gì lắm so với bức tranh thế giới mà Shaikh Rashid vẽ ra một cách bóng bẩy hơn - đã tuôn ra hết. “Và những người nhận làm gì với nguồn tiền đó?”

“Tiền đó,” Charlie nói với cậu, “là của những người yêu Allah, cả trong lẫn ngoài nước Mỹ. Hãy nghĩ bốn ông đó là những hạt giống được gieo xuống đất, và tiền là nước để giữ cho đất ẩm, để một ngày nào đó hạt sẽ nảy mầm và đơm hoa. Allāhu akbar!”

“Có phải tiền đó đến đây cách nào đó thông qua chú Maurice không?” Ahmad gặng hỏi. “Hình như ông ấy đến đây là mọi thứ khác đi, dù ông ta coi thường chuyện làm ăn hằng ngày của cửa hàng. Và ông bố tử tế của anh - ông ta dự bao nhiêu phần vào toàn bộ vụ này?”

Charlie bật cười, một cách trìu mến; anh ta là đứa con trai đã lớn vượt xa cha mình nhưng vẫn tôn trọng ông bố, như Ahmad đối với ba của cậu. “Này, cậu là ai vậy, CIA hả? Cha tôi là một người nhập cư cổ lỗ, trung thành với hệ thống đã nhận ông ấy vào và để cho ông ấy phất lên. Nếu ông biết tí nào chuyện tôi với cậu đang bàn, ông sẽ tố cáo chúng ta với FBI.”

Ahmad với vị thế mới của mình cố đùa một câu: “Họ sẽ nhanh chóng làm thất lạc báo cáo đó.”

Charlie không cười. Anh ta nói, “Những bí mật mà cậu vừa moi được ở tôi rất quan trọng. Đó là chuyện sinh tử đấy Madman. Hiện tôi đang tự hỏi không biết mình có phạm sai lầm không khi nói hết với cậu chuyện này.”

Ahmad tìm cách để giảm thiểu những gì đã xảy ra giữa họ. Cậu nhận ra rằng mình đã nuốt thứ kiến thức mà cậu không thể nhả ra lại được. Kiến thức là tự do, nó được ghi ngay mặt tiền của trường Trung tâm. Kiến thức cũng có thể là nhà tù, không có lối ra một khi đã bước vào. “Anh không phạm sai lầm. Anh đã nói với tôi rất ít. Anh đâu phải người dẫn tôi đi trở lại cửa sổ để thấy người ta đếm tiền. Có rất nhiều cách giải thích cho số tiền đó. Lẽ ra anh có thể phủ nhận không biết gì về nó, và tôi cũng sẽ tin anh.”

“Tôi đã có thể phủ nhận,” Charlie thừa nhận. “Đáng lẽ tôi nên vậy.”

“Không. Vậy sẽ đưa sự dối trá vào giữa hai chúng ta, thay cho sự tin cậy.”

“Vậy cậu phải nói với tôi điều này: cậu có về phe tụi tôi không?”

“Tôi về phe những ai,” Ahmad nói một cách chậm rãi, “đứng về phía Thượng Đế.”

“OK. Vậy là tốt. Hãy im lặng như Thượng Đế về chuyện này. Đừng nói với mẹ cậu. Đừng nói với bạn gái cậu.”

“Tôi không có bạn gái.”

“Đúng rồi. Tôi đã hứa làm gì đó về vụ đó, đúng không?”

“Anh nói tôi cần phải nếm mùi đời.”

“Đúng rồi. Tôi sẽ lo vụ đó.”

“Đừng, xin đừng. Đó không phải việc của anh.”

“Bạn bè phải giúp đỡ nhau chứ,” Charlie nhất quyết. Anh ta choàng tay qua bóp chặt vai chàng tài xế trẻ, và Ahmad không hoàn toàn thích điều đó; nó gợi cậu nhớ đến cú siết đầy hăm dọa của Tylenol lần đó trong hành lang trường trung học.

Chàng trai trẻ tuyên bố, với vẻ chững chạc đàn ông mà cậu mới có được, “Một câu hỏi nữa, rồi sau đó tôi sẽ không nói gì cho đến khi nghe nói trước về những vấn đề này. Có kế hoạch nào đang tiến triển không, với những hạt mầm đang được tưới nước đó?”

Ahmad thuộc những biểu hiện trên nét mặt của Charlie quá rõ đến độ cậu không cần phải liếc qua mới thấy đôi môi cao su của người đàn ông này chuyển động cứ như đang tìm hiểu hình dạng hàm răng của chính mình, và rồi nặng nề thả ra thành tiếng thở dài cường điệu đầy vẻ bực bội. “Như tôi nói đó, lúc nào cũng có một loạt dự án đang được xem xét, và chúng tiến triển thế nào thì hơi khó tiên đoán. Thiên kinh nói gì, Madman? Và người Do Thái mưu định, và Allah cũng hoạch định. Và Allah là Đấng hoạch định siêu việt.”

“Trong những hoạch định này, liệu tôi có được đóng một vai nào không?”

“Có thể. Cậu muốn không, nhóc?”

Một lần nữa, Ahmad cảm thấy đã tới một ngã ba, và một cánh cổng đóng lại sau lưng cậu. “Tôi tin là mình muốn.”

“Cậu tin thôi sao? Cậu phải quyết hơn thế chứ.”

“Như anh nói, những biến cố lẻ tẻ thì không dễ tiên đoán. Nhưng các tuyến thì rõ rồi.”

“Các tuyến gì?”

“Chiến tuyến. Quân của Quỷ vương đấu với quân của Thượng Đế. Như Thiên kinh khẳng định, Sự quấy nhiễu nghiêm trọng hơn giết chóc.”

“Đúng. Đúng,” Charlie đồng ý, và vỗ đùi như thể để thức tỉnh mình, ở đó trên ghế cạnh tài xế. “Tôi thích câu đó. Nghiêm trọng hơn giết chóc.” Anh ta là một người vui tính và lắm mồm bẩm sinh, nãy giờ thật khó cho anh ta phải giữ bộ mặt nghiêm trang mà nói chuyện với Ahmad như hai người đàn ông đi qua nghĩa trang nơi một ngày nào đó họ có thể nằm lại. “Một điều cần nhớ,” anh ta nói thêm. “Một ngày kỷ niệm sắp đến, vào tháng Chín. Và những người ra quyết định - các vị tướng của chúng ta, có thể nói vậy - có một ý thích cổ lỗ về những dịp kỷ niệm hằng năm.”

Jacob và Teresa đã làm tình xong và kéo ga giường đắp lên thân thể trần truồng của họ. Gió thổi qua cửa sổ phòng ngủ của chị mát lạnh. Tháng Chín đang đến gần; những chiếc lá vàng đơn lẻ, giống như những đốm lửa cô đơn, nổi lên giữa tán lá xanh đìu hiu. Cả hai, ông ngẫm nghĩ sau khi tắm ấm trong da thịt chị, đều cần mất đi vài ký. Da chị, chỗ không có tàn nhang, hầu như quá nhợt nhạt, giống như da con búp bê nhựa trừ việc nó lún xuống dưới ngón cái của ông, để lại một vết lõm hồng chậm tan đi. Vẻ lùng nhùng, lỏng lẻo của hai cánh tay và vùng ngực đầy lông của ông làm ông đau khổ; ở nhà tấm gương trong phòng tắm cho ông thấy cặp vú đàn ông nhăn nhúm đã bắt đầu dẩu ra, và bụng ông bên dưới hai chóp xoáy lông quăn đen đã thêm một ngấn mới. Trên ngực ông, sợi lông nào bạc thì đều không quăn, dựng đứng giống như những cọng râu côn trùng ngo ngoe: thứ lông người già.

Terry nép vào người ông, cái mũi hếch của chị dúi vào nách ông. Tình yêu của ông dành cho chị trào lên bên trong ông giống như bước khởi đầu của cơn buồn nôn.

“Jack này...” chị thì thào.

“Cái gì?” giọng ông nghe thô lỗ hơn ý định.

“Cái gì làm anh buồn thế?”

“Anh không buồn,” ông nói. “Anh được em chơi ngon lành. Em làm ngon thật đấy. Anh tưởng bộ khung già nua của anh sắp ra bãi phế thải rồi, nhưng em làm cho mấy bugi này bùng cháy. Em thật tuyệt vời, Terry.”

“Dẹp trò lừa phỉnh đó đi, như ba em thường nói. Anh chưa trả lời câu hỏi của em. Tại sao anh buồn?”

“Có lẽ anh đang nghĩ, sắp tới Lễ Lao động. Mình sẽ khó hẹn hò nhau hơn.” Ông đã học được cách diễn tả những khó khăn của ông trong việc nói dối vợ mà không đề cập đến tên Beth, cái tên Terry ghét nghe, vì một lý do nào đó mà ông không nắm bắt nổi. Nếu sự thật bị phơi bày, Beth là kẻ ghen tuông và phẫn nộ thì mới đúng.

Terry ngửi ra ngay ý nghĩ đó của ông. “Anh sợ Beth phát hiện ra chứ gì,” chị nói với vẻ khinh miệt. “Nếu bà ấy biết thì sao nào? Bà ta đi đâu bây giờ? Ai muốn có bà ta, trong cái hình hài như vậy?”

“Đó là cái chính à?”

“Không phải sao? Vậy cái chính là gì, cưng? Nói em nghe coi.”

“Không làm người khác đau khổ chăng?” ông đề nghị.

“Anh nghĩ em không đau sao? Anh nghĩ bị chơi và bị bỏ mặc liền sau đó là không đau sao?”

Jack thở dài. Cuộc chiến xảy ra, vẫn cuộc chiến đó. “Anh rất tiếc. Anh mong được ở với em nhiều hơn.” Nhưng thực ra, rút lui trước khi thấy chán mới hợp ý ông. Phụ nữ có khi chán ngắt. Họ xem mọi chuyện đều vì cá nhân họ. Họ đắm đuối trong việc bảo toàn mình, trình diễn mình, bi thảm hóa chính mình. Với đàn ông, ta không phải liên tục vòng tránh, bạn chỉ đấm. Đối phó với phụ nữ giống như nhu thuật, phải đề phòng ngáng chân.

Chị cảm thấy dòng suy nghĩ đáng ngại của ông, liền nói, xoa dịu cho dù cục cằn, “Đằng nào chắc bà ấy cũng đoán ra được.”

“Làm sao đoán được?” Dù dĩ nhiên là Terry nói đúng.

“Phụ nữ luôn biết,” chị nói với ông một cách ngạo mạn, huênh hoang về phái nữ của mình, trong khi rúc sát vào ông hơn, và mân mê đến bực mình đám lông trên cái bụng ỏng nhão nhoẹt của ông. Chị nói, “Em cứ thầm nhủ, ‘Bớt yêu anh ấy đi. Vì lợi ích của bản thân mình, gái à. Cũng vì lợi ích của anh ấy nữa.’ ”

Nhưng giữa khi Terry nói điều này, chị cảm thấy một sự trôi chuội bên trong và thoáng nhận thấy chị có thể nhẹ nhõm thế nào nếu ông thực sự trở nên ít quan trọng hơn với chị - nếu mối quan hệ sơ sài của chị với ông giáo viên tư vấn già nua rầu rĩ này trên thực tế sẽ kết thúc. Ở tuổi bốn mươi chị đã chia tay chẳng ít đàn ông, và có bao nhiêu người trong số đó chị sẽ đồng ý quay lại? Mỗi lần gãy đổ, chị hồi tưởng lại, có vẻ như chị lại quay về cuộc sống đơn thân với một sự trực diện và hăm hở tươi mới, tựa như đối mặt với tấm vải bạt đã sơn lót, căng, trống rỗng sau mấy ngày xa rời giá vẽ. Vòng tròn đứt đoạn của chị, luôn mở một cung trong niềm hy vọng cú điện từ một người đàn ông nào đó, một tiếng gõ cửa, một sự xâm nhập hoặc biến đổi từ bên ngoài, sẽ khép lại lần nữa. Ông Jack Levy này, thông minh như vậy, nhiều khi thậm chí nhạy cảm, là một trường hợp nặng nề. Một nỗi u sầu Do Thái ăn năn đè nặng ông, và cũng sẽ đè nặng chị, nếu chị để cho nó đè. Chị cần ai đó gần cỡ tuổi chị hơn, và chưa có gia đình. Những người đàn ông có vợ này luôn hóa ra có vợ hơn mức họ lộ ra ban đầu. Thậm chí họ cố tìm cách cưới chị, mà không buông người vợ hợp pháp trước đã.

“Ahmad ra sao?” ông hỏi chị, theo kiểu cứ như bậc cha.

Ông luôn hỏi chị về Ahmad, dù về phía chị mà nói thì chị muốn rời bỏ việc làm mẹ sang một thứ gì đó mà chị làm tốt hơn. “Hồi này em thường trực đêm,” chị nói, “còn nó lái xe giao hàng đến tối mịt nhiều ngày, mẹ con em khó mà gặp mặt nhau. Mặt nó đầy đặn hơn và người nó nở nang hơn, nhờ việc bốc hàng - tay Charlie mà nó rất thích chỉ có mặt đi cùng nó cho vui, theo như em biết. Đám dân Li Bàng này, họ vắt những người giúp việc tới từng xu một. Mấy người da đen họ thuê cứ bỏ đi hoài, Ahmad có lần nói vậy. Gần đây có vẻ họ thăng cấp cho nó - ít nhất nó cũng về nhà muộn hơn và, vài lần em thấy, có vẻ lơ đãng vì chuyện gì đó.”

“Lơ đãng?” Jack nói, chính ông cũng lơ đãng - ưu tư về Beth bự, chắc chắn rồi. Hãy chấp nhận đi: cho dẫu chị sẽ nhung nhớ tới đâu những lời tán tụng của Jack khi họ tới nước ấy, nhưng rũ được ông thì quả là thoát nợ. Có lẽ chị cần một người nghệ sĩ khác, cho dù người đó có giống cái gã gần đây nhất, Leo: Leo chết nhát, cực kỳ tự phụ, một kẻ chỉ biết vẩy rắc sơn rồi quét quẹt, mô phỏng theo Pollock nhưng trễ hơn đến sáu mươi năm, sẵn sàng xô đẩy hay tát chị những khi anh ta hết e dè nhờ rượu hay ma túy đá, nhưng ít ra anh ta chọc cho chị cười được và không cô gán mặc cảm tội lỗi cho chị, khi ngụ ý anh ta có thể làm mẹ của Ahmad tốt hơn chị. Hoặc có lẽ chị nên hẹn hò với một bác sĩ nội trú, giống như anh chàng ma mới nhỏ con có tật nói lắp sắp trở thành bác sĩ phẫu thuật thần kinh; nhưng hãy thừa nhận rằng, giờ chị đã quá già đối với một bác sĩ nội trú, và dù sao họ cũng luôn gạt bỏ những hộ lý họ chơi qua đường mà theo đuổi con gái ông bác sĩ chuyên ngành ruột. Tuy vậy, chỉ ý nghĩ về thế giới đàn ông rộng lớn, ngay cả ở lứa tuổi chị, thậm chí ở Bắc New Jersey, cũng đủ làm tim chị chai cứng trước người đàn ông bốc mùi ôi thiu, có hảo ý một cách chán ngắt, rầu rĩ này. Chị quyết định bỏ ông lại sau lưng.

“Kín đáo,” chị nói rõ. “Có lẽ nó đã có bạn gái. Em hy vọng thế. Chẳng phải với nó là quá chậm rồi ư?”

Jack nói, “Bọn trẻ ngày nay có nhiều thứ để lo lắng hơn chúng ta. Ít nhất là hơn anh - anh không nên nói như thể tụi mình cùng tuổi.”

“Ồ, cứ nói tiếp. Không sao đâu.”

“Không chỉ là bệnh AIDS các thứ; còn có một sự khao khát nào đó hướng tới, anh không rõ nên nói thế nào, hướng tới cái tuyệt đối, khi mọi thứ chỉ là tương đối như vậy, và mọi thế lực kinh tế đều đang ép chúng phải chọn cách thỏa mãn tức thì cùng với nợ thẻ tín dụng. Không chỉ là cánh hữu Cơ Đốc giáo - Ashcroft và cuộc họp khôi phục đức tin buổi sáng của ông ta ở Washington. Ta thấy nó trong Ahmad. Và khối Hồi giáo da đen. Khi mọi chuyện không còn đơn giản, con người muốn quay lại sự đơn giản - đen và trắng, đúng và sai.”

“Thế thì con trai em thuộc loại đầu óc đơn giản.”

“Theo một cách nào đó. Nhưng hầu hết loài người đều thế. Nếu không, làm người sẽ thật khó khăn. Không như những động vật khác, chúng ta biết quá nhiều. Chúng, những loài động vật khác, biết chỉ đủ để làm xong việc và chết. Ăn, ngủ, đụ, đẻ, rồi chết.”

“Jack, mọi thứ anh nói đều nghe nản lòng quá. Đó là lý do anh buồn như thế.”

“Anh chỉ nói rằng những đứa giống như Ahmad cần có thứ gì đó mà chúng không có được từ xã hội nữa. Xã hội không để chúng được ngây thơ nữa. Bọn Ả Rập khùng nói đúng - chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa hư vô, chúng ta chỉ đưa ra được có thế. Hãy lắng nghe ca từ của các ngôi sao nhạc rock và rap - chúng cũng chỉ là bọn trẻ, có những tay quản lý khôn ngoan. Bọn trẻ phải đưa ra nhiều quyết định hơn ngày trước, bởi vì người lớn không thể chỉ bảo chúng những gì cần làm. Chúng ta không biết phải làm gì, chúng ta không có những câu trả lời như ta từng có; chúng ta chỉ ào ào làm chuyện ngốc nghếch, cố đừng suy nghĩ. Không ai nhận trách nhiệm, vì thế bọn trẻ, một số đứa, nhận lấy nó. Ngay tại chỗ rác rưởi như trường Trung tâm, nơi mà cấu trúc dân số tạo bất lợi cho toàn bộ số người trong trường, em vẫn nhận thấy điều đó - ước mơ được làm điều đúng, làm người tốt, tham gia một thứ gì đó - quân đội, đội nhạc diễu hành, băng đảng găng tơ, đội đồng ca, ban cán sự lớp, thậm chí Hướng đạo sinh. Lãnh đạo đám Hướng đạo sinh, các tu sĩ, họ chỉ muốn phang bọn trẻ, hóa ra vậy, nhưng bọn trẻ cứ tìm đến, hy vọng có được chút chỉ dẫn nào đó. Trong các hành lang, khuôn mặt chúng làm thắt tim ta, chúng tràn trề hy vọng, muốn trở nên tốt, muốn có ý nghĩa gì đó. Chúng mong đợi một thứ gì đó từ chính chúng. Đây là nước Mỹ, tất cả chúng ta đều mong đợi điều gì đó, ngay cả bọn tâm thần phản xã hội cũng tự ngưỡng mộ mình theo kiểu nào đó. Em biết cuối cùng chúng trở thành gì không, những thằng bé cá biệt tồi tệ nhất ấy? Cuối cùng chúng trở thành cớm và thầy giáo trung học. Chúng muốn làm xã hội hài lòng, dù chúng nói chúng không muốn. Chúng muốn trở nên đáng trọng, nếu chúng ta có thể nói với chúng đáng trọng là gì.” Bài thuyết giảng của ông, phát ra bằng giọng lầm bầm vội vàng, cáu kỉnh từ trong bộ ngực đầy lông của ông, bỗng dao động: “Cứt thật, quên những gì anh vừa nói đi. Đám thủ lãnh Hướng đạo sinh và tu sĩ không chỉ muốn phang chúng; họ cũng muốn làm người tốt. Nhưng họ không thể, mông đít của bọn trai nhỏ đó quá khêu gợi. Terry, nói cho anh biết: tại sao anh cứ nói hoài như vầy?”

Sự trôi chuội bên trong chị làm chị tỉnh trí: “Có lẽ bởi vì anh cảm giác được đây là cơ hội cuối cùng của anh.”

“Cơ hội cuối cùng của anh để làm gì?”

“Để thổ lộ về bản thân anh với em.”

“Em đang nói gì vậy?”

“Jack, thế này không tốt. Nó đang làm tổn thương cuộc hôn nhân của anh và cũng không ích lợi gì cho em. Thoạt tiên thì có đấy. Anh là người tuyệt vời - chỉ có điều không phải là người cho em. Sau một số tên khốn mà em đã tiếp xúc thì anh là một ông thánh. Em nói thật đấy. Nhưng em phải đối phó với thực tế, em phải nghĩ đến tương lai em. Cả Ahmad cũng đi rồi - cái nó cần ở em chỉ là một ít thức ăn trong tủ lạnh.”

“Anh cần em, Terry.”

“Anh vừa cần vừa không cần. Anh nghĩ tranh của em là thứ vớ vẩn...”

“Ồ, không. Anh yêu tranh của em. Anh thích chuyện em có thêm chiều kích nữa. Chỉ cần Beth...”

“Chỉ cần Beth có thêm một chiều kích nữa, bà ấy sẽ làm lủng sàn nhà luôn.” Chị cười ầm trước hình ảnh đó trong khi ngồi dậy trên giường, để bộ ngực mình nẩy thoát khỏi tấm chăn, nửa trên đầy tàn nhang, phân nửa có núm vú không bị ánh nắng chạm tới bất chấp bao nhiêu đàn ông khác đã đặt môi và ngón tay lên đó.

Chất Ireland trong cô ấy, ông nghĩ. Đó là điều ông yêu, đó là những gì ông không thể thiếu. Tính sôi nổi, đốm lửa ngang ngạnh của thói điên khùng mà người ta có được nếu họ bị trấn áp đủ lâu - người Ireland có nó, người da đen và người Do Thái có nó, nhưng nó đã chết trong ông. Ông muốn trở thành diễn viên hài nhưng ông đã trở thành một người thi hành luật không biết đùa của một hệ thống không tin vào chính nó. Sáng nào cũng thức dậy quá sớm, là ông cho mình thời gian để chết. Hãy học cách chết trong thời gian rảnh. Emerson đã nói gì về việc chết? Ít nhất ta không phải tới nha sĩ nữa. Câu đó đã gây ấn tượng với ông cách nay bốn mươi năm, khi ông vẫn còn có thể đọc thứ gì đó có ý nghĩa. Người đàn bà tóc hoe đỏ ngực đầy này chưa chết và chị biết điều đó. Nhưng ông phải phản đối chị, về Beth. “Hãy để bà ấy ngoài chuyện này. Bà ấy đâu ngăn được hình hài của mình.”

“Ồ, cứt ạ. Nếu bà ta không ngăn được thì ai ngăn? Còn để bà ta ra ngoài chuyện này, em thì có thích vậy đấy, Jack, nhưng anh thì không. Anh đem bà ta theo anh. Có một vẻ gì đó trên mặt anh, một vẻ nói rằng, ‘Hãy giúp con đi, Chúa ơi, chuyện này chỉ trong một giờ thôi.’ Anh cư xử với em giống như một tiết học năm mươi phút ở trường. Em có thể cảm thấy anh đang chờ tiếng chuông reo.” Chính là cách này đây, chị nghĩ. Đây là cách để xua ông đi, để làm mình khó ưa - tấn công vợ ông. “Anh đã có vợ, Jack. Anh sặc mùi có vợ quá sức chịu đựng của em.”

“Đâu có.” Câu đó phát ra thành một tiếng thút thít.

“Có đấy,” Terry nói với ông. “Em đã cố quên nó đi, nhưng anh không cho phép em. Em bỏ cuộc thôi. Vì bản thân em, Jack, em phải bỏ cuộc thôi. Giờ hãy buông em ra.”

“Còn Ahmad thì sao?”

Câu hỏi này làm chị ngạc nhiên. “Nó thì sao?”

“Anh lo cho nó. Có gì đó ám muội ở cửa hàng đồ nội thất ấy.”

Chị thấy muốn nổi cáu lên; và càng cáu tợn khi Jack vẫn nằm đó trong cõi ấm áp đầy mồ hôi trên giường chị như thể ông vẫn là người tình của chị và có quyền lưu trú lại đây. “Thế thì sao?” chị nói. “Thời buổi này chỗ nào cũng ám muội hết. Em không thể sống cuộc đời của Ahmad giùm nó được, và em không thể sống cuộc đời của anh. Em chúc anh mọi điều tốt lành, Jack, em thành thật đấy. Anh là người đàn ông buồn bã, dễ thương. Nhưng nếu anh còn gọi điện cho em hoặc quay lại sau khi đã ra khỏi cửa kia hôm nay thì đấy sẽ là tội quấy rối đấy.”

“Nào, đừng thế,” ông nói, giọng vỡ vụn, chỉ muốn mọi thứ trở lại như cách đây một giờ, khi chị chào đón ông với một nụ hôn ướt át lan xuống tới hạ bộ của họ, cửa căn hộ thậm chí còn chưa đóng lại sau lưng. Ông thích có một cô bồ. Ông thích những gì chị có: làm mẹ, làm họa sĩ, làm hộ lý, khoan dung với thân xác người khác.

Chị rời khỏi chiếc giường đầy mùi của hai người. “Đi đi, Jack,” chị nói với ông ta, đứng ngoài tầm với của ông. Với vẻ nhanh nhẹn cảnh giác chị cúi xuống lấy mớ quần áo chị đã thả xuống. Giọng chị chuyển sang dạy dỗ, quở trách. “Đừng làm con đỉa nữa. Em chắc anh cũng là con đỉa bám vào Beth. Hút, hút hết sự sống của đàn bà, kéo họ vào cảm xúc tự thương thân của chính anh. Bà ấy ăn đến phát phì là phải. Em cho được gì thì đã cho rồi, Jack à, giờ em phải buông tay thôi. Làm ơn. Đừng làm khó em.”

Ông bắt đầu phẫn nộ và kháng cự lại giọng điệu quở trách của con mụ khó ưa này. “Anh không thể tin chuyện này lại xảy ra, chẳng vì lý do nào cả,” ông nói. Ông cảm thấy mềm yếu, yếu ớt và mềm nhũn đến độ không thể rời khỏi giường chị, hình ảnh của chị về con đỉa đã thấm vào ông. Có lẽ chị đúng; ông là gánh nặng cho thế giới này. Ông trì hoãn. “Chúng ta hãy suy nghĩ về chuyện này ít lâu đã,” ông nói. “Một tuần nữa anh sẽ gọi cho em.”

“Cấm anh.”

Mệnh lệnh độc đoán này chọc giận ông; ông cáu kỉnh nói, “Lý do của em là gì vậy? Anh quên mất rồi.”

“Anh dạy học ở trường, anh biết câu xóa đi làm lại.”

“Anh là giáo viên tư vấn.”

“Vậy thì tự tư vấn cho anh đi. Hãy xóa đi và làm lại từ đầu.”

“Nếu anh từ bỏ Beth, chuyện gì sẽ xảy ra?”

“Em không biết. Có lẽ không có gì nhiều. Vả lại, anh sẽ bỏ bà ta bằng cách nào chứ?”

Thực vậy, bằng cách nào? Nịt ngực của Terry đã mặc lại, và quần bò của chị đang được kéo lên một cách giận dữ, sự trần truồng nằm ẹp của ông càng lúc càng trở nên đáng xấu hổ và đáng khinh. Ông nói, “Được rồi. Nói vậy đủ rồi. Rất tiếc nếu vừa rồi anh ngu ngốc.” Nhưng ông vẫn nằm đó. Một giai điệu từ xa xưa, khi khu thương mại còn đầy những biển quảng cáo phim, len vào đầu ông - một giai điệu mượt mà, tuôn chảy. Ông ngân nga câu kết: “Deedee-dit-da-dat-daaa.”

“Gì đó?” chị hỏi, giận dữ dù chị đã thắng.

“Không phải một giai điệu Terry đâu. Một loại khác, của Warner Brothers. Ở khúc cuối một con heo lắp bắp ló ra khỏi cái trống và nói, “H-h-hết rồi, mọi người!”

“Anh biết đấy, làm thế không dễ thương gì đâu.”

Ông hất tấm ga ra. Ông thích cảm giác là một con thú trần truồng đầy lông, bộ phận sinh dục mệt lử lủng lẳng, gan bàn chân vàng ệnh bốc mùi phô mai; ông thích ánh lóe báo động trong đôi mắt thô lố đờ đẫn của con thú kia. Đứng trần truồng, toàn bộ tấm thân ở tuổi lục tuần chảy xệ đầy nếp nhăn, Jack Levy nói với chị, “Anh sẽ nhớ em dữ lắm.” Khi không khí mát lạnh liếm lên da ông, ông nhớ đã đọc được cách nay nhiều năm rằng nhà cổ sinh vật học Leakey, người phát hiện ra con người cổ xưa nhất thế giới ở hẻm núi Olduvai, đã tuyên bố một con người trần truồng có thể rượt kịp và bằng tay không quật ngã và giết bất cứ con mồi nào nhỏ hơn hắn ta, kể cả thú ăn thịt có răng. Ông cảm thấy tiềm năng đó trong ông. Ông có thể vật cái thành viên nhỏ hơn thuộc cùng loài với ông đây xuống sàn và bóp cổ cô ta. “Em là người cuối cùng anh...” ông bắt đầu.

“Người cuối cùng anh làm gì? Chích hả? Đó là vấn đề của anh, không phải của em. Anh biết anh có thể bỏ tiền thuê mà.” Khuôn mặt đầy tàn nhang của chị hồng lên đầy thách thức. Chị không hiểu, rằng chị không cần phải chiến đấu với ông, thô lỗ và nói thẳng mọi chuyện ra như thế. Khi ông bị loại khỏi cuộc chơi, ông biết. Ông cảm thấy da thịt trần truồng của ông như một khối nặng chết.

“Này, Terry, thoải mái đi nào. Người cuối cùng anh coi là lý do để sống, anh định nói vậy. Lý do cuối cùng để anh vui hưởng cuộc đời.”

“Đừng diễn màn Do Thái ủy mị với em, Jack. Em cũng sẽ nhớ anh.” Rồi chị vẫn cần phải nói thêm để gây tổn thương, “Trong một thời gian.”

Charlie chào đón Ahmad một buổi sáng đầu tháng Chín bằng câu nói, “Hôm nay là ngày may mắn của cậu, Madman!”

“Vậy là sao?”

“Rồi cậu sẽ thấy.” Gần đây Charlie có vẻ nghiêm trang nhưng cộc lốc, như thể có thứ gì đó đang gặm nhấm anh ta, nhưng cho dù điều ngạc nhiên này là gì đi nữa thì nó vẫn làm hài lòng anh ta một cách đơn giản đến độ, nhìn nghiêng, khóe miệng bồn chồn của anh ta lấn vào má thành một nụ cười. “Trước tiên, chúng ta có cả đống hàng phải giao, một cái xuống tận Camden.”

“Cần cả hai ta à? Tôi không ngại giao hàng một mình đâu.” Cậu đã dần thích việc này. Trong cõi cô độc của buồng lái cậu không cô đơn, Thượng Đế ở cùng cậu. Nhưng chính Thượng Đế lại cô độc, Người là điều cô độc tối thượng. Ahmad yêu Thượng Đế cô độc của cậu.

“Phải, cần đó. Một món trong đó là cái giường gấp Hide-A-Bed, nó nặng cả tấn với mấy bộ phận kim loại bên trong, và hàng giao ở Camden là một trường kỷ nẹp đinh toàn bằng da dài hơn hai mét, hai tay ghế bè ra. Nhưng cậu không được khiêng bằng tay ghế; nó vỡ toác ra ngay, một người giao hàng trước cậu cùng với tôi đã gặp vụ đó. Từ giá trên một ngàn giảm xuống một mớ, cho phòng chờ của một bệnh viện sang chảnh dành cho trẻ em rối loạn tâm thần.”

“Rối loạn tâm thần?”

“Ai mà không rối loạn tâm thần, đúng không? Dù sao với hai chiếc ghế bành cùng bộ nó là một thương vụ hai ngàn đô, và không phải ngày nào trong tuần chúng ta cũng có những vụ như vầy. Coi chừng cái xe chở dầu bên trái cậu kìa; thằng con hoang đó chắc say thuốc.”

Nhưng Ahmad đã để mắt được một lúc đến chiếc xe Getty chở dầu bẩn thỉu, say tốc độ đó, tự hỏi không biết tay tài xế đó đã tính đúng mức đến độ sánh của khối chất lỏng và những yếu tố khác đòi hỏi phải đề phòng chưa. Tháng Chín còn có thêm nguy hiểm trên đường phố và quốc lộ, khi những người đi nghỉ trở về chen lấn giành lại vị trí cũ trong bầy. “Excellency đang hướng tới tầng lớp cao,” Charlie nói, “tất cả những ngôi nhà mới kia có giá từ một triệu trở lên cả. Cậu có thấy, trong những cuộc thi đố, khán giả không còn cười nhạo khi cậu nói quê ở New Jersey không? Chúng ta đang trên đà trở thành Connecticut Nam, chỉ cách Wall Street một đường hầm. Cha và chú tôi, họ suy nghĩ khiêm tốn - gỗ dương nhuộm màu và đồ nhựa vinyl đóng ghim cho đại chúng - nhưng bây giờ chúng ta có dân cổ cồn trắng sống ở Montclair và Short Hills đi làm ở nội ô, những kẻ không đắn đo xùy ra hai ngàn đô cho một bộ xô pha nhiều khối bọc da trắng ngà hoặc ba ngàn cho một bộ bàn ghế ăn kiểu Âu, chẳng hạn, với một chiếc tủ ly kiểu Gothic và mọi thứ bằng gỗ sồi chạm. Thời nay những thứ giống vậy còn bán được, hồi trước có đâu. Hồi trước tụi tôi thi thoảng sẽ kiếm được một món chất lượng ở một cuộc thanh lý tài sản rồi cứ bày đó mấy năm trời. Ngay cả ở New Prospect nghèo khổ này giờ cũng có dân giàu mới phất.”

“Làm ăn phát đạt thì tốt,” Ahmad nói dè dặt. Cậu liều nói thêm, cố hòa hợp với tâm trạng phấn chấn của Charlie. “Có lẽ khách hàng mới mong kiếm được quà thưởng tiền mặt nhét trong mấy tấm nệm.”

Nét mặt trông nghiêng của Charlie không tỏ vẻ gì là ghi nhận ý đùa. Anh ta giữ giọng thản nhiên. “Hiện tại tụi tôi chi trả các thứ xong rồi. Chú Maurice đã quay lại Miami. Bây giờ chúng ta mới là người chờ giao hàng.” Giọng anh ta trở nên ít tự nhiên hơn; anh ta nói, “Madman này, cậu không kể về công việc ở đây với bất cứ ai, đúng không? Kể chi tiết ấy. Có ai hỏi han cậu không? Mẹ cậu chẳng hạn? Hay bất cứ ai mà bà ta hẹn hò?”

“Mẹ tôi mải mê với bản thân quá nên đâu có thắc mắc gì tôi. Bà ấy nhẹ nhõm khi tôi có việc làm ổn định, hiện giờ còn góp tiền vào chi phí trong nhà nữa. Nhưng chúng tôi đi về căn hộ đó như người xa lạ.” Cậu chợt nhận ra điều này không đúng hoàn toàn. Đêm nọ, trong một bữa tối nấu nướng ngon lành khác thường tại cái bàn tròn cũ nơi cậu thường ngồi học, chị đã hỏi cậu liệu có cảm thấy bất cứ gì “ám muội” ở cửa hàng đồ trang trí nội thất không. Không có gì, cậu nói với chị. Cậu đang học cách nói dối. Để thành thực với Charlie, cậu nói với anh ta, “Tôi nghĩ gần đây mẹ tôi lại có chuyện buồn về tình cảm, vì tối nọ bà bỗng có hứng quan tâm đến tôi, như thể nhớ ra rằng tôi vẫn ở đó. Nhưng tâm trạng này sẽ qua thôi. Mẹ con tôi chưa bao giờ trò chuyện thân mật. Sự vắng mặt của ba tôi cứ chen giữa hai bên, rồi lại còn đức tin của tôi, mà tôi tiếp nhận trước khi bước vào tuổi thiếu niên. Bà là một phụ nữ nồng nhiệt, và chắc chắn là lo lắng cho bệnh nhân ở bệnh viện của bà, nhưng tôi nghĩ khả năng làm mẹ của bà chỉ bằng cỡ con mèo. Mèo mẹ cho mèo con bú trong một thời gian rồi sau đó cư xử với con mình như kẻ thù. Tôi chưa đủ lớn để trở thành kẻ thù của mẹ tôi, nhưng tôi đã đủ trưởng thành để trở thành một đối tượng không cần để tâm đến.”

“Bà ấy nghĩ thế nào về việc cậu không có bạn gái?”

“Nếu có nghĩ thì tôi chắc bà thấy nhẹ nhõm. Một vật gắn bó với cuộc đời tôi sẽ làm rắc rối thêm cho cuộc đời bà. Một người phụ nữ khác, dù trẻ tới đâu, cũng có thể phán xét bà và buộc bà phải tuân theo một tiêu chuẩn cư xử hợp lẽ nào đó.”

Charlie ngắt lời: “Sắp đến chỗ quẹo trái - tôi nghĩ không phải chỗ ngã tư này mà là ngã tư kế tiếp - chúng ta theo đường 512 đến Summit, ở đó chúng ta giao bộ bàn ăn nhà bếp đánh véc ni nâu vàng. Vậy cậu vẫn chưa nếm mùi đời hả?” Anh ta xem sự im lặng của Ahmad là xác nhận lời khẳng định của anh ta, liền nói, “Tốt.” Nụ cười lúm đồng tiền đã trở lại trên khuôn mặt trông nghiêng. Ahmad đã quá quen nhìn nghiêng Charlie đến độ cậu bị sốc khi anh ta xoay người trong bóng tối buồng lái và bày trọn khuôn mặt ra. Sau khi xoay lại như thế, Charlie chuyển cái nhìn sang những đèn đường đang chuyển màu thấy qua kính chắn gió. “Cậu nói đúng về những người quảng cáo phương Tây,” anh ta nói, tiếp nối một câu chuyện cũ giữa hai người. “Họ nhấn mạnh tình dục bởi vì nó dẫn đến tiêu dùng. Đầu tiên là rượu với hoa đi cùng với việc hẹn hò, rồi sau đó đến việc nuôi con và mua sắm đi liền với đó, thức ăn trẻ em và những chiếc xe SUV và...”

“Những bộ bàn ăn,” Ahmad tiếp lời.

Khi không đùa, Charlie quá nghiêm túc đến độ dễ bị người ta chọc ghẹo. Con mắt duy nhất trên khuôn mặt trông nghiêng của anh ta nhấp nháy và miệng anh ta hóp hóp, như thể vừa nếm phải một sự thật chua chát. “Một ngôi nhà lớn hơn, tôi định nói thế. Mấy cặp vợ chồng trẻ tiêu xài xả láng và ngày càng lún sâu vào nợ nần, đó chính là điều bọn Do Thái cho vay nặng lãi mong muốn. Đó là cái bẫy ‘mua trước, trả sau’ - rất hấp dẫn.” Nhưng anh ta đã nghe ra lời chọc ghẹo; anh tiếp tục, “Được thôi, tụi tôi là thương gia. Nhưng ý tưởng của ông già là, giá cả hợp lý. Không khuyến khích khách hàng mua nhiều hơn khả năng chi trả của họ. Không tốt cho anh ta, và xét đến cùng là không tốt cho chúng ta. Thậm chí cách nay vài năm chúng tôi còn không nhận thẻ tín dụng. Bây giờ thì nhận rồi. Mình phải hòa nhập vào hệ thống thôi,” anh ta nói, “cho đến lúc đó.”

“Đến lúc nào?”

“Đến lúc đánh một cú từ bên trong.” Giọng anh ta nghe nôn nóng. Có vẻ anh ta nghĩ Ahmad biết nhiều hơn thực tế.

Ahmad hỏi anh ta, “Chừng nào đến cái lúc đó?”

Charlie cân nhắc. “Nó đến khi nó được tạo ra. Có thể không bao giờ, hoặc có thể sớm hơn mình nghĩ.”

Ahmad có cảm giác cậu đang đi trên một giàn giáo bằng rơm, trong không gian chóng mặt là đức tin chung của họ, được tiết lộ khi anh chàng kia nói về bọn Do Thái cho vay nặng lãi. Sau khi được nghe tâm sự của Charlie ở một cấp độ hiếm có, cậu trai đến lượt mình thổ lộ, “Tôi có một Thượng Đế mà tôi hướng tới năm lần một ngày. Lòng tôi chẳng cần bạn đồng hành nào khác. Nỗi ám ảnh tình dục bộc lộ sự trống rỗng của bọn ngoại giáo, và nỗi khiếp sợ của họ.”

Charlie nói, hoạt bát lên, “Này, đừng chê cái gì chừng nào cậu còn chưa xài thử. Đây rồi. Số tám mười một đường Monroe. Một bộ bàn ăn màu nâu, tới rồi. Một bàn, bốn ghế.”

Căn nhà theo kiểu thuộc địa lai, gạch đỏ và gỗ trắng, trên một bãi cỏ nhỏ được chăm sóc cẩn thận. Chị chủ nhà, người Mỹ gốc Hoa, bước trên lối đi lát đá ra đón họ. Khi hai người mang mấy cái ghế và cái bàn hình bầu dục vào nhà, hai đứa con của chị ta, một cô bé ở độ tuổi nhà trẻ trong bộ quần yếm màu hồng có những miếng đáp hình con vịt và một cậu bé mới biết đi mặc chiếc áo thun dính đầy thức ăn và đeo bỉm sũng nặng, chăm chú nhìn và nhảy cẫng lên như thể họ giao cho chúng một đám anh em ruột khác vậy. Người mẹ trẻ, thích thú vì món tài sản mới, chìa cho Charlie tờ mười đô, nhưng anh ta gạt đi, cho chị ta một bài học về sự bình đẳng Mỹ. “Việc này là niềm vui cho chúng tôi,” anh ta nói với chị. “Mong chị vui.”

Hôm đó vẫn còn mười bốn món phải giao, và lúc họ từ Camden trở về thì bóng chiều đã đổ dài trên đại lộ Reagan, các cửa hàng khác đã đóng cửa. Họ từ hướng Tây trở về. Cạnh cửa hàng Nội thất Excellency, ở mé bên kia phố 13, có một cửa hàng bán vỏ xe từng là trạm xăng, trụ xăng vẫn còn dù các đầu bom đã bị gỡ bỏ, và cạnh nó một nhà tang lễ, được cải tạo từ một tòa nhà riêng trước khi khu này của thành phố biến thành khu thương mại, với hàng hiên rộng, mái che trắng và một bảng hiệu kín đáo, UNGER & SON, ngoài bãi cỏ. Họ đậu xe tải trong bãi và mệt mỏi lội lên sàn bốc dỡ hàng dội vang vang, vào cửa sau và hành lang, ở đó Ahmad bấm lỗ tấm thẻ của cậu trong máy chấm công. “Đừng quên, có một điều ngạc nhiên dành cho cậu đấy,” Charlie nói với cậu.

Lời nhắc nhở này làm Ahmad ngạc nhiên; suốt cả ngày cậu đã quên. Cậu đã hết tuổi chơi các trò chơi.

“Nó đang chờ trên lầu,” Charlie nói với giọng rất nhẹ để cha anh ta không nghe thấy, ông vẫn còn làm việc muộn trong văn phòng. “Xong việc cậu cứ ra cửa sau. Bật chuông báo động khi cậu về.”

Habib Chehab, hói như con chuột chũi trong cõi hang hốc mốc meo toàn đồ nội thất còn mới và đã qua sử dụng, từ sau cửa phòng làm việc ló ra. Trông ông ta nhợt nhạt cho dù đã nghỉ một mùa hè ở Pompton Lakes, với vẻ hum húp bệnh hoạn trên mặt, nhưng ông ta vui vẻ nói với Ahmad, “Thế nào chàng trai?”

“Không có gì phải phàn nàn, ông Chehab.”

Ông già ngắm chàng tài xế trẻ của mình, cảm thấy cần nói thêm điều gì đó, để khen ngại cậu đã phục vụ trung thành suốt mùa hè. “Cậu là giỏi nhất,” ông ta nói. “Hàng trăm dặm, hai, ba trăm dặm nhiều ngày, không một vết lõm, không một vết cào xước. Không có vé phạt tốc độ. Tuyệt vời.”

“Cảm ơn ngài. Việc này là niềm vui cho tôi” - một cụm từ mà cậu nhận ra mình nghe được từ Charlie hôm nay.

Ông Chehab nhìn cậu đầy tò mò. “Cậu sẽ ở lại với chúng tôi chứ, vì Lễ Lao động tới đây rồi?”

“Chắc chắn rồi. Còn gì khác nữa? Tôi thích lái xe.”

“Tôi chỉ nghĩ, những chàng trai như cậu - thông minh, vâng lời - đều cố gắng học cao hơn.”

“Người ta có gợi ý chuyện đó, nhưng tôi chưa cảm thấy cần.” Học thêm nữa có thể làm suy giảm đức tin của cậu, cậu sợ vậy. Những nghi ngờ mà cậu đã kiềm chế được ở trường trung học có thể trở nên không cưỡng lại nổi ở đại học. Chính Đạo đang mang cậu sang một hướng khác, trong sạch hơn. Cậu không giải thích được điều này rõ lắm. Ahmad tự hỏi ông già này đã biết được bao nhiêu về món tiền mặt được lén chuyển đi, về bốn người đàn ông trong ngôi nhà ở khu Shore đó, về tình thần bài Mỹ của con trai ông, về những mối liên hệ của em trai ông ở Florida. Sẽ hết sức kỳ lạ nếu ông ta hoàn toàn không biết về những diễn biến này; nhưng, mặt khác, gia đình, như Ahmad biết qua gia đình hai người của chính cậu, là cái tổ chứa những bí mật, những quả trứng kề sát nhau nhưng vẫn dung chứa cuộc sống riêng của chúng.

Khi hai cha con đi về phía cửa sau tới bãi đậu xe và xe riêng của họ - chiếc Buick của Habib, chiếc Saab của Charlie - Charlie nhắc lại những chỉ dẫn cho Ahmad về việc bật chuông báo động và đóng cửa bằng ống khóa đôi được tra dầu. Ông Chehab hỏi, “Thằng nhóc ở lại hả?”

Charlie đặt tay lên lưng cha anh ta để thúc ông đi tiếp. “Bố, con có việc trên lầu giao cho Ahmad. Bố dám giao cho cậu ta đóng cửa chứ?”

“Có gì phải hỏi? Nó là đứa tốt. Như người trong nhà.”

“Thực ra,” Ahmad nghe Charlie giải thích với cha anh ta trên sàn chất hàng, “nó có cái hẹn thành ra nó muốn tắm rửa và thay quần áo mới.”

Cái hẹn? Ahmad nghĩ. Cậu đã hình dung ra món ngạc nhiên mà Charlie dành cho cậu: nó sẽ là một chiếc gối quỳ, giống như chiếc gối cậu đã giao, được nhét đầy tiền, một món tiền thưởng cuối hè. Nhưng như để chứng thực lời nói dối của Charlie với cha mình, Ahmad, trong phòng vệ sinh nhỏ cạnh bình nước nóng lạnh, cũng lo cọ rửa vết dầu bẩn trong ngày bám trên hai bàn tay và vỗ nước lên mặt lên cổ trước khi đi về phía cầu thang, ở ngay giữa cửa hàng, lên tầng hai. Cậu leo lên bằng những bước lặng lẽ. Tầng hai trưng bày những giường và tủ gương trang điểm, bàn đêm cạnh giường và tủ quần áo, gương và đèn ngủ. Những thứ này lù lù trong ánh sáng mờ mờ từ ngọn đèn giường đằng xa, trong khi đèn xe buổi tối rọi lấp lóa trên những cửa sổ cao. Những chụp đèn không thắp sáng đâm góc nhọn vào bóng tối, những đèn chùm gắn trên cao đong đưa như lũ nhện. Có những tấm ván đầu giường bọc nệm, những tấm bằng gỗ có hình dạng hoa mỹ, và những tấm khác chỉ là những thanh đồng song song. Những tấm đệm trần, xếp cạnh nhau ở cả hai bên phòng, bày ra hai mặt phẳng lui xa dần được nâng cao bởi độ dày của những lò xo nệm lắp trên khung kim loại. Khi di chuyển giữa hai mặt phẳng lui dần đó, tim cậu đập rộn và mũi cậu bắt được mùi khói thuốc lá cấm kỵ và tai cậu nghe được một giọng quen thuộc. “Ahmad! Họ không cho tớ biết là cậu.”

“Joryleen? Cậu đó à? Họ chẳng nói với tôi gì cả.”

Cô gái da đen bước ra từ sau cái chụp đèn thắp sáng lờ mờ, dưới chụp đèn ấy khói từ điếu thuốc của cô, bị dụi vội vào cái gạt tàn bằng tờ giấy thiếc bọc kẹo xếp lại, bốc lên như một tác phẩm điêu khắc, chậm rãi xoay vặn. Khi mắt quen dần với ánh sáng mờ cậu thấy cô mặc chiếc váy ngắn bằng vải nhựa vinyl đỏ và chiếc áo đen bó sát cổ bầu dục khoét sâu như áo nịt của vũ công ba lê. Những nét tròn trịa của cô có vẻ như được ép vào một cái khuôn mới, hẹp hơn ở thắt lưng, hàm của cô gọn hơn. Tóc cô cắt ngắn hơn và loáng thoáng những vệt nhuộm vàng, một kiểu không hề có ở trường Trung tâm. Nhìn xuống dưới, cậu thấy cô đi đôi ủng trắng với đường khâu chữ chi và mũi dài nhọn, kiểu mới để dư nhiều chỗ trống phía mũi. “Người ta chỉ dặn tớ là chờ một chàng trai cần được phá trinh.”

“Nếm mùi đời, tôi dám chắc là anh ta nói vậy.”

“Đúng, anh ta nói vậy, nhớ ra rồi. Không phải lúc nào cậu cũng nghe câu đó; cậu nghe cả đống câu khác. Anh ta nói anh ta là sếp của cậu và cậu làm việc ở đây. Ban đầu anh ta nói chuyện với Tylenol, nhưng sau đó anh ta muốn gặp tớ và bảo tớ phải thật ngọt ngào với chàng trai đặc biệt này. Anh ta là kiểu người Ả Rập cao, cái miệng giật giật trông gian lắm. Tớ tự nhủ, ‘Joryleen, đừng tin thằng cha này,’ nhưng tiền của anh ta thì ngon lành. Những đồng đô la sạch đẹp.”

Ahmad giật mình; cậu thì chắc sẽ không mô tả Charlie là người Ả Rập hay trông gian lắm. “Họ là người Li Băng. Charlie được nuôi dạy theo kiểu Mỹ rặt. Anh ta không hẳn là sếp của tôi, anh ta là con trai ông chủ, tụi này cùng chạy xe tải đi giao đồ nội thất.”

“Cậu biết đó, Ahmad, xin lỗi vì nói vậy, nhưng tớ đã hình dung cậu đi học tiếp để đạt cái gì đó cao hơn cái này một chút. Một thứ gì để cậu có thể sử dụng cái đầu nhiều hơn.”

“Ờ, Joryleen, tôi có thể nói y vậy về cậu. Lần cuối cùng tôi nhìn rõ được cậu thì cậu mặc chiếc áo chùng của ca đoàn. Cậu đang làm gì trong bộ đồ gái làng chơi đó, nói về chuyện phá trinh người ta?”

Cô hất đầu ra sau trong thế phòng thủ, chu miệng ra, cái miệng bóng mượt sáp môi màu san hô. “Đây đâu phải cái gì thường trực,” cô giải thích. “Chỉ là vài quả lẻ mà Tylenol yêu cầu tớ giúp đỡ người ta cho đến khi bọn tớ kiếm được mớ vốn mua được một căn nhà cho riêng mình.” Joryleen nhìn quanh và đổi đề tài. “Cậu muốn nói là một nhóm Ả Rập làm chủ cái này đây hả? Tiền của họ từ đâu ra vậy?”

“Cậu không hiểu việc kinh doanh rồi. Cậu vay ngân hàng để mua một lượng hàng, rồi tiền lãi được gộp vào chi phí của cậu. Thế được gọi là chủ nghĩa tư bản. Nhà Chehab tới đây từ thập niên sáu mươi, khi mọi thứ còn dễ dàng.”

“Hẳn là dễ rồi,” cô nói, và ngồi xuống nhún nhún trên một tấm nệm trần, với kiểu trang trí có hình thoi được bọc trong lớp gấm thêu kim tuyến. Chiếc váy ngắn màu đỏ của cô, ngắn hơn cả váy của đội cổ vũ, cho phép cậu thấy cặp đùi cô, bè ra do sức ép của mép nệm. Cậu chỉ nghĩ đến lớp quần lót nằm giữa cặp mông trần và lớp vải bọc nệm sang chảnh; ý nghĩ đó làm nghẹn cổ họng cậu. Mọi thứ ở cô đều có vẻ lấp lánh - sáp môi màu hồng đậm, mái tóc ngắn xịt keo dựng đứng thành cọng nhọn như đám lông nhím, nhũ vàng lấp lánh trong lớp sáp quanh mắt cô. Cô nói, để khỏa lấp sự im lặng của cậu. “Đó là thời dễ sống, so với thời nay và thị trường lao động bây giờ.”

“Sao Tylenol không kiếm việc làm để có số tiền cậu ta muốn?”

“Anh ấy tư duy về những chuyện quá lớn lao nên không thể làm công việc tầm thường. Anh ấy có kế hoạch để ngày nào đó trở thành một nhân vật lớn cho nên tạm thời yêu cầu tớ lo kiếm cái ăn. Anh ấy không ép tớ đứng đường, chỉ thỉnh thoảng chiều ý ai đó, thường là dân da trắng. Khi bọn tớ thu xếp xong và an cư đâu đấy rồi anh ấy sẽ chiều tớ như nữ hoàng, anh ấy nói vậy.” Sau khi rời trường cô đã xỏ lỗ một bên mày để đeo một khoen nhỏ bên cạnh hạt cườm ở cánh mũi và một dọc những khoen bạc trông giống như con sâu đang gặm vành tai trên của cô mà ăn. “Nào, Ahmad. Đừng đứng đực mặt ra đó nữa. Cậu thích gì? Tớ có thể bú cậu ngay trong tư thế này luôn, vậy cho nhanh gọn, nhưng tớ nghĩ ông Charlie của cậu rất muốn cậu phải được chơi ra trò, tức là đủ cả dùng bao rồi sau đó đi rửa ráy. Anh ta đã trả cho tớ trọn gói, tùy theo cậu vừa ý tới đâu. Anh ta dự trù là cậu sẽ mắc cỡ.”

Ahmad rên lên. “Joryleen, tôi không chịu nổi cậu ăn nói kiểu vậy.”

“Ăn nói kiểu gì, Ahmad? Cậu vẫn để đầu óc ở xứ mộng mơ kiểu Ả Rập hay sao hả? Tớ chỉ cố nói cho rõ thôi. Giờ mình cởi đồ ra rồi chọn một cái giường đi. Úi giời, giường thì vô khối!”

“Joryleen, cậu cứ mặc quần áo. Tôi tôn trọng con người cậu như hồi xưa, và dù sao tôi cũng không muốn mất trinh, cho đến khi có hôn nhân hợp pháp với một phụ nữ Hồi giáo tử tế, như kinh Qur’an nói.”

“Cô ấy thì ở mãi ngoài đó trong xứ trẻ con mộng mơ, bé ơi, còn tớ ở ngay đây sẵn sàng mang cậu đi khắp thế giới.”

“ ‘Mang cậu đi khắp thế giới’ nghĩa là gì?”

“Tớ có thể cho cậu thấy. Thậm chí cậu không cần phải cởi cái sơ mi trắng lại cái đó ra, chỉ cái quần đen thôi. Thứ quần bó sát quái quỷ của cậu; nó thường khiến tớ chảy nước tùm lum.”

Và, đưa mặt ngang chỗ khóa quần cậu, Joryleen há miệng, không rộng như khi cô hát, nhưng đủ rộng để cậu nhìn được vào trong. Những lớp niêm mạc và nướu ẩm ướt bên trong ánh lên ngay chân răng cô, cái vòng cung ngọc ngà hoàn hảo ấy, với cái lưỡi hồng nhạt đầy đặn đằng sau. Tròng trắng mắt cô nở to khi cô dò hỏi nhìn lên mặt cậu.

“Cậu đừng có biến thành kinh tởm thế,” cậu nói, dù da thịt đằng sau khóa quần của cậu đã đáp ứng.

Joryleen trở nên hờn dỗi, trêu chọc. “Bộ cậu muốn tớ phải trả lại số tiền mà ông Charlie đã cho hả? Cậu muốn Tylenol đập tớ té cứt hả?”

“Bộ hắn làm vậy hả?”

“Anh ấy cố không nâng điểm tớ lên. Mấy tên ma cô già đời nói với anh ấy rằng làm vậy chỉ là rẻ rúng chính bản thân mày thôi.” Cô thôi không ngước nhìn cậu nữa mà nhẹ nhàng rúc vào dưới thắt lưng cậu, vặn vẹo đầu ở đó giống như con chó đang vẩy lông. Cô lại ngước lên. “Thôi nào, cưng. Cậu thích tớ, tớ thấy mà.” Dùng cả mười đầu ngón tay móng dài cô chạm vào chỗ u lên đằng sau khóa quần cậu.

Cậu nhảy lùi lại, màn vuốt ve của Joryleen còn không khiến cậu hoảng hồn bằng con quỷ tán thành và quy thuận đang dâng lên trong cậu, đang làm cứng một phần cơ thể cậu và gây ra trạng thái thư thái mê mẩn ở phần khác, như thể máu cậu bị tiêm một chất gì khiến nó sệt lại; cô đã khơi dậy một thực tại ngọt ngào trong cậu, thực tại của một người đàn ông đang chứng tỏ khả năng của mình trong việc phục vụ hạt giống anh ta mang. Phụ nữ là những cánh đồng của anh ta, họ tựa mình nằm nghỉ trên những tấm thảm được thêu trổ xinh dẹp, và trái cây trong hai ngôi vườn gần tầm tay hái. Cậu nói với Joryleen, “Tôi thích cậu rất nhiều nên không thể cư xử với cậu như một con điếm.”

Nhưng cô đang trong tâm trạng ve vãn, vừa thích thú vừa kích thích bởi chàng khách hàng rụt rè của cô. “Chỉ cần để tớ cho hắn vào miệng thôi,” cô nói. “Đấy không phải tội lỗi theo kinh Qur’an thân mến đâu. Đó chỉ là cảm xúc tự nhiên. Chúng ta được tạo ra cho chuyện đó, Ahmad. Và chúng ta sẽ không được như thế mãi mãi. Chúng ta sẽ già đi, chúng ta bệnh. Hãy là chính cậu với tớ trong một giờ, thế là cậu sẽ làm ơn cho cả hai ta. Bộ cậu không thích nghịch cặp vú bự của tớ sao? Tớ thấy cậu cứ nhìn vào cổ áo của tớ mỗi khi tụi mình đứng gần nhau ở trường mà.”

Cậu lùi xa khỏi cô, hai bắp chân cậu ép sát vào tấm nệm của chiếc giường trần bên cạnh, nhưng lại quá choáng váng bởi cơn sóng dậy trong máu cậu đến độ không thể phản kháng khi bằng một loạt cử chỉ uốn éo cô lôi cái áo bó sát ra khỏi chiếc váy ngắn, kéo nó lên qua cái đầu tóc ngắn nhuộm vàng loang lổ, và, ưỡn lưng, mở khóa chiếc áo ngực đen dạng lưới. Màu nâu của bộ ngực cô sẫm như màu trái cà tím nơi những quầng tròn quanh núm vú màu thịt tươi. Khi phơi trần ra, tím và hồng, trông nó không quá bự như khi bị che nửa kín nửa hở, khiến cô có vẻ ít nhiều giống cô bạn Joryleen thân thiện cậu từng biết sơ sơ hơn, với nụ cười vừa tự phụ vừa ngập ngừng cạnh dãy tủ đồ.

Cậu nói, lưỡi nặng nề, họng khô khốc, “Tôi không muốn cậu nói với Tylenol tụi mình đã làm hoặc không làm những gì.”

“Được rồi, tớ sẽ không nói, hứa đó. Dù sao anh ta cũng không thích nghe tớ làm gì với các ngón nghề.”

“Tôi muốn cậu cởi hết quần áo và tụi mình chỉ nằm với nhau một lát nói chuyện.”

Việc cậu giành lấy quyền chủ động dù chỉ đến mức này có vẻ đã khiến cô dịu lại. Cô tréo chân và cởi một chiếc bốt trắng mũi nhọn, sau đó cởi nốt chiếc kia và đứng đó, cái đầu nhuộm vàng lốm đốm dựng tua tủa, khi cô đi chân trần, chưa cao tới cằm Ahmad. Joryleen chúi vào ngực Ahmad, giữ thăng bằng trên chân này rồi tới chân kia, để tuột chiếc váy nhựa đỏ và quần lót đen mỏng dính xuống. Cởi xong, cô cúi mặt nhìn xuống, chờ đọi, khoanh tay truớc ngực cứ như việc trần truồng làm cô trở nên đoan trang hơn.

Cậu đứng lùi lại và nói, “Hoa hậu được ưa thích à,” thán phục trước Joryleen yếu đuối, trần trụi, có thật. “Ta cứ để tôi mặc quần áo,” cậu nói với cô. “Để tôi xem có kiếm được cái gì làm mền với gối không.”

“Trong đây hơi nóng mà ngộp thở nữa,” cô nói. “Tớ không nghĩ mình cần có mền.”

“Mền lót bên dưới tụi mình,” cậu giải thích. “Để bảo vệ tấm nệm. Cậu biết một tấm nệm tốt giá bao nhiêu không?” Hầu hết đều bọc trong lớp ni lông dày, nên bề mặt thành ra khó chịu, nằm trên đó là cứ dính vào da.

“Này, mình tiến hành đi,” cô phàn nàn. “Tớ cởi đồ hết rồi - lỡ có ai bước vô thì sao?”

“Tôi ngạc nhiên thấy cậu lo lắng chuyện đó một khi cậu đã giở hết ngón nghề thế này rồi,” cậu nói. Cậu đã nhận trách nhiệm, tạo ra một cái ổ cho mình và bạn tình; cảm giác này khiến cậu phấn khích nhưng cũng làm cậu lo lắng. Quay lại ở đầu cầu thang, cậu thấy cô, ngồi lặng lẽ trong ánh đèn, đốt một điếu thuốc nữa, và khói tạo thành cấu trúc dợn sóng trong quầng sáng hình nón đó. Cậu chạy xuống nhà, thật nhanh để cô không kịp bốc hơi. Giữa đống đồ đạc trong gian trưng bày chính cậu không thấy cái mền nào, nhưng cậu lấy hai cái gối có hoa văn đặt trên một chiếc xô pha bọc nhung kẻ, mang lên lầu cùng với một tấm thảm phương Đông nhỏ, khổ một thước mấy nhân hai thước. Những công việc vội vã này làm cậu bình tĩnh lại một chút, nhưng hai chân cậu vẫn run.

“Cũng đến lúc rồi đấy,” cô chào đón cậu. Cậu xếp gối và thảm trên nệm, và cô nằm duỗi người trên mớ hoa văn đan xen nhau của tấm thảm, được viền màu xanh - hình ảnh truyền thống, Habib Chehab đã giải thích với cậu, về một khu vườn trên ốc đảo, có dòng sông bao quanh. Joryleen, một cánh tay chống sau đầu trên chiếc gối nhung kẻ, bày ra bên nách cạo sạch lông. “Trời, vụ này thiệt quái đản,” cô nói khi cậu nằm xuống cạnh cô, không giày nhưng vẫn mặc quần áo.

Áo sơ mi cậu sẽ bị nhăn, nhưng cậu nghĩ đây là một phần của cái giá phải trả. “Tôi ôm cậu được không?” cậu hỏi.

“Ôi, Chúa ơi, chắc chắn rồi. Cậu được quyền làm nhiều hơn thế.”

“Chỉ thế này là hết sức của tôi rồi,” cậu nói với cô.

“Được rồi, Ahmad: giờ thả lỏng đi.”

“Tôi không muốn làm bất cứ điều gì khiến cậu cảm thấy kinh tởm.”

Câu này khiến cô mỉm cười, rồi cười phá ra, nên cậu cảm thấy hơi thở ấm của cô ở một bên cổ cậu. “Cậu không hiểu nổi làm thế khó đến mức nào đâu.”

“Sao cậu lại làm việc này? Tức là, để cho Tylenol điều động cậu như vầy?”

Cô thở dài, lại một luồng sự sống nữa trên cổ cậu. “Cậu chưa biết nhiều về tình yêu. Anh ấy là người đàn ông của tớ. Không có tớ, anh ấy sẽ chẳng có gì nhiều. Anh ấy sẽ khốn khổ lắm, và có lẽ tớ yêu anh ấy nhiều đến độ anh ấy không biết được cái đó. Đối với một gã da đen lớn lên nghèo khổ ở New Prospect, có đàn bà để đem bán rong đâu phải là việc gì xấu hổ - đó là cách để chứng tỏ chất đàn ông của cậu.”

“Phải, nhưng cậu đang muốn chứng minh điều gì?”

“Rằng tớ xử lý được ba cái thứ cứt đái này, chắc vậy. Chỉ một thời gian thôi. Tớ không chơi ma túy, bọn con gái bị sa bẫy theo kiểu đó, chúng chơi ma túy để chịu đựng được đồ cứt đái, rồi thói quen đó trở thành cứt đái luôn. Tớ chỉ chơi tới cần sa thôi và thỉnh thoảng một hơi côcain; đừng hòng ai chọc vào tĩnh mạch tớ. Tớ có thể bỏ đi, khi tình thế thay đổi.”

“Joryleen: làm sao tình thế thay đổi được?”

Cô nêu một ý, “Anh ấy được mối lái để gặp nhân vật nào đó khác. Hoặc tớ nói tớ không làm chuyện này nữa.”

“Tôi không nghĩ lúc này hắn để cậu ra đi dễ dàng đâu. Chính cậu nói cậu là tất cả những gì hắn có mà.”

Cô thú nhận điều ấy là đúng bằng cách im lặng, một sự im lặng làm thân thể cô như đặc lại thêm dưới cánh tay cậu. Cô ép nhẹ bụng cô vào bụng Ahmad, và ngực cô giống hai khối bọt biển đẫm nước ấm ở ngang tầm túi áo cậu, hằn sâu thêm vết nhăn. Ở cuối tầm với của cậu, những móng chân cô - sơn đỏ thuần, cậu nhận thấy khi cô cởi đôi bốt trắng ra, trong khi móng tay cô sơn màu bạc và xanh phân chia theo chiều dọc - cào cào mắt cá chân của cậu theo kiểu thăm dò vui đùa. Những đụng chạm này của cô cực kỳ dễ chịu, quét qua các giác quan của cậu mùi hương từ tóc, từ da đầu, từ mồ hôi và sự cọ xát mượt mà trong giọng nói của cô, sát bên tai cậu. Cậu nghe trong hơi thở cô một giọng khàn khàn với độ run rẩy riêng của nó. “Tớ không muốn nói về mình,” cô nói với cậu. “Hễ nói ba cái chuyện đó là tớ sợ.” Cô hẳn nhận ra, dù không rõ rệt bằng cậu, khối hứng tình bị dồn nén phía dưới thắt lưng cậu, nhưng tuân theo quy ước cậu đã áp đặt cho cô không sờ vào nó. Trước đây cậu chưa từng có quyền lực đối với bất cứ ai, kể từ khi mẹ cậu, không chồng, đã phải lo nuôi nấng cậu.

Cậu vẫn kiên trì, “Còn chuyện hát hò của cậu ở nhà thờ thì sao? Làm sao chuyện đó khớp với vụ này?”

“Không khớp. Tớ không còn hát nữa. Mẹ tớ không hiểu tại sao tớ rút lui. Bà nói Tylenol là nguồn ảnh hưởng xấu. Bà không biết bà nói đúng tới cờ nào. Nghe nè: thỏa thuận là cậu có thể đụ tớ, chứ không phải tra hỏi tớ.”

“Tôi chỉ muốn ở bên cậu, gần gũi hết mức có thể.”

“Ồ, trời. Tớ đã nghe câu này trước đây. Chà, đàn ông nào cũng tử tế. Thôi bây giờ cho nghe về cậu đi. Cụ Allah thân mến ra sao rồi? Cậu thích làm kẻ sùng đạo lắm nữa không, khi đã hết năm học và mình đang trong thế giới thực?”

Môi cậu rời xa khỏi trán cô hai phân. Cậu đã quyết định cởi mở với cô, về một điều trong cuộc đời cậu mà theo bản năng cậu giữ không nói với bất cứ ai, ngay cả với Charlie, ngay cả với Shaikh Rashid. “Tôi vẫn giữ theo Chính Đạo,” cậu nói với Joryleen. “Hồi giáo vẫn là nguồn an ủi và hướng dẫn của tôi. Nhưng...”

“Nhưng gì, cậu bé?”

“Khi tôi hướng tới Allah và cố nghĩ về Người, tôi nhận ra Người cô độc thế nào, trong không gian đầy sao mà Người đã khiến cho hiện hữu theo ý Người. Trong kinh Qur’an, Người được gọi là Đấng Hằng Yêu thương, Đấng Tự hữu. Xưa tôi thường nghĩ về phần yêu thương, bây giờ tôi lại ấn tượng với tính tự hữu, trong toàn bộ cõi trống rỗng đó. Con người cứ hoài nghĩ về bản thân họ,” cậu nói với Joryleen. “Không ai nghĩ đến Thượng Đế - liệu Người có đau khổ hay không, liệu Người có thích là Người hay không. Người thấy gì trong thế giới này, vui thú gì với nó? Và ngay cả nghĩ về những điều như thế, cố tạo ra hình ảnh Thượng Đế như một dạng con người, ông thầy tế của tớ sẽ nói ấy là báng bổ, đáng chịu Lửa Hỏa ngục đời đời.”

“Chúa ơi, một mình đầu óc cậu phải thu nhận biết bao nhiêu thứ. Có lẽ Người ban chúng ta cho nhau, để cho chúng mình sẽ không cô đơn như Người. Cái đó viết trong Kinh Thánh, gần như vậy.”

“Phải, nhưng chúng ta là gì? Những con thú bốc mùi, thực sự vậy, với một mớ nhu cầu thú vật, và cuộc sống ngắn hơn loài rùa.”

Điều này - việc cậu đề cập đến loài rùa - khiến Joryleen cười phá lên; khi cô cười, cả thân thể trần truồng của cô rung rung cọ vào thân thể cậu, nên cậu lại nghĩ tới toàn bộ mớ ruột rà, bao tử và mọi thứ nhồi vào đó: cô có mọi thứ đó bên trong cô, thế nhưng lại có cả một linh hồn yêu thương, đang thở vào mé cạnh cổ của cậu, nơi Thượng Đế gần kề cậu hơn tĩnh mạch. Cô nói với cậu. “Cậu nên làm chủ mọi ý nghĩ kỳ quái mà cậu có đi, nếu không chúng sẽ làm cho cậu khùng luôn đó.”

Môi cậu di chuyển lại cách chân mày cô hai phân. “Nhiều lần tôi khao khát đến bên Thượng Đế, để làm dịu nỗi cô đơn của Người.” Ngay khi những lời này thốt ra khỏi miệng cậu nhận thấy chúng thật báng bổ: Chương hai mươi chúi có viết, Allah tự đầy đủ, không nhờ vả đến thế gian.

“Ý cậu là chết hả? Cậu lại làm tớ sợ nữa rồi, Ahmad. Cái con cu chọc vào tớ nãy giờ thì sao? Chúng ta nói đến khi nó đi mất hả?” Cô sờ vào cậu, nhanh nhẹn, lão luyện. “Không, trời đất, mình không làm thế được. Nó vẫn ở đó, đòi cái nó muốn. Tớ không chịu đựng được nữa - không thể chịu được tình trạng chờ đợi này. Cậu đừng làm gì hết. Allah cứ việc bắt tội tớ. Tớ chấp nhận điều đó được, dù sao tớ cũng chỉ là phụ nữ, đằng nào cũng bẩn thỉu.” Joryleen đặt hai bàn tay lên hai mông cậu qua chiếc quần bò đen, và bằng cách nhịp nhàng kéo cậu vào khối mềm mại đang đẩy tới của cô, cô đưa cậu lên lên mãi tới một biến đổi rùng rùng chấn động, một sự đảo ngược vượt khỏi đỉnh cái tôi bị nén chặt của cậu, có lẽ giống điều xảy ra khi linh hồn đi vào Thiên đường sau khi chết.

Hai thân thể trẻ trung dính sát vào nhau, như những nhà leo núi thở hổn hển vừa lên tới một gờ đá. Joryleen nói. “Thấy chưa. Cậu bị một mớ lầy nhầy trong quần nhưng mình lại chưa phải xài cái bao nào và cậu vẫn là trai tân cho cô dâu quấn khăn quàng đầu của cậu.”

“Hijab là khăn trùm đầu. Có thể chẳng bao giờ có một cô dâu như thế.”

“Sao cậu lại nói vậy? Cậu có các bộ phận hoạt động ổn, lại thêm bản chất tốt nữa.”

“Cảm giác thôi,” cậu trả lời cô. “Cậu có thể là người gần với cô dâu nhất mà tôi có được.” Cậu nhẹ nhàng buộc tội cô, “Tôi không hề yêu cầu cậu làm điều đó, làm cho tôi tới đỉnh.”

“Tớ thích xứng đáng với đồng tiền kiếm được,” cô nói với cậu. Cậu buồn lòng khi cảm thấy cô dãn ra để chuyển sang nói chuyện, lui khỏi mối nối ẩm ướt, chặt khít đã khiến họ thành một thân thể. “Tớ không biết cậu kiếm ở đâu ra cái cảm giác tệ hại đó, nhưng tay Charlie bạn của cậu đang chơi một trò gì đó. Tại sao anh ta sắp xếp cái vụ đụ đéo này, khi mà cậu không hề yêu cầu?”

“Anh ta nghĩ đó là thứ tôi cần. Và có thể đúng là tôi cần. Cảm ơn, Joryleen. Dù, như cậu nói, nó không sạch sẽ.”

“Gần giống như họ đang vỗ béo cậu vậy.”

“Ai, để làm gì?”

“Cưng à, tớ không biết. Cậu nghe lời khuyên của tớ rồi. Tránh xa cái xe tải đó.”

“Giả sử tôi bảo cậu tránh xa Tylenol thì sao?”

“Không dễ vậy đâu. Anh ấy là người đàn ông của tớ.”

Ahmad cố hiểu. “Chúng ta tìm sự gắn bó, cho dù đáng buồn đến đâu.”

“Cậu hiểu rồi đó.”

Chất nhầy trong quần lót cậu khô dần, trở nên dinh dính; tuy nhiên cậu vẫn kháng cự khi cô cố lăn khỏi vòng tay của cậu. “Phải đi thôi,” Joryleen nói.

Cậu ôm cô chặt hơn, hơi tàn bạo. “Vậy cậu xứng với đồng tiền chưa?”

“Tớ không xứng sao? Tớ cảm thấy cậu bắn ra cả đống mà.”

Cậu muốn cùng cô nhập vào sự ô uế. “Dù sao tụi mình vẫn chưa đụ. Có lẽ mình nên làm vậy. Charlie muốn tôi như thế.”

“Thấm rồi hả? Lần này thì quá trễ rồi Ahmad. Trước mắt thì cứ giữ cho cậu trong trắng đi.”

Màn đêm đã buông xuống ngoài cửa hàng. Chỗ họ nằm cách ngọn đèn đơn đang bật hai chiếc giường, và dưới ánh sáng lờ mờ khuôn mặt cô, trên chiếc gối nhung trắng, là một hình trái xoan đen, một trái xoan hoàn hảo khuôn lấy những đốm lấp lánh của ngọn đèn và những cử động nhẹ màu bạc của môi và mi mắt cô. Cô đã lạc mất đối với Thượng Đế nhưng đang đánh đổi cuộc đời cô cho một cuộc đời khác, để Tylenol, tên côn đồ khốn khổ đó, có thể sống. “Hãy làm một việc nữa vì tôi,” Ahmad van nài. “Joryleen, tôi không chịu nổi để cậu đi.”

“Việc gì?”

“Hát cho tôi nghe.”

“Ui giời. Cậu đúng là đàn ông, phải. Luôn luôn đòi thêm một việc nữa.”

“Chỉ một bài hát ngắn thôi. Tôi rất thích, trong nhà thờ, mỗi khi nhận ra được giọng cậu giữa những giọng khác.”

“Và bây giờ đã có người dạy cậu nịnh bợ. Tớ phải ngồi dậy. Không thể vừa nằm vừa hát được. Nằm là cho những chuyện khác.” Cô nói thô tục một cách không cần thiết. Bộ ngực cô dưới ánh sáng của ngọn đèn đơn độc trong khoảng la liệt nệm ấy có những vệt tối hình bán nguyệt bên dưới hai khối nặng tròn trịa; cô mới mười tám, nhưng trọng lực đã lôi chúng xuống. Cậu thấy thôi thúc muốn thò tay chạm vào chỗ vểnh lên hai núm vú màu thịt tươi, thậm chí véo chúng, vì cô là đồ điếm và đã quen với những điều tồi tệ hơn nhiều, và cậu kinh ngạc trước ý muốn tỏ ra tàn bạo này trong cậu, đang đánh lại cảm giác âu yếm có thể cám dỗ cậu rời xa lòng trung thành trên nhất của mình. Ai chiến đấu vì sự nghiệp của Allah là chiến đấu vì bản thân mình, chương hai mươi chín nói. Ahmad nhắm mắt khi cậu nhận thấy, qua những cơ môi nhỏ nhắn căng ra của cô, với gờ thịt thanh tú chạy quanh viền môi, rằng cô sắp hát.

“ ‘Có Jesus, chúng ta có một người bạn tuyệt vời làm sao’,” cô ngân nga, giọng run run và không có kiểu đảo phách của bài hát cậu đã nghe trong nhà thờ, “ ‘mọi tội lỗi và sầu khổ chúng ta phải mang...’ ” Trong khi hát cô giơ một bên lòng bàn tay trắng nhạt ra sờ trán cậu, một cái trán vuông văn quyết tâm chứa nhiều đức tin hơn hầu hết người đời có thể chứa, rồi thì, các ngón tay cô với móng hai tông màu lướt xuống, kết thúc bằng cách cấu vào dái tai cậu. “ ‘... mang mọi thứ đến trước Chúa trong lời cầu nguyện.’ ”

Cậu nhìn cô nhanh nhẹn mặc lại quần áo: nịt ngực trước, rồi, với động tác uốn éo kỳ quái, tới cái quần lót nhỏ xíu; kế đến chiếc áo len bó sát, đủ ngắn để bày ra một mảng bụng, và chiếc váy ngắn đỏ tươi. Cô ngồi lên mép giường để mang đôi ủng mũi dài, ngoài đôi vớ trắng mỏng mà cậu không nhận thấy lúc cô cởi ra. Để bảo vệ lớp da giày khỏi nhiễm mồ hôi của cô, và để bàn chân cô không nhiễm mùi hôi.

Mấy giờ rồi? Bóng tối mỗi ngày một đến sớm hơn. Mới hơn bảy giờ, cậu đã ở bên cô chưa tới một giờ. Mẹ cậu có thể đã ở nhà, chờ dọn cho cậu ăn. Dạo này chị có nhiều thời gian cho cậu hơn, Thực tế đòi hỏi: cậu phải ngồi dậy và vuốt phẳng mọi dấu vết mà thân thể họ để lại trên tấm nệm bọc ni lông, đem trả tấm thảm và gối lót về chỗ cũ ở dưới nhà và dẫn Joryleen đi len giữa bàn với ghế bành, bàn làm việc, máy nước nóng lạnh và đồng hồ chấm công, đi qua cửa sau bước vào trời đêm lúc này đã đầy đèn pha xe hơi, của công nhân đi làm về thì ít mà của những người ra ngoài săn tìm thứ gì đó, bữa tối hoặc ái tình, thì nhiều. Tiếng hát của cô và việc đạt cực khoái đã làm cậu buồn ngủ đến độ, trong khi cậu đi bộ qua hơn chục ngã tư để về nhà, ý nghĩ về việc đi ngủ và không bao giờ thức dậy nữa chẳng còn kinh khủng chút nào đối với cậu.

Shaikh Rashid chào đón cậu bằng ngôn ngữ của kinh Qur’an: “fa-inna ma’a ‘l-’usri yusrā.” Ahmad, tiếng Ả Rập cổ đã han gỉ sau ba tháng bỏ những buổi học tại thánh đường, giải câu trích dẫn đó trong đầu và ngẫm nghĩ tìm ý nghĩa ẩn chìm của nó. Thư thả đi đôi với cực nhọc. Cậu nhận ra câu này là trong chương “Al-Inshirah”, [Nguồn an ủi], một trong những chương kinh sơ kỳ Mecca, vì ngắn mà được đưa vào phần sau của Thiên kinh nhưng vì thần bí, cô đọng mà thầy cậu rất thích. Đôi khi được gọi là “Khai mở”, chương này nói, bằng giọng Thượng Đế, với chính Đấng Tiên tri: Chúng ta không mở rộng lồng ngực cho Ngươi và trút bỏ khỏi Ngươi gánh nặng đã đè nặng lên lưng Ngươi?

Cuộc gặp gỡ của cậu với Joryleen được sắp xếp vào ngày thứ Sáu trước Lễ Lao động, vì vậy mãi đến thứ Ba kế Charlie Chehab mới hỏi cậu ở chỗ làm việc, “Chuyện thế nào?”

“Tốt,” Ahmad đáp rất bồn chồn. “Hóa ra tôi có quen cô ấy, một chút, ở trường Trung tâm. Từ đó trở đi cô ấy đã đi sai đường trầm trọng.”

“Cô ta làm được việc chứ?”

“Ô, vâng. Làm ngon lành.”

“Tốt. Tên ma cạo của cô ta bảo đảm cô ta làm chuyện này ngon lành. Nhẹ nhõm làm sao. Ý tôi là cho tôi. Nó không có vẻ tự nhiên, chuyện cậu vẫn còn zin ấy. Không hiểu tại sao tôi lại thấy điều đó như là lỗi của tôi, nhưng tôi thấy vậy. Giờ thì thấy mình như một người mới chứ?”

“Ồ, vâng, tôi nhìn cuộc đời qua một tấm mạng mới. Một cặp kính mới, lẽ ra phải nói thế.”

“Tuyệt. Tuyệt. Chừng nào còn chưa biết được con nhỏ đầu tiên, cậu còn chưa thực sự sống. Tôi biết con nhỏ đầu tiên hồi tôi mười sáu. Thực sự thì hai con - một con chuyên nghiệp xài bao, và một con cùng khu phố chơi trần trụi. Nhưng đó là khi mọi thứ còn rất bừa bãi, trước khi có AIDS. Thế hệ cậu biết cẩn trọng là khôn ngoan.”

“Tụi tôi thận trọng.” Ahmad đỏ mặt với bí mật mà cậu giấu Charlie, rằng cậu vẫn còn trong trắng. Nhưng cậu không muốn làm thất vọng người cố vấn của cậu bằng việc thổ lộ sự thật này. Có lẽ giữa họ đã có quá nhiều chia sẻ, do sự gần gũi trong buồng lái trong khi chiếc Excellency nuốt lấy New Jersey bên dưới những bánh xe quay vo vo của nó. Lời khuyên của Joryleen, rằng hãy tránh xa chiếc xe tải đó, vẫn day dứt cậu.

Một bầu không khí lo lắng, nỗi bồn chồn công việc bộn bề, bám lấy Charlie sáng nay. Nếp nhăn chốc chốc vụt tới trên mặt anh ta, những biểu cảm thoáng nhanh trên cái miệng hay thay đổi, có vẻ quá mức trong văn phòng của anh ta đằng sau gian trưng bày sản phẩm, nơi họ uống cà phê sáng và lên kế hoạch trong ngày. Những bộ đồ lao động màu ô liu chưa giặt đợi ở đó, cùng áo mưa màu vàng dành cho những ngày giao hàng trong mưa; chúng treo trên móc giống như những lớp da bị lột. Charlie thông báo, “Trong đợt nghỉ dài vừa rồi tôi tình cờ gặp Shaikh Rashid.”

“Ô, vậy hả?” Dĩ nhiên, Ahmad nghĩ, nhà Chehab là thành viên quan trọng của thánh đường; họ gặp nhau chẳng có gì lạ.

“Ông ta muốn gặp cậu ở Trung tâm Hồi giáo.”

“Chắc là để rầy tôi rồi. Do hồi này đi làm, tôi sao nhãng kinh Qur’an, và không tham dự lễ cầu nguyện mỗi thứ Sáu đều đặn nữa, dù tôi không hề quên cầu nguyện theo nghi thức, bất cứ chỗ nào tôi có thể dành ra năm phút ở một nơi thanh sạch, như anh thấy đó.”

Charlie nhíu mày. “Cậu không thể chỉ biết có cậu và Thượng Đế, Madman. Người đã phái Đấng Tiên tri của Người xuống, và Đấng Tiên tri đã tạo ra một cộng đồng. Không có ummah, kiến thức và thực hành tham gia vào một nhóm công chính, đức tin sẽ là một hạt giống không kết thành quả.”

“Shaikh Rashid bảo anh nói với tôi vậy đó hả?” Nói vậy nghe giống lời của Shaikh Rashid hơn là của Charlie.

Anh chàng cười nhăn nhở - hàm răng phô bày một cách bất ngờ và duyên dáng giống như đứa trẻ bị bắt quả tang giở trò láu cá. “Shaikh Rashid có thể tự ông ấy nói ra. Nhưng ông ta không gọi cậu đến để la rầy đâu - ngược lại kìa. Ông ta muốn cho cậu một cơ hội. Tôi phải ngậm miệng lại thôi, tôi lỡ mồm lỡ miệng quá rồi. Hãy để tự ông ta nói với cậu. Bữa nay mình sẽ kết thúc giao hàng sớm, và tôi sẽ thả cậu xuống chỗ thánh đường.”

Thế là cậu được giao cho ông thầy cậu, tay thầy tế từ Yemen. Tiệm làm móng bên dưới thánh đường, dù được trang bị ghế đàng hoàng, chỉ có một thợ làm móng người Việt buồn chán đang đọc tạp chí, và quầy đổi chi phiếu, qua những lớp mành mành buông dài, thoáng thấy một cái quầy cao, có tấm lưới bảo vệ, đàng sau đó là một ông da trắng phục phịch đang ngáp. Ahmad mở cánh cửa giữa những chỗ làm ăn này, cánh cửa màu xanh bong sơn số 2781½, và leo lên cầu thang hẹp tới tiền sảnh nơi hồi xưa những khách hàng của lớp khiêu vũ từng ngồi chờ giờ học. Bảng thông báo bên ngoài văn phòng của ông thầy tế vẫn còn dán những thông báo in bằng máy vi tính về các lớp học tiếng Ả Rập, về dịch vụ tư vấn hôn nhân nghiêm chỉnh, hợp thức, đúng phép đạo trong thời hiện đại, và về những bài giảng lịch sử Trung Đông bởi vị giáo sĩ thỉnh giảng nào đó. Shaikh Rashid, trong chiếc áo caftan thêu chỉ bạc, bước tới siết chặt tay cậu học trò với vẻ nồng nhiệt và trịnh trọng khác thường; có vẻ như ông ta không hề thay đổi suốt mùa hè qua, dù bộ râu ông xuất hiện thêm ít sợi bạc, hợp màu với đôi mắt xám của ông.

Bổ sung vào câu chào đón ban đầu của ông ta, trong khi Ahmad còn hoang mang về ý nghĩa của nó, Shaikh Rashid nói thêm, “wa la ‘l-ākhiratu khayrun laka mina ‘l-ūlā. wa la-sawfa yu ‘ṭīka rabbuka fa-tarḍā.” Ahmad lờ mờ nhận ra đoạn này là từ một trong những chương Mecca ngắn mà thầy cậu rất ưa thích, có lẽ là chương có tựa “Ban mai”, ý nói rằng tương lai, tức đời sau, đem lại phần thưởng quý giá cho anh hơn đời sống đã qua. Chúa tể của ngươi sẽ ban cho ngươi điều làm ngươi hài lòng. Bằng tiếng Anh Shaikh Rashid nói, “Cậu bé thân mến, ta nhớ những giờ chúng ta cùng nhau học Thiên Kinh, và nói về những vấn đề lớn lao. Cả ta cũng học được nhiều điều. Sự giản dị và sức mạnh trong đức tin của con đã chỉ dẫn và củng cố đức tin của ta. Rất ít người giống con.”

Ông dẫn chàng trai vào văn phòng, ngồi xuống chiếc ghế bành cao ông thường ngồi giảng dạy. “Xem nào,” ông nói với Ahmad, khi cả hai đã ngồi vào vị trí quen thuộc của họ tại bàn làm việc, trên đó không có gì trừ một cuốn kinh Qur’an sờn cũ, bìa xanh. “Con đã đi vào thế giới ngoại giáo rộng lớn - cái mà bạn bè chúng ta trong cộng đồng Hồi giáo da đen gọi là ‘thế giới chết’. Nó có làm thay đổi đức tin của con không?”

“Thưa thầy, con không nghĩ rằng nó gây thay đổi. Con vẫn cảm thấy Thượng Đế ở cạnh con, gần kề hơn tĩnh mạch nơi cổ con vậy, yêu thương con như chỉ mình Người có thể yêu thương.”

“Chẳng lẽ con không chứng kiến, trong những thành phố con đã ghé qua, cảnh nghèo nàn và sự khốn khổ khiến con nghi vấn lòng nhân từ của Người, và những bất bình đẳng về của cải và quyền lực gây hoài nghi về sự công bằng của Người sao? Chẳng lẽ con không phát hiện ra rằng thế giới, ở phần nước Mỹ này, bốc lên mùi hôi thối từ thói lãng phí và tham lam, từ sự ham mê nhục dục và phù phiếm, từ nỗi tuyệt vọng và chán chường vẫn đi cùng sự thiếu hiểu biết về sự thông thái nhờ thần hứng của Đấng Tiên tri sao?”

Lối nói hoa mỹ chán ngắt của ông thầy tế, phát ra bằng cái giọng hai mặt luôn có vẻ dè dặt kể cả khi nó tìm cách tỏ bày, gây cho Ahmad sự khó chịu quen thuộc. Cậu cố trả lời trung thực, có phần theo giọng của Charlie: “nơi này không phải là nơi đẹp đẽ nhất hành tinh này, có lẽ vậy, và nó có khối người thua cuộc, nhưng con sung sướng được đi vào đó, thực vậy. Phần lớn người ta cũng tử tế. Dĩ nhiên, tụi con thường giao thứ gì đó người ta muốn, và nghĩ nó sẽ làm cho cuộc sống họ tốt hơn. Sinh hoạt chung với Charlie thật thú vị. Anh ta biết nhiều về lịch sử của bang.”

Shaikh Rashid khom người tới trước, đặt giày xuống sàn, và chụm các đầu ngón tay nhỏ đẹp vào nhau, có lẽ để trấn áp cơn run rẩy. Ahmad tự hỏi tại sao ông thầy của mình lại bồn chồn vậy. Có lẽ ông ta ghen tị thấy người khác có ảnh hưởng đối với học trò của mình. “Phải,” ông ta nói, “Charlie thật ‘thú vị’, nhưng cũng có lòng kiên định nghiêm túc đấy. Anh ta cho ta biết con đã biểu lộ lòng tự nguyện chết cho cuộc thánh chiến.”

“Con hả?”

“Trong lần phỏng vấn ở công viên Liberty State, khi ngắm khu Hạ Manhattan, nơi tòa tháp đôi của sự áp bức tư bản bị giật sụp một cách đắc thắng.”

“Đó là phỏng vấn à?” Quả là lạ, Ahmad nghĩ, khi cuộc trò chuyện, ngoài trời rộng, lại được báo cáo về đây, trong không gian khép kín của thánh đường nội ô này, nơi mà các cửa sổ chỉ nhìn ra những bức tường gạch và đám mây đen. Bầu trời hôm nay thấp và xám xịt với những lớp mây mỏng có thể tạo ra mưa. Tại cuộc phỏng vấn trước đó, ngày chói chang đến nhức mắt, tiếng la hét của trẻ con trong bộ đồ ngày nghỉ vọng qua vọng lại giữa vùng ánh nắng rực rỡ của vịnh New York và mái vòm trắng chói lọi của tòa nhà Trung tâm Khoa học. Khinh khí cầu, mòng biển, mặt trời. “Con sẽ chết,” cậu khẳng định, sau khi im lặng, “nếu đó là ý của Thượng Đế.”

“Có một cách,” thầy cậu thận trọng bắt đầu, “để tung một đòn cực mạnh vào kẻ thù của Người.”

“Một âm mưu?” Ahmad hỏi.

“Một cách,” Shaikh Rashid lặp lại, cẩn thận. “Nó sẽ cần đến một kẻ tuẫn đạo với tình yêu vô điều kiện dành cho Thượng Đế, và khát khao cháy bỏng sự vinh quang của Thiên đường. Con có phải là một người như thế không, Ahmad?” Câu hỏi được đặt ra hầu như uể oải, trong khi ông thầy ngả người ra sau và nhắm mắt lại như thể tránh ánh sáng quá mạnh. “Hãy trung thực, làm ơn.”

Cảm giác lẩy bẩy của Ahmad, cảm giác được chống đỡ trên một hố thẳm mênh mang vô tận chỉ nhờ một khung giàn giáo yếu ớt mỏng manh, đã trở lại. Sau một cuộc sống ít mối dây gắn bó, cậu đang ở bờ rìa run rẩy của vị trí trung tâm rạng rỡ. “Con tin con là người như vậy,” chàng trai nói với ông thầy. “Nhưng con không có kỹ năng chiến binh.”

“Mọi người đã chăm lo sao cho con có mọi kỹ năng con cần. Nhiệm vụ sẽ gồm việc lái xe tải đến một điểm xác định và thực hiện một kết nối cơ khí đơn giản nào đó. Các chuyên gia đã sắp đặt việc này, họ sẽ giải thích cho con biết chính xác phải làm thế nào. Trong cuộc chiến vì Thượng Đế này, chúng ta có,” ông thầy tế nhẹ nhàng giải thích, với một nụ cười mỉm hài lòng, “những chuyên gia kỹ thuật ngang hàng với chuyên gia của kẻ thù, và một ý chí và tình thần lớn hơn rất nhiều ý chí và tinh thần của kẻ thù. Con có nhớ chương hai mươi tư, al-Nūr, ’Ánh sáng’ không?”

Mắt ông nhắm lại, bày ra những mạch máu tím li ti, trong nỗ lực nhớ lại và diễn đọc. “wa ‘l-ladhīna kafarū a’māluhum ka-sarābi biqī’atin yaḥsabuhu ‘ẓ-ẓam’ānu mā’an ḥattā idhā’jā ahu lam yajidhu shay’an wa wajada ‘llāha ‘indahu fa-waffāhu ḥisābahu, wa ‘llāhu sarī’u ‘l-ḥisāh.” Mở mắt để thấy vẻ ngơ ngác ăn năn trên mặt Ahmad, ông thầy tế, với nụ cười nhẹ bên khóe miệng, dịch đoạn kinh trên: “ ‘Với những ai không có đức tin thì việc làm của họ chẳng khác nào ảo ảnh nơi bãi sa mạc mà một người chết khát cho là nước, cho đến khi y đến nơi, y chẳng thấy gì cả mà chỉ thấy Allah với y; và Ngài trả đầy đủ phần trương mục của y cho y.’ Một hình ảnh đẹp, ta luôn nghĩ vậy - một người chết khát cho đấy là nước, song y chỉ thấy Allah với y. Nó khiến y chết lặng. Kẻ thù chỉ có ảo ảnh của sự ích kỷ, của nhiều cái tôi nhỏ bé và quyền lợi nhỏ bé, để chiến đấu giành lấy: chúng ta có một lòng vị tha cao cả duy nhất. Chúng ta phục tùng Thượng Đế và trở thành một với Người, và với nhau.”

Ông thầy tế lại khép mắt như trong một cơn xuất thần thiêng liêng, mi mắt nhắm nhấp nhô theo nhịp đập của các mao mạch bên trong. Tuy nhiên, giọng ông thoát ra từ miệng lại hết sức mạnh mẽ. “Việc chuyển con vào Thiên đường sẽ xảy ra ngay lập tức,” ông ta tuyên bố. “Gia đình con - mẹ con - sẽ nhận được đền bù, i’āla, cho mất mát của bà ấy, cho dù bà ấy là một kẻ ngoại giáo, vẻ đẹp trong sự hy sinh của con trai bà có lẽ còn thuyết phục được bà cải đạo. Với Allah, mọi chuyện đều có thể xảy ra.”

“Mẹ con - bà vẫn tự nuôi sống mình trước nay. Con có thể chỉ định một người khác, một người bạn gái ở tuổi con, nhận phần đền bù đó không? Nó có thể giúp cô ấy được tự do.”

“Tự do gì?” Shaikh Rashid hỏi, mắt mở ra phá tan lớp vỏ xuất thần của ông. “Chừng nào chúng ta còn ở trong thân xác mình, chúng ta còn là nô lệ cho nó và những nhu cầu thiết yếu của nó. Ta ghen tị với con biết bao, con trai. So với con, ta đã già, mà vinh quang vĩ đại nhất của chiến trận lại luôn thuộc về người trẻ tuổi. Được hy sinh cuộc sống của mình,” ông ta nói tiếp, trong khi mi mắt nhắm hờ, chỉ lộ ra một tia xám ướt lấp lánh, “trước khi nó trở thành một thứ tả tơi, cạn kiệt. Quả là một niềm vui bất tận.”

“Khi nào,” Ahmad hỏi sau khi để cho những lời này chìm vào im lặng, “thì việc itishhād của con xảy ra?” Cuộc hy sinh của cậu: nó đang trở thành một phần của cậu, một thực tại sống, bơ vơ như trái tim cậu, bao tử cậu, tụy của cậu đang gặm nhấm với những hóa chất và men của nó.

“Cuộc hy sinh anh hùng của con,” ông thầy lẹ làng phóng đại. “Trong vòng một tuần, ta chắc là vậy. Chi tiết thì ta không thể nói rõ, nhưng một tuần thì cũng giống như một ngày kỷ niệm và sẽ gửi một thông điệp đích đáng cho Quỷ vương toàn cầu. Thông điệp sẽ là, ‘Chúng ta tấn công khi muốn.’ ”

“Xe tải. Nó sẽ là chiếc con lái cho Excellency sao?” Ahmad vẫn biết đau lòng, nếu không phải cho chính cậu thì cũng cho chiếc xe tải - màu cam bí ngô vui tươi của nó, kiểu chữ viết tay hoa mỹ của nó, tầm mắt trên cao nhìn xuống ở ghế tài xế vẫn đặt thế giới toàn những chướng ngại và nguy hiểm, khách bộ hành và những xe cộ khác, sang ngay phía bên kia lớp kính cao, khiến khoảng trống xung quanh dễ lường hơn so với khi ta lái một chiếc xe con với nắp ca pô phồng lên dài ngoẵng.

“Một chiếc xe tải giống vậy, hẳn không gây rắc rối cho con khi lái một quãng ngắn. Bản thân chiếc Excellency dĩ nhiên sẽ tố giác gia đình Chehab, nếu còn sót lại bất kỳ mảnh vỡ có thể nhận diện nào. Hy vọng sẽ không còn sót lại gì. Trong lần đầu đánh bom Trung tâm Thương mại Thế giới, có thể con còn nhỏ quá không nhớ được, chiếc xe tải đi thuê đó bị lần ra dấu vết một cách dễ dàng đến khôi hài. Lần này, những manh mối vật chất sẽ được xóa sạch - bị nhấn chìm đủ năm sải tay, như Shakespeare vĩ đại diễn tả.”

“Được xóa sạch,” Ahmad lặp lại. Đây không phải từ ngữ cậu thường nghe. Một lớp kỳ lạ, như một lớp len trong suốt, bốc mùi khó chịu, dần bao bọc lấy cậu, và đóng vai một vật cản trở mối tương tác của các giác quan cậu với thế giới.

Trái lại, Shaikh Rashid đã tỉnh phắt khỏi trạng thái xuất thần, cảm nhận được tâm trạng bồn chồn của chàng trai, vội vàng trấn an cậu ta: “Con sẽ không có mặt ở đó để trải nghiệm nó đâu. Con đã ở Jannah, trên Thiên đường, ngay lúc đó, đối mặt với thánh nhân rạng rỡ của Thượng Đế. Người sẽ chào đón con như con trai Người.” Ông thầy tế cúi mình tới nhiệt tình, chuyển hướng. “Ahmad, nghe ta này. Con không nhất thiết phải làm điều này. Lời thề với Charlie không hề ràng buộc con, nếu lòng con nao núng. Có nhiều người khác khao khát danh tiếng vẻ vang và sự bảo đảm thiên phúc vĩnh cửu. Cuộc thánh chiến này đầy những kẻ tình nguyện, ngay cả ở xứ sở của cái ác và vô tín ngưỡng này.”

“Không,” Ahmad phản đối, ghen tị với đám đông kẻ khác được cho là có thể lấy cắp vinh quang của cậu. “Tình yêu Allah của con là tuyệt đối. Quà tặng của thầy là thứ con không thể từ chối.” Nhìn thấy một vẻ do dự trên khuôn mặt thầy mình, một sự xung đột giữa nhẹ nhõm và buồn rầu, một khoảng trống khó chịu, trên bề mặt bình thản thường lệ của ông ta, tính người đơn thuần của ông ta lóe lên đằng sau đó, Ahmad thấy dịu đi, hòa vào tính người với ông ta bằng câu nói đùa, “Con sẽ không để thầy nghĩ những giờ nghiên cứu Thiên Kinh của chúng ta đã bị lãng phí đâu.”

“Nhiều người nghiên cứu Sách Thánh; nhưng ít người chết vì nó. Ít người được cho cơ hội để chứng minh chân lý của nó như con.” Từ tầm cao khắc nghiệt này đến lượt Shaikh Rashid mềm lòng: “Nếu có bất kỳ sự bất định nào trong lòng, con trai yêu quý, hãy nói ra ngay bây giờ, không có sự trừng phạt nào cả. Ta sẽ xem như cuộc nói chuyện này chưa hề xảy ra. Ta chỉ yêu cầu con im lặng, một sự im lặng để cho một người có nhiều đức tin và can đảm hơn có thể thực hiện được sứ mệnh này.”

Chàng trai biết mình đang bị lèo lái, nhưng cũng thuận theo sự lèo lái này, vì nó khơi dậy tiềm năng thần thánh nơi cậu. “Không, sứ mệnh này là của con, dù trong đó con cảm thấy bị rút lại bằng cỡ con sâu.”

“Vậy thì tốt,” ông thầy kết luận, ngả người ra, nhấc đôi giày đen nhỏ đặt lên chiếc đôn gác chân thêu chỉ bạc, trong tầm nhìn. “Con và ta sẽ không nói về chuyện này nữa. Và con cũng đừng đến đây nữa. Ta nghe nói Trung tâm Hồi giáo này có thể đang bị giám sát. Hãy báo cho Charlie Chehab biết quyết định anh hùng của con. Anh ta sẽ sắp xếp cho con sớm nhận chỉ dẫn chi tiết. Cho anh ta biết tên của đứa sharmooṭa mà con coi trọng hơn mẹ con. Ta không thể nói rằng ta tán thành: phụ nữ là cánh đồng của chúng ta, nhưng mẹ chúng ta chính là Đất, từ đó chúng ta có được sự tồn tại.”

“Thầy, con muốn tiết lộ cái tên đó với thầy hơn. Charlie có biết cô ấy theo một kiểu có thể khiến anh ta thiếu tôn trọng ý định của con.”

Shaikh Rashid bực bội trước một chuyện rắc rối như thế, nó làm tổn hại tính thanh khiết trong sự phục tùng của học trò ông. “Tùy con thôi,” ông nói cứng đơ.

Ahmad viết chữ in JORYLEEN GRANT lên một mẩu giấy, như cậu đã thấy nó, cách nay chưa lâu, được ghi bằng bút bi trên mép các trang một cuốn sách giáo khoa trung học dày cộm. Hồi đó hai đứa hầu như ngang bằng nhau; giờ cậu đang đi về phía Thiên đường Jannah còn cô về phía Jahannan, Hỏa ngục. Cô là cô dâu duy nhất mà cậu muốn hưởng trên đời này. Khi viết Ahmad nhận ra rằng độ run run đã chuyển từ tay thầy cậu sang tay cậu. Cậu cảm thấy linh hồn mình như là hồn của một con ruồi trái mùa, bị kẹt trong một căn phòng ấm áp vào mùa đông, cứ bay vo ve và đâm sầm vào lớp kính của sổ ngập ánh nắng của một bầu trời nơi chúng sẽ nhanh chóng qua đời nếu ra ngoài đó.

Ngày hôm sau, một ngày thứ Tư, cậu thức sớm, như thể vừa nghe một tiếng thét tắt nhanh. Trong nhà bếp, trong bóng tối trước lúc sáu giờ, cậu chạm mặt mẹ cậu, chị đã trở lại ca trực sáng tại bệnh viện Saint Francis. Chị đoan chính mặc một cái váy ra phô màu be với cái áo len xanh mỏng khoác trên vai, bước chân lướt lặng lẽ trên đôi giày Nike trắng chị dùng cho hàng dặm đường phải đi trên nền nhà cứng của bệnh viện. Cậu cảm nhận và lấy làm mừng rằng rằng tâm trạng gần đây của chị - tính nóng nảy và lơ đãng gây ra bởi một trong những nỗi thất vọng bí ẩn mà những ảnh hưởng của nó đến bầu không khí đã gây phiền nhiễu cho cậu từ thời bé xíu - đang cải thiện. Chị không trang điểm, da dưới mắt chị tái nhợt, mắt chị đỏ sau khi trồi lên qua những tầng nước sâu của giấc ngủ. Chị chào đón cậu với vẻ ngạc nhiên: “Ô, dậy sớm dữ vậy!”

“Mẹ này...”

“Cái gì, cưng? Nhanh lên. Bốn mươi phút nữa mẹ phải trình diện rồi.”

“Con muốn cảm ơn mẹ, vì đã chịu đựng con suốt ngần ấy năm.”

“Ơ, nói gì linh tinh thế! Các bà mẹ không hề chịu đựng con mình; đứa con là lý do cho người mẹ tồn tại.”

“Không có con, mẹ có thể tự do hơn để làm nghệ sĩ, hay bất cứ thứ gì khác.”

“Ồ, mẹ có tài năng ngần nào thì mẹ là nghệ sĩ cỡ ấy thôi. Không có con để chăm sóc, có thể mẹ cứ chìm trong cảnh than thân trách phận và cư xử tệ hại. Và con đã là một chú bé ngoan hết sức, thật đấy - chưa bao giờ gây rắc rối cho mẹ, như những gì mẹ nghe kể hoài ở bệnh viện. Mà không chỉ từ những hộ lý khác đâu, còn từ các bác sĩ nữa, mà họ thì có nào học vấn, nào nhà yên cửa ấm. Họ cho con cái họ đủ mọi thứ, nhưng rồi chúng hóa ra quá quắt, tự hủy hoại mình và hủy hoại người khác. Mẹ không biết chừng nào là nhờ giáo thuyết Mohammed của con nữa. Ngay từ hồi bé xíu, con đã quá dễ tin và dễ tính. Mọi thứ mẹ nói ra, con đều nghĩ là một ý tưởng hay. Điều đó còn khiến mẹ lo, có vẻ như con bị dẫn dụ quá dễ, mẹ sợ lớn lên con bị ảnh hưởng bởi những kẻ không tốt. Nhưng nhìn con nè! Một người đàn ông hiểu biết, kiếm tiền ngon lành như con từng tuyên bố, lại đẹp trai nữa. Con có dáng dấp dong dỏng dễ yêu của ba con, và đôi mắt với cái miệng khêu gợi của anh ta, nhưng không có cái hèn nhát của anh ta, luôn tìm kiếm một con đường tắt.”

Cậu không nói về con đường tắt đến Thiên đường mà cậu sắp đi. Thay vào đó cậu nói với chị, “Mẹ, chúng con không gọi đó là giáo thuyết Mohammed. Nghe cứ như tụi con thờ phượng Mohammed vậy. Ông không bao giờ tuyên bố mình là Thượng Đế; ông chỉ là sứ giả của Thượng Đế. Phép lạ duy nhất ông từng thực hiện chính là kinh Qur’an.”

“Phải, ờ, con yêu, Công giáo cũng đầy những phân biệt rườm rà kiểu đó, về đủ thứ chuyện mà chả ai thấy được. Người ta bịa ra trong cơn cuồng loạn rồi chúng được chấp nhận như chân lý đương nhiên. Những thứ như huy hiệu thánh Christopher rồi thì tránh chạm răng vào bánh thánh rồi thì cầu kinh trong thánh lễ bằng tiếng Latinh rồi thì kiêng thịt vào ngày thứ Sáu rồi thì làm dấu thánh liên tục, thế rồi Công đồng Vatican Hai thản nhiên gác bỏ tất cả trò đó - các thứ mà người ta đã tin suốt hai ngàn năm! Mấy bà xơ làm rùm beng những chuyện ngớ ngẩn như thế, và mong đợi bọn trẻ tụi mình cũng làm như vậy, nhưng mẹ chỉ thấy có một thế giới tuyệt đẹp quanh mẹ, dù ngắn ngủi đến đâu, và mẹ muốn tạo những hình ảnh về cái đẹp của nó.”

“Trong Hồi giáo, điều đó được gọi là phạm thượng, cố tiếm đặc quyền sáng tạo của Thượng Đế.”

“Ồ, mẹ biết. Đó là lý do tại sao không có bất cứ tranh tượng nào trong giáo đường Hồi giáo. Với mẹ cái đó có vẻ khắc khổ không cần thiết. Vậy Thượng Đế cho chúng ta đôi mắt để nhìn cái gì chứ?”

Chị nói trong khi đang rửa tô bột ngũ cốc rồi đặt vào rổ chén trong bồn, vội lấy bánh mì ra khỏi lò nướng, đoạn vừa nhấp cà phê vừa phết mứt lên bánh mì. Ahmad nói với chị, “Thượng Đế được cho là không thể miêu tả. Các bà xơ không nói điều đó sao?”

“Theo mẹ nhớ thì không. Tuy nhiên, hồi đó mẹ chỉ học ở trường nhà thờ có ba năm, rồi chuyển sang trường công, ở đó theo quy định họ không đề cập đến Chúa, vì sợ đứa nhỏ Do Thái nào đó sẽ về nhà kể lại với bố mẹ vô thần làm luật sư của nó.” Chị nhìn đồng hồ tay, mặt dày như đồng hồ của thợ lặn, với những con số lớn để chị có thể thấy trong khi đang đếm mạch. “Cưng này, mẹ rất thích nói chuyện nghiêm túc, có lẽ con có thể cải đạo mẹ, trừ ba cái thứ quần áo lùng thùng nóng bức họ buộc phải mặc, nhưng bây giờ mẹ sắp trễ thật rồi, phải chạy đây. Thậm chí mẹ không có thời gian để chở con qua chỗ làm, mẹ rất tiếc, song dù sao con cũng sẽ tới đó đầu tiên. Sao con không ăn xong bữa sáng rồi rửa chén và cuốc bộ đến cửa hàng, hay thậm chí chạy nhỉ? Nó chỉ cách mười dãy nhà.”

“Mười hai lận.”

“Còn nhớ con thường mặc quần điền kinh cụt ngủn chạy khắp nơi không? Mẹ tự hào lắm, trông con thiệt hấp dẫn.”

“Mẹ, con yêu mẹ.”

Xúc động, thậm chí điếng người, cảm nhận được một vực thẳm khẩn cầu nào đó bên trong cậu nhưng chỉ có thể vọt tới bờ mép rồi rời xa ra, Teresa hôn vội lên má con trai và nói với Ahmad, “Ô, dĩ nhiên rồi, cục cưng, và mẹ cũng yêu con. Tiếng Pháp nói sao nhỉ? Ça va sans dire. Không cần phải nói.”

Cậu đỏ mặt, một cách ngốc nghếch, thấy thù ghét khuôn mặt nóng bừng của mình. Nhưng cậu phải thổ lộ điều này: “Ý con là, suốt những năm đó, con cứ nghĩ hoài đến ba con, trong khi mẹ mới là người chăm sóc con.” Mẹ chúng ta chính là Đất, từ đó chúng ta có được sự tồn tại.

Hai bàn tay chị lướt khắp người mình để kiểm tra xem mọi thứ đã đâu vào đó chưa; chị lại nhìn đồng hồ tay, và cậu có thể cảm thấy tâm trí chị đang bay, bay đi mất. Câu trả lời của chị khiến cậu không chắc chị có nghe cậu nói. “Mẹ biết, cưng - chúng ta ai cũng phạm sai lầm trong các mối quan hệ. Con có thể tự lo bữa tối nay không? Nhóm vẽ phác họa tối thứ Tư bắt đầu sinh hoạt lại, tối nay bọn mẹ thuê người mẫu - con biết đó, mỗi người hùn mười đô trả cho cô ta để có những tư thế năm phút sau đó là một tư thế mẫu lâu hơn, có thể đem bột màu nhưng họ không khuyến khích xài sơn dầu. Dù sao thì bữa nọ Leo Wilde có gọi điện và mẹ đã hứa đi với ông ta. Con còn nhớ Leo chứ? Mẹ có hồi hẹn hò với ông ấy, chút ít thôi. Chắc mập, buộc tóc đuôi ngựa, đeo kính lão nhỏ xíu trông tức cười...”

“Con nhớ ông ta rồi, mẹ à,” Ahmad lạnh nhạt nói. “Một trong mấy ông bạn vô tích sự của mẹ.”

Cậu nhìn theo chị chạy ào ra cửa, nghe bước chân bọc đệm hối hả của chị trong hành lang và tiếng thang máy rè rè khi chị nhấn nút gọi. Ra bồn rửa cậu rửa cái tô dơ và ly nước cam với sự sốt sắng mới mẻ, sự chu đáo của lần cuối. Cậu để vào rổ chén cho khô. Chúng sạch tinh tươm, như một buổi sáng sa mạc, trăng lưỡi liềm và sao Kim cùng ngự trị bầu trời.

Tại Excellency, ngoài bãi đậu xe, chiếc xe tải cam vừa mới chất hàng chắn giữa họ và cửa sổ văn phòng mà từ đó ông Chehab già hói có thể thấy họ đang nói chuyện và ngờ tới một âm mưu, cậu nói với Charlie, “Tôi đồng ý tham gia.”

“Tôi có nghe rồi. Tốt.” Charlie nhìn Ahmad, và cậu trai như thể lần đầu nhìn thấy đôi mắt Li Băng của anh ta, trong suốt đầy vẻ phức tạp, bởi phần này của chúng ta không hoàn toàn là da thịt, cứng giòn với những tia và những hạt màu hổ phách, vùng quanh đồng tử nhạt hơn vành nâu đen viền quanh tròng đen. Charlie có vợ con và một ông bố, Ahmad nhận ra; anh ta bị buộc chặt vào thế giới này còn cậu thì không. Tính vật chất của anh ta rắc rối hơn. “Cậu chắc chứ, Madman?”

“Có Thượng Đế chứng giám,” Ahmad nói với anh ta. “Tôi khao khát làm chuyện đó.”

Cậu luôn cảm thấy hơi bối rối, không hiểu tại sao, mỗi khi Thượng Đế xuất hiện chen giữa cậu và Charlie. Anh chàng này lại làm những động tác miệng rối rắm mau lẹ, mím hai môi lại với nhau và sau đó phù ra, như thể một cái gì đó bên trong đã bị giữ lại không cho thoát ra một cách tiếc nuối.

“Vậy cậu sẽ cần gặp một số chuyên gia. Tôi sẽ dàn xếp vụ đó.” Anh ta ngần ngừ. “Việc này hơi phức tạp, không làm ngay ngày mai được. Bồn chồn lo lắng gì không?”

“Tôi đã phó thác phận mình vào tay Thượng Đế, và cảm thấy rất bình yên. Ý chí của riêng tôi, những khao khát của riêng tôi, đều đã ngủ yên.”

“Tốt.” Charlie giơ nắm tay lên đấm vào vai Ahmad, một cử chỉ bày tỏ tình đoàn kết và chúc mừng lẫn nhau như khi các cầu thủ bóng bầu dục cụng mũ bảo hộ, hoặc các đấu thủ bóng rổ đập tay nhau giữa khi chạy lui về vị trí phòng thủ. “Mọi thứ sẵn sàng rồi,” Charlie nói, nụ cười gượng và đôi mắt cảnh giác của anh ta hòa trong một vẻ mặt mà ở đó Ahmad nhận thấy bản chất pha trộn - Mecca và Medina, nguồn phấn hứng say sưa và sự giải quyết kiên nhẫn - của bất kỳ công cuộc thần thánh nào trên Trái đất này.

Không phải ngày hôm sau mà là hôm sau nữa, thứ Sáu, Charlie, ngồi bên ghế lái phụ, hướng dẫn xe tải rời khỏi bãi xe và rẽ phải vào đường Reagan, rồi quẹo trái ngay ngã tư gặp đường 16 chạy tới West Mam, vào khu vực New Prospect bao gồm mấy dãy nhà phố nằm phía Tây Trung tâm Hồi giáo, nơi những di dân từ Trung Đông, người Thổ Nhĩ Kỳ, người Syria, người Kurd bị nhét vào khoang hạng bét trên những chuyến tàu xuyên Đại Tây Dương hào nhoáng, đã định cư cách nay nhiều thế hệ, khi những nhà máy nhuộm lụa và thuộc da còn hoạt động nhộn nhịp. Những bảng hiệu, đỏ trên nền vàng, đen trên nền xanh, quảng cáo bằng chữ Ả Rập và mẫu tự La Mã Al Madena Grocery, Turkiyem Beauty, Al-Basha, Baitul Wahid Ahmadiyya. Những ông già trên phố từ lâu đã bỏ áo chùng và mũ đuôi seo để mặc com lê kiểu Tây phương màu đen nhờ nhờ, bèo nhèo do mặc mỗi ngày, trang phục ưa thích của dân Địa Trung Hải, Sicily và Hy Lạp đã đến định cư trước họ trong khu những ngôi nhà phố chen sát mé đường này. Những người Mỹ gốc Ả Rập trẻ hơn, nhàn rỗi và cảnh giác, đã tiếp thu kiểu giày chạy bộ dềnh dàng, quần bò quá khổ thùng thình, áo phông có mũ trùm đầu của bọn trai da đen đô thị. Ahmad, với sơ mi trắng nghiêm trang và quần bò đen mảnh dẻ như hai ống khói, không hợp với chỗ này. Đối với những đồng đạo ấy, Hồi giáo ít có vẻ là một tín ngưỡng, một cửa ngõ dát vàng dẫn vào thế giới siêu nhiên, mà giống một thói quen, một khía cạnh của thân phận tầng lớp dưới của họ, một ngoại kiều tại một đất nước cứ nhất định cho mình là nước Cơ Đốc giáo, nói tiếng Anh và da sáng. Với Ahmad những khu phố này có vẻ như một thế giới ngầm cậu đang rụt rè viếng thăm, một người ngoài cuộc giữa những người ngoài cuộc.

Charlie có vẻ thoải mái ở đây, vui vẻ trao đổi những lời huyên thuyên trong khi hướng dẫn Ahmad đưa xe vào một bãi đậu chật cứng đằng sau một cửa hàng phụ tùng Pep Boys và cửa hàng kim khí al-Aqsa True Value. Anh ta giơ mười ngón tay lên với vẻ nài nỉ trước tay nhân viên bán hàng True Value vừa xuất hiện, biện luận rằng không ai biết điều mà lại từ chối anh ta mười phút đậu xe tránh khỏi đường chính; để làm rõ ý của anh ta, một tờ mười đô liền được trao tay. Vừa đi anh ta vừa lầm bầm với Ahmad, “Ra mặt phố chiếc xe tải mắc dịch đó nổi bật cứ như cái xe tải rạp xiếc vậy.”

“Anh không muốn bị theo dõi,” Ahmad suy luận. “Nhưng ai theo dõi chứ?”

“Sao mà biết được,” Charlie trả lời, nghe không thỏa đáng. Họ đi bộ, nhanh hơn tốc độ thường lệ của Charlie, dọc theo con hẻm nhỏ chạy song song với phố Main, đôi chỗ chạy dọc những hàng rào lưới mắt cáo, phía trên là cuộn kẽm gai, những bãi đất rải nhựa đường treo bảng cấm Đất Riêng và Chỉ Dành Cho Khách Hàng, và những hiên nhà, những thềm trước của các khu nhà ở rụt rè chen vào các khoảnh đất khuất nẻo của không gian đô thị, những mặt hông lát ván ban đầu giờ được dán tấm che nhôm hoặc tôn thiếc có hoa văn giả như xây bằng gạch. Những kiến trúc không dùng cho cư trú, bằng gạch thật, sạm màu theo thời gian, được dùng làm nhà kho và khu xưởng trong sân sau cho những cửa hàng có mặt tiền quay ra phố Main; một số giờ chỉ là cái vỏ rỗng được bít kín bằng ván, mỗi cửa sổ phơi ra đều bị đập nát bởi những kẻ phá hoại có phương pháp, còn từ những tòa nhà khác phát ra ánh sáng lóa và tiếng động chát chúa, ở đấy người ta đang tiến hành sản xuất quy mô nhỏ hoặc vẫn còn trong quá trình sửa chữa dang dở. Trên một tòa nhà như thế, gạch sơn màu nâu u ám, những cửa sổ khung kim loại của nó đã trở nên mờ đục không nhìn thấu do bên trong cũng sơn một lớp màu nâu xỉn như vậy. Lớp cửa cuốn ở nhà để xe rộng đã đóng kín, và bảng hiệu bằng thiếc bên trên, với hàng chữ sơn tay vụng về XƯỞNG MÁY COSTELLO Chuyên sửa chữa và làm đồng, đã phai màu và gỉ sét đến mức gần như không đọc được. Charlie gõ lên cánh cửa hông nhỏ bằng kim loại rập hoa văn quả trám, ổ khóa đồng còn mới sáng choang. Sau khoảng im lặng hơi lâu, một giọng bên trong hỏi, “Vâng? Ai đó?”

“Chehab,” Charlie đáp. “Với tài xế.”

Anh ta nói nhỏ đến độ Ahmad không dám chắc bên trong có nghe thấy không, nhưng cửa mở ra thật, và một thanh niên cau có bước tránh sang một bên. Ahmad đang còn ngờ ngợ mình đã gặp anh chàng này trước đây rồi thì Charlie, với bàn tay cứng nhắc do sợ hãi, chộp mạnh tay cậu và đẩy cậu vào trong. Không gian bên trong bốc mùi nền bê tông đẫm dầu và một chất bất ngờ mà Ahmad nhận ra được nhờ hai mùa hè theo phụ việc cho một nhóm cắt cỏ vườn hồi cậu còn thiếu niên: phân bón. Mùi ăn da khô khốc của nó làm rát hốc lỗ mũi và xoang của cậu; còn có mùi của một cây đèn hàn xì bằng khí axêtylen và mùi của thân thể đàn ông trong không gian kín ít tắm rửa và hong gió. Ahmad tự hỏi không biết những ông này - hai người tất cả, một trẻ tuổi mảnh khảnh và một đậm chắc lớn tuổi hơn, hóa ra là chuyên viên kỹ thuật - có nằm trong nhóm bốn người trong ngôi nhà gỗ trên Jersey Shore không. Cậu mới chỉ thấy họ vài phút, trong một căn phòng tối mờ và sau đó qua một cửa sổ bụi bặm, nhưng họ cũng toát ra vẻ căng thẳng lầm lì ấy, như của những vận động viên chạy bộ đường trường đã tập luyện quá lâu. Họ bực bội khi bị yêu cầu nói chuyện. Nhưng với Charlie họ buộc phải tỏ sự tôn trọng dành cho người cung cấp và tổ chức, ở cấp bên trên họ. Họ nhìn Ahmad theo một kiểu khiếp sợ, cứ như, vì sẽ mau chóng trở thành kẻ tử vì đạo, cậu đã là một bóng ma.

“Lā ilāha illā Allāh,” cậu chào họ, như một lời trấn an. Chỉ có gã trẻ tuổi - tuy trẻ song anh ta vẫn lớn hơn Ahmad vài tuổi - đáp lại tương tự, “Muḥammad rasūlu Allāh,”[2] lầm bầm công thức đó như thể bị lừa tiết lộ một điều bí mật. Ahmad thấy rằng chớ mong gì có chút phản ứng con người đơn thuần, chút sắc thái cảm thông hay hài hước từ những người này; họ là những đặc vụ, chiến sĩ, đơn vị. Cậu đứng thẳng người lên, mong được sự trân trọng của họ, khi gánh vác vai trò tương tự.

Dấu vết sinh hoạt trước đây của tòa nhà khi còn là Xưởng máy Costello vẫn lưu lại trong bầu không khí bức bí chia thành lớp: bên trên, những xà rầm, dây xích, ròng rọc để nâng máy móc và trục xe; những bàn thợ và những dãy ngăn kéo nhỏ, núm kéo đen sì bởi những ngón tay dính dầu mỡ; những bảng treo dụng cụ trên đó in đậm đường viền các dụng cụ nay đã vắng mặt; những đoạn dây, tấm kim loại và ống cao su bị bỏ lại ngay chỗ bàn tay cuối cùng vất chúng qua một bên khi cuộc sửa chữa cuối cùng kết thúc; hàng đống lon dầu, những miếng đệm, dây curoa kéo và thùng chứa phụ tùng rỗng vất bỏ trong các góc nhà, đằng sau những thùng dầu được dùng làm thùng rác. Ngay giữa sàn bê tông, dưới những ngọn đèn duy nhất còn sáng, với những sợi dây điện chạy vào buồng lái giống như những ống truyền duy trì sự sống cho người bệnh, là một chiếc xe tải có kích cỡ và hình dáng rất giống chiếc Excellency. Thay vì mẫu Ford Triton E-350, nó là chiếc GMC 3500, không phải màu cam mà là màu trắng ảm đạm, y như khi xuất xưởng. Bên hông nó có kẻ son, bằng kiểu chữ in hoa đen cẩn thận nhưng không chuyên nghiệp, hàng chữ WINDOW SHADES SYSTEMS.

Ahmad vừa thấy là đã không thích chiếc xe này rồi; nó có cái vẻ nặc danh lén lút, một sự trống không chung chung. Nó có vẻ nhếch nhác, bị đối xử tệ bạc. Ở ven đường cao tốc thu lệ phí New Jersey cậu thường thấy những xe con cổ từ thập niên sáu mươi và bảy mươi, có dáng phồng lên, hai màu son và mạ crôm, bị hỏng máy, bên cạnh gia đình da màu bất hạnh nào đó tụm lại chờ cảnh sát bang đến giải cứu họ và kéo món hàng mua rẻ tồi tàn của họ đi. Chiếc xe tải màu trắng này phảng phất vẻ nghèo nàn như thế, những nỗ lực thảm hại như thế để tồn tại ở nước Mỹ, để tham gia vào dòng chủ lưu bảy mươi dặm một giờ thoải mái. Chiếc Subaru màu mận của mẹ cậu, với tấm chắn bùn trét matít và lớp sơn men đỏ bị bào mòn qua bao năm phơi trong không khí nhiễm axit của New Jersey, là một nỗ lực tội nghiệp khác. Trong khi chiếc Excellency màu cam tươi rạng, với những chữ viền vàng, có một vẻ trẻ trung bảnh bao, một vẻ rạp xiếc, như Charlie nói.

Tay đặc vụ thấp và lớn tuổi hơn trong hai người, cũng là người có chút xíu thân thiện hơn, ra hiệu bảo Ahmad đến cùng ông ta nhìn vào cánh cửa buồng lái mở sẵn. Hai bàn tay ông ta, các đầu ngón tay dính đầy dầu, vọt đến một bộ phận bất thường giữa hai ghế ngồi - một hộp kim loại cỡ bằng bao xì gà, phần kim loại được sơn màu nâu xám nhà binh, với hai núm điện cực trên mặt và những sợi dây bọc cách điện chạy từ hai núm này ngược vào thân xe tải. Vì khoảng trống giữa ghế hành khách và ghế tài xế rất sâu và khó lòng thò tay vào, nên thiết bị này không nằm trên sàn xe mà trên một két nhựa chở sữa úp ngược, được dán băng dính vào đáy két cho chắc. Một bên hộp kích nổ - vì nó ắt là hộp kích nổ - có một cần gạt màu vàng, và ở giữa, chìm ở đáy một lỗ hõm nhỏ vừa khít ngón cái sâu chừng hơn một phân, một nút đỏ bóng loáng. Mã màu mang vẻ đơn giản quân sự, gợi nghĩ đến những thanh niên ngu dốt được huấn luyện theo những cách thức đơn giản nhất có thể, nút chìm để ngừa chuyện kích nổ ngoài ý muốn. Người đàn ông này giải thích với Ahmad, “Công tắc này là công tắc an toàn. Đẩy sang phải” - tách - “giống vầy, thiết bị sẵn sàng. Sau đó nhấn nút xuống và giữ nguyên - bùm. Bốn ngàn ký lô thuốc nổ trong thùng xe. Gấp đôi khối lượng McVeigh xài. Cần nhiều như thế để phá vỡ vỏ thép bọc đường hầm.” Hai bàn tay đầu ngón đen thui của ông ta vẽ thành vòng tròn, minh họa.

“Đường hầm,” Ahmad lặp lại, ngơ ngác, trước đây chả có ai nói gì với cậu về đường hầm nào cả. “Đường hầm nào?”

“Lincoln,” người đàn ông đáp, với một chút ngạc nhiên nhưng không xáo động nhiều hơn một công tắc được bật. “Xe tải không được vào đường hầm Holland.”

Ahmad im lặng tiếp thu chuyện này. Người đàn ông quay sang Charlie. “Cậu ta biết không?”

“Giờ biết rồi,” Charlie nói.

Người đàn ông cười nhe răng sún với Ahmad, vẻ thân thiện của ông ta tăng lên. Đôi tay ông ta múa lên vẽ một vòng tròn lớn hơn. “Giờ cao điểm buổi sáng,” ông ta giải thích. “Từ mé Jersey. Đường hầm bên phải, đường duy nhất cho xe tải. Được xây mới nhất trong số ba đường, năm một chín năm mốt. Mới nhất nhưng không phải chắc chắn nhất. Công trình cũ lại tốt hơn. Qua hai phần ba, là chỗ yếu, đường hầm vòng. Cả cho lớp vỏ ngoài không bể và vẫn ngăn được nước, thì hệ thống thông khí bị phá, tất cả chết ngạt. Khói, sức ép. Với cậu, không đau đớn, thậm chí không một giây kinh hoàng. Thay vào đó, hạnh phúc thắng lợi và sự chào đón nồng ấm của Thượng Đế.”

Ahmad nhớ lại một cái tên được giao hàng mấy tuần trước. “Ông là Karini?”

“Không, không,” ông ta nói. “Không không không. Thậm chí không phải bạn. Bạn của bạn thôi - tất cả chiến đấu vì Thượng Đế chống lại nước Mỹ.”

Tay đặc vụ trẻ, không lớn hơn Ahmad bao nhiêu, nghe từ “nước Mỹ” liền thốt ra một câu tiếng Ả Rập dài sôi nổi mà Ahmad không hiểu. Ahmad hỏi Charlie, “Anh ta nói gì vậy?”

Charlie nhún vai. “Chuyện thường ngày thôi.”

“Anh chắc chuyện này thành công hả?”

“Nó sẽ gây khối thiệt hại, ít ra là vậy. Nó sẽ phát đi một thông điệp. Nó sẽ trở thành tin tức hàng đầu khắp thế giới. Mọi người sẽ nhảy múa trên đường phố Damascus và Karachi, vì cậu đấy, Madman.”

Người đàn ông vô danh lớn tuổi hơn nói thêm, “Cả Cairo nữa.” Ông ta nở nụ cười thu hút khoe hàm răng vuông, thưa, ám khói thuốc lá rồi đưa tay đấm ngực mà nói với Ahmad, “Ai Cập.”

“Cha tôi cũng là người Ai Cập!” Ahmad kêu lên, nhưng để phát triển thêm mối liên hệ ấy cậu chỉ có thể nghĩ ra câu hỏi, “Ông thấy Mubarak thế nào?”

Nụ cười lịm tắt. “Công cụ của Mỹ.”

Charlie, như thể tham gia vào trò chơi, hỏi, “Các ông hoàng Saudi?”

“Công cụ nốt.”

“Còn Muammar al-Qadaffi thì sao?”

“Giờ cũng là công cụ. Rất tệ.”

Ahmad bực tức chuyện Charlie xen vào câu chuyện mà xét cho cùng là giữa những nhân vật chính, chuyên viên kỹ thuật và kẻ tử vì đạo; cứ như thể khi vị trí tử vì đạo của cậu được đảm bảo thì cậu có thể bị gạt sang một bên. Cũng là công cụ. Cậu khẳng định mình bằng cách hỏi, “Osama bin Laden?”

“Anh hùng vĩ đại,” người đàn ông với những ngón tay dính dầu đen thui đáp. “Không thể bị bắt. Giống như Arafat. Một con cáo.” Ông ta mỉm cười, nhưng không quên điểm chính của cuộc gặp này. Ông ta nói với Ahmad bằng thứ tiếng Anh cẩn thận nhất có thể, “Cậu làm thử tôi coi nào.”

Chàng trai rơi vào một cảm giác đông cứng, như thể thực tế đã tuột đi một lớp ngụy trang cồng kềnh. Cậu vượt qua cảm giác không ưa chiếc xe tải trần trụi xấu xí đó, cũng là thứ dùng rồi bỏ giống cậu. Cậu thò tay tới hộp kích nổ, mặt cậu căng ra thành một câu hỏi.

Tay kỹ thuật đậm chắc mỉm cười trấn an cậu, “Ổn mà. Chưa nối dây. Làm thử coi.”

Cái cần gạt màu vàng nhỏ, thiết diện hình chữ L, có vẻ chạm vào tay cậu thì đúng hơn là tay cậu chạm nó. “Tôi gạt nút này sang phải” - nó cưỡng lại khó khăn, rồi bật mạnh như bị hút, như thể nhiễm từ, vào vị trí off, theo góc chín mươi độ - “và ấn nút này ở chỗ dưới này.” Một cách vô thức cậu nhắm mắt lại, cảm nhận nó lún xuống độ một phân.

“Và giữ nguyên đó,” kẻ chỉ dạy cậu lặp lại, “cho đến khi...”

“Bùm,” Ahmad nối theo.

“Phải,” người đàn ông đồng ý; từ này lơ lửng trong không khí như một đám sương mù.

“Cậu rất can đảm,” gã thanh niên gầy, cao hơn, trẻ hơn trong hai người lạ ấy nói, bằng thứ tiếng Anh gần như không bị lơ lớ.

“Cậu ta là đứa con trung thành của Hồi giáo,” Charlie nói với anh ta. “Tất cả chúng ta đều ghen tị với cậu ấy, đúng không?” Ahmad lại thấy bực với Charlie, vì lối cư xử ra vẻ ông chủ cả ở nơi anh ta không có quyền sở hữu. Chỉ người thực hiện hành động mới là chủ của hành động. Có gì đó lơ đãng và hống hách trong cung cách của Charlie khiến cậu hồ nghi về bản chất tuyệt đối của istishhād và trạng thái thiên hứng, tràn đầy kinh sợ của istishhādī.

Có lẽ tay chuyên viên kỹ thuật cũng cảm thấy tình trạng hơi thiếu hòa hợp này giữa các chiến binh, vì vậy ông ta đặt bàn tay ân cần lên vai Ahmad, khiến những vết tay dầu mỡ làm bẩn áo sơ mi trắng của cậu, và giải thích với mấy người kia. “Con đường của cậu ấy tốt. Làm anh hùng vì Allah.”

Trở lại trong chiếc xe tải màu cam tươi tắn, Charlie giãi bày với Ahmad. “Thấy đầu óc họ làm việc thật thú. Công cụ, anh hùng: không hề có cấp độ nào ở giữa. Làm như Mubarak và Arafat và mấy ông hoàng xứ Saudi không hề có những tình huống đặc biệt và những cuộc chơi rắc rối mà họ phải chơi vậy.”

Một lần nữa Charlie diễn tả một cảm xúc mà với Ahmad, trong ý thức về bản thân vừa được đơn giản hóa và thăng hoa của cậu, có vẻ hơi giả dối. Quan điểm rằng mọi thứ đều tương đối xem mòi giễu cợt. Cậu nói với giọng phản bác lịch sự, “Có lẽ bản thân Thượng Đế thì đơn giản, và Người sử dụng những con người đơn giản để định hình thế giới.”

“Công cụ,” Charlie nói, nhìn một cách không vui qua kính chắn gió, mà Ahmad chùi mỗi sáng nhưng luôn đầy bụi vào lúc cuối ngày. “Tất cả chúng ta đều là công cụ. Thượng Đế ban phước cho những công cụ đần độn - đúng không, Madman?”

Một sự đơn giản nào đó quả đã ôm riệt lấy Ahmad trong những đoạn trầm giữa những đợt thăng cao của kinh hoàng rồi đến phấn khích, rơi trở vào tâm trạng nôn nóng muốn làm cho xong. Bỏ nó lại sau lưng cậu, bất kể “cậu” lúc ấy sẽ là gì. Cậu tồn tại như một láng giềng kề bên cõi không thể tưởng tượng nổi. Thế giới với những tiểu tiết rực nắng, những tia nhấp nháy li ti của các guồng máy đan xen nhau, mở toác khắp xung quanh cậu, một lòng chảo lấp lánh chứa đựng sự trống rỗng nhộn nhịp, trong khi bên trong cậu một sự chắc chắn đen ngòm ướt sũng đang đè nặng. Cậu không thể quên sự chuyển hóa đang chờ đợi cậu, đằng sau màn trập của máy quay phim khi đóng sập, có thể nói thế, ngay cả khi các giác quan cậu còn đang nhận liên tục dồn dập những hình ảnh, âm thanh, mùi vị quen thuộc, vẻ lộng lẫy của Thiên đường ngấm ngược vào cuộc sống hằng ngày của cậu. Mọi thứ sẽ cho cảm giác thật lớn lao ở đó, trên tầm cỡ vũ trụ; hồi nhỏ, khi chỉ mới bước vào đời này được ít năm, mỗi khi thiếp ngủ, cậu vẫn thường trải qua cảm giác về sự vĩ đại, mỗi tế bào là một thế giới, chính điều đó đã chứng minh chân lý của tôn giáo cho đầu óc trẻ con của cậu.

Lượng công việc của cậu tại Excellency đã giảm bớt, và cậu được cho những khoảng thời gian rỗi rãi dành để đọc kinh Qur’an, hoặc nghiên cứu những tập sách mỏng, có sẵn từ những nguồn nước ngoài, được biên soạn và in để chuẩn bị cho một shahīd - nghi thức tắm rửa, việc thanh tẩy linh hồn trong tâm tưởng - đón nhận cái kết của anh ta, hoặc của chị ta, vì phụ nữ hiện nay, ở Palestine, với áo chùng đen rộng lùng thùng dễ che giấu những bộ áo chẽn gắn chất nổ, đã được phép hưởng đặc ân tử vì đạo. Nhưng đầu óc cậu quá kích động đến độ không thể chuyên tâm nghiên cứu. Toàn bộ cuộc sinh tồn của cậu đã trở nên hoan lạc, hẳn giống như Đấng Tiên tri Mohammed hoan lạc khi được Gabriel tuyên đọc cho những chương kinh thần thánh. Mỗi phút của Ahmad đều đã thấm thía sự song trùng gần gũi khi cầu nguyện, hành động tự giải thoát là quay sang nói chuyện với một cái tôi không phải chính cậu mà là một Người khác, một Hữu thể gần kề hơn tĩnh mạch nơi cổ cậu. Mỗi ngày hơn năm lần cậu tìm được cơ hội, thường là trong bãi đậu xe trơ trọi của cửa hàng, trải tấm nệm quay về hướng Đông và dập đầu chạm đất, mỗi lần lại nhận được, qua nền xi măng, niềm an ủi thân thiết từ sự phục tùng. Khối nặng đen ngòm như xỉ quặng đeo đẳng trong cậu đã bóp méo cái nhìn của cậu về thế giới, đeo cho mỗi nhánh cây và dây điện thoại những viên đá quý mà trước đây cậu chưa bao giờ nhận thấy.

Sáng thứ Bảy, trước khi cửa hàng mở cửa, cậu ngồi trên bậc thềm sàn bốc dỡ hàng, quan sát một con bọ cánh cứng đen lật ngửa vùng vẫy trên nền xi măng của bãi đậu xe. Hôm nay là mười một tháng Chín, vẫn mùa hè. Nắng sớm chiếu xiên trên nền xi măng nhợt nhạt, thô nhám với một vẻ dịu mát mang trong nó cái nóng của ngày đang đến, như hạt giống chưa nảy mầm mang trong nó bông hoa sẽ nở về sau. Lớp bê tông nứt nẻ đã cho phép cỏ dại phát triển, thứ cỏ dại cao của mùa sắp tàn, với những chiếc lá lông mịn đính bọt côn trùng trắng đục, ướt đẫm sương mùa thu. Bầu trời trên đầu trong vắt, trừ mấy dải mây khô khan và một vệt khói máy bay phản lực đang tan. Màu xanh trong trẻo của nó vẫn là màu xanh lơ, mềm dịu, do mới đây còn chìm trong bóng tối và những vì sao. Những cái chân đen bé tí của con bọ cánh cứng quơ quơ trong không khí, quờ quạng tìm điểm tựa để tự lật mình trở lại, hắt những chiếc bóng sắc nét thêm dài do ánh nắng xiên buổi sáng. Mớ chân của sinh vật nhỏ bé này ngọ ngoạy quơ quào theo một kiểu như giận dữ, rồi yếu dần thành một vẻ như suy tư, cứ như con bọ này đang tìm cách lý luận hòng thoát khỏi cảnh khổ sở của nó. Ahmad tự hỏi, Con bọ này từ đâu ra vậy? Làm sao nó rơi xuống đây, có vẻ như không sử dụng nổi đôi cánh của mình? Cuộc vùng vẫy lại bắt đầu. Bóng những cái chân của nó rõ nét làm sao, hắt xuống với một độ trung thực đầy yêu thương bởi những hạt photon đã vượt chín mươi ba triệu dặm tới chính điểm này!

Ahmad nhổm khỏi chỗ ngồi trên bậc thềm gỗ thô và đứng nhìn xuống chú côn trùng theo kiểu chúa tể, cảm thấy mình to lớn. Nhưng cậu lại tránh chạm vào mẩu sinh linh bí ẩn đã rơi xuống đây ấy. Có thể nó có nọc độc, hoặc, giống như một sứ giả tí hơn nào đó từ Hỏa ngục, nó sẽ bám vào ngón tay cậu và không bao giờ buông ra. Nhiều anh chàng - Tylenol chẳng hạn - đơn giản là sẽ đưa chân nghiền nát kẻ hiện hữu ngứa mắt này, nhưng với Ahmad không có chọn lựa này: làm thế sẽ tạo ra một xác chết dẹp lép, một đống những bộ phận bé nhỏ bị nghiền nát và mớ chất lỏng sống tràn ra, và cậu không mong muốn ngắm bất cứ cảnh ghê tởm hữu cơ nào như thế. Cậu nhìn quanh để tìm một công cụ, một cái gì cứng để lật con côn trùng này lại - một mẩu bìa cứng đen chẳng hạn, vẫn được dùng để nối hai thỏi kẹo Mounds vào với nhau, hoặc để gia cố thêm một miếng kẹo đôi Reese’s Peanut Butter Cup - nhưng cậu chẳng thấy thứ gì thích hợp. Công ty Nội thất Excellency cố giữ cho bãi đậu xe riêng của nó sạch rác. Gã “cơ bắp” Mỹ gốc Phi và bản thân Ahmad từng được phái vào đó với một túi đựng rác xanh, với nhiệm vụ dọn rác. Cậu không phát hiện một vật mỏng nào tình cờ nằm quanh quất, nhưng do một ý nghĩ bất ngờ, nhớ tới bằng lái trong ví, một miếng nhựa hình chữ nhật mang hình ảnh cau có khó ưa của cậu gắn liền với một mớ số liệu quan trọng với bang New Jersey và hình ba chiều đại triện của bang chống làm giả. Bằng vật này, sau vài lần thăm dò, dè dặt, cậu cũng lật được sinh vật bé nhỏ này lại cho nó đứng trên chân mình. Nắng khiến những tia lấp lánh, tía và xanh lục, ánh lên trên vỏ cứng hai phần của đôi cánh gấp lại. Ahmad trở lại hàng hiên trên bậc thềm để tận hưởng kết quả tốt đẹp của cuộc giải cứu, sự can thiệp nhân từ của cậu vào trật tự thiên nhiên. Bay đi, bay đi.

Nhưng con bọ, dù đã lật trở lại, thân thể sáng bóng đỡ trên sáu cái chân bé xíu trên nền bê tông thô nhám, chỉ bò được một đoạn bằng một phần nhỏ chiều dài của nó rồi nằm im. Râu nó quờ quạng dò tìm, rồi cũng dừng lại. Trong năm phút ít nhiều như vĩnh cửu đó, Ahmad quan sát. Cậu cất bằng lái với mớ thông tin mã hóa vào ví. Những chiếc xe gào rống tiếng nhạc rap phóng qua khuất tầm nhìn trên đại lộ Reagan, âm thanh bùng lên rồi lùi xa dần. Một chiếc máy bay lấy độ cao đang bay khỏi sân bay Newark kêu ầm ì trên bầu trời khô cứng dần. Con bọ, cùng với cái bóng đang co lại dần mỗi lần một khoảng cực nhỏ, vẫn bất động.

Nó đã nằm ngửa trong cơn giãy chết và bây giờ đã chết, để lại sau lưng một sự lớn lao vốn không thuộc về thế giới này. Trải nghiệm này, được phóng đại lạ lùng như thế, mang tính siêu nhiên, Ahmad cảm thấy chắc chắn vậy.

❀ ❀ ❀

[1] “Curiosity killed the cat” (Sự tò mò giết chết con mèo) là một thành ngữ Anh, nay thường được dùng để cảnh báo nguy cơ của việc tìm hiểu hay điều tra quá mức cần thiết.

[2] Nghĩa là “Không có thần linh nào ngoài Thượng Đế”, và “Muhammad là sứ giả của Người.” Hai câu đối đáp này là hai câu tuyên xưng đức tin của người Hồi giáo.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.