Một buổi sáng tháng Năm, ngày lễ Saint-Sang[1], Zénon gửi bữa ăn của mình như thường lệ tới nhà trọ Con Hươu lớn, một mình ông ngồi trong góc tối quen thuộc. Các bàn và ghế băng gần cửa sổ nhìn ra phố ngược lại hôm ấy rất đắt khách, vì từ đó người ta có thể xem đám rước ngang qua. Chủ nhân nhà chứa nổi tiếng ở Bruges, người ta gọi mụ là Bí ngô vì thân hình to béo, ngồi ở đó cùng với một gã nhỏ người nhợt nhạt được gọi là con trai và hai cô ả trong nhà chứa. Zénon biết Bí ngô qua lời đưa chuyện của một cô gái bị bệnh lao thỉnh thoảng đến chỗ ông xin thuốc chữa ho. Cô ta không ngớt lời kể những hành vi hèn hạ của bà chủ lừa lọc, lấy cắp quần áo của cô ta.
Một tốp lính gác vừa làm hàng rào danh dự trên ngưỡng cửa nhà thờ ùa vào quán. Chiếc bàn của Bí ngô lọt mắt tên sĩ quan, hắn ra lệnh những người đang ngồi ra khỏi chỗ. Gã con trai và mấy cô điếm không để hắn nói tới lần thứ hai, nhưng Bí ngô kiêu hãnh không thèm động đậy. Một tên lính xông vào kéo mụ ra khỏi chỗ, mụ giằng lại, bám vào bàn làm bát đĩa đổ hết cả; tên sĩ quan đến gần tát vào bộ mặt trong vàng ệch, để lại một vết tím nhợt nhạt. Mụ choe chóe la ó, cấu xé, bấu víu vào mấy chiếc ghế, rồi vào ngưỡng cửa, cuối cùng mụ đành để bọn lính kéo xềnh xệch vứt ra ngoài; một tên còn lấy mũi kiếm thích thú chọc vào người mụ làm trò cười. Tên sĩ quan ngồi vào chỗ vừa chiếm, khinh bỉ ra lệnh cho cô hầu bàn đang lau sàn.
Không ai tỏ vẻ định đứng lên. Một vài người cười ngượng nghịu vẻ đồng tình hèn nhát, song số đông ngược lại nhìn ra chỗ khác hoặc bực tức cúi gằm mặt xuống đĩa thức ăn. Zénon nhìn cảnh tượng mà ghê tởm lên tận cổ: Bí ngô bị tất thảy mọi người gièm pha; giả sử có người nào có thể chống lại thói thô bạo của bọn lính, thì cũng không nên vào cứu mụ, bởi người nào bảo vệ mụ già to béo kia chỉ bị chế nhạo mà thôi. Lúc sau mọi người được biết mụ bị phạt roi vì tội vi phạm trật tự công cộng và bị đuổi về nhà. Tám ngày sau, mụ tú bà lại đón khách như bình thường, vén áo lên cho những người nào muốn xem sẹo trên người mụ.
Khi Zénon đến thăm hỏi linh mục trưởng tu viện lúc này đang ở trong phòng riêng, vì hơi mệt sau khi đi bộ cùng đám rước, ông thấy linh mục cũng đã biết chuyện. Ông thuật lại những gì chính mắt trông thấy. Nhà tu hành thở dài, đặt tách thuốc sắc xuống trước mặt.
- Người đàn bà này thuộc loại cặn bã trong giới nữ, - linh mục nói, - và ta không trách con vì đã khoanh tay ngồi nhìn. Nhưng liệu chúng ta có thể chống lại chăng một hành động chà đạp nhân phẩm con người như thế, nếu nạn nhân là một người thánh thiện? Bí ngô là thế nào sẽ chịu như thế, tuy nhiên hôm nay bà ta đúng, như Chúa và các thiên thần sẽ nói như thế.
- Chúa và các thiên thần không can thiệp giúp bà ta, - thầy thuốc nói nước đôi.
- Cha không bao giờ có ý nghĩ nghi ngờ những điều kỳ diệu của Kinh thánh, - nhà tu hành nói vẻ hơi nồng nhiệt, - nhưng ở thời đại chúng ta, bạn của ta ạ, (và ta đã qua tuổi sáu mươi), ta chưa bao giờ thấy Chúa can thiệp trực tiếp vào việc người trần. Chúa cử người cứu giúp. Người chỉ hành động qua chúng ta những con người phàm tục.
Ông đến bên bàn giấy tìm trong ngăn kéo hai tờ giấy viết chữ chi chít và đưa cho bác sĩ Théus.
- Con đọc đi, - ông nói. - Con đỡ đầu của ta, Ngài Withem, một người yêu nước, đã cho ta hay một sự kiện tàn bạo, mà bằng cách khác chúng ta chỉ biết đến khi đã quá muộn, khi sự xúc động do nó gây ra đã nguội lạnh, còn nếu được biết ngay lập tức thì sự việc đã được giảm nhẹ đi bằng những lời dối trá. Sức tưởng tượng của chúng ta vẫn còn nhỏ nhoi lắm, bác sĩ con ta ạ. Chúng ta lo lắng, và hoàn toàn có lý, cho một mụ tú bà bị ngược đãi, vì sự nhẫn tâm đó xảy ra ngay trước mặt ta, nhưng còn có những điều kinh khủng hơn diễn ra cách đây mươi dặm lại không ngăn được ta uống hết chén trà hoa cẩm quỳ hãm này.
- Sự tưởng tượng của cha tôn quý cũng đã khá lớn để làm tay cha phải run lên và bắn cả trà ra ngoài, Sébastien Théus nhận xét.
Linh mục tu viện trưởng lấy khăn mùi soa thấm vết nước bắn lên chiếc áo chùng len xám.
- Hơn ba trăm người cả đàn ông lẫn đàn bà tuyên bố nổi loạn trước Chúa và Nhà Vua đã bị hành quyết tại Armentieres, - ông thì thầm vẻ bất đắc dĩ. - Con đọc tiếp đi.
- Những người khốn khổ đến chỗ con chữa bệnh đã biết hồi kết cuộc manh động ở Armentieres, - Zénon nói, đưa lại bức thư cho linh mục. Còn về những hành động nhũng lạm mà thư này nói rất nhiều, đó hiện là chủ đề những chuyện người ta truyền tai nhau ở chợ hay ở quán rượu. Giới hạ lưu ai cũng biết những chuyện đó. Những nhà tư sản và chức sắc của cha ngồi trong nhà kín chỉ nghe được cùng lắm là tiếng đồn đại mơ hồ mà thôi.
- Thực thế, - linh mục tu viện trưởng nói với sự giận dữ buồn thảm. - Hôm qua, sau lễ mixa, cha có đứng với một vài giáo tu sĩ trước sân nhà thờ Notre Dame, cha đã mạn phép nói về việc đời. Không ai trong số những người thánh thiện đó là không tán thành mục đích, chứ chưa nói đến phương tiện mà các tòa án đặc biệt sử dụng, hay ít nhất họ chỉ tỏ thái độ yếu ớt phản đối những thái quá đẫm máu. Linh mục nhà thờ Saint-Gilles còn khác nữa: ông ta tuyên bố là chúng ta hoàn toàn có thể đốt cháy những kẻ tà giáo mà không phải để cho Người ngoại quốc kia dạy chúng ta làm thế nào.
- Ông ấy là người theo đúng truyền thống tốt đẹp, Sébastien Théus cười mỉm nói.
- Cha là người kém nhiệt tâm cơ đốc và thành kính thiên chúa chăng? - Linh mục kêu lên. - Người ta không bơi cả đời trên một con tàu đẹp mà không ghét lũ chuột gặm nhấm các tác phẩm sống động. Nhưng lửa, sắt và hố chôn chỉ làm chai sạn hơn những kẻ lấy những thứ đó để hành hình, những kẻ xem hành hình như xem hát, và những kẻ chịu hành hình. Những kẻ ngoan cố coi đó là tử vì đạo. Họ tưởng chúng ta không biết gì chăng, bác sĩ con ta ơi. Bạo chúa mưu mô để khử những người yêu nước dưới chiêu bài trả thù cho Chúa.
- Cha tôn kính có đồng tình với những hình phạt đó không nếu Ngài thấy đó là cách tái lập sự thống nhất Nhà thờ một cách hiệu quả?
- Đừng thử thách cha, bạn thân mến. Cha chỉ biết rằng cha Francois là người dốc tâm giảm nhẹ những bất đồng nội bộ cho đến chết hẳn sẽ đồng tình với các quý tộc flamand là nên tìm một thỏa hiệp.
- Chính các quý tộc ấy đã nghĩ có thể đề nghị Nhà Vua giật bỏ những tờ cáo thị rút phép thông công đối với dị giáo tại Hội nghị các Tổng giám mục Trente, - bác sĩ hoài nghi nói.
- Tại sao lại không chứ? - Linh mục tu viện trưởng kêu lên. - Những tờ yết thị ấy được bọn lính canh giữ là sự nhục mạ cho tự do dân sự của chúng ta. Ai lên tiếng bất bình đều bị chụp mũ là theo đạo Tin Lành. Chúa tha tội cho con! Chắc người ta đã phải xét xem mụ tú bà kia có khuynh hướng theo đạo tin lành không… Còn ở Hội nghị, con cũng biết rõ như cha, những gợi ý kín đáo của các ông vua có sức nặng như thế nào trong những cuộc tranh cãi. Hoàng đế Charles quan tâm trước hết đến sự thống nhất trong Vương quốc, âu cũng là lẽ tự nhiên. Còn Vua Philippe thì nghĩ làm sao để người Tây Ban Nha mạnh hơn tất cả. Trời ơi! Nếu ngay từ đầu cha không nhận ra là mọi chuyện chính trị cung đình chỉ là những mưu mô và những mưu mô chống lại, là lạm dụng lời lẽ và lạm dụng sức mạnh, thì có lẽ cha đã không thể tìm thấy trong mình lòng súng tín để đổi cả thế giới này lấy việc phụng thờ Chúa.
- Chắc là cha đã có những năm tháng khốn khó cay đắng, - bác sĩ Théus nói.
- Không, - linh mục nói. - Cha từng là cận thần được chủ nhân thương mến, là nhà thương thuyết nhiều may mắn hơn so với chút tài mọn mà cha có. Cha từng là người chồng hạnh phúc của một người vợ tốt bụng và sùng đạo. Cha đã được ưu ái nhiều trong thế giới đầy khổ ải này.
Trán ông đẫm mồ hôi, với bác sĩ đó là triệu chứng sức khỏe yếu, linh mục quay lại phía bác sĩ với bộ mặt đăm chiêu:
- Con đừng nói rằng những bệnh nhân khốn khó được con chăm sóc có cảm tình với cái mạo xưng là Cải cách đấy nhé?
- Con không nói hay nhận xét gì như thế, - Sébastien thận trọng. - Mà Đấng Bề trên thấy đấy, những người ủng hộ thỏa hiệp thường biết giữ im lặng, - ông nói thêm hơi chút châm biếm. - Đúng là nết sống đạm bạc của đạo Tin lành có lôi kéo được một vài người trong số những con người khốn khổ. Nhưng phần lớn vẫn là những con chiên cơ đốc giáo ngoan đạo, ít nhất thì họ cũng quen như thế rồi mà.
- Quen ư, - linh mục nhắc lại vẻ đau khổ.
- Với con, - bác sĩ Théus nói giọng lạnh lùng, ông quyết định diễn giải thêm để chờ cho cơn xúc động của linh mục tu viện trưởng lắng xuống, - điều con thấy rõ nhất trong chủ đề này là sự nhầm lẫn muôn thuở trong chuyện loài người. Bạo chúa khiến những trái tim được đặt đúng chỗ phải kinh hoàng, nhưng không gì có thể phủ nhận rằng Ngài cai trị một cách hợp pháp trên đất Hà Lan, rằng Ngài có một bà cố là người được thừa kế ngai vàng và được dân chúng Flandre sùng bái. Con không tìm hiểu việc đó có đúng hay không khi người ta để lại cho con cháu một dân tộc như thể để lại một bàn thờ; luật của ta là như vậy. Các quý tộc, mị dân bằng cách tự xưng là Ăn mày, là những Janus[2], họ phản trắc với đức vua song lại phụ thuộc vào ngài, họ là anh hùng và là người yêu nước trong mắt dân chúng. Mặt khác, trong cảnh các ông vua dè nhau từng miếng và những bất đồng trong các thành phố, thì suy trước nghĩ sau cuối cùng vẫn thấy thà để cho Người ngoại quốc lạm thu còn hơn phải chịu cảnh lộn xộn nếu chúng ta vỡ nợ. Vua ở Tây Ban Nha hanh quyết dã man những người được gọi là cải cách, nhưng phần lớn những Người yêu nước lại là những con chiên cơ đốc giáo ngoan đạo. Những kẻ cải cách tự hào về phong tục nghiêm khắc của họ, nhưng thống lĩnh của họ ở Flandre, ngài de Bréderode, lại là một gã ma mãnh trụy lạc. Để giữ ngai vàng, Bà Nhiếp chính hứa bỏ các Tòa án dị giáo, nhưng lại tuyên bố lập những tòa án khác gửi người dị giáo đến giàn thiêu. Nhà thờ nhấn mạnh đầy thương xót rằng những kẻ sám hối in extremis[3] sẽ được chết không đau đớn, như thế chỉ đẩy những kẻ khốn khổ tới việc bội thề và những lời thiêng liêng vì thế mà bị đặt sai chỗ. Về phần các mục sư tin lành, lúc nào có thể là họ bóp cổ những người khốn khổ còn lại của giáo phái rửa tội lại. Về nguyên tắc, Nhà nước Thiên chúa giáo Liege[4] tuân theo Tòa thánh, song chính nó lại làm giàu nhờ việc công khai cung cấp vũ khí cho quân đội nhà vua, và giấu giếm cung cấp cho đội quân Ăn mày. Ai cũng ghét bọn lính do Người ngoại quốc trả tiền, càng bởi vì do đồng lương quá bèo bọt nên chúng lại tìm cách bóc của dân thường, thế mà những băng đảng cướp lang thang gây rối ren thêm ở các miền quê lại là cớ để giới tư sản đòi được bảo vệ, để chống lại kích với giáo. Những người tư sản này hờn dỗi với giới quý tộc và chế độ quân chủ, ghen tức những quyền tự do trong tay họ, nhưng người theo tà giáo phần lớn xuất xứ từ tầng lớp thấp, và tất cả các tư sản đều ghét người nghèo. Trong những lời lẽ rối bời ấy, trong tiếng súng đạn, đôi khi trong tiếng êm ái của những đồng ê quy rơi, có tiếng người ta ít nghe thấy nhất, đó là tiếng kêu những người bị treo cổ và bị nhục hình. Đó là thế giới, thưa Cha linh mục tu viện trưởng.
- Trong lễ mixa lớn, - đấng bề trên sầu bi nói, - cha đã cầu nguyện mong cho Bà Nhiếp chính và Nhà Vua được thịnh vượng (đó là nghi lễ thông thường). Với Bà Nhiếp chính, điều này còn được: Bà là một phụ nữ khá tốt chỉ tìm kiếm hòa giải giữa đe và búa. Nhưng cha có cần cầu nguyện cho Herode[5] không? Có nên xin Chúa ban thịnh vượng cho Hồng y Giáo chủ Granvelle đang lui vào hậu trường nghỉ ngơi, vả lại chỉ là giả vờ, và vẫn tiếp tục quấy rầy chúng ta? Tôn giáo buộc chúng ta tôn trọng chính quyền đã xác lập, và cha không phản đối điều đó. Nhưng chính quyền tự đại diện cho bản thân, và càng xuống dưới nó càng mang bộ mặt thô tục và hèn hạ, ở đó dấu vết các tội ác của chúng ta hiện ra gần như lố bịch. Cha có nên đến đó qua lời cầu nguyện của mình để cứu rỗi cho đám lính kia không?
- Cha bề trên luôn luôn có thể cầu Chúa soi sáng cho những người cai trị dân, - bác sĩ nói.
- Cha cần nhất là Chúa soi sáng cho chính mình, - vị tu sĩ dòng Cordelier nói vẻ trang trọng mỉa mai.
Zénon chuyển hướng câu chuyện sang những việc cần làm và số tiền ứng ra cho nhà thương làm phúc, vì những chuyện về sự vụ công cộng này không làm đức cha nhạy cảm quá. Tuy nhiên đến lúc từ giã, linh mục tu viện trưởng kéo ông lại, ra dấu cho ông đóng cửa phòng vì thận trọng:
- Cha khoogn cần phải nhắc con nên thận trọng, - ông nói. - Con cũng thấy rằng không có gì ở quá cao hay quá thấp để không bị nghi ngờ hay sỉ nhục. Đừng để ai biết về những lời chúng ta nói với nhau.
- Trừ phi con nói với cái bóng của con, - bác sĩ Théus nói.
Con đã gắn bó chặt chẽ với tu viện này, - vị tu sĩ nhắc lại. - Hãy nhớ rằng có không ít người trong thành phố này, thậm chí trong những bức tường này, sẽ không thấy giận dữ khi phải buộc tôi linh mục tu viện trưởng tu viện Cordelier vào tội nổi loạn hay dị giáo đâu.
Những buổi nói chuyện như vậy tiếp diễn khá thường xuyên. Linh mục tu viện trưởng có vẻ như mong ngóng chúng. Người đàn ông được nể trọng này với Zénon cũng cô đơn và còn bị đe dọa hơn cả ông. Sau mỗi lần viếng thăm, bác sĩ lại thấy rõ hơn trên gương mặt vị tu sĩ những dấu hiệu một căn bệnh không thể xác định đang gặm nhấm sức lực của ông. Nỗi âu lo và niềm thương xót mà những đau khổ của thời đại làm dấy lên trong linh mục có thể là lý do duy nhất của sự suy sụp không thể giải thích được này; ngược lại, đó cũng có thể là hậu quả, là dấu hiệu của một thể trạng quá yếu ớt để chịu nỗi đau của thế gian mà mọi người khác mang chúng với vẻ thờ ơ khỏe khoắn. Zénon thuyết phục đấng bề trên nên dùng những thức ăn phục hồi sức khỏe với rượu vang, Ngài làm theo để làm vui lòng ông.
Bác sĩ cũng vậy, ông đã ưa thích những cuộc trò chuyện lịch sự, mà gần như không dối trá. Tuy nhiên, sau mỗi lần ông ra về lại mơ hồ cảm thấy mình bịp bợm. Một lần nữa, giống như tiếng La tinh ở Sorbonne là tiếng bắt buộc, ông buộc phải chấp nhận nói bằng ngôn ngữ lạ, để được hiểu, thứ ngôn ngữ ấy làm biến chất tư tưởng của ông, dẫu rằng ông nắm rất vững những biến tố và những điệu giọng của nó; ở đây đó là thứ ngôn ngữ của một con chiên thiên chúa giáo ngoan đạo, nếu không nói là sùng kính, một thần dân trung thành, nhưng lo lắng trước thế thái. Một lần nữa, và chú ý quan điểm của linh mục tu viện trưởng, vì kính trọng hơn là vì thận trọng, ông chấp nhận xuất phát từ những tiền đề mà trong thâm tâm hẳn ông đã từ chối xây dựng bất cứ thứ gì trên đó; dồn nén những lo lắng của chính mình, ông buộc phải thể hiện một mặt duy nhất trong trí tuệ của ông, không thay đổi, đó là mặt phản chiếu tinh thần của bạn ông. Sự sai lệch này, cố hữu trong mọi quan hệ của con người, và với ông nó trở thành bản chất thứ hai, làm ông bối rối trong sự trao đổi hoàn toàn tự do giữa hai con người không vụ lợi. Linh mục tu viện trưởng hẳn sẽ rất ngạc nhiên nếu biết những chủ đề rất nhiều lần được nói đến trong căn phòng của ngài lại chỉ chiếm một chỗ rất ít ỏi trong suy nghĩ đơn độc của bác sĩ Théus. Không phải Zénon thờ ơ trước những đau đớn diễn ra ở Hà Lan, mà vì ông đã sống quá nhiều trong thế giới của lửa và máu để không còn xúc động đột ngột như linh mục tu viện trưởng Cordelier trước những bằng chứng mới của sự điên loạn của loài người.
Về phần những hiểm họa đe dọa ông, vào lúc này dường như các chính biến làm chúng giảm đi hơn là tăng lên. Không ai nghĩ đến một Sesbastien Théus vô nghĩa lí. Hành động âm thầm mai danh ẩn tích mà mọi môn đệ của ma thuật vẫn thề sống trong đó vì lợi ích khoa học của mình đã che chở cho ông nhờ sức mạnh của sự vật. Thực tế không ai biết đến ông.
Một buổi tối mùa hè ấy,vào giờ giới nghiêm, ông trở lên căn gác nhỏ sau khi đã khóa trái một vòng cửa như thường lệ. Nhà thương làm phúc, luôn theo đúng lệ, đã đóng cửa vào giờ lễ chiều: chỉ duy nhất một lần gặp nạn dịch, bệnh viện Saint Jean đã tràn ngập bệnh nhân, bác sĩ mới ra lệnh cho mang giường đến và cho bệnh nhân bị sốt nằm lại ở phòng tầng dưới. Tu sĩ Luc được phân công rửa sàn nhà vừa mang gỉ lau và thùng nước đi khỏi. Bỗng Zénon nghe thấy một nắm sỏi đập vào cửa kính lạo xạo, làm ông nhớ lại mật hiệu ngày xa xưa mỗi lần gọi Colas Gheel sau giờ cầu kinh tối. Ông mặc quần áo và xuống nhà.
Đó là con trai người thợ rèn phố Hàng Len. Cậu bé tên Josse Cassel, cậu giải thích với ông là một người anh em họ của cậu, từ Saint Pierre lez Bruges, bị con ngựa mà anh ta dẫn đến làm móng ở nhà chú mình đá hậu làm gãy chân; anh ta đang rất đau, nằm trong túp lều ở đằng sau xưởng rèn. Zénon lấy những gì cần thiết rồi theo Josse ra phố. Tại một ngã tư, họ gặp đội tuần phòng, và đi qua không bị cản trở sau khi Josse câu mời phẫu thuật gia đến chữa cho bố, ông ta vừa bị búa nghiền nát hai ngón tay. Lời nói dối này làm bác sĩ suy nghĩ.
Người bị thương nằm trên chỗ được dọn làm giường; đó là một nông dân khoảng hai mươi tuổi, giống như một con sói tóc vàng, mồ hôi làm những sợ tóc dính bết trên đôi má xanh xao vì đau và vì mất máu. Zénon chế một liều thuốc tăng lực và xem xét cái chân; ở hai chỗ xương lồi ra, thịt rách tả tơi treo lủng lẳng. Tai nạn chẳng có gì giống với việc bị ngựa đá hậu; không tìm thấy có vết móng. Trường hợp này thận trọng hơn cả là phải cắt bỏ phần gãy đi. Nhưng khi thấy bác sĩ đưa lưỡi cưa vào lửa, người bị thương hơi tỉnh táo trở lại chút ít đủ để kêu thét lên. Ông già thợ rèn và con trai cũng chỉ bình tĩnh hơn chút ít, vì sợ nếu người kia có mệnh hệ gì thì họ sẽ phải ôm một xác chết trên tay. Đành thay đổi kế hoạch, Zénon quyết định trước hết cứ ghép chỗ gãy lại.
Cậu ta không làm được điều đó, mỗi lần cố gắng duỗi chân ra để bó xương cậu ta lại kêu lên đau đớn như bị tra tấn; bác sĩ phải lấy lưỡi lam mở rộng vết thương và thò ngập bàn tay vào đó để tìm mảnh xương vụn. Sau đó ông rửa vết thương bằng rượu vang mạnh mà may thay ông thợ rèn còn một hũ. Ông bố và con trai chuẩn bị băng nẹp. Chiếc lều ngộp thở vì hai bố con đã bịt hết những chỗ hở để người ta không nghe thấy tiếng kêu.
Zénon rời phố Hàng Len mà không mấy chắc chắn về kết quả. Cậu ta đang trong tình trạng ít hi vọng nhất, và chỉ có tuổi trẻ mới để cho cậu một cơ may. Rồi ngày nào bác sĩ cũng quay lại đó, lúc thì vào sang sớm, lúc thì sau khi nhà thương đóng cửa, để rửa vết thương, đầu tiên là dung dấm lau hết máu mủ thối, sau đó ông cho nước hoa hồng để vết thương không bị khô quá và miệng không rộp lên. Ông hết sức tránh đi vào ban đêm, vì lúc đó việc ông đi về sẽ bị để ý. Dù ông bố và người con khăng khăng nói về câu chuyện ngựa đá hậu, họ ngầm hiểu rằng tốt hơn hết là im lặng về việc này.
Vào ngày thứ mười, áp xe xuất hiện; thịt phồng lên, và cơn sốt, chưa bao giờ rời bỏ người bệnh, lên cao như ngọn lửa. Zénon giữ anh ta trong chế độ ăn uống nghiêm khắc; Han mê sảng đòi ăn. Một đêm, cơ bắp anh ta co cứng mạnh đến mức gãy cả nẹp chân. Zénon tự thú nhận với mình rằng vì thương hại hèn yếu nào đó nên ông đã không ép thanh nẹp đủ chặt; cần phải một lần nữa mở rộng vết thương va cắt ngắn hơn nữa. Có thể sẽ đau đớn hơn lần đầu, nhưng lần này Zénon đã cho người bệnh một liều thuốc phiện, nên cậu ta chịu đựng tốt hơn. Bảy ngày sau, những ống dẫn lưu đã cho chảy hết mủ áp xe, và cơn sốt kết thúc bằng những giọt mồ hôi túa ra. Zénon ra khỏi xưởng rèn mà lòng nhẹ nhõm, nghĩ ông quả đã gặp thần May mắn mà nếu không có, mọi sự khéo léo đều thất bại. Trong ba tuần, ông thấy mình vẫn đặt mọi tâm trí vào việc hồi phục cho người bệnh, ngay cả khi đang lo nghĩ hay đang làm việc khác. Sự chú tâm thường xuyên này rất giống điều mà linh mục tu viện trưởng gọi là kinh cầu nguyện.
Nhưng trong cơn mê sảng, người bệnh đã thú nhận một vài điều. Josse và ông thợ rèn cuối cùng cũng khẳng định và bổ sung theo ý họ câu chuyện làm liên lụy đến bất kì ai nghe nó. Hay vốn ở một làng nhỏ mạn Zevecote, cách Bruges ba dặm, nơi mới đây vừa xảy ra những vụ việc đẫm máu mà ai cũng biết. Mọi việc bắt đầu từ khi có một mục sư tin lành tới làng, lời ông ta giảng làm cả làng hăng tiết lên; những nông dân này tức tối trước việc ông cha cố không nói đùa về mức tô phần mười phải nộp cho nhà thờ, đã cầm búa xông vào nhà thờ, phá tượng trên điện thờ và tượng Đức Đồng trinh thường được mang ra trong những dịp rước lê, cướp giật váy thêu, áo măng tô và vầng hào quang bằng đồng của Đức mẹ và phần tài sản ít ỏi trong kho thờ. Ngay lập tức một tiểu đội do một đại úy nào đó ten Julian Vargaz được phái đến trấn áp vụ lộn xộn. Ở nhà Han người ta tìm thấy những mảnh satin đính những hạt ngọc lấm tấm, và mẹ anh ta bị đánh đến chết sau khi phải chịu những ngón không hợp với tuổi của bà. Đám đàn bà và trẻ con còn lại bị đuổi bắt tản đi khắp nơi trên cánh đồng. khi bọn lính đang hành quyết mấy người đàn ông trên quảng trường thì viên đại úy Vargaz bị một phát sung hỏa mai vào giữa trán, ngã khỏi ngựa lăn ra đất. Người nào đó đã bắn từ một cửa sổ nhà kho; bọn lính liền lục phá hết các máng cỏ mà không tìm thấy ai, cuối cùng chúng đốt kho. Yên tâm là đã thiêu cháy tên giết người, sau đó chúng bỏ đi, mang theo xác chết nằm vắt ngang lưng ngựa và vài con gia súc trưng thu được.
Han bị gãy chân khi nhảy từ mái nhà xuống. Cắn chặt răng, cậu ta lần đến trú dưới đống rơm rác bên đầm và trốn ở đó đến khi lũ lính đi khỏi, chỉ lo lửa sẽ bén đến chỗ trú ẩn tội nghiệp. Tới tối, mấy nông dân trang trại bên cạnh tìm đến xem còn gì có thể lấy được trong ngôi làng hoang vắng, họ đã phát hiện ra cậu vì tiếng rên mà cậu không còn ghìm nổi. Các ông đạo chích vặt này khá tốt bụng; họ quyết định đặt Han dưới chiếc vải bạt trên xe ngựa kéo, và đưa cậu về thành phố chỗ chú cậu. Pieter và con trai vui mừng vì không ai nhìn thấy chiếc xe đi vào sân nhà họ ở phố Hàng Len.
Chuyện Han chết trong nhà kho cháy đặt cậu ra ngoài tầm điều tra, nhưng an toàn còn phụ thuộc vào sự im lặng của đám nông dân, một lúc nào đo họ có thể nói nếu họ muốn, hay nhất là nếu họ bị cưỡng ép phải nói. Pieter và Josse sẽ có cơ bị chết nếu họ chứa chấp một tên nổi loạn phá ảnh Thánh, và nguy hiểm đối với bác sĩ cũng không ít hơn. Sáu tuần sau, người bệnh đã có thể nhảy nhót được với một chiếc nạng, tuy miệng vết thương vẫn còn đau nhức. Ông bố và con trai than vãn với bác sĩ là cần tống khứ cậu đi, vả lại cậu không thuộc loại người được quý mến: thời gian ẩn nấp quá dài làm cậu ta hay than vãn càu nhàu; mọi người đã chán tai nghe cậu ta không ngừng kể lại kì tích độc nhất của mình, và ông thợ rèn, ấm ức nỗi hắn đã dùng hết của ông rượu vang quý và bia, đã nổi giận khi biết cậu dám nhờ Josse kiếm cho một cô gái. Zesnon tính Han sẽ an toàn hơn ở thành phố lớn Anvers, từ đó sau khi khỏi hẳn, cậu có thể sang bờ bên kia sông Escaut, sung vào nhóm nổi loạn nhỏ của đại úy Henri Thomaszoon và đại úy Sonnoy. Họ vẫn bố trí phục kích ở những con tàu rải rác dọc bờ biển Zélande, để quấy rối quân triều đình bằng mọi cách.
Ông nghĩ đến con trai già Greete. Với nghề đánh xe, tuần nào anh ta cũng lên đường cùng các loại ba lô và túi xách. Anh này, khi được biết một phần chuyện bí mật, bằng lòng cho cậu ta đi cùng và hứa sẽ giao cậu cho những người chắc chắn; chỉ cần ít tiền cho chuyến đi. Pieter Cassel, dù rất muốn nhanh chóng cho thằng cháu đi, nhưng cho biết ông không có đồng nào để tiêu vào việc của nó; Zénon chẳng có tiền. Sau đôi chút lưỡng lự, ông đến chỗ linh mục tu viện trưởng.
Vị tu sĩ kết thúc lễ mixa trước bàn thờ kế bên phòng ông. Sau Ita Misa est và dấu cầu nguyện, Zénon xin được nói chuyện với linh mục, ông kể lại câu chuyện không giấu giếm.
- Con đang đùa với nguy hiểm lớn đấy, - linh mục tu viện trưởng nói giọng nghiêm trọng.
- Trong thế giới đầy hỗn tạp này, có một vài quy định rất rõ ràng, - nhà triết học nói. - Nghề của con là chăm sóc người.
Linh mục tu viện trưởng đồng ý.
- Không ai khóc Vargaz, - ông tiếp tục. - Con có nhớ không, những tên lính hỗn láo đứng đầy đường vào ngày con đến Flander ấy? Chiến tranh với Pháp kết thúc đã hai năm, Nhà Vua vẫn còn buộc lên lưng chúng ta đội quân này dưới những cớ khác nhau. Hai năm! Tên Vargaz kia tiếp tục sống cái nghề của hắn, đổ lên chúng ta những gì tàn nhẫn khiến hắn bị người Pháp ghê tởm. Người ta không thể ca ngợi chàng trẻ tuổi David trong Kinh thánh mà không hoan hô cậu thanh niên mà con đã chăm sóc.
- Cần phải thú nhận cậu ta bắn giỏi, - bác sĩ nói.
- Cha muốn tin rằng Trời đã dẫn đường cho tay cậu ấy. Nhưng một kẻ phạm thánh là một kẻ phạm thánh. Anh chàng Han có công nhận anh ta cũng phá ảnh Chúa không?
- Cậu ta khẳng định điều đó, nhưng cái con thấy rõ nhất là trong những lời huênh hoang này ẩn giấu sự ăn năn hối hận, - Sébastien nói vẻ thận trọng. - Con cũng lí giải như thế một số những lời cậu nói ra khi mê sảng. Một vài lời giảng dạy tin lành không thể làm mất tất cả những kỉ niệm về Ave Maria từ trước trong cậu bé này.
- Con thấy sự ăn năn hối lỗi ấy không có cơ sở sao?
- Bề trên cho con là một người theo Luther chăng? - Triết gia hỏi với nụ cười mỉm.
- Không, bạn của ta, ta sợ rằng con không đủ đức tin để trở thành một kẻ dị giáo.
- Ai cũng ngờ chính quyền cài mục sư giả và thật rất khó phân biệt ở các làng, bác sĩ nói theo ngay, thận trọng hướng câu chuyện về phía khác với chính giáo của Sébastien Théus. - Những người cai trị chúng ta gây ra những vụ thái quá để nghiêm trị cho thoải mái hơn.
- Chắc chắn là ta biết những ngón khéo của Hội đồng cố vấn Tây Ban Nha, - tu sĩ nói, - hình như hơi sốt ruột. Nhưng cha có phải giải thích với con sự thận trọng của cha không? Cha là người cuối cùng mong cho một kẻ bất hạnh bị thiêu sống vì những tinh tế thần học mà anh ta không hiểu. Nhưng thực tế là trong những hành vi chống lại Đức Bà này có bạo lực và có gì đó giống Địa ngục. Hơn nữa, nếu đó là tượng thánh Georges hay nữ thánh Catherine thì đã đành một nhẽ, các nhà thông thái rởm của chúng ta còn đang nghi ngờ liệu các thánh này có thật sự tồn tại không, và các thánh ấy chỉ làm mê hoặc một cách vô tội lòng sùng tín của dân chúng… Có phải chăng đó là vì Dòng tu của cha đặc biệt ca ngợi nữ thần cao cả này (một nhà thơ cha đọc thời còn trẻ gọi Đức Mẹ như vậy) và đảm bảo ràng Ngài không bị những tội lỗi của Adam, hay vì ta quá xúc động hơn mức được phép vì kỉ niệm về bà vợ quá cố của ta mang cái tên vừa duyên phước vừa khiêm nhường này… Không một tội ác nào chống lại đức tin nào lại làm cho người ta bực tức quá đỗi như sự xúc phạm Thánh Marie, người giữ Hy vọng của thế giới, người đứng bên Chúa ngay từ bình minh thời đại và sẽ bào chữa cho chúng ta ở trên trời…
- Con nghĩ là con hiểu cha, - Sébastien Théus nói khi nhìn thấy những giọt nước mắt đang lớn dần trong mắt linh mục tu viện trưởng. - Cha đau đớn rằng một kẻ tàn nhẫn nào đó dám động tay tới hình hài thuần khiết nhất mà theo cha Lòng Nhân từ thần thánh trú ngự trong đó. Người Do Thái (con có dịp lui tới với những thầy thuốc dân tộc này) cũng nói với con như thế về Shechina của họ, có nghĩa là tình thương của Chúa… Đúng là tình thương ấy đối với họ vẫn còn là một khuôn mặt vô hình… Nhưng khi trao cho Đấng khó tả nên lời một gương mặt người, thì con nghĩ không lí gì mà chúng ta không trao cho gương mặt ấy một nét nữ, nếu không có điều ấy chúng ta sẽ quy giảm bản chất sự vật mất một nửa. Nếu muôn thú trong rừng có một ý nghĩa nào đó về những bí mật thiêng liêng (và ai có thể biết điều gì diễn ra trong mỗi sản phẩm của Chúa?), chắc chắn chúng sẽ tưởng tượng Con Hươu thần thánh có một con nai trong trắng. Khái niệm này có làm linh mục tu viện trưởng bực mình không?
- Không hơn hình ảnh Con Cừu vô nhiễm nguyên tội. Đức bà Marie cũng là con Bồ câu rất thanh khiết đó sao?
- Tuy nhiên những biểu tượng thiêng liêng ấy cũng có mặt trái, - Sesbastien Théus đáp lại vẻ suy tư. - Các tu sĩ giả kim thuật mà con biết thường lấy hình ảnh Sữa của Đức mẹ Đồng trinh, Con Quạ đen, Sư tử xanh Muôn đời và Tiếp hợp Kim loại để chỉ các thao tác trong nghệ thuật của họ. Chính ở chỗ đấy chứa đựng sự cay độc và tinh túy nằm ngoài ngôn ngữ con người. Kết quả là những đầu óc thô thiển thì tin những ảo ảnh ấy, còn những người sang suốt hơn thì ngược lại, họ khinh rẻ một tri thức dù cũng khá cao siêu, nghĩ rằng đó chỉ là lún sâu trong một đầm lầy viển vông mà thôi… Con không đẩy sự so sánh này đi xa hơn nữa.
- Khó khăn này không thể giải quyết được, bạn của ta, - linh mục tu viện trưởng nói. - nếu cha nói với những người bất hạnh rằng chiếc mũ miện bằng vàng của Đức Bà và chiếc áo choàng màu xanh chỉ là một biểu tượng vụng về của bầu trời rực rỡ, và đến lượt mình bầu trời chỉ là chân dung khốn khổ của Cái thiện không nhìn thấy, và họ sẽ kết luận là cha không tin Đức Bà cũng không tin trời. Đó có phải là lời nói dối tồi tệ nhất không? Cái được ám chỉ sẽ thực hóa kí hiệu ám chỉ nó.
- Quay trở lại chàng thanh niên con đã chăm sóc, - bác sĩ nhấn mạnh, - Đấng Bề trên chắc không giả định rằng cậu Han muốn chống lại Người Bào chữa được Chúa khoan dung muôn đời ban cho ta chứ? Cậu ta đã chặt một khúc gỗ làm đế đe được trang trí bằng quần áo nhung, mà một mục sư bảo cậu đó chỉ là một hình tượng, và con xin mạn phép nói rằng linh mục tu viện trưởng phẫn nộ hoàn toàn chính đáng trước hành động vô đạo này, song dường như hành động ấy không xuất phát từ một cái gì khác ngoài một lương tri chất phác mà trời cho cậu ta. Cậu bé nhà quê này không hỗn hào với công cụ cứu rỗi thế gian hơn khi cậu nghĩ giết Vargaz để trả thù cho tổ quốc Bỉ.
- Tuy nhiên cậu ta làm cả hai.
- Con tự hỏi mình điều đó, - triết gia nói. - Chính cha và con đang tìm cách lí giải hành động bạo lực của cậu bé nhà quê hai mươi tuổi.
- Việc cứu cậu bé này thoát khỏi săn đuổi có quan trọng lắm với con không, bác sĩ? - Linh mục tu viện trưởng đột ngột hỏi.
- Ngoài việc điều này liên quan đến chính sự an toàn của con, thì con vẫn thích người ta đừng ném tác phẩm của con vào lửa hơn, - Sébastien Théus đáp lại với giọng bông đùa. - Nhưng chắc linh mục tu viện trưởng không quan tâm tới chuyện này.
- Càng tốt thôi, - tu sĩ nói. - Con sẽ chờ đợi điều ta nói đây một cách bình tĩnh hơn. Ta cũng không muốn làm hỏng tác phẩm của con, bạn Sébastien Théus ạ. Con sẽ thấy trong ngăn kéo những gì con cần.
Zénon rút túi tiền giấu dưới đống quần áo, và chọn trong đó một cách dè sẻn mấy đồng bạc. Khi để vào chỗ cũ, đầu ông bị vướng vào một mảnh vải cứng mà ông phải cố gỡ mới ra. Đó là một chiếc áo tự phạt trên đó còn những cục vón đen nhờ nhờ. Linh mục tu viện trưởng quay đầu như thể rất bối rối.
- Sức khỏe của Cha không đủ tốt để có thể làm theo những cách quá nặng như vậy.
- Ngược lại, ta muốn làm gấp đôi như thế, - tu sĩ phản đối. Sébastien Théus, những mối bận tâm của con không để cho con còn thời gian suy nghĩ về nỗi thống khổ của dân chúng. Tất cả những gì người ta loan truyền cho nhau chỉ là quá đúng. Nhà vua vừa tập hợp ở Piemont một quân đội và giao cho quân công Alve chỉ huy, đó là người thắng trận ở Muhlberg, và ở Ý người ta ví ông ta như thép. Hai mươi nghìn người ngựa và quân trang hiện giờ đang vượt dãy Alpe để ập xuống mấy tỉnh bất hạnh của chúng ta… Có lẽ chúng ta sẽ tiếc đại úy Vargaz.
- Họ phải nhanh chân trước khi đường bị tắc nghẽn trong mùa đông, - người đàn ông đã từng trốn khỏi Innsbruck qua đường núi nói.
- Con trai ta là trung úy của Nhà Vua, và chỉ có phép thần mới khiến con ta không đứng trong đoàn quân của quận công, - linh mục tu viện trưởng nói với giọng của ai đó đang buộc phải thú nhận khó khăn. - Tất cả chúng ta đều có can hệ tới nỗi đau này.
Tiếng ho làm ông phải ngừng lại nhiều lần giờ lại hành hạ ông. Sébastien Théus bắt mạch, quay lại với chức năng bác sĩ.
- Có lẽ sự lo lắng là lý do giải thích vì sao linh mục tu viện trưởng trông yếu thoongí ông nói sau một hồi im lặng. - Nhưng cha ho đã mấy ngày rồi, cùng với chứng gầy còm ngày càng tăng có những nguyên nhân mà con có nghĩa vụ phải tìm ra. Đấng Bề trên sẽ đồng ý để con khám họng ngài với dụng cụ theo cách của con vào ngày mai chứ ạ?
- Tất cả những gì con muốn, bạn ạ, - linh mục tu viện trưởng nói. - Chắc là mùa hè nhiều mưa đã gây ra chứng đau này. Và con cũng nhận thấy là ta đâu có sốt.
Ngay tối hôm đó Han lên đường với người đánh xe với tư cách là người hầu chăm sóc ngựa. Tuy chân hơi khập khiễng nhưng điều đó chẳng ảnh hưởng gì tới anh ta trong vai này. Người dẫn đường sẽ để anh ta lại ở Anvers tại nhà một người phát thư ở Fugger, người này bí mật ủng hộ những tư tưởng mới, anh ta sống ở cảng, sẽ nhận Han làm công việc đóng và tháo đinh cho các kiện gia vị. Gần Noel, họ được biết rằng cậu bé, nay đã đứng thẳng được hoàn toàn trên chiếc chân gãy, đã được nhận làm thợ mộc trên một chiếc tàu buôn người da đen đang xuôi buồm đi Ghi nê. Trên những chiếc tàu như vậy người ta luôn cần những thợ ngoài việc sử những hỏng hóc vặt trên đường trường còn biết dựng chuyển vách ngăn, làm cùm xích, và biết chống trả khi tàu có loạn. Được trả lương cao nên Han thích công việc này hơn là những món tiền không chắc chắn mà anh ta có thể nhận được từ thuyền trưởng Thomaszoon và những kẻ Ăn mày của Biển.
Mùa đông đến. Linh mục tu viện trưởng phải bỏ buổi giảng vào kì trai giới, vì chứng khàn mãn tính. Sébastien Thésus yêu cầu người bệnh, và linh mục đã chấp thuận, nghỉ một tiếng đồng hồ trên giường sau bữa ăn tối để dưỡng sức, hay ít nhất thì cũng nghỉ trên chiếc ghế phô tơi ông vừa đồng ý cho để trong phòng của ông. Theo luật lệ, căn phòng này không có lò sưởi, Zénon đã thuyết phục được linh mục, không phải không khó khăn, đặt một lò than vào đó.
Chiều hôm đó ông vào gặp linh mục tu viện trưởng khi Đức cha đang ngồi kiểm tra các con số, kính trễ xuống tận mũi. Người quản lí của tu viện, Pierre de Hamaere, đứng nghe nhận xét của bề trên. Zénon không hiểu sao thấy mình thù ghét người tu sĩ mà ông không nói chuyện quá mười lần trong đời này, và ông cảm thấy ông ta cũng có cảm giác tương tự đối với ông; Pierre de Hamaere đi ra sau khi đã hôn tay Đấng Bề trên với một phong cách quỳ gối vừa kiêu kì vừa hèn hạ. Hôm đó đặc biệt có toàn những tin dữ. Bá tước d’Egmont[6] và trợ thủ của ông ta là bá tước Horne, bị quy tội phản quốc và tống giam từ gần ba tháng nay ở Gand, vừa được trả lời là giới quý tộc - những người hoàn toàn có thể cứu họ - từ chối xử vụ này. Cả thành phố đang rì rầm chuyện tại sao vụ án không được xử. Zénon tránh không đả động đến điều bất chính này trước, vì không biết linh mục tu viện trưởng đã biết tin chưa. Ngược lại, ông kể phần kết lố bịch trong câu chuyện của Han.
- Giáo hoàng Pie II trước kia đã kết tội buôn nô lệ da đen, nhưng có ai đứng ra trông giữ việc đó? Tu sĩ nói giọng mệt mỏi. - Đúng là chúng ta còn có nhiều bất công chua xót hơn… Con có biết trong thánh phố người ta nghĩ gì về sự đối xử tồi tệ với bá tước không?
- Người ta than phiên hơn bao giờ hết là đã thêm đức tin vào những lời hứa của nhà vua.
- Lamoral là người từ tâm, nhưng ông ít xét đoán, - linh mục tu viện trưởng nói với vẻ bình tĩnh hơn là Zénon chờ đợi. - Một người thương lượng giỏi không nên tin tưởng ai.
Bề trên ngoan ngoãn uống mấy giọt thuốc Zénon đưa cho. Bác sĩ nhìn linh mục uống mà kín đáo giấu nỗi buồn: ông không tin phương thuốc này công hiệu dù nó giảm đau mạnh, nhưng không thể tìm một loại đặc chế mạnh hơn để chế ngự chứng đau của linh mục tu viện trưởng. Linh mục không sốt nên ông loại bỏ giả thiết bệnh lao phổi. Có lẽ một políp trong họng là nguyên nhân gây khan tiếng, ho dai dẳng, thở và ăn ngày càng khó.
- Cám ơn, - linh mục tu viện trưởng nói, trả lại chiếc cốc không. - Hôm nay đừng rời ta đi sớm quá nhé, bạn Sébastien.
Đầu tiên họ nói về dăm ba câu chuyện vặt. Sébastien ngồi ngay cạnh linh mục tu viện trưởng để ông ta không phải cố nói to. Linh mục đột ngột trở lại nỗi lo âu vẫn canh cánh bên lòng:
- Một sự bất công rõ mồn một như những gì Lamoral phải chịu đựng kéo theo những chuyện bất công di hại không kém phần đen tối, nhưng chưa ai biết đến, - ông nói tiếp, cố điều hòa hơi thở. - Người gác cổng của bá tước đã bị bắt ít lâu sau ông chủ và bị đánh gẫy người bằng gậy sắt vì người ta hi vọng như thế sẽ moi được lời thú nhận nào đó. Sáng nay lễ mixa của cha được dành cho hai vị bá tước, và chắc chắn không có ngôi nhà nào ở Flandre lại không cầu nguyện cứu rỗi cho họ trong thế giới này hay ở thế giới bên kia. Nhưng có ai nghĩ đến việc cầu nguyện cho linh hồn kẻ khốn khổ kia đâu, ấy vậy mà hắn ta chẳng có gì để thú nhận, vì đâu có tham gia vào bí mật của những người quyền quí ấy. Hắn thậm chí chẳng còn đến một cái xương hay một mạch máu lành lặn…
- Con hiểu điều cha nghĩ, - Sébastien Théus nói. - Đức cha muốn ca ngợi một kẻ tôi trung đáng khen.
- Không hẳn thế, - linh mục tu viện trưởng nói. - Người gác cổng này là người làm sai trái chức vụ, người ta nói hắn làm giàu nhờ vào ông chủ. Hình như hắn còn giữ mọt bức tranh mà bá tước ra lệnh mua tặng Nhà Vua, một loại mánh khóe của người flamand chúng ta. Nhà Vua thích hội họa… Vả lại con người vô nghĩa lí này có nói gì hay không., việc ấy chẳng quan trọng, vì sự nghiệp của bá tước coi như đã bị phán xét rồi. Nhưng ta nghĩ trong lòng rằng ông bá tước ấy sẽ chết dưới lưỡi rìu một cách thanh nhã, trên chiếc bục phủ vải đen, được an ủi rằng dân chúng sẽ để tang, coi ông ta, và hoàn toàn có lí, như một người chết vì Tổ quốc Bỉ, trước khi chết còn nhận được lời xin lỗi của đao phủ sẽ chém đầu ông ta, được cha tuyên úy cầu nguyện theo đến tận trời…
- Bây giờ con đã rõ rồi, - bác sĩ nói. - Bề trên nghĩ rằng các triết gia nói mọi tầng lớp đều có giá trị ngang nhau, song danh tước và địa vị trao cho người được hưởng chúng những quyền lợi chắc chắn nào đó. Là một quý tộc Tây Ban Nha dù sao cũng là cái gì đó.
- Ta diễn đạt chưa thấu, - linh mục tu viện trưởng thì thầm. - Chính vì con người này nhỏ bé, vô nghĩa, chắc là hèn mạt, chỉ có một cơ thể biết đau đớn và một tâm hồn được chính Chúa trời đổ máu của mình vào đó, nên ta mới tận kiến cơn hấp hối của hắn ta. Ta để lòng mình nói rằng trong ba giờ đồng hồ người ta vẫn nghe thấy tiếng hắn kêu gào.
- Xin người giữ mình, thưa linh mục tu viện trưởng, - Sébastien Théus nói, siết tay tu sĩ. - Kẻ khốn khổ kia đã đau đớn ba tiếng đồng hồ, nhưng Đức Bề trên còn sống lại cái chết ấy bao ngày đêm đây? Ngài trăn trở còn hơn cả những tên đao phủ đã giết con người kém may mắn này.
- Đừng nói như thế, - linh mục tu viện trưởng lắc đầu nói. - Nỗi đau của người gác cổng và sự cuồng nộ của những kẻ tra tấn anh ta lấp đầy thế giới này và tràn ra khỏi thời gian. Không gì có thể làm rằng chúng không phải là một khoảnh khắc trong cái nhìn vĩnh hằng của Chúa. Mỗi nhục hình và mỗi sự đau đớn là vô tận trong vật chất của nó, bạn của ta, và chúng cũng vô tận về số lượng.
- Những gì Bề trên nói về nỗi đau, thì cũng có thể nói như thế về niềm vui.
- Ta biết… ta đã từng có những niềm vui… Mỗi niềm vui trong trăng là một phần còn sót lại của Vườn Địa đàng… Nhưng niềm vui không cần đến chúng ta, Sébastien. Chỉ nỗi đau mới cần lòng thương cảm của chúng ta. Ngày ta biết được rằng con người đang đau đớn, thì niềm vui trở nên không thể, cũng như người Samari tốt lành[7] dừng chân trong quán trọ không thể vui với gái đẹp rượu ngon trong khi bên cạnh ông ta người bị thương đang nhỏ máu. Ta thậm chí không hiểu vì sao các thánh lại thanh thản trên trái đất và hưởng ân trên trời…
- Nếu con hiểu những lời này theo ngôn ngữ của một con chiên ngoan đạo, thì linh mục tu viện trưởng đang vượt qua đêm đen trong lòng mình.
- Cha xin con đấy, bạn thân mến, đừng coi những suy nghĩ cô chiếc tuyệt vọng này đơn giản như một sự thử thách đạo hạnh trên con đường dẫn tới hoàn thiện, mà vả lại cha đâu có nghĩ mình dấn thân vào… Tốt hơn hết chúng ta hãy nhìn đêm đen của loài người. Trời ơi, ta sợ ta nhầm lẫn nếu ta phàn nàn về trật tự của sự vật! Ấy vậy mà làm sao chúng ta dám đưa tới bên Chúa những linh hồn mà ngoài tội lỗi của họ chúng ta còn cộng thêm vào nỗi thất vọng và phạm thánh, sau khi đã bắt thân thể họ phải chịu những tra tấn đáng sợ? Vì sao chúng ta để sự ngoan cố, sự trâng tráo và hận thù ăn sâu vào những cuộc tranh luận về học thuyết, mà lẽ ra, cũng như Thánh thể được Sanzio vẽ trên các gian phòng Nhà thờ Thánh Pierre, chúng phải diễn ra trên trời chứ không phải ở bất kì nơi nào khác?... Vì cuối cùng, giá như năm ngoái Nhà Vua hạ cố nghe theo lời kháng nghị của giới quý tộc nước ta, giá như Giáo hoàng Leon có lòng tốt đón tiếp một tu sĩ Augustin thất học vào thời chúng ta còn bé… Còn muốn gì hơn cái mà mọi thể chế chúng ta đều cần, cha muốn nói tới cải cách… Tu sĩ cục mịch kia đã bực tức trước sự lạm dụng, mà chính cha cũng sửng sốt khi cha thăm cung điện của Giáo hoàng Jules III; người ta không nhầm khi trách cứ các Dòng tu chúng ta vì thói xa hoa, nó làm chúng ta vướng víu, mà không phải tất cả đều nhằm thờ phụng Chúa…
- Linh mục tu viện trưởng không làm chúng ta lóa mắt vì sự xa hoa của người, - Sébastien Théus ngắt lời với nụ cười mỉm.
- Cha có tiện nghi hết sức đầy đủ, - linh mục tu viện trưởng nói, giơ tay về phía những cục than màu xám.
- Xin Đức Bề trên đừng dành cho kẻ thù những cơ hội quá lớn vì lòng tốt của Người, - triết gia nói sau một hồi suy tư. - Odi hominent unius libri[8]: Luther truyền bá sự tôn sùng Sách thánh, như thế còn tồi tệ hơn những nghi lễ mà ông ta cho là mê tín dị đoan, và học thuyết cứu rỗi bằng đức tin làm hạ thấp phẩm cách con người.
- Ta đồng ý, - linh mục tu viện trưởng sửng sốt, - nhưng rốt cuộc, chúng ta tôn trọng Kinh thánh như ông ta, và chúng ta cũng làm hỏng những ưu điểm bé nhỏ của mình dưới chân Đấng Cứu thế.
- Chắc chắn vậy, thưa Đấng Bề trên, và có thể đó là điều khiến một kẻ vô thần không thể hiểu nổi những cuộc tranh luận chát chúa ấy.
- Đừng cố nói điều cha không muốn nghe, - linh mục tu viện trưởng thì thầm.
- Con không nói nữa, - triết gia nói. - Con chỉ thấy là những quý tộc Đức theo Cải cách chơi bóng lăn bằng đầu nông dân nổi loạn. Họ đáng phải chịu gươm đao của quận công, và Luther sử dụng các ông hoàng cũng giống như hồng y giáo chủ de Granvelle.
- Ông ta đã chọn việc ủng hộ giới cầm quyền, giống như tất cả chúng ta, - linh mục tu viện trưởng nói giọng mệt mỏi.
Ngoài trời tuyết rơi từng hồi. Bác sĩ đứng lên định trở về trạm xa, song đức bề trên nhận xét thời tiết xấu thế này chắc chẳng có bệnh nhân nào dám mạo hiểm ra đường, và rằng tu sĩ y tá chắc đủ để trông coi bệnh viện.
- Để cha thú nhận với con điều cha sẽ giấu trước bất kì một giáo sĩ nào, cũng như con nói chuyện với cha về một phỏng đoán mạo hiểm trong giải phẫu hơn là với một thầy thuốc khác, - linh mục tu viện trưởng lại bắt đầu nói với vẻ khó nhọc. - Cha không thể tiếp tục được nữa, bạn thân mến… Sébastien, mười sáu thế kỉ sắp trôi qua từ khi có Chúa Jesus, và chúng ta ngủ trên cây thánh giá như ngủ trên gối… Gần như ai cũng nói rằng vì sự Cứu chuộc sẽ xảy ra một lần cho tất cả, nên việc còn lại của mỗi con chiên là chịu thích ứng trong thế giới này như nó diễn ra, hay cùng lắm là tự cứu rỗi mình. Chúng ta ca ngợi Đức tin, đúng vậy; chúng ta rước đức tin trên khắp phố; chúng ta hi sinh cho Đức tin hàng nghìn mạng sống nếu cần thiết, kể cả cuộc sống chúng ta. Chúng ta cũng hân hoan chờ đón Hy vọng; chúng ta chỉ quá thường xuyên bán Hy vọng cho người sung kính với giá bằng vàng. Nhưng có ai lo bồi đắp lòng thương xót, trừ một vài thánh nhân, và cha lại đang run rẩy đây khi nghĩ sự thương xót của các thánh ấy nằm trong những giới hạn chật hẹp biết nhường nào… Thậm chí đến ngần này tuổi, và dưới tấm áo chùng này, cha vẫn còn thấy lòng trắc ẩn quá mềm yếu của cha là một tì vết trong bản chất con người mà cha cần phải tranh đấu chống lại… Và cha nhủ lòng rằng nếu có người nào trong chúng ta muốn tử vì đạo, không phải vì Đức tin, đã có quá nhiều người muốn làm chứng nhân cho Đức tin, mà chỉ riêng vì lòng Thương xót, nếu ai đó lên giá treo cổ hay treo lên giàn thiêu thay cho nạn nhân xấu xí nhất, hay ít nhất cũng ở bên cạnh anh ta, thì có lẽ chúng ta sẽ sống trên một trái đất khác và dưới một bầu trời khác… Kẻ ma mãnh tồi tệ nhất hay người dị giáo độc hại nhất cũng không bao giờ thấp kém hơn ta như ta thấp kém hơn Jésus-Christ.
- Điều linh mục tu viện trưởng mơ rất giống với cái mà các giả kim thuật của chúng con gọi là cách khô, hoặc cách nhanh, - Sébastien Théus trầm giọng nói. - Đại thể đó là biến hóa mọi thứ ngay trong một lần, và với sức lực yếu ớt của chúng ta… Đó là một con đường nhỏ nguy hiểm, thưa linh mục tu viện trưởng.
- Đừng sợ, - người bệnh nói với nụ cười như xấu hổ trên môi. - Cha chỉ là một con người khốn khổ, và tạm chăn dắt chừng sáu mươi tu sĩ.. Có lẽ nào vì ý muốn riêng mà cha đẩy họ vào một điều chẳng may nào đó chăng? Đừng mong mở cửa Nước Trời bằng sự hy sinh. Nếu ta được gọi dâng hiến lên Chúa, thì điều đó cũng diễn ra theo cách khác.
- Sự hiến dâng tự xảy đến khi vật dâng hiến sẵn sàng, - Sébastien Théus bật thành lời, đầu óc ông đang nghĩ đến những lời cảnh báo của các triết gia nghiên cứu thuật giả kim.
Linh mục tu viện trưởng ngạc nhiên nhìn ông:
- Vật hiến dâng… - ông nói, một cách sung kính, nhấm nháp ngôn từ đẹp đẽ. - Người ta đảm bảo rằng hòn đá triết học của các giả kim thuật gia là biến thể từ Jésus Christ, và Bí mật Lớn tương đương với sự hiến dâng trong lễ nhà thờ.
- Một số người nói như thế, - Zénon nói, nhấc chiếc chăn rơi xuống đất đắp lên đầu gối linh mục tu viện trưởng. - Nhưng chúng ta có thể rút ra được gì từ những điều tương đương ấy, nếu không phải là trí tuệ con người đi theo một xu hướng nào đó?
- Chúng ta nghi ngờ, - linh mục tu viện trưởng nói với giọng đột nhiên run rẩy, - chúng ta đã nghi ngờ… Bao nhiêu đêm cha đã gạt đi ý nghĩ rằng Chúa trên cao xanh chỉ là một bạo chúa hay một ông vua bất lực, và kẻ vô thần phủ nhận Người lại chính là kẻ duy nhất không phạm thánh… Rồi, một luồng sáng đã đến với cha; bệnh tật là một lối mở. Phải chăng chúng ta nhầm lẫn khi cho rằng Người là Toàn năng, và rằng đau đớn của chúng ta chính là do ý chí của Người? Phải chăng chính chúng ta cần hành động để Thời đại của Người đến? Trước đây cha có nói rằng Chúa cử người đại diện cho Chúa, nay cha đi xa hơn, Sébastien ạ. Có lẽ Người đang ở trong tay chúng ta, chỉ như một ngọn lửa bé nhỏ mà tùy thuộc chúng ta nuôi dưỡng và không để tắt; có lẽ chúng ta là điểm xa nhất mà Người đạt tới… Sẽ có bao nhiêu kẻ bất hạnh, phẫn nộ trước khái niệm Toàn năng của Người, sẽ từ trong tuyệt vọng ào chạy đến nếu người ta gọi họ đến đỡ cho sự yếu đuối của Chúa?
- Điều này rất không hợp với các tín điều của Nhà thờ.
- Không, bạn thân mến, cha nói trước là cha từ chối tất cả những gì sẽ xé rách thêm dù chỉ là chút ít tấm áo không chỉ may của Người. Chúa ngự trị với quyền năng tuyệt đối trong thế giới tâm linh, ta rất muốn điều đó, nhưng chúng ta đang ở trên thế giới của thể xác. Và trên đất này, nơi Người đã bước đi, chúng ta đã thấy Người như thế nào, nếu không phải như một bé trong trắng trên cỏ, giống hệt những đứa trẻ sơ sinh nằm trên tuyết trong những ngôi lang bị quân dội Nhà Vua tàn phá ở Campine, chúng ta thấy Người như thế nào nếu không phải là một kẻ lang thang chẳng có lấy một hòn đá gối đầu, một kẻ chịu nhục hình treo cổ trên ngã tư và cũng tự hỏi vì sao Chúa bỏ rơi mình[9] ? Mỗi người trong chúng ta đều thật yếu đuối, song ta sẽ được an ủi khi nghĩ Người còn bất lực hơn và còn nhụt chí hơn, rằng chính chúng ta sinh ra Người, cứu rỗi Người trong con người… Cha xin lỗi, ông vừa nói vừa ho… - Cha đã bắt con nghe một bài giảng dài dòng mà cha không thể đứng trên bục giảng được nữa.
Đầu ông đã ngả xuống lưng ghế phô tơi trĩu nặng và dường như đột nhiên trống rỗng. Sébastien Théus thân mật cúi xuống bên linh mục đồng thời cầm lấy chiếc áo choàng:
- Con sẽ suy nghĩ về những ý tưởng linh mục tu viện trưởng đã diễn giải, - ông nói. - Trước khi về, con có thể trao đổi lại với bề trên một giả thuyết được không ạ? Phần lớn các triết gia thời nay đều cho rằng có tồn tại Anima Mund[10] biết cảm nhận và ít nhiều có ý thức, mà trong đó có mặt mọi sự vật; bản thân con cũng đã mơ đến những hòn đá biết suy tư không để ta nghe thấy… Ấy vậy mà xét theo những gì đã biết, thì dường như sự đau đớn, với hệ quả là sự vui sướng, và qua đó thậm chí cả điều thiện, cùng với cái mà chúng ta gọi là điều ác, công lý, cũng như cái đối với chúng ta là bất công, và cuối cùng, lý trí, dưới hình thức này hay hình thức khác để phân biệt những cặp trái ngược nhau này, chỉ tồn tại duy nhất trong thế giới của máu, có thể của nhựa cây, của da thịt, trong đó chằng chịt những sợi thần kinh giống như một mạng lưới những ánh chớp, và (biết đâu) trong thế giới của thân cây mọc về phía ánh sáng, về nơi chí thiện của nó, bứt rứt khi thiếu nước và co mình khi lạnh, hay dung toàn bộ sức lực mà chống lại sự xâm lấn bất công của những cây khác. Tất cả những gì còn lại, con muốn nói đến chất khoáng và tinh thần, nếu có tồn tại, có lẽ là phần không cảm nhận và sống bình thản, ở bên ngoài hoặc bên trong những niềm vui và những niềm đau khổ của chúng ta. Những thử thách chúng ta phải trải qua có thể chỉ là một ngoại lệ nhỏ mọn trong công xưởng thế giới này, và điều này có thể giải thích vì sao cái vật chất bất di bất dịch mà chúng ta sùng kính gọi là Chúa lại thờ ơ với chúng ta.
Linh mục tu viện trưởng cố nén một cơn rùng mình.
- Điều con nói thật ghê gớm, - ông nói. - Nhưng, nếu thế, thì đúng là chúng ta lại dấn thân hơn bao giờ hết vào một thế giới của lúa mì bị nghiền nhỏ và cừu bị chọc tiết. Sébastien, con hãy ra về thanh thản.
Zénon ngược trở lại hành lang vòm nối nhà thương làm phúc Saint-Cosme với tu viện. Tuyết bị gió cuốn vương vất đây đó thành những đống lớn màu trắng. Trở về nhà, ông đi thẳng lên căn phòng nhỏ nơi ông xếp trên giá sách những cuốn sách thừa kế được được của Jean Myers. Ông già có một cuốn giải phẫu học của Andreas Vesalius, xuất bản hơn hai mươi năm trước. Thầy thuốc nổi tiếng này cũng từng như Zénon chống lại thói quen mòn theo Galile để đi tìm một tri thức đầy đủ hơn về cơ thể con người. Zénon chỉ được gặp thầy thuốc nổi danh này có một lần, sau đó ông ta bắt đầu một sự nghiệp cung đình tốt đẹp trước khi chết vì dịch hạch ở Phương Đông; Vesalius dấn sâu vào những nghiên cứu y thuật riêng của ông ta, song ông ta không phải chịu lo sợ bị truy hại nào ngoài truy hại của đám học giả thông thái rởm mà vả lại ông gặp không ít. Ông ta cũng lấy trộm xác; ông ta tìm tòi về cơ thể con người dựa trên những mẩu xương nhặt dưới giá treo cổ hay trên giàn thiêu, hoặc, sỗ sàng hơn nữa, dựa trên các xác ướp các nhân vật tai to mặt lớn, ngươi ta giấm giúi lấy một thận hoặc phần dịch bên trong một hòn dái, thay vào nó bằng một nắm giẻ nhỏ, và sau đó chẳng có gì chỉ ra rằng những vật phẩm này được lấy ra từ thân thể các Hoàng thân công chúa.
Đặt cuốn sách khổ hai xuống bên ngọn đèn, Zénon tìm tranh vẽ lát cát thực quản và thanh quản cùng động mạch khí quản: ông thấy hình vẽ này là một trong những hình thô sơ nhất của người minh họa tài ba này, nhưng ông không quên rằng Vesalius, cũng như ông, thường phải làm việc quá nhanh trên những xác đã bắt đầu thối rữa. Ông đặt tay vào chỗ nghi ngờ có một políp ở cơ thể linh mục tu viện trưởng, một ngày nào đó nó sẽ làm nghẹt thở người bệnh. Ông đã có dịp phẫu tích một kẻ lang thang ở Đức cũng bị chết vì bênh này; qua ca bệnh ấy và sau khi thăm khám bằng ống soi, ông chẩn đoán đằng sau các triêu chứng bệnh tật mù mờ của linh mục tu viện trưởng là hoạt động tai hại của một phần thịt cứ nuốt dần nuốt dần các cơ cấu bên cạnh nó. Có thể nói rằng tham vọng và bạo lực, trước nay không hề có trong bản chất của tu sĩ, rình rập từ góc nhỏ này trong cơ thể, từ đấy cuối cùng nó sẽ phá hủy con người nhân từ. Nếu ông không nhầm, Jean-Louis de Berlaimont, linh mục tu viện trưởng Cordelier ở Bruges, cựu nhân viên lâm nghiệp của hoàng hậu nối ngôi Marie de Hogrie, toàn quyền hiệp định Crespy, sẽ chết trong vòng mấy tháng nữa, do bị khúc thịt thừa đang hình thành phía sâu cổ họng chẹn ngang cổ, tuy nhiên trừ phi polip ấy khi phát triển lên sẽ cắt đứt một tĩnh mạch, dìm người xấu số chết trong máu của chính ông. Còn có một ngoại lệ, không bao giờ có thể coi thường, là một tai nạn khiến cái chết về đích trước bệnh tật, nếu có thể nói như vậy, số phận của con người thánh thiện đã bị niêm phong như chính ông đã sống như vậy.
Chỗ đau nằm quá bên trong thành thử ông không thể can thiệp tới bằng mũi đốt hoạc dao mổ. Những may mắn duy nhất kéo dài cuộc sống của người bạn chí tình là dưỡng sức cho ông với một chế độ ăn uống thận trọng; cần phải nghĩ đến việc cho ông ăn những thức ăn hơi lỏng, vừa giàu chất vừa nhé, để ông nuốt chúng không bị đau khi thực quản hẹp lại khiến ông sẽ không còn nuốt nổi những thức thông thường trong tu viện; cũng cần theo dõi không để ông bị trích máu hay dung thuốc xổ theo cách thông thường, trong ba phần tư trường hợp chỉ làm bệnh nhân kiệt sức một cách dã man. Khi đến lúc phải làm dịu những cơn đau khủng khiếp, các loại thuốc phiện sẽ có công hiệu, và từ giờ cho đến lúc đó nên tiếp tục làm vui lòng ông bằng những thứ thuốc vô hại, để ông khỏi có nỗi lo âu bị bỏ quên trong đau đớn một mình. Y thuật cho đến lúc này không thể làm gì hơn.
Ông thổi tắt đèn. Tuyết đã ngừng rơi, nhưng màu chết chóc lạnh lẽo của nó phủ đầy căn phòng; những mái nhà nghiêng của tu viện ánh lên như kính. Một ngôi sao vàng vọt đơn độc mờ hắt sáng ở phía nam chòm sao Ngưu, cách Aldebaran sáng chói và bảy vì Pleiades không xa. Từ lâu Zénon đã thôi không dựng đoán thiên cơ theo chiêm tinh học nữa, vì những hành tinh xa xôi quá lờ mờ đâu thể rút ra được những tính toán chắc chắn cho những quan hệ trong loài người, ngay cả khi có những kết quả không thể chối bỏ hiện ra ở đâu đó. Dẫu vậy, chống tay vào khuôn cửa, ông vẫn lang thang trong những mộng mị tối tăm. Ông không quên là theo ngày sinh của cả hai người, linh mục tu viện trưởng và ông đều phải sợ vị trí này của Sao Thổ.
❀ ❀ ❀
[1] Lễ diễn ra ngày thứ hai đầu tiên của tháng Năm.
[2] Janus: một vị thần La mã, được thể hiện bởi hai khuôn mặt đối lập nhau.
[3] Tiếng La tinh: ở phút cuối.
[4] Công quốc tôn giáo cũ nằm ở phía nam Hà Lan và phía Tây Đức, nay thuộc Bỉ.
[5] Chỉ Herode Đại đế: (73 TCN – 4 CN) Vua Do Thái, theo Kinh Thánh là người đã tàn sát trẻ em ở Berthlem để tìm diệt Jesus Hài nhi.
[6] Bá tước Lamoral d’Egmont, một tướng của Hà Lan
[7] Theo Kinh thánh, một người Samari đã chạnh lòng thương và cứu một kẻ bị rơi vào tay kẻ cướp và bị đánh dở sống dở chết, đưa về quán trọ săn sóc
[8] Tiếng La tinh: kẻ coi Kinh thánh là cuốn sách duy nhất kia thật đáng ghét.
[9] Theo Kinh thánh, khi chịu nạn trên cây thập tự, Chúa Jésus kêu gọi Thiên Chúa vì sao lại rời bỏ mình.
[10] Tiếng La tinh: linh hồn phổ niệm