Kẻ Săn Suy Nghĩ

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
Trò Chơi Nguy Hiểm Nhất

❊ ❊ ❊

Năm 1924, tác giả Richard Connell đã viết một truyện ngắn với tựa đề “Trò chơi nguy hiểm nhất”. Câu chuyện nói về một thợ săn chuyên săn thú rừng lớn tên là Tướng Zaroff, người đã chán đuổi theo các con thú và bắt đầu săn một loại con mồi thông minh hơn và thách thức hơn: con người. Câu chuyện đến nay vẫn còn phổ biến. Lauren, con gái tôi, gần đây có đọc câu chuyện đó ở trường.

Như chúng tôi biết, đến khoảng năm 1980, câu chuyện của Connell vẫn thuộc thế giới hư cấu. Nhưng điều đó đã thay đổi vì một người thợ làm bánh tử tế ở Anchorage, Alaska, tên là Robert Hansen.

Chúng tôi không mô tả nhân dạng Hansen hay đưa ra chiến thuật để nhận dạng và bắt hắn theo quy trình thông thường. Tháng Chín năm 1983, thời điểm mà đơn vị tôi được yêu cầu hỗ trợ, cảnh sát bang Alaska đã nhận diện Hansen là một nghi phạm giết người. Nhưng họ không chắc chắn về phạm vi các tội ác của hắn, hay liệu một đối tượng dường như không có khả năng, một người đàn ông của gia đình đáng kính và một trụ cột trong cộng đồng, lại có thể làm ra những điều khủng khiếp mà hắn đang bị buộc tội.

Sự việc như sau:

Vào ngày 13 tháng Sáu năm ngoái, một cô gái trẻ cuống cuồng chạy đến chỗ một viên cảnh sát khu vực Anchorage. Một bên cổ tay cô gái đang treo lủng lẳng một cái còng tay, và cô ấy kể một câu chuyện rất khác thường. Cô ấy là gái bán hoa, mười bảy tuổi, được một người đàn ông thấp, mặt rỗ, tóc đỏ tiếp cận, đề nghị trả 200 đô la để khẩu giao trên xe hắn. Cô nói trong khi cô đang làm thì hắn còng tay cô lại và lôi ra một khẩu súng, sau đó lái xe đưa cô về nhà hắn ở khu vực Muldoon sang trọng của thành phố. Không ai ở nhà. Hắn nói nếu cô hợp tác và làm theo lời hắn, hắn sẽ không hại cô. Nhưng sau đó hắn ép cô phải cởi hết quần áo, cưỡng bức cô và cắn hai nhũ hoa cũng như nhét một cây búa vào cửa mình khiến cô vô cùng đau đớn. Trong khi cô bị còng tay vào một cây cột dưới tầng hầm nhà hắn, không thể di chuyển thì hắn ngủ suốt mấy tiếng. Khi tỉnh dậy, hắn nói hắn rất thích cô nên sẽ đưa cô đến căn nhà gỗ nhỏ trong rừng của hắn bằng phi cơ riêng, họ sẽ quan hệ với nhau rồi hắn đưa cô trở về Anchorage và thả cô đi.

Nhưng cô ấy biết cơ hội được thả là rất thấp. Hắn đã cưỡng bức cô, tấn công cô mà không làm gì để che giấu thân phận của hắn. Nếu hắn đưa cô vào căn nhà gỗ đó, cô sẽ gặp rắc rối thực sự. Tại sân bay, trong khi kẻ bắt cóc đang chất đồ lên máy bay, cô gái đã xoay sở trốn được. Cô chạy nhanh hết sức, tìm người giúp đỡ. Đó là lúc cô tìm thấy viên cảnh sát.

Từ bản mô tả của cô gái, kẻ bắt cóc cô dường như là Robert Hansen. Hắn khoảng hơn bốn mươi tuổi, lớn lên ở Iowa và đã ở khu vực Anchorage mười bảy năm, nơi hắn đang làm chủ một tiệm bánh đắt khách và được xem là một nhân vật nổi bật trong cộng đồng. Hắn đã kết hôn, có hai đứa con, một gái và một trai. Viên cảnh sát chở cô gái đến nhà Hansen ở Muldoon, theo cô nói là nơi mình bị hành hạ. Họ đưa cô đến sân bay và cô nhận ra chiếc phi cơ Piper Super Cub thuộc về Robert Hansen.

Sau đó viên cảnh sát đến gặp Hansen và chất vấn hắn về lời khai của cô gái trẻ. Hắn đối đáp với vẻ tức giận, rằng hắn chưa từng gặp cô ấy và rõ ràng cô ấy đang cố gắng moi tiền của hắn vì hắn giàu. Ý tưởng đó thật điên rồ. “Chúng ta không thể cưỡng bức một ả gái điếm, đúng không?” Hắn nói với cảnh sát.

Và hắn có bằng chứng ngoại phạm cho cái đêm bị tố cáo. Vợ và hai con hắn đang nghỉ hè ở châu Âu, còn hắn ở nhà ăn tối với hai cộng sự kinh doanh. Hắn báo tên họ và họ làm chứng cho hắn. Cảnh sát không có bằng chứng buộc tội hắn - chỉ có lời khai của cô gái - nên hắn đã không bị bắt hay bị truy tố.

Tuy thiếu chứng cứ nhưng cảnh sát ở cả khu Anchorage và bang Alaska đã đánh hơi thấy điều lạ và biết có vấn đề ở đâu đó. Hồi năm 1980, các công nhân xây dựng đang đào đất trên đường Eklutna thì tình cờ phát hiện một thi thể phụ nữ không nguyên vẹn. Thi thể đã bị gấu ăn mất nhiều phần, có dấu hiệu bị đâm đến chết và chôn trong một huyệt nông. Chỉ được biết với tên gọi “Eklutna Annie”, danh tính người phụ nữ chưa bao giờ được xác định và kẻ sát hại cô ấy chưa bị bắt giữ.

Ở một thời điểm khác trong năm, thi thể của Joanne Messina được phát hiện trong một huyệt mộ gần Seward. Sau đó, đến tháng Chín năm 1982, các thợ săn đi săn gần sông Knik phát hiện thi thể của Sherry Morrow hai mươi ba tuổi trong một huyệt nông. Cô gái này là một vũ công bán khỏa thân, đã mất tích từ tháng Mười một năm ngoái. Cô ấy bị bắn ba phát. Vỏ đạn được tìm ra ở hiện trường cho thấy các viên đạn được bắn từ một khẩu Ruger Mini 223 ly, loại súng trường đi săn có uy lực mạnh. Đáng tiếc, đó là vũ khí phổ biến ở Alaska nên rất khó truy tìm và thẩm vấn từng thợ săn sở hữu loại súng này. Nhưng điểm khác thường là không có vết đạn bắn trên trang phục cô ấy mặc, cho thấy cô ấy hẳn là đang khỏa thân khi bị bắn.

Gần tròn một năm sau, một thi thể khác được phát hiện trong một huyệt mộ nông trên bờ sống Knik. Lần này, nạn nhân là Paula Golding, một thư ký thất nghiệp, đang làm việc ở một quán bar bán khỏa thân để kiếm sống. Cô ấy cũng bị bắn bằng một khẩu Ruger Mini-14. Cô ấy đã mất tích từ tháng Tư, và không có phát hiện gì thêm kể từ lúc đó cho đến khi cô gái bán hoa mười bảy tuổi bị bắt cóc và trốn thoát. Bấy giờ, khi danh sách các vụ án chưa phá có thêm tên Golding, Cơ quan điều tra tội phạm của lực lượng cảnh sát bang Alaska quyết định tốt nhất nên theo dõi quý ngài Hansen.

Tuy cảnh sát đã xác định nghi phạm trước khi tôi nghe về hắn nhưng tôi muốn bảo đảm đánh giá của tôi không bị ảnh hưởng bởi những kết quả điều tra đã có. Vì vậy, trước khi nghe họ báo cáo các thông tin chi tiết về nghi phạm trong buổi trao đổi qua điện thoại đầu tiên, tôi bảo, “Trước hết các anh hãy cho tôi biết về các vụ án và để tôi nói cho các anh nghe về gã này”.

Họ mô tả các vụ giết người chưa được giải quyết và chi tiết câu chuyện của cô gái. Tôi mô tả một cảnh tượng và một cá nhân mà họ nói là nghe rất giống nghi phạm của họ, giống đến cả tật nói lắp. Sau đó, họ kể cho tôi về Hansen, công việc và gia đình hắn, vị trí của hắn trong cộng đồng, danh tiếng thợ săn thú rừng của hắn. Nghe có giống loại người có thể thực hiện những vụ án này không?

Chắc chắn có thể, tôi bảo họ. Vấn đề là tuy họ có nhiều thông tin gián tiếp nhưng họ không có bằng chứng rõ ràng để truy tố hắn. Cách duy nhất để bắt giam hắn, điều mà họ vô cùng lo lắng khi thực hiện, là khiến hắn nhận tội. Họ đề nghị tôi đến hiện trường và hỗ trợ họ giải quyết vụ án.

Theo cách nào đó, việc này trái với những gì chúng tôi thường làm, đó là điều tra từ một đối tượng đã biết, cố gắng xác định xem cuộc sống, tính cách và hành vi của hắn có khớp với một chuỗi tội ác không.

Tôi đưa Jim Horn đi cùng, anh ấy vừa từ Cơ sở vệ tinh ở Boulder, Colorado đến gia nhập đơn vị của tôi. Chúng tôi đã cùng tham gia chương trình huấn luyện đặc vụ mới hồi trước, và cuối cùng khi tôi có quyền chọn bốn đặc vụ để làm việc với mình, tôi đã đề nghị Jim đến Quantico. Cùng với Jim Reese, Jim Horn hiện là một trong những chuyên gia xử lý áp lực hàng đầu ở Cục, một chức năng thiết yếu trong lĩnh vực của chúng tôi. Nhưng vào năm 1983, đây là một trong những vụ án đầu tiên của anh ấy ở khía cạnh nghiên cứu hành vi.

Đến Anchorage là một trong những chuyến công tác thú vị nhưng khó chịu nhất của tôi. Chúng tôi đã có một chuyến bay qua biển kinh hoàng vào ban đêm. Khi đến nơi, cảnh sát đón và đưa chúng tôi đến khách sạn. Trên đường, chúng tôi đi ngang qua một số quán bar mà các nạn nhân đã làm việc. Hầu như lúc nào thời tiết cũng quá lạnh, các cô gái làng chơi không thể làm việc ngoài đường nên họ liên hệ làm ăn với các quán rượu, mà các quán này mở cửa gần như hai mươi tư giờ một ngày. Có lẽ các quán này đóng cửa khoảng một giờ đồng hồ để dọn dẹp và đuổi mấy tay khách say xỉn đi. Lúc ấy, Alaska là một trong những bang có tỷ lệ tự tử, nghiện rượu và mắc bệnh hoa liễu cao nhất cả nước do một lượng lớn người đổ về trong thời gian ngắn để tham gia xây dựng đường ống dầu. Nơi này gần như trở thành phiên bản hiện đại của khu vực Miền Tây Hoang dã.

Tôi cảm thấy không khí nơi đây rất lạ. Dường như đang diễn ra sự mâu thuẫn giữa người bản địa và những người đến từ “bốn mươi tám bang vùng thấp”. Có rất nhiều đàn ông vạm vỡ đi lại trên phố với những hình xăm lớn và trông như thể vừa bước ra từ một áp phích quảng cáo của Marlboro. Đường sá xa xôi nên hầu như tất cả mọi người đều có phi cơ, Hansen cũng không phải ngoại lệ.

Ở vụ án này, điều quan trọng với chúng tôi là: Đây là lần đầu việc mô tả nhân dạng được sử dụng để hỗ trợ xin lệnh khám xét. Chúng tôi bắt đầu phân tích mọi điều mình biết về các vụ án và Robert Hansen.

Các nạn nhân đã biết đều là gái bán hoa hoặc vũ công bán khỏa thân. Họ thuộc một nhóm lớn gồm các nạn nhân đi lại ở vùng Bờ biển phía Tây. Vì họ đến và đi trong thời gian ngắn, và họ thường không thói quen khai báo tạm trú nên nếu có chuyện gì xảy ra với họ, cũng khó mà biết được cho đến khi xuất hiện một thi thể nào đó. Đây cũng chính là vấn đề mà cảnh sát và FBI đã đối mặt trong vụ Kẻ sát nhân sống Xanh ở bang Washington. Vì vậy, việc chọn nạn nhân là rất quan trọng. Kẻ sát nhân chỉ nhắm đến những phụ nữ mà dù có biến mất cũng không ai nhớ đến.

Chúng tôi không biết hết về Hansen nhưng những gì chúng tôi biết trùng khớp với một hình mẫu. Hắn có dáng người thấp và gầy, mặt rỗ nặng, và mắc tật nói lắp nghiêm trọng. Tôi phỏng đoán ở tuổi dậy thì, hắn gặp vấn đề nghiêm trọng về da, cộng thêm tật nói lắp, có lẽ vì thế mà hắn bị mọi người xung quanh trêu ghẹo hoặc xa lánh, đặc biệt là các cô gái. Bởi vậy, lòng tự tôn của hắn sẽ thấp. Đó có thể cũng là lý do hắn chuyển đến Alaska - khởi đầu mới ở một vùng đất mới. Nói về khía cạnh tâm lý, hành hạ gái bán hoa là một cách thường thấy để trả thù phái nữ nói chung.

Tôi cũng rất chú trọng đến thực tế rằng Hansen nổi tiếng là một thợ săn tài ba. Ở đây, hắn đã gây dựng được danh tiếng cho mình bằng cách hạ một con cừu Dall hoang dã bằng cung tên khi đi săn trong vùng núi Kuskokwim. Tôi không có ý ám chỉ đa số thợ săn là những người tự ti, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, nếu khởi đầu của cuộc điều tra là một nghi phạm thuộc tuýp người tự ti thì một trong những cách mà có thể hắn sẽ thử để bù đắp tính cách đó là đi săn hoặc chơi súngdao. Tật nói lắp nghiêm trọng làm tôi nhớ đến David Carpenter, “Kẻ sát nhân đường mòn trên núi” ở San Francisco. Tương tự trường hợp của Carpenter, tôi cá là vấn đề nói năng của Hansen biến mặt khi hắn cảm thấy mình có khả năng chi phối và kiểm soát nhất.

Tập hợp những điểm này lại, dù đây là một viễn cảnh chúng tôi chưa từng thấy trước đây, nhưng tôi bắt đầu hình dung ra tình huống. Những cô gái bán hoa và “vũ công khiêu dâm” được phát hiện đã chết trong những khu vực rừng cây xa xôi bởi những vết thương do đạn bắn cho thấy hung khí là một khẩu súng săn. Trong ít nhất một vụ, các phát súng bắn vào một cơ thể khỏa thân. Cô gái mười bảy tuổi, người khai là mình đã trốn thoát, nói rằng Robert Hansen muốn dùng phi cơ đưa cô đến căn nhà gỗ của hắn trong rừng. Hansen đã đưa vợ con sang châu Âu nghỉ hè và ở nhà một mình.

Tôi tin rằng, cũng như Tướng Zaroff trong “Trò chơi nguy hiểm nhất”, Robert Hansen hẳn đã chán nai sừng tấm, gấu hay cừu Dall và hướng sự chú ý sang một con mồi thú vị hơn. Zaroff biện minh rằng hắn ta dùng những thủy thủ bị bắt - họ bị đắm tàu và dạt vào những mỏm đá mà hắn cố tình không đánh dấu trên con kênh dẫn đến hòn đảo của mình: “Tôi săn loại người tệ hại nhất trên đời - thủy thủ trên những con tàu thương mại - một con ngựa hoặc chó săn thuần chủng còn đáng giá hơn hai mươi người bọn chúng”

Tôi đoán Hansen cũng nghĩ về các cô gái bán dâm như thế. Họ là những người hắn có thể xem như thấp kém và vô giá trị hơn hẳn. Và chẳng cần đến tài hùng biện để bảo một người trong số họ đi theo hắn. Hắn sẽ đưa cô gái lên xe, biến cô thành tù nhân của hắn, đưa cô đến khu vực hoang vu, lột sạch quần áo của cô, thả cô đi, rồi săn cô với một khẩu súng hoặc con dao.

Cách thức gây án của hắn có lẽ không bắt đầu theo kiểu này. Có lẽ ban đầu, đơn giản là hắn giết những nạn nhân đầu tiên, sau đó dùng phi cơ chở xác họ đi xa. Đây là những tội ác vì lý do giận dữ. Hẳn là hắn rất thích thú khi các nạn nhân cầu xin tha mạng. Là một thợ săn, đến một thời điểm nào đó, hắn bỗng nhận ra hắn có thể kết hợp những hoạt động khác nhau này bằng cách đưa họ vào rừng khi họ còn sống rồi săn họ để giải trí và thêm nữa là để thỏa mãn dục vọng. Đây sẽ là cách kiểm soát tối thượng. Nó sẽ gây nghiện và hắn sẽ muốn làm lại nhiều lần nữa.

Điểm này đưa tôi đến các thông tin chi tiết của lệnh khám xét. Điều họ muốn ở tôi và Jim là một lời khai có tuyên thệ mà họ có thể mang đến tòa, giải thích việc mô tả nhân dạng tội phạm, những điều chúng tôi trông đợi sẽ tìm thấy khi khám xét và cơ sở để chúng tôi có thể nói những điều đó.

Không giống một tên tội phạm thông thường hoặc một kẻ sở hữu một khẩu súng có thể thay thế, khẩu súng săn của Hansen sẽ rất quan trọng với hắn. Vì vậy, tôi dự đoán nó sẽ ở đâu đó trong nhà hắn, nhưng không ở nơi dễ thấy. Nó sẽ ở một chỗ hẹp, đằng sau những tấm gỗ ốp tường hay một bức tường giả; được giấu trên gác mái; một nơi nào đó đại loại thế.

Tôi cũng đoán đối tượng sẽ thích tích trữ đồ đạc tuy không hoàn toàn vì những lý do thông thường. Rất nhiều kẻ sát nhân vì tình dục lấy những món đồ lưu niệm từ nạn nhân và tặng cho những người phụ nữ của chúng như một dấu hiệu của sự chi phối và một cách hồi tưởng trải nghiệm giết người. Nhưng Hansen không thể gắn một cái đầu phụ nữ lên tường như gắn đầu một con thú lớn nên tôi nghĩ có khả năng hắn lấy một chiến lợi phẩm khác. Vì không có bằng chứng cho thấy việc cắt xẻo thi thể nên tôi nghĩ hắn đã lấy trang sức, rồi tặng cho vợ hoặc con gái mình, bịa ra câu chuyện về nguồn gốc của món đồ đó. Có vẻ hắn không giữ đồ lót hay bất kỳ món đồ nào khác của nạn nhân mà chúng tôi có thể giải thích, nhưng hắn có thể giữ những tấm ảnh nhỏ hoặc thứ gì đó khác lấy từ ví. Và theo kinh nghiệm của tôi về loại người này, tôi nghĩ chúng tôi có thể tìm được một cuốn nhật ký hoặc danh sách ghi lại những cuộc phiêu lưu của hắn.

Nhiệm vụ tiếp theo là lật tẩy chứng cứ ngoại phạm của hắn. Hai cộng sự làm ăn của hắn khai họ ở cùng hắn vào đêm xảy ra vụ việc vì cảm thấy chuyện chẳng có gì to tát. Nhưng nếu chúng tôi có thể tạo ra một số điều mà họ có nguy cơ cao sẽ đánh mất thì có thể thay đổi tình hình. Cảnh sát Anchorage yêu cầu công tố viên quận cho phép một bồi thẩm đoàn tiến hành điều tra việc bắt giữ và tấn công cô gái bán dâm, người đã chỉ chứng Hansen. Sau đó cảnh sát đã tiếp cận các doanh nhân này và yêu cầu họ kể lại câu chuyện của họ một lần nữa. Chỉ có điều lần này họ được cho biết rằng nếu bị phát hiện nói dối bồi thẩm đoàn, mỗi người sẽ gặp rắc rối lớn.

Như chúng tôi dự đoán, bấy nhiêu là đủ để làm sáng tỏ vấn đề. Cả hai thừa nhận không ở cùng Hansen vào đêm đó, hắn đã nhờ họ giúp hắn thoát khỏi cái mà hắn bảo là tình huống khó xử.

Thế là Hansen bị bắt với các cáo buộc bắt cóc và cưỡng hiếp. Lệnh khám xét nhà hắn lập tức được thực thi. Tại đó, cảnh sát tìm thấy khẩu súng trường Ruger Mini-14. Xét nghiệm đạn đạo cho thấy nó trùng khớp với số vỏ đạn tìm thấy gần những thi thể. Như chúng tôi đoán, Hansen có một căn phòng cất giữ chiến lợi phẩm - nơi hắn xem ti vi - được trang bị đầy đủ, có rất nhiều đầu thú, ngà hải mã, sừng và gạc, những con chim bị gắn lên tường và các tấm da trên sàn. Dưới những tấm ván lót sàn trên gác, họ tìm thấy nhiều vũ khí khác và nhiều món trang sức rẻ tiền của các nạn nhân. Một trong số đó là chiếc đồng hồ Timex. Hắn đã tặng những món khác cho vợ và con gái hắn. Cảnh sát cũng tìm thấy một tấm giấy phép lái xe và những thẻ căn cước khác của một số nạn nhân. Họ không phát hiện ra nhật ký nhưng tìm được một thứ tương tự: một tấm bản đồ bay có đánh dấu những nơi hắn vứt xác.

Hiển nhiên mọi chứng cứ này đã đủ để thành lập án và bắt giữ hắn. Nhưng nếu không có lệnh khám xét thì chúng tôi đã không làm được. Và cách duy nhất để xin được lệnh khám xét trong trường hợp này là chứng minh cho thẩm phán thấy có đủ bằng chứng về hành vi làm căn cứ cho việc khám xét. Kể từ lúc đó, chúng tôi đã hỗ trợ thành công bằng những bản khai có tuyên thệ để lệnh khám xét, dẫn đến nhiều cuộc bắt giữ. Đáng chú ý nhất có lẽ là vụ án Steven Pennell, “Kẻ sát nhân đường I-40” ở bang Delaware, đã bị hành hình năm 1992 vì tội hành hạ và sát hại những phụ nữ đi nhờ trên chiếc xe tải được trang bị đặc biệt của mình.

Đến lúc cảnh sát Anchorage và cảnh sát bang Alaska thực sự thẩm vấn Robert Hansen vào tháng Hai năm 1984, tôi đang ở nhà tĩnh dưỡng sau đợt bạo bệnh ở Seattle. Roy Hazelwood, người đã anh dũng nhận phần việc của tôi trong khi vẫn xử lý tất cả công việc của mình, huấn luyện cảnh sát về những kỹ năng thẩm vấn.

Giống như lần đầu cảnh sát chất vấn hắn về cáo buộc phạm tội bắt cóc, Hansen chối bỏ tất cả. Hắn chỉ ra cuộc sống gia đình hạnh phúc và công việc làm ăn thành đạt của mình. Ban đầu, hắn nói rằng những vỏ đạn từ khẩu súng của hắn được phát hiện ở nhiều nơi là do hắn đã có mặt ở đó để tập bắn. Dường như việc những thi thể hiện diện ở mỗi địa điểm này hoàn toàn là ngẫu nhiên vậy. Nhưng cuối cùng, đối diện với một núi bằng chứng và viễn cảnh một công tố viên giận dữ muốn hắn nhận án tử nếu hắn không nói thật, hắn đã thừa nhận các tội giết người.

Trong nỗ lực lý giải và biện hộ cho bản thân, hắn nói hắn chỉ muốn khẩu giao với các cô gái bán hoa mà hắn đưa lên xe - điều mà hắn cảm thấy không nên đòi hỏi người vợ mẫu mực, đáng tôn trọng của mình. Nếu cô gái làm hắn thỏa mãn, hắn nói, thì xem như “ăn bánh trả tiền”. Những người không chịu nghe theo - cố kiểm soát tình hình - thì bị hắn trừng phạt.

Theo hướng này, hành vi của Hansen giống hệt những gì chúng tôi học hỏi được từ cuộc thẩm vấn trong tù với Monte Rissell. Cả Hansen và Rissell đều là mẫu người tự ti, có quá khứ tồi tệ. Những phụ nữ nhận lấy cơn thịnh nộ dữ dội nhất của Rissell là những người giả vờ thân mật hay thích thú để mong hắn bớt giận. Họ không nhận ra với loại người này, quyền lực và khả năng kiểm soát tình hình là tất cả.

Hansen cũng quả quyết rằng 30/40 cô gái bán hoa bằng lòng đi cùng hắn trên phi cơ và hắn đã đưa họ trở về nguyên vẹn. Tôi thấy khó mà tin được tuyên bố này. Loại gái làng chơi mà Hansen chọn chỉ phục vụ nhanh rồi chuyển sang khách hàng tiếp theo. Nếu họ đã làm nghề này một thời gian, thường họ có khả năng đánh giá mọi người khá tốt. Họ sẽ không bằng lòng lên máy bay đến vùng nông thôn với một người họ chỉ mới gặp. Nếu họ có phạm sai lầm nào với hắn thì đó là họ đã bị hắn thuyết phục theo hắn về nhà. Một khi hắn đưa được họ vào nhà, mọi chuyện đã quá trễ.

Giống như bản sao hư cấu Tướng Zaroff của hắn, Hansen nói hắn chỉ săn và giết một loại người nhất định. Hắn sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện làm hại một phụ nữ “bình thường”, nhưng lại cảm thấy gái làng chơi và vũ công khỏa thân hay bán khỏa thân là đối tượng thích hợp. “Tôi không nói là tôi ghét tất cả phụ nữ, không… nhưng có lẽ tôi xem gái mại dâm là những phụ nữ thấp kém hơn mình… Đây giống như một trò chơi, họ phải ném bóng trước thì tôi mới đập bóng”

Một khi hắn bắt đầu cuộc săn, chuyện giết chóc không còn gây hứng thú nữa. “Cái thú vị”, Hansen trả lời những người thẩm vấn hắn, “là lúc rình mồi”

Hắn xác nhận những nghi ngờ của chúng tôi về quá khứ của hắn. Hắn lớn lên ở Pocahontas, Iowa, nơi cha hắn làm thợ làm bánh. Khi còn nhỏ, Robert hay ăn cắp vặt và mãi sau khi trưởng thành, có đủ khả năng mua những thứ mình muốn, hắn vẫn ăn cắp cho vui. Vấn đề với phụ nữ xuất hiện hồi trung học, hắn nói thế. Hắn căm ghét tật nói lắp và tình trạng mụn nặng khiến mọi người xa lánh hắn. “Vì dáng vẻ và cách nói chuyện của tôi như một đứa lập dị nên mỗi lần tôi nhìn một đứa con gái nào, nó lại quay đi. Hắn có khoảng thời gian tham gia Lục quân không mấy thú vị, rồi kết hôn năm hai mươi hai tuổi. Sau đó là một chuỗi những vụ phóng hỏa và trộm cướp, ly thân rồi ly hôn, rồi tái hôn. Hắn chuyển đến Alaska khi người vợ thứ hai tốt nghiệp đại học. Tại đó hắn có thể tạo ra một khởi đầu mới. Nhưng hắn gặp rắc rối với pháp luật thêm nhiều năm nữa, trong đó có nhiều lần bị cáo buộc tấn công những phụ nữ có vẻ đã từ chối khi hắn tiếp cận. Một điều thú vị là, như nhiều kẻ khác, khi đó hắn lái một chiếc VW Bọ rùa.

Ngày 27 tháng Hai năm 1984, Hansen nhận bốn tội giết người, một tội cưỡng hiếp, một tội bắt cóc, cùng tội trộm cắp và sở hữu vũ khí. Hắn bị phán 499 năm tù giam.

Một trong những câu hỏi chúng tôi phải giải đáp trong vụ án của Hansen trước khi cảnh sát biết cách tiến hành là liệu tất cả cái chết của các cô gái bán dâm và vũ công bán khỏa thân đã biết ở Anchorage có phải do một người thực hiện. Đây thường là vấn đề mang tính quyết định trong việc phân tích điều tra tội phạm. Ngay khoảng thời gian thi thể nạn nhân thứ nhất của Robert Hansen được phát hiện ở Alaska, tôi được Phòng Cảnh sát Buffalo, New York mời đến để đánh giá một chuỗi các vụ giết người đầy ác ý, có vẻ do thù ghét chủng tộc.

Ngày 22 tháng Chín năm 1980, một cậu bé mười bốn tuổi tên là Glenn Dunn bị bắn và bị giết trong bãi đậu xe của một siêu thị. Các nhân chứng mô tả người bắn là một nam thanh niên da trắng. Hôm sau, Harold Green, hai mươi hai tuổi, bị bắn tại một tiệm thức ăn nhanh ở vùng ngoại ô Cheektowaga. Cũng trong tối đó, Emmanuel Thomas, ba mươi tuổi, bị giết ngay trước nhà mình, trong cùng khu phố với vụ giết người hôm trước. Và hôm sau nữa, một người đàn ông tên là Joseph McCoy bị giết ở thác Niagara.

Như mọi người thấy, chỉ có hai yếu tố liên kết những vụ giết người tàn bạo này. Tất cả nạn nhân đều là đàn ông da màu. Và tất cả đều chết bởi những viên đạn 22 ly, cơ sở để báo chí nhanh chóng đặt ra cái tên: “Kẻ sát nhân bằng súng 22 ly”.

Sự căng thẳng về chủng tộc dâng cao ở Buffalo. Nhiều thành viên trong cộng đồng người da màu cảm thấy bất lực và buộc tội cảnh sát đã chẳng làm gì để bảo vệ họ. Ở nhiều phương diện, vụ này dường như giống hệt nỗi khủng khiếp diễn ra ở Atlanta. Và trong những tình huống này, mọi chuyện thường không thể khá lên ngay. Tình hình trở nên xấu đi.

Ngày 8 tháng Mười, một tài xế taxi da màu bảy mươi mốt tuổi tên Parler Edwards được phát hiện trong cốp taxi của chính ông ở ngoại ô Amherst, trái tim đã bị lấy ra. Hôm sau, một tài xế taxi da màu khác, Ernest Jones bốn mươi tuổi, được phát hiện ở bờ sông Niagara với trái tim bị moi mất. Chiếc taxi của ông dính đầy máu, được tìm thấy cách đó vài cây số, trong địa phận thành phố Buffalo. Hôm sau nữa, một ngày thứ Sáu, một người đàn ông da trắng gần trùng khớp với mô tả về Kẻ giết người bằng súng 22 ly vào phòng bệnh của Collin Cole, ba mươi bảy tuổi, tuyên bố “Tao ghét bọn mọi đen” và định siết cổ bệnh nhân này. Một y tá đi đến khiến kẻ đột nhập bệnh viện phải bỏ trốn và cứu Cole thoát chết.

Cộng đồng phẫn nộ khôn xiết. Các quan chức lo rằng sẽ xảy ra một đợt phản ứng trên diện rộng của những nhóm người hoạt động vì nhân quyền người da màu. Theo yêu cầu của Richard Bretzing, SAC ở Buffalo, tôi đến vào cuối tuần đó. Bretzing nghiêm nghị, mực thước, là một người đàn ông của gia đình và một thành viên nòng cốt của Giáo phái Mặc Môn nổi danh của FBI. Tôi sẽ không bao giờ quên trong văn phòng anh ấy có một tấm biển với dòng chữ đại loại là “Nếu một người đàn ông thất bại trong gia đình, anh ta sẽ thất bại trong cả cuộc đời”.

Như mọi lần, trước tiên tôi xem xét thông tin về nạn nhân. Theo cảnh sát gợi ý, không thực sự có một mẫu số chung đáng kể giữa sáu nạn nhân ngoại trừ chủng tộc của họ và theo tôi thấy, họ xui xẻo khi xuất hiện ở sai chỗ sai thời điểm. Có thể thấy rõ những vụ nổ súng từ khẩu 22 ly đều do cùng một người. Những vụ giết người này được tiến hành theo hướng như thể thi hành nhiệm vụ, kiểu ám sát. Yếu tố tâm bệnh rõ ràng duy nhất trong những tội ác này là sự thù ghét người da màu. Những yếu tố khác đều bị tách rời và loại bỏ.

Tôi đoán người này có tham gia các nhóm thù địch, thậm chí là những nhóm có mục tiêu hay giá trị tích cực như một giáo hội và tự thuyết phục là mình đang đóng góp cho những nhóm này. Vì vậy, tôi đoán hắn có tham gia quân đội nhưng đã bị cho xuất ngũ sớm vì những lý do tâm lý hoặc không thể thích ứng với cuộc sống quân ngũ. Đây sẽ là một người có lý trí và suy nghĩ có tổ chức, những ảo tưởng mang tính định kiến của hắn sẽ là một hệ thống có trật tự và “logic”.

Hai tội ác kia, hai vụ tấn công tài xế taxi kinh hoàng, cũng dựa trên chủng tộc, nhưng trong đó, tôi không cảm thấy chúng tôi đang đối đầu với cùng một tên tội phạm. Những tội ác này là tác phẩm của một kẻ suy nghĩ vô tổ chức, bị rối loạn tâm thần, có thể bị hoang tưởng và đã được chẩn đoán bị tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng. Theo tôi, những hiện trường vụ án phản ánh sự giận dữ, kiểm soát và bạo lực thái quá. Để một người có thể thực hiện cả bốn vụ giết người bằng súng và hai vụ moi tim thì phải có sự phân rã tâm lý nghiêm trọng giữa vụ sát hại Joseph McCoy và vụ sát hại Parler Edwards chưa tới hai tuần sau đó. Điểm này không thống nhất với vụ việc trong bệnh viện - nếu gã đó quả thực là Kẻ sát nhân bằng súng 22 ly - cộng thêm bản năng và kinh nghiệm của tôi cho hay những ảo tưởng bệnh hoạn của kẻ moi tim đã hình thành từ lâu, ít nhất là vài năm. Động cơ trong cả hai chuỗi án mạng không phải là cướp tài sản, nhưng trong khi bốn vụ án đầu thuộc kiểu đánh nhanh rút gọn thì hiện trường hai vụ cuối cho thấy rõ ràng hung thủ dành nhiều thời gian ở hiện trường. Nếu sáu tội ác này có liên hệ với nhau thì tôi nghĩ có khả năng kẻ điên moi tim đã bị kích động bởi gã phân biệt chủng tộc, kẻ đã bắt đầu ám sát những người da màu trong cộng đồng.

Sau đó, vào ngày 22 tháng Mười hai, ở gần trung tâm Manhattan, bốn người da màu và một người từ khu vực Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha bị “Tên đồ tể trung tâm thành phổ” đâm đến chết trong suốt mười ba giờ đồng hồ. Hai nạn nhân da màu khác may mắn thoát nạn. Ngày 29 và 30 tháng Mười hai, dường như tên đồ tể lại tấn công ở khu vực phía bắc, đâm và giết chết Roger Adams ba mươi mốt tuổi ở Buffalo và Wendell Barnes hai mươi sáu tuổi ở Rochester. Trong ba ngày tiếp theo, ba người đàn ông da màu khác ở Buffalo sống sót sau những vụ tấn công tương tự.

Lúc này, tôi không thể bảo đảm với cảnh sát Kẻ sát nhân bằng súng 22 ly cũng là Tên đồ tể trung tâm thành phố hay người đã thực hiện chuỗi vụ án sau cùng này. Nhưng điều tôi có thể chắc chắn là hung thủ thuộc cùng một kiểu người. Tất cả các vụ án đều có yếu tố phân biệt chủng tộc và được thực hiện theo kiểu ám sát nhanh gọn.

Vụ án giết người bằng súng 22 ly chia thành hai bước trong vài tháng tiếp theo. Tháng Một, binh sĩ Lục quân Joseph Christopher, hai mươi lăm tuổi, bị bắt tại Pháo đài Benning, Georgia (nơi mà ba năm trước William Hance đã cố chơi trò phân biệt chủng tộc trong các vụ giết người “Thế lực tà ác”), bị cáo buộc sát hại một đồng đội người da màu. Cuộc khám xét nhà cũ của hắn gần Buffalo phát hiện ra một lượng lớn đạn cỡ 22 ly và một khẩu súng trường đã cưa nòng. Christopher chỉ mới nhập ngũ tháng Mười một năm ngoái và nghỉ phép trong thời gian diễn ra các vụ giết người ở Buffalo và Manhattan.

Khi ở Trại giam tại Pháo đài Benning, hắn nói với Đại úy Aldrich Johnson chỉ huy rằng hắn đã làm “việc đó ở Buffalo”. Hắn bị truy tố tội thực hiện các vụ nổ súng ở Buffalo và một số vụ đâm người. Hắn bị buộc tội và, sau những tranh cãi về tình trạng tâm thần của hắn, đã bị phán án tù chung thân, thụ án ít nhất sáu mươi năm trước khi có thể được phóng thích có điều kiện. Đại úy Matthew Levine, nhà tâm thần học đã khám cho Christopher ở Bệnh viện Lục quân Martin, nói rằng ông ngạc nhiên vì Christopher có rất nhiều điểm trùng khớp với bản mô tả Kẻ sát nhân bằng súng 22 ly. Theo dự đoán trong bản mô tả, đối tượng không thích nghi tốt với đời sống quân đội.

Christopher không nhận cũng không chối vụ giết hai tài xế taxi. Hắn không bị truy tố vì hai vụ án này và chúng cũng không phù hợp với hình mẫu của những vụ án khác, từ cách thức gây án cho đến khía cạnh đặc trưng. Cả hai điểm này đều là những khái niệm cực kỳ quan trọng trong phân tích điều tra tội phạm và tôi đã rất nhiều lần đứng ở bục nhân chứng trong tòa án trên khắp cả nước, cố gắng giúp các thẩm phán và bồi thẩm đoàn hiểu được sự khác biệt giữa chúng.

Cách thức gây án là hành vi có điều kiện. Đó là điều kẻ thủ ác làm để thực hiện một tội ác. Nó mang tính động - nghĩa là, nó có thể thay đổi. Điểm đặc trưng, một thuật ngữ mà tôi nghĩ ra để phân biệt với cách thức gây án, là điều mà kẻ thủ ác phải làm để thỏa mãn bản thân. Nó tĩnh; nó không thể thay đổi. Ví dụ, không thể mong cách thức gây án của một đứa trẻ vị thành niên giống như cũ khi hắn đã trưởng thành, trừ phi hắn đã thực hiện nó một cách hoàn hảo ngay từ lần đầu. Nhưng nếu hắn thoát tội sau vụ đầu tiên, hắn sẽ học hỏi được từ đó và ngày càng hoàn thiện. Đó là lý do chúng tôi nói cách thức gây án mang tính động. Mặt khác, nếu gã này đang thực hiện tội ác để có thể chi phối, gây đau đớn hoặc khiến nạn nhân phải cầu xin chẳng hạn, đó là điểm đặc trưng, thể hiện tính cách của kẻ sát nhân. Đó là điều hắn cần làm.

Ở nhiều bang, cách duy nhất để các công tố viên có thể liên hệ các vụ án với nhau là dựa vào cách thức gây án, mà tôi tin ngành thi hành luật chúng tôi đã thể hiện theo cách rất cổ xưa. Trong vụ án của Christopher, một luật sư biện hộ có thể dễ dàng lập luận rằng những vụ bắn người bằng súng 22 ly ở Buffalo và những vụ đâm người ở gần trung tâm Manhattan cho thấy cách thức gây án khác nhau rõ rệt. Và anh ta nói đúng. Nhưng điểm đặc trưng thì giống nhau - xu hướng tấn công ngẫu nhiên những người đàn ông da màu vì lý do phân biệt chủng tộc.

Mặt khác, những vụ nổ súng và moi tim cho tôi thấy một điểm đặc trưng khác biệt rõ rệt: Kẻ moi tim, tuy vẫn có một động cơ ngầm liên quan, nhưng có một điểm đặc trưng mang tính nghi thức, ám ảnh cưỡng chế. Mỗi loại cần một điều gì đó từ vụ án, nhưng mỗi loại cần một điều khác nhau.

Những khác biệt giữa cách thức gây án và điểm đặc trưng có thể khó nhận ra. Ví dụ, một tên cướp nhà băng ở Texas đã bắt các con tin cởi hết đồ ra, bắt họ thực hiện những tư thế quan hệ tình dục và chụp hình họ. Đó là điểm đặc trưng của hắn. Việc đó không cần thiết hay có ích gì cho việc cướp nhà băng. Trên thực tế, nó khiến hắn phải ở lại lâu hơn và vì vậy đưa hắn vào nguy cơ bị bắt cao hơn. Nhưng đó là việc rõ ràng hắn cảm thấy cần làm.

Sau đó, có một tên cướp nhà băng ở Grand Rapids, Michigan. Tôi bay đến đó để tư vấn trực tiếp tại hiện trường cho vụ án này. Gã này cũng bảo mọi người trong ngân hàng cởi đồ nhưng hắn không chụp hình. Hắn làm thế để các nhân chứng quá bận bịu và xấu hổ, họ sẽ không nhìn hắn và sau đó không thể đưa ra mô tả danh tính xác thực. Đây là biện pháp để tiến hành cướp nhà băng thành công. Đây là cách thức gây án.

Việc phân tích điểm đặc trưng đóng vai trò quan trọng trong phiên tòa xử Steven Pennell diễn ra ở Delaware vào năm 1989; trong vụ này, chúng tôi đã chuẩn bị bản khai có tuyên thệ giúp xin được lệnh khám xét. Steve Mardigian ở đơn vị của tôi hợp tác với đội đặc nhiệm liên kết giữa cảnh sát quận New Castle và cảnh sát bang Delaware, đưa ra một bản mô tả nhân dạng cho phép cảnh sát thu hẹp phạm vi tìm kiếm và nghĩ ra chiến lược chủ động để bắt giữ gã sát nhân.

Nhiều cô gái bán hoa được phát hiện bị siết cổ và nứt sọ, trên hai con đường liên bang 40 và 13. Những thi thể rõ ràng đã bị lạm dụng tình dục và hành hạ. Bản mô tả của Steve Mardigian rất chính xác. Anh ấy bảo kẻ thủ ác là một gã đàn ông da trắng, độ tuổi gần ba mươi cho đến vừa qua ba mươi, làm việc trong lĩnh vực xây dựng. Hắn lái một chiếc xe tải có tổng quãng đường đã đi dài, rong ruổi khắp nơi tìm kiếm nạn nhân, tạng người vai u thịt bắp, đang có vợ hoặc bạn gái, nhưng thích thao túng phụ nữ. Hắn mang theo các loại vũ khí mà hắn đã lựa chọn và tiêu hủy bằng chứng sau khi phạm tội. Hắn quen thuộc khu vực gây án và chọn những nơi vứt xác phù hợp. Hắn không thể hiện cảm xúc trong lúc gây án và sẽ lặp lại tội ác cho đến khi bị bắt.

Steven B. Pennell là một người đàn ông da trắng ba mươi mốt tuổi, làm thợ điện, lái xe tải có tổng quãng đường đã đi dài, tạng người vai u thịt bắp, đang có vợ nhưng thích thao túng phụ nữ, đã chuẩn bị kỹ lưỡng “dụng cụ hỗ trợ cưỡng hiếp” trong xe hắn, dự định tiêu hủy bằng chứng khi biết cảnh sát nghi ngờ mình, quen thuộc khu vực gây án và chọn những nơi vứt xác phù hợp. Hắn không thể hiện cảm xúc trong lúc gây án và lặp lại tội ác cho đến khi bị bắt.

Hắn rơi vào tầm ngắm khi Mardigian đề nghị một nữ cảnh sát đóng giả gái làng chơi. Suốt hai tháng, sĩ quan Renee C. Lano đi bộ trên các con đường quốc lộ, tìm một người đàn ông lái xe tải khớp với mô tả để bảo hắn dừng xe. Họ đặc biệt hiếu kỳ với vật liệu lót sàn xe. Những sợi màu xanh tương đồng với loại vải được tìm thấy trên một trong các thi thể. Nếu quả thực có chiếc xe tải nào dừng lại, Lano được lệnh không lên xe - dù người cô ấy được gắn máy ghi âm nhưng hành động lên xe có thể nguy hiểm tính mạng - mà dò la thông tin càng nhiều càng tốt. Khi cuối cùng có một gã đàn ông khớp với các đặc điểm trên dừng xe, cô ấy lôi kéo hắn nói chuyện và mặc cả về giá đi khách của mình qua cửa ghế phụ đang mở. Ngay khi chú ý tấm vải lót màu xanh, cô bắt đầu khen ngợi chiếc xe của hắn và trong lúc họ nói chuyện, cô làm như không có gì, dùng móng tay cào lấy những sợi vải lót. Phòng thí nghiệm FBI xác nhận đống sợi này trùng khớp với các mẫu sợi trước đó.

Tại phiên tòa của Pennell, tôi được mời đến để làm chứng về khía cạnh điểm đặc trưng của vụ án. Bên biện hộ đang cố gắng chứng tỏ những tội ác này không thể do cùng một người vì có rất nhiều chi tiết khác nhau trong cách thức gây án. Tôi giải thích rõ rằng bất chấp cách thức gây án, mẫu số chung của các vụ giết người là hành hạ về mặt thể xác, tình dục và cảm xúc. Ở một số trường hợp, kẻ sát nhân dùng kìm kẹp chặt ngực của nạn nhân và cắt nhũ hoa của họ. Hắn đã trói cổ tay cổ chân những người khác, cắt vào chân họ, đánh mông họ bằng roi hoặc thứ gì đó, hoặc đánh họ bằng búa. Vì vậy, dù biện pháp hành hạ - chính là cách thức gây án - khác nhau thì điểm đặc trưng là khoái cảm hắn nhận được khi gây ra đau đớn và nghe tiếng la hét thống khổ của các nạn nhân. Điều này không nhất định phải diễn ra cùng với việc giết họ. Với hắn, nó cần thiết, để hắn có được thứ hắn muốn từ các tội ác đó.

Kể cả khi Steven Pennell còn sống và đang đọc những dòng này, hắn cũng không thể thay đổi hành vi trong những tội ác hắn sẽ thực hiện ở tương lai. Hắn có thể nghĩ ra những biện pháp khác hoặc khéo léo hơn để hành hạ phụ nữ. Nhưng hắn sẽ không thể kiềm chế việc hành hạ họ.

May cho tất cả chúng ta, như tôi đã đề cập, bang Delaware đã có đánh giá đúng đắn và hợp tình hợp lý khi hành hình Pennell bằng thuốc độc vào ngày 14 tháng Ba năm 1992.

Một trong những vụ án mang tính bước ngoặt trong việc sử dụng bản phân tích điểm đặc trưng của chúng tôi là phiên tòa diễn ra năm 1991, xét xử George Russell Con bị truy tố với tội danh đánh và giết người bằng cách siết cổ ba phụ nữ da trắng ở Seattle - Mary Anne Pohlreich, Andrea Levine và Carol Marie Beethe - vào năm trước đó. Steve Etter trong đơn vị của tôi là người mô tả nhân dạng hung thủ, sau đó tôi đứng ra làm chứng. Trong các vụ án này, ban truy tố biết họ không thể buộc tội dựa trên một vụ. Cảnh sát có bằng chứng thuyết phục nhất trong vụ sát hại Pohlreich và cảm thấy nó có thể hỗ trợ cho hai vụ còn lại. Thế nên chìa khóa là liên kết ba vụ này với nhau.

Russell không phải loại người bạn sẽ nghĩ đến trong những tội ác ghê tởm thế này. Tuy có tiền sử trộm cắp vặt nhiều lần nhưng hắn là một gã đàn ông da màu trạc ba mươi, đẹp trai, ăn nói có duyên và thu hút, có nhiều bạn bè và người quen. Kể cả cảnh sát đảo Mercer, trước đó đã nhiều lần bắt hắn, cũng không tin hắn sẽ phạm tội giết người.

Đến năm 1990, vẫn ít thấy các vụ người do tình dục giữa những chủng tộc người khác nhau nhưng khi xã hội thoải mái và khoan dung hơn, chúng ta bắt đầu không xem chủng tộc là một vấn đề lớn nữa. Điều này đặc biệt đúng với kiểu người điềm tĩnh, tinh tế hơn như Russell. Hắn thường hẹn hò với cả phụ nữ da trắng và da màu, bạn bè hắn cũng thuộc cả hai chủng tộc.

Tâm điểm mang tính chiến lược xuất hiện khi luật sư công biện Miriam Schwartz kiến nghị với thẩm phán Tòa thượng thẩm Patricia Aitken tách các vụ án ra và xử riêng trước phiên tòa, dựa trên tiền đề rằng ba vụ sát nhân này không do cùng một người thực hiện. Các công tố viên Rebecca Roe và Jeff Baird đề nghị tôi giải thích xem các vụ án này liên hệ với nhau như thế nào.

Tôi đề cập đến cách thức gây án theo kiểu chớp nhoáng trong mỗi vụ. Vì cả ba vụ xảy ra trong khoảng thời gian bảy tuần, tôi không cho rằng hung thủ sẽ thay đổi cách thức gây án của hắn, trừ phi có chuyện gì đó không đúng trong một vụ án và hắn cảm thấy phải điều chỉnh. Nhưng thuyết phục hơn là khía cạnh điểm đặc trưng của các vụ án.

Cả ba người phụ nữ ở trong tình trạng khỏa thân, tư thế gợi tình và mang tính hạ thấp nhân phẩm. Nội dung tình dục của hiện trường được sắp đặt tăng tiến sau mỗi vụ. Nạn nhân đầu tiên bị sắp đặt trong tư thế hai tay đan vào nhau, chân bắt chéo ở mắt cá, đặt gần một vỉ cống thoát nước và thùng rác. Người thứ hai trong tư thế nằm trên giường với một chiếc gối đặt trên đầu, hai chân giang ra hai bên, một khẩu súng trường nhét vào cửa mình, hai chân mang giày cao gót màu đỏ. Người cuối cùng trong tư thế đại bàng giang cánh trên giường, miệng ngậm một dương vật giả và cuốn sách Niềm hoan lạc ái ân tái bản đặt dưới cánh tay trái cô ấy.

Để giết những phụ nữ này, cần phải tấn công chớp nhoáng. Nhưng các tư thế nhằm hạ thấp nhân phẩm họ thì không cần thiết.

Tôi giải thích điểm khác nhau giữa việc sắp đặt và dàn dựng. Dàn dựng xuất hiện trong những vụ án mà hung thủ đang cố gắng đánh lạc hướng cuộc điều tra bằng cách khiến cảnh sát tin có chuyện gì đó bên cạnh những gì đã thực sự xảy ra, chẳng hạn như khi một kẻ cưỡng hiếp cố gắng dàn dựng cho vụ đột nhập của hắn trông giống một vụ trộm thông thường. Đó sẽ là một khía cạnh của cách thức gây án. Còn sắp đặt là điểm đặc trưng của hung thủ.

“Chúng ta không gặp nhiều vụ có sắp đặt”, tôi làm chứng tại buổi điều trần, “đối xử với nạn nhân như một món đồ nhằm để lại một thông điệp cụ thể… Đây là những tội ác vì sự giận dữ và quyền lực. Đó là cái thú của chuyến đi săn, giết chóc và để lại nạn nhân như thế nào sau khi gây án cũng như qua mặt cơ quan chức năng”

Tôi tự tin khi nói rằng: “Các vụ án có xác suất rất cao là do một nghi phạm gây ra”. Bob Keppel, trưởng ban điều tra tội phạm thuộc Văn phòng Sở Tư pháp tiểu bang và cựu điều tra viên trong Đội đặc nhiệm Kẻ sát nhân sông Xanh, ra làm chứng cùng tôi, nói rằng trong hơn 1000 vụ sát nhân mà ông ấy đã thẩm tra, chỉ có khoảng mười vụ có khía cạnh sắp đặt và không có vụ nào chứa tất cả các yếu tố của ba vụ này.

Bấy giờ, chúng tôi không nói Russell là hung thủ; chúng tôi chỉ nói hung thủ đã thực hiện cả ba vụ.

Bên biện hộ có kế hoạch đưa một chuyên gia ra để phản bác những gì tôi nói, làm chứng rằng tôi đã sai về điểm đặc trưng và ba tội ác này không phải do một người thực hiện. Trớ trêu thay, đó lại là đồng nghiệp lâu năm của tôi ở FBI và cộng sự nghiên cứu về những kẻ sát nhân hàng loạt, Robert Ressler, đã nghỉ hưu nhưng vẫn nhận cố vấn trong lĩnh vực này.

Tôi nghĩ đây là một vụ khá chặt chẽ và thuyết phục đối với bất cứ ai có kinh nghiệm trong lĩnh vực mô tả nhân dạng và phân tích hiện trường vụ án như Bob và tôi. Vì vậy, tôi rất ngạc nhiên khi anh ấy sẵn sàng ra mặt cho bên kia và làm chứng để tách biệt các vụ án này. Nói trắng ra là tôi thấy anh ấy đã sai hoàn toàn. Nhưng như chúng tôi đã nhiều lần thừa nhận, công việc của chúng tôi không phải một môn khoa học chính xác nên anh ấy chắc chắn có quyền có ý kiến riêng. Bob và tôi đã nhiều lần ở hai đầu chiến tuyến trong một số vấn đề, đáng chú ý nhất có lẽ là lần chứng minh liệu Jeffrey Dahmer có điên không. Bob đồng ý với luật sư biện hộ là hắn điên. Tôi đồng ý với Park Dietz, người ra làm chứng cho bên truy tố, là hắn không điên.

Vì vậy, tôi càng ngạc nhiên hơn khi Bob nói anh ấy có những cam kết khác và không xuất hiện trong phiên điều trần trước phiên xét xử Russell, thay vào đó lại cử một đặc vụ đã nghỉ hưu khác là Russ Vorpagel. Russ là một người thông minh. Anh ta là quán quân cờ vua, có thể đấu với mười người cùng lúc. Nhưng mô tả nhân dạng không phải chuyên môn chính của anh ta, và tôi nghĩ những sự thật trong vụ này bất lợi cho anh ta. Anh ta chịu đựng quãng thời gian khó khăn vì Rebecca Roe thẩm vấn chéo anh ta sau khi anh ta phản đối ý kiến của tôi. Ở cuối buổi điều trần, Thẩm phán Aitken quy định rằng dựa trên bằng chứng điểm đặc trưng mà Keppel và tôi đã trình bày liên quan đến khả năng một hung thủ thực hiện cả ba vụ án, có thể xét xử các vụ này cùng nhau.

Tôi tiếp tục làm chứng về điểm đặc trưng trong phiên tòa chính thức, bác bỏ giả thiết nhiều hung thủ mà bên biện hộ đã đưa ra. Trong vụ sát hại Carol Beethe, luật sư biện hộ Schwartz ám chỉ bạn trai cô này có cơ hội và cả động cơ để phạm tội. Chúng tôi luôn điều tra vợchồng hoặc người yêu của nạn nhân trong các vụ giết người liên quan đến tình dục và tôi kiên định với ý kiến rằng đây là một vụ giết người lạ vì động cơ tình dục.

Cuối cùng, ban bồi thẩm gồm sáu nam, sáu nữ cân nhắc trong bốn ngày và quyết định George Waterfield Russell Con có tội trong một vụ giết người cấp độ I và hai vụ giết người cấp độ I có tình tiết tăng nặng. Hắn bị kết án chung thân không được phóng thích và bị đưa đến trại giam bảo đảm an ninh tối đa của bang tại Walla Walla.

Đây là lần đầu tôi trở lại Seattle sau đợt bạo bệnh và hôn mê. Thật tốt khi được trở lại và tham gia phá một vụ án sau những trắc trở đầy căng thẳng của vụ Sông Xanh. Tôi trở lại Bệnh viện Thụy Điển và hài lòng khi thấy họ vẫn giữ tấm bảng tôi tặng họ để cảm ơn. Tôi trở lại khách sạn Hilton xem mình có nhớ ra gì không, nhưng không thể. Tôi hoài nghi tâm trí mình bị tổn thương quá nặng nên không còn ý thức để xử lý mọi việc. Và dù sao thì, sau từng ấy năm tôi đi công tác, căn phòng khách sạn nào cũng như nhau.

Lúc này chúng tôi đã phát triển phương pháp phân tích điểm đặc trưng đến mức độ thường xuyên làm chứng trong các vụ xét xử những tên sát nhân hàng loạt, không chỉ tôi mà cả những chuyển viên mô tả nhân dạng khác cũng có hứng thú trong công việc này, đáng chú ý nhất là Larry Ankrom và Greg Cooper.

Năm 1993, Greg Cooper đóng vai trò chủ chốt trong việc cáo buộc Gregory Mosely hai tội giết người cấp độ II, kẻ đã cưỡng hiếp, đánh đập và đâm hai phụ nữ ở hai địa hạt khác nhau thuộc Bắc Carolina. Như những vụ án có liên quan đến nhau trong phiên tòa xử Russell, cả hai địa hạt khó mà tự mình buộc tội hung thủ thành công. Cả hai phải có bằng chứng liên kết các vụ án và sau khi nghiên cứu ảnh chụp hiện trường án mạng cùng hồ sơ các vụ án, Greg cảm thấy anh ta có thể đưa ra bằng chứng.

Greg nhận định mấu chốt của việc phân tích điểm đặc trưng trong các vụ án của Mosely là bạo lực thái quá. Cả hai nạn nhân đều là phụ nữ cô đơn, độc thân, bị khuyết tật nhẹ, ở vào độ tuổi đầu hai mươi, có mặt ở cùng một hộp đêm chơi nhạc đồng quê, nơi họ bị bắt cóc cách nhau vài tháng. Cả hai bị đánh đập dã man. Có thể nói họ bị đánh đến chết, ngoại trừ thực tế là họ cũng bị siết cổ bằng tay và dây; một người bị đâm mười hai nhát và có bằng chứng cho thấy phát sinh quan hệ qua đường âm đạo và hậu môn. Một vụ có bằng chứng pháp y, trong đó có ADN từ tinh dịch liên kết vụ án với Mosely. Cả hai vụ giết người, cưỡng hiếp, hành hạ diễn ra ở những khu vực hoang vắng, thi thể nạn nhân bị vứt ở những địa điểm xa xôi, tách biệt.

Greg làm chứng ở phiên tòa thứ nhất rằng bằng chứng về hành vi đặc trưng cho thấy hung thủ là một người tự ti, có thú vui tàn bạo về tình dục. Sự tự ti của hắn thể hiện rõ ở khâu lựa chọn nạn nhân. Thú vui ác dâm của hắn còn rõ hơn ở những việc hắn làm với họ. Không như nhiều kẻ tự ti, có suy nghĩ tổ chức, tên này không giết nạn nhân trước khi cắt xẻo cơ thể họ. Hắn muốn hoàn toàn nắm quyền kiểm soát về thể xác và cảm xúc. Hắn muốn là tác giả của nỗi đau nơi họ và thích những phản ứng mà sự tàn ác của hắn khơi ra.

Thông qua bằng chứng của mình trong vụ thứ nhất, Greg giúp bên truy tố có thể đưa ra vụ thứ hai. Mosely bị buộc tội và nhận án tử hình. Trong phiên tòa thứ hai vào chín tháng sau đó, Greg cũng làm được điều này, tiếp tục buộc được tội và án tử cho hung thủ.

Lần đầu Greg ra làm chứng, anh ta và Mosely nhìn đăm đăm vào mắt nhau khi anh ta mô tả tính cách của Mosely cho cả phòng xử án đầy người. Từ vẻ mặt dữ tợn của Mosely, Greg có thể đoán hắn đang nghĩ “Làm thế quái nào mày biết được điều đó?” Áp lực rất lớn. Nếu Greg không thành công, vụ án này sẽ bị bỏ qua và vụ án thứ hai có thể yếu thế đến mức không cứu vãn được.

Khi Mosely mới nhìn thấy Greg ở phiên toàn thứ hai của mình, hắn lầm bầm với những cảnh sát dẫn độ hắn: “Đó là thằng chó định buộc tội tôi lần nữa.

Theo truyền thống, để truy tố và buộc tội thành công trong một vụ án sát nhân, cần có bằng chứng pháp y xác định, lời khai của những người tận mắt nhìn thấy hoặc lời thú tội hoặc bằng chứng gián tiếp rõ ràng, thuyết phục. Giờ đây, nhờ công việc mô tả nhân dạng của chúng tôi từ các hiện trường vụ án và phân tích điểm đặc trưng, cảnh sát và bên truy tố vẫn còn một chiêu khác. Riêng chiêu đó thường không đủ để buộc tội nhưng kèm theo một hoặc nhiều yếu tố khác, nó thường có thể liên kết nhiều vụ án với nhau và là yếu tố cần thiết để một vụ án thành công.

Những kẻ sát nhân hàng loạt chơi một trò chơi rất nguy hiểm. Càng hiểu rõ cách chơi, chúng tôi càng có lợi thế chiến thắng.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.