Kẻ Săn Suy Nghĩ

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 06
Hành Trình Đào Tạo

❊ ❊ ❊

Có chín đặc vụ được cử đến đơn vị Khoa học hành vi khi tôi tham gia vào tháng Sáu năm 1977, tất cả chủ yếu tham gia giảng dạy. Khóa học chính dành cho cả nhân viên FBI và học viên của Học viện Quốc gia là Tâm lý học tội phạm ứng dụng. Howard Teten khởi động chương trình này năm 1972, tập trung vào vấn đề mà các thanh tra và điều tra viên tội phạm khác quan tâm nhất: động cơ gây án. Ý tưởng là cố gắng giúp học viên hiểu tại sao các tội phạm bạo lực lại suy nghĩ và hành động như vậy. Tuy phổ biến và hữu ích là thế, nhưng khóa học này chủ yếu dựa trên những nghiên cứu và giảng dạy từ nguyên tắc hàn lâm của tâm lý học. Một phần tài liệu xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân của Teten, sau đó là kinh nghiệm của những giảng viên khác. Nhưng vào thời điểm đó, những người duy nhất có thể nói chuyện dựa vào các nghiên cứu có tổ chức, có phương pháp, được tiến hành rộng rãi chính là giảng viên. Và chúng tôi nhận ra tính ứng dụng của những nghiên cứu này, và quan điểm chuyên môn này, bị giới hạn trong lĩnh vực thực thi pháp luật và phát hiện tội ác.

Những khóa học khác tại Học viện gồm: Các vấn đề của cảnh sát đương đại, xử lý những vấn đề liên quan đến quản lý lao động, công đoàn cảnh sát, các mối quan hệ cộng đồng và các chủ đề liên quan; Xã hội học và tâm lý học, tương tự chương trình đại cương tại các trường đại học; và Tội phạm tình dục, đáng tiếc là thường mang tính giải trí hơn là hữu ích hay cung cấp thông tin. Tùy vào người dạy khóa Tội phạm tình dục mà khóa học nghiêm túc nhiều hay ít. Một trong các giảng viên tạo không khí bằng một con búp bê có hình dạng một ông già dê xồm mặc áo mưa. Khi nhấn lên đầu con búp bê, cái áo mưa mở toang ra và dương vật nảy lên. Họ cũng cho học viên xem hàng trăm tấm hình chụp nhiều người bị những loại khác nhau của căn bệnh hiện nay gọi là lệch lạc tình dục, nhưng khi đó được gọi chung chung là biến thái: thích mặc đồ của người khác giới, có những sở thích kỳ quặc khác nhau, thích phô bày bộ phận sinh dục trước người khác… Những thứ này thường gây một tràng cười không thích hợp trong lớp. Khi nói về chứng thị dâm hoặc một người đàn ông mặc đồ phụ nữ, bạn có thể cười khúc khích trước một tấm hình. Khi nói đến những cực hạn của chứng ác dâm hay ấu dâm, nếu còn cười được thì chắc chắn bạn hoặc giảng viên hoặc cả hai đều có vấn đề. Phải mất nhiều năm và nhiều cuộc khai sáng trước khi Roy Hazelwood và Ken Lanning tham gia và đưa việc nghiên cứu những đề tài như cưỡng bức và bóc lộc tình dục trẻ em lên cấp độ nghiêm túc và chuyên nghiệp. Hiện tại Hazelwood đã nghỉ hưu nhưng vẫn làm công việc tư vấn, còn Lanning sẽ sớm nghỉ hưu. Hai vị này vẫn là những chuyên gia thực thi pháp luật hàng đầu thế giới trong lĩnh vực của mình.

Nhưng hồi Hoover còn tại vị với cung cách “chỉ có sự thật”, không ai ở bất kỳ vị trí quyền lực nào từng xem công việc mà hiện nay có tên gọi mô tả nhân dạng là một công cụ phá án có giá trị. Trên thực tế, cụm từ khoa học hành vi được xem là kết hợp từ nghịch hợp và những người ủng hộ lĩnh vực này bị cho là cổ súy ma thuật hoặc ảo tưởng điên rồ. Vì vậy, bất kỳ ai tham gia ngành này phải làm một cách không chính thức, không được ghi chép bất cứ thứ gì. Khi Teten và Mullany bắt đầu đưa ra các bản mô tả tính cách, tất cả đều chỉ là lời nói, không có gì được ghi chép trên giấy. Quy tắc đầu tiên luôn là “Đừng làm Cục mất mặt”, và không ai muốn ghi chép lại thứ có thể đi chệch hướng và gây ra hậu quả tệ hại cho mình hay SAC của mình.

Thông qua sáng kiến của Teten và dựa trên những gì ông ấy học được từ tiến sĩ Brussel ở New York, chúng tôi có những buổi tư vấn không chính thức cho các nhân viên cảnh sát yêu cầu, nhưng không có chương trình được tổ chức rõ ràng hay bất kỳ suy nghĩ nào rằng đây là một chức năng mà Đơn vị Khoa học hành vi nên thực hiện. Chuyện thường thấy là một học viên tốt nghiệp từ khóa học của Học viện sẽ gọi cho Teten hoặc Mullany để trao đổi về một vụ án mà anh ta đang gặp trở ngại.

Một trong những yêu cầu này đến từ một cảnh sát ở California rất muốn phá vụ án một phụ nữ bị đâm nhiều nhát đến chết. Ngoài sự tàn nhẫn của hành vi giết người, không có gì đặc biệt đáng chú ý và không có tiến triển nhiều ở khía cạnh pháp y. Khi viên cảnh sát miêu tả một số tình tiết mà anh ta có, Teten khuyên anh ta nên bắt đầu truy tìm quanh khu nhà ở của nạn nhân, tìm một người độc thân hơi đô con, không ưa nhìn, gần thành niên, đã giết người phụ nữ trong cơn bốc đồng và đang bị dày vò vì cảm giác tội lỗi vô cùng cũng như nỗi sợ bị phát hiện. Khi anh ta đến nhà hắn và hắn ra mở cửa, Teten đề nghị chỉ cần đứng đó, nhìn thẳng vào hắn và nói “Anh biết tại sao tôi đến đây mà”. Muốn hắn nhận tội chẳng khó khăn gì.

Hai ngày sau, viên cảnh sát gọi lại và báo cáo họ đã bắt đầu đến từng nhà trong khu phố đó. Khi một thằng nhóc khớp với “bản mô tả” của Teten mở cửa, trước khi viên cảnh sát có thể nói ra câu đã luyện tập trước, thằng nhóc đã bảo “Thôi được, ông bắt được tôi rồi!”

Dù lúc đó có vẻ như Teten đang làm trò ảo thuật nhưng loại người và tình huống mà ông ấy miêu tả đều hợp lý. Theo thời gian, chúng tôi làm cho sự hợp lý này càng chính xác hơn và biến điều mà ông ấy và Pat Mullany làm trong thời gian rảnh rỗi trở thành một vũ khí quan trọng trong cuộc chiến chống tội phạm bạo lực.

Cũng như các tiến bộ trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, tiến bộ này ra đời phần lớn dựa vào vận may. Trong trường hợp này, vận may là với tư cách giảng viên của Đơn vị Khoa học hành vi, tôi thật sự không biết mình đang làm gì và cảm thấy cần có cách nào đó để nắm bắt thêm thông tin trực tiếp.

Khi tôi đến Quantico, Mullany chuẩn bị rời đi và Teten là chuyên gia toàn diện. Vì vậy, trách nhiệm giúp tôi làm quen công việc giao cho hai người có tuổi tác và thâm niên gần với tôi nhất là Dick Ault và Bob Ressler. Dick hơn tôi khoảng sáu tuổi còn Bob hơn khoảng tám tuổi. Cả hai đều là quân cảnh trong Lục quân trước khi gia nhập Cục. Tâm lý tội phạm ứng dụng chiếm khoảng bốn mươi giờ lên lớp trong mười một tuần của khóa học tại Học viện nên cách hiệu quả nhất để giúp người mới làm quen công việc là thông qua chương trình đào tạo ngắn hạn. Các giảng viên từ Quantico sẽ dạy những kiểu khóa học giống nhau dưới dạng vô cùng súc tích cho các Sở Cảnh sát và học viện địa phương trên khắp nước Mỹ. Những khóa học này rất phổ biến và thường có một danh sách chờ gồm những người yêu cầu dịch vụ của chúng tôi, chủ yếu là các cảnh sát trưởng và nhân sự cấp cao đã tham dự khóa học đầy đủ của Học viện. Đi cùng một giảng viên dày dạn kinh nghiệm và quan sát anh ta giảng dạy trong hai tuần là cách để nhanh chóng nắm bắt nhiệm vụ. Thế là tôi bắt đầu đi cùng Bob.

Chương trình đào tạo này có một quy trình tiêu chuẩn. Chúng tôi rời nhà vào ngày Chủ nhật, giảng dạy ở một Sở Cảnh sát hoặc học viện từ sáng thứ Hai đến trưa thứ Sáu, sau đó di chuyển đến nơi tiếp theo và lặp lại quy trình này. Sau một khoảng thời gian, ta bắt đầu cảm thấy như Shane hay Kỵ sĩ cô độc[1] - lái xe vào thành phố, thực hiện công việc để giúp người dân nơi đó, rồi lặng lẽ rời đi khi công việc hoàn tất. Đôi khi tôi muốn để lại một viên đạn bạc để họ có cái nhớ tới chúng tôi.

Ngay từ đầu, tôi đã thấy không thoải mái về kiểu giảng dạy từ việc nghe kể lại mà không biết có hoàn toàn đúng hay không. Đa số giảng viên - quan trọng nhất là tôi cũng nằm trong đó - không có kinh nghiệm trực tiếp với phần lớn vụ án mà họ dạy. Như vậy, tình huống này cũng giống một khóa học về tội phạm ở đại học, trong đa số trường hợp thì giáo sư giảng dạy chưa từng làm việc ngoài thực địa và trải nghiệm những gì mà vị này đang nói tới. Phần lớn khóa học đã tiến triển thành “những câu chuyện thời chiến”, ban đầu do các cảnh sát tham gia vụ án kể lại, rồi theo thời gian, được thêm mắm dặm muối đến khi chúng không còn liên quan gì đến sự kiện thực. Khi tôi tham gia, mọi việc đã đến mức một giảng viên diễn thuyết về một vụ án cụ thể nào đó nhưng lại bị phản đối bởi một học sinh trong lớp, người đã thực sự tham gia phá án! Phần tệ nhất là giảng viên không phải lúc nào cũng nhường nhịn mà thường khẳng định mình đúng, thậm chí nói thẳng vào mặt người đã tham gia vụ án. Kỹ thuật và thái độ kiểu này sẽ khiến cả lớp không còn tin những điều giảng viên nói, dù họ có biết về vụ việc đó hay không.

Một vấn đề khác là tôi mới ba mươi hai tuổi và trông thậm chí còn trẻ hơn tuổi thật. Tôi sẽ phải dạy cho những cảnh sát giàu kinh nghiệm, nhiều người hơn tôi tận mười, mười lăm tuổi. Làm sao tôi có thể nói chuyện như thể tôi am hiểu tường tận mọi việc hoặc dạy họ bất kỳ điều gì cơ chứ? Đa số kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến điều tra án mạng của tôi đều nhờ sự chỉ dạy của các cảnh sát điều tra án mạng dày dạn ở Detroit và Milwaukee. Ở đây, tôi sẽ dạy những người giống họ cách làm công việc của chính họ nên tôi hiểu mình phải biết việc mình làm trước khi đối mặt với họ, và những gì chưa biết thì tôi phải học thật nhanh.

Về chuyện này, tôi không ngốc. Trước khi bắt đầu một bài giảng, tôi sẽ hỏi xem có ai trong lớp có kinh nghiệm trực tiếp với các vụ hoặc tội phạm mà tôi dự định thảo luận trong hôm đó hay không. Ví dụ, nếu tôi sắp thảo luận về Charles Manson, đầu tiên tôi sẽ hỏi “Trong lớp có anh em nào đến từ Sở Cảnh sát Los Angeles không? Có ai tham gia vụ án này không?” Và nếu tình cờ có người nào đó thật, tôi sẽ nhờ anh ta cho chúng tôi biết tất cả chi tiết của vụ án. Bằng cách đó, bảo đảm tôi không bị mâu thuẫn ở bất cứ sự thật nào mà một điều tra viên tham gia phá án đã biết.

Nhưng dù tôi có lẽ chỉ là một tên nhóc ba mươi hai tuổi vừa bước ra từ văn phòng thực địa, khi giảng dạy tại Quantico hoặc từ Quantico đến nơi nào đó giảng dạy, cách nói năng của tôi phải thể hiện thẩm quyền của Học viện FBI và mọi tiềm lực ấn tượng của nơi đó. Các cảnh sát thường liên tục đến gặp tôi trong giờ giải lao hoặc trong các chuyến đào tạo ngắn hạn, gọi đến phòng khách sạn của tôi vào buổi tối, đề nghị tôi cho lời khuyên về các vụ án đang được điều tra. “John này, tôi có một vụ tương tự vụ anh đã nói hôm nay. Anh nghĩ sao về vụ này?” Những đề nghị này cứ xảy ra không dứt. Và tôi cần thẩm quyền cho những gì mình đang làm; không phải thẩm quyền từ Cục mà là quyền lực cá nhân.

Bấy giờ, ít nhất là với tôi, đột nhiên có một thời điểm mà tôi nhận ra mình có quá ít bài hát để nghe, quá nhiều ly margarita để uống, quá nhiều thời gian vớ vẩn trong phòng và nhìn vào màn hình ti vi. Thời điểm đó xảy ra tại quầy cocktail trong khách sạn ở California đầu năm 1978. Bob Ressler và tôi đang dạy ở Sacramento. Hôm sau, lúc rời đi, tôi nói rằng đa số tội phạm mà chúng tôi nói đến lúc dạy vẫn còn sống và đa số họ sẽ ngồi tù suốt đời. Thử xem chúng ta có thể nói chuyện với họ không; hỏi họ xem tại sao họ phạm tội, tìm hiểu sự việc qua cặp mắt của họ. Chúng ta chỉ có thể thử. Nếu số phận đã định là không được thì sẽ không được.

Từ lâu tôi đã nổi tiếng là hăng hái quá mức và lời đề nghị này không giúp xóa bỏ cái tiếng xấu đó trong mắt Bob. Nhưng anh ta cũng đồng ý làm theo ý tưởng điên rồ của tôi. Phương châm của Bob luôn là “Thà làm sai rồi xin lỗi còn hơn đợi chấp thuận rồi lỡ việc” và câu này chắc chắn phù hợp với hoàn cảnh này. Chúng tôi biết nếu xin tổng bộ phê chuẩn, họ sẽ không đồng ý. Không chỉ thế mà từ nay trở đi, những gì chúng tôi làm sẽ bị theo dõi sát sao. Trong bất kỳ bộ máy quan liêu nào, người ta đều phải cẩn thận trông chừng mấy tên hăng hái quá mức.

California lúc nào cũng có nhiều vụ án đặc biệt và kỳ dị nên đó có vẻ là xuất phát điểm thích hợp. John Conway là một đặc vụ được điều động đến cơ sở vệ tinh ở San Rafael, phía bắc San Francisco. Anh ta từng học một lớp của Bob ở Quantico, có mối quan hệ tốt đẹp với những người trong hệ thống hình sự bang California. Anh ta đã đồng ý làm người liên lạc và sắp xếp các cuộc gặp cho chúng tôi. Chúng tôi biết mình cần có tay trong đáng tin tưởng, và cũng tin tưởng chúng tôi, vì nếu dự án be bé này đi chệch hướng, các bên sẽ đổ thừa qua lại cho xem.

Tội phạm nghiêm trọng đầu tiên chúng tôi quyết định gặp là Ed Kemper, lúc đó đang chịu nhiều án chung thân ở Cơ sở y tế Nhà tù bang California tại Vacaville, nằm gần giữa quãng đường từ San Francisco đến Sacramento. Chúng tôi đã giảng dạy về vụ án của hắn ở Học viện mà chưa từng có tiếp xúc cá nhân nào với hắn nên hắn có vẻ là một đối tượng phù hợp để bắt đầu. Nhưng hắn có đồng ý gặp hoặc nói chuyện với chúng tôi hay không vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ.

Những tình tiết của vụ án được ghi chép đầy đủ. Edmund Emil Kemper III sinh ngày 18 tháng Mười hai năm 1948 ở Burbank, California. Hắn lớn lên với hai em gái trong một gia đình đổ vỡ, mẹ hắn Clarnell và cha hắn Ed Con, cãi nhau suốt và cuối cùng ly hôn. Sau khi Ed thể hiện một loạt hành vi “dị hợm”, trong đó có việc phân xác hai con mèo nhà hắn và chơi trò tang lễ với đứa em gái lớn là Susan, mẹ hắn thu dọn đồ đạc và tống hắn cho ông chồng cũ. Khi hắn chạy trốn và trở về chỗ mẹ hắn, hắn bị đưa đến sống với ông bà nội tại một nông trại hẻo lánh ở California, dưới chân dãy núi Sierras. Ở đó, hắn vô cùng buồn chán và cô đơn, bị buộc rời xa gia đình và chút an ủi con con mà mỗi trường quen thuộc của trường học mang lại. Vào một buổi chiều tháng Tám năm 1963, thẳng nhóc mười bốn tuổi cao lớn dềnh dàng đó đã bắn bà nội của mình, Maude, bằng một khẩu súng trường 22 ly rồi dùng một con dao nhà bếp đâm liên tiếp vào thi thể bà. Bà nội đã khăng khăng bắt hắn ở nhà phụ giúp việc nhà thay vì đi ra đồng cùng ông nội, người mà hắn quý hơn. Biết rằng ông nội Ed sẽ không chấp nhận được việc hắn vừa làm nên khi ông cụ trở về, Ed bắn luôn ông và để thi thể ông nằm trên sân. Sau đó, khi cảnh sát hỏi, hắn chỉ nhún vai và nói “Tôi chỉ muốn biết cảm giác khi bắn bà nội ra sao”.

Hành động giết hai người mà dường như không có động cơ này khiến Ed được chẩn đoán “rối loạn nhân cách gây hấn thụ động” và bị đưa vào Bệnh viện bang Atascadero dành cho tội phạm tâm thần. Hắn được thả năm 1969, khi hắn hai mươi mốt tuổi, trước sự phản đối từ các nhà tâm thần học của bang, và được giao cho mẹ hắn giám hộ, bà ấy vừa ly hôn ông chồng thứ ba và đang làm thư ký tại Đại học California vừa khánh thành ở Santa Cruz. Lúc này, Ed Kemper đã cao 2m05 và nặng khoảng 136kg.

Suốt hai năm, hắn làm nhiều công việc vặt, lái xe trên các con phố và cao tốc, và có thói quen cho các cô gái trẻ đi nhờ xe. Santa Cruz và vùng phụ cận giống một thỏi nam châm thu hút các nữ sinh xinh đẹp ở California, Kemper đã bỏ lỡ nhiều điều trong giai đoạn thiếu niên của hắn. Tuy bị từ chối công việc cảnh sát tuần tra nhưng hắn được vào làm cho Sở Đường bộ tiểu bang.

Ngày 7 tháng Năm năm 1972, hắn cho hai cô gái ở cùng phòng trong Đại học bang Fresno, Mary Ann Pesce và Anita Luchessa, đi nhờ xe. Hắn đưa họ đến một nơi vắng vẻ, đâm chết cả hai rồi chở xác họ về nhà mẹ hắn, chụp những tấm hình lấy liền, mổ xác họ và chơi đùa với nhiều cơ quan nội tạng khác nhau. Sau đó hắn bỏ những gì còn lại vào các túi nhựa, chôn hai thi thể trong rặng núi Santa Cruz và ném đầu họ xuống khe núi bên đường.

Ngày 14 tháng Chín, Kemper cho một nữ sinh trung học mười lăm tuổi Aiko Koo đi nhờ, hắn làm cô chết ngạt, giở trò đồi bại với thi thể cô, rồi mang về nhà để mổ ra. Sáng hôm sau, khi hắn đến cuộc hẹn theo định kỳ với các nhà tâm thần học của bang để kiểm tra và đánh giá sức khỏe tâm thần, đầu của Koo đang nằm trong cốp xe hắn. Cuộc phỏng vấn diễn ra suôn sẻ và các nhà tâm thần học tuyên bố hắn không còn là mối nguy hiểm cho bản thân hay người khác, đề nghị đóng hồ sơ phạm tội thời vị thành niên của hắn. Kemper rất thích hành động mang tính biểu tượng này. Nó minh họa cho sự khinh miệt của hắn đối với hệ thống pháp luật và cả sự ưu việt của hắn so với hệ thống. Hắn trở về rặng núi và chôn các mảnh xác của Koo gần khu Boulder Creek.

(Ở thời điểm Kemper đang hoạt động, Santa Cruz có thể nắm giữ danh hiệu mà không nơi nào muốn có, kinh độ của những tên sát nhân hàng loạt trên thế giới. Herbert Mullin, một gã đẹp trai, sáng sủa, được chẩn đoán tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng, đang giết cả đàn ông lẫn phụ nữ bởi sự thôi thúc của những giọng nói hướng dẫn hắn cứu lấy môi trường, như hắn tuyên bố. Với lý do tương tự, John Linley Frazier - một thợ sửa xe hai mươi tư tuổi, sống cô độc - đã thiêu rụi một ngôi nhà và giết một gia đình sáu người để cảnh cáo những ai muốn hủy hoại thiên nhiên. “Chủ nghĩa duy vật phải chết hoặc nhân loại phải dừng lại” là lời nhắn trên tờ giấy đặt dưới cần gạt nước của chiếc Rolls-Royce của gia đình này. Có vẻ mỗi tuần, một hành động gây oán giận khác lại xảy ra.)

Ngày 9 tháng Một năm 1973, Kemper cho một học sinh ở Santa Cruz, Cindy Schall, đi nhờ, dùng súng ép cô chui vào cốp xe rồi bắn. Như một thói quen, hắn mang xác cô về nhà mẹ hắn, quan hệ với thi thể trên giường, phân xác trong bồn tắm, rồi cho những thứ còn lại vào túi và ném qua khe núi xuống biển ở Carmel. Lần này có sự đổi mới đó là hắn chôn đầu của Schall trong sân, với gương mặt hướng lên trên, nhìn về phía cửa sổ phòng ngủ của mẹ hắn, vì bà ấy luôn muốn người khác phải “ngưỡng vọng bà ấy”.

Bấy giờ, Santa Cruz đang hoảng loạn vì “Kẻ sát hại nữ sinh”. Các cô gái trẻ được cảnh báo không nên đi nhờ xe người lạ, đặc biệt là những ai bên ngoài khuôn viên an toàn của trường đại học. Nhưng mẹ Kemper làm việc cho trường nên trên xe hắn có dán nhãn của trường đại học.

Chưa đầy một tháng sau, Kemper lại bắt Rosalind Thorpe và Alice Liu, hắn bắn cả hai rồi nhét họ vào cốp xe. Hai cô gái cũng chịu kết cục tương tự các nạn nhân trước của hắn khi hắn đưa họ về nhà. Kemper vứt hai thi thể tả tơi ở Hẻm Eden, gần San Francisco, một tuần sau đó họ mới được tìm thấy.

Ham muốn giết người của hắn tăng lên với tốc độ đáng báo động, kể cả với chính hắn. Hắn nghĩ đến việc bắn hết mọi người trong khu nhà mình nhưng cuối cùng quyết định không làm. Hắn có một ý tưởng hay hơn, mà hắn nhận ra mình đã muốn làm từ rất lâu. Vào cuối tuần dịp lễ Phục sinh, khi mẹ hắn đang ngủ trên giường, Kemper vào phòng và dùng búa liên tục tấn công đến khi bà ấy chết. Sau đó hắn chặt đầu bà ấy và cưỡng bức thi thể không đầu. Với cảm hứng sau cùng, hắn cắt thanh quản của mẹ mình ra và bỏ vào máy nghiền thức ăn. “Chuyện đó có vẻ hợp”, sau này, hắn nói với cảnh sát, “vì mụ ta đã chê bai, la rầy tôi suốt bao nhiêu năm. Nhưng khi hắn bật công tắc, máy nghiền bị tắc và phun cái dây thanh quản vào người hắn. “Kể cả khi đã chết, mụ ta vẫn chê cười tôi. Tôi không khiến mụ ta im mồm được!”

Sau đó hắn gọi cho Sally Hallett, một người bạn của mẹ hắn, mời bà ấy đến ăn một bữa tối “bất ngờ”. Khi bà này đến, hắn dùng cây đập bà ấy và bóp cổ, rồi cắt đầu và để xác bà ấy trên giường mình còn hắn thì sang ngủ trên giường mẹ hắn. Sáng Chủ nhật ngày Phục sinh, hắn lái xe về phía đông mà không có mục tiêu cụ thể nào. Hắn liên tục nghe đài, hy vọng mình đã trở thành một người nổi tiếng khắp cả nước. Nhưng chẳng có tin tức gì cả.

Ở ngoại vi thành phố Pueblo, bang Colorado, choáng váng và kiệt sức vì thiếu ngủ, thất vọng vì hành vi nghiêm trọng của hắn không có tác động gì, hắn dừng lại ở một buồng điện thoại ven đường, gọi cho Sở Cảnh sát Santa Cruz. Sau nhiều lần cố gắng thuyết phục họ rằng hắn đang nói thật, hắn thú nhận các tội giết người và danh tính của mình là Kẻ sát hại nữ sinh. Sau đó hắn kiên nhẫn chờ cảnh sát địa phương được cử đến để bắt hắn.

Kemper bị buộc tám tội giết người cấp độ I. Khi được hỏi hình phạt nào phù hợp, hắn trả lời là “Hành hạ tới chết”.

Tuy John Conway đã sắp xếp trước với nhân viên ở khám nhưng tôi quyết định tốt nhất là yêu cầu thẩm vấn tù nhân bất ngờ khi chúng tôi đến đó. Tuy như vậy có nghĩa là đi mà không bảo đảm được tù nhân sẽ hợp tác, nhưng đó dường như là ý hay nhất. Trong tù không có gì bí mật và nếu thông tin lọt ra ngoài rằng một tù nhân nào đó đã có mối liên hệ với FBI và đang nói chuyện với FBI, người đó có thể bị xem là kẻ chỉ điểm hoặc tệ hơn. Còn nếu chúng tôi xuất hiện mà không báo trước, các phạm nhân khác sẽ nghĩ chúng tôi đang điều tra vụ gì đó và không có sắp xếp hay thỏa thuận trước. Vì vậy, tôi hơi ngạc nhiên khi Ed Kemper lập tức đồng ý nói chuyện với chúng tôi. Dường như lâu rồi không ai hỏi hắn điều gì về những tội ác mà hắn thực hiện và hắn tò mò về việc chúng tôi đang làm.

Vào một nhà giam được bảo an cao độ là một trải nghiệm lạnh sống lưng, dù đối với một nhân viên thực thi pháp luật của liên bang. Điều đầu tiên phải làm là nộp súng. Rõ ràng họ không muốn vũ khí xuất hiện trong các khu nhà giam. Yêu cầu thứ hai là ký vào giấy miễn trừ trách nhiệm, tuyên bố bạn không đổ trách nhiệm cho hệ thống nhà giam nếu bị bắt làm con tin và hiểu rằng nếu tình huống đó xảy ra, bạn sẽ không được cứu. Có con tin là đặc vụ FBI có thể mang lại lợi thế rất lớn trong việc thương thuyết. Những thủ tục đó đã được dàn xếp trước, Bob Ressler, John Conway và tôi được đưa vào một căn phòng có một cái bàn và mấy cái ghế để chờ Ed Kemper tới.

Điều đầu tiên làm tôi kinh ngạc khi họ đưa hắn vào là hình thể to lớn của hắn. Tôi biết hắn cao và bị cô lập ở cả trường học lẫn nơi hắn sinh sống vì tầm vóc của hắn nhưng nhìn gần, hắn như người khổng lồ vậy. Hắn có thể dễ dàng bẻ đôi bất cứ người nào trong chúng tôi. Tóc hắn hơi dài, sẫm màu và râu đầy cằm, hắn mặc áo ngoài phanh cúc và áo thun trắng bên trong, làm nổi bật cái bụng to đùng.

Cũng dễ dàng nhận thấy Kemper là một người sáng dạ. Hồ sơ của nhà giam cho biết chỉ số IQ của hắn là 145, và ở vài thời điểm trong nhiều giờ nói chuyện với hắn, Bob và tôi lo rằng hắn còn thông minh hơn chúng tôi nhiều. Hắn có nhiều thời gian để ngồi và suy nghĩ về cuộc đời cũng như những tội ác của mình. Một khi hiểu rằng chúng tôi đã cẩn thận nghiên cứu hồ sơ của hắn và sẽ biết nếu hắn lừa chúng tôi, hắn liền thẳng thắn nói hết về bản thân suốt nhiều giờ đồng hồ.

Thái độ của hắn không hề xấc láo và tự phụ, cũng không ăn năn hối lỗi. Thay vào đó, hắn điềm tĩnh, nói chuyện nhẹ nhàng, tỉ mỉ và có phần xa xăm. Những lần duy nhất hắn suýt khóc là khi nhớ lại cách mẹ hắn đối xử với hắn.

Đang dạy môn Tâm lý tội phạm ứng dụng mà không cần biết mọi thứ mình đang nói là đúng sự thật, tối hứng thú với câu hỏi đã có từ lâu rằng liệu người ta sinh ra đã là tội phạm hay do hoàn cảnh xô đẩy. Tuy vẫn chưa có câu trả lời cuối cùng và có thể chẳng bao giờ có, nhưng việc lắng nghe Kemper nói đã làm nảy sinh một số câu hỏi hay họ.

Bố mẹ Ed có một cuộc hôn nhân tồi tệ, việc đó thì không phải bàn cãi nữa. Hắn kể rằng từ nhỏ trông hắn đã rất giống bố nên mẹ ghét hắn. Rồi vóc dáng của hắn trở thành một vấn đề. Mười tuổi, hắn đã rất to con so với độ tuổi và Clarnell lo hắn sẽ sàm sỡ em gái Susan của hắn nên bà ấy bắt hắn ngủ trong một căn phòng dưới hầm không cửa sổ, gần lò sưởi. Vào giờ đi ngủ mỗi tối, Clarnell đóng cửa hầm lại, trong khi bà ấy và Susan lên phòng ở nhà trên. Điều này làm hắn sợ và vô cùng căm ghét họ. Nó kết hợp với việc bà ấy ly hôn với bố Ed. Vì vóc người to lớn, tính tình rụt rè và trong nhà thiếu một hình mẫu để noi theo nên Ed vẫn luôn khép kín và “khác biệt”. Bị nhốt dưới hầm như tù nhân và bị nhồi nhét suy nghĩ rằng mình dơ bẩn và nguy hiểm dù mình chẳng làm gì sai, những ý nghĩ thù địch và giết người bắt đầu nảy nở trong hắn. Sau đó hắn đã giết và phân xác hai con mèo nhà hắn, một con bị phân xác bằng dao bỏ túi, con kia bằng mã tấu. Sau này chúng tôi nhận ra xu hướng ngược đãi động vật từ nhỏ là yếu tố quyết định của cái được gọi là “tam giác giết người”, kết hợp với hai yếu tố khác là đái dầm kéo dài qua độ tuổi thông thường và đốt lửa.

Một điều mỉa mai và đáng buồn khác là ở Santa Cruz, mẹ Ed được cả các nhân viên hành chính và sinh viên biết đến. Bà ấy được xem là người nhạy cảm, chu đáo mà sinh viên có thể đến gặp nếu có vấn đề gì hoặc cần tâm sự. Nhưng ở nhà, bà ấy lại đối xử với đứa con trai rụt rè của mình như thể nó là quái vật.

Mày không đời nào hẹn hò hay cưới được ai trong đám nữ sinh đó đâu là thông điệp rất rõ ràng của bà ấy. Họ tốt hơn mày nhiều. Liên tục vấp phải thái độ như thế, cuối cùng Ed quyết định đáp ứng những mong mỏi của bà ấy.

Phải nói rằng, bà ấy có cố gắng chăm sóc cho hắn theo cách riêng của mình. Khi hắn muốn tham gia đội Tuần tra đường phố California, bà ấy cố gắng tìm cách xóa hồ sơ phạm tội hồi thiếu niên của hắn, để “vết nhơ” giết ông bà nội sẽ không cản trở cuộc sống trưởng thành của hắn.

Mong muốn làm việc với cảnh sát là một khám phá thú vị khác, sẽ xuất hiện nhiều lần trong nghiên cứu về những tên sát nhân hàng loạt của chúng tôi. Ba động cơ phổ biến nhất của những kẻ cưỡng bức và giết người hàng loạt hóa ra là sự thống trị, thao túng và kiểm soát. Khi nhận định rằng đa số họ là những kẻ thất bại bất lực, đầy giận dữ, cảm thấy bị cuộc đời đối xử tệ bạc, từng bị bạo hành về thể xác hoặc tinh thần, như Ed Kemper, thì không ngạc nhiên khi một trong những nghề nghiệp chính mà họ mơ ước là cảnh sát.

Một cảnh sát tượng trưng cho quyền lực và sự kính trọng của công chúng. Khi được gọi đến để làm nhiệm vụ, hắn có quyền tổn thương người xấu để bảo vệ người tốt. Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi phát hiện ra tuy rất ít cảnh sát bị biến chất và phạm tội ác bạo lực, nhưng thường thì những tội phạm hàng loạt đều thất bại trong nỗ lực gia nhập các Sở Cảnh sát và đã làm nhiều công việc trong các lĩnh vực có liên quan như nhân viên bảo an hoặc bảo vệ trực đêm. Một điều mà chúng tôi bắt đầu nói đến trong một số bản mô tả của mình là Đối tượng vô danh sẽ lái một phương tiện giống xe cảnh sát, chẳng hạn như một chiếc Ford Crown Victoria hoặc Chevrolet Caprice. Đôi khi, như trong những vụ sát hại trẻ em ở Atlanta, đối tượng đã mua một chiếc xe cảnh sát cũ đã gỡ bỏ nhiều bộ phận.

Một điểm thường thấy hơn đó là “cuồng cảnh sát”. Ed Kemper kể với chúng tôi là hắn thường đến các quán rượu và quán ăn mà cảnh sát thường đến và bắt chuyện. Việc này khiến hắn có cảm giác của một người trong cuộc, cho hắn sự hồi hộp gián tiếp trước quyền hạn của một cảnh sát. Nhưng một khi Kẻ sát hại nữ sinh ra tay thì hắn đã có thông tin từ quá trình điều tra, cho phép hắn dự tính bước tiếp theo của cảnh sát. Thực ra, khi Kemper gọi từ Colorado ở cuối hành trình dài và đẫm máu của hắn, hắn gặp khó khăn trong việc thuyết phục cảnh sát Santa Cruz rằng đó không phải một trò đùa khi say xỉn, rằng Kẻ sát hại nữ sinh chính là Ed, bạn của họ. Thế này nhé, nhờ những gì chúng tôi tìm hiểu được, chúng tôi thường cân nhắc khả năng rằng các đối tượng sẽ cố gắng len lỏi vào cuộc điều tra. Nhiều năm sau, khi giải quyết các vụ sát hại gái mại dâm của Arthur Shawcross ở Rochester, New York, đồng nghiệp của tôi là Gregg McCrary đã dự đoán chính xác rằng kẻ thủ ác là một người mà nhiều cảnh sát biết rõ, vẫn đến những nơi họ hay tụ tập và háo hức dò hỏi thông tin từ họ.

Tôi rất hứng thú với phương pháp của Kemper. Việc hắn không bị bắt vì những tội ác này lặp đi lặp lại trong một khu vực địa lý chung có nghĩa là hắn đã làm một điều gì đó “đúng đắn”, rằng hắn đã phân tích điều hắn đang làm và học hỏi để hoàn thiện kỹ năng. Hãy nhớ rằng với đa số những kẻ sát nhân hàng loạt này, săn lùng và giết người là điều quan trọng nhất trong đời họ, “công việc” chính của họ, nên họ nghĩ về công việc đó suốt. Ed Kemper trở nên điêu luyện đến mức trong lần hắn bị bắt dừng xe vì pha sau bị hỏng với hai xác người trong cốp xe, viên cảnh sát báo cáo hắn đã rất lịch sự và cho hắn đi với một lời cảnh cáo. Thay vì lo sợ bị phát hiện và bị bắt, đây là một phần của sự phấn khích đối với Kemper. Hắn thản nhiên nói với chúng tôi rằng nếu viên cảnh sát kiểm tra cốp xe, hắn sẵn sàng giết anh ta. Một lần khác, hắn thuyết phục được một viên bảo vệ ở trường đại học tin hắn khi trong xe có hai phụ nữ chết vì bị bắn. Cả hai được quấn mền đến cổ, một người được đặt cạnh hắn ở ghế trước, một người ở ghế sau. Kemper bình tĩnh và còn hơi bối rối giải thích rằng hai cô gái đã say, hắn đang chở họ về nhà. Phần sau của lời giải thích này là sự thật. Một lần khác nữa, hắn cho một phụ nữ và đứa con trai đang tuổi vị thành niên đi nhờ, định giết cả hai. Nhưng khi lái xe, hắn nhìn thấy qua gương chiếu hậu đứa con trai đã ghi lại biển số xe của hắn. Thế là hắn chở hai mẹ con đến nơi cần đến và cho họ xuống xe.

Thông minh là thế, Kemper thực ra đã thực hiện các bài kiểm tra tâm lý trong tù nên hắn biết mọi thuật ngữ thông dụng và có thể lập một bản phân tích hành vi của hắn một cách chi tiết theo ngôn ngữ tâm thần học. Mọi thứ về tội ác là một phần của thử thách, một phần của trò chơi, kể cả việc tìm cách lừa nạn nhân lên xe mà không bị nghi ngờ. Hắn kể rằng khi dừng xe vì thấy một cô gái đẹp, hắn sẽ hỏi cô ấy định đi đâu, rồi liếc đồng hồ như thể đang cân nhắc xem hắn có đủ thời gian không. Suy nghĩ mình đang nói chuyện với một người bận rộn, có nhiều việc quan trọng cần ưu tiên hơn là cho đi nhờ xe khiến cô gái lập tức cảm thấy yên tâm và không còn chần chừ. Ngoài việc giúp chúng tôi hiểu cách thức hoạt động của một kẻ sát nhân, loại thông tin này còn gợi ra một điều quan trọng: Những nhận định thông thường, những ám hiệu bằng lời, ngôn ngữ cơ thể và nhiều thứ khác mà chúng ta dựa vào để đánh giá một người và đưa ra những phán đoán tức thời về họ thường không dùng được cho đối tượng chống đối xã hội. Ví dụ, với Kemper, việc dừng xe vì người xin đi nhờ xinh đẹp là ưu tiên hàng đầu của hắn. Hắn đã suy nghĩ rất lâu, cẩn thận và có hệ thống về cách tốt nhất để hoàn thành mục tiêu; lâu hơn, cẩn thận hơn và có hệ thống hơn so với cách một cô gái trẻ vô tình tiếp xúc với hắn suy nghĩ từ góc nhìn của cô ấy.

Thao túng. Thống trị. Kiểm soát. Đó là ba khẩu lệnh của những tội phạm bạo lực hàng loạt. Mọi thứ chúng làm và nghĩ đều nhằm giúp chúng bù đắp cho cuộc sống đối lập đầy tự ti của mình.

Có lẽ yếu tố đơn lẻ tối quan trọng trong quá trình phát triển của một kẻ cưỡng hiếp hoặc sát nhân hàng loạt là vai trò của ảo tưởng. Và tôi nói điều này theo nghĩa rộng nhất. Những ảo tưởng của Ed Kemper phát triển sớm và tất cả đều liên quan đến mối quan hệ giữa tình dục và cái chết. Trò chơi mà hắn bắt em gái mình tham gia có hành động trói hắn vào ghế như thể hắn đang ở trong phòng hơi ngạt. Những ảo tưởng tình dục của hắn với người khác kết thúc bằng cái chết và việc phân xác bạn tình của hắn. Vì cảm giác tự ti nên Kemper cảm thấy không thoải mái với mối quan hệ trai gái bình thường. Hắn nghĩ không cô gái nào chịu hắn nên trong thâm tâm, hắn đang bù đắp. Hắn phải hoàn toàn chiếm hữu bạn tình tưởng tượng của mình và điều đó có nghĩa là cuối cùng hắn chiếm hữu mạng sống của họ.

“Khi sống, họ xa cách, không chia sẻ với tôi”, hắn giải thích trong một lời thú tội trước tòa. “Tôi đang cố gắng thiết lập một mối quan hệ. Khi họ bị giết, chẳng có gì trong tâm trí tôi ngoài việc họ sẽ là của tôi. ”

Với đa số những kẻ sát nhân vì tình dục, từ ảo tưởng đến hiện thực là một quá trình phát triển, thường được kích thích bởi văn hóa phẩm đồi trụy, thử nghiệm bệnh hoạn trên động vật và sự tàn ác với đồng loại. Đối tượng có thể xem xu hướng cuối cùng này là “hành vi trả đũa” nạn nhân vì đã đối xử tệ bạc với chúng. Trong trường hợp của Kemper, hắn cảm thấy mình bị những đứa trẻ khác xa lánh và giày vò vì vóc dáng và tính cách của mình. Và hắn kể, trước khi phân xác hai con mèo, hắn đã trộm một con búp bê của em hắn, cắt đầu và bàn tay búp bê, luyện tập điều hắn định làm với những sinh vật sống.

Ở một mức độ khác, ảo tưởng quan trọng nhất của Kemper là loại bỏ người mẹ độc đoán và bạo hành, có thể phân tích mọi việc hắn làm khi là sát nhân trong bối cảnh đó. Xin đừng hiểu lầm; không có lý do nào có thể biện hộ cho những việc hắn đã làm. Mọi kiến thức và kinh nghiệm của tôi cho biết người ta có trách nhiệm với những gì họ làm. Nhưng theo ý tôi, Ed Kemper là ví dụ về một người không sinh ra là kẻ sát nhân hàng loạt mà bị biến thành kẻ sát nhân hàng loạt. Liệu hắn có những ảo tưởng giết chóc đó không nếu hắn có cuộc sống gia đình ổn định và được nuôi dưỡng tốt hơn? Không ai biết chắc. Nhưng hắn có hành động như vậy nếu không có sự căm hờn dành cho người phụ nữ độc đoán trong cuộc đời hắn? Tôi nghĩ là không, vì toàn bộ quá trình phát triển thành một tên sát nhân của Kemper đều là nỗ lực trả đũa người mẹ già thân yêu. Khi rốt cục hắn đã đủ can đảm để thực hiện hành động cuối cùng đó thì tấn bi kịch kết thúc.

Đây lại là một đặc điểm khác sẽ trở đi trở lại nhiều lần. Hiếm khi nào đối tượng hướng cơn giận vào người mà hắn căm ghét. Tuy Kemper có kể rằng hắn từng rón rén vào phòng mẹ mình giữa đêm, tay cầm búa và tưởng tượng cảnh đập búa vào sọ bà ấy, nhưng hắn cần ít nhất sáu lần giết người mới đủ can đảm đối diện với điều hắn thực sự muốn làm. Và chúng tôi đã thấy nhiều phiên bản khác nhau của việc thay thế đối tượng này. Ví dụ, có một xu hướng phổ biến là lấy một “chiến lợi phẩm” từ nạn nhân sau khi giết, chẳng hạn như nhẫn hoặc dây chuyền. Sau đó kẻ sát nhân sẽ tặng món đồ đó cho vợ hoặc bạn gái hắn, dù người phụ nữ đó là nguồn cơn của sự tức giận hay thù địch trong hắn. Điển hình, chúng sẽ nói mình đã mua hoặc tìm thấy món trang sức đó. Rồi khi nhìn cô ta đeo nó, hắn vừa nhớ lại sự hưng phấn và kích thích của việc giết người, đồng thời xác nhận lại trong đầu sự thống trị và kiểm soát, biết rằng hắn có thể làm với bạn tình của mình việc hắn đã làm với nạn nhân xấu số kia.

Cuối cùng, theo phân tích của chúng tôi, chúng tôi bắt đầu chia các thành phần của một tội ác thành các yếu tố như là hành vi trước và sau khi gây án. Kemper đã phanh thây tất cả các nạn nhân, ban đầu, việc này cho chúng tôi thấy hắn là một kẻ ác dâm. Nhưng việc phanh thây đều diễn ra sau khi nạn nhân chết nên không phải sự trừng phạt và không gây ra thống khổ. Sau khi nghe Kemper nói hàng giờ liền, chúng tôi hiểu phanh thây là sở thích hơn là chứng ác dâm và có liên quan đến phần chiếm hữu trong ảo tưởng của hắn.

Một điều tôi nghĩ cũng quan trọng không kém là cách hắn xử lý và vứt thi thể. Các nạn nhân đầu tiên được chôn cẩn thận cách xa nhà mẹ hắn. Các nạn nhân sau, gồm mẹ và bạn của mẹ hắn, gần như được để ở nơi dễ tìm thấy. Điểm đó, cùng với việc hắn chạy xe quanh thành phố mang theo những thi thể và các bộ phận cơ thể người, với tôi, dường như là chế nhạo cái cộng đồng mà hắn cảm thấy đã chế nhạo và chối bỏ hắn.

Cuối cùng, thành ra chúng tôi thực hiện nhiều cuộc thẩm vấn dài hơi với Kemper qua nhiều năm, mỗi cuộc nói chuyện đều mang lại nhiều thông tin hơn, khiến người ta đau lòng hơn với các chi tiết trong đó. Đây là gã đàn ông đã lạnh lùng giết chết những cô gái thông minh ở thời điểm mà họ giỏi giang, hoạt bát nhất trong đời. Nhưng nếu tôi không thừa nhận mình thích Ed thì là nói dối. Hắn thân thiện, cởi mở, nhạy cảm và có khiếu hài hước. Trong bối cảnh này, tôi vẫn có thể nói rằng tôi thích tiếp xúc với hắn. Tôi không muốn hắn ra ngoài, xuất hiện trên các con phố, và trong những khoảnh khắc hắn tỉnh táo nhất, hắn cũng không muốn thế. Nhưng cảm giác cá nhân của tôi về hắn khi đó, đến nay vẫn còn, cho thấy sự tôn kính dành cho những ai đối mặt với bọn tội phạm bạo lực hàng loạt. Nhiều tội phạm dạng này khá thu hút, ăn nói có duyên và miệng lưỡi trơn tru.

Người này sao có thể làm ra chuyện khủng khiếp như vậy? Hẳn là nhầm lẫn gì đó hoặc tình tiết giảm nhẹ. Đó là điều bạn sẽ tự nhủ nếu nói chuyện với một trong số chúng; bạn không thể hiểu hết sự tàn nhẫn trong các tội ác chúng gây ra. Và đó là lý do các nhà tâm thần học, thẩm phán và quản chế thường bị lừa, chúng ta sẽ thảo luận cụ thể hơn về chủ đề này sau.

Nhưng lúc này thì nếu bạn muốn hiểu họa sĩ, hãy xem tác phẩm của họ. Đó là điều tôi luôn nói với mọi người. Bạn không thể tuyên bố mình hiểu hoặc đánh giá cao Picasso mà chưa nghiên cứu tranh của ông ấy. Những tên sát nhân hàng loạt thành công sẽ lên kế hoạch hành động tỉ mỉ như họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Chúng xem việc chúng làm là “nghệ thuật” và liên tục hoàn thiện nó trong quá trình thực hiện. Thế nên một phần những đánh giá của tôi về một kẻ như Ed Kemper xuất phát từ việc gặp hắn và tương tác với hắn trên cơ sở cá nhân. Phần còn lại xuất phát từ nghiên cứu và tìm hiểu việc hắn làm.

Các cuộc thăm tù trở thành hoạt động thường xuyên mỗi khi Bob Ressler hoặc tôi có chương trình đào tạo ngắn hạn và có thời gian rỗi cũng như sự hợp tác của phạm nhân. Dù ở đâu, tôi cũng sẽ tìm ra nhà tù hoặc trại cải tạo nào ở gần đó và kẻ nào đang ở đó.

Khi thực hiện việc này được một thời gian, chúng tôi đã hoàn thiện các kỹ năng của mình. Nhìn chung, chúng tôi bận suốt bốn ngày rưỡi một tuần nên tôi cố gắng thực hiện thẩm vấn vào buổi tối và cuối tuần. Buổi tối có thể khó vì đa số trại giam điểm danh tù nhân sau bữa tối và không ai được vào khu phòng giam sau đó. Nhưng qua một thời gian, tôi bắt đầu hiểu được các cơ chế của nhà tù và thích nghi với chúng. Tôi phát hiện ra đặc vụ FBI có thể đi vào hầu hết các trại cải tạo và gặp cai ngục nên tôi bắt đầu xuất hiện mà không báo trước, cách này thường hiệu quả nhất. Càng thực hiện nhiều cuộc thẩm vấn, tôi càng bắt đầu cảm thấy tự tin về những gì mình dạy và nói với các cảnh sát kỳ cựu. Cuối cùng tôi đã cảm thấy việc giảng dạy của mình đạt được một ít nền tảng thực, chứ không chỉ là những câu chuyện nghe từ những người từng tham dự được xào đi nấu lại.

Những kẻ được thẩm vấn không nhất định sẽ cung cấp thông tin chi tiết về các tội ác cũng như tâm trí chúng. Rất ít kẻ làm điều đó, kể cả người thông minh như Kemper. Phần lớn những gì chúng nói chỉ là lặp lại lời khai trước tòa hoặc những thông tin có lợi mà chúng đã nói nhiều lần trước đó. Về phần mình, chúng tôi phải tốn công và xem xét bao quát để diễn giải mọi thứ. Còn ý nghĩa của các cuộc thẩm vấn là để chúng tôi thấy được tư duy của tội phạm, cảm nhận về chúng, cho phép chúng tôi đặt mình vào vị trí của chúng.

Trong những tuần và tháng đầu của chương trình nghiên cứu không chính thức này, chúng tôi xoay sở thẩm vấn hơn sáu kẻ sát nhân và muốn trở thành sát nhân. Chúng gồm kẻ định ám sát George Wallace[2] - Arthur Bremer (Trại cải tạo Baltimore), Sara Jane Moore và Lynette “Squeaky” Fromme - cả hai từng cố giết Tổng thống Ford (thành phố Alderson, Tây Virginia) và thầy của Fromme - Charles Manson, ở San Quentin, ngay phía trên vịnh tính từ hướng San Francisco và đống đổ nát Alcatraz.

Mọi người trong ngành thi hành luật đều hứng thú với Manson. Đã mười năm kể từ các vụ giết hại hai gia đình Tat và LaBianca rùng rợn ở Los Angeles, Manson vẫn là tên tù nhân nổi tiếng và đáng sợ nhất thế giới. Vụ án này thường được mang ra giảng dạy tại Quantico. Tuy các tình tiết đã rõ ràng, nhưng tôi cảm thấy chúng tôi chưa thực sự hiểu điều gì khiến gã phạm tội. Tôi không biết có thể thu thập gì từ hắn nhưng tôi nghĩ bất cứ ai có thể thao túng người khác làm theo ý mình thành công đến vậy sẽ là một đối tượng quan trọng. Bob Ressler và tôi gặp hắn trong một khu vực tổ chức hội nghị cách xa khu trại giam chính ở San Quentin. Ba bên của khu vực này có cửa sổ kính gia cố lưới thép, loại phòng dành cho các tù nhân và luật sư của chúng.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Manson khác hoàn toàn so với ấn tượng về Ed Kemper. Hắn có cặp mắt dữ tợn, vô cùng cảnh giác và kiểu di chuyển đầy bất an. Hắn nhỏ con và mảnh khảnh hơn tôi tưởng; cao không quá 1m57 hoặc 1m60. Làm sao một kẻ nhỏ bé, trông yếu ớt là vậy lại có thể tỏa ra sức ảnh hưởng khủng khiếp đến thế với cái “gia đình” khét tiếng của hắn?

Câu trả lời đến tức thời khi hắn leo lên lưng một chiếc ghế được đặt ở đầu bàn để hắn có thể nhìn xuống chúng tôi khi nói chuyện. Khi điều tra quá khứ của hắn để chuẩn bị thẩm vấn, tôi biết hắn thường ngồi trên một tảng đá lớn trong sa mạc khi rao giảng những nguyên tắc của mình, giúp vóc người hắn trông to lớn hơn lúc hắn thuyết giáo. Ngay từ đầu, hắn đã thể hiện rõ với chúng tôi là dù đã diễn ra phiên tòa luận tội lừng danh, báo chí cũng viết rất nhiều tin tức phong phú, hắn vẫn không hiểu tại sao hắn lại bị bỏ tù. Nói cho cùng, hắn chưa giết một ai. Thay vào đó, hắn tự xem mình là kẻ giơ đầu chịu báng trước xã hội - biểu tượng vô hại của mặt tối xã hội Mỹ. Chữ “vạn” mà hắn khắc lên trán mình trong phiên tòa đã phai nhưng vẫn nhìn thấy được. Hắn còn liên hệ với nữ tín đồ ở những nhà tù khác thông qua các bên hợp tác thứ ba.

Ít nhất theo cách nào đó, hắn rất giống Ed Kemper và nhiều kẻ mà chúng tôi đã nói chuyện ở chỗ hắn có tuổi thơ bất hạnh và sự giáo dục kém; đó là nếu có thể dùng hai điểm này để miêu tả quá khứ của Manson.

Charles Milles Manson sinh ở thành phố Cincinnati năm 1934, là con hoang của một gái làng chơi mười sáu tuổi tên Kathleen Maddox. Họ của hắn chỉ là do Kathleen đoán xem ai trong số những tình nhân của bà ta là cha hắn. Bà ta vào tù ra khám nhiều lần, đùn đẩy Charlie cho người dì ngoan đạo và người dượng ác nghiệt gọi hắn là đồ ẻo lả, cho hắn mặc đồ con gái vào ngày tựu trường và thách thức hắn “cư xử như một người đàn ông”. Đến lúc hắn mười tuổi, hắn sống ngoài đường, trừ những khoảng thời gian ở tại các nhà tập thể và trường giáo dưỡng. Hắn ở bốn ngày trong mái ấm tình thương Father Flanagan’s Boys Town.

Cuộc sống vị thành niên của hắn được đánh dấu bằng một loạt vụ trộm, làm giả giấy tờ, làm ma cô, các vụ tấn công và bị giam giữ tại các nhà tù ngày càng nghiêm ngặt. FBI đã điều tra hắn theo luật Dyer vì tội vận chuyển trái phép xe bị trộm khắp liên bang. Hắn được phóng thích có điều kiện trong án tù sau cùng vào năm 1967, vừa đúng dịp Mùa hè Tình yêu[3]. Hắn tìm đường đến quận Haight-Ashbury ở San Francisco, khu vực thu hút những người yêu hòa bình, phản đối bạo lực, những người thích tình dục, ma túy và nhạc rock&roll ở khu Bờ Tây. Mục đích chính là đi nhờ xe, nhưng Manson lại nhanh chóng trở thành bậc thầy có sức thuyết phục đối với thế hệ những kẻ bỏ học tràn đầy nhiệt huyết, còn trong độ tuổi mười mấy đôi mươi. Hắn chơi ghi-ta và nói những chân lý ý tại ngôn ngoại với bọn trẻ đang vỡ mộng trước cuộc đời. Hắn nhanh chóng được ăn ở miễn phí, quan hệ và dùng mọi chất kích thích bất hợp pháp mà hắn muốn. Một “gia đình” du thủ du thực gồm những tín đồ cả nam lẫn nữ vây quanh hắn, đôi khi lên đến năm mươi người. Charlie thuyết giảng quan điểm của hắn về sự khải hoàn và cuộc chiến sắc tộc sắp diễn ra, coi đó như một trong những sự giúp đỡ của hắn dành cho cộng đồng, và khiến “gia đình” hắn hân hoan, còn hắn thì nắm quyền kiểm soát. Khẩu lệnh của hắn là Helter Skelter, trích từ White Album của The Beatles.

Vào đêm 9 tháng Tám năm 1969, bốn thành viên trong Gia đình Manson, do Charles “Tex” Watson dẫn đầu, đột nhập ngôi nhà ở nơi hẻo lánh của đạo diễn Roman Polanski và vợ là minh tinh Sharon Tate, ở số 10050 Cielo Drive, Beverly Hills. Khi đó Polanski đang đi công tác nhưng Tate và bốn vị khách - Abigail Folger, Jay Sebring, Voytek Frykowski và Steven Parent - bị giết hại dã man trong một cuộc truy hoan sa đọa, với những khẩu hiệu giăng đầy trên tường và xác nạn nhân được viết bằng máu của chính họ. Khi đó Sharon Tate đang mang thai gần chín tháng.

Hai ngày sau, theo sự xúi giục của Manson, sáu thành viên của Gia đình đã giết và phân xác doanh nhân Leno LaBianca và vợ ông, Rosemary, tại nhà họ ở quận Silver Lake, Los Angeles. Bản thân Manson không tham gia, nhưng sau đó vào nhà vì tình trạng hỗn loạn kéo theo. Vụ bắt giữ Susan Atkins vì hành vi bán dâm, người đã tham gia hai vụ giết người và một vụ phóng hỏa liên quan đến một thiết bị trên đường cao tốc, cuối cùng đã dẫn đến Gia đình và có lẽ cả những phiên tòa chấn động nhất lịch sử California, ít nhất đến trước vụ việc của O. J. Simpson. Trong hai vụ kiện riêng rẽ, Manson và một số tín đồ của hắn bị phán tử hình vì đã giết gia đình Tate và LaBianca cùng một số vụ khác được phát hiện có liên quan, gồm vụ giết và phân xác Donald “Shorty” Shea, một diễn viên đóng thế và một kẻ ăn bám trong Gia đình, bị nghi ngờ đã chỉ điểm cho cảnh sát. Khi bộ luật hình phạt tử hình của bang bị bãi bỏ, án tử được giảm xuống thành tù chung thân.

Charlie Manson không phải một kẻ sát nhân hàng loạt thường thấy. Thật ra, vẫn còn tranh cãi xoay quanh việc hắn có thực sự tự tay giết người không. Nhưng quá khứ tội lỗi của hắn thì không phải bàn cãi, cũng như những điều khủng khiếp mà tín đồ của hắn đã làm theo sự xúi giục của hắn và nhân danh hắn. Tôi muốn biết làm cách nào mà một người bắt đầu trở thành đấng cứu thế tàn độc như vậy. Chúng tôi đã phải nghe mở triết lý rẻ tiền và những lời huyện thuyên suốt hàng giờ liền nhưng khi chúng tôi ép hắn nói chi tiết và cố gắng bảo hắn thôi nói vớ vẩn, một hình ảnh bắt đầu hiện ra.

Ban đầu Charlie không muốn trở thành một bậc thầy đen tối. Mục tiêu của hắn là danh tiếng và của cải. Hắn muốn làm một tay trống và chơi cho một ban nhạc rock nổi tiếng như Beach Boys. Hắn bị buộc phải sống nhờ tài ăn nói của hắn cả đời và vì thế đã trở nên cực kỳ giỏi đánh giá những người hắn gặp và nhanh chóng xác định việc họ có thể làm cho hắn. Hắn sẽ là một nhân tài nếu làm cho đơn vị của tôi với vai trò đánh giá điểm mạnh và yếu trong tâm lý của một cá nhân rồi đề ra các chiến lược để bắt những kẻ sát nhân mà chúng tôi đang truy tìm.

Đến San Francisco sau khi được phóng thích, hắn thấy một đám trẻ hoang mang, đơn thuần, tin vào những lý tưởng siêu thực, hướng về hắn vì kinh nghiệm sống và sự thông thái giả tạo mà hắn thể hiện. Nhiều người trong số chúng, đặc biệt là đám con gái, gặp nhiều vấn đề với cha chúng và có thể hiểu quá khứ của Charlie, hắn đủ sắc sảo để có thể chọn ra những đứa như thế. Hắn trở thành hình tượng người cha, một kẻ có thể lấp đầy cuộc sống trống rỗng của chúng bằng tình dục và sự khai sáng của các loại ma túy. Bạn không thể ở cùng một phòng với Charlie Manson mà không bị cặp mắt của hắn tác động - sâu thẳm và có thể nhìn thấu tâm can người khác, dữ dằn và có khả năng thôi miên. Hắn biết cặp mắt mình có thể làm gì và có tác động gì. Hắn kể rằng thời trẻ, hắn thường bị người ta đánh cho tơi tả và với vóc người nhỏ thó, hắn không thể thắng trong những lần đối đầu về thể chất. Thế là hắn bù đắp bằng cách dùng đến sức mạnh của phẩm chất.

Những gì hắn thuyết giảng hoàn toàn có lý: sự ô nhiễm đang hủy hoại môi trường, những định kiến về chủng tộc xấu xa và mang tính vùi dập, tình yêu đúng đắn còn sự căm ghét sai lầm. Nhưng một khi thống trị những linh hồn lạc lối này, hắn tạo ra một hệ thống ảo tưởng có cấu trúc chặt chẽ giúp hắn hoàn toàn kiểm soát tâm trí và cơ thể họ. Hắn dùng tình trạng thiếu ngủ, tình dục, kiểm soát đồ ăn thức uống và ma túy để có được sự thống trị tuyệt đối, giống như tình huống của một tù binh chiến tranh. Mọi thứ đều là hai màu trắng đen và chỉ có Charlie biết sự thật. Hắn gảy đàn ghi-ta và lặp lại câu nói đơn giản hết lần này đến lần khác: Chỉ Charlie mới có thể cứu rỗi cái xã hội tật nguyền và thối nát này.

Những kỹ thuật cơ bản trong việc lãnh đạo và làm chủ tập thể mà Manson mô tả cho chúng tôi nghe, chúng tôi sẽ còn gặp lại nhiều lần suốt nhiều năm trong các bi kịch tương tự. Sức mạnh thống trị và thấu hiểu những con người tự ti mà Manson có được cũng xuất hiện ở Đức Cha Jim Jones và vụ giết người - tự sát tập thể của những tín đồ của hắn ở Guyana, sau đó là David Koresh ở khu phức hợp của cộng đồng tôn giáo Branch Davidian tại Waco, Texas, hai trong số nhiều kẻ như thế. Và tuy có những khác biệt rõ rệt giữa ba kẻ này nhưng điều kết nối chúng với nhau thì rất đáng chú ý. Thông tin chi tiết chúng tôi có được từ việc nói chuyện với Manson và những tín đồ của hắn góp phần giúp chúng tôi hiểu Koresh và những hành động của hắn, cùng những giáo phái khác.

Mấu chốt là vấn đề của Manson không phải tầm nhìn của đấng cứu thế mà là sự kiểm soát đơn giản. Lời giáo huấn “helter-skelter” là một cách duy trì sự kiểm soát tâm trí. Nhưng như Manson nhận ra, nếu không thể áp đặt sự kiểm soát này lên các tín đồ của mình suốt ngày đêm, có thể khả năng kiểm soát sẽ mất đi. David Koresh nhận ra điều này và giấu những kẻ hâm mộ mình trong một pháo đài ở vùng nông thôn, nơi họ không thể bỏ đi hay tránh khỏi sự ảnh hưởng của hắn.

Sau khi nghe Manson nói, tôi tin hắn không có kế hoạch hay ý định giết Sharon Tate và bạn bè của cô ấy mà thật ra hắn mất khả năng kiểm soát tình hình và những tín đồ của hắn. Một đứa con gái trong Gia đình đã có mặt tại đó và nghĩ ở đó có thể có tiền. Tex Watson, học sinh danh dự của cả nước đến từ Texas, mong muốn đạt địa vị cao hơn và cạnh tranh với Charlie về tầm ảnh hưởng và quyền lực. Cũng mơ mơ màng màng như những người khác vì dùng thuốc gây ảo giác LSD, đồng thời tin tưởng vào tương lai mới như lời người lãnh đạo, Watson là kẻ sát nhân chính, dẫn đầu cả bọn đến nhà Tate-Polanski và khuyến khích chúng thực hiện những hành vi tàn bạo không thể chấp nhận.

Rồi khi những kẻ tầm thường, tự ti này trở về và kể cho Charlie nghe việc chúng đã làm, rằng helter-skelter đã bắt đầu, hắn không thể nuốt lời và nói rằng chúng đã quá coi trọng lời hắn. Việc đó sẽ hủy hoại sức mạnh và quyền lực của hắn. Thế là hắn phải cao tay hơn chúng, như thể hắn vốn đã có ý đồ cho tội ác này và hậu quả sau đó, dẫn chúng đến nhà LaBianca để thực hiện một lần nữa. Nhưng đáng nói là, khi tôi hỏi Manson tại sao hắn không vào và tham gia giết chóc, hắn giải thích, như thể chúng tôi ngu ngốc lắm, rằng hắn mới được phóng thích vì cam đoan sẽ sửa đổi nên không thể liều lĩnh vi phạm để đánh mất tự do.

Từ thông tin sau màn và những cuộc thẩm vấn Manson, tôi tin rằng trong khi hắn khiến các tín đồ trở thành kiểu người hắn mong muốn thì ngược lại, chúng cũng biến hắn thành kiểu người chúng cần và buộc hắn phải làm đúng như vậy.

Mỗi hai năm, Manson lại xin được phóng thích nhưng đều bị từ chối. Các tội ác của hắn bị quá nhiều người biết và quá bạo lực nên ban quản lý không muốn liều lĩnh. Tôi cũng không muốn hắn được thả. Nhưng nếu có lúc nào đó hắn được thả, biết được những gì tôi làm về hắn, tôi nghĩ hắn sẽ không phải một mối đe dọa bạo lực nghiêm trọng như nhiều kẻ khác. Tôi nghĩ hắn sẽ vào sa mạc và sống ở đó hoặc cố gắng lợi dụng danh tiếng của mình để kiếm tiền. Nhưng tôi không nghĩ hắn sẽ giết người. Mối đe dọa lớn nhất là từ những kẻ thất bại lầm đường lạc lối bị hút về phía hắn, tuyên bố hắn là Chúa và lãnh tụ của họ.

Đến khi tôi và Ressler thực hiện được khoảng mười hay mười hai cuộc thẩm vấn, bất cứ người thông minh nào quan sát sẽ thấy chúng tôi đang có ý đồ. Lần đầu tiên, chúng tôi có thể liên hệ giữa điều đang diễn ra trong tâm trí một kẻ phạm tội với bằng chứng hắn để lại tại hiện trường phạm tội.

Năm 1979, chúng tôi nhận được khoảng năm mươi yêu cầu mô tả nhân dạng, các giảng viên cố gắng xử lý chúng cùng lúc với nhiệm vụ giảng dạy. Đến năm sau, số lượng vụ án đã tăng gấp đôi và sẽ lại tăng gấp đôi vào năm sau nữa. Đến lúc đó, tôi gần như được miễn nhiệm vụ giảng dạy và là người duy nhất trong đơn vị dành toàn thời gian cho công việc mô tả. Tôi vẫn có các buổi thuyết trình ở Học viện Quốc gia và lên lớp khi lịch làm việc trống nhưng không như những người khác, với tôi, giờ đây giảng dạy đã trở thành nghề phụ. Tôi xử lý gần như mọi vụ án giết người được giao cho đơn vị và bất cứ vụ cưỡng hiếp nào mà Roy Hazelwood quá bận không xử lý được.

Từ một dịch vụ không chính thức, không được chấp thuận, công việc này đã phát triển thành một cơ sở nhỏ. Tôi nhận chức danh mới được tạo là “quản lý chương trình mô tả tính cách tội phạm” và bắt đầu làm việc với các văn phòng thực địa để điều phối đệ trình vụ án của các Sở Cảnh sát địa phương.

Có một lần, tôi nằm viện khoảng một tuần. Những vết thương cũ do chơi bóng bầu dục và quyền anh lại hành hạ cái mũi tôi, khiến việc hít thở ngày càng khó. Tôi nhập viện để người ta làm vách ngăn mũi bị xoắn của tôi thẳng lại. Tôi nhớ mình nằm đó, hầu như không thấy gì và có một đặc vụ khác đi vào, thả hai mươi tập hồ sơ vụ án lên giường bệnh của tôi.

Với mỗi lần gặp gỡ trong nhà giam, chúng tôi lại học thêm được nhiều điều nhưng phải có một cách nào đó để tổ chức nghiên cứu không chính thức này trở thành một cơ cấu có hệ thống và khả dụng. Bước tiến đó có được nhờ Roy Hazelwood, người đang hợp tác với tôi viết một bài báo về vấn đề sát nhân cuồng dâm cho Bản tin Thi hành luật của FBI. Roy đã tiến hành một nghiên cứu với tiến sĩ Ann Burgess, một giáo sư về vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Trường Điều dưỡng thuộc Đại học Pennsylvania, và là phó giám đốc nghiên cứu điều dưỡng cho Sở y tế và Bệnh viện Boston. Burgess là một tác giả có nhiều bài viết và đã nổi tiếng là một trong những chuyên gia hàng đầu quốc gia về tội phạm cưỡng bức và các hệ quả tâm lý của loại tội phạm này.

Roy đưa bà ấy đến Đơn vị Khoa học hành vi, giới thiệu bà ấy với tôi và Bob, mô tả công việc chúng tôi đang làm. Bà ấy rất ấn tượng và cho biết chúng tôi có cơ hội làm một nghiên cứu chưa từng được thực hiện trong lĩnh vực này. Bà ấy nghĩ chúng tôi có thể đóng góp vào việc phân tích hành vi của tội phạm giống như ý nghĩa của DSM - Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các chứng rối loạn tâm thần - trong việc tìm hiểu và tổ chức các loại bệnh tâm thần.

Chúng tôi thỏa thuận làm việc cùng nhau, Ann phụ trách xin viện trợ và cuối cùng nhận được một khoản tiền 400.000 đô la từ Cơ quan Tư pháp Quốc gia (NIJ)[4] do chính phủ tài trợ. Mục tiêu là thẩm vấn tường tận 36-40 tù nhân và xem có thể rút ra những kết luận gì. Với thông tin của chúng tôi, Ann đã viết một tài liệu dài năm mươi bảy trang để điền vào trong mỗi cuộc thẩm vấn. Bob sẽ quản lý khoản trợ cấp và liên lạc với NIJ. Với sự giúp đỡ của các đặc vụ ngoài thực địa, anh ấy và tôi sẽ trở lại các nhà tù và đối diện với các phạm nhân. Chúng tôi sẽ mô tả phương pháp của mỗi tội ác và hiện trường phạm tội, nghiên cứu và ghi lại các hành vi trước và sau khi phạm tội, Ann sẽ tính toán các con số và chúng tôi sẽ báo cáo kết quả của mình. Chúng tôi ước đoán dự án này sẽ mất khoảng ba, bốn năm.

Và trong lúc đó, công việc phân tích điều tra tội phạm đã bước vào giai đoạn hiện đại.

❀ ❀ ❀

[1] Một bộ phim hành động Mỹ, nhân vật chính là một cựu thanh tra vùng Texas, cùng anh bạn người Mỹ bản địa Tonto chiến đấu với những kẻ sống ngoài vòng pháp luật ở vùng Viễn Tây.

[2] Chính khách Đảng Dân chủ, Thống đốc thứ 45 của bang Alabama trong bốn nhiệm kỳ.

[3] Một hiện tượng xã hội diễn ra vào mùa hè năm 1967, khi có đến khoảng 100.000 người, chủ yếu là thanh thiếu niên, ăn mặc theo phong cách thời trang và hành vi ứng xử của dân hippie, hội tụ tại khu vực Haight-Ashbury của San Francisco.

[4] Nguyên văn: National Institute of Justice.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.