Kẻ Săn Suy Nghĩ

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 08
Kẻ Sát Nhân Bị Tật Nói Lắp

❊ ❊ ❊

Một thời điểm nào đó vào năm 1980, tôi thấy một bài viết trên tờ báo địa phương về một phụ nữ lớn tuổi bị một kẻ đột nhập vô danh tấn công tình dục, đánh trọng thương và bỏ mặc cho đến chết, cùng hai con chó của bà đã bị đâm chết. Cảnh sát cho rằng kẻ phạm tội đã ở lại hiện trường khá lâu. Cả cộng đồng kinh ngạc và vô cùng giận dữ.

Vài tháng sau, khi trở về sau một chuyến đi dài, tôi tình cờ hỏi Pam xem có tin gì mới về vụ này không. Cô ấy bảo không có, và cũng không có đối tượng khả nghi nào. Tôi nói rằng như vậy thì thật không hay, vì từ những gì tôi đã đọc và nghe được, đây có vẻ là một vụ án có thể giải quyết. Vụ này không thuộc thẩm quyền liên bang và chúng tôi chưa được mời tham gia, nhưng với tư cách là một công dân địa phương, tôi quyết định xem mình có thể giúp gì không.

Tôi đến đồn cảnh sát, giới thiệu bản thân, nói với đồn trưởng công việc của mình và hỏi xem tôi có thể nói chuyện với các thanh tra đang thụ lý vụ án không. Ông ấy lịch sự chấp nhận đề nghị của tôi.

Tổ trưởng tổ điều tra tên là Dean Martin. Tôi không nhớ mình có kiềm chế mấy câu đùa liên quan đến Jerry Lewis không, nhưng có lẽ là không. Anh ta cho tôi xem các hồ sơ vụ án, gồm cả ảnh chụp hiện trường. Bà cụ này bị tấn công rất nặng. Và khi nghiên cứu, tôi bắt đầu hình thành một bức tranh rõ ràng trong đầu về kẻ phạm tội và động cơ của vụ án.

“Được rồi, tôi nghĩ thế này”, tôi nói với các thanh tra. Họ lịch sự, có chăng là hơi nghi ngờ, nhưng vẫn lắng nghe tôi. Đó là một nam sinh trung học mười sáu hoặc mười bảy tuổi. Bất cứ khi nào chúng ta gặp một nạn nhân lớn tuổi bị tấn công tỉnh dục, hãy tìm một kẻ tấn công trẻ tuổi, ai đó không tự tin về bản thân, không có nhiều hoặc hoàn toàn không có kinh nghiệm. Đối với hắn, một nạn nhân trẻ hơn, khỏe hơn hoặc có tính thử thách hơn sẽ đáng lo ngại hơn. Hắn có vẻ ngoài luộm thuộm, tóc tai rối bù và bẩn thỉu, nhìn chung là không được cắt tỉa gọn gàng. Sự việc xảy ra vào đêm hôm đó là mẹ hoặc bố hắn đuổi hắn ra khỏi nhà và hắn không có nơi nào để đi. Trong tình huống này, hắn sẽ không đi quá xa. Thay vào đó, hắn sẽ tìm nơi nào gần nhất và dễ nhất để trú tạm. Hắn không có bạn bè nào, dù là con gái hay con trai, để có thể tá túc đến khi vụ việc ở nhà lắng xuống. Nhưng khi đang lang thang ở ngoài, cảm thấy khốn khổ, bất lực và giận dữ, hắn đã đến nhà bà cụ này. Hắn biết bà ấy sống một mình, hắn từng làm việc ở đó hoặc giúp vài việc vặt cho bà ấy. Hắn biết bà ấy không phải một mối đe dọa lớn.

Thế là hắn lẻn vào, có thể bà ấy phản kháng, có thể bà ấy bắt đầu la mắng hắn, có thể bà ấy sợ hãi. Dù phản ứng của bà cụ là gì, nó đều kích động hắn và cho hắn thêm sức mạnh. Hắn muốn chứng tỏ với bản thân và thế giới rằng mình là một người đàn ông. Hắn thử quan hệ với bà ấy, nhưng không thể tiến vào. Vì vậy, hắn đánh bà ấy bầm dập và có lúc hắn quyết định tốt nhất nên giải quyết triệt để vì bà ấy có thể tố cáo hắn. Hắn không mang mặt nạ, đây chỉ là một tội ác bộc phát, chứ không có kế hoạch trước. Nhưng bà ấy bị chấn thương quá nặng nên dù sống sót cũng không thể mô tả gì cho cảnh sát.

Sau vụ tấn công, hắn vẫn không có nơi nào để đi bà ấy hiển nhiên không đe dọa gì hắn, hắn biết sẽ không có ai đến thăm bà ấy vào buổi tối nên hắn ở lại ăn uống đã đời, vì lúc này hắn đang đói.

Tôi ngừng lại trong lúc mô tả và nói với họ rằng ngoài kia có ai đó khớp với mô tả này. Nếu họ có thể tìm được hắn, tức là họ đã bắt được thủ phạm.

Các thanh tra nhìn nhau. Một trong số họ bắt đầu mỉm cười. “Anh có phải là nhà ngoại cảm không, Douglas?”

“Không”, tôi đáp, “nhưng công việc của tôi sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu tôi là nhà ngoại cảm.”

“Vì có một nhà ngoại cảm, Beverly Newton, đến đây vài tuần trước và nói giống hệt những gì anh vừa nói”

Thêm nữa, mô tả của tôi đúng là khớp với một người sống gần đây, mà họ đã từng cân nhắc thoáng qua về hắn. Sau cuộc gặp với tôi, họ thẩm vấn hắn lần nữa. Không đủ bằng chứng để giữ hắn lại, và họ không thể khiến hắn thú tội. Không lâu sau đó, hắn rời khỏi khu vực này.

Đồn trưởng và các thanh tra muốn biết làm sao tôi có thể mô tả chi tiết như vậy, nếu tôi không phải nhà ngoại cảm. Ở thời điểm đó, một phần câu trả lời là tôi đã thấy quá đủ vụ án bạo lực xảy ra với đủ mọi kiểu người, đã liên hệ quá đủ chi t với từng kiểu người và thẩm vấn quá đủ tội phạm bạo lực đến mức tôi có sẵn trong đầu mình một xu hướng về kiểu người nào sẽ phạm loại tội ác nào. Nhưng dĩ nhiên, nếu đơn giản như vậy, chúng tôi đã thể dạy môn mô tả nhân dạng bằng một cẩm nang hướng dẫn hoặc cho các cảnh sát một chương trình máy tính có thể đưa ra một danh sách những đặc điểm của nghi phạm từ bất kỳ nguồn thông tin đầu vào nào. Và sự thật là dù chúng tôi sử dụng máy tính rất nhiều trong công việc và chúng có khả năng thực hiện một số điều rất ấn tượng, nhưng một số điều khác phức tạp hơn thì chúng không thể và có lẽ không bao giờ thực hiện được. Công việc mô tả nhân dạng giống như viết lách vậy. Bạn có thể cài đặt cho máy tính mọi quy tắc chính tả, cú pháp và phong cách nhưng nó vẫn không thể viết ra một cuốn sách.

Việc tôi cố gắng làm với một vụ án là tiếp nhận tất cả bằng chứng mà tôi phải sử dụng - báo cáo vụ án, ảnh chụp và mô tả hiện trường vụ án, lời khai của nạn nhân hoặc báo cáo khám nghiệm tử thi - rồi tự đặt mình vào tâm trí kẻ phạm tội, cả về mặt tâm trí và cảm xúc. Tôi cố gắng suy nghĩ như hắn. Việc này diễn ra chính xác như thế nào, tôi cũng không chắc chắn hơn những tiểu thuyết gia như Tom Harris, người đã nhờ tôi tư vấn nhiều năm, có thể nói chính xác cách mà các nhân vật của họ ra đời. Nếu có một khía cạnh ngoại cảm trong này thì tôi sẽ không chối bỏ, tuy tôi xem nó thuộc khía cạnh tư duy sáng tạo nhiều hơn.

Thỉnh thoảng, các nhà ngoại cảm cũng hỗ trợ nhiều trong điều tra tội phạm. Tôi đã quan sát cách họ làm việc. Một số người có khả năng tập trung, trong tiềm thức, vào các chi tiết tinh tế cụ thể ở một hiện trường và từ đó đưa ra kết luận hợp lý, như cách tôi làm và đào tạo cho người của mình. Nhưng tôi luôn khuyên các điều tra viên rằng nên xem nhà ngoại cảm như là cứu cánh cuối cùng với tư cách công cụ điều tra, nếu có sử dụng thì đừng để họ tiếp xúc với các cảnh sát hoặc thanh tra đã nắm rõ vụ án. Vì các nhà ngoại cảm giỏi rất thành thạo nắm bắt manh mối nhỏ, không lời và họ có thể khiến bạn kinh ngạc cũng như tin sái cổ bằng cách cho bạn biết những chi tiết của vụ án mà bạn đã biết, dù họ thậm chí không biết bất kỳ thông tin chi tiết nào bạn đang tìm kiếm. Trong chuỗi vụ án sát hại trẻ em ở Atlanta, hàng trăm nhà ngoại cảm đã đến thành phố và đề nghị giúp đỡ cảnh sát. Họ đã đưa ra đủ mọi mô tả về kẻ sát nhân và phương pháp gây án. Kết quả là chẳng có mô tả nào đúng cả.

Cũng vào khoảng thời gian tôi gặp các cảnh sát địa phương, các phòng cảnh sát ở quanh khu vực vịnh San Francisco gọi tôi đến tham gia điều tra một loạt vụ án giết người trong các khu rừng rậm rạp dọc các con đường dành cho người đi bộ đường dài mà họ đã liên hệ với nhau và quy về một Đối tượng vô danh được báo chí gọi là “Sát nhân đường mòn trên núi”

Vụ việc bắt đầu vào tháng Tám năm 1979 khi Edda Kane, một vận động viên và quản lý ngân hàng bốn mươi bốn tuổi, khỏe mạnh, biến mất khi đang đi bộ một mình ở đỉnh phía đông của núi Tamalpais, một ngọn núi đẹp nhìn xuống cầu Cổng Vàng và vịnh San Francisco, được biết đến với biệt danh “Quý cô say ngủ”. Tối đó, khi Kane không về nhà, chồng cô lo lắng nên đã báo cảnh sát. Xác cô được một cảnh khuyển trong đội tìm kiếm phát hiện vào chiều hôm sau, trong tình trạng không mảnh vải che thân trừ một chiếc vớ, mặt úp xuống, trong tư thế quỳ như thể cầu xin tha mạng. Nhân viên pháp y xác định nguyên nhân cái chết là một viên đạn bắn vào sau đầu. Không có bằng chứng cô bị tấn công tình dục. Kẻ sát nhân đã lấy ba thẻ tín dụng và mười đô la tiền mặt, nhưng không lấy nhẫn cưới và các món trang sức khác.

Tháng Ba năm sau, xác của Barbara Schwartz, hai mươi ba tuổi, được phát hiện trong Công viên núi Tamalpais. Cô ấy bị đâm nhiều nhát vào ngực, dường như cũng trong lúc đang quỳ. Tháng Mười, Anne Alderson, hai mươi sáu tuổi, không về nhà sau chuyến đi bộ quanh rìa công viên. Xác cô được phát hiện vào chiều hôm sau với một vết thương do đạn bắn vào bên phải đầu. Không như các nạn nhân trước, Alderson mặc đủ quần áo, mặt úp xuống, được đặt tựa vào một tảng đá, chỉ có chiếc hoa tai vàng bên phải biến mất. John Henry, nhân viên tạp vụ sống tại núi Tamalpais nói có nhìn thấy cô ấy ngồi một mình ở khu vực khán đài bán nguyệt của công viên vào buổi sáng cuối cùng trong đời, ngắm mặt trời lên. Hai nhân chứng khác nhìn thấy Edda Kane cách nơi tìm thấy xác cô không quá 800m.

Có một đối tượng tiềm năng là Mark McDermand. Người mẹ tật nguyền và người em tâm thần phân liệt của hắn được phát hiện bị bắn chết trong chòi của họ ở núi Tamalpais. Sau khi lẩn trốn mười một ngày, McDermand đầu hàng trước Đại úy Robert Gaddini, thanh tra quận Marin. Các thanh tra có thể liên hệ hắn với vụ sát hại người nhà, nhưng dù hắn trang bị nhiều vũ khí, không có khẩu súng nào của hắn khớp với vũ khí loại nòng 44 hoặc 38 ly được dùng trong các vụ án Sát nhân đường mòn trên núi. Rồi các vụ giết người lại tiếp diễn.

Vào tháng Mười một, Shauna May, hai mươi lăm tuổi, lỡ hẹn với hai người bạn cùng đi bộ ở công viên Point Reyes, cách San Francisco vài ki-lô-mét về phía bắc. Hai ngày sau, đội tìm kiếm phát hiện xác cô gái trong một cái huyệt nông gần nơi vứt xác một người đi bộ đường dài khác, Diana Ơ’Connell, hai mươi hai tuổi, một người New York đã biến mất trong công viên một tháng trước. Cả hai đều bị bắn vào đầu. Cùng ngày, hai thi thể khác được phát hiện trong công viên, được nhận diện là Richard Stowers mười chín tuổi và vị hôn thê mười tám tuổi Cynthia Moreland, cả hai đều mất tích từ giữa tháng Mười. Các điều tra viên xác định họ bị giết trong hai ngày cuối tuần dịp lễ Columbus giống Anne Alderson.

Những vụ giết người ban đầu đã khiến những ai đi bộ đường dài trong khu vực này sợ hãi. Có nhiều biển báo được dựng lên, khuyên mọi người, đặc biệt là phụ nữ, đừng vào rừng một mình. Nhưng việc phát hiện bốn thi thể trong một ngày đã khiến mọi thứ rối tung lên.

Quận trưởng quận Marin, G. Albert Howenstein Con, đã thu thập lời khai của một số nhân chứng thấy các nạn nhân đi cùng những người đàn ông lạ ngay trước khi chết, nhưng ở một số điểm quan trọng, như tuổi tác và đặc điểm gương mặt, các mô tả lại mâu thuẫn với nhau. Nhân tiện, việc này cũng không lạ dù là trong một vụ giết người đơn lẻ, chưa kể đến nhiều vụ trải dài nhiều tháng. Cảnh sát tìm thấy một cặp kính hai tròng khác thường ở hiện trường vụ án Barbara Schwartz, có vẻ là của kẻ sát nhân. Howenstein tiết lộ thông tin về cặp kính và đơn làm kính, gửi tờ rơi tới mọi kỹ thuật viên đo mắt trong khu vực. Gọng kính rõ ràng là loại do trại giam cấp nên Đại úy Gaddini liên lạc với Sở Tư pháp bang California để cố gắng nhận diện tất cả tội phạm được phóng thích gần đây có lịch sử phạm tội tình dục với phụ nữ. Rất nhiều khu vực và cơ quan, gồm cả Văn phòng thực địa của FBI ở San Francisco hiện đang tích cực điều tra vụ án.

Báo chí phỏng đoán Sát nhân đường mòn trên núi thực ra có thể là tên Sát nhân Hoàng đạo ở Los Angeles, một kẻ vẫn là Đối tượng vô danh nhưng đã ngưng hoạt động từ năm 1969. Có lẽ hắn đã bị bắt giam vì tội danh nào đó trong suốt thời gian này và vừa được các viên chức trại cải huấn không hay biết gì thả ra. Nhưng không giống Sát nhân Hoàng đạo, Sát nhân đường mòn trên núi không cần khiêu khích hay giao tiếp với cảnh sát.

Quận trưởng Howenstein mời một nhà tâm lý học từ Napa, tiến sĩ R. William Mathis, đến để phân tích vụ án. Chú ý khía cạnh mang tính nghi thức của các vụ án, tiến sĩ Mathis nói rằng ông nghĩ tên thủ ác sẽ giữ những món đồ lưu niệm, cảnh sát nên theo dõi bất cứ ai bị tình nghi một tuần trước khi bắt giữ với hy vọng hắn có thể để lộ vũ khí giết người hoặc những chứng cứ khác. Về ngoại hình và đặc điểm hành vi của hắn, tiến sĩ Mathis mô tả một người đàn ông đẹp trai, tính cách dễ mến.

Theo lời khuyên của Mathis, Howenstein và Gaddini đặt nhiều cái bẫy chủ động khác nhau, trong đó có cả việc cho các nam bảo vệ công viên giả làm phụ nữ đi leo núi, nhưng không cái bẫy nào hiệu quả. Công chúng gây áp lực lớn lên lực lượng thi hành pháp luật. Quận trưởng công bố với dân chúng rằng kẻ sát nhân ẩn nấp để chờ các nạn nhân, bắt họ trải qua tổn thương tâm lý trước khi giết họ, có thể là bắt họ phải xin tha mạng.

Khi Cơ sở vệ tinh ở San Rafael của Cục yêu cầu hỗ trợ từ Quantico, ban đầu họ liên hệ với Roy Hazelwood, chuyên gia chủ chốt của chúng tôi về tội phạm cưỡng bức và bạo lực với phụ nữ. Roy là một người nhạy cảm, ân cần, và vụ án này tác động mạnh đến anh ấy. Tôi nhớ anh ấy mô tả vụ án cho tôi nghe khi chúng tôi trở về văn phòng từ tòa nhà lớp học, nơi anh ấy vừa dạy xong một lớp của Học viện Quốc gia. Tôi gần như cảm thấy Roy nghĩ bản thân anh có trách nhiệm trong vụ này, như thể nỗ lực của FBI và khoảng mười đơn vị phối hợp ở địa phương vẫn chưa đủ; rằng anh ấy nên phá giải vụ án và đưa kẻ thủ ác ra trước vành móng ngựa.

Không như tôi, Roy có trách nhiệm giảng dạy toàn thời gian. Ở thời điểm này, tôi đã từ bỏ gần hết công việc lên lớp và là chuyên viên mô tả nhân dạng toàn thời gian duy nhất của Đơn vị Khoa học hành vi đang tham gia điều tra các vụ án. Vì vậy, Roy đề nghị tôi đến San Francisco và cho cảnh sát ở đó một ít thông tin tại hiện trường.

Như đã nói ở phần đầu, khi FBI tham gia một vụ án, chúng tôi thường phải chịu sự ghét bỏ. Một phần là do thành kiến đã có từ thời Hoover, khi mọi người thường cảm thấy Cục cứ thế xuất hiện và giành lấy việc điều tra các vụ án nghiêm trọng. Đơn vị của tôi không thể can thiệp trừ phi được cơ quan nắm quyền điều tra chủ chốt yêu cầu, dù là phòng cảnh sát địa phương hay thậm chí là chính FBI. Nhưng trong vụ Sát nhân đường mòn trên núi, Văn phòng Quận trưởng Marin đã sớm mời Cục tham dự, và với kiểu mà truyền thông đang tung tin về các vụ án, tôi thực lòng cảm thấy họ hoan nghênh một người như tôi gia nhập và giảm bớt áp lực cho họ, ít nhất là trong một thời gian ngắn.

Ở văn phòng quận trưởng, tôi xem lại tất cả tài liệu của vụ án và ảnh chụp hiện trường gây án. Tôi đặc biệt chú ý những quan sát của thanh tra Rich Keaton ở Marin, rằng những vụ giết hại dường như đều xảy ra ở địa điểm vắng vẻ, cây cối rậm rạp có tán lá dày che gần hết bầu trời. Không thể tiếp cận bất cứ nơi nào như thế bằng xe hơi, chỉ có thể đi bộ, trong đó phải đi đường núi ít nhất 1.600m. Hiện trường vụ giết Anne Alderson gần tuyến đường dịch vụ vốn là lối đi tắt từ khán đài bán nguyệt của công viên. Tất cả những chi tiết này đều cho thấy tên sát nhân là người ở địa phương, vô cùng quen thuộc khu vực này.

Tôi trình bày suy luận của mình trong một phòng đào tạo lớn ở Ủy ban quận Marin. Ghế ngồi được bố trí theo hình bán nguyệt, như giảng đường trong ngành y học. Trong năm mươi hay sáu mươi người có mặt, có khoảng mười đặc vụ FBI, phần còn lại là cảnh sát và thanh tra. Khi tôi lướt qua nhóm khán giả của mình, tôi thấy vài mái đầu bạc - những cảnh sát kỳ cựu đã nghỉ hưu được mời trở lại để hỗ trợ bắt gã này.

Đầu tiên tôi bày tỏ sự không đồng tình với bản mô tả nhân dạng đã được đưa ra. Tôi không nghĩ chúng tôi đang đương đầu với kiểu người điển trai, quyến rũ, tinh tế. Những nhát đâm liên tiếp và tấn công chớp nhoáng từ đằng sau cho tôi biết chúng tôi đang đối phó với một kẻ phi xã hội (nhưng không nhất định là chống đối xã hội), một kẻ rụt rè, tự tin và không thể nói chuyện với các nạn nhân, đưa ra một lời nhận xét, lừa tiền, phỉnh phờ hay dụ dỗ họ làm điều hắn muốn. Những người đi bộ này đều có thể chất khỏe mạnh. Cách tấn công chớp nhoáng cho thấy rõ cách duy nhất hắn có thể kiểm soát nạn nhân hắn nhắm tới là làm cô ấy bị thương nặng trước khi cô ấy có thể phản ứng.

Đây không phải tội ác của một kẻ biết các nạn nhân của mình. Nơi xảy ra vụ việc đều vắng vẻ và không thể nhìn thấy, nghĩa là về cơ bản, kẻ sát nhân có đủ thời gian để thực hiện ảo tưởng của hắn với từng nạn nhân nhưng hắn vẫn cảm thấy cần tấn công chớp nhoáng. Không cưỡng bức, chỉ động chạm thi thể sau khi chết; thủ dâm, có thể, nhưng không quan hệ. Các nạn nhân đa dạng về độ tuổi và tình trạng thể chất, không giống nạn nhân của một kẻ sát nhân tinh tế, dẻo miệng như Ted Bundy đa số thuộc cùng một kiểu: xinh xắn, độ tuổi sinh viên, tóc dài, màu tối, rẽ ngôi giữa. Sát nhân đường mòn trên núi không ưu ái một kiểu nào, như một con nhện chờ một con bọ bay vào mạng tơ của mình. Tôi nói với nhóm điều tra viên được tập hợp tại đây rằng tôi suy đoán hắn có quá khứ bất hảo. Tôi đồng ý với Đại úy Gaddini rằng hắn từng ngồi tù. Các tội danh trước đây có thể là cưỡng bức, hoặc khả năng cao hơn là dự định cưỡng bức, nhưng chưa từng giết người trước loạt án lần này. Sẽ có một yếu tố gây căng thẳng đột ngột khác trước khi sự việc bắt đầu. Tôi chắc chắn hắn là người da trắng vì tất cả nạn nhân đều là người da trắng, và tôi nghĩ hắn làm thợ cơ khí hoặc công việc gì đó trong ngành công nghiệp. Vì hiệu suất của các vụ giết người và việc hắn thành công tránh được cảnh sát cho đến nay, tôi khẳng định độ tuổi của hắn rơi vào khoảng 30-35. Tôi cũng cho rằng hắn khá thông minh. Nếu họ từng kiểm tra chỉ số IQ của hắn, kết quả sẽ là hơn hẳn trung bình. Và nếu họ nhìn vào quá khứ của hắn, sẽ thấy hiện tượng tè dầm, phóng hỏa và ngược đãi động vật, hay ít nhất là hai trong ba điều này.

“Còn một điều nữa”, tôi nói thêm sau một khoảng im lặng để nhấn mạnh, “kẻ sát nhân bị tật nói lắp.

Không khó để hiểu biểu cảm hoặc ngôn ngữ cơ thể của mọi người trong phòng. Cuối cùng họ cũng thể hiện điều mà có lẽ họ đã nghĩ từ đầu: Thằng cha này tào lao!

“Cái gì khiến anh nói vậy?” Một cảnh sát mỉa mai. “Anh thấy các vết thương giống như một cú đâm lắp bắp hay sao?” Anh ta cười trước “khám phá” của bản thân về một phương thức giết người mới.

Không, tôi giải thích, đó là sự kết hợp giữa lập luận quy nạp và diễn dịch, sau khi cân nhắc mọi yếu tố khác trong các vụ án; tất cả những yếu tố mà tôi đã xem qua. Những địa điểm hoang vắng mà hắn sẽ không chạm mặt bất kỳ ai khác, thực tế rằng không có nạn nhân nào được tiếp cận trong đám đông hay bị lừa đi theo hắn, thực tế rằng hắn cảm thấy hắn phải dựa vào cách tấn công chớp nhoáng kể cả khi ở một nơi không ai biết - mọi chi tiết này cho tôi biết chúng tôi đang đối đầu với kẻ mắc tật gì đó khiến hắn cảm thấy bối rối hoặc xấu hổ. Áp đảo một nạn nhân trong tâm thế không nghi ngờ và có thể thống trị, kiểm soát họ là cách để hắn chế ngự khuyết tật của mình.

Có thể là một loại bệnh hoặc tật khác, tôi thừa nhận. Ở khía cạnh tâm lý học hoặc hành vi học, người đó có thể không sở hữu ngoại hình đẹp, có sẹo mụn xấu xí, bị bại liệt, thiếu chi, bất cứ bệnh tật nào tương tự. Nhưng với kiểu tấn công như chúng ta đã thấy, có thể loại trừ việc thiếu chi hay bất cứ bệnh nào khiến việc đi lại gặp khó khăn nghiêm trọng. Và với nhiều nhân chứng cùng mọi người trong công viên ở thời điểm xảy ra án mạng, hẳn chúng ta phải nghe tin về ai đó có ngoại hình biến dạng rõ ràng như vậy. Mặt khác, tật nói lắp khiến Đối tượng vô danh dễ cảm thấy xấu hổ hoặc khó chịu đến mức có thể hạn chế những mối quan hệ xã hội bình thường của hắn, nhưng lại không “nổi bật” trong đám đông. Không ai biết hắn nói lắp cho đến khi hắn lên tiếng.

Đưa ra định hướng kiểu này cho một phòng toàn những cảnh sát kỳ cựu với sự liều lĩnh và tình trạng báo chí cũng như người dân đang giám sát họ chặt chẽ quả là một tình huống đầy cam go, kiểu tình huống mà tôi thích tạo ra cho những ai mà tôi đang thẩm vấn nhưng không muốn bản thân vướng vào. Dù không thể hoàn toàn tránh khỏi. Tôi sẽ luôn bị ám ảnh bởi suy nghĩ rằng một thanh tra trong căn phòng đó dõng dạc chất vấn mình:

“Nếu anh suy luận sai thì sao, Douglas?”

“Tôi có thể sai ở một số điểm”, tôi thừa nhận chân thành nhất có thể. “Tôi có thể sai về độ tuổi. Tôi có thể sai về nghề nghiệp hoặc chỉ số IQ. Nhưng tôi chắc chắn không sai về chủng tộc hay giới tính, và tôi sẽ không sai khi phán đoán hắn là một người thuộc tầng lớp công nhân. Và trong trường hợp cụ thể này, tôi sẽ không sai về việc hắn có một khiếm khuyết nào đó thực sự khiến hắn khó chịu. Có thể không phải tật nói lắp, nhưng tôi nghĩ chính là nó”

Khi kết thúc phần trình bày, tôi không biết mình đã gây ra tác động như thế nào hay bất cứ lời nào tôi nói có thấm vào đầu họ hay không. Nhưng sau đó có một cảnh sát đến gặp tôi và nói: “Tôi không biết anh đúng hay sai, John, nhưng ít nhất anh cũng cho cuộc điều tra một phương hướng để tiến hành”. Sự chia sẻ ấy lúc nào cũng tốt, tuy tôi thường nín thở đến tận khi thấy kết quả sau cùng của cuộc điều tra. Tôi trở về Quantico, còn Văn phòng Quận trưởng Khu Vịnh và phòng cảnh sát phối hợp, bắt đầu công việc của họ.

Ngày 29 tháng Ba, kẻ sát nhân lại ra tay, lần này hắn bắn một cặp đôi trẻ ở công viên Henry Cowell Redwoods của bang gần Santa Cruz. Khi hắn nói với Ellen Marie Hansen, hai mươi tuổi, sinh viên năm hai tại Đại học California Davis, rằng hắn sẽ cưỡng bức cô, cô gái đã phản kháng, thế là hắn bóp cò khẩu súng lục ổ xoay 38 ly, giết cô ấy ngay lập tức và gây thương tích nghiêm trọng cho Steven Haertle, người bị hắn bỏ mặc tới chết. Nhưng Haertle có thể cung cấp một bản mô tả sơ bộ về một người đàn ông có hàm răng vàng, khấp khểnh. Cảnh sát kết hợp lời khai này với lời của các nhân chứng khác, đồng thời có thể liên hệ với một chiếc xe nước ngoài, mẫu mã mới, màu đỏ, có thể là Fiat, nhưng mô tả này cũng khác biệt đáng kể so với những mô tả trước. Haertle nghĩ đối tượng khoảng năm mươi, sáu mươi tuổi và bị hói. Nghiên cứu đạn đạo liên hệ lần nổ súng này với những vụ sát nhân đường mòn trên núi trước đó.

Ngày 1 tháng Năm, Heather Roxanne Scaggs xinh đẹp, tóc vàng, hai mươi tuổi mất tích. Cô ấy là sinh viên ở một trường dạy nghề in ấn ở San Jose, bạn trai, mẹ và bạn cùng phòng đều nói cô ấy ra ngoài với một giảng viên mỹ thuật công nghiệp của trường, David Carpenter, người giúp cô ấy mua một chiếc xe từ bạn của ông này. Carpenter năm mươi tuổi, một điểm bất thường đối với loại tội phạm này.

Từ đó, mọi thứ bắt đầu vào đúng vị trí và tấm lưới bắt đầu cất lên. Carpenter lái một chiếc Fiat màu đỏ có ống pô bị móp. Chi tiết cuối cùng này là thông tin mà trước đây cảnh sát chưa tiết lộ.

David Carpenter lẽ ra đã bị chỉ chứng và bắt giữ trước đó. Sự thật là hắn vô cùng may mắn và cũng liên quan đến nhiều khu vực khác nhau nên việc truy lùng trở nên phức tạp. Hắn có tiền sự ngồi nhà giam vì các tội liên quan đến tình dục. Mỉa mai ở chỗ, lý do hắn không xuất hiện trong hồ sơ tù nhân phạm tội liên quan đến tình dục được phóng thích có điều kiện của bang là vì hắn đã được California phóng thích để chịu một án khác của liên bang. Vì vậy, dù đang ở bên ngoài nhưng về mặt lý thuyết, hắn vẫn đang bị liên bang giam giữ. Thế là hắn lọt qua các kẽ hở. Một điều trớ trêu khác là Carpenter và nạn nhân thứ hai của hắn, Barbara Schwartz - hiện trường vụ án của người này xuất hiện cặp kính của hắn - lại được đo thị lực bởi cùng một người. Đáng tiếc người này đã không thấy tờ rơi mà văn phòng quận trưởng phát ra.

Các nhân chứng khác dần lộ diện, trong đó có một cụ bà nhận ra bức chân dung trên truyền hình và bảo rằng hắn từng là khách đi trên con thuyền mà bà và các con từng lên để đến Nhật hai mươi năm trước. Gã đàn ông khiến bà “sởn tóc gáy” vì hắn liên tục nhìn đứa con gái nhỏ của bà một cách kỳ quặc.

Peter Berest, quản lý chi nhánh công ty Tiết kiệm và Vay Lục địa Glen Park ở thành phố Daly, nhắc lại việc giao dịch viên bán thời gian xinh xắn, nhạy cảm, đáng tin của mình, nữ sinh trung học Anna Kelly Menjivar mất tích vào cuối tháng Mười hai năm ngoái. Tuy trước đây cô gái này không được liên hệ với các vụ sát nhân đường mòn trên núi, nhưng thi thể cô cũng được phát hiện ở công viên núi Tamalpais. Berest nhớ Anna rất thân thiện, dễ thương với vị khách quen có tật nói lắp nặng mà sau đó Berest biết ông ta đã bị bắt vào năm 1960 vì tấn công một phụ nữ trẻ ở Presidio, căn cứ Lục quân ở mũi phía bắc San Francisco.

Cảnh sát San Jose và FBI đưa Carpenter vào danh sách giám sát và cuối cùng bắt giữ hắn. Hóa ra hắn là sản phẩm của một bà mẹ độc đoán và bạo hành thể xác với ít nhất một người cha bạo hành tinh thần, là một đứa trẻ có trí thông minh trên mức trung bình, liên tục bị chế nhạo vì tật nói lắp nghiêm trọng. Tuổi thơ của hắn cũng được đánh dấu bằng tật tè dầm kinh niên và thói ngược đãi động vật. Khi trưởng thành, cơn giận và sự tuyệt vọng của hắn trở thành những trận cuồng nộ bạo lực, khó lường và dục vọng dường như không thể dập tắt.

Tội ác đầu tiên khiến hắn bị bắt và phải ngồi tù, vụ tấn công một phụ nữ bằng dao và búa ở công viên Presidio, xảy ra sau sự chào đời của một đứa bé từ một cuộc hôn nhân vốn đã rạn nứt. Trong lúc bị tấn công dã man và chóng vánh trước đó, nạn nhân cho hay, tật nói lắp nghiêm trọng của hắn không còn.

Từ năm 1978, vì những yêu cầu đến từ học viên tốt nghiệp Học viện Quốc gia, Giám đốc FBI William Webster đã chính thức chấp thuận cho các giảng viên chuyên ngành Khoa học hành vi cung cấp dịch vụ cố vấn mô tả nhân dạng theo tâm lý học. Đến đầu những năm 1980, dịch vụ này đã được rất nhiều người biết đến. Tôi tham gia tư vấn toàn thời gian cho các vụ án, và những giảng viên như Bob Ressler và Roy Hazelwood nhận cố vấn khi nào nhiệm vụ giảng dạy cho phép. Nhưng dù chúng tôi cảm thấy hài lòng với những gì mình đang làm và kết quả mà chúng tôi cho rằng mình đang đạt được, không ai ở tổng bộ chắc chắn đây có phải là cách sử dụng hiệu quả nguồn lực và nhân lực của Cục hay không. Thế là vào năm 1981, Đơn vị Nghiên cứu và phát triển học viện của FBI - bấy giờ chịu sự quản lý của Howard Teten, người vừa chuyển từ Đơn vị Khoa học hành vi sang - thực hiện nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về chi phí - lợi ích của cái đang được gọi đơn giản là Chương trình Mô tả nhân dạng theo tâm lý học. Những lần cố vấn không chính thức của Teten đã khởi đầu cho chương trình này một cách gần như ngẫu nhiên và anh ấy rất muốn xem chương trình có thực sự hiệu quả và tổng bộ có nên tiếp tục nó hay không.

Một bảng câu hỏi trắc nghiệm được soạn ra và gửi đến các khách hàng - viên chức và thanh tra ở bất kỳ cơ quan hành pháp nào từng sử dụng dịch vụ mô tả nhân dạng của chúng tôi. Những cơ quan này gồm phòng và sở cảnh sát của các thành phố, quận và bang, các văn phòng quận trưởng, các văn phòng thực địa của FBI, cảnh sát tuần tra đường bộ, và những cơ quan điều tra tiểu bang. Dù đa số yêu cầu có liên quan đến các cuộc điều tra án giết người nhưng Đơn vị nghiên cứu và phát triển cũng thu thập dữ liệu của những lần cố vấn về tội phạm cưỡng bức, bắt cóc, tống tiền, đe dọa, sàm sỡ trẻ em, bắt cóc con tin, tử vong do tai nạn và quyết định tự vẫn.

Mô tả nhân dạng vẫn còn là một khái niệm mơ hồ và khó đánh giá với nhiều người trong Cục. Họ cho đó là phép phù thủy hoặc ma thuật hắc ám, một số người thì nghĩ nó như công việc bày biện quần áo để trang trí cửa hàng. Vì vậy, chúng tôi biết rằng nếu cuộc nghiên cứu không cho thấy những thành công rõ ràng, xác minh được, mọi công việc không thuộc khía cạnh giảng dạy của Đơn vị Khoa học hành vi có thể không được thực hiện.

Bởi thế mà chúng tôi vừa hài lòng vừa nhẹ nhõm khi có kết quả phân tích vào tháng Mười hai năm 1981. Các điều tra viên từ khắp cả nước đều nhiệt tình ủng hộ chúng tôi, thôi thúc chương trình tiếp tục. Đoạn cuối của bức thư trong TED TH báo cáo tóm tắt như sau:

Kết quả đánh giá cho thấy chương trình thực sự thành công hơn những gì chúng tôi biết. Đơn vị Khoa học hành vi phải được tuyên dương vì công việc tuyệt vời của họ.

Các thanh tra đều đồng ý rằng khía cạnh mà công việc của chúng tôi mang lại lợi ích nhiều nhất là thu hẹp danh sách nghi phạm và hướng việc điều tra vào một mục tiêu chính xác hơn. Ví dụ như vụ sát hại Francine Elveson dã man và vô cảm gây kinh sợ ở thành phố Bronx vào tháng Mười năm 1979, không xa một số nơi David Berkowitz hay lui tới. Thực ra, phòng cảnh sát New York từng lo ngại những kẻ tôn sùng Con trai của Sam có thể đang lấy cảm hứng từ vị anh hùng của chúng. Chúng tôi đưa vụ án này vào giảng dạy tại Quantico vì nó là hình mẫu thích hợp cho cách chúng tôi lập một bản mô tả và cách cảnh sát dùng nó để đẩy mạnh điều tra một vụ giết người bế tắc đã lâu chưa thể phá giải.

Francine Elveson, hai mươi sáu tuổi, là giáo viên dạy học cho trẻ em khuyết tật ở một nhà trẻ trong khu vực. Với cân nặng 40kg và cao chưa tới 1m52, cô ấy mang lại sự thấu hiểu và nhạy cảm hiếm thấy cho học sinh của mình vì bản thân cô ấy cũng khuyết tật nhẹ với chứng vẹo cột sống. Rụt rè và không quá hướng ngoại, cô ấy sống với bố mẹ trong khu chung cư Pelham Parkway.

Hôm đó, cô ấy cũng đi làm như bình thường vào 6:30 sáng. Khoảng 8:20, một cậu bé mười lăm tuổi, cũng sống trong khu chung cư, nhặt được ví của cô ấy ở cầu thang giữa tầng ba và bốn. Cậu bé không có thời gian làm gì với chiếc ví vì phải đến trường đúng giờ nên giữ nó đến khi về nhà ăn trưa, rồi đưa cho bố. Người bố sang căn hộ nhà Elveson vào khoảng ba giờ chiều để trả ví cho mẹ Francine, bà ấy gọi đến nhà trẻ để báo cho Francine biết đã tìm được ví của cô. Bà Elveson được thông báo là hôm đó con gái bà không đến trường. Lập tức cảm thấy bất an, bà cùng một cô con gái khác và một người hàng xóm bắt đầu tìm kiếm trong chung cư.

Ở chiếu nghỉ đầu cầu thang dẫn lên mái chung cư, họ nhìn thấy một cảnh tượng khủng khiếp quá sức chịu đựng. Cơ thể khỏa thân của Francine bị đánh đập dã man với những chấn thương kín, nghiêm trọng đến mức sau đó chuyên viên pháp y phát hiện hàm, mũi, má của cô ấy đã bị nứt và răng bị lung lay. Tay chân cô ấy bị dạng ra, cổ tay và mắt cá bị cột bằng chính thắt lưng và vớ chân của cô ấy, nhưng chuyên viên pháp y xác định cô ấy đã chết trước khi bị trói. Hai nhũ hoa của cô bị cắt ra sau khi chết và đặt trên ngực cô. Đầu cô bị quần lót trùm kín, có dấu răng trên hai đùi và đầu gối. Có nhiều vết cắt trên cơ thể, tất cả đều nông, cho thấy hung thủ dùng một con dao bỏ túi nhỏ. Chiếc dù và cây viết của nạn nhân bị nhét vào trong cửa mình của cô, chiếc lược thì đặt vào giữa phần lông phía trên. Đôi hoa tại của cô nằm trên mặt đất, đối xứng ở hai bên đầu. Nguyên nhân tử vong được xác định là siết cổ, bằng quai túi xách của nạn nhân. Trên đùi cô, kẻ sát nhân viết nguệch ngoạc dòng chữ “Các người không thể ngăn tôi” và trên bụng cô, hắn viết “Lũ chó chết”, đều bằng cây viết bị nhét vào cửa mình của nạn nhân. Những điểm đáng lưu ý khác ở hiện trường là kẻ sát nhân đã đại tiện ngay cạnh thi thể và dùng quần áo của Francine che lại.

Một trong những điều bà Elveson nói với cảnh sát là mặt dây chuyền vàng chữ chai (trong tiếng Do Thái có ý nghĩa may mắn) đeo trên cổ Francine đã biến mất. Khi người mẹ mô tả hình dạng của cái mặt dây chuyền, các thanh tra nhận ra thi thể nạn nhân đã được đặt ở tư thế mô phỏng lại mặt dây. Có những vệt tinh dịch trên xác cô ấy, nhưng năm 1979 thì ngành khoa học pháp y chưa biết đến phương pháp chỉ dấu ADN. Không có vết thương do chống cự để lại trên bàn tay, không có các vệt máu hay mảnh da dưới móng tay, điều đó cho thấy không có sự phản kháng nào. Vật chứng pháp y hữu hình duy nhất là một sợi tóc của một người Mỹ gốc Phi được tìm thấy trên thi thể trong quá trình khám nghiệm.

Xem xét hiện trường và xác lập những chi tiết đã biết, các thanh tra xác định ban đầu Francine bị tấn công khi đang bước xuống cầu thang. Sau khi bị đánh bất tỉnh, cô được đưa lên chiếu nghỉ đầu cầu thang. Kết quả pháp y cho thấy cô không bị cưỡng hiếp. Vì tính chất khủng khiếp của nó, vụ án này đã thu hút sự chú ý của đông đảo người dân và phương tiện truyền thông.

Một đội cảnh sát đặc nhiệm gồm 26 thanh tra được thành lập, đã hỏi hơn 2000 người có khả năng là nhân chứng và nghi phạm, kiểm tra mọi tội phạm liên quan đến tình dục mà họ biết trong địa bàn thành phố New York. Nhưng sau một tháng, cuộc điều tra vẫn dậm chân tại chỗ.

Cho rằng cũng không có hại gì khi nghe thêm một ý kiến khác nên thanh tra Tom Foley và Trung úy Joe D’Amico của Cơ quan Nhà ở New York đã liên lạc với chúng tôi tại Quantico. Họ xuống chỗ chúng tôi, mang theo các hồ sơ và báo cáo, ảnh chụp hiện trường và kết quả khám nghiệm pháp y. Roy Hazelwood, Dick Ault, Tony Rider (người sau này trở thành tổ trưởng Đơn vị Khoa học hành vi) và tôi gặp họ trong phòng ăn lớn.

Sau khi xem qua tất cả chứng cứ và tài liệu của vụ án, cố gắng đặt mình vào vị trí của cả nạn nhân và kẻ tấn công, tôi đưa ra một bản mô tả. Tôi gợi ý cảnh sát hãy tìm một người đàn ông da trắng vẻ ngoài trung bình, độ tuổi 25-35, có thể là tròn ba mươi, ngoại hình luộm thuộm, thất nghiệp và chủ yếu sống vệ đêm, sống cùng bố mẹ hoặc họ hàng nữ lớn tuổi, cách khu chung cư khoảng 800m và không có mối quan hệ nào với phụ nữ, không có bạn bè thân thiết, đã bỏ học khi đang học trung học hoặc đại học, chưa từng tham gia quân ngũ, lòng tự trọng thấp, không có xe hay bằng lái xe, đang hoặc từng vào viện tâm thần, đang uống thuốc theo toa của bác sĩ, từng tử tự không thành bằng cách thắt cổ hoặc gây ngạt, không sử dụng ma túy hay nghiện rượu và có rất nhiều phim ảnh khiêu dâm thể loại khổ dâm và ác dâm. Đây là lần giết người đầu tiên của hắn, trên thực tế là tội ác nghiêm trọng đầu tiên của hắn, nhưng không phải lần cuối trừ phi hắn bị bắt.

“Các vị không cần tìm đâu xa xôi”, tôi nói với các điều tra viên. “Và các vị đã nói chuyện với hắn rồi” Họ hẳn là đã thẩm vấn hắn và người nhà hắn, vì họ sống trong khu vực này. Cảnh sát sẽ thấy hắn rất hợp tác, thậm chí thái quá. Có thể hắn còn tìm đến họ, cố tham gia vào cuộc điều tra để bảo đảm hướng điều tra không nhắm đến quá gần mình.

Với nhiều người chưa quen với kỹ thuật của chúng tôi, việc này cũng giống như trò ảo thuật. Nhưng nếu đã tìm hiểu một cách bài bản, mọi người có thể bắt đầu thấy làm sao chúng tôi đưa ra được những cảnh tượng và gợi ý của mình.

Đầu tiên chúng tôi xác định là tội ác này có tính ngẫu nhiên, một vụ việc tự phát. Bố mẹ Francine cho biết cô ấy đôi khi đi thang máy, đôi khi đi thang bộ. Không có cách nào đoán trước cô ấy thích đi lối nào vào một buổi sáng nào đó. Nếu kẻ giết người phục sẵn ở thang bộ, hắn có thể không gặp cô ấy và bất kỳ lúc nào cũng có thể gặp người khác trước khi thấy Francine.

Mọi thứ sử dụng trong vụ tấn công và trên thi thể nạn nhân đều là đồ của nạn nhân. Kẻ giết người không mang theo gì đến hiện trường, có lẽ ngoại trừ con dao bấm nhỏ. Hắn không có vũ khí hay dụng cụ dùng khi cưỡng bức. Hắn không bám theo cô ấy hoặc đến hiện trường với ý đồ phạm tội.

Điều này lại đưa chúng tôi đến kết luận tiếp theo. Nếu Đối tượng vô danh không đến khu chung cư với ý định thực hiện tội ác này, hắn nhất định phải đến đây vì lý do nào đó. Và vì hắn ở đó từ trước bảy giờ sáng và phải tình cờ gặp Francine trên cầu thang bộ nên nhất định hắn sống trong khu chung cư, làm việc hoặc biết khá rõ đường đi lối lại ở đó. Điều này cho thấy hắn có thể là một bưu tá, nhân viên công ty điện thoại hoặc Con Ed, nhưng tôi nghĩ điều này không khả thi vì chúng tôi không có nhân chứng nào, và một người ở trong tình huống đó sẽ không thể dành nhiều thời gian bên cạnh nạn nhân như thủ phạm. Sau đợt tấn công ban đầu ở cầu thang bộ, hắn biết hắn có thể đưa cô ấy lên chiếu nghỉ đầu cầu thang mà không sợ bị bắt gặp. Và cũng vì không có người nào trong chung cư thấy ai hay điều gì bất thường nên chắc chắn hắn là người quen ở đó. Francine không la hét hay chống cự nên có thể cô ấy biết hắn, ít nhất là biết mặt hắn, và không ai chú ý có kẻ lạ mặt hay hung hãn đi vào hoặc ra khỏi chung cư sáng hôm đó.

Vì tính chất liên quan đến tình dục của vụ tấn công, chúng tôi tự tin khẳng định mình đang đối đầu với một gã đàn ông ở độ tuổi của nạn nhân. Chúng tôi đưa ra độ tuổi 25-35, có thể là trạc ba mươi. Tôi sẵn sàng loại trừ cậu bé mười lăm tuổi đã nhặt được cái ví (cũng như người bố bốn mươi tuổi của cậu bé) chỉ dựa trên điểm này. Theo kinh nghiệm của mình, tôi không tưởng tượng được người ở độ tuổi đó có thể hành xử với thi thể theo cách này. Kể cả Monte Rissell, một kẻ cưỡng hiếp hàng loạt “hành nghề sớm” cũng không làm như thế. Ảo tưởng tình dục cấp độ này phải mất nhiều năm để hình thành. Hơn nữa, cậu bé mười lăm tuổi là người da màu.

Tuy khám nghiệm tử thi đã phát hiện sợi tóc của một người Mỹ gốc Phi, nhưng tôi tin chắc chúng tôi đang đối phó với một kẻ sát nhân da trắng. Rất hiếm khi chúng tôi thấy loại tội phạm này vượt qua ranh giới chủng tộc, nếu thực sự có, thường sẽ có những chứng cứ khác hỗ trợ. Vụ này không có chứng cứ nào khác và tôi hiếm khi, đó là trong trường hợp thực sự có, nhìn thấy lối hành xử bạo lực này ở một đối tượng da màu. Một nhân viên trông coi khu chung cư cũ, người màu, đã trả lại các chìa khóa của chung bị là một nghi phạm phù hợp, nhưng tôi không nghĩ đó là ông ấy vì sự cân nhắc về hành vi tôi vừa trình bày và vì một số người thuê chung cư hẳn sẽ chú ý tới ông ấy.

Tôi giải thích thế nào về sợi tóc liên hệ vụ án với một Đối tượng vô danh da màu? Cảnh sát muốn biết. Tôi không thể giải thích, và điều đó làm tôi cảm thấy không thoải mái, nhưng tôi vẫn bảo vệ ý kiến của mình.

Đây là một tội ác “nguy cơ cao” và một nạn nhân “nguy cơ thấp”. Cô ấy không có bạn trai, không phải gái làng chơi, không sử dụng ma túy hay là một bé gái xinh xắn ở một nơi quang đãng, cô ấy cũng không ở trong một khu vực nguy hiểm cách xa nhà. Khu chung cư có khoảng 50% người da màu, 40% người da trắng và 10% người Latinh. Không có báo cáo nào về những tội phạm tương tự ở đây hoặc đâu đó trong khu này. Bất cứ kẻ tấn công nào cũng có thể chọn một nơi “an toàn hơn” để thực hiện một tội ác tình dục. Việc này, kết hợp với việc thiếu sự chuẩn bị, cho thấy tên tội phạm có tư duy vô tổ chức.

Việc kết hợp với những yếu tố khác được thu thập cùng nhau đã cho tôi một bức tranh rõ ràng hơn về loại người đã giết Francine Elveson. Có sự tổn thương khá nghiêm trọng ở bộ phận sinh dục và tinh dịch trên thi thể, nhưng không có quan hệ. Đưa cây dù và cây viết vào cơ thể cô ấy là những hành động thay thế. Rõ ràng, người đàn ông trưởng thành mà chúng tôi đang tìm kiếm là một kẻ nhút nhát, không am hiểu về tình dục, và tự ti. Việc thủ dâm cho thấy hắn đang thực hiện một nghi thức nào đó mà hắn đã mơ tưởng khá lâu. Ảo tưởng tự thỏa mãn này được củng cố bằng những văn hóa phẩm về ác dâm và khổ dâm, một đặc điểm khác của một người đàn ông tự ti về khả năng tình dục. Nên nhớ, hắn trói nạn nhân lại sau khi cô ấy bất tỉnh hoặc đã chết. Việc hắn lựa chọn một nạn nhân nhỏ bé, thể chất yếu mà vẫn tấn công bất ngờ và vô hiệu hóa cô ấy nhanh chóng trước khi thực hiện những ảo tưởng bạo lực càng chứng minh suy nghĩ của tôi là đúng. Nếu hắn thực hiện những hành động thống dâm của mình trên một nạn nhân còn sống, còn tỉnh táo, đó sẽ là một câu chuyện khác khi nói đến tính cách của hắn. Nhưng như những gì đã xảy ra, có lẽ hắn gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì các mối quan hệ với phụ nữ. Nếu hắn từng hẹn hò, nhưng tôi nghi là không, hắn sẽ tìm những phụ nữ trẻ hơn nhiều mà có lẽ hắn có khả năng khống chế hoặc kiểm soát tốt hơn. Việc hắn lại vãng quanh chung cư khi những người khác như Francine đang đi làm cho tôi biết hắn không có công việc toàn thời gian nào. Nếu hắn có, đó chỉ là công việc bán thời gian, có thể là vào buổi tối, không được nhiều tiền.

Từ đó, tôi kết luận hắn không thể sống một mình. Không như nhiều kiểu sát nhân khôn ngoan, gã này không thể giấu điểm kỳ quái của mình trước mặt người khác, nghĩa là hắn không có nhiều bạn và không sống chung với ai đó. Có lẽ hắn là người sống về đêm và không quan tâm nhiều đến ngoại hình của mình. Vì hắn không sống với bạn bè và không đủ khả năng để có chỗ ở riêng, nhất định hắn phải sống với bố mẹ, hoặc tôi cảm thấy khả năng cao hơn là với bố hoặc mẹ, hoặc một người thân là nữ, lớn tuổi như chị gái hoặc cô, dì. Hắn không đủ tiền mua xe, nghĩa là hắn đi phương tiện công cộng hoặc đi bộ tới khu chung cư hoặc sống ngay gần đó. Tôi không nghĩ hắn đón xe buýt đến đó sớm như thế vào buổi sáng nên việc này cho thấy hắn sống trong chung cư hoặc trong vòng 800m quanh đó.

Ngoài ra, hắn còn bố trí nhiều vật thể mang tính nghi thức - đôi nhũ hoa bị cắt ra, đôi hoa tai, vị trí của thi thể. Loại ám ảnh giữa sự điên cuồng rối loạn này cho tôi biết con mồi của tôi có nhiều vấn đề sâu xa về tâm lý và tâm thần. Tôi tin hắn đang, hay ít nhất đã từng, phải uống thuốc gì đó. Việc đó và sự thật rằng tội ác này diễn ra vào sáng sớm cho thấy rượu bia không phải yếu tố ảnh hưởng đến hắn. Dù vấn đề tâm thần bất ổn hay rối loạn của hắn là gì, nó ngày càng nặng và những người xung quanh hắn đã chú ý tới. Những lần tự tử không thành trước đó, đặc biệt là bằng cách gây ngạt - cách mà hắn dùng để giết Francine - là một khả năng cao. Tôi cá hắn đã, hoặc vừa, ở trong viện tâm thần. Tôi loại trừ việc hắn có tham gia quân ngũ vì điều này và nghĩ hắn đã bỏ học từ thời trung học hoặc đại học với những tham vọng chưa đạt được. Tôi có lý do để tin chắc đây là lần giết người đầu tiên của hắn nhưng nếu hắn thoát được thì sẽ còn nhiều lần khác. Tôi không nghĩ hắn sẽ lại hành động ngay. Tội ác này đã đủ cho hắn thỏa mãn suốt nhiều tuần hay nhiều tháng. Nhưng cuối cùng, khi gặp tình huống thuận lợi và một nạn nhân ngẫu nhiên xuất hiện, hắn sẽ lại tấn công. Những thông điệp hắn để lại trên thi thể cho tôi biết điều đó.

Việc hắn đặt nạn nhân trong tư thế đầy hổ thẹn, mang tính nghi thức cho biết hắn không hề ăn về tội lỗi của mình. Nếu cơ thể cô được che lại, tôi có thể nghĩ việc mặt cô ấy bị trùm quần lót là một dấu hiệu cho thấy hắn cảm thấy có lỗi và muốn dành cho cô ấy chút danh dự, nhưng việc đó bị phủ định bằng sự phơi bày của cơ thể. Do đó, gương mặt bị che đi dường như là để hắn không phải giao tiếp với nạn nhân và làm nhục nạn nhân hơn là quan tâm.

Có một điều thú vị là hắn đã dùng quần áo của cô ấy để che đi đóng phân của mình. Nếu hắn đại tiện tại hiện trường và để nó lộ ra, có thể xem đó là một phần ảo tưởng của hắn hoặc là biểu hiện của sự căm ghét dành cho nạn nhân này hay phụ nữ nói chung. Nhưng việc hắn che nó lại cho thấy hắn đã ở đó lâu và không có nơi nào khác để đi, hoặc không thể nhịn thêm nữa, hoặc cả hai. Dựa trên kinh nghiệm trước đây, tôi nghĩ việc hắn không thể kiềm chế đại tiện tại hiện trường có thể là hệ quả của thuốc hắn dùng.

Sau khi nhận bản mô tả, cảnh sát trở lại với danh sách nghi phạm và các cuộc thẩm vấn. Họ chọn ra một kẻ có tiền án phạm tội tình dục, hiện đã kết hôn và có con. Đợt loại trừ ban đầu đã chọn ra hai mươi cái tên, và trong số đó có một kẻ nổi bật vì rất khớp với bản mô tả.

Tên hắn là Carmine Calabro. Một diễn viên da trắng, ba mươi tuổi, đang thất nghiệp, hắn sống với người bố góa vợ ở khu chung cư của nhà Elveson, cũng trên tầng bốn.

Hắn chưa kết hôn và nghe nói hắn gặp khó khăn trong việc duy trì các mối quan hệ với phụ nữ. Bỏ học từ thời phổ thông, hắn không có kinh nghiệm tham gia quân ngũ. Khi cảnh sát lục soát phòng hắn, họ tìm được một lượng lớn văn hóa phẩm khiêu dâm nặng đô. Đúng là hắn từng tự tử bất thành bằng cách treo cổ và tự làm ngạt - cả trước và sau khi giết Elveson.

Nhưng hắn có chứng cứ ngoại phạm. Như tôi dự đoán, cảnh sát đã thẩm vấn hắn như mọi người khác trong chung cư. Ông Calabro nói với họ rằng Carmine là bệnh nhân nội trú tại một bệnh viện tâm thần địa phương, đang điều trị chứng trầm cảm. Đây là lý do lúc trước cảnh sát loại hắn ra.

Nhưng có bản mô tả nhân dạng, họ lập tức lật lại điều tra hắn và nhanh chóng xác định an ninh ở bệnh viện kia vô cùng lỏng lẻo. Sau đó họ có thể kết luận Carmine đã rời bệnh viện mà không có giấy phép - hắn cứ thế bước ra ngoài - vào buổi chiều trước khi sát hại Francine Elveson.

Mười ba tháng sau vụ sát nhân, Carmine Calabro bị bắt và cảnh sát lấy dấu răng của hắn. Ba nha sĩ pháp y xác nhận răng của hắn khớp với các vết cắn trên cơ thể nạn nhân. Đây là bằng chứng quan trọng ở tòa, nhưng Calabro không nhận tội, cuối cùng hắn bị buộc tội giết người và phải chịu án tù chung thân, thụ án ít nhất hai mươi lăm năm trước khi có thể được phóng thích vì cải tạo tốt.

Nhân tiện, sợi tóc của người Mỹ gốc Phi kia hóa ra lại không hề liên quan đến vụ án. Văn phòng của chuyên viên pháp y đã điều tra cẩn thận theo quy trình và phát hiện cái túi đựng xác dùng để chuyển xác của Francine Elveson tới nhà xác đã được dùng cho một nạn nhân nam da màu trước đó và không được làm sạch đúng cách sau mỗi lần sử dụng. Nhưng điều này cho thấy bản thân chứng cứ pháp y cũng có thể sai và nếu nó không khớp với ấn tượng chung của điều tra viên về vụ án thì nên được xem xét cẩn thận trước khi được chấp nhận làm bằng chứng.

Chúng tôi rất hài lòng với vụ án này, càng hài lòng hơn khi nó giúp những người mà chúng tôi hợp tác ở New York, thuộc nhóm viên chức thi hành luật sắc sảo và tinh tế nhất trong ngành, tin tưởng chúng tôi. Trong bài báo hồi tháng Tư năm 1983 về chương trình mô tả nhân dạng trên tờ Tâm lý học ngày nay, Trung úy D’Amico đã nói: “Họ dự đoán về hắn chính xác đến mức tôi đã hỏi FBI sao họ không cho chúng tôi số điện thoại của hắn luôn”.

Sau khi bài báo đó xuất hiện, Calabro đã gửi thư cho chúng tôi từ Trại Cải tạo Clinton ở Dannemora, New York, dù tên hắn và Elveson chưa từng xuất hiện trong đó. Trong lá thư lan man với nhiều lỗi chính tả và ngữ pháp, hắn dành những lời khen cho FBI và Phòng Cảnh sát New York, nhắc lại là hắn vô tội, gom mình vào chung nhóm với David Berkowitz và George Metesky, Kẻ đánh bom điên rồ, rồi viết rằng: “Tôi không phủ nhận bản mô tả nhân dạng của anh dành cho kẻ sát nhân trong vụ này, trên thực tế, tôi tin anh đã đúng ở hai điểm.

Hắn tiếp tục hỏi xem chúng tôi có được thông báo về sự hiện diện của sợi tóc chứng cứ trên thi thể không, thứ mà hắn nghĩ có thể giải oan (đây là từ của tôi, không phải của hắn) cho hắn. Rồi hắn lại tò mò hỏi xem chúng tôi đưa ra bản mô tả khi nào và liệu chúng tôi đã có tất cả bằng chứng chưa. Nếu có thì hắn dự định sẽ để yên vụ này nhưng nếu chưa, hắn sẽ lại viết thư cho chúng tôi.

Tôi nghĩ lá thư này có thể là khởi đầu để chúng tôi đưa Calabro vào nghiên cứu của mình nên vào tháng Bảy năm 1983, Bill Hagmaier và Rosanne Russo, một trong những đặc vụ nữ đầu tiên của Đơn vị Khoa học hành vi, đến Clinton để thẩm vấn Calabro. Theo họ miêu tả, hắn hồi hộp nhưng lịch sự và hợp tác, như với cảnh sát. Hắn rất tập trung vào sự vô tội của mình và lần kháng cáo sắp tới, nói rằng hắn bị buộc tội oan vì chứng cứ dấu răng. Kết quả là hắn đã nhổ hết răng của mình để “họ không thể buộc tội tôi nữa” và tự hào khoe cái miệng trống trơn của hắn. Ngoài việc đó ra thì cuộc thẩm vấn hầu như chỉ lặp lại lá thư của hắn, tuy Hagmaier và Russo nói hắn có vẻ hứng thú với việc chúng tôi đang làm và không muốn họ ra về. Kể cả trong tù, hắn vẫn là kẻ cô độc.

Thâm tâm tôi chắc chắn Carmine Calabro bị rối loạn tâm lý rất nặng. Không có gì về vụ án của hắn, quá khứ của hắn hay việc chúng tôi giao tiếp với hắn cho thấy hắn bình thường. Đồng thời, tôi vẫn tin rằng, như đa số kẻ bị rối loạn, hắn phân biệt được đúng sai. Có những ảo tưởng lạ lùng và nguy hiểm này thì không sai. Nhưng cố ý lựa chọn hành động theo những ảo tưởng đó để hại người thì chắc chắn sai.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.