Kẻ Săn Suy Nghĩ

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 03
Đặt Cược Vào Những Hạt Mưa

❊ ❊ ❊

Nhiều người nộp đơn, vài người được chọn.

Đó là thông điệp chúng tôi nghe đi nghe lại khi là những tân binh. Gần như mọi người có hứng thú với sự nghiệp thi hành luật pháp đều tha thiết muốn trở thành một đặc vụ của Cục Điều tra Liên bang Mỹ, nhưng chỉ những người giỏi nhất mới hy vọng có được cơ hội đó. Di sản lâu năm và đầy tự hào của Cục khởi nguồn từ năm 1924 khi một luật sư vô danh của Chính phủ tên là John Edgar Hoover tiếp quản một cơ quan thối nát, thiếu tiền viện trợ và quản lý tệ hại. Cũng chính ngài Hoover này - đã bảy mươi lăm tuổi lúc tôi gia nhập Cục - vẫn điều hành cơ quan giờ đã trở thành tổ chức được kính trọng hết mực này và chỉ huy với phong thái mạnh mẽ, kiên cường. Vì vậy, tốt nhất là chúng tôi đừng làm Cục thất vọng.

Một bức điện tín từ ngài giám đốc hướng dẫn tôi hãy đến trình diện tại phòng 625 trong tòa nhà bưu điện cũ trên đại lộ Pennsylvania ở Washington lúc 9 giờ sáng ngày 14 tháng Mười hai năm 1970, để bắt đầu mười bốn tuần huấn luyện sẽ biến tôi từ một công dân bình thường thành một đặc vụ của FBI. Trước sự kiện này, tôi về nhà ở Long Island, bố tôi tự hào đến mức treo một lá quốc kỳ trước nhà. Với những hoạt động của tôi mấy năm qua, tôi không có bộ quần áo thường dân nào ra hồn nên bố đã mua cho tôi ba bộ vest tối màu gồm màu xanh, đen và nâu, mấy cái áo sơ mi trắng và hai đôi giày da, một đôi màu đen, một đôi màu nâu. Rồi bố chở tôi xuống Washington để bảo đảm tôi đến đúng giờ trong ngày đầu tiên đi làm.

Không mất nhiều thời gian để quen với những quy định và truyền thống của FBI. Đặc vụ thực hiện buổi lễ nhậm chức của chúng tôi bảo chúng tôi lấy phù hiệu ra nhìn khi đọc lời thề với Cục. Chúng tôi đồng loạt cất lời, nhìn vào người phụ nữ đeo băng che mắt đang cầm chiếc cân công lý khi long trọng tuyên thệ sẽ hỗ trợ và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ trước mọi kẻ thù, trong và ngoài. “Nâng phù hiệu lên gần hơn! Gần hơn nữa!” Người đặc vụ ra lệnh, đến khi chúng tôi đều nhìn phù hiệu đến lé mắt.

Lớp tân binh của tôi toàn là người da trắng. Năm 1970, rất ít đặc vụ FBI là người da màu và không có phụ nữ. Tình trạng này không thực sự được cải thiện cho đến sau thời gian điều hành dài dằng dặc của Hoover, và thậm chí sau khi qua đời, ông ấy vẫn tiếp tục toát ra sức ảnh hưởng âm thầm và mạnh mẽ. Đa số mọi người đều trong độ tuổi 29-35 nên tôi là một trong những người trẻ nhất khi mới hai lăm tuổi.

Chúng tôi được tuyên truyền là phải canh chừng các điệp viên Xô Viết, họ sẽ muốn thỏa hiệp với chúng tôi và moi móc các bí mật của chúng tôi. Chúng tôi được nhắc nhở phải đặc biệt cẩn thận với phụ nữ! Công tác tẩy não này hiệu quả đến mức tôi đã từ chối cuộc hẹn với một phụ nữ vô cùng xinh đẹp, làm việc trong tòa nhà, người đã mời tôi đi ăn tối. Tôi sợ đó là một sự dàn xếp và tôi đang bị thử thách.

Học viện FBI ở căn cứ Hải quân tại Quantico, Virginia chưa được hoàn thiện và đi vào hoạt động nên chúng tôi luyện bắn súng và thể chất ở đó và học lý thuyết trong tòa nhà bưu điện cũ ở Washington.

Một trong những điều đầu tiên mà các tân binh được dạy là một nhân viên FBI chỉ bắn để giết. Tư duy nền tảng của nguyên tắc này vừa nghiêm ngặt vừa hợp lý: Nếu anh rút vũ khí ra, tức là anh đã quyết định bắn. Và nếu anh quyết định tình huống đủ nghiêm trọng để bắn, tức là anh quyết định nó đủ nghiêm trọng để lấy mạng một người. Trong tình huống nước sôi lửa bỏng đó, anh hiếm khi có cơ hội lên kế hoạch cho phát súng hay rèn luyện trí óc và ý định bắn chỉ để ngăn chặn một đối tượng hoặc khiến hắn ngã xuống là quá liều lĩnh. Anh không được liều lĩnh một cách không cần thiết vì bản thân hay một người có khả năng trở thành nạn nhân.

Chúng tôi được huấn luyện nghiêm khắc không kém về luật hình sự, phân tích dấu vân tay, tội phạm bạo lực và tội phạm kinh tế, kỹ thuật bắt giữ người, sử dụng vũ khí, chiến đấu tay đôi và lịch sử về vai trò của Cục trong việc thi hành luật quốc gia. Nhưng một trong những bài mà tôi nhớ nhất đến tương đối sớm trong quá trình học tập. Chúng tôi đều gọi bài đó là “luyện nói bậy”.

“Đóng cửa chưa?” Giáo viên hướng dẫn hỏi. Sau đó ông ấy phát cho chúng tôi một danh sách. “Tôi muốn các anh học những từ này. Theo tôi nhớ thì danh sách đó gồm toàn tinh hoa trong ngôn ngữ Anglo-Saxon như cứt, quan hệ, khẩu giao cho nữ, khẩu giao cho nam, âm đạo và dương vật. Việc chúng tôi phải làm là ghi nhớ những từ này để nếu chúng được nói ra ở thực địa - chẳng hạn như trong lúc thẩm vấn một nghi phạm - chúng tôi sẽ biết phải làm gì. Và chúng tôi phải bảo đảm bất cứ báo cáo nào có chứa bất kỳ từ nào trong số này được nộp cho “chuyên viên xử lý các trường hợp khiêu dâm” - tôi không đùa đâu - thay vì thư ký bình thường. Chuyên viên này theo truyền thống là một phụ nữ lớn tuổi, trưởng thành và dày dạn hơn, có thể chịu được cú sốc khi thấy những từ và cụm từ này. Phải nhớ rằng, trong khoảng thời gian này, nơi đây toàn là đàn ông, và trong năm 1970, tính mẫn cảm của quốc gia hơi khác so với ngày nay, ít nhất là trong Cục Điều tra Liên bang của Hoover. Chúng tôi thật sự phải làm bài kiểm tra chính tả về những từ này, sau đó bài làm được thu lại và - tôi đoán - chấm điểm trước khi bị đốt hết trong thùng rác bằng kim loại.

Bất chấp sự ngớ ngẩn này, tất cả chúng tôi đều tin tưởng tuyệt đối vào việc đấu tranh với tội phạm, và đều nghĩ mình có thể tạo ra khác biệt. Sau khoảng phân nửa thời gian huấn luyện tân binh, tôi được gọi vào văn phòng của Phó Giám đốc huấn luyện, Joe Casper, một trong những trung úy đáng tin cậy của Hoover. Mọi người trong Cục gọi ông là Con ma thân thiện, nhưng biệt danh này rõ ràng được dùng theo kiểu mỉa mai hơn là yêu mến. Casper bảo rằng tôi làm rất tốt trong hầu hết các lĩnh vực, nhưng lại dưới mức trung bình trong lĩnh vực “truyền tin”, phương pháp và thuật ngữ mà qua đó các bộ phận khác nhau của tổ chức truyền tin cho nhau.

“Thưa ngài, tôi muốn là người giỏi nhất”, tôi đáp. Những anh chàng háo thắng như tôi lúc này được mô tả là có ngọn lửa xanh tỏa ra từ dưới mông. Điều này có thể giúp bạn thăng tiến nhưng cũng có thể biến bạn thành đối tượng bị để ý. Nếu một người tỏa lửa xanh thành công, anh ta sẽ vươn lên đỉnh thế giới. Nhưng nếu không thì thất bại đó sẽ kéo dài và rất nhiều người biết đến.

Có thể Casper nghiêm khắc nhưng ông ta không ngốc và đã thấy rất nhiều kẻ háo thắng trong sự nghiệp của mình. “Anh muốn làm người giỏi nhất à? Đây!” Nói rồi ông ta ném cho tôi toàn bộ tập sách về những thuật ngữ và bảo tôi phải thuộc hết khi trở lại Cục sau kỳ nghỉ Giáng sinh.

Chuck Lundsford, một trong hai cố vấn của Học viện ở lớp chúng tôi, biết chuyện và tìm gặp tôi. “Anh đã nói gì khi vào đó?” Anh ta hỏi. Tôi kể cho anh ta nghe. Chuck chỉ đảo mắt. Cả hai chúng tôi đều biết tôi đang gặp khó khăn.

Tôi về nhà bố mẹ trong các kỳ nghỉ. Khi cả nhà đang vui vẻ, tôi phải vùi đầu vào tập sách hướng dẫn các phương pháp truyền tin. Giáng sinh năm đó không giống một kỳ nghỉ chút nào.

Khi tôi trở lại Washington vào đầu tháng Một, vẫn lo lắng về hậu quả của sự háo thắng, tôi phải làm bài kiểm tra viết về những gì tôi đã học. Tôi không thể diễn tả được sự nhẹ nhõm khi cố vấn khác của chúng tôi, Charlie Price, nói rằng tôi đạt 99%. “Thật ra anh đạt 100%”, Charlie nói riêng với tôi, “nhưng ngài Hoover nói không có ai hoàn hảo.

Sau khoảng phân nửa thời gian trong chương trình mười bốn tuần, mỗi người chúng tôi được hỏi về nơi mình ưa thích cho nhiệm vụ văn phòng thực địa đầu tiên. Đa số các đặc vụ FBI được phân bổ vào 59 văn phòng thực địa trên khắp cả nước. Tôi cảm thấy có mùi thử thách trong việc lựa chọn này - một trận cờ lớn giữa những tân binh và bộ chỉ huy - và như mọi lần, tôi cố gắng suy nghĩ giống đối phương. Tôi đến từ New York và không mong muốn trở lại đó. Tôi đoán LA., San Francisco, Miami, có thể là Seattle và San Diego, sẽ là những nơi được chọn nhiều nhất. Vì thế, nếu tôi chọn một thành phố không thuộc hàng đầu, nhiều khả năng tôi sẽ được đưa đến nơi tôi chọn đầu tiên.

Tôi chọn Atlanta. Tôi được phân đi Detroit.

Khi tốt nghiệp, chúng tôi được phát giấy chứng nhận vĩnh viễn, một cây súng lục ổ xoay 38 ly Smith & Wesson Model 10, sáu viên đạn và lời hướng dẫn ra khỏi thành phố càng nhanh càng tốt. Tổng bộ rất sợ những đặc vụ non nớt sẽ gặp rắc rối ở Washington, ngay dưới mũi ngài Hoover, điều đó sẽ ảnh hưởng xấu đến mọi người.

Tôi nhận được một món đồ khác là cuốn sách nhỏ có tên Hướng dẫn sinh tồn ở Detroit. Đây là một trong những thành phố có sự phân cực chủng tộc cao nhất cả nước, vẫn hỗn loạn do hậu quả của những cuộc bạo động năm 1967 và có thể giành danh hiệu thủ đô tội phạm của cả nước với hơn 800 vụ giết người mỗi năm. Thực tế, trong văn phòng, chúng tôi đã có một trò chơi tàn nhẫn, cá cược xem đến cuối năm có chính xác bao nhiêu vụ giết người. Như hầu hết các đặc vụ mới khác, tôi bắt đầu công việc đầy phấn khởi và lòng tin nhưng nhanh chóng nhận ra mình phải đối mặt với cái gì. Tôi đã có bốn năm ở Không quân, nhưng vụ việc có thể coi là ẩu đả chỉ là tôi nằm trên giường trong bệnh viện ở căn cứ kế bên những cựu binh chiến tranh Việt Nam khi phẫu thuật mũi vì bị thương do chơi bóng bầu dục và quyền anh. Vì vậy, trước khi đến Detroit, tôi chưa từng ở vị trí bị xem là kẻ thù. FBI bị ghét ở rất nhiều nơi; họ thâm nhập vào khuôn viên các trường đại học và thành lập nhiều mạng lưới mật thám ở các đô thị. Với những chiếc xe hơi màu đen, chúng tôi là những người bị đánh dấu. Ở nhiều khu vực, người ta ném đá chúng tôi. Mấy con chó chăn cừu Đức và Doberman cũng không ưa gì chúng tôi. Chúng tôi được báo không nên đến một số khu vực trong thành phố mà không có viện trợ và vũ khí đầy đủ.

Cảnh sát địa phương cũng căm tức chúng tôi. Họ cáo buộc Cục đã hớt tay trên họ các vụ án, đưa ra các thông cáo báo chí khi một vụ án chưa hoàn tất, rồi thêm các vụ án do cảnh sát phát vào con số thống kê tỷ lệ phá án riêng của FBI. Éo le thay, trong năm đầu làm tân binh của tôi, năm 1971, khoảng 1000 đặc vụ mới được tuyển mộ, và phần lớn sự huấn luyện thực tế của chúng tôi không phải do Cục mà là nhờ các cảnh sát địa phương, họ đã che chở cho chúng tôi. Phần lớn thành công của các đặc vụ thuộc thế hệ của tôi chắc chắn là nhờ sự chuyên nghiệp và rộng lượng của các nhân viên cảnh sát trên khắp nước Mỹ.

Các vụ cướp ngân hàng đặc biệt phổ biến. Vào các ngày thứ Sáu, khi ngân hàng dự trữ tiền mặt để dành cho các ngày thanh toán, theo tính toán của chúng tôi, trung bình có từ hai đến ba vụ cướp có vũ khí, đôi khi lên đến năm vụ. Trước khi kính chống đạn được sử dụng rộng rãi trong các ngân hàng ở Detroit, tình trạng giao dịch viên bị giết và bị thương rất tồi tệ. Chúng tôi có một vụ án được ghi hình trên camera giám sát của ngân hàng, một người quản lý bị bắn và giết chết tại bàn làm việc, theo kiểu hành quyết, trong khi một cặp đôi ngồi đối diện người này, đang nộp đơn vay tiền, thì trông hoàn toàn vô vọng. Tên cướp không hài lòng khi người quản lý không thể mở két sắt hẹn giờ. Và nạn nhân không chỉ có các viên chức ngân hàng có thể tiếp cận số tiền hàng chục ngàn đô la. Ở một số khu vực nhất định, nhân viên ở những nơi như cửa hàng McDonald cũng gặp rủi ro tương tự.

Tôi được điều về Đơn vị Phản ứng Điều tra tội phạm, nghĩa là trên thực tế, phản ứng với những tội ác đã xảy ra, chẳng hạn như cướp ngân hàng hay tổng tiền. Trong đơn vị đó, tôi làm việc với Đội UFAP - Đội Ngăn chặn hành vi đi lại bất hợp pháp để tránh bị khởi tố. Công việc này hóa ra lại là trải nghiệm tuyệt vời vì đội này hành động rất nhiều. Ngoài chuyện cá cược số vụ giết người hằng năm trong văn phòng, chúng tôi còn có cuộc thi trong đơn vị xem ai có thể bắt nhiều tội phạm nhất trong một ngày. Tương tự cuộc thi mà những nhân viên bán xe hơi bày ra xem ai bán được nhiều nhất trong một khoảng thời gian quy định.

Một trong những công việc bận rộn nhất của chúng tôi vào giai đoạn đó được gọi là Phân loại 42: lính đào ngũ. Việt Nam chia thành hai miền và sau khi đa số binh lính đào ngũ vắng mặt, họ không muốn trở về theo cách tệ hại nhất. Chúng tôi có nhiều vụ tấn công nhân viên thi hành công vụ được đưa vào Phân loại 42 hơn bất kỳ loại hình tội phạm bỏ trốn nào.

Cuộc chạm trán đầu tiên với một UFAP diễn ra khi tôi truy tìm một lính bộ binh đào ngũ đến ga-ra sửa xe mà anh ta làm việc. Tôi báo danh tính và nghĩ rằng anh ta sẽ lặng lẽ bám theo tôi. Rồi đột nhiên, anh ta rút con dao tự chế với cán quấn băng keo đen để tấn công tôi. Tôi lùi lại, tránh được cú đâm. Tôi nhào về phía anh ta, ném anh ta vào cửa ga-ra bằng kính, đè anh ta xuống đất, đầu gối tì lên lưng và chĩa súng vào đầu anh ta. Trong khi đó, quản lý ga-ra la ó tôi vì đã bắt mất một người thợ giỏi. Mình đang dấn thân vào chuyện gì thế này? Đây có đúng là sự nghiệp mà mình đã hình dung? Có đáng liều mạng để kiếm tiền theo kiểu hạ lưu này? Ngành tâm lý học công nghiệp bỗng nhiên tốt đến lạ.

Việc truy lùng lính đào ngũ thường mang đến cảm xúc ngổn ngang và gây oán giận giữa quân đội và FBI. Đôi khi chúng tôi thực hiện một lệnh bắt, xác định vị trí đối tượng và bắt anh ta ngay trên đường. Giận điên người, anh ta ngăn chúng tôi lại, dùng khớp ngón tay gõ lên cái chân giả của mình và bảo chúng tôi rằng anh ta được trao huân chương Trái tim tím và Sao bạc vì cái chân giả đó ở miền nam Việt Nam. Có một điều cứ tái diễn là những người lính đào ngũ tự nguyện quay lại hoặc do Lục quân chọn thường xuyên được đưa sang Việt Nam như một hình phạt. đó, nhiều người trong số họ tạo dựng được danh tiếng trong chiến đấu nhưng quân đội không hề nói cho chúng tôi biết. Vì vậy, chúng tôi chỉ biết họ vẫn là lính đào ngũ. Điều này khiến chúng tôi vô cùng phẫn nộ.

Tệ hơn nữa là khi chúng tôi đến địa chỉ cư trú đã đăng ký và được vợ hoặc cha mẹ, những người mắt đẫm lệ và hoàn toàn có quyền tức giận, cho biết đối tượng đã hy sinh anh dũng. Chúng tôi đang truy lùng những người đã chết, bị giết trong quá trình chiến đấu, và quân đội chưa bao giờ thèm cho chúng tôi hay.

Dù bạn theo nghề gì thì khi đối mặt với thực tế, bạn bắt đầu nhận ra mọi chuyện lớn nhỏ mà người ta chưa từng dạy bạn trong trường hay lớp huấn luyện. Ví dụ như bạn làm gì với cây súng của mình trong nhiều trường hợp, chẳng hạn như khi sử dụng toa lét công cộng? Bạn vẫn giắt súng trên thắt lưng và để xuống sàn? Bạn cố gắng treo nó lên cửa buồng vệ sinh? Có một khoảng thời gian, tôi cố gắng để súng trên đùi, nhưng cách đó làm tôi vô cùng hồi hộp. Đó là điều mà mỗi chúng ta phải đối mặt nhưng lại không thể thoải mái thảo luận với những đồng nghiệp giàu kinh nghiệm hơn. Khi tôi đi làm được một tháng, việc này trở nên khó khăn.

Khi chuyển đến Detroit, tôi mua một chiếc Volkswagen Beetle khác, éo le thay kiểu xe đó lại trở thành phương tiện được những kẻ giết người hàng loạt lựa chọn. Ted Bundy có một chiếc và đó là một trong những thứ khiến hắn cuối cùng bị bại lộ thân phận. Dù sao đi nữa, tôi đã dừng xe ở một trung tâm mua sắm địa phương để vào cửa hàng trang phục nam mua một bộ vest. Biết mình sẽ mặc thử quần áo nên tôi cho rằng tốt nhất là để súng ở nơi nào đó an toàn. Tôi nhét nó vào ngăn đựng găng tay, rồi vào cửa hàng.

Thế này nhé, chiếc Volkswagen Beetle có một số đặc điểm thú vị. Vì nó là loại xe có động cơ nằm phía sau nên bánh xe sơ cua được cất trong cốp trước. Vì bấy giờ, đâu đâu cũng có kiểu xe này - chưa kể nó rất dễ đột nhập nữa - nên bánh xe sơ cua rất hay bị trộm. Nói cho cùng, ai cũng cần một cái bánh xe sơ cua. Nhưng không kém phần quan trọng, cốp trước được mở bằng một công tắc nằm trong ngăn đựng găng tay.

Tôi chắc chắn quý vị có thể đoán được đoạn cuối câu chuyện. Tôi trở ra xe và thấy cửa sổ bị vỡ. Khi tôi dựng lại vụ phạm tội cực kỳ tinh vi này, kẻ trộm bánh xe đột nhập, thò tay vào ngăn đựng găng tay để mở cốp trước lấy bánh xe, nhưng đã thấy một phần thưởng còn lớn hơn nhiều. Tôi suy luận theo hướng này vì súng của tôi đã mất nhưng bánh xe còn nguyên.

“Chết tiệt!” Tôi tự nhủ. “Mình mới đi làm chưa tới ba mươi ngày mà chưa gì đã cung cấp vũ khí cho kẻ thù rồi!” Và tôi biết làm mất súng hoặc giấy chứng nhận đồng nghĩa với việc bị khiển trách. Thế là tôi đến gặp người giám sát của mình, Bob Fitzpatrick. Fitzpatrick là một người vạm vỡ, giống như một người cha. Ông ấy ăn mặc bảnh bao và giống một huyền thoại sống trong Cục. Ông ấy biết tôi đang gặp nguy và cảm thấy khốn khổ thế nào. Vụ mất súng phải được báo cáo cho Văn phòng Giám đốc, đúng là không còn gì bằng vì đó sẽ là vết đen đầu tiên trong hồ sơ nhân viên của tôi. Ông ấy nói chúng tôi phải nghĩ ra cái gì đó thật sáng tạo, xoay quanh chuyện tôi vô cùng lo lắng về việc giữ bình yên nơi công cộng nên không muốn liều lĩnh khiến bất cứ ai trong cửa hàng cảnh giác nếu họ đột nhiên thấy một cây súng và nghĩ họ đang bị cướp. Fitzpatrick cam đoan rằng tôi không được cân nhắc đề bạt trong vài năm tới nên thư khiển trách không ảnh hưởng đến tôi miễn là từ giờ tôi không làm gì sai nữa.

Tôi cố gắng làm thế, nhưng khẩu súng đó ám ảnh tôi suốt một thời gian dài. Khẩu Smith & Wesson Model 10 mà tôi trả lại cho kho vũ khí Quantico gần hai mươi lăm năm sau khi tôi nghỉ hưu thực ra là khẩu súng thay thế cho vũ khí ban đầu của tôi. Ơn trời là khẩu súng đầu tiên chưa bao giờ xuất hiện trong một vụ án nào. Thực ra, về cơ bản là nó đã biến mất.

Tôi sống cùng hai đặc vụ khác cũng độc thân là Bob McGonigel và Jack Kunst trong một căn nhà phố có sẵn nội thất ở thành phố Taylor, bang Michigan, một vùng ngoại ô phía nam Detroit. Chúng tôi là bạn tốt của nhau, sau này Bob là phù rể trong đám cưới của tôi. Anh ấy cũng là một gã kỳ quặc. Anh ấy hay mặc vest nhung và áo sơ mi màu tím oải hương, kể cả trong những cuộc điều tra. Có vẻ như anh ấy là người duy nhất trong toàn Cục không sợ Hoover. Sau này, Bob làm công việc tay trong, khi đó cậu chàng không phải mặc vest nữa.

Anh ấy bắt đầu công việc ở Cục với vai trò thư ký, đi theo “đường trong” để trở thành một đặc vụ. Một số người giỏi nhất ở FBI bắt đầu với công việc thư ký, trong đó có một số người tôi chọn vào Đơn vị Hỗ trợ điều tra. Nhưng trong một số nhóm nhất định, những người từng làm thư ký lại bị ghét, như thể họ được đặc biệt ưu ái để trở thành đặc vụ.

Bob là người giỏi nhất về lĩnh vực cuộc gọi ghi âm mà tôi từng biết. Đây là một kỹ thuật chủ động mà chúng tôi đã phát triển để bắt tội phạm, đặc biệt hữu ích khi yếu tố bất ngờ là quan trọng nhất.

Bob là một nghệ sĩ giả giọng tài ba. Nếu nghi phạm đang ở giữa đám đông, anh ta sẽ nói giọng Ý. Đối với Đảng Báo Đen[1], anh ấy có thể đi ngang qua như một người thường nào đó. Anh ấy cũng có phẩm chất của một người thuộc Quốc gia Hồi giáo, giọng Ireland, giọng người Do Thái di cư, một người Anglo Saxon da trắng theo đạo Tin lành ở Grosse Pointe. Anh ấy không chỉ giả giọng cực chuẩn, mà còn thay đổi từ ngữ và cách diễn đạt để phù hợp với nhân vật. Bob làm việc này giỏi đến mức có lần anh ấy gọi cho Joe Del Campo - một đặc vụ khác mà quý vị sẽ biết đến trong chương tiếp theo - và thuyết phục Joe rằng anh ấy là một chiến sĩ da màu muốn trở thành người đưa tin cho FBI. Thời đó, chúng tôi gặp nhiều áp lực trong việc phát triển các nguồn lực hỗ trợ trong nội thành. Bob hẹn gặp Joe, Joe nghĩ rằng anh ấy có thông tin quan trọng. Không ai đến gặp Joe và hôm sau, trong văn phòng, anh ta giận điên khi Bob chào hỏi bằng giọng giống hệt trong cuộc gọi ghi âm!

Bắt người xấu là một chuyện nhưng tôi nhanh chóng nhận ra mình có hứng thú với quá trình tư duy đằng sau tội ác. Mỗi khi bắt ai đó, tôi sẽ hỏi hắn nhiều câu, chẳng hạn như tại sao hắn lại chọn ngân hàng này hay điều gì khiến hắn chọn nạn nhân này. Chúng ta đều biết bọn trộm thích trộm ngân hàng vào chiều thứ Sáu vì đó là lúc ngân hàng có nhiều tiền nhất. Nhưng ngoài lý do đó, tôi muốn biết những quyết định nào được đưa ra trong quá trình lên kế hoạch và thực hiện vụ cướp?

Nhìn tôi hẳn là không đáng sợ lắm. Cũng giống hồi còn đi học, mọi người cảm thấy thoải mái mở lòng với tôi. Càng thẩm vấn những gã này, tôi càng hiểu ra các tội phạm thành công đều giỏi mô tả. Mỗi gã có một bản mô tả loại ngân hàng mà mình thích - kết quả của quá trình tư duy thấu đáo và nghiên cứu tỉ mỉ. Một số gã thích những ngân hàng nằm gần đường lớn hoặc đại lộ liên bang để dễ tẩu thoát, chúng có thể chạy xa nhiều cây số trước khi cảnh sát kịp tổ chức truy đuổi. Một số gã lại thích chi nhánh nhỏ, nằm tách biệt, chẳng hạn như những chi nhánh tạm thời trong các xe rờ-moóc. Nhiều kẻ sẽ quan sát một ngân hàng trước để nắm được bố cục, để biết có bao nhiêu người làm ở đó và có khoảng bao nhiêu khách hàng trong sảnh vào một thời điểm nhất định. Đôi khi chúng liên tục ghé thăm các chi nhánh ngân hàng cho đến khi tìm được một nơi không có nhân viên nam thì ngân hàng đó sẽ trở thành mục tiêu. Các tòa nhà không có cửa sổ nhìn ra đường là lý tưởng nhất, vì không ai bên ngoài có thể trông thấy vụ cướp đang diễn ra và nhân chứng bên trong không thể biết chiếc xe nào là phương tiện tẩu thoát. Những kẻ giỏi nhất đã rút ra kết luận rằng đưa một tờ giấy với dòng chữ “Đây là một vụ cướp” sẽ tốt hơn so với phát thông báo rộng rãi đến nhiều người, vung vẩy một khẩu súng, và chúng luôn nhớ lấy lại tờ giấy trước khi đi nhằm thủ tiêu chứng cứ. Loại xe tốt nhất dùng để đào tẩu là xe ăn trộm và tình huống hay nhất là cho xe đậu sẵn để không bị chú ý là đã chạy đến và đậu lại ở hiện trường. Tên cướp đi bộ đến ngân hàng, sau đó lái xe rời đi khi xong việc. Một tên cướp đặc biệt thành công khi cướp một ngân hàng mà hắn có thể theo dõi trong một thời gian, và nếu các điều kiện ở đó vẫn như cũ, hắn sẽ tấn công lần nữa trong vài tháng sau.

Trong số các cơ sở vật chất công cộng, ngân hàng là địa điểm lý tưởng nhất để xử lý việc ăn cướp. Nhưng khi tiến hành điều tra sau những vụ án, tôi liên tục bị bất ngờ khi có biết bao người chểnh mảng việc gắn phim vào camera an ninh, biết bao người đã vô tình đặt chuông báo động ở chế độ yên lặng rồi quên đặt lại hoặc vô tình chạm vào chuông báo động nhiều lần đến mức cảnh sát phản ứng chậm vì đoán đó chỉ là một tai nạn khác. Việc này giống như treo một tấm bảng ghi Hãy đến cướp của tôi đi! trước một tên tội phạm tinh vi.

Nhưng nếu bắt đầu phân tích các vụ án - lúc đó tôi chưa đưa thuật ngữ này vào quá trình điều tra - ta có thể bắt đầu thấy các thói quen hành động lặp đi lặp lại. Khi đó, ta có thể bắt đầu áp dụng các biện pháp chủ động để bắt bọn người xấu. Ví dụ, nếu ta nhận ra một loạt vụ cướp ngân hàng đều khớp với nhau và nói chuyện với số lượng tội phạm đủ nhiều để hiểu điều gì trong mỗi vụ trộm hấp dẫn bọn chúng, ta có thể củng cố, một cách đầy đủ và rõ ràng, tất cả những ngân hàng trong tầm ngắm, trừ một nơi. Hiển nhiên nơi này sẽ được cảnh sát vàhoặc FBI giám sát liên tục, bên trong bố trí các nhóm cảnh sát mặc thường phục. Trên thực tế, ta có thể buộc tên cướp phải chọn ngân hàng mà ta đã chọn và sẵn sàng đón hắn. Khi áp dụng kiểu chiến thuật chủ động này, tỷ lệ phá các vụ cướp ngân hàng tăng lên đáng kể.

Những ngày đó, dù chúng tôi làm gì, đều là dưới sự giám sát của J. Edgar Hoover, hệt như những người tiền nhiệm của chúng tôi đã trải qua từ năm 1924. Trong thời đoạn của những lần bổ nhiệm vô nghĩa và những phiên tòa diễn ra theo ý đám đông, khó mà chuyển tải mức độ kiểm soát và quyền lực của Hoover, không chỉ ở FBI mà còn với những lãnh đạo trong Chính phủ, giới truyền thông và công chúng. Nếu bạn muốn viết một cuốn sách hay kịch bản phim về Cục, chẳng hạn như tác phẩm bán chạy số một trong thập niên 1950, Câu chuyện về FBI của Don Whitehead, hay bộ phim chuyển thể nổi tiếng của James Stewart, hay sản xuất một sê-ri như FBI của Efrem Zimbalist Con vào thập niên 1960 thì phải được ngài Hoover đích thân chấp thuận và chúc may mắn. Tương tự, nếu bạn là một nhân viên cấp cao của Chính phủ, bạn sẽ luôn bị một nỗi sợ đeo bám rằng ngài giám đốc “biết gì đó” về bạn, đặc biệt khi ông ấy gọi tới với giọng điệu thân thiện để cho bạn biết FBI đã “phát giác” một tin đồn không hay mà ông ấy sẽ làm hết khả năng để bảo đảm nó không bị công bố rộng rãi và gây thiệt hại.

Không nơi nào mà sự thần bí của ngài Hoover mạnh mẽ hơn ở các văn phòng chi nhánh FBI và trong ban giám đốc Cục. Có một sự thật mà mọi người đều công nhận là FBI có được uy tín và sự ngưỡng mộ là nhờ ông ấy. Gần như một mình ông ấy đã xây dựng cả cơ quan này thành như hôm nay, đấu tranh không mệt mỏi để tăng ngân sách cho Cục và tiền lương cho mọi người. Ông ấy vừa được nể trọng vừa được kính sợ, và nếu bạn không nghĩ nhiều về ông ấy thì hãy giữ suy nghĩ đó cho riêng mình. Nguyên tắc rất nghiêm ngặt và các cuộc điều tra chi nhánh là trận chiến đẫm máu. Nếu những thanh tra không tìm ra đủ những điều cần cải thiện, Hoover có thể nghi ngờ họ không hoàn thành công việc, nghĩa là họ cần một số lượng thư khiển trách nhất định từ mỗi cuộc điều tra, dù tình hình bảo đảm sẽ có đủ số thư hay không. Việc này giống như chỉ tiêu phát hành vé phạt xe. Sự việc trở nên tệ hại đến mức các đặc vụ chịu trách nhiệm, gọi là SAC, sẽ tìm những kẻ thế mạng là những người không được đề bạt trong vài năm tới để thư khiển trách không ảnh hưởng đến sự nghiệp của họ.

Có một lần, trong một câu chuyện đã mất đi tính hài hước sau vụ đánh bom tòa nhà liên bang ở thành phố Oklahoma khủng khiếp năm 1995, sau một cuộc điều tra, chúng tôi nhận được một cuộc gọi về lời đe dọa đánh bom văn phòng FBI. Cuộc gọi được truy dấu đến một buồng điện thoại ngay bên ngoài tòa nhà liên bang ở trung tâm nơi đặt văn phòng thực địa. Các nhà chức trách từ tổng bộ đến, tháo dỡ toàn bộ buồng điện thoại và muốn so sánh vân tay trên các đồng xu trong điện thoại với vân tay của 350 người tại văn phòng. May cho tất cả chúng tôi, lý lẽ đã chiến thắng và việc kiểm tra vân tay không diễn ra. Nhưng đó là ví dụ về sự căng thẳng mà các chính sách của ngài Hoover có thể gây nên.

Mọi thứ đều có quy trình hoạt động tiêu chuẩn. Dù tôi chưa từng có cơ hội gặp riêng ngài Hoover nhưng trong văn phòng tôi đã (và vẫn đang) treo một tấm hình của ông ấy, được đích thân ông ấy ký tên. Thậm chí có cả một quy trình tiêu chuẩn để nhận một tấm hình như vậy khi làm một đặc vụ trẻ. SAC sẽ bảo bạn nhờ thư ký của ông ấy viết giùm bạn một lá thư nịnh nọt, nói rõ rằng bạn tự hào thế nào khi được làm một đặc vụ FBI và ngưỡng mộ ngài Hoover ra sao. Nếu bức thư viết đúng chuẩn, bạn sẽ nhận được một tấm hình với lời chúc tốt đẹp để cho tất cả mọi người thấy được mối liên kết cá nhân của bạn với vị lãnh đạo.

Có những quy trình khác mà chúng tôi không bao giờ biết chắc chúng từ đâu ra, liệu chúng là chỉ thị trực tiếp của ngài Hoover hay chỉ là sự diễn giải thái quá những mong muốn của ngài giám đốc. Người ta kỳ vọng các đặc vụ làm thêm giờ và mọi người phải làm hơn mức trung bình của văn phòng. Chắc quý vị đã thấy tình trạng tiến thoái lưỡng nan ở đây. Tháng này qua tháng khác, như một sơ đồ hình kim tự tháp điên rồ, số giờ làm việc cứ tăng lên. Những đặc vụ gia nhập Cục với phẩm hạnh và nghị lực cao nhất sẽ buộc phải học cách phóng đại phiếu chấm công của mình. Không được hút thuốc hay uống cà phê trong văn phòng. Và như sức mạnh của một người tiếp thị tận cửa, người ta không khuyến khích các đặc vụ quanh quẩn ở văn phòng, thậm chí là để gọi điện thoại. Vì vậy, mỗi người tự tạo thói quen làm việc riêng xoay quanh quy định này. Tôi dành nhiều thời gian xem xét các vụ án ở bàn làm việc cá nhân trong thư viện công cộng.

Một trong những người ủng hộ lớn nhất Kinh Phúc âm theo Thánh Edgar là SAC của chúng tôi, Neil Welch, biệt danh là Ngài Nho. Welch là một người cao lớn, khoảng 1m93, đeo kính gọng sừng. Ông nghiêm nghị và khắc kỷ, không hề ấm áp, dễ chịu chút nào. Ông có một sự nghiệp xuất sắc trong Cục, đến các văn phòng thực địa chính ở Philadelphia và New York, và những văn phòng khác nữa. Có tin đồn rằng ông sẽ thay thế Hoover khi (hoặc tôi nên nói là nếu) ngày đó cuối cùng cũng đến. Ở New York, Welch thành lập một nhóm, là nhóm đầu tiên sử dụng hiệu quả các luật liên chống âm mưu RICO (Luật về các Tổ chức gian lận, lũng đoạn và hủ hóa) để chống lại tội phạm có tổ chức. Nhưng trở về Detroit, ông luôn tuân thủ luật.

Welch và Bob McGonigel sẽ đụng độ nhau, một cách tự nhiên và hiển nhiên, việc đó xảy ra vào thứ Bảy, khi chúng tôi ở nhà. Bob nhận được cuộc gọi rằng Ngài Nho muốn gặp anh ấy ngay, cùng với người giám sát nhóm chúng tôi, Bob Fitzpatrick. Thế là McGonigel vào văn phòng, Welch nói dạo gần đây có người cứ sử dụng điện thoại gọi đến New Jersey. Dùng điện thoại vào việc riêng là trái luật. Thực ra, việc anh ấy làm từ trước đến nay có thể diễn giải theo hai cách, nhưng ở FBI, cẩn thận vẫn hơn.

Welch, một người có thể rất nóng nảy, bắt đầu một cách bình thường, dùng những kỹ thuật thẩm vấn hiệu quả buộc đối tượng vào thế khó. “Được rồi, McGonigel, mấy cú điện thoại đó là thế nào hả?”

Thế là Bob bắt đầu thú nhận mọi cú điện thoại mà anh ấy có thể nghĩ đến vì sợ Welch còn nắm được thông tin gì đó nghiêm trọng hơn về mình, và có lẽ anh ấy có thể làm SAC nguôi giận bằng cách thú nhận những lỗi vặt vãnh.

Welch vươn hết chiều cao ấn tượng của mình, chồm qua bàn và chỉ tay đe dọa. “McGonigel, để tôi cho cậu biết: cậu có hai lỗi. Thứ nhất, cậu là một cựu thư ký. Tôi ghét bọn thư ký! Thứ hai, nếu tôi còn thấy cậu mặc cái áo sơ mi màu oải hương nào nữa, đặc biệt trong lúc điều tra chi nhánh, tôi sẽ đá đít cậu lên xuống đường Đông Jefferson. Và nếu tôi còn thấy cậu đến gần một cái điện thoại nào, tôi sẽ tống cậu vào lõi thang máy. Giờ thì biến khỏi văn phòng tôi ngay!”

Bob trở về nhà, hoàn toàn nản chí, tin rằng mình sẽ bị sa thải. Jack Kunst và tôi thực sự thấy tiếc cho anh ấy. Nhưng hôm sau, Fitzpatrick nói với tôi rằng sau khi McGonigel đi, anh và Welch ngồi đó cười đến sái quai hàm.

Nhiều năm sau, khi tôi chỉ huy Đơn vị Hỗ trợ điều tra, mọi người thường hỏi tôi là - với những gì chúng tôi biết về hành vi của tội phạm và phân tích hiện trường vụ án - liệu có ai trong chúng tôi có thể thực hiện vụ sát nhân hoàn hảo không. Tôi luôn nói với họ là không, dù với những gì mình biết, hành vi của chúng ta sau vụ việc thường vẫn khiến chúng ta bại lộ. Tôi nghĩ vụ việc giữa McGonigel và Welch chứng tỏ rằng kể cả đặc vụ FBI hàng đầu cũng không miễn nhiễm với áp lực từ người thẩm vấn giỏi.

Nhân tiện, từ lúc rời khỏi văn phòng của SAC trưa thứ Bảy đó, Bob mặc những cái áo có thể nói là trắng nhất thành phố… cho đến khi Neil Welch được điều động sang Philadelphia.

Đa phần ảnh hưởng của Hoover trong việc khiến Quốc hội chấp nhận những yêu cầu cấp kinh phí của ông có liên quan đến những con số thống kê mà ông có thể trình bày. Nhưng để ngài giám đốc có thể sử dụng những con số này, mọi người ngoài đây phải làm việc hiệu quả.

Đầu năm 1972, có tin đồn Welch hứa với sếp sẽ có 150 cuộc bắt giữ tội phạm đánh bạc. Dường như đó là hạng mục cần đẩy mạnh số lượng ở thời điểm này. Thế là chúng tôi sắp đặt một kế hoạch tinh vi với các mật thám, thiết bị nghe lén và hoạch định như trong quân đội, tất cả dành cho ngày Chủ nhật diễn ra giải Super Bowl, ngày đánh bạc bất hợp pháp lớn nhất cả nước. Đội Dallas Cowboys, thua sít sao trước Baltimore Colts vào năm ngoái, sẽ đối đầu với đội Miami Dolphins ở New Orleans.

Việc bắt các nhà cái cá cược là quá trình cực nhanh và chính xác vì họ sử dụng giấy cháy (cháy ngay lập tức) hoặc giấy từ khoai tây (tan trong nước). Hành động lần này hứa hẹn sẽ là một vụ hỗn loạn vì mưa suốt cả ngày.

Kế hoạch của chúng tôi đã bắt được hơn 200 kẻ đánh bạc vào chiều mưa hôm đó. Tại một thời điểm, tôi bắt một đối tượng, còng tay, ngồi sau xe, đưa hắn về kho vũ khí mà chúng tôi đang giữ tất cả những kẻ đánh bạc. Hắn là một gã có sức thu hút, thân thiện. Hắn cũng bảnh trai; nhìn giống Paul Newman. Hắn nói với tôi: “Dịp nào đó, khi chuyện này kết thúc, chúng ta phải gặp nhau chơi một trận bóng quần”.

Hắn dễ tiếp cận nên tôi bắt đầu đặt câu hỏi, như cách tôi vẫn hỏi những tên cướp nhà băng. “Tại sao anh làm chuyện này?”

“Tôi thích”, hắn đáp. “Hôm nay anh có thể bắt hết chúng tôi, John. Việc đó không tạo ra thay đổi gì cả”

“Nhưng với một người thông minh như anh, kiếm tiền hợp pháp không khó”

Hắn lắc đầu, như thể tôi vẫn chưa hiểu gì. Lúc này, mưa đã nặng hạt. Hắn nhìn sang bên, hướng sự chú ý của tôi đến cửa sổ xe. “Anh thấy hai giọt mưa đó không?” Hắn chỉ. “Tôi cá với anh giọt bên trái sẽ chảy xuống đáy tấm kính trước giọt bên phải. Chúng tôi không cần giải Super Bowl. Những gì chúng tôi cần chỉ là hai giọt mưa nhỏ. Anh không thể ngăn cản chúng tôi đâu, John, dù anh có làm gì đi nữa. Đó là bản chất của chúng tôi.

Với tôi, lần tiếp xúc ngắn ngủi này như sấm động giữa trời quang, như đột ngột được khai sáng. Khi hồi tưởng, việc đó nghe có vẻ ngờ nghệch, nhưng đột nhiên, mọi điều mà tôi vẫn hỏi, mọi nghiên cứu của tôi với những kẻ cướp nhà băng và tội phạm khác, đều trở nên rõ như ban ngày.

Đó là bản chất của chúng tôi.

Có thứ gì đó cố hữu, ăn sâu vào tâm trí và tinh thần của bọn tội phạm, thúc giục chúng làm ra nhiều việc theo cách nào đó. Sau này, khi bắt đầu nghiên cứu tâm trí và động cơ của những kẻ sát nhân hàng loạt, rồi bắt đầu phân tích các hiện trường vụ án để tìm kiếm manh mối về hành vi, tôi luôn tìm một yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố khiến cho vụ việc và tên tội phạm trở nên nổi bật, thể hiện bản chất của hắn.

Cuối cùng, tôi nghĩ ra từ đặc trưng để mô tả yếu tố độc nhất vô nhị và ước muốn cá nhân không thể chế ngự này, vốn không hề thay đổi. Và tôi sử dụng từ này tách biệt với khái niệm cách thức hành động truyền thống, vốn dễ thay đổi và có thể thay đổi. Điều này trở thành cốt lõi trong hoạt động của chúng tôi ở Đơn vị Hỗ trợ điều tra.

Hóa ra, hàng trăm vụ bắt giữ mà chúng tôi thực hiện vào ngày Chủ nhật diễn ra giải Super Bowl đó đều bị bác bỏ theo đúng quy trình luật pháp. Trong cơn hấp tấp để kế hoạch được đưa vào hoạt động, một trợ lý của Bộ trưởng Tư pháp thay vì chính ngài Bộ trưởng Tư pháp, đã ký lệnh lục soát. Nhưng SAC Welch đã hoàn thành lời hứa và giao nộp con số của mình cho Hoover, ít nhất đủ lâu để tạo ra tác động mà họ mong muốn lên Capitol Hill[2]. Và tôi đã nghĩ ra một điều hay ho, sẽ trở thành kim chỉ nam trong sự nghiệp làm luật của tôi, chỉ đơn giản bằng cách đặt cược vào những hạt mưa.

❀ ❀ ❀

[1] Một tổ chức chính trị xã hội chủ nghĩa do hai sinh viên đại học theo Chủ nghĩa Marx là Bobby Seale (Chủ tịch) và Huey Newton (Bộ trưởng Quốc phòng) thành vào tháng Mười năm 1966 ở Oakland, California. Đảng này hoạt động từ năm 1966 đến 1982, với hoạt động chính là những cuộc tuần tra của công dân trang bị vũ khí công khai (“quan sát cảnh sát”) để kiểm soát hành vi của các sĩ quan thuộc Phòng Cảnh sát Oakland và ngăn chặn hành vi bạo lực của cảnh sát trong thành phố.

[2] Nơi đặt trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.