Kẻ Săn Suy Nghĩ

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
Đôi Khi Cái Ác Chiến Thắng

❊ ❊ ❊

Khi thi thể của một cô gái mười sáu tuổi được phát hiện trên dòng sông Xanh ở ngoại ô Seattle vào tháng Bảy năm 1982, không ai nghĩ nhiều về việc đó. Dòng sông này, nối núi Rainier với eo biển Puget, là nơi rất phổ biến tình trạng vứt rác bừa bãi, và nạn nhân là một gái làng chơi còn trẻ. Cảnh sát không hiểu rõ tầm quan trọng của phát hiện đó cho đến cuối mùa hè năm đó - một phụ nữ khác được phát hiện đã chết trên sông vào ngày 12 tháng Tám, ba ngày sau phát hiện thêm ba thi thể khác. Độ tuổi và chủng tộc của các nạn nhân khác nhau, nhưng tất cả đều bị siết cổ. Một số người còn bị nhét vật nặng cho chìm xuống, rõ ràng là để giấu xác họ. Tất cả đều bị cởi hết quần áo và trong hai trường hợp, phát hiện những viên đá nhỏ trong âm đạo nạn nhân.

Lúc này, đặc điểm sát nhân hàng loạt của những vụ án này đã không thể chối cãi và nhắc nhớ đến những vụ giết người hàng loạt gần nhất, đầy ám ảnh ở Seattle, những vụ bắt cóc và sát hại ít nhất tám phụ nữ trong vùng vào năm 1974 do một đối tượng chỉ được biết với cái tên “Ted” gây ra. Những vụ án này không phá được suốt bốn năm, đến khi một gã trai trẻ điển trai, ăn nói lưu loát tên Theodore Robert Bundy bị bắt vì một loạt vụ sát nhân dã man trong các tòa nhà hội nữ sinh ở Florida. Cho đến lúc đó, hắn đã gây án trên khắp cả nước, giết ít nhất hai mươi ba phụ nữ trẻ và mãi mãi khắc sâu trong tâm trí chúng tôi ở phương diện kẻ sát nhân rùng rợn.

Trưởng ban Richard Kraske của Ban Điều tra tội phạm quận King chịu trách nhiệm cuộc điều tra đó và muốn ứng dụng những gì anh ta đã học được nên lúc này anh ta quay sang nhờ FBI hỗ trợ đưa ra một bản mô tả nhân dạng - tâm lý của “Kẻ sát nhân sông Xanh”. Tuy các điều tra viên trong đội đặc nhiệm thuộc nhiều địa hạt vừa hình thành chia ra hai nhóm với hai luồng ý kiến là liệu tất cả các vụ án này có liên hệ với nhau không, nhưng có một yếu tố chung rõ rệt: Tất cả nạn nhân đều là gái làng chơi, làm việc trên Đoạn đường Sea-Tac, quốc lộ Bờ biển Thái Bình Dương gần Sân bay quốc tế Seattle - Tacoma và hiện thời, có nhiều phụ nữ trẻ khác đang mất tích.

Tháng Chín, Allen Whitaker, SAC ở Seattle, đến Quantico, trình bày cho chúng tôi chi tiết về năm vụ án đầu tiên. Như mọi khi tôi muốn có thể tập trung, không bị nhân viên và các cuộc điện thoại liên tục làm phiền, tôi nhốt mình trong tầng trên cùng của thư viện, nơi tôi có thể ở một mình, nhìn ra cửa sổ (việc này lúc nào cũng là một sự đổi mới dễ chịu cho những người làm việc dưới lòng đất như chúng tôi) và đưa mình vào tâm trí của hung thủ và các nạn nhân. Tôi dành khoảng một ngày để xem qua các tài liệu - báo cáo và ảnh chụp hiện trường, kết quả khám nghiệm tử thi, bản mô tả về các nạn nhân. Bất chấp sự khác biệt về độ tuổi, chủng tộc và cách thức gây án, những điểm giống nhau đủ rõ ràng để cho thấy tất cả các vụ giết người đều do một đối tượng gây ra.

Tôi đưa ra một bản mô tả nhân dạng chi tiết về một người đàn ông da trắng, thể chất khỏe mạnh, tự ti, không có việc làm, thoải mái thư thái khi ở trên sông và không hề hối hận về những gì hắn đang làm. Ngược lại, hắn là kẻ mang trong mình một nhiệm vụ, có những trải nghiệm đáng xấu hổ với phụ nữ và bây giờ ra tay trừng phạt càng nhiều càng tốt những phụ nữ mà hắn xem là thấp kém nhất. Không giống Ed Kemper, gã này không thông minh. Đây là những tội ác thô thiển, có nguy cơ cao. Điểm quan trọng là tập trung sử dụng các kỹ thuật chủ động có thể lừa cho Đối tượng liên hệ với cảnh sát theo phương thức nào đó. Whitaker mang theo bản mô tả nhân dạng khi rời khỏi Quantico.

Sau đó, cũng trong tháng Chín, thi thể đã phân hủy nặng của một phụ nữ trẻ khác được phát hiện ở khu vực các căn nhà sắp sập gần sân bay. Cô ấy khỏa thân, một đôi vớ nam màu đen buộc quanh cổ. Chuyên viên pháp lý ước lượng thời gian cô ấy bị giết cũng trùng với những nạn nhân khác trên sông. Có lẻ kẻ sát nhân đã thay đổi cách thức gây án sau khi nghe tin về việc giám sát trên sông.

Như được viết trong Cuộc truy tìm Kẻ sát nhân sông Xanh, một báo cáo thông qua nghiên cứu tỉ mỉ của Carlton Smith và Tomas Guillen, nghi phạm đáng nghi nhất là một tài xế taxi bốn mươi bốn tuổi khớp với bản mô tả ở gần như mọi điểm. Hắn chen vào cuộc điều tra từ sớm, gọi cảnh sát để nói cho họ những mưu mẹo giúp tìm hung thủ và khuyên họ nên tìm những tài xế taxi khác. Hắn dành nhiều thời gian với các cô gái bán hoa và người vô gia cư trên đoạn đường Sea-Tac, là một kẻ sống về đêm, lái xe lòng vòng, hút thuốc, uống rượu như bản mô tả nhận định ở Đối tượng vô danh và bày tỏ sự quan tâm tới an toàn của các cô gái bán hoa. Hắn trải qua năm cuộc hôn nhân thất bại, lớn lên gần dòng sông, sống với người bố góa vợ, lái một chiếc xe cũ, lỗi thời, không được bảo dưỡng tốt, và theo dõi chặt chẽ tin tức về vụ án.

Cảnh sát định ngày thẩm vấn hắn vào tháng Chín và gọi tôi để tư vấn về chiến thuật thương thuyết. Lúc đó tôi đang di chuyển với tốc độ chóng mặt, với những chuyến đi khắp đất nước hầu như mỗi tuần, cố gắng giải quyết các vụ án của mình. Khi cảnh sát gọi, tôi không có ở văn phòng. Họ trao đổi với Roger Depue, trưởng đơn vị, và ông ấy bảo tôi sẽ trở về sau vài ngày, đề nghị họ khoan thẩm vấn trước khi có cơ hội nói chuyện với tôi. Cho đến lúc đó, đối tượng đang hợp tác và không có ý định rời khỏi khu vực sinh sống.

Nhưng cảnh sát vẫn tiến hành, cuộc thẩm vấn kéo dài cả ngày và trở thành một cuộc đối đầu. Từ góc nhìn sau khi đã biết rõ mọi diễn biến, cuộc thẩm vấn vốn có thể diễn ra theo cách khác. Kết quả kiểm tra phát hiện nói dối rất mơ hồ và dù cảnh sát tiến hành giám sát hắn công khai đồng thời tiếp tục thu thập bằng chứng trực tiếp nhưng họ không bao giờ có thể truy tố hắn.

Không trực tiếp tham gia vào giai đoạn điều tra đó, tôi không thể nói liệu người này có phải là một nghi phạm đáng nghi không. Nhưng việc thiếu phối hợp và tập trung đã gây cản trở lớn đến cuộc điều tra trong những giai đoạn đầu, thời điểm mà một đối tượng dễ bị bắt nhất. Hắn lo lắng, hắn không biết trông đợi điều gì, “yếu tố gây sợ hãi” đang ở đỉnh cao nhất. Khi thời gian qua đi và Đối tượng nhận ra hắn đang thoát tội, hắn sẽ thư giãn hơn. Hắn bình tĩnh lại, tinh chỉnh cách thức gây án của mình.

Ở thời điểm khởi đầu của vụ án này, cảnh sát địa phương thậm chí còn không có máy tính. Và khi cuộc điều tra tiến triển, với tốc độ xử lý các mạnh mối của họ, sẽ mất đến năm mươi năm để gõ đúng những gì họ có. Nếu một cuộc điều tra tương tự vụ Sông Xanh được tiến hành ở thời điểm hiện nay, tôi hy vọng và tin tưởng việc tổ chức ban đầu sẽ có hiệu quả và chiến thuật sẽ được xác định rõ ràng hơn. Nhưng, nhiệm vụ sẽ nặng nề. Những cô gái làng chơi này sống lang bạt. Nhiều lúc, khi một người bạn trai hoặc một tên dẫn gái báo có người mất tích, cô ấy cố tình biến mất hoặc đơn giản là chuyển sang một khu vực khác phía trên hoặc dưới, dọc theo bờ biển. Nhiều người dùng biệt danh khiến cho việc xác định danh tính những thi thể và theo dõi các vụ án không khác gì một cơn ác mộng. Hồ sơ y tế và nha khoa cũng vì thế mà khó xác định và chứng nhận là đúng. Mối quan hệ và sự hợp tác giữa cảnh sát và cộng đồng gái mại dâm vốn rất mong manh.

Tháng Năm năm 1983, một cô gái làng chơi trẻ được phát hiện với đầy đủ quần áo trên người, trong một tình huống được sắp đặt cẩn thận: một con cá đặt ngang cổ họng, một con khác đặt trên ngực trái và một chai rượu đặt giữa hai chân. Cô ấy bị siết cổ bằng một sợi dây mỏng hoặc thừng. Cảnh sát quy cái chết của cô ấy cho Kẻ sát nhân sông Xanh. Tôi nghĩ nạn nhân cuối cùng được tìm thấy trên mặt đất có mối liên hệ với hắn nhưng người này thì tôi lại cho là nạn nhân của một vụ giết người vì lý do cá nhân. Đây không phải một nạn nhân ngẫu nhiên. Có quá nhiều sự tức giận trong vụ này. Kẻ sát nhân biết nạn nhân này rất rõ.

Gần cuối năm 1983, số lượng thi thể đã lên đến mười hai, với bảy người khác được báo mất tích. Đội đặc nhiệm đề nghị tôi đến và cho họ lời khuyên trực tiếp. Như đã nói, lúc này tôi đang cố gắng xử lý nhiều giai đoạn của vụ án Wayne Williams ở Atlanta, Kẻ sát nhân bằng súng 22 ly ở Buffalo, Kẻ sát nhân đường mòn trên núi ở San Francisco, vụ Robert Hansen ở Anchorage, một kẻ phóng hỏa hàng loạt chống đối người Semit ở Hartford và hơn một trăm vụ án đang điều tra khác. Cách duy nhất tôi có thể làm kịp tiến độ là ép bản thân phải mơ về chúng vào buổi tối. Tôi biết tôi đang tự bào mòn sức lực. Tôi chỉ không biết nó cạn kiệt đến mức nào và nhanh chóng ra sao. Khi Đội đặc nhiệm Sông Xanh nói họ cần tôi, tôi biết tôi cũng phải chèn thêm vụ án đó vào danh sách của mình.

Tôi tin bản mô tả của tôi sẽ khớp với kẻ sát nhân, nhưng tôi cũng biết nó sẽ khớp với nhiều người, và hơn một người trong số này có thể đang gây án. Việc này càng kéo dài, khả năng có thêm nhiều kẻ giết người tham gia càng lớn, có thể là bắt chước hoặc đơn giản vì phạm vi và các nạn nhân. Đoạn đường SeaTac là nơi lý tưởng cho một kẻ giết người tìm nạn nhân. Nếu ai đó có mong muốn giết người, đó là nơi hắn đến. Nơi đó lúc nào cũng có gái mại dâm, và vì nhiều người qua lại trên hành lang Bờ Tây từ Vancouver xuống đến tận San Diego nên khi một cô gái biến mất, thường không ai nhớ đến.

Tôi nghĩ kỹ thuật chủ động quan trọng hơn bao giờ hết. Có thể là tổ chức các cuộc họp lớn nói về các vụ sát nhân này ở một số ngôi trường vùng nông thôn, sau đó phát giấy đăng ký và ghi lại biển số xe của những người tham dự, cho truyền thông đưa tin về một điều tra viên được xem là “siêu cảnh sát” nhằm dụ tên giết người liên lạc với anh ta, kể những câu chuyện về người phụ nữ mang thai để khơi gợi lòng hối hận và những lần đến thăm lại của hắn, giám sát những địa điểm vứt xác chưa được công khai, sử dụng các cảnh sát làm chim mồi, cùng nhiều biện pháp khác.

Tôi đưa Blaine McIlwain và Ron Walker, hai chuyên viên mô tả nhân dạng mới, đi cùng trong chuyến đi đến Seattle vào tháng Mười hai, đoán rằng đây sẽ là vụ án thích hợp để họ thu thập kinh nghiệm làm việc trực tiếp. Thật may là tôi đã làm điều đó, cứ như Chúa hay một thế lực nào đó đã định trước việc này. Họ đã cứu mạng tôi. Khi họ phá cánh cửa bị khóa chốt, bấm ổ khóa và chặn bằng dây xích vào phòng khách sạn của tôi, thấy tôi trong tình trạng bất tỉnh và co giật trên sàn, tôi đã gần chết do cơn sốt đang thiêu đốt não mình.

Thời điểm tôi hồi phục và trở lại làm việc vào tháng Năm năm 1984, Kẻ sát nhân sống Xanh vẫn chưa bị bắt và nằm ngoài vòng pháp luật khi tôi viết những dòng này hơn một thập kỷ sau đó. Tôi tiếp tục làm cố vấn cho đội đặc nhiệm, lúc này đã trở thành một trong những cuộc truy tìm tội phạm lớn nhất lịch sử Hoa Kỳ. Cuộc điều tra kéo dài càng lâu, số lượng thi thể tiếp tục tăng, tôi ngày càng tin rằng có nhiều kẻ sát nhân đang gây án, tất cả đều có một vài đặc điểm tương tự nhau nhưng mỗi tên hành động riêng lẻ. Cảnh sát ở Spokane và Portland mang đến cho tôi nhiều vụ án gái bán dâm bị giết và mất tích, nhưng tôi không thấy có mối liên hệ rõ ràng với những vụ sát nhân quanh khu vực Seattle. Cảnh sát San Diego nghĩ một nhóm nạn nhân khác ở thành phố này có thể có quan hệ. Tổng hợp lại, Đội đặc nhiệm Sông Xanh đang điều tra hơn năm mươi cái chết. Hơn 1.200 nghi phạm đã giảm xuống còn khoảng 80 người. Số người này rất đa dạng, từ bạn trai và những tên dắt mối của các cô gái đã chết đến một người nào đó ở Portland mà một cô gái làng chơi đã thoát khỏi hắn sau khi bị đe dọa hành hạ rồi một người đánh bẫy động vật ở Seattle. Đôi khi, nhiều thành viên trong lực lượng cảnh sát cũng bị xem là nghi phạm. Nhưng không ai trong số này đủ để kết án. Bấy giờ, tôi tin rằng có ít nhất ba tên sát nhân hoặc hơn.

Bước tiến chủ động chính cuối cùng diễn ra vào tháng Mười hai năm 1988, với một chương trình truyền hình trực tiếp dài hai tiếng được phát sóng toàn quốc. Với tên gọi Truy tìm thủ phạm trực tiếp, do ngôi sao phim truyền hình Dallas - Patrick Duffy làm MC, chương trình cung cấp thông tin về việc tìm kiếm (những) kẻ sát nhân và nhiều số điện thoại miễn phí để người xem cung cấp đầu mối. Tôi bay đến Seattle để tham gia chương trình và huấn luyện các sĩ quan cảnh sát về cách sàng lọc các cuộc gọi cũng như nhanh chóng đưa ra những câu hỏi phù hợp.

Trong tuần lễ sau buổi phát sóng, công ty điện thoại ước lượng có hơn 100.000 cuộc gọi đến nhưng chỉ có chưa đến 10.000 được nối máy. Sau ba tuần, không còn đủ nguồn tài chính hoặc người tình nguyện để tiếp tục vận hành các đường dây nóng ngăn chặn tội phạm. Cuối cùng vụ án tượng trưng cho nhiều khía cạnh khác của sông Xanh - nhiều người tận tụy hết mình nhưng cuối cùng, mọi nỗ lực đều không đủ và quá trễ.

Suốt nhiều năm, Gregg McCrary ghim một bức biếm họa trên tấm bảng thông tin trong văn phòng mình. Trên đó vẽ một con rồng phun lửa đang đứng nhìn xuống một hiệp sĩ đang phủ phục trước nó. Lời chú thích rất đơn giản, “Đôi khi con rồng chiến thắng”.

Đây là một thực tế mà không ai trong chúng tôi có thể tránh khỏi. Chúng tôi không bắt được tất cả tội phạm và vì những kẻ chúng tôi bắt được đã giết, cưỡng hiếp, hành hạ, đánh bom, thiêu hoặc gây thương tích cho nhiều người nên không ai trong số chúng bị bắt đủ sớm. Hiện nay, điều đó đúng, như nó đã đúng từ hơn 100 năm trước, khi Jack Đồ tể trở thành kẻ sát nhân hàng loạt đầu tiên ám ảnh tâm trí mọi người.

Trớ trêu ở chỗ, tuy chương trình Truy tìm tội phạm không phá giải được những vụ sát nhân sông Xanh nhưng cũng trong năm đó, tôi xuất hiện trên một chương trình truyền hình quốc gia khác, tại đó tôi đã thông qua kỹ thuật mô tả nhân dạng để xác định danh tính khả dĩ của kẻ sát nhân hàng loạt khét tiếng nhất đó. Chương trình được canh thời gian trùng với ngày tưởng niệm 100 năm các vụ giết người ở Whitechapel của Jack Đồ tể, nghĩa là bản mô tả nhân dạng của tôi trễ đến một thế kỷ nên cũng không giúp ích gì.

Những vụ giết hại dã man các cô gái làng chơi diễn ra trên những con đường và ngõ hẻm soi sáng bằng đèn khí đốt ở khu East End xô bồ, đông đúc của thành phố Luân Đôn thời Victoria từ ngày 31 tháng Tám đến ngày 9 tháng Mười một năm 1888. Trong khoảng thời gian đó, bản chất xấu xa tàn bạo của những vụ giết người và hành động phân xác nạn nhân sau đó ngày càng tăng. Sáng sớm ngày 30 tháng Chín, hắn giết hai phụ nữ trong vòng một hoặc hai giờ đồng hồ, sự việc chưa từng thấy lúc bấy giờ. Cảnh sát nhận được nhiều lá thư thách thức được đăng tải trên các tờ báo và các vụ án trở thành một sự kiện truyền thông lớn. Tên Đồ tể không bị bắt, bất chấp nỗ lực của Sở Cảnh sát Scotland Yard, và danh tính của hắn vẫn là chủ đề suy đoán sôi nổi đến tận ngày nay. Giống như danh tính “thật sự” của William Shakespeare, việc lựa chọn các nghi phạm thường cho thấy bản tính của người suy đoán hơn là chính bí ẩn đó.

Trong số những kẻ tình nghi thú vị nhất suốt nhiều năm qua, có Hoàng tử Albert Victor, Công tước xứ Clarence, cháu trai cả của Nữ hoàng Victoria và, đứng sau cha mình, Edward, Hoàng tử xứ Wales (người trở thành vua Edward VII sau khi Nữ hoàng Victoria tạ thế năm 1901), người tiếp theo trong danh sách kế vị ngai vàng. Vị Công tước xứ Clarence vốn dĩ đã qua đời trong đợt dịch cúm lớn năm 1892, nhưng nhiều nhà lý luận về tên Đồ tể cho rằng ngài ấy chết do bệnh giang mai hoặc bị một bác sĩ hoàng gia đầu độc để xóa đi vết nhơ của hoàng thất. Đây chắc chắn là một khả năng thú vị.

Những ứng cử viên sáng giá khác gồm có Montague John Druit, một giáo viên ở một ngôi trường nam sinh, khớp với mô tả của những nhân chứng tận mắt thấy; bác sĩ William Gull, trưởng nhóm bác sĩ hoàng gia; Aaron Kosminski, một di dân Ba Lan nghèo, đã nhiều lần ra vào các bệnh viện tâm thần của khu vực và Tiến sĩ Roslyn D’Onstan, một nhà báo học đòi ma thuật hắc ám.

Việc các vụ giết người của tên Đồ tể chấm dứt đột ngột cũng có nhiều giả thiết, dẫn đến suy luận rằng có thể hắn đã tự sát, Công tước xứ Clarence được cử tham gia một chuyến đi của hoàng gia hoặc một trong các nghi phạm khác có lẽ đã chết. Khi xem xét lại với kiến thức của chúng tôi hiện nay, tôi thấy có khả năng hắn đã bị bắt vì một tội nào đó nhẹ hơn giống như nhiều tội phạm khác, đó là lý do việc giết người dừng lại. Một vấn đề khác là bản thân việc “giết người”. Một trong các lý do để dồn sự chú ý vào một người được đào tạo về y khoa là mức độ phân xác các nạn nhân về sau.

Mục đích của chương trình Danh tính bí mật của Jack Đồ tể, được phát sóng toàn quốc vào tháng Mười năm 1988, là trình bày hết những bằng chứng đã thu thập được, sau đó để các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau trình bày phân tích của mình về danh tính thực sự của Jack, phá giải câu đố kéo dài cả thế kỷ này “một lần và mãi mãi”. Roy Hazelwood và tôi được mời tham gia chương trình, FBI nghĩ đây là cơ hội tốt để giới thiệu công việc của chúng tôi mà không cản trở cuộc điều tra hoặc phiên tòa nào đang diễn ra. Chương trình trực tiếp dài hai tiếng này do diễn viên, tác giả, đạo diễn người Anh Peter Ustinov chủ trì, một người rất hứng thú với bí ẩn này khi sự việc dần hé lộ.

Bất kỳ hoạt động nào thuộc loại này đều có chung những quy tắc và giới hạn như một cuộc điều tra hiện thời, đó là kết luận của chúng tôi chỉ tương đương những bằng chứng và dữ liệu mà chúng tôi có. Một trăm năm trước, việc điều tra pháp y còn rất sơ khai theo các tiêu chuẩn hiện nay. Nhưng dựa trên những gì mình biết về chuỗi vụ án sát nhân của tên Đồ tể, tôi nghĩ nếu vụ án như vậy được giao cho chúng tôi ngày nay thì sẽ rất dễ phá giải nên chúng tôi phải đánh cược thôi. Khi quý vị làm công việc mà chúng tôi đang làm, cũng có chút hay họ và thư giãn khi hậu quả duy nhất nếu sai là biến mình thành một thằng ngốc trên sóng truyền hình quốc gia thay vì khiến một nạn nhân khác bị giết.

Trước khi chương trình phát sóng, tôi đã đưa ra một bản mô tả như vẫn làm trong một vụ án thời nay, với đầu đề cùng một phong cách:

ĐỐI TƯỢNG VÔ DANH; CÒN GỌI LÀ JACK ĐỒ TỂ;

CHUỖI VỤ ÁN SÁT NHÂN;

LUÂN ĐÔN, ANH;

1888;

NCAVC – ÁN GIẾT NGƯỜI (PHÂN TÍCH ĐIỀU TRA TỘI PHẠM);

Dòng cuối cùng, NCAVC, là để chỉ Trung tâm Quốc gia Phân tích tội phạm bạo lực[1], chương trình tổng quát được thành lập tại Quantico năm 1985 bao gồm Đơn vị Khoa học hành vi và Đơn vị Hỗ trợ điều tra, VICAP - cơ sở dữ liệu máy tính Chương trình Bắt giữ tội phạm bạo lực[2] - cùng những nhóm và đơn vị phản ứng nhanh khác.

Như trong một buổi cố vấn thực, khi tôi đã đưa ra bản mô tả nhân dạng, chúng tôi được cung cấp thông tin về các nghi phạm. Dù từ quan điểm thích sự kịch tính thì Công tước xứ Clarence có vẻ là một đối tượng hấp dẫn, nhưng sau khi phân tích hết các bằng chứng có được, Roy và tôi đều kết luận Aaron Kosminski là ứng cử viên tiềm năng nhất.

Như trong vụ án Đồ tể Yorkshire chín mươi năm sau, chúng tôi tin những lá thư thách thức gửi đến cảnh sát là do một kẻ bắt chước viết, không phải Jack “thực thự”. Kẻ gây ra những tội ác này không phải loại người đưa ra thử thách công khai cho cảnh sát. Việc phân xác nạn nhân cho thấy hắn bị rối loạn tâm thần, tự ti về vấn đề tình dục, với sự phẫn nộ tột cùng dành cho phụ nữ. Kiểu tấn công chớp nhoáng trong mỗi vụ cũng cho thấy hắn tự ti về bản thân và trước xã hội. Đây không phải người nói chuyện lưu loát. Hiện trường vật lý của tội ác cũng cho thấy hắn có thể hòa vào đám đông xung quanh, không khiến các cô gái bán hoa hoài nghi hay sợ hãi. Hắn là kẻ đơn độc lặng lẽ, không phải một tên đồ tể vai u thịt bắp, rình mò trên các con phố hằng đêm và trở lại những nơi hắn từng gây án. Chắc chắn cảnh sát đã thẩm vấn hắn trong quá trình điều tra. Trong số các nghi phạm mà chúng tôi được biết, Kosminski khớp với bản mô tả hơn bất kỳ người nào khác. Còn về kiến thức y khoa cần thiết để mổ và phân xác sau khi giết hại, đây chỉ là xẻ thịt cơ bản mà thôi. Và từ lâu chúng tôi đã nghiệm ra những kẻ sát nhân hàng loạt không cần gì ngoài ý chí để thực hiện bất cứ hành động tàn bạo nào với một thi thể. Ed Gein, Ed Kemper, Jeffrey Dahmer, Richard Marquette - vài tên trong số rất nhiều tên - không hề gặp trở ngại dù không được đào tạo về y khoa.

Sau khi đưa ra phân tích này, bây giờ tôi phải thay đổi tuyên bố ban đầu một cách dè dặt rằng từ quan điểm cá nhân một trăm năm sau, tôi không thể bảo đảm Aaron Kosminski chính là tên Đồ tể. Hắn chỉ là một trong những người chúng tôi được biết mà thôi. Nhưng tôi có thể tự tin tuyên bố Jack Đồ tể là một kẻ giống Kosminski. Nếu việc phân tích điều tra tội phạm này diễn ra vào thời nay, thông tin của chúng tôi sẽ giúp cảnh sát và Scotland Yard thu hẹp tầm ngắm và tìm ra nhân dạng của Đối tượng vô danh. Đó là lý do tôi nói với tiêu chuẩn hiện đại, vụ án này rất dễ phá giải.

Trong một số vụ án, phương pháp của chúng tôi chỉ ra một loại nghi phạm, nhưng không thể thu thập đủ bằng chứng để bắt giữ và truy tố. Một ví dụ là “Kẻ sát nhân BTK” ở Wichita, Kansas vào giữa thập niên 1970.

Vụ án bắt đầu vào ngày 15 tháng Một năm 1974, với vụ giết hại gia đình Otero. Joseph Otero ba mươi tám tuổi và vợ, Julie, bị trói và siết cổ bằng sợi dây kéo rèm cửa. Con trai chín tuổi của họ, Joseph con, được tìm thấy ở phòng ngủ trong tình trạng bị trói, một cái túi ni lông trùm lên đầu. Josephine mười một tuổi bị treo cổ lên một cái ống trên trần tầng hầm, chỉ mặc một cái áo nỉ và mang đôi vớ. Tất cả bằng chứng đều cho thấy đây không phải hành động bộc phát. Các dây điện thoại đều bị cắt và sợi dây để siết cổ được hung thủ mang đến hiện trường.

Mười tháng sau, một biên tập viên của tờ báo địa phương nhận được một cuộc gọi nặc danh hướng dẫn anh ta tìm đến một cuốn sách trong thư viện công cộng. Bên trong là tờ giấy do Đối tượng vô danh để lại, nhận trách nhiệm vụ giết hại gia đình Otero, hứa sẽ có thêm nhiều vụ khác và giải thích rằng “Mật ngữ cho tôi sẽ là: Trói chúng, Hành hạ chúng, Giết chúng”[3].

Thêm một số phụ nữ trẻ bị giết hại trong ba năm kế tiếp, sau đó một lá thư được gửi tới một đài truyền hình địa phương, cho thấy nhiều điều về tâm trí của Đối tượng vô danh này, kẻ đã cẩn thận tự đặt một biệt danh cho mình: “Tao phải giết bao nhiêu người nữa thì tên tao mới được lên báo hoặc được cả nước chú ý?”

Trong một lá thư được công bố của hắn, hắn so sánh việc mình làm với Jack Đồ tể, Con trai của Sam và Kẻ sát nhân trên đồi - toàn những kẻ vốn thất bại vô danh bỗng trở nên nổi tiếng trên truyền thông vì tội ác của mình. Hắn quy kết hành động của mình cho một “con quỷ” và “yếu tố X”, dẫn đến những suy đoán mang tính tâm lý học mở rộng trên báo chí về con người hắn. Nhưng hắn cũng gửi hình vẽ phụ nữ khỏa thân trong nhiều tư thế bị trói, cưỡng hiếp và hành hạ. Những bức vẽ kinh tởm này không được công bố, nhưng chúng cho tôi một ý niệm rõ ràng về loại người mà chúng tôi đang truy tìm. Từ đó, vấn đề chỉ còn là thu hẹp danh sách nghi phạm.

Cũng như những tội ác của vị anh hùng Jack Đồ tể của hắn, những vụ giết người của BTK chấm dứt đột ngột. Nhưng trong vụ này, tôi tin cảnh sát đã thẩm vấn hắn, hắn biết họ đang thu hẹp khoảng cách đến chỗ hắn và hắn đủ thông minh, tinh tế để ngừng lại trước khi cảnh sát thu thập đủ bằng chứng. Tôi hy vọng ít nhất chúng tôi đã vô hiệu hóa hắn, nhưng đôi khi cái ác lại chiến thắng.

Đôi khi cái ác cũng chiến thắng trong cuộc sống của chúng ta. Khi một kẻ sát nhân giết một người, hắn đưa rất nhiều nạn nhân theo cùng người đó. Tôi không phải người duy nhất trong đơn vị mất việc vì những vấn đề liên quan đến căng thẳng; con số này rất lớn. Và ví dụ về các vấn đề trong gia đình cũng như sự bất hòa trong hôn nhân quá nhiều, khiến chúng ta không thể không lo lắng.

Năm 1993, cuộc hôn nhân của tôi và Pam chấm dứt sau hai mươi hai năm. Vợ chồng tôi có quan điểm khác nhau về chuyện xảy ra giữa đôi bên nhưng có một số điều không thể chối cãi. Tôi đi xa quá thường xuyên trong lúc con gái chúng tôi, Erika và Lauren, lớn lên. Khi ở nhà, tôi cũng quá chú tâm đến công việc khiến Pam thường xuyên cảm thấy mình là bà mẹ đơn thân. Cô ấy phải quán xuyến nhà cửa, chi trả các hóa đơn, đưa bọn trẻ đi học, họp với giáo viên, kèm các con làm bài tập, trong khi vẫn duy trì sự nghiệp dạy học của mình. Đến khi con trai chúng tôi là Jed ra đời vào tháng Một năm 1987, đã có thêm nhiều chuyên viên mô tả nhân dạng khác làm việc cùng tôi và tôi không còn đi xa nhiều như trước. Nhưng phải thừa nhận tôi có ba đứa con thông minh, tình cảm, đáng yêu, tuyệt vời mà tôi lại không thực sự hiểu về các con cho đến trước khi tôi nghỉ hưu không lâu. Tôi dành rất nhiều thời gian tìm hiểu về những đứa trẻ đã chết thay vì những đứa con tuyệt vời đang sống gần mình.

Nhiều lần Pam đến gặp tôi vì một vấn đề nhỏ rất điển hình của một đứa trong bọn trẻ, chẳng hạn như đứt tay hay trầy da vì ngã xe đạp. Với sự căng thẳng và áp lực, chúng tôi đều nhớ tôi thường nổi đóa, tả lại những thi thể bị phân thây xẻ thịt của lũ trẻ cùng tuổi mà tôi đã thấy và rằng cô ấy không nghĩ chuyện ngã xe đạp là hết sức bình thường, không đáng phải xoắn xuýt lên sao?

Chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn quen với những chuyện rùng rợn nhưng nhận ra mình đang dần miễn nhiễm với những thứ không được coi là rùng rợn. Có lần, tôi đang ăn tối với các con trong lúc Pam đang mở một thùng đồ trong nhà bếp. Con dao trượt đi và cô ấy bịt đứt tay khá nặng. Cô ấy hét lên, mấy bố con tôi liền chạy ùa vào. Nhưng khi thấy vết thương không nguy hiểm đến tính mạng hay cánh tay cô ấy, tôi nhớ mình cảm thấy vết máu bắn trông rất thú vị và bắt đầu liên tưởng với những vết máu tôi đã thấy tại hiện trường án mạng. Tôi nói đùa vài câu, cố gắng làm giảm đi sự căng thẳng. Tôi chỉ cho cô ấy và bọn trẻ thấy là mỗi lần cô ấy di chuyển bàn tay, chúng tôi lại thấy một vết máu khác, đó là một trong những cách chúng tôi dùng để xác định chuyện gì đã xảy ra giữa một kẻ tấn công và nạn nhân của hắn. Nhưng tôi nghĩ mấy mẹ con không xem việc đó là bình thường giống như tôi.

Chúng ta cố gắng phát triển cơ chế tự vệ để đối phó với những gì mình thấy khi làm việc nhưng cuối cùng, chúng ta dễ dàng trở thành một kẻ cà chớn lãnh đạm, thờ ơ. Nếu gia đình vẫn đoàn kết và hôn nhân vững vàng, chúng ta có thể đương đầu với rất nhiều thứ trong công việc. Nhưng nếu có bất kỳ điểm yếu nào trong tổ ấm của mình, những yếu tố gây căng thẳng khác nhau có thể phóng đại mọi thứ, như những gì xảy ra với đám tội phạm mà chúng tôi truy tìm.

Dần dà, Pam và tôi đánh bạn với những người khác nhau. Tôi không thể nói chuyện về công việc của mình với bạn cô ấy nên tôi cần những người làm việc giống mình ở xung quanh. Khi chúng tôi giao thiệp với những người ngoài Cục hoặc lực lượng thi hành luật, tôi thường thấy chán ngán với những mối bận tâm trần tục mà họ đang thảo luận. Dù nghe có vẻ lạnh lùng, nhưng khi quý vị dành thời gian đi sâu vào tâm trí của những kẻ sát nhân, việc người hàng xóm để thùng rác ở đâu hay anh ta sơn hàng rào nhà mình màu gì không còn đủ hấp dẫn.

Nhưng tôi mừng là sau một giai đoạn mà cả hai chúng tôi đều cảm thấy tồi tệ, bây giờ tôi và Pam là bạn bè tốt. Bọn trẻ sống với tôi (Erika đã vào đại học), nhưng Pam và tôi dành nhiều thời gian ở bên nhau. Hiện nay chúng tôi có vai trò ngang nhau trong việc làm cha mẹ. Tôi mừng là Lauren và Jed vẫn còn nhỏ, để tôi có thể tận hưởng những năm tháng trưởng thành của các con.

Từ một vị trí đơn độc vào đầu những năm 1980, khi tôi là chuyên viên mô tả nhân dạng toàn thời gian duy nhất của FBI - được Roy Hazelwood, Bill Hagmaier và một vài người khác hỗ trợ khi thời gian biểu của họ cho phép, đơn vị hiện đã lớn mạnh và có hơn mười người. Bấy nhiêu vẫn chưa đủ để xử lý khối lượng vụ án chúng tôi được giao, nhưng có lẽ đó là quy mô lớn nhất có thể để chúng tôi duy trì mối quan hệ cá nhân với nhau và những cơ sở ở địa phương vốn đã trở thành đặc trưng trong cách thức hoạt động của chúng tôi. Nhiều cảnh sát trưởng và thanh tra nhờ đến sự giúp đỡ của đơn vị từng gặp chúng tôi trong các lớp tại Học viện Quốc gia. Cảnh sát trưởng Jim Metts liên lạc với tôi để nhờ hỗ trợ tìm kẻ sát hại Shari Smith và Debra Helmick, Đồn trưởng Lynde Johnston nhờ Gregg McCrary giúp xác định xem ai đang giết hại những cô gái làng chơi ở Rochester vì họ đều là học viên tốt nghiệp từ Học viện Quốc gia.

Đến giữa những năm 1980, Đơn vị Khoa học hành vi đã được chia thành Đơn vị Giới thiệu và Nghiên cứu về khoa học hành vi, và Đơn vị Hỗ trợ điều tra khoa học hành vi - trong đó tôi có mặt với tư cách quản lý chương trình mô tả tính cách tội phạm. Hai bộ phận chính khác bên cạnh bộ phận của tôi ở Đơn vị Hỗ trợ điều tra là VICAP, Jim Wright kế nhiệm Bob Ressler quản lý bộ phận này, và bộ phận Dịch vụ kỹ thuật. Roger Depue là trưởng bộ phận Giới thiệu và Nghiên cứu, còn Alan “Smokey” Burgess là trưởng bộ phận Hỗ trợ điều tra. (Anh ta không có quan hệ với Ann Burgess, nhưng chồng cô ấy, Allen Burgess, là đồng tác giả với chúng tôi trong cuốn sách Cẩm nang phân loại tội phạm. Quý vị hiểu chứ?)

Dù công việc của tôi đầy mệt mỏi và thách thức ở nhiều khía cạnh, nhưng tôi cũng xoay sở gây dựng được một sự nghiệp nổi bật và đáng hài lòng cho bản thân. May mắn là tôi đã tránh được công việc mà gần như bất kỳ ai muốn thăng tiến trong tổ chức này đều phải đảm nhận - quản trị hành chính.

Chuyện đó thay đổi vào mùa xuân năm 1990. Chúng tôi đang tiến hành một cuộc họp của đơn vị thì Smokey Burgess thông báo anh ta sẽ nghỉ hưu, không làm trưởng đơn vị nữa. Sau đó, phó trợ lý giám đốc mới, Dave Kohl, người từng là giám sát của tôi hồi ở Milwaukee và là đồng đội trong nhóm SWAT, gọi tôi vào văn phòng anh ta và hỏi tôi có dự định gì.

Tôi nói tôi quá mệt mỏi và chán ngán với mọi thứ nên đang định nộp đơn xin một công việc văn phòng về tội phạm bạo lực ở phố trên và kết thúc sự nghiệp của mình như vậy.

“Anh không muốn thế đâu”, Kohl bảo tôi. “Anh sẽ phát điên lên ở đó cho mà xem. Anh có thể đóng góp nhiều hơn với tư cách trưởng đơn vị.”

“Tôi không nghĩ mình muốn vị trí đó”, tôi nói với anh ta. Tôi vốn đang thực hiện rất nhiều nhiệm vụ của trưởng đơn vị rồi và là bộ nhớ của cả đơn vị vì tôi đã làm ở đây từ rất lâu. Nhưng trong giai đoạn này của sự nghiệp, tôi không muốn bị mắc kẹt với công việc quản trị hành chính. Burgess là một quản lý tài ba, rất khôn khéo trong hoạt động can thiệp để những người làm việc cho anh ta có thể làm việc thật hiệu quả.

“Tôi muốn anh làm trưởng đơn vị”, Kohl tuyên bố. Anh ta là kiểu người năng nổ, quyết đoán, tích cực.

Tôi nói tôi muốn tiếp tục điều tra vụ án, đề ra chiến thuật cho các phiên xét xử, làm chứng trước tòa, và phát ngôn trước công chúng. Đó là công việc mà tôi cho rằng mình làm tốt. Kohl bảo đảm với tôi rằng tôi có thể làm được và đề cử tôi vào vị trí đó.

Hành động đầu tiên của tôi với cương vị trưởng đơn vị, như tôi đã nói rất nhiều lần, là “loại phần KH” bằng cách loại bỏ “Khoa học hành vi” trong tên gọi của đơn vị và gọi một cách đơn giản là Đơn vị Hỗ trợ điều tra. Tôi muốn truyền đạt đến các khách hàng là cảnh sát địa phương và toàn bộ FBI một thông điệp rõ ràng về xuất xứ - và nơi không phải là xuất xứ - của mình.

Với sự trợ giúp và ủng hộ xuyên suốt của Roberta Beadle, quản lý nhân sự, tôi nâng số lượng nhân viên của VICAP từ bốn lên mười sáu người. Phần còn lại của đơn vị cũng phát triển và chúng tôi nhanh chóng có được tổng quân số khoảng bốn mươi người. Để giảm một phần gánh nặng quản trị do số lượng nhân sự tăng lên, tôi lập ra một chương trình quản lý theo vùng, trong đó từng đặc vụ chịu trách nhiệm cho một vùng cụ thể của đất nước.

Tôi nghĩ tất cả họ đều xứng đáng hưởng bậc lương GS-14, nhưng tổng bộ chỉ sẵn lòng cho chúng tôi bốn đến năm vị trí như thế. Vì vậy, tôi thuyết phục họ đồng ý rằng mỗi người hoàn thành một chương trình đào tạo chuyên biệt hai năm sẽ được công nhận là chuyên gia và những đặc vụ giám sát xứng đáng với cương vị như mức lương đó. Chương trình này thẩm tra toàn bộ Đơn vị Khoa học hành vi của Học viện Quốc gia - tham gia hai khóa đào tạo của Viện nghiên cứu Bệnh học cho các Lực lượng vũ trang, làm công việc liên quan đến tâm thần học và luật tại Đại học Virginia (bấy giờ, Park Dietz đang giảng dạy tại đó), tham dự trường đào tạo chiến lược thương thuyết của John Reed, học về điều tra tử vong với Văn phòng Chuyên viên pháp y Baltimore, làm việc cùng các đơn vị điều tra án giết người của Sở Cảnh sát New York và viết các bản mô tả nhân dạng dưới sự hỗ trợ của một trong các quản lý vùng.

Chúng tôi cũng tham gia điều tra các vụ án quốc tế nhiều hơn trước đây. Chẳng hạn như trong năm cuối trước khi nghỉ hưu, Gregg McCrary tham gia điều tra các vụ giết người hàng loạt lớn ở Canada và Áo.

Về mặt chức năng, đơn vị hoạt động tốt. Về mặt quản trị, tôi điều hành không theo quy tắc cứng nhắc, như một khía cạnh trong tính cách của tôi vậy. Khi thấy ai đó đang kiệt sức, tôi sẽ xem lại các quy định, giảm bớt công việc của họ hoặc bảo họ nghỉ ngơi một thời gian. Sau cùng, mọi người sẽ đạt năng suất cao hơn so với khi tôi bắt họ làm theo quy định. Bạn nhiều người giỏi làm việc cho mình và không thể thưởng tiền cho họ, bạn phải giúp họ bằng nhiều cách khác.

Tôi cũng luôn hòa thuận với nhóm nhân viên hỗ trợ và khi tôi nghỉ hưu, dường như họ cảm thấy nuối tiếc nhất. Việc này có lẽ giống như lúc tôi còn phục vụ trong Không quân. Có rất nhiều lãnh đạo trong Cục là sĩ quan quân đội (và nhiều người khác, như SAC cuối cùng của tôi, Robin Montgomery, là những anh hùng chiến tranh được tặng thưởng nhiều huân huy chương) nên họ tiếp cận mọi việc từ góc nhìn của một sĩ quan. Góc nhìn này không sai và những tổ chức lớn sẽ vận hành kém trơn tru nếu đa số quản trị viên giống như tôi. Nhưng tôi từng là binh nhì nên luôn đồng cảm với những người làm công việc hỗ trợ. Nhờ vậy mà tôi thường nhận được sự giúp đỡ tôi cần nhiều hơn một số quản lý khác.

Rất nhiều người nghĩ về FBI theo cách họ từng nghĩ về IBM: một tổ chức quan liêu khổng lồ với những người thông thái và tài giỏi nhưng giống nhau, không có khiếu hài hước, lúc nào cũng mặc sơ mi trắng và vest tối màu. Nhưng tôi rất may mắn khi là thành viên của một nhóm nhỏ thực sự đặc biệt, mỗi người đều nổi bật theo cách riêng. Thời gian trôi qua và vai trò của khoa học hành vi trong ngành thi hành luật tiến bộ hơn, tất cả chúng tôi phát triển những đam mê đặc biệt cũng như lĩnh vực chuyên môn riêng một cách hết sức tự nhiên.

Từ những ngày đầu tiến hành nghiên cứu của chúng tôi, Bob Ressler theo đuổi nghiên cứu trong khi tôi thiên về khía cạnh hành động. Roy Hazelwood là một chuyên gia về tội phạm cưỡng hiếp và giết người vì tình dục. Ken Lanning là chuyên gia hàng đầu về tội phạm đối với trẻ em. Jim Reese bắt đầu bằng công việc mô tả nhân dạng nhưng lại có đóng góp nhiều nhất trong lĩnh vực căng thẳng và kiểm soát căng thẳng dành cho các sĩ quan cảnh sát và đặc vụ liên bang. Anh ta có bằng thạc sĩ chuyên ngành này, viết nhiều sách và được cộng đồng thi hành luật săn đón vì khả năng cố vấn của mình. Sau khi anh ta tham gia đơn vị, Jim Wright không chỉ đảm nhiệm đào tạo các chuyên viên mô tả nhân dạng mới mà còn trở thành chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực tội phạm theo dõi, một trong những loại tội phạm liên cá nhân nghiêm trọng tăng trưởng nhanh nhất. Mỗi người chúng tôi đều tạo dựng rất nhiều mối quan hệ với các văn phòng thực địa, phòng cảnh sát, văn phòng quận trưởng và cơ sở tiểu bang trên khắp cả nước, để bất kỳ ai gọi đến nhờ giúp đỡ đều sẽ biết và tin tưởng người mà họ đang trò chuyện.

Những người mới vào đơn vị, cố gắng hòa nhập với nhóm “ngôi sao” này, đặc biệt sau khi bộ phim Sự im lặng của bầy cừu ra mắt và mọi người trên cả nước vô cùng hứng thú với công việc của chúng tôi, thường cảm thấy thoái chí. Nhưng chúng tôi trấn an họ rằng lý do họ được chọn là vì chúng tôi cảm thấy họ có tố chất để trở thành một thành viên toàn diện và có năng lực của đơn vị. Tất cả họ đều có kinh nghiệm điều tra phong phú và khi họ đến với chúng tôi, chúng tôi cho họ tham gia một khóa đào tạo đầy đủ, trực tiếp trong hai năm. Thêm vào đó, sự thông minh, trực giác, cần cù, liêm chính và tự tin của họ kết hợp với khả năng lắng nghe và đánh giá quan điểm của người khác. Từ góc nhìn của tôi, một trong những điều khiến cho Học viện FBI trở thành cơ sở hàng đầu thế giới trong lĩnh vực của mình là Học viện tập hợp nhiều con người, mỗi người theo đuổi đam mê riêng và có tài năng riêng, vì một mục đích chung. Mỗi người lại khích lệ các phẩm chất này ở những người khác. Tôi hy vọng và tin tưởng rằng hệ thống mà chúng tôi xây dựng, với tinh thần trách nhiệm chung và hỗ trợ lẫn nhau trong đơn vị sẽ còn tồn tại khi những người thuộc thế hệ đầu chúng tôi về hưu.

Trong bữa tiệc tối chia tay của tôi ở Quantico vào tháng Sáu năm 1995, rất nhiều người nói những điều tốt đẹp về tôi, khiến tôi vừa cảm thấy xấu hổ vừa vô cùng cảm động. Thú thực, tôi đã chuẩn bị tinh thần sẽ bị cười cợt và đoán là các đồng nghiệp sẽ tận dùng cơ hội cuối cùng tôi còn ở văn phòng để xả hết những điều họ đã cố nén. Tôi gặp Jud Ray trong nhà vệ sinh sau buổi tiệc và anh ta tỏ rõ sự hối tiếc vì đã không nói. Nhưng một khi họ bỏ qua cơ hội của mình, và đến lượt tôi phát biểu, tôi cảm thấy không việc gì phải kiềm chế bản thân nên đã xả hết những lời nhận xét hài hước và châm biếm mà tôi chuẩn bị để đáp lại những gì họ sẽ nói. Tôi không có lời hay ý đẹp hoặc lời khuyên nghiêm túc nào để nói ra vào đêm đó; tôi chỉ hy vọng mình đã ghi dấu ấn bằng những năm tháng tôi cố gắng làm gương cho họ.

Sau khi nghỉ hưu, tôi vẫn trở lại Quantico để dạy và cố vấn, các đồng nghiệp của tôi biết tôi luôn sẵn sàng giúp họ. Tôi tiếp tục giảng dạy và diễn thuyết như trước, trình bày quan điểm của mình từ hai mươi lăm năm kinh nghiệm đào sâu vào tâm trí bọn sát nhân. Tôi đã không còn làm việc cho FBI nhưng tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ thực sự thôi làm công việc đã được đào tạo để làm. Đáng tiếc thay, ngành của chúng tôi phát triển rất nhanh và chúng tôi không bao giờ thiếu khách hàng.

Mọi người thường hỏi tôi rằng có thể làm gì với con số thống kê tội phạm bạo lực lớn khủng khiếp ở nước ta. Tuy chắc chắn có nhiều điều thực tế có thể và nên được tiến hành, tôi tin cơ hội duy nhất để giải quyết vấn đề tội phạm là tập hợp đủ người muốn giải quyết. Đào tạo thêm cảnh sát, xây thêm tòa án và nhà giam, phát triển kỹ thuật điều tra hiệu quả hơn thì cũng tốt, nhưng cách duy nhất giảm tỷ lệ phạm tội là tất cả chúng ta chấm dứt việc chấp nhận và cam chịu hành vi phạm tội trong gia đình mình, trong số bạn bè và người quen của mình. Đây là bài học từ những nước có tỉ lệ tội phạm thấp hơn nước ta rất nhiều. Theo tôi, chỉ có giải pháp gốc rễ này mới có hiệu quả. Tội phạm là một vấn nạn về đạo đức, chỉ có thể giải quyết ở cấp độ đạo đức.

Trong suốt những năm nghiên cứu và ứng phó với tội phạm bạo lực, tôi chưa bao giờ gặp kẻ nào xuất thân từ một môi trường mà tôi cho là tốt và một gia đình êm ấm, tương trợ lẫn nhau. Tôi tin đa số tội phạm bạo lực phải chịu trách nhiệm cho hành vi của chúng, đưa ra lựa chọn của chúng và đối diện với hậu quả từ những gì chúng làm. Bảo rằng một người không hiểu được tính nghiêm trọng của việc mình làm vì mới mười bốn mười lăm tuổi là vớ vẩn. Lên tám tuổi, Jed - con trai tôi - đã biết phân biệt đúng sai từ lâu.

Nhưng hai mươi lăm năm quan sát cũng cho tôi biết tội phạm là do hoàn cảnh “tạo thành” hơn là “bẩm sinh”, nghĩa là ở đâu đó trên con đường trưởng thành, ai đó có thể mang đến ảnh hưởng tích cực thay vì ảnh hưởng tiêu cực. Vì vậy, điều tôi thực lòng tin tưởng là ngoài việc có thêm tiền, thêm cảnh sát và nhà tù, cái chúng ta cần nhất là tình thương. Đây không phải là giải quyết một vấn đề phức tạp bằng biện pháp đơn giản thái quá mà là giải quyết từ gốc rễ của vấn đề.

Không lâu trước kia, tôi được mời diễn thuyết trước chi nhánh ở New York của Hội Nhà văn trinh thám Mỹ. Buổi nói chuyện có đông người tham dự và họ đón nhận một cách nồng ấm, chân thành. Những người này, viết truyện về những vụ sát nhân và hỗn loạn để kiếm sống, thật sự thích thú lắng nghe một người đã tham gia hàng ngàn vụ án thực. Trên thực tế, kể từ sau khi Thomas Harris và Sự im lặng của bầy cừu nổi lên, các nhà văn, phóng viên và nhà làm phim đã đến gặp chúng tôi để lắng nghe “câu chuyện thật”.

Nhưng điều mà tôi nhanh chóng nhận ra khi kể lại các chi tiết của một số vụ án mà tôi thấy thú vị và sinh động hơn, là nhiều người trong hàng ghế khán giả đang mất dần hứng thú và rời đi. Họ cảm thấy ghê tởm khi nghe về những điều mà tôi và cộng sự nhìn thấy hằng ngày. Tôi thấy họ không thích nghe chi tiết, đồng thời, chắc hẳn họ cũng nhận ra họ không muốn viết về các vụ án đúng như những gì chúng xảy ra. Cũng phải thôi. Mỗi nhóm có đối tượng khách hàng riêng mà.

Không phải lúc nào con rồng cũng chiến thắng và chúng tôi đang làm hết sức mình để bảo đảm số lần chiến thắng của nó ngày càng ít đi. Nhưng cái xấu mà nó tượng trưng, cái xấu mà tôi đối diện suốt sự nghiệp của mình, sẽ không biến mất nên phải có ai đó nói ra sự thật. Đó là điều tôi đã và đang cố gắng làm thông qua cuốn sách này, như những gì tôi đã trải qua.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: National Center for the Analysis of Violent Crime.

[2] Nguyên văn: Violent Criminal Apprehension Program.

[3] Nguyên văn: Bind them, Torture them, Kill them.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.