Không Tặc Trên Không

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Bạt

❊ ❊ ❊

Vào mùa đông năm 19—, tôi ở Monte Carlo trong ba tuần, có chuyến nghỉ dưỡng ngắn ngày một mình, đồng thời cũng tìm kiếm một căn biệt thự ở Roquebrune hoặc Mentone cho vợ tôi, người sẽ sang cùng đứa con nhỏ ngay khi nhà cửa đã được lo liệu ổn thỏa.

Thỉnh thoảng tôi lại ghé vào "Phòng bạc" đặt một hay hai đồng louis cho cửa chẵn lẻ hoặc cược góc bàn roulette; nhưng nhìn chung, Sòng bạc làm tôi thấy chán ngắt. Đám đông người thời thượng mang tính quốc tế — giống như những nút chai sâm banh nổi trên một vũng nước thải — những tay cờ bạc chuyên nghiệp, với lớp vỏ bọc dửng dưng lịch sự che giấu sự tham lam tột độ đối với những đồng tiền không do sức lao động mà có — chẳng khác nào chút tro tàn rắc lên ngọn lửa đang rực hồng — chẳng mang lại mấy hứng thú, và tôi thích những buổi đi dạo hay lái xe dài ngày trong cõi địa đàng trần gian của vùng Alpes Maritimes hơn.

Tôi trọ tại Khách sạn Métropole, lấy nơi đó làm điểm xuất phát cho các chuyến đi của mình, và một buổi tối nọ, sau bữa tối, tôi có ghé thăm Sòng bạc — một việc rất hiếm khi tôi làm. Tôi lang thang qua những phòng khách mạ vàng, ngột ngạt, thắp đèn dầu — để không vị quý khách mưu mẹo nào có thể cắt dây điện rồi cuỗm đi số tiền trên bàn! — tiếng thì thầm cùng tác phong gần như ra vẻ thánh thiện của những người chơi, những ả đào thời thượng diện đồ quá mức lướt đi với đôi mắt sắc lạnh và độc ác. Nơi đây chật kín người. Tất cả các ghế quanh bàn roulette đều có người ngồi, và mọi người cũng đứng xếp hàng sau các ghế ấy. Vì tôi cao ráo, nên tôi có thể với qua để đặt cược, và tôi đã làm vậy vài lần. Khi đã thua bốn đồng louis với một sự đều đặn đến phát ngán, tôi quyết định rằng việc đó chẳng đáng, và nghĩ mình nên ra ngoài hút thuốc, bởi vì trái ngược với những hình ảnh thường thấy trên tạp chí, hút thuốc không được phép trong các phòng chơi roulette hay trente-et-quarante.

Thế là tôi bước ra Atrium, sảnh lớn có hàng cột, trông giống như một sở giao dịch lúa mì quan trọng ở tỉnh lẻ, rồi châm một điếu thuốc. Nơi đây khá đông người đang đi lại dạo bước hoặc đọc những bản tin điện tín mới nhất được ghim trên một tấm bảng bọc vải nỉ xanh, và tôi đang thẫn thờ quan sát họ thì từ góc ngoặt chỗ phòng giữ mũ áo, tôi nhìn thấy... Danjuro!

Tim tôi chợt hẫng đi một nhịp, sự xuất hiện của hắn quá đỗi bất ngờ và gợi lại bao nhiêu ký ức. Thật mà nói, hắn dường như thuộc về một giấc mơ từ lâu đã lùi vào dĩ vãng và bị lãng quên, bởi vì Connie và tôi, bằng sự đồng thuận ngầm, hầu như chẳng bao giờ nhắc đến những ngày tháng đối mặt với bọn cướp biển.

Danjuro cách đó chừng mười lăm thước. Tôi nhìn rõ mặt hắn, và chắc chắn rằng mình không nhầm. Rồi hắn ngẩng lên, và tôi có thể thề rằng hắn đã nhìn thấy và nhận ra tôi.

Dù thế nào đi nữa, hắn liền quay phắt lại và lẩn đi qua góc khuất nhanh như một con chồn, và khi tôi chạy đến nơi thì hắn đã biến mất. Tất nhiên là tôi tìm kiếm dẫu biết rằng việc ấy sẽ vô ích nếu hắn muốn tránh mặt tôi, và kết quả đúng như tôi dự đoán. Chẳng còn lấy một dấu vết nào của hắn ở bất cứ đâu, và không một nhân viên phục vụ hay gác cửa nào nhìn thấy một quý ông người Nhật nào cả.

Tôi đi dạo trên sân hiên dưới ánh trăng, rồi quay về khách sạn và lên giường đi ngủ. Suốt một thời gian dài tôi không tài nào chợp mắt được. Sự xuất hiện của Danjuro đã làm lòng tôi thổn thức khôn nguôi. Cả một binh đoàn ký ức kéo qua tâm trí, và sự tò mò đứng ra điều phối đoàn quân ấy. Con người bí ẩn và nham hiểm đó đang làm gì ở đây? Phải chăng hắn vẫn đang trên cuộc hành trình báo thù tàn nhẫn của mình, di chuyển qua bức tranh toàn cảnh của đời sống châu Âu giống như một linh hồn Do Thái lang thang chịu án phạt báo thù? Chẳng hề có thêm chút tin tức nào về Vargus. Về phần mình, tôi đồng tình với nhận định của các cơ quan cảnh sát đại lục rằng tên khốn ác độc với giọng nói ngọt ngào ấy đã chết rồi.

Thật đáng thương hại khi nghĩ đến cảnh Danjuro lang thang khắp cõi đời để báo thù cho chủ nhân, lãng phí những năng lực tuyệt vời của mình cho một mục đích vô vọng. Đáng thương, vâng — dòng suy nghĩ của tôi cứ thế trôi đi — nhưng người ta không thể xem Danjuro là một con người bình thường được. Hắn đơn thuần là một ý niệm duy nhất được khoác lên mình hình hài da thịt, một cỗ máy kỳ diệu được thiết kế chỉ cho một thao tác duy nhất, một chuyên gia hoàn hảo đến mức trở thành kẻ cuồng tín.

Tội nghiệp Van Adams thay, việc bảo vệ và phụng sự y đã trở thành toàn bộ cuộc đời của Danjuro. Mọi năng lực của tâm trí và thể xác đều đã cống hiến cho mục đích duy nhất đó. Thế mà chắc hẳn hắn phải yêu quý người Mỹ đó lắm nên mới phục tùng đến vậy chứ? Và nếu hắn biết yêu thương thì hắn vẫn là con người!

Tôi vật lộn với câu hỏi đó cho đến tận rạng sáng mà vẫn chẳng tìm được lời giải đáp. Tôi thừa biết rằng, dẫu cho chúng tôi từng đồng cam cộng khổ trong hiểm nguy và trải qua biết bao cuộc phiêu lưu kỳ lạ cùng nhau, thì nếu Van Adams còn sống và vì bất cứ lý do gì mà ra lệnh cho Danjuro thủ tiêu tôi, gã đàn ông thấp bé ấy vẫn sẽ thực hiện nhiệm vụ một cách gọn gàng, nhanh chóng và hoàn toàn không mảy may thương xót.

Tôi tự nhủ rằng Danjuro, với tư cách là một đối tượng phân tích tâm lý, hoàn toàn vượt quá tầm hiểu biết của mình, và cố gắng hết sức để quên đi sự kiện đó. Bằng một nỗ lực lớn, tôi đã làm được và tranh thủ chợp mắt được vài tiếng trước khi Thumbwood đến gọi tôi dậy. Tôi không nói gì với anh ta về việc mình đã nhìn thấy Danjuro, bởi vì anh ta cũng chẳng mặn mà gì khi nhắc đến những ngày tháng kinh hoàng ấy — có lẽ vì vợ anh ta, cô Wilson ngày trước và bây giờ vẫn vậy, tức người hầu của Connie — phản đối kịch liệt chuyện đó.

Khoảng mười một giờ rưỡi, tôi rời khách sạn và thong thả đi bộ đến chân tuyến đường sắt leo núi vốn kéo người ta từ dải đất hẹp nơi Monte Carlo tọa lạc lên tận những cao nguyên của La Turbie. Tôi dự định sẽ ăn trưa tại khách sạn tuyệt vời trên đỉnh núi trong bầu không khí trong lành của núi non, rồi sau đó đi bộ dọc theo con đường Thượng Corniche hướng về phía Roquebrune, Eze và những ngọn núi phía trên Mentone. Có rất nhiều điều để khám phá ở những vùng đất cao này — tàn tích của các pháo đài thời La Mã và trung cổ, được xây dựng để phòng thủ trước những đợt cướp bóc của người Moor từ Địa Trung Hải, và đây đó là những biệt thự tuyệt đẹp ẩn mình giữa những rừng thông và rùn ô liu, xa rời chốn xô bồ của nhân gian.

Chính một ngôi nhà kiểu như thế, một chốn ẩn tu giữa núi rừng, là thứ tôi muốn tìm và thuê trong sáu tháng. Tôi biết rằng thỉnh thoảng chúng vẫn được cho thuê, nhưng có chút khó khăn để tìm thấy trong sổ sách của các công ty môi giới. Ở Monte Carlo, tôi đã được quả quyết rằng tự mình đi dò la khảo sát trực tiếp là cách tốt nhất và nhanh nhất.

Tôi ăn trưa tại La Turbie với một món súp hải sản bouillabaisse tuyệt hảo và món lưỡi bê áp chảo riz-de-veau, rồi sau một khoảng nghỉ ngơi, tôi bắt đầu cuộc hành trình đi bộ của mình. Đó là một buổi chiều tuyệt đẹp, bầu trời trong vẳng ánh vàng. Xa tít ngoài khơi xa, đảo Corsica hiện ra như một đám mây mờ ảo. Sườn núi thoai thoải từng bậc ruộng ô liu nối tiếp nhau đổ xuống những cụm nhà sơn màu trông giống như những món đồ chơi. Phía xa bên phải là những mái nhà đỏ rực cùng những tòa nhà trắng lấp lánh của các cung điện Monte Carlo, và mỏm đất Tête du Chien hiện lên với đường nét hoàn hảo giữa sắc xanh thẳm của biển cả.

"Đúng vậy," tôi tự nhủ, "trên độ cao tuyệt vời này mới chính là nơi đáng sống khi người ta đến với vùng Côte d'Azur, và tối nay tôi sẽ không về nhà cho đến khi tìm được thứ gì đó..." Và tôi bắt đầu leo lên theo một lối mòn nhỏ.

Buổi chiều trời khá oi bức. Đi được một hai dặm, tôi dừng lại nghỉ dưới bóng mát của một tảng đá lớn rồi thiếp ngủ lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy, mặt trời vốn lặn rất sớm vào mùa đông, ngay cả ở vùng Riviera, đang dần ngả về Tây. Tôi không hoàn toàn chắc chắn về phương hướng của mình, nhưng nghĩ rằng mình có thể đến được Roquebrune theo một lối mòn chéo qua sườn núi, và từ đó dễ dàng xuống tới Cap Martin để bắt xe ngựa, rồi đón chuyến xe điện chạy lạch tạch dọc theo vách đá để về Monte Carlo. Thế là tôi lên đường.

Tuy nhiên, con đường mòn đó hóa ra lại không phải là đường đúng, và trời đã chập tối, hay đúng hơn là khoảng thời gian ngắn ngủi vô cùng đóng vai trò là hoàng hôn ở miền nam ấy, trước khi tôi đến được ba bốn căn lều đá nằm trước một cao nguyên có rào chắn nuôi đầy dê. Tôi giải thích tình cảnh của mình cho một người phụ nữ da ngăm đen đang ngồi đan len trước cửa, và bà chỉ đường cho tôi. Bà cũng nói, bằng thứ tiếng Pháp pha lẫn tiếng Ý vì biên giới cách đó chưa đầy năm dặm, rằng sẽ có một căn biệt thự nhỏ trống đang được cho thuê cách đây một dặm nữa — ít nhất là bà ấy tin là vậy.

"Bà có thể cho tôi biết tên của người chủ nhà được không, thưa bà?" tôi hỏi.

"Thưa không, thưa ngài. Đó là một ông chủ mới. Ngài ấy đã mua căn biệt thự này và một căn lớn hơn ở gần đó nhưng nằm cao hơn trên sườn đồi. Ngài ấy là một học giả hay đại loại thế, và sống hoàn toàn một mình, nên chắc ngài ấy không cần căn nhà nhỏ ven đường này đâu. Hơn nữa, căn nhà đó vẫn luôn được cho thuê vào thời của người chủ cũ, ngài M. Visguis ở Nice."

Tôi cảm ơn người phụ nữ tốt bụng, từ chối ly sữa dê, đưa cho bà một đồng năm franc rồi vui vẻ tiếp tục lên đường. Vận may đang mỉm cười với tôi. Căn nhà gỗ trên núi này sẽ vừa vặn hoàn hảo, và tôi quyết định sẽ vào phỏng vấn vị ẩn sĩ nọ trên đường về nhà.

Mặt trời lặn xuống, và màn đêm bất ngờ ập đến từ Địa Trung Hải nhanh như một cơn thác lũ. Mọi thứ tĩnh mịch đến chết chóc. Chẳng có loài chim nào ở những chốn hoang vu này, và tiếng vo ve của côn trùng ban ngày cũng đã dứt. Dù trăng mọc hầu như ngay lập tức và cung cấp đủ ánh sáng để định hướng, nơi này vẫn mang một vẻ quỷ quái lạnh lẽo. Những tảng đá khổng lồ đổ những cái bóng xám ngắt. Những cây thông đá đứng sừng sững như những lính canh lặng thầm, và vương miện khổng lồ bằng ngọc ngà châu báu — sắc hoàng úa trên nền nhung đen — chính là Monte Carlo, nay trông có vẻ xa tới cả trăm dặm.

Làm theo chỉ dẫn, cuối cùng tôi cũng đến được bức tường vườn của một căn biệt thự khá lớn, xung quanh mọc đầy những hàng cây khổng lồ u ám, và ánh trăng hắt lên đó một thứ ánh sáng ma quái. Tôi biết đây chính là ngôi nhà đang có người ở. Căn có thể cho thuê thì nằm thấp hơn về phía triền dốc và ở bên phía đối diện con đường — nằm bên tay phải tôi. Tôi chỉ có thể nhìn thấy mái nhà của nó khi ngó qua bức tường chắn.

Đẩy tung cánh cổng gỗ, tôi bước lên lối đi trong vườn hướng về phía Villa Turquoise — cái tên mà tôi đã dò la được. Tiếng ếch cây đang kêu râm ran quanh nhà, nhưng vì là mùa đông nên chẳng có những chú đom đóm thân thiện nào; thỉnh thoảng những tán lá cọ lại va vào nhau phát ra tiếng kêu khô khốc, xào xạc.

Thật khó để tìm thấy cửa ra vào khi tôi tiến đến gần biệt thự, nhưng chỉ một lát sau, tôi nhìn thấy một dải ánh sáng vàng rực hắt ra từ bên hông liền bước về hướng đó. Tôi bước trên thảm cỏ của một bãi cỏ nhỏ, lách mình giữa những tán cây cam và tiêu, đan xen đây đó là những bụi tầm bóp Cape.

Và cho đến khoảnh khắc đó, tôi chưa từng có mảy may nghi ngờ hay lo lắng nào. Thật vậy, tôi cảm thấy bình yên với chính mình và cả thế giới, được gột rửa và thanh tẩy bởi bầu không khí ngọt ngào của núi cao cùng tất cả vẻ đẹp mà mắt tôi đã chiêm ngưỡng ngày hôm đó. Rồi tôi nghe thấy, rõ ràng, mạnh mẽ và đầy bất ngờ, một hợp âm âm nhạc vang lên từ một cây đàn piano.

Tôi khựng lại chết trân tại chỗ.

Lại một tiếng vang chấn động nữa, rồi tiếp theo là một chuỗi nốt rải mượt mà và trầm ấm, khi những ngón tay tài hoa lướt lên lướt xuống trên phím của một nhạc cụ tuyệt hảo.

Người tôi lạnh toát, đột ngột và lạnh đến rợn người.

Tôi chẳng thể nhìn thấy gì ngoài một khung cửa sổ kiểu Pháp dài đang rực lên ánh sáng vàng cam ở mặt tối của ngôi nhà. Tôi chẳng nghe thấy gì ngoài mấy hợp âm trên một cây đại dương cầm.

Nhưng ngay khoảnh khắc đó, dẫu chỉ là trong tiềm thức, tôi đã hiểu.

Tôi bước tới trong những nhịp chuyển động máy móc nhỏ nhoi, lắng nghe với một nỗi sợ hãi kinh hoàng, một sự chắc chắn đến phát ốm. Chỉ một giây trước khi tôi đến bên cửa sổ và nhìn vào bên trong, giai điệu ấy cất lên.

Được tấu bởi một bàn tay bậc thầy, tôi nghe thấy những nốt mở đầu của bản Ballade số Ba của Chopin...

Thêm một bước chân nữa, và bản thân đang đứng trong bóng tối, tôi có thể nhìn thấu vào bên trong căn phòng.

Nhạc công chính là ngài Vargus.

Hắn đã để một bộ ria mép nhỏ, được vuốt sáp cong ở hai đầu, cùng một chòm râu dê đen nhỏ ở cằm. Hắn cũng mập hơn rất nhiều so với lần cuối tôi nhìn thấy, và đang mặc một chiếc áo khoác hút thuốc bằng nhung màu tím. Trên một ngón tay đeo chiếc nhẫn kim cương, lóe lên dưới ánh đèn khi đôi bàn tay vững chãi, đầy uy lực nâng lên hạ xuống.

Nở trên đôi mắt xảo quyệt là một nụ cười dịu dàng khi hắn diễn giải khúc nhạc tuyệt đẹp, kỳ ảo ấy.

Tôi sắp kể cho các bạn nghe chuyện gì đã xảy ra mà không hề có bất kỳ lời bình luận hay sự đính kèm nào về cảm xúc của chính tôi.

Giai điệu tiến triển đến đoạn tuyệt diệu mà Beardsley từng hình dung qua những nét vẽ thành hình một con ngựa trắng đang ung dung phi nước đại qua khu rừng thông tối tăm, trên lưng là một phu nhân khoác chiếc váy nhung đen.

Ngay những hợp âm mở đầu của chủ đề đó, cánh cửa phía sau người nghệ sĩ khẽ mở ra. Hắn chẳng hề hay biết gì.

Một bóng hình uy nghi và đáng sợ bước vào.

Đó chính là Danjuro, nhưng không phải là Danjuro mà tôi từng biết.

Hắn mặc một chiếc áo choàng bằng lụa màu vàng với tay áo kimono rộng thùng thình, và thắt lưng bằng lụa tím quanh eo. Giắt trong thắt lưng là vỏ kiếm dài của một thanh kiếm cổ Nhật Bản — chiếc vỏ kiếm bằng đồi mồi và bạc. Kiểu tóc của hắn được chải khác đi, đôi môi mím lại thành một đường thẳng tắp. Đôi mắt có vẻ dài bất thường, lấp lánh như sơn mài đen dưới ánh đèn chói.

Hắn rón rén bước tới và chạm vào vai Vargus.

Gã đàn ông mặc áo nhung bật dậy với một tiếng kêu ngắn, sắc lẹm. Rồi hắn quay phắt lại và giáp mặt với Danjuro.

Họ đứng chết trân, trân trân nhìn vào mắt nhau trong vài giây đồng hồ.

Tôi nhìn thấy một sự biến đổi ma quái bắt đầu xuất hiện trên khuôn mặt tên cướp biển. Từng chút một, thứ gì đó lan tràn lên mặt hắn tựa như một lớp khăn voan khi sự sống đang lụi tàn dần. Rồi hắn đổ gục xuống tấm thảm thành một đống mềm oặt.

Gã người Nhật cúi xuống nhìn hắn mà nét mặt chẳng hề thay đổi một chút nào trước cái nhìn trân trân lạnh băng và đáng sợ đó. Rồi hắn cúi người kéo cái thân hình mềm nhũn ấy nằm thẳng ra, lật úp mặt xuống đất. Hắn rút thanh kiếm ra rồi nâng cao lên khỏi đầu.

Khi lưỡi kiếm lóe lên, tôi nhắm chặt mắt lại...

Khi tôi mở mắt nhìn lại, lòng quặn thắt với nỗi đau đớn như cái chết, nhân vật trong bộ áo choàng vàng đã giơ cả hai tay lên cao quá đầu. Tay áo đã tụt xuống và những thớ cơ cuồn cuộn nổi lên trên lớp da ngăm đen.

Đôi môi Danjuro hé mở. Hắn dường như đang nói nhanh với một thứ gì đó ở phía trên mình. Toàn bộ khuôn mặt hắn rạng rỡ niềm vui sướng, và thanh kiếm trong tay phải chói sáng như một ngọn lửa cao vút.

Hắn đứng đó trong một lúc lâu. Rồi hắn hạ tay xuống, lấy ra một miếng lụa vuông màu tím từ ngực áo, lau sạch thanh kiếm, và tôi biết hắn định làm gì.

Hắn đặt phần chuôi kiếm nạm ngọc xuống thảm rồi căn chỉnh mũi kiếm tì vào phần bụng mình, dùng tay trái giữ vững lưỡi dao. Sau đó, với một tiếng thét lớn, tựa như sự thăng hoa tột độ, hắn lao mạnh người về phía trước...

Hắn đã đi về thế giới của riêng mình theo cách dành cho các Anh hùng nước Nhật thời xưa.

HẾT

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.