Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh

Lượt đọc: 279 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8. Lính Seal Rò Nước

❊ ❊ ❊

Bệnh tiêu chảy - mối đe dọa với an ninh quốc gia

Một ngày nào đó khi bay qua quốc gia sa mạc bị lãng quên Djibouti, qua cửa sổ máy bay lúc hạ cánh, bạn sẽ thấy thứ trông giống như công trường xây dựng rất lớn ngay cạnh sân bay. Thực tế, đó là một căn cứ quân sự của Mỹ, Trại Lemonnier: 3.500 người đang sống và làm việc trong những thùng công ten nơ đã được lắp đặt nội thất, một số chồng lên nhau, một số lại đặt cạnh nhau giống như trò chơi Tetris với những khối hình chữ nhật thô vậy. Ngoài những cây bụi mọc lên trong những vũng nước nhỏ xuống từ các cục nóng điều hòa, khung cảnh ở đây chẳng có gì. Thứ trang trí bên trong công ten nơ này có dạng những áp phích hướng dẫn hành động trong tình huống khẩn cấp (“Dừng lại và lắng nghe loa phát thanh…”) và các bức chân dung của cấp chỉ huy. Trong ba ngày tại căn cứ này, tôi đã nhìn thấy một thứ có thể gọi là đồ sang trọng: một vật dễ chịu, mềm mại và đắt đỏ được chuyển tới chỉ để mang lại một chút thoải mái cho cuộc sống của binh sĩ, thủy thủ hay phi công tại căn cứ. Đại úy Mark Riddle yêu cầu được trang bị loại giấy vệ sinh Charmin siêu mềm cho công ten nơ của Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân số 3. Tấm biển ngoài cửa đã giải thích cho việc này: Phòng khám chữa tiêu chảy.

Chỉ riêng từ tiêu chảy đã khiến mọi người cười phá lên. Riddle thì không thế. Ngược lại, anh còn tuyển lựa các đối tượng nghiên cứu qua phiếu BỊ TIÊU CHẢY? dán ở mặt sau cửa các nhà vệ sinh trong căn cứ. Một bức ảnh trong bộ ảnh Hình ảnh Trực quan Phân cấp Mức độ Tiêu chảy anh soạn ra để minh họa cho các đối tượng trong nghiên cứu hiện thời được lấy từ một tờ quảng cáo xúp của thương hiệu Campbell’s Chunky. (“Nhìn kỹ này,” anh sẽ bật mí, “có cả một cái thìa thò ra nữa.”) Dù sao, vì nhiều lý do rồi sau bạn sẽ hiểu, Riddle nghiên cứu về bệnh tiêu chảy một cách hết sức nghiêm túc. Như anh đã nói, hoàn toàn không đùa cợt: “Tôi sống và thở với thứ này.” Tôi đã nghe thấy anh dùng từ thiêng liêng để miêu tả bộ sưu tập mẫu phân đông lạnh của mình. Riddle cũng rất muốn cấp trên nghiêm túc nhìn nhận vấn đề này.

Trong những thế kỷ trước, đương nhiên người ta sẽ nhìn nhận vấn đề tiêu chảy một cách nghiêm túc. Bệnh lỵ “cướp đi mạng sống của nhiều binh sĩ hơn cả dính bom và dính đạn”, -William Osler, được mệnh danh “Cha đẻ của ngành dược hiện đại,” đã viết như vậy nào năm 1892. (“Bệnh lỵ” là một khái niệm rộng mô tả bệnh nhiễm trùng do tác nhân gây nhiễm trùng tấn công trực tiếp vào thành ruột, khiến cho các tế bào và mao dẫn đổ hết những thứ chúng chứa ra ngoài tạo nên triệu chứng đặc trưng của bệnh lỵ: tiêu chảy ra máu.) Trong số lính Mỹ thiệt mạng do thương tích trong Chiến tranh Mexico năm 1848, cứ một người chết do súng đạn lại có bảy người chết do bệnh dịch, chủ yếu là do tiêu chảy. Trong Nội chiến Mỹ, 95.000 binh sĩ bị thiệt mạng vì tiêu chảy hoặc bệnh lỵ. Trong Chiến tranh Việt Nam, ở các bệnh viện, số ca được chẩn đoán mắc tiêu chảy thậm chí nhiều gấp bốn lần số ca sốt rét.

Khi người ta chấp nhận lý thuyết về vi trùng gây bệnh và tìm ra cơ chế gây bệnh của chúng, các vi sinh vật - và môi trường bẩn thỉu nơi chúng sinh sôi lẫn các loại côn trùng truyền bệnh - trở thành mục tiêu của các chiến dịch quân sự. Theo đó, đột nhiên các khái niệm như Đơn vị Kiểm soát Ruồi, sĩ quan vệ sinh, nhà côn trùng học quân sự xuất hiện. Quân đội Mỹ đã tạo ra phần lớn các tiến bộ quan trọng trong việc ngăn chặn, chữa trị và hiểu biết về bệnh tiêu chảy. Cơ quan NAMRU-3 đóng tại Cairo, là đơn vị chủ quản của phòng thí nghiệm xoàng xĩnh trong công ten nơ tại Djibouti nơi Mark Riddle làm việc, được xếp hạng bốn sao trong việc chống lại căn bệnh tiêu chảy. Giám đốc đầu tiên của cơ quan này, Đại tá Hải quân Robert A. Phillips, đã phát hiện thấy việc thêm đường gluco vào dung dịch bù nước giúp tăng cường khả năng hấp thụ muối và nước của ruột. Tức là cơ thể có thể được bù nước bằng cách uống dung dịch thay vì phải đến bệnh viện và truyền nước qua tĩnh mạch. Đó không chỉ là chiếc phao cứu sinh cho những binh sĩ phải chiến đấu trong những vùng xa xôi, điều kiện y tế khó khăn mà còn có ích cho dân cư sống ở đó. Năm 1978, ban biên tập của tập san y khoa uy tín Lancet đã coi khám phá của Phillips “là tiến bộ y học quan trọng bậc nhất trong thế kỷ này”.

Nghiên cứu của Riddle có tên đầy đủ là Đánh giá thử nghiệm Chữa bệnh ngoại trú Bệnh tiêu chảy lữ hành (TrEAT TD)[1]. “Tiêu chảy lữ hành” là một khái niệm rộng nữa. Hầu hết nguyên nhân gây bệnh - ít nhất 80% - là do vi khuẩn, 5-10% do vi rút (chúng còn khiến bệnh nhân nôn mửa) và một phần rất nhỏ do các động vật nguyên sinh như trùng amíp hay ký sinh trùng. Tất cả chúng đều bắt nguồn từ thức ăn hay nguồn nước bị nhiễm bẩn. Cũng từng có một khái niệm riêng biệt được sử dụng tên là “chứng tiêu chảy quân sự” (quân sự ở đây hàm ý chỉ bệnh nhân là quân nhân, chứ không phải là đi té re), tuy nhiên nếu bạn nhìn vào các mầm bệnh thì cả hai cách gọi gần như tương đương. Tiêu chảy quân sự cũng là tiêu chảy lữ hành, vì những quân nhân đang phục vụ cũng là khách lữ hành - tại những nơi bạn thực sự chẳng muốn uống nước. Một cuộc thăm dò ý kiến do Riddle, David Tribble[2] và cộng sự thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ cho thấy rằng từ năm 2003 tới năm 2004, có 30-35% quân nhân tham chiến tại Iraq rơi vào hoàn cảnh không thể tiếp cận với đồ ăn hay nước uống an toàn. Đặc biệt trong những ngày đầu của cuộc chiến, các quân nhân giống như những người du lịch bụi, đi vệ sinh xuống hố và đuổi ruồi khỏi thứ đồ ăn bán rong của dân địa phương. Cùng trong bảng thăm dò ý kiến đó, 77% các binh sĩ tại Iraq và 54% tại Afghanistan từng bị tiêu chảy. 40% trong số đó mắc tiêu chảy trầm trọng đến mức phải cần đến sự chăm sóc y tế.

Trong số những quân nhân tới phòng y tế vào buổi sáng vì mắc tiêu chảy số người cố nén chịu nhiều gấp bốn lần số người dùng đến thuốc. Riddle muốn biết lý do tại sao. Thông thường một đợt tiêu chảy lữ hành kéo dài từ ba tới năm ngày. Sao họ lại cố chịu đựng nó, khi mà một số loại thuốc kháng sinh mới, theo dữ liệu của Riddle, có thể đưa họ về trạng thái bình thường chỉ trong bốn tới mười hai giờ? Anh đã đi hỏi khắp nơi, chủ yếu là vào lúc dùng bữa. Những chiếc bàn trong căng tin Dorie Miller Galley[3], một căng tin rộng cỡ nhà chứa máy bay, được kê theo những hàng dài, vì thế luôn có một người lạ thân thiện ngồi đối diện hay bên cạnh bạn, một người nào đó không quen để tán dóc về chuyện tháo dạ trong lúc bạn đang ăn.

Trong buổi sáng hôm nay, Riddle nói chuyện đó với một anh chàng ngồi bên trái anh. Bộ đồng phục cho thấy anh chàng mang họ Robinson này là một Trung sĩ Thủy quân Lục chiến. “Tôi bên Hải quân,” Riddle nói, “và chúng tôi đang nghiên cứu những cách chữa trị đơn giản cho bệnh tiêu chảy lữ hành. Chúng tôi thấy rằng chỉ một liều thuốc kháng sinh hay thuốc chống nhu động ruột…”

Robinson ngước lên khỏi đĩa trứng của mình. “Chống cái gì cơ?”

“Giống như Imodium,” tôi mở lời. “Giúp anh dừng nó lại.”

“Ô, hẳn nhiên là không rồi. Hai người sẽ không muốn can thiệp vào chuyện tự nhiên như thế.” Giọng nói của Robinson vang đầy nội lực và có sức thuyết phục, phát ra từ chiếc cổ ngắn như giọng của diễn viên Ving Rhames. Giọng nói ấy dễ khiến người khác nghĩ đến cảnh Riddle chạy một mạch về phòng thí nghiệm của mình ngay sau bữa sáng và vứt tất cả dữ liệu nghiên cứu vào thùng rác - Tôi đang nghĩ cái quái gì vậy?

“Cô cho vào mồm một thứ bẩn thỉu, nước bẩn hay thứ gì đó khác? Cô phải để cơ thể tự tống nó ra.” Tôi như đang cãi nhau về tiêu chảy với chiếc Loa Phóng Thanh vậy. “Nếu can thiệp, chẳng phải cô đã làm mất đi mục đích của việc tiêu chảy sao.”

Chúng ta đã nghe nhiều người nói lý kiểu như vậy. Mọi người nghĩ rằng bị tiêu chảy là do cơ thể đang cố loại bỏ những kẻ xâm nhập, hay tống khứ các loại chất độc mà chúng tạo ra. Họ không uống các loại thuốc chống nhu động ruột như Imodium bởi vì họ nghĩ thuốc ảnh hưởng đến quá trình đào thải. Tuy nhiên, tiêu chảy không phải là phản ứng của cơ thể để loại bỏ tác nhân gây bệnh, nó là hậu quả mà nguồn bệnh gây ra cho cơ thể. Theo nhiều cách nguy hiểm khác nhau. Shigella và campylobacter, hai loại vi khuẩn phổ biến gây nên bệnh lỵ, sử dụng một “cơ quan tiết dịch” vận chuyển độc tố - một dạng mũi tiêm có khả năng tiêm thẳng chất độc vào các tế bào trong thành ruột, giết chết chúng khiến chất dịch trong tế bào tràn ra ngoài. Phần dịch trào ra này góp phần làm cho phân có dạng lỏng, nhưng đâu chỉ có thế! Khi có quá nhiều tế bào thành ruột bị chết, ruột già không thể đảm nhận nhiệm vụ chính của nó là hấp thụ nước nữa. Phân, thay vì trở nên khô và rắn hơn khi di chuyển theo ruột già, vẫn giữ nguyên dạng lỏng trên cả quãng đường. Một loại vi khuẩn khác, vi khuẩn ruột kết Ecoli, cũng tạo ra hiệu ứng y hệt, nhưng theo cách khác. Chúng kết thành một lớp màng bám, một đội hình phalanx của vi khuẩn, phủ kín thành ruột và ngăn cản việc hấp thu nước. Phẩy khuẩn tả và độc khuẩn đường ruột Ecoli (hay ETEC) thì sử dụng vũ khí hóa học: cả hai loại này đều tạo ra một độc tố nhằm cướp quyền điều khiển chiếc bơm giúp duy trì trạng thái cân bằng nội tế bào. Chúng điều khiển chiếc bơm này bơm nước ra khỏi tế bào nhanh hơn mức mà bệnh nhân có thể bổ sung bằng đường uống.[4]

Tại sao những loại sinh vật này lại làm thế với chúng ta? Liệu đó có phải là động cơ có được từ tiến hóa không? Chắc chắn rồi, Riddle nói. Luôn luôn là vậy. Bằng cách khiến cơ thể con người tạo ra phân lỏng, phân sẽ bắn tung tóe và chảy tràn trên mặt đất, một mầm bệnh có thể tăng tốc độ lan truyền. Tràn khắp thế giới! Loại vi khuẩn gây ra bệnh tả đã làm điều đó cực kỳ hiệu quả. Mỗi bệnh nhân mắc dịch tả đi đại tiện tới 19 lít chất lỏng một ngày. Dòng chất thải đó chảy nhanh và nhiều đến nỗi một đồng nghiệp của bác sĩ Phillips trong Hải quân đã nảy ra ý tưởng phát minh một loại giường gấp dùng cho bệnh nhân tả, loại giường kiểu quân sự với một lỗ thủng được cắt ngay dưới mông. (Xô đựng được bán riêng). Loại giường gấp này, hiện nay vẫn được sản xuất, cho phép bệnh nhân “đi vệ sinh mà không cần rời khỏi giường”, theo như quảng cáo của trang specialneedscotscom, đưa uyển ngữ vào trong địa hạt của vật lý lượng tử.

Hơn nữa, vi khuẩn đường ruột không dễ gì bị tống hết ra ngoài. Chúng đã phát triển nhiều phương cách để bám trụ lại qua trận đại hồng thủy như vậy. ETEC - loại vi khuẩn gây ra khoảng một nửa số ca tiêu chảy lữ hành - được trang bị một dạng lông móc để bám chặt vào thành tế bào. Nhận được tín hiệu điện hóa phát ra từ tế bào, vi khuẩn sẽ mọc ra các lông co dãn được gọi là các pili, với giác hút ở tận cùng của lông. Hệ miễn dịch của chúng ta có nhiều phương pháp phòng vệ tinh vi hơn việc chỉ đơn giản xả xối mối đe dọa ra ngoài. Nó bắt đầu tạo ra hàng loạt các loại kháng thể chuyên biệt. Có loại sẽ nhắm vào các giác hút khiến chúng không thể bám. Loại khác có thể bám vào lông móc hay vô hiệu hóa chất độc.

Trung sĩ Robinson không nói gì thêm về tiêu chảy, nhưng anh muốn Riddle chuyển lời tới những người thiết kế gói giấy vệ sinh đi kèm khẩu phần ăn chiến trường, hay còn gọi là MRE (Bữa ăn liền). “Nó chỉ to cỡ này”[5], anh xé một mẩu giấy ăn bằng cỡ con tem bưu chính. “Để chùi mông của anh đấy, anh bạn!” Riddle buột miệng nói rằng lính Hải quân có mang theo giấy ướt dành cho trẻ sơ sinh. Có thể anh sẽ hối hận khi nói thế, bởi Robinson đáp lại rằng bên Thủy quân Lục chiến chỉ cần cắt một mảnh áo phông của họ là xong. Chi tiết này có thể tóm lược được mối quan hệ giữa hai quân chủng Hải quân và Thủy quân Lục chiến.

Riddle cảm ơn Trung sĩ Robinson và rời đi. Anh thích quay lại phòng làm việc của mình trước 8 giờ sáng, khi mà quốc ca - đầu tiên là của Djibouti, rồi đến của Mỹ - bắt đầu vang lên khắp Trại Lemonnier qua loa phóng thanh. Tất cả những ai đang ở ngoài phải dừng việc họ đang làm và đứng trang nghiêm cho đến khi nhạc dừng hẳn.[6] Quốc ca Djibouti có giai điệu khá du dương với một số đoạn dồn dập, giống như nhạc nền một bộ phim miền Tây ngày xưa. Người ta không bật toàn bộ bài quốc ca, tuy nhiên nếu đúng lúc bạn đang “cần kíp đi xả” sau một bữa ăn nào đó, thì bạn sẽ cảm thấy như cả bài đang được phát vậy. Việc ăn no - đặc biệt là sau những bữa tiệc đứng, nơi bạn có-thể-ăn-tùy-thích - sẽ gây ra một phản xạ dạ dày-đại tràng, một cơn nhu động mạnh khiến bạn muốn tống hết những thứ đang nằm trong ruột già ra ngoài. Đẩy ra hết bữa tối để dọn chỗ cho bữa sáng. Trên hết, nếu bạn mắc hội chứng ruột kích thích (IBS) thì sẽ có những lúc lòng yêu nước nồng nàn sẽ không thể giữ bạn đứng nghiêm cho đến khi bài quốc ca vang lên những nốt cuối cùng.

Trong những năm công tác tại tổng hành dinh NAMRU-3 ở Cairo, Riddle thường xuyên bị tiêu chảy do nhiễm khuẩn, một hậu quả của việc thường xuyên “lấy mẫu nhiễm khuẩn” tại các nhà hàng địa phương. Hội chứng ruột kích thích là một hậu quả vốn ít được công bố công khai nhưng lại được ghi chép kỹ càng của bệnh tiêu chảy - nhất là sau những lần bị tiêu chảy nặng hoặc tái mắc. Nếu bạn nói chuyện với những người vừa mới được điều trị chứng IBS, khoảng một phần ba số người này sẽ nói rằng họ thấy có triệu chứng của IBS sau một trận ngộ độc thức ăn nặng. Cơ sở dữ liệu của Bộ Quốc phòng cho thấy trong số các binh sĩ bị bệnh tiêu chảy khi đóng quân tại Trung Đông thì nam giới có nguy cơ mắc IBS cao gấp năm lần nữ giới. Ngay cả Cơ quan Quản lý Thương binh cũng ghi nhận IBS - cùng với dạng “viêm khớp phản ứng” - là một trong các “hậu quả sau viêm nhiễm” của nhiễm trùng đường ruột. Nếu bệnh nhân có thể chứng minh rằng tình trạng của họ là do bị nhiễm khuẩn shigella, campylobacter hay salmonella lúc còn phục vụ trong quân ngũ, họ sẽ nhận được một khoản đền bù. Riddle ước tính rằng Bộ Quốc phòng có thể sẽ phải trả cho những người phải chịu đựng các hậu quả lâu dài do ngộ độc thức ăn này số tiền nhiều tương đương lượng tiền trả cho những người bị hậu sang chấn tâm lý (PTSD).

Vậy tại sao không kê rộng rãi thuốc kháng sinh cho binh lính? Thứ nhất, thuốc kháng sinh dễ tạo ra một số vi khuẩn kháng thuốc, dù đây không phải là một vấn đề gì to tát bởi một số dòng kháng sinh mới có thể quét sạch vi khuẩn gây bệnh chỉ trong một ngày - khoảng thời gian quá ngắn không đủ để một vi khuẩn kháng thuốc biến đổi và sinh sôi. Có lẽ điều đáng lo hơn là, như một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra, ruột kết của những người đi ra nước ngoài từng dùng kháng sinh trị tiêu chảy, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á, rất dễ trở thành nơi cư trú của hai loại vi khuẩn “xấu”, rồi họ mang chúng về quê nhà và có thể làm lan truyền khắp khu mình sinh sống. Cả hai loại vi khuẩn này đều có thể sống trong ruột của lữ khách một thời gian ngắn và không gây bệnh khi sống ở đó, tuy nhiên chúng sẽ nguy hiểm cho những bệnh nhân có hệ miễn dịch yếu. Thế nhưng, với chỉ một liều thuốc kháng sinh thế hệ mới, vấn đề này sẽ được giải quyết triệt để.

Đây là những vấn đề đang rất được quan tâm tại các quốc gia thuộc thế giới thứ nhất. Trong tuần tôi bay về từ Djibouti, Tổ chức Y tế Thế giới đã công bố một bảng thống kê về số người chết vì tiêu chảy hằng năm trên toàn thế giói: 2,2 triệu người. Chỉ tính riêng vi khuẩn ETEC đã khiến khoảng 380.000 tới 500.000 người thiệt mạng mỗi năm. Trẻ em có nguy cơ tử vong cao vì cơ thể chúng mất nước cực kỳ nhanh. Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh công bố số trẻ em dưới năm tuổi tử vong vì tiêu chảy mỗi ngày lên đến 2.195 ca - nhiều hơn cả số ca tử vong vì sốt rét, AIDS và sỏi cộng lại. (Quỹ Gates hiện đang cấp tiền cho Hải quân Mỹ để nỗ lực phát triển vắc xin chống vi khuẩn ETEC.)

Ở độ tuổi đôi mươi, Riddle đã đi rất nhiều nơi và việc đó đã làm thay đổi nhận thức của anh. Rất nhiều thứ trong cuộc đời con người - cơ hội, sức khỏe và tuổi thọ của họ - được quyết định bởi nơi họ sinh ra. “Nó cực kỳ ngẫu nhiên,” anh nói. Chúng tôi đang ở trong văn phòng của anh, nằm ngay dưới phòng thí nghiệm trong cùng một chiếc công ten nơ. “Đáng ra không phải thế. Nơi cha mẹ cô sinh sống đáng ra không có ảnh hưởng gì hết.” Anh ngừng lại vì một chiếc máy bay phản lực rú lên khi cất cánh. Ở những thời điểm nhất định trong ngày, cứ cách vài phút bạn lại nghe thấy tiếng gầm rú này. Giống như bàn làm việc của bạn đang nằm bên dưới đường băng của sân bay Heathrow vậy. Tiếng động cơ nhỏ dần và Riddle tiếp tục. “Tôi đã theo học trường y để có thể cứu giúp nhiều người nhất có thể.” Rồi, đúng vào lúc tôi nảy ra suy nghĩ rằng anh đang trải lòng với mình: “Thế quái nào tôi lại đâm đầu vào nghiên cứu bệnh tiêu chảy.”

Tại Trại Lemonnier thường có một lối đi nhanh hơn để đến nơi bạn cần đến, nhưng đi theo lối này chắc chắn bạn sẽ bị bắn. Bạn cần phải vượt qua một hàng rào lưới thép B40 cao 3,6 m chăng dây thép gai Slinky bên trên, phớt lờ tấm biển “Dừng lại! Xâm phạm sẽ bị hạ!” rồi băng qua khu vực an ninh. Trại Lemonnier là nơi điều phối nhiệm vụ chống lại các hoạt động cực đoan ở cả vùng Bắc Phi và Yemen. Một phi đội máy bay không người lái đóng trong khu vực an ninh này cùng với lính Hải quân SEAL và các lính đặc nhiệm bí mật khác, những người ra vào căn cứ theo cách riêng của họ trên những chiếc xuồng tuyệt mật.

Họ là những người mà tôi muốn nói chuyện. Tôi quan tâm và coi bệnh tiêu chảy như một mối đe dọa tới an ninh quốc gia. Liệu cuộc tấn công tiêu diệt Osama bin Laden có thể thành công không nếu như một lính đặc nhiệm SEAL tham gia nhiệm vụ hôm đó bị tiêu chảy? Ngộ độc thức ăn có thường xuyên khiến một nhiệm vụ thất bại không?

Hôm qua tôi đã thuyết phục Trung úy Seamus Nelson, sĩ quan quan hệ công chúng của Trại Lemonnier - một người khôi hài và dễ mến, gửi một yêu cầu vào thư điện tử thường nhật vốn gửi cho tất cả mọi người trong căn cứ. (“… Mary hiện đang tìm các cá nhân có thể sẵn sàng chia sẻ câu chuyện về ảnh hưởng của bệnh tiêu chảy khi đang thực hiện nhiệm vụ…”) Bởi có cách nào khác để mở lời nói về vấn đề đó ngoài đời thực chứ? Lính đặc nhiệm rất dễ nhận diện - qua bộ râu, khổ người vạm vỡ, sự mạnh mẽ rắn rỏi toát ra từ họ - nhưng lại không dễ bắt chuyện. Chắc chắn là họ luôn muốn được ở một mình. Bạn sẽ không thể gặp họ trong quán bar hay trong quán cà phê Combat. Không một lính đặc nhiệm nào xuất hiện trong lễ hội thịt nướng của hội LGBT hay tham gia vào cuộc đua Thuyền Giấy Bồi ngày quốc khánh. Bạn cũng chẳng thể nào nhìn thấy họ trong phòng tập thể hình. Họ có những thiết bị tập luyện và huấn luyện viên riêng bên trong doanh trại.

“Họ chỉ đi ra ngoài để ăn,” Riddle cho biết. Chúng tôi đang ngồi trong văn phòng của Seamus, chờ để nói chuyện với một trong bốn người đã trả lời bức thư về chủ đề tiêu chảy mà bây giờ khắp doanh trại ai cũng biết.

Seamus gật đầu tán thêm. “Và để đánh cắp những người phụ nữ.”

Các cuộc phỏng vấn được sắp xếp lần lượt, người tiếp theo sẽ vào khi người trước đó đi ra, bầu không khí trong chiếc công ten nơ là nơi đặt phòng Quan hệ Công chúng hiện giờ mang vẻ tĩnh lặng, hối lỗi như ở phòng xưng tội của đạo Thiên Chúa. Chúng tôi đang nghe lời chia sẻ từ một sĩ quan chỉ huy một đơn vị tuần tra ven bờ, đơn vị bảo vệ các con tàu neo đậu của Hải quân khỏi những cuộc tấn công khủng bố kiểu như vụ tấn công tàu USS Cole trong cảng của thành phố Djibouti. Anh miêu tả lại cách vụ tấn công có thể xảy ra bằng việc sử dụng chiếc dập ghim của Seamus làm “mục tiêu giá trị cao”, cần được bảo vệ bởi một dụng cụ cắt băng keo và một chai thuốc dị ứng đặt dích dắc giữa chúng. Chỉ cần một lần bỏ vị trí để chạy vào nhà vệ sinh không đúng lúc sẽ khiến chiếc dập ghim trở nên dễ bị tấn công. Ngay cả khi các thủy thủ vẫn cắm chốt ở vị trí thì mức độ cảnh giác của họ cũng bị ảnh hưởng; “phân tâm do bệnh tật” là cụm từ để miêu tả việc xao lãng khỏi nhiệm vụ do bị tiêu chảy.

Chúng tôi cũng được nghe câu chuyện tương tự từ một viên phi công lái máy bay ném bom. Trong một chuyến bay dài xuất phát từ đảo Diego Garcia, thành viên duy nhất của tổ bay có khả năng điều khiển các thiết bị phòng thủ đột ngột rời vị trí để đi vệ sinh - khi đang bay qua vùng lãnh thổ của Afghanistan bị Taliban kiểm soát. Trên chuyến bay trở về, việc một mối nối bị lỗi kết hợp với sự chênh lệch áp suất giữa các khoang chứa của nhà vệ sinh đã khiến cho thứ chứa trong đó phụt ra đầy buồng lái. “Chắc chắn rằng,” anh ta kể với giọng không cảm xúc, “thứ cặn màu xanh nâu đó đã ảnh hưởng đến khả năng tập trung vào nhiệm vụ của viên hoa tiêu.”

Người đến phỏng vấn lúc 3 giờ 30 chiều là lính đặc nhiệm nghỉ hưu nhưng hiện nay đang làm theo hợp đồng thời vụ. Mặt trong một cẳng tay của ông có xăm một cặp dụng cụ kim loại bắt chéo nhau, tôi không thể nhận ra và đoán đó là vũ khí của một môn võ nào đó. Khi được hỏi về công việc đang làm, ông trả lời đầy ẩn ý, “tôi sửa chữa mọi thứ”. Tôi coi câu nói này giống như một uyển ngữ cho công việc không thể nói ra - đại loại như, loại bỏ nhân chứng, hay tiêu hủy các tử thi, có Chúa mới biết. Nói chuyện một hồi, tôi mới vỡ lẽ người đàn ông này là một thợ máy. Ông sửa chữa các thứ. Hóa ra hình xăm đó là một cặp pit tông.

Người thợ máy luôn bị tiêu chảy mỗi lần đội của ông đi làm nhiệm vụ. Do vậy, ông không bao giờ được phân công làm các nhiệm vụ “trinh sát tầm xa”, tức là chống khủng bố sâu trong lãnh thổ của quân nổi dậy. Những nhiệm vụ này, ông cho biết, buộc họ phải nấp trong một cái hố[7] quan sát một điểm nhất định - chẳng hạn như một giao lộ: ai đi và đến, có bao nhiêu xe tải đi qua giao lộ, ở thời điểm nào trong ngày.

Tôi gật đầu, nhưng không hiểu lắm. “Để biết…?”

“Liệu chúng ta có cần đánh bom chỗ đó không.”

“À.” Tôi thật ngốc.

Tôi hỏi tiếp người thợ máy liệu ông có biết chiến dịch quan trọng nào đó đã thất bại do có người bị ngộ độc thức ăn nặng không. Ông gạt bỏ giả thiết đó. “Những anh chàng được chọn làm kiểu công việc này sao? Họ không gặp phải các vấn đề như vậy. Vì thế họ mới được chọn.”

Khi ông đi khỏi, Seamus quay về phía chúng tôi. “Ây chà, cô nghĩ đó là một phần thi để được làm lính đặc nhiệm sao? Đưa cô chút thức ăn ôi thiu và xem cô có bị sao không?” Anh ấy đang nói đùa, nhưng trên thực tế có đến 20% dân số được Riddle gọi là “những người trơ lì”: những người có thể ăn món xa lát trộn cá sống ngoài đường, uống nước và không bao giờ bị đau bụng. Đó chắc chắn là một năng lực đáng giá. Riddle vẫn băn khoăn về việc liệu lính đặc nhiệm có sử dụng thuốc kháng sinh hay Imodium, chỉ là để đề phòng, trước các nhiệm vụ quan trọng. Hay họ sẽ âm thầm chịu đựng? Bác sĩ của lực lượng đặc nhiệm tại Trại Lemonnier - họ có bác sĩ riêng, đương nhiên rồi - nói về việc lính đặc nhiệm không thích nhờ đến sự giúp đỡ y tế vì lo bị mất uy thế của lính đặc nhiệm.

Riddle và tôi đặt rất nhiều câu hỏi. Nhưng, trời ạ, chẳng có lính đặc nhiệm nào trả lời bức thư điện tử về vấn đề tiêu chảy cả.

Có lẽ tôi nên viết một lá thư thứ hai, trong đó có đưa ra một khoản tiền cho ai đồng ý kể chuyện. Riddle khuyên tôi không nên làm điều đó. Anh nói người ta sẽ bịa chuyện để lấy tiền. Anh đã gặp phải những người đăng ký làm đối tượng nghiên cứu về tiêu chảy, đi vệ sinh và đưa cho anh một ống Thu thập Mẫu vật chứa mẫu phân hoàn toàn bình thường.

“Nữa à?” Seamus hỏi lại, “Tôi sẽ không gửi thư thông báo chung nào nữa nói về tiêu chảy. Tôi tham gia thế thôi.” Anh đã nhận được thư khiển trách từ trụ sở Trung tâm Chỉ huy Tác chiến Hỗn hợp vùng Sừng châu Phi về nội dung không phù hợp đối với thư điện tử gửi toàn căn cứ.

Nhà ăn là hy vọng cuối cùng của tôi.

Seamus Nelson cao 1,91 m. Khi vươn thẳng cổ ra hết mức, đầu của anh giống như một cái kính tiềm vọng vậy. Cho đến lúc này, anh vẫn đang quan sát một biển đầu với râu được cạo sạch sẽ đang chăm chú nhai trong nhà ăn Trại Lemonnier. Anh đang tìm người để râu. Chỉ có hai kiểu người được phép để râu ở đây[8]: lính đặc nhiệm và những nhân viên dân sự hợp đồng muốn mình trông giống như lính đặc nhiệm.

“Anh chàng của cô ở đằng kia.” Cái cổ dài co lại. “Ở phía góc cạnh cửa ra vào.”

Riddle và tôi đứng dậy. Ngày hôm qua, chúng tôi đã nhìn thấy anh chàng này đi ra khỏi cửa hàng bán đồ quân sự. Thậm chí không cần bộ râu, bạn sẽ nhận ra ngay anh là một lính đặc nhiệm. Có rất nhiều người cố gắng trưng ra vẻ dữ dằn của họ qua cách ăn mặc, lái xe hay xăm trổ. Và có những người khác, như anh chàng này, chẳng cần làm gì để tạo dựng hay chủ động phô ra nét tính cách đó, nhưng nó luôn hiện hữu. Nó được hình thành một cách tự nhiên sau những gì anh ta đã trải qua.

Hơn nữa, tôi đã nhìn thấy anh ta đi vào khu vực an ninh cao.

Điều này hứa hẹn một tình huống khó xử. Không phải chỉ bởi vì chủ đề nói chuyện. Đó là cách mà những con người giống như anh ta tác động tới cảm xúc của bạn: bạn đột nhiên cảm thấy bé nhỏ và sự hiện hữu của bạn thuộc những quan tâm vụn vặn trong mắt anh ta. Liệu điều gì có thể bé nhỏ hơn việc viết về bệnh tiêu chảy? Và làm sao để giải thích lý do tôi lại chọn riêng anh ta?

“Seamus, đi cùng tôi, hãy giới thiệu tôi với anh ta.”

Seamus gọt vỏ một quả cam, một sợi vỏ cam dài rơi theo hình xoáy trôn ốc dần xuống khay của anh. “Tôi đâu biết cách, Mary. Chúng tôi không được đào tạo về tình huống này trong trường.”

Tôi lấy sổ và máy ghi âm.

“Gượm đã.” Seamus, rõ ràng là đang ngập ngừng, lau dần nước cam dính ở tay, từng ngón tay một. “Tôi sẽ phải bắt tay anh ta. Anh ta sẽ giết tôi mất.” Anh hạ giọng: “Cô khiến tôi khó xử quá.”

Tôi đứng dậy. Seamus hắng giọng, nghe có chút không vui, và đẩy ghế ra sau đứng dậy.

Chúng tôi đi băng qua nhà ăn, căng thẳng như học sinh trung học lần đầu đi vũ hội. Anh ta nhìn thấy chúng tôi nhưng nét mặt vẫn không hề thay đổi. Chúng tôi dừng lại ở phía sau anh ta, cách bàn ăn khoảng 30 cm. Giống như một âm thanh cáu kỉnh phát ra từ đàn công xét tô, Seamus tiến về phía trước. “Có phiền không nếu chúng tôi ngồi đây cùng anh một chút?”

Anh ta cầm lấy vành đĩa thịt của mình. “Tôi xong rồi.”

“Chúng tôi…”

“Tôi đi đây.”

Seamus cố nài. “Tôi chỉ hỏi anh một câu nhanh thôi, anh đang làm trong bộ phận nào?” Anh đang làm trong bộ phận nào! Tôi thấy thật ngưỡng mộ Seamus Nelson.

Anh chàng liếc nhìn Seamus, nhìn tôi, và lại nhìn Seamus. “Anh là ai?” Anh ta nói như ném ra một thứ gì đó.

“Tôi làm trong bộ phận quan hệ công chúng, và đây là một tác giả. Cô ấy đang viết một chương trong một cuốn sách, và cô ấy rất quan tâm đến việc tiêu chảy ảnh hưởng thế nào đến một nhiệm vụ…”

Đây là tín hiệu cho tôi. Tôi đoán người đàn ông này là lính đặc nhiệm, và tôi nghĩ anh ta biết chúng tôi biết điều đó. “Tôi đang tự hỏi không biết anh đã từng rơi vào một tình huống, kiểu như… trong một nhiệm vụ quan trọng mà…” Tôi bổ sung thêm, “À thì, vì tiêu chảy thường bị người ta coi là một thứ ngu ngốc…”

“Không hề.”

Anh ta nói nhẹ nhàng, và điều anh ta nói tiếp theo tôi không thể luận ra được. Đại loại là việc ngồi co quắp tay bó gối trong một cái hố. Anh ta nói mình mới trở về từ một “trạm tiền tiêu” vô danh nào đó ở Somalia, tất cả mọi người đều bị tiêu chảy. Có thể đó không phải là một sự phóng đại. Trong khảo sát của Riddle về bệnh tiêu chảy ở Iraq và Afghanistan, 32% số người trả lời khảo sát cho biết họ đã rơi vào tình cảnh không thể tìm được nhà vệ sinh kịp lúc. Và lính đặc nhiệm trên chiến trường dễ mắc bệnh gấp hai lần những người khác.

Anh ta nói mình tên là Carey, và mời chúng tôi ngồi xuống. Tôi đặt chiếc máy ghi âm của mình ở trong tầm nhìn - ý là, trong tầm nhìn của bất kỳ ai ngồi bên bàn cùng phía với tôi. Chính xác hơn thì, nó nằm phía sau giá để đồ gia vị.

Tôi cần Carey tả lại hoàn cảnh. “Nếu như anh… ý tôi là, nếu như ai đó là lính bắn tỉa, và họ phải ẩn nấp… ừm, quãng thời gian đó là bao lâu?”

“Còn tùy vào nhiệm vụ. Cô đang trông chừng một thứ gì đó chẳng biết có xảy ra hay không.”

“Vâng, và nhiều khả năng nhất là anh đến một ngôi làng nào đó, anh phải ăn thứ gì đó không hợp vệ sinh như…”

“Dê,” anh ta nói. Trước đó tôi đã được nghe kể về một bữa thịt dê tại vùng nông thôn Afghanistan, với những cụm từ như “lông cháy sém” và “còn không thì sống sít”. Một điều chắc chắn là rất mất vệ sinh, Carey xác nhận. “Thật không may, chúng tôi không chiến đấu ở các nước phát triển.”

Carey nói mình “không”, như Mark Riddle từng nghe nói một số người đã làm, uống thuốc kháng sinh và thuốc Imodium phòng ngừa trước mỗi nhiệm vụ hay sau khi ăn thịt dê. Anh ta có một sự phòng bị khác. Đó là một luật nghiêm ngặt trong lực lượng đặc nhiệm. “Cô phải đi vệ sinh trước khi làm một nhiệm vụ nguy hiểm.” Tông giọng trầm nghiêm túc của Carey không hề biến sắc lúc đang nói. Seamus đành góp tiếng, “Kiểu như một chuyến đi chơi với cả gia đình, và ông bố thì kiểu ‘Ta không quan tâm việc các con không muốn đi’ nhỉ!”

Trong chuyến đi chơi cùng gia đình, bạn không rơi vào tầm ngắm của một khẩu súng trường tự động khi đang ngồi xổm trên mặt đất. A. J. Bollet, nhà sử học nghiên cứu về y học quân sự, đã trích dẫn một lá thư của một binh sĩ trong Nội chiến Mỹ trong đó có viết rằng, một luật danh dự bất thành văn là cấm bắn một người đang “đáp lại tiếng gọi khẩn thiết của tự nhiên”[9]. Trong cuộc chiến chống khủng bố, không hề có quy ước như vậy.

Tôi vẫn cố nói úp mở để Carey kể về một nhiệm vụ cụ thể đầy hiểm nguy. “Anh đã bao giờ ở trong một tình huống mà anh đã bị…”

“Mất năng lực?” Tôi thích cụm từ này: một sự kết hợp giữa “không có khả năng” và “bị vô hiệu”.

“Có. Tôi đã từng bị mất khả năng chiến đấu vì ngộ độc thức ăn.” Carey ngả dựa người ra sau, một tay duỗi dài trên lưng tựa của chiếc ghế bên cạnh. “Tôi đang không hiểu anh chị muốn gì từ tôi.”

Seamus cố gắng giúp tôi. “Anh có thể kể cho chúng tôi nghe toàn bộ câu chuyện không. Anh biết đấy, kiểu như: Lúc đó tôi đã…”

Carey sẽ không kể thêm câu chuyện Lúc-Đó-Tôi-Đã. “Tôi có rất nhiều câu chuyện nói về việc tôi bĩnh ra quần lúc đang làm nhiệm vụ. Ở Iraq, tôi đã bĩnh ra quần. Ở Afghanistan, tôi đã bĩnh ra quần.” Không ai lùi lại phía sau hay rời vị trí để tìm nhà vệ sinh lúc đang thực thi nhiệm vụ. Tiêu chảy không thể là một tác nhân “ngưng việc giết chóc”.

“Rồi sau đó thế nào?” Seamus chúi người về phía trước như một đứa trẻ hóng chuyện. “Anh vẫn tiếp tục… làm nhiệm vụ chứ?”

“Đâu còn lựa chọn nào khác. Ý tôi là, đó là tình huống sinh tử. Vậy đấy.” Anh ta nhún vai. “Anh vẫn phải tiếp tục. Lo lắng về chuyện đó sau. Chừng nào anh xong việc và nhiệm vụ hoàn thành. Và tôi chỉ có thể kể chi tiết đến thế thôi.”

Tôi kể cho anh ta về nghiên cứu TrEAT TD của Mark Riddle. “Anh nên mang theo một liều một nghìn sáu trăm miligam rifaximin và một chai Imodium.”

Carey bất giác nhìn tôi chằm chằm. “Mục đích cuộc trò chuyện là gì đây?”

Tôi nói lại về nhiệm vụ của mình. Tôi cho anh ta xem sổ ghi chép của mình, giở đến trang Mark Riddle miêu tả thứ, vì các mục đích nghiên cứu của anh, cầm tiêu chảy (“cần phải rót được hoặc có hình dáng giống như vật chứa”).

“Ồ, cô đang ở nhầm nơi rồi, Mary.” Carey bảo tôi hãy đến Somalia. Vâng, hãy tưởng tượng ra một khung cảnh - một người phụ nữ Mỹ trung tuổi đi đôi dép xăng đan đế xốp dễ chịu, kéo theo một chiếc túi có bánh xe, đi lang thang qua các vị trí trấn giữ nơi sa mạc của các nhánh al-Qaeda địa phương. Ê này, các anh! Tôi đang tìm cứ điểm của lính SEAL đấy?

“Cô có thể tự mình đến đó nếu thích. Không nguy hiểm đâu.” Anh ta đưa hai ngón tay xoắn nhẹ bộ râu của mình. “À, thực ra có nguy hiểm chút xíu.”

Carey xin lỗi vì thái độ lạnh nhạt lúc trước. “Tôi nghĩ hai người thuộc hội NCIS.” Đội Điều tra Tội phạm Hải quân. “Hai người làm tôi sợ đấy.”

Carey đã đúng. Không ai có thể bị tiêu chảy khi ăn đồ ở Trại Lemonnier. Họ bị tiêu chảy sau khi “ăn đồ địa phương”: những người lính đặc nhiệm bị tiêu chảy khi ăn ở những ngôi làng xa xôi hẻo lánh, còn những người khác lại bị khi vào trong thành phố Djibouti để đổi món thay vì suốt ngày phải ăn mì Ý và bánh Taco trong trại. Giống như bạn khi đi du lịch ở Mexico[10] họ nốc cả nước vòi nhiễm khuẩn và thức ăn đường phố không được bảo quản lạnh. Trước khi có một vụ đánh bom tự sát trong thành phố khiến căn cứ phải ra lệnh giới nghiêm, một tháng trước khi tôi tới, Riddle ghi nhận có tới hai tá ca ngộ độc thực phẩm mỗi tuần. Trong cả tháng trước, khi mà tất cả mọi người bị nhốt trong căn cứ, chỉ có một người - là anh chàng đã tìm được một nhà hàng chấp nhận giao đồ ăn tận nơi - đã bước qua cánh cửa phòng thí nghiệm này. Riddle lúc ấy mới có thứ để tiếp tục nghiên cứu. Quả là nhà nghiên cứu tiêu chảy cô độc.

Nhà ăn của Trại Lemonnier đã rất nỗ lực để giữ cho thức ăn không bị nhiễm vi khuẩn. Lối vào nhà ăn được lắp một hàng vòi rửa tay mở bằng đầu gối và những lọ đựng xà phòng rửa tay Purell tại mỗi vòi rửa. Như vậy rất tốt rồi, nhưng sau đây mới là những điều thực sự quan trọng. Đầu tiên, các đầu bếp và những người phục vụ rửa tay ngay sau khi họ đi vệ sinh. Nếu bất kỳ ai trong số họ bị tiêu chảy thì người đó không thể phát tán vi khuẩn vào thức ăn, thứ sau đó được để trên bàn ở nhiệt độ phòng khiến loại vi khuẩn kia có khả năng sinh sôi đến số lượng đủ để gây bệnh. Và điều thứ hai: không hề có ruồi trong nhà ăn Dorie Miller. Từ khi điều hòa không khí xuất hiện, các nhà ăn quân đội luôn đóng kín mít. Không ai cần mở cửa sổ và không ai có thể mở.

Đó là hệ quả của mối liên hệ sau - giảm ruồi, đồng nghĩa với việc giảm nguy cơ nhiễm khuẩn đường ruột - bởi ruồi nhặng vốn là vật trung gian truyền bệnh. Năm 1898, trong cuộc chiến giữa Tây Ban Nha và Mỹ, một nhóm ba bác sĩ quân y, bao gồm cả vị bác sĩ tiếng tăm Walter Reed, được điều tới Cuba để tìm hiểu nguyên nhân bệnh thương hàn bùng phát và giết chết một phần năm số quân Mỹ tại đây. (Kết quả điều tra y tế của Reed đã chứng minh được chính muỗi, không phải không khí ô nhiễm hay giường mất vệ sinh, làm lây nhiễm bệnh sốt vàng da.) Nhóm bác sĩ cũng phát hiện ngay rằng tỉ lệ nhiễm bệnh của các sĩ quan thấp hơn, họ là những người có mắc màn trong lều để ngăn bọ xâm nhập. Tỉ lệ nhiễm bệnh cũng khác nhau dựa theo các phương pháp “xử lý chất thải” của các trại. Khu vực có xác suất nhiễm bệnh cao hơn có nhà vệ sinh lộ thiên, có thể là do, như nhóm của Reed ghi lại, “đám ruồi bâu trên những đống phân nhiễm khuẩn.”

Reed nghi ngờ đối tượng gây bệnh là ruồi và đống phân nhiễm đầy vi khuẩn chúng ăn, nhưng không có bằng chứng để kết luận. Ruồi không cắn. Vậy chúng truyền mầm bệnh bằng cách nào? Vào một ngày đẹp trời, Reed chú ý đến một con ruồi đang bò loanh quanh trên thức ăn của người lính. Quan sát gần hơn, ông nhận ra trên những chiếc chân lông lá của chúng có dính bột trắng. Trước đó ông vừa mới nhìn thấy bột trắng ở đâu đó? Hố phân! Các binh sĩ đã rắc vôi bột vào đó để làm vệ sinh doanh trại. Chân ruồi đã mang vi khuẩn từ phân tới thức ăn. Cơ chế đó được gọi là trung gian truyền bệnh cơ học. Mười tế bào vi khuẩn Salmonella enterica chủng Typhimurium cô lập trong một hũ đậu có thể tự nhân lên trong tiết trời ấm của một buổi chiều tại Cuba thành mười triệu tế bào khi đến giờ ăn tối.

Công trình nghiên cứu của Reed vẫn được sử dụng tại phòng Côn trùng học, Viện Nghiên cứu Quân sự Walter Reed (WRAIR), điểm đến tiếp theo của tôi. Ngành Côn trùng học quân sự làm đủ những việc mà bạn có thể trông chờ: tiêu diệt những loài côn trùng mang bệnh, xua chúng tránh xa khỏi binh sĩ và điều chế vắc xin cùng phương thức điều trị khi cả hai nỗ lực trên không hiệu quả. Trong trường hợp của lũ ruồi nhặng, xảy ra một điều có chút khác thường. Không giống trong hầu hết các câu chuyện về cuộc chiến giữa côn trùng và quân đội, lần này côn trùng lại là anh hùng.

❀ ❀ ❀

[1] Theo cách viết tắt thông thường thì nó đáng lẽ phải là TEAT TD. Dù sao, cũng đừng để tâm. Dầu không có đầu ti (teat) trên bảng hiệu thì những nhà nghiên cứu bệnh tiêu chảy cũng rất khó khăn mới nhận được sự tôn trọng họ đáng nhận.

[2] Đây là thống kê về việc nghiên cứu tiêu chảy của tôi: khi bạn nói chuyện với hai nhà nghiên cứu bệnh tiêu chảy có họ là Riddle và Tribble, có đến 94% khả năng bạn sẽ bị líu lưỡi và gọi nhầm tên cả hai hay một trong số họ thành Dribble (nhỏ giọt).

[3] Tên đầy đủ là The Dorie Miller Galley. Việc quân đội sử dụng biệt danh để đặt tên cho một cơ sở của họ theo tên một quân nhân là khá bất bình thường. Khi tên đầy đủ của ông này là Doris, một ngoại lệ đã được đặt ra. Doris “Dorie” Miller là một đầu bếp đã có những hành động cực kỳ dũng cảm trong trận tấn công của quân Nhật vào Trân Châu Cảng, dũng cảm đến nỗi tên của ông xuất hiện trên hai mươi ba cơ sở của chính quyền và dân sự, tám cơ sở có tên Dorie và mười lăm cơ sở - bao gồm cả Bưu điện Mỹ - lấy nguyên tên của Doris. Thậm chí Hải quân Mỹ còn đặt tên cho một tàu hộ tống theo tên của Doris Miller. Do hầu hết tàu hộ tống đều bỏ qua tên riêng, vấn đề với cái tên Doris có thể dễ dàng bị tuột bỏ.

[4] Liều lượng tạo nên độc tính. Khi dùng một lượng nhỏ chất độc giống như của phẩy khuẩn/ETEC có tác dụng chữa trị táo bón rất hiệu quả (nhất là bệnh táo bón gây ra một phần ba số ca mắc hội chứng ruột kích thích). Năm 2012, hãng dược phẩm Ironwood đã tung ra thị trường loại thuốc tổng hợp được một nhà nghiên cứu thị trường dược dự đoán sẽ mang lại “doanh thu bom tấn”, và danh hiệu nào phù hợp hơn cho một loại thuốc chữa táo bón chứ?

[5] Tôi đã cố, nhưng tôi không thể nói cho các bạn biết ai là người quyết định gói MRE phải kèm theo bao nhiêu giấy vệ sinh hay cách họ tính toán ra lượng đó. Tuy nhiên tôi có thể nói với các bạn nhiều điều về giấy vệ sinh, bởi vì tôi đã tìm được tiêu chuẩn liên bang ATSM D-3905. Tôi có thể nói với bạn về độ bền kéo, độ khô ướt. Tôi có thể nói về màu của giấy được phép sử dụng (trắng, trắng sữa xỉn, vàng, xanh), định lượng giấy tối thiểu và cơ bản, phần trăm sợi không tan, tốc độ ngấm nước. Và đó có thể chính là câu trả lời cho chúng ta. Bởi nếu hậu môn của bạn cũng sin sít như hậu môn của ai đó chịu trách nhiệm về “giấy vệ sinh sử dụng với vai trò một thành phần trong khẩu phần ăn dã chiến”, ASTM D-3905, có thể bạn không cần nhiều giấy chùi lắm đâu.

[6] Một số căn cứ khác thì cử hành quốc ca trong khoảng 4 giờ 30 phút tới 5 giờ chiều khi cờ được kéo xuống cất đi. Khi nhạc cất lên, bạn phải dừng mọi việc đang làm và quay mặt về phía lá cờ. Tôi đã có mặt ở Phòng thí nghiệm Natick khi điều này diễn ra. Không một lời giải thích, những người chủ nhà thôi nói chuyện, quay người, hướng mặt trang nghiêm về phía mô hình một nhà vệ sinh đóng thùng chắn giữa họ và lá cờ. Tôi đã nghe qua nỗi kinh hoàng về những nhà vệ sinh không nóc ngoài trời, vì thế lúc đó tôi cảm thấy hoàn toàn hợp lý để dành một chút sự tôn trọng, dù là không chủ ý cho Hệ thống nhà vệ sinh Tricon dành cho Quân viễn chinh.

[7] Lời khuyên cho cuộc sống trong hố: bọc chiếc bánh kẹp bơ lạc của bạn trong hai lần túi có khóa kéo dung tích cỡ 4 lít, vì chúng cũng có nhiệm vụ khác là để đựng phân. Mang theo cát vệ sinh dành cho mèo đổ vào trong túi trong trường hợp bị tiêu chảy. Cách làm này hữu dụng đến nỗi người đã nói với tôi thông tin trên, một trinh sát điều phối máy bay ném bom khi trở về từ Niger, đã bị viên chỉ huy đe hỏi để biết lý do Bộ chỉ huy Lực lượng Đặc nhiệm yêu cầu tiếp tế cát vệ sinh dành cho mèo.

[8] Luật bắt cạo sạch râu được đưa ra với các cuộc tấn công bằng khí độc trong Thế chiến I. Râu làm ảnh hưởng đến độ kín khí của mặt nạ phòng độc. (Lính đặc nhiệm là ngoại lệ vì họ cần phải trà trộn vào cộng đồng dân cư Hồi giáo địa phương, vốn để râu rất rậm, và cũng bởi vì họ đặc biệt.) Ngoài ra cũng có những quan ngại về vấn đề vệ sinh. Năm 1967, Bộ Lục quân Mỹ đã tiến hành một cuộc điều tra có tên “Những rủi ro của người để râu trong phòng thí nghiệm vi sinh”. Để kiểm tra xem liệu những người làm việc trong phòng thí nghiệm vũ khí sinh học trong những năm 1960 này có thể khiến các thành viên trong gia đình họ gặp nguy hiểm qua sự “tiếp xúc thân mật” hay không, các nhà nghiên cứu dùng một số mẫu râu người cho tiếp xúc với vài tác nhân gây bệnh chết người và gắn lên cằm của ma nơ canh. Sau đó, đầu ma nơ canh gắn râu được cho “tiếp xúc thân mật” với một số con gà con. “Mỗi con gà con 6 tuần tuổi trong nhóm ba con được giữ sao cho đầu chúng dụi sâu vào trong một phần ba bộ râu (mỗi con gà một bên và một con thẳng từ dưới cằm lên).” Khi những bộ râu được rửa đúng theo quy trình an toàn của phòng thí nghiệm thì không một con gà nào trong số chín con tiếp xúc với mật độ vi rút cao nhất bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên những cái đầu với bộ râu chưa rửa đã truyền căn bệnh chết người cho lũ gà tiếp xúc. Sau đó, lũ gà con chết và đầu ma nơ canh thì không bao giờ được gắn râu nữa.

[9] Dale Smith, nhà sử học nghiên cứu về y học quân sự tại Đại học Khoa học Sức khỏe Quân sự, lại hoài nghi điều này. Ông nói Bollet đã kết luận chỉ dựa trên câu chuyện của một người. Chắc chắn một điều, không hề có quy ước nào như vậy giữa các nhà sử học quân sự, những người sẵn sàng chớp mọi cơ hội để bắn hạ lẫn nhau.

[10] Làm sao Mexico trở thành biểu tượng cảnh báo cho bệnh tiêu chảy lữ hành? Một giả thuyết, của tôi, hướng về bố già của ngành nghiên cứu tiêu chảy, Herbert DuPont. Trong gần 30 năm, DuPont đã thực hiện các nghiên cứu tại Guadalajara, Mexico. Nếu như bạn nhập hai từ khóa “Guadalajara” và “diarrhea” (“tiêu chảy”) vào mục tìm kiếm trong kho dữ liệu PubMed, bạn sẽ tìm thấy bốn mươi lăm bài báo khoa học và một luận điểm rất thuyết phục khuyên bạn nên chuyển địa điểm đi nghỉ của mình sang Thụy Sĩ. “Các tác nhân gây bệnh đường ruột có trong món xốt Mexico tại các nhà hàng nổi tiếng tại Guadalajara…”; “Nhiễm khuẩn Coliform trên mẫu rau thu được từ các nhà hàng nổi tiếng tại Guadalajara…”; “Nhiễm khuẩn Coliform và E.Coli trong món tráng miệng phục vụ tại các nhà hàng bình dân tại Guadalajara…” Đã từng có ít nhất một người nỗ lực rửa tiếng nhơ này cho Mexico. Tác giả của một bài báo đăng trên tạp chí Y dược California đã đọc được rằng người Mexico thường bị bệnh tiêu chảy lữ hành khi họ thăm California. Cô nghi ngờ rằng có lẽ mức độ căng thẳng chứ không phải là điều kiện vệ sinh kém là nguyên nhân chính gây ra tiêu chảy. Cô đã phỏng vấn 215 tân sinh viên ngoại quốc và 238 tân sinh viên Mỹ tại Đại học UCLA về “những thay đổi trong mức độ thường xuyên trong việc đi đại tiện và độ đặc của phân”. Không một sinh viên ngoại quốc nào có dấu hiệu bị bệnh tiêu chảy lữ hành, dù cho kết quả này rất khó chính xác và rất nhiều người “đã không hiểu các khái niệm mà người phỏng vấn sử dụng”. Bạn dễ thấy cụm từ “phân lỏng” hay “tiêu chảy cấp” có thể khiến người nước ngoài lầm lẫn hay thậm chí là ghê sợ.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.