Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh

Lượt đọc: 293 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9. Nghịch Lý Những Con Dòi

❊ ❊ ❊

Ruồi nhặng trên chiến trường, mặt tốt và mặt xấu

Trong một bức tranh biếm họa đáng nhớ mà tôi xem hồi nhỏ, một người đàn ông với chòm râu dê ăn vận bảnh bao được vẽ ngồi đối diện với một con ruồi ở bàn ăn trong nhà hàng. Đó là một con ruồi khổng lồ, to đến mức ngồi trọn trên cái ghế như con người. Người đàn ông đang gọi đồ. Đoạn này là tôi đang diễn đạt lại. “Cho tôi món xúp gazpacho, và chút phân cho con ruồi của tôi.” Bức tranh là một lời bình luận về loài ruồi, hay có lẽ là một nhận định về thói quen lạ lùng của con người, luôn nâng việc ăn uống thành nghi lễ xã hội. Hay có lẽ chỉ là: dẫu bạn yêu mến một con ruồi đến cỡ nào, đi ăn tối cùng nó bạn sẽ rơi vào tình huống khó xử.

Và họa sĩ mới chỉ vẽ phân nửa của hoạt cảnh. Bởi vì ruồi không có răng, do đó chúng phải làm lỏng thứ muốn ăn (hoặc gọi thêm một bát xúp gazpacho). Chúng làm điều này bằng cách tiết enzym tiêu hóa ra ngoài. Quá trình này đã được ghi lại trong một bộ phim và được chiếu cùng với loạt phim về vệ sinh của Quân đội Anh những năm 1940, Ruồi nhà. “Chất nôn của chúng biến thức ăn của bạn thành một thứ giống như cháo sệt,” người dẫn chuyện nói với giọng trang trọng một cách bất hợp lý, “sau đó chúng sẽ hút thứ đó lên.” Hướng dẫn kỹ thuật số 30 (Ruồi nhặng) của ban Kiểm soát Côn trùng gây hại trong Quân đội cũng cho bạn biết thêm rằng “ruồi còn làm ô uế thức ăn bằng cách ị lên đó trong lúc ăn”.

Không có một con ruồi nào, dù to hay nhỏ, đang ăn tại nhà hàng Mexico Mi Rancho trong khu trung tâm Silver Spring tối hôm nay, nhưng một số nhà sinh học nghiên cứu về loài ruồi thì đang ăn ở đây, và việc đó cũng gây ra sự căng thẳng không kém. Bây giờ chúng tôi đang bàn luận về loại enzym tiêu hóa mà ruồi phun ra. Một nhà nghiên cứu mà tôi đã nói chuyện cùng tuần trước cho rằng tuyến nước bọt, chứ không phải dạ dày ruồi, đã tạo ra loại enzym này. Để làm rõ hơn, tôi quay sang nói với một trong những người đang ăn tối cùng mình là George Peck, chuyên gia về loài ruồi nhặng tại phòng Côn trùng học, Viện Nghiên cứu Quân sự Walter Reed (WRAIR), nằm ở cuối con đường này.

“Tôi nghĩ nó từ cả hai nguồn,” Peck nói. “Chúng nôn ra enzym từ trong dạ dày cùng với nước bọt lên…”

“Anh chị đã dùng xong chưa?”

Peck ngước nhìn cô bồi bàn. “Tôi xong rồi, cảm ơn… lên thức ăn.”

Đối với George Peck, chủ đề về loài ruồi và các hoạt động sinh lý bất thường của chúng không hề gọi ra sự ghê tởm. Phần lớn chúng đều rất tuyệt vời. Tôi đã nghe thấy anh trầm trồ thán phục độ nhạy cảm của lông trên cơ thể ruồi, cách chúng dùng lông để nhận biết dòng khí động sinh ra bởi bàn tay đang tiến tới và cất cánh chỉ trong tích tắc trước khi tay đập xuống. Anh kể về cặp cánh phụ, một dạng con quay hồi chuyển nhỏ xíu cho phép ruồi bay đứng yên một chỗ hay đổi hướng “nhanh hơn bất cứ hệ thống điều khiển bay nhanh nhất trên mọi máy bay phản lực”.

Một điều ít tốt đẹp của loài ruồi: các nhà nghiên cứu ở Nhật đã cô lập được một dòng vi khuẩn Ecoli có tên 0157:H7 - những trận bùng phát loại vi khuẩn gây chết người này thường xuyên được các tờ báo Mỹ nói đến - phát triển mạnh trong miệng và phân ruồi nhà. Vi khuẩn nằm trong hay trên cơ thể ruồi nhặng đã được biết đến với nguy cơ truyền bệnh thương hàn, tả, lỵ và nguyên một danh mục các bệnh tiêu chảy ít nguy hiểm hơn. (Cả ruồi nhà và nhặng đều được xếp vào nhóm “ruồi nhặng”.) Những nhà nghiên cứu người Anh đã ghi chép về mối quan hệ chặt chẽ giữa số lượng quần thể ruồi nhặng và những ca ngộ độc thức ăn gây ra bởi vi khuẩn Campylobacter, cả hai đều đạt đỉnh vào những tháng ấm nhất (Người Anh thường nói về “chứng tiêu chảy mùa hè” - phân nát và chứng chuột rút, cùng với những buổi đêm ấm áp đom đóm lập lòe là những đặc điểm chính của mùa này.) Trong một nghiên cứu vào năm 1991, một đơn vị dã chiến của quân đội Israel đã thực hiện chương trình diệt trừ ruồi nhặng gắt gao, kết quả cho thấy sau đó số ca ngộ độc thực phẩm của đơn vị này giảm 85% so với những đơn vị tương tự không thực hiện chương trình.

Hướng dẫn đối phó với ruồi nhặng của ban Kiểm soát Côn trùng gây hại trong Quân đội gồm có cả một thống kê về số lần nôn và thải phân vào thức ăn của một con ruồi trong 24 giờ sau khi được cho uống sữa có kiểm soát. Con số thống kê, trong khoảng từ 16 tới 31, thu được không phải bằng cách thức cả đêm để quan sát con ruồi mà bằng cách đếm những “vết phân” và “vết nôn mửa” (vết nôn có màu sáng hơn vết phân). Người đọc được mời đoán về số vết này trên thức ăn trong nhà ăn quân đội vào thời kỳ trước khi các nhà ăn được bịt kín. Nạn ruồi hoành hành trong nhà ăn quân đội thời Chiến tranh Việt Nam, bản hướng dẫn chỉ ra, trầm trọng đến nỗi “thật khó ăn hết một bữa mà không nuốt phải một đến hai con ruồi…”

Nạn ruồi ở nhà ăn vẫn xảy ra, hầu hết ở thời điểm vài ngày hay vài tuần đầu tiên của cuộc chiến, khi mà mọi thứ vẫn còn bề bộn. Vào giai đoạn đầu, vũ khí và đạn dược được ưu tiên vận chuyển đến trước hơn là nhà vệ sinh và tủ lạnh. Trong cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất, lính Thủy quân Lục chiến được điều tới khu vực này qua cảng Jubail, nơi chính quyền Arab Saudi cho họ ở trong các nhà kho. “Chúng tôi có mười nghìn lính Thủy quân Lục chiến và hai bệ xí xổm,” Joe Conlon, nhà côn trùng học về hưu của Hải quân Mỹ, nhớ lại. Nhà vệ sinh bị tắc sau đó không lâu và chất thải chảy đầy trên các con đường. Thêm vào đó, do không có kho lạnh trữ thực phẩm, thức ăn hỏng được chất đầy trên bến cảng trong cái nóng 38 độ c. Hàng nghìn con ruồi đã hành hương tới đây. Conlon ước tính có đến 60% số lính Thủy quân Lục chiến đã bị ốm.

Trong quá khứ, ở các chiến trường còn tồi tệ hơn. Chiến trường tạo ra một nguồn thức ăn dồi dào cho ruồi nhặng - một lượng dồi dào các chất hữu cơ thối rữa để ăn, để đẻ trứng và nuôi dưỡng thế hệ tiếp theo. Trên các hòn đảo Thái Bình Dương trong Thế chiến II, bản hướng dẫn của Ban kiểm soát Côn trùng gây hại trong Quân đội tiếp tục đề cập, “ruồi phát triển trên những tử thi nơi chiến trường và phân trong nhà vệ sinh lộ thiên nhiều đến mức ngoài sức tưởng tượng của xã hội hiện đại”. Một khung cảnh tương tự cũng diễn ra sau trận chiến tại El Alemein, Ai Cập, khiến cho các sĩ quan Quân đoàn 8 của Quân đội Anh đã phải đưa ra một hạn mức diệt ruồi - mỗi binh sĩ phải tiêu diệt ít nhất năm mươi con ruồi một ngày. Trong Chiến tranh Việt Nam, dòi ở trong các tử thi nhiều đến mức người ta phải bơm thuốc trừ sâu vào bên trong các túi đựng xác.[1] Trong trại của Conlon tại biên giới Cô-oét, rác thải chất thành đống càng làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn. Lính Thủy quân Lục chiến không được phép đốt rác - phương thức xử lý rác thông thường - vì lửa có thể làm lộ vị trí trại của họ. (Cuối cùng, rác cũng trở thành một phần của chiến lược quân sự. Chúng được mang đi trong đêm và đốt ở những khu vực xa trại để lừa quân Iraq.)

Vấn đề ruồi nhặng trầm trọng - hoặc được ghi chép lại rõ ràng - nhất là trong Nội chiến Mỹ. “Rất ít tân binh chịu sử dụng nhà vệ sinh lộ thiên kiểu rãnh…,” Stewart Marshall Brooks đã viết như vậy trong quyển Y học thời Nội chiến. “Rác lan tràn khắp nơi… [dọc theo] các nơi chứa chất thải của khu giết mổ động vật và thực phẩm thừa nhà bếp.” Hai nhà côn trùng học Gary Miller và Peter Adler, trong một bài báo về côn trùng và Nội chiến Mỹ, đã trích lại bức thư một lính bộ binh bang Indiana miêu tả cảnh: “Mưa xối xả… khiến nước lênh láng mặt đất đến khi toàn bộ khung cảnh trở thành một biển thối rữa… ngàn vạn con ruồi xanh… liên tục đẻ trứng… dưới ánh nắng ấm áp của mặt trời, chúng sớm nở thành hàng triệu con dòi lúc nhúc đến khi cả lá và cỏ trên mặt đất cũng bắt đầu chuyển động lúc nhúc theo.”

Bạn có thể tưởng tượng ra điều gì sẽ xảy đến với những vết thương hở của một binh sĩ nằm trên chiến trường một thời gian. Khả năng cao là bạn sẽ nghĩ sai.

Các binh sĩ, hai người trong số họ, đều vô danh cũng như không rõ bị thương ở chiến trường nào. Chúng tôi biết câu chuyện này xảy ra ở Pháp trong Thế chiến I, có lẽ ở thời điểm nào đó trong năm 1917. Chúng tôi cũng biết nó không xảy ra vào mùa đông bởi vì những người này được đưa đến bệnh viện quân y khi đã “nằm trên lùm cây” trong bảy ngày. Và bởi đó là mùa ruồi đẻ.

Khi tháo lớp vải băng vết thương, tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy hàng ngàn con dòi lấp đầy trong đó… Cảnh tượng nhìn là muốn buồn nôn và lũ sinh vật tởm lợm này nhanh chóng được loại bỏ bằng nhiều cách. Sau đó, vết thương được rửa bằng dung dịch muối sinh lý và một hình ảnh ấn tượng hiện ra… ở đó là những mô thịt màu hồng đẹp mắt nhất mà một bác sĩ có thể hình dung.

Đó là câu chuyện bác sĩ phẫu thuật William Baer thuộc lực lượng Viễn chinh Mỹ nghĩ tới khi ông nảy ra ý tưởng lạ lùng là thả dòi có chủ ý vào vết thương để giúp nó lành nhanh. Ấu trùng ruồi nhặng - chủ yếu là dòi của nhặng xanh - thích ăn thịt chết hoặc đang phân hủy. Khi chỗ thịt đó là một phần của vết thương hở, việc này giống như một kiểu phẫu thuật cắt mô hoại tử tự nhiên, cắt mô hoại tử - hành động loại bỏ các mô chết hoặc đang chết - giúp ngăn ngừa nhiễm trùng và làm vết thương nhanh lành. Do mô chết không được cấp máu, nên thiếu đi lớp bảo vệ của hệ miễn dịch và dễ bị vi khuẩn xâm nhập. Vi khuẩn làm vết thương bị viêm nhiễm, hư hại mô khỏe mạnh, khiến vết thương khó lành.

Baer đã bị ấn tượng trước việc các binh sĩ đó không sốt hay có bất kỳ dấu hiệu hoại tử nào. Tỉ lệ tử vong do các vết thương của binh lính - các vết thương hở lớn và gãy xương hỗn hợp - là khoảng 75% dù nhận được “sự chăm sóc y tế và phẫu thuật tốt nhất từ Lục quân và Hải quân Mỹ”. Năm 1928, một thập niên sau khi cuộc thế chiến kết thúc, Baer lấy hết sự dũng cảm để thí nghiệm trên dân thường. Những bệnh nhân đầu tiên của ông là trẻ em, có bốn đứa trẻ, tất cả đều bị nhiễm trùng xương khớp tái phát do nhiễm lao qua đường máu, một tình trạng mà ngay cả thuốc kháng sinh và phẫu thuật nhiều lúc cũng phải bó tay. Raymond Lenhard, tác giả nghiên cứu tiểu sử Baer, nhớ lại lúc ông được trực tiếp nghe nhà phẫu thuật đại tài này kể câu chuyện. Lenhard từng là sinh viên của Baer tại Trường đào tạo thuộc Bệnh viện nhi ở Baltimore và thường đi ăn tối cùng ông, dù miễn cưỡng. (“Vào bữa trưa, ông ấy thường làm chúng tôi hết muốn ăn.”) Bằng cách sử dụng lũ dòi của loài nhặng bắt được gần bệnh viện, Baer “lấp đầy” vết thương và quan sát kết quả thu được. Sau sáu tuần, vết thương của đứa trẻ đã lành. Những vết thương của ba đứa trẻ còn lại cũng thế.

Kiểu người gì lại bỏ dòi vào vết thương của một đứa trẻ để làm thí nghiệm chứ? Kiểu người tự tin, tất nhiên. Một người phá cách. Người cảm thấy thoải mái trước những thực tế không mấy đẹp mắt của sinh học. Người mà có lẽ tự thân đã là một hình mẫu không ưa nhìn của ngành sinh học. “Sếp quá béo, thở hổn hển, và khịt mũi giống như mắc tật máy giật,” Lenhard đã viết như vậy. Thỉnh thoảng Baer cứ thế đi thẳng từ phòng phẫu thuật lên giảng đường, giảng bài khi vẫn vận cái quần phẫu thuật lùng nhùng và dính đầy máu. Ông nuôi một con chó Chow Chow ở nhà, khiến trong nhà ông càng có nhiều tiếng khịt khịt và tiếng thở hổn hển hơn.

Bên trong vẻ ngoài tầm thường đó, Baer là một bác sĩ thực hành chính xác và tận tâm. Ông coi giải pháp “chữa trị bằng dòi” của mình ít ghê tởm hơn nhiều so với phương pháp cắt bỏ chi. Theo Baer, việc cắt bỏ một chi thể là “sự hủy diệt tận cùng,” Lenhard viết như vậy, thể hiện một sự tinh nhạy đối với việc tiếp thị cho trò chơi điện tử từ 80 năm trước khi nó hình thành.

Quá ấn tượng với khả năng của những “người bạn” ấu trùng của mình, Baer đã thiết kế và chế tạo một máy ấp trứng ruồi có thể điều chỉnh nhiệt làm bằng gỗ và thủy tinh tại bệnh viện của ông. Trong số 89 ca được áp dụng biện pháp chữa bệnh này, chỉ có ba ca lũ dòi thất bại và người bệnh bị chết vì nhiễm trùng. Sợ rằng ấu trùng nhặng có thể mang theo các vi khuẩn gây bệnh, Baer đã thiết lập ra một quy trình để nuôi lớn các mẫu vật tiệt trùng. Ngày nay, nhiều kỹ thuật của ông vẫn được sử dụng tại Phòng thí nghiệm Monarch, tại Irvine, California. Lũ dòi y tế của họ đã được tiệt trùng theo tiêu chuẩn của Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA), cơ quan đã chứng nhận ấu trùng nhặng là một loại công cụ y tế vào năm 2007.

Trong khi phần lớn “các nhà trị liệu dòi” hiện đại điều trị các vết lở loét khó lành trên chân do bệnh tiểu đường gây ra, George Peck đến từ WRAIR lại đang tìm cách đưa những con dòi y tế này trở lại nguồn cội của chúng là quân đội. Năm 2010, anh đã được tài trợ để nghiên cứu tính hiệu quả của ấu trùng nhặng trong điều trị vết thương nhiễm trùng dai dẳng do IED gây ra. Gần đây hơn, Peck đã được bật đèn xanh để biến đổi gien của ấu trùng nhặng xanh khiến chúng có thể tạo ra chất kháng sinh. Dù dòi đã có thể ngăn ngừa nhiễm trùng, các cá thể “siêu dòi” này có thể được tạo ra để chữa những kiểu nhiễm khuẩn cụ thể.

Peck đề nghị sẽ cho nở một đám dòi để tôi thực mục sở thị, anh sẽ căn thời gian sao cho khi tôi đến thăm ngôi nhà nơi vợ chồng anh sinh sống để ăn tối thì lũ dòi sẽ lớn đến đúng cỡ dòi y tế lúc được thả vào vết thương (khi đó chúng dài khoảng 2 mm). Tôi không có vết thương nào cả, chỉ có những câu hỏi.

George Peck và vợ chưa cưới, Vanessa, làm việc cùng nhau ở tầng hầm khu nghiên cứu sâu bọ tại WRAIR. Khu nghiên cứu sâu bọ này là một cơ sở để nuôi côn trùng - trong trường hợp này côn trùng sẽ được sử dụng để thử nghiệm vắc xin hay thuốc xua đuổi bất kỳ loài côn trùng đang truyền bệnh dịch cho binh sĩ. Vanessa lúc đó đang chăm sóc một bầy ruồi cát[2], còn George đang làm việc ở cuối tòa nhà với đám ruồi nhặng của anh. Cách bố trí chỗ làm thế này có thể làm giảm sự nhiệt tình của cặp đôi khác, nhưng với Peck thì vẫn hết mình. Bạn có thể cảm thấy điều đó bằng cách nghe những gì anh nói về vợ chưa cưới của mình. Peck là mẫu đàn ông rất dễ để cảm xúc chi phối. Tại nhà hàng Mi Rancho vài đêm trước đó, khi chúng tôi chuẩn bị ra về, câu chuyện dần chuyển qua chủ đề khác ngoài những con ruồi. Khi đứng lên khỏi ghế, tôi nghe Peck nói, không chủ đích nhắm tới ai cả, “Tôi yêu lũ ong lắm.” Từ yêu được thốt ra đầy cảm xúc.

Peck đã từ bỏ sự nghiệp nghiên cứu Mặt trời, bởi anh cảm thấy công việc đó mang anh quá xa khỏi thế giới tự nhiên. Anh và Vanessa chia sẻ ngôi nhà của mình với nhiều bạn đồng hành hơn bất kỳ ai trên thế giới. Vật nuôi của họ là một con nhện tarantula (tên là Henrietta) và một quần thể nhỏ gián Madagasca. Giống như William Baer, Peck có vẻ lập dị trong mắt người ngoài, nhưng những ai quen biết anh dù chỉ sơ qua cũng có thể thấy anh là người hào phóng và cởi mở.

Vanessa đang rửa đĩa trong khi tôi uống nốt cốc rượu. Lũ trẻ đang làm bài tập trong phòng khách. George để một đĩa thủy tinh chứa món tráng miệng ra trước mặt tôi. Bánh pút đinh sô cô la, tôi thầm đoán, nhưng trật lất. Đó là một miếng gan sống.

“Bọn này khoảng một ngày tuổi.” Peck chỉ vào một đàn dòi, cỡ hai mươi hoặc ba mươi con, đang nằm san sát nhau và ăn miếng gan. Lũ dòi rất dễ bị bỏ qua vì ta chỉ nhìn thấy phần chóp đuôi của chúng. Côn trùng lấy ôxy trong không khí qua những chỗ mở trên lớp vỏ cứng gọi là lỗ thở. Khi còn ở dạng ấu trùng, lỗ thở nằm ở hậu môn. Bên cạnh những điểm quyến rũ khác, dòi thở qua hậu môn. Đó là một đặc điểm thích nghi qua tiến hóa khá có ích khi, như Peck chỉ ra, “khi cả ngày cô chúi đầu vào đống thịt chết nhầy nhụa”. So với phổi và cơ hoành, đó là một hệ thống kém hiệu quả, một lý do khiến lớp Sâu bọ không bao giờ có thể tiến hóa đến kích cỡ lớn như lớp Thú. Sau khi đã ngắm nhìn một con ruồi vài phút dưới kính hiển vi tại nhà của George Peck, tôi đảm bảo với bạn rằng đó là một trải nghiệm hay.

William Baer đã ví cảnh lũ dòi đang ăn giống như đàn chó con. “Chúng tham lam đến mức khi tranh giành thức ăn, chúng sẽ cắm thẳng đầu xuống, đuôi chổng phộc như lũ chó con vẫn thường làm… xung quanh một chậu thức ăn vốn quá nhỏ so với số lượng chó con.” Baer nghĩ tới loài chó. Còn với tôi, chúng giống như một bộ những phím đàn accordeon nhỏ xíu mà một nghệ sĩ bậc thầy ma quái nào đó đang chơi điệu polka vậy. Điều quan trọng, nhất là đối với những ai đang được điều trị bằng liệu pháp dòi, chúng trông không giống lũ dòi ngoài đời thực lắm. Do đó nếu một bệnh nhân nhìn qua tấm băng hai lớp chứa dòi nhãn hiệu Monarch Labs LeFlap, đập vào mắt anh ta không phải là một cảnh tượng kinh dị như trong lễ Halloween.

Peck lấy ba con ngoài cùng đặt lên đầu ngón tay trỏ của tôi. Chúng ngóc đầu thẳng dậy và vung vẩy như những con rối vui vẻ trong chương trình truyền hình Sesame Street. Peck nói chúng đang tìm kiếm thức ăn. Và giờ thì hai con đang đội con thứ ba lên đầu chúng. Chúng khiến tôi nhớ đến sự hân hoan của nhóm cổ vũ sau một chiến thắng thể thao của đội nhà.

Peck không thích cảnh này lắm. “Chúng ăn đồng loại đấy,” anh nói nhẹ nhàng.

Khi nhìn kỹ hơn, đúng là chúng tấn công - và ăn thịt! - con cùng đàn. Chúng vừa mới rời khỏi miếng gan có hai phút thôi mà! Lũ dòi sống chỉ để ăn. Đó là tất cả việc chúng làm và phải làm trong bốn ngày hoặc hơn trước khi bắt đầu một quá trình nghe rất có vẻ viễn tưởng và cần nhiều năng lượng, đó là tự tái cấu trúc cơ thể và biến thành ruồi.

Peck đặt một con dòi xuống dưới ống kính hiển vi mà anh đã đặt sẵn trên bàn bếp để tôi có thể nhìn rõ hơn phần miệng: phần ấn tượng nhất của cơ thể dòi. Miệng gồm hai phần cong như lưỡi hái và nghiến chặt vào nhau. Chúng là thứ duy nhất trong cơ thể dòi cấu tạo từ ki-tin, có màu nâu và cứng, đối lập với cơ thể trắng bệch, đàn hồi và ẩm ướt của sinh vật này. May mắn cho các bệnh nhân dùng liệu pháp dòi để loại bỏ phần mô chết là các mô nằm sâu trong vết thương - dù chết hay sống - đều không có các dây thần kinh cảm giác; lũ dòi nằm ở trong các lớp trên cùng của da. Nhà cung cấp dòi y tế khuyến cáo không nên dùng quá “liều dùng” đề xuất - khoảng 5 đến 8 con dòi trên một xen ti mét vuông bề mặt vết thương - để có đủ mô chết cho dòi ăn, nếu không lũ dòi háu đói sẽ chuyển qua gặm cả da sống.

“Những bộ hàm tí xíu này,” Peck nói lúc tôi đang nhìn qua thị kính, “có thể làm được điều mà không bác sĩ phẫu thuật hay dao mổ nào có thể làm. Không có thứ laser rô bốt nào có thể bẻ cong đường đi của tia sáng để rọi vào những vết rách ẩn kín gây ra bởi một vụ nổ IED như những con dòi. Chúng là những nhà phẫu thuật bậc thầy.” Nếu như bạn muốn tiêu diệt đến những con vi khuẩn và mảnh mô chết cuối cùng, dòi là phương tiện hữu hiệu. Tất nhiên, lũ dòi khá nhỏ nên phải cần kha khá thời gian. Một đợt điều trị loại bỏ mô chết bằng dòi - có thể cần đến sáu lượt dòi thay phiên nhau - có thể tốn nhiều tuần. Trong khi đó, phẫu thuật cắt mô chết chỉ tốn vài giờ. Và nếu như hệ thống miễn dịch của bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh, trong trường hợp họ là những binh sĩ trẻ, thì không cần thiết phải loại bỏ đến mẩu da chết hay con vi khuẩn cuối cùng.

Nhưng Peck chưa bao giờ đề xuất sử dụng dòi ngay từ đầu để loại bỏ mô chết của vết thương do một vụ nổ gây ra. Đối với các quân nhân, dòi có thể tham gia vào quá trình chữa trị trong tương lai, chẳng hạn như có một loại nhiễm trùng dai dẳng - gây ra bởi dòng vi khuẩn kháng thuốc nào đó, có thể là loại vi khuẩn lạ và khó trị ẩn trong đất vốn bị ép sâu vào vết thương trên diện rộng. Những ca phức tạp như vậy xuất hiện thường xuyên đến mức Peck đã được quân đội tài trợ tiền để nghiên cứu trên chuột biện pháp sử dụng dòi để loại bỏ các mô chết ở vết thương dính đất nhiễm khuẩn gây ra bởi IED. Quy trình thí nghiệm cũng đã gặp nhiều thách thức. Quy trình đó đòi hỏi đội của Peck phải mô phỏng, trên chuột, được các vết thương cần phẫu thuật thường thấy do dính bom mìn. Để đáp ứng được yêu cầu của ban kiểm tra vì quyền động vật - và bởi đạo đức bản thân của Peck - không một khâu nào trong quy trình đó được phép gây đau cho những con chuột thí nghiệm. Dây thần kinh cảm giác cho phần cơ thể đó phải được nhận dạng và vô hiệu hóa từ trước.

Quỹ tài trợ cho Peck không còn được cấp tiền nữa, lý do thì khá dễ đoán. Các bệnh viện hiện đại luôn thiên về các phương pháp công nghệ cao và hướng tới tương lai. Đối với những người biết rất ít đến các nghiên cứu về dòi và tỉ lệ thành công của liệu pháp dòi, thì cách chữa trị này nghe khá mông muội và lỗi thời. Peck nhớ lại lần anh trình bày một số kết quả sơ bộ đầy hứa hẹn trong một phòng đầy những đồng nghiệp tham dự và lắng nghe một vị đại tá bất đồng quan điểm nói về những tiến bộ ông ta đã thấy trong ba mươi năm phục vụ tại WRAIR. Người đàn ông đó lắc đầu. “Và chúng ta thì đang dùng dòi cơ đấy.”

Một cuộc khảo sát vào năm 2012 lấy ý kiến những bác sĩ quân y Mỹ cho thấy quan điểm của viên đại tá đó không phải là của đa số. Trong khi chỉ có 10% số người trả lời khảo sát đã cho sử dụng liệu pháp dòi để loại bỏ mô chết thì 85% cảm thấy việc được thực hành liệu pháp dòi là một phương pháp dự phòng hữu ích. Thái độ dè dặt của họ chủ yếu xuất phát từ vấn đề thực tiễn: họ không biết lấy dòi từ đâu, sử dụng chúng thế nào hoặc xếp chúng vào hạng mục nào khi tất toán[3]. Trong một cuộc khảo sát nhỏ hơn, các bác sĩ lo ngại rằng cơ sở y tế nơi họ làm việc không cho phép sử dụng dòi, cũng như các bệnh nhân nhiều khả năng sẽ không chịu dùng.

Họ đã sai lầm khi nói về quan điểm của các bệnh nhân. Bác sĩ phẫu thuật David Amstrong, người đang điều hành Hiệp hội Tái tạo Chi Nam Arizona (SALSA)[4], đã sử dụng liệu pháp dòi cho hơn một nghìn bệnh nhân. “Số bệnh nhân từ chối chỉ đủ đếm trên một bàn tay,” anh đã kể với tôi như vậy. Bản tóm tắt phê chuẩn việc sử dụng dòi y tế của FDA cũng trích dẫn chỉ có 1% số ca “phàn nàn và có kết quả không mong muốn”, rất nhiều trong số những ca đó là do hãng chuyển phát nhanh FedEx đã giao hàng “muộn hay đánh mất” (hay thậm chí là lái xe giao hàng đã quẳng gói hàng vào thùng rác nào đó). Độ kinh tởm của những vết thương - cùng sự khó khăn khi xử lý chúng bằng những biện pháp chữa trị thông thường hơn - rõ ràng lấn át độ kinh hãi khi mang trên người những con ấu trùng nhặng còn sống nguyên. Đồng thời, dòi y tế trông không hề ghê như bạn nghĩ đâu. Khi lấy ra từ ống nghiệm chúng chỉ nhỏ như những hạt đường rắc trên bánh nướng. Lúc chúng không ăn sống nuốt tươi nhau thì trông cũng khá dễ thương. Chúng di chuyển giống như sâu đo, thứ mà bạn có thể thỉnh thoảng thấy đang bò vội vã dọc theo các trang của một cuốn sách thiếu nhi.

“Mọi người thấy thích thú với mấy anh bạn nhỏ dễ thương,” Amstrong nói, và nhanh chóng bào chữa “… và cả các cô nàng nữa.” Ý anh là, tôi hỏi, theo cách một người sẽ theo dõi quá trình phát triển của một cái cây giống con hay những con cá bảy màu họ đang nuôi đúng không? “Chính xác,” anh nói. “Rồi sau đó, quá trình lành lại của vết thương tiếp diễn. Thật khó để mô tả nó, nhưng ấu trùng đã khiến mọi người để ý đến vết thương một cách cảm xúc hơn.” Những bệnh nhân được điều trị bằng dòi y tế, ít ra là một số người, còn cảm thấy lạc quan và ung dung về vết nhiễm trùng đang được chữa lành của mình đến mức họ đi lại khắp nơi khi mặc chiếc áo phông của Phòng thí nghiệm Monarch với dòng chữ: “Trên người tôi có dòi!”

Những nhân viên bệnh viện lại không thích thú đến thế. “Rất nhiều bác sĩ và y tá cảm thấy ghê tởm,” Amstrong kể với tôi. Đại tá Pete Weina, nguyên giám đốc của Trung tâm Chữa lành Chi thể và Tổn thương hỗn hợp tại WRAIR, và hiện giờ đang đứng đầu các chương trình nghiên cứu tại đây, cũng đồng ý như vậy. Khoảng năm 2009, Weina đã tiếp nhận ca bệnh giống như của William Baer. “Tôi gặp một bệnh nhân bị ngất trong một con ngõ và lũ ruồi đã bay đến đẻ trứng vào vết thương của anh ta. Các y tá đều thốt lên, ‘Trời đất, kinh quá, hãy gạt hết lũ dòi ra khỏi đó đi!’” Nhớ lại những gì ông đã đọc về khả năng loại bỏ phần hoại tử thần kỳ của ấu trùng nhặng, Weina đã tự chế ra một loại băng gạc có khả năng giữ cho dòi không bò lung tung và để chúng vào trong vết thương. Vết thương đã được chữa lành nhưng Weina cũng không dám tiếp tục cách chữa trị này nữa. “Cả bệnh viện đã ghê tởm việc tôi đang làm.”

Dù không xem nhẹ thứ mà ông gọi là “yếu tố ghê tởm”, George Peck coi giá thành điều trị là trở ngại chính. Bạn có thể thắc mắc, làm gì có chuyện tiền điều trị bằng dòi lại đắt hơn tiền phẫu thuật được? Loại sinh vật này không hề đắt; một ống dòi của Phòng thí nghiệm Monarch có giá 150 đô la. Đó là một công việc rất tốn công sức của các nhân viên y tế - những người được đào tạo để giám sát lũ dòi và thay băng gạc nhốt dòi. Peck cho tôi xem bát gan thứ hai có chứa những con dòi vừa nở hai ngày trước. “Cô thấy miếng gan này sùi bọt và nhớp nháp như nào rồi đấy?” Với số lượng, có thể nói tới một trăm con dòi, anh giải thích, lớp lưới thoáng khí của băng gạc phủ ngoài sẽ nhanh chóng trở nên bí bách. Ấu trùng ngạt thở. Các y tá cảm thấy ghê sợ.

Thay băng phủ chứa dòi khó khăn hơn - ghê rợn và nhớp nháp hơn - thay băng cho các loại vết thương khác, bởi vì bạn đồng thời phải thay cả lũ dòi. Mỗi lần thay phải lau sạch dòi hoàn toàn - theo nghĩa đen, bằng một miếng gạc - trước khi lượt tiếp theo được đưa vào vết thương. Lũ dòi bị bỏ sót sẽ tiếp tục lớn và sẽ sớm chuyển sang giai đoạn lột xác. Sau vài ngày đánh chén thỏa thuê, ấu trùng ruồi sẽ rời bỏ đống nhớp nháp hỗn độn từng là căn nhà thơ ấu của chúng để tìm một nơi khô ráo, yên tĩnh để làm tổ - một lớp vỏ cứng giống như kén, rồi nở thành ruồi.

Có một dòng khuyến cáo trên vỏ đựng dòi y tế có nội dung: “Những con dòi lọt lưới đã gây ra sự khó chịu cho các nhân viên y tế…” Lý do đầu tiên, chúng là dòi. Lý do thứ hai, chúng sắp biến thành ruồi. Ruồi trong một cơ sở y tế. Ruồi trong phòng mổ. Đậu vào vết thương hở. Nôn và ị. Bay tới những vết thương khác, phát tán các mầm bệnh kháng thuốc dính trên chân chúng. Bác sĩ Ron Sherman, người sáng lập ra Phòng thí nghiệm Monarch đã bắt đầu nuôi dòi trong tủ đồ tại bệnh viện dành cho thương binh tại Long Beach - chiếc tủ đó bỗng trở nên “khá rộng rãi khi mọi người biết được điều tôi đang làm”. Vào lúc một con ruồi trốn thoát, ban quản lý bệnh viện đã công kích ông dữ dội. Từ đó Sherman phải di chuyển số “thuốc sống” của mình sang một nhà kho tại sân bay Irvine, nơi ông nuôi dòi, đỉa và vi khuẩn sống trong phân (để cấy phân). Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh nhân viên Sở thuế Liên bang vừa muốn, lại vừa ngại đến thanh tra công ty thuộc Danh mục C phải đánh thuế doanh thu này.

Ruồi nhặng bị thu hút bởi mùi của những thứ đang phân hủy: toàn bộ cơ thể hay nhiều lúc chỉ là một phần. Một phần hở nhiễm trùng, ẩm ướt và bốc mùi - một vết thương hay khoang tự nhiên của cơ thể - chính là tín hiệu mời gọi cho những con ruồi nhặng cái đang đến kỳ đẻ trứng. Khi việc nhiễm dòi được đăng trên tạp chí y khoa, chúng thường đi kèm với thuật ngữ “myiasis” (“nhiễm dòi”) và một bức ảnh ghê sợ chụp cận cảnh vùng nhiễm dòi bị nhiễm trùng như: lợi, lỗ mũi hay cơ quan sinh dục.

Sau đây lại là đôi lời của Ban kiểm soát Côn trùng gây hại trong quân đội: “Việc nhiễm dòi âm hộ ngày càng được quan tâm nhiều hơn bởi số lượng phụ nữ phục vụ trong các đơn vị tiền phương ngày càng lớn… Ruồi bị kích thích đẻ trứng bởi dịch tiết ra từ cơ quan sinh dục bị bệnh.” Trong thời tiết nóng, nhiều người ưa thích ngủ ngoài trời mà không che chắn gì, Ban kiểm soát nhận định. Và những nữ binh sĩ ngủ ngoài trời mà không mặc quần lót, tôi đoán, là người dễ có cơ quan sinh dục bị bệnh. Đây cũng là những người đang hướng đến việc bị “trục xuất khỏi quân đội” theo cách này hay cách khác.

Cuối cùng, cũng có những người “vô tình bị nhiễm dòi”, thông thường là ở ruột. Câu chuyện về nhiễm dòi ở ruột như sau: người bệnh phát hiện ra dòi ở trong hay gần chỗ phân anh ta đi vệ sinh hằng ngày và cho rằng mình vừa đại tiện ra chúng. Anh ta tiếp tục phỏng đoán thêm - và bác sĩ của anh ta cũng đoán như vậy - rằng anh ta tình cờ ăn phải thức ăn bị nhiễm trứng ruồi. Một tiến sĩ dược, một người hay lo lắng thái quá đã viết trong Tạp chí Y khoa nước Anh xuất bản năm 1947, quả quyết rằng “lớp vỏ ki-tin bền bọc ngoài trứng ruồi” sẽ sống sót được trong môi trường axít và enzym tiêu hóa của dạ dày, cho phép ấu trùng bên trong có thể di chuyển xuống được môi trường ít khắc nghiệt hơn tại ruột, nơi chúng sẽ nở và sống tại đó.

Và rồi F. I. van Emden, một thành viên của Viện Nghiên cứu Côn trùng học Hoàng gia đã rửa mối oan cho những con dòi bằng một lá thư gửi đến ban biên tập tạp chí. Liệu có hợp lý hơn không nếu cho rằng lũ dòi không phải nở trong bụng bệnh nhân mà trong - từ ngữ mà van Emden dùng để gọi nhà vệ sinh hay bô y tế như thể chúng là vật thiêng tôn giáo vậy - “bình chứa được sử dụng để nhận… chất thải”? Thêm nữa, van Emden chỉ ra rằng, trứng của côn trùng không được cấu tạo bằng ki-tin. Lớp “vỏ” trứng là một màng nhẵn, mỏng và có thấm nước. Để chứng minh cho quan điểm của mình, Emden tạo ra một môi trường dạ dày nhân tạo đặt trên bàn để thí nghiệm, trong đó có hỗn hợp dịch ruột ấm trộn với bánh mì đã nhai, sau đó ông bỏ trứng và ấu trùng của loài sinh vật gây tranh cãi vào đó. Lũ ấu trùng, kể cả ấu trùng vẫn nằm trong trứng đều không sống nổi.

Đối với bạn đọc nào cần biết chắc chắn hơn, tôi sẽ giới thiệu bạn với Michael Kenney, người làm việc ở Sở Y tế thành phố (GMS) Katanga, ở vùng Congo thuộc Bỉ, khoảng năm 1945. GMS có vẻ là một cơ quan cung cấp dịch vụ y tế cho những người nghèo. “Sáu mươi tình nguyện viên…,” Kenny viết trong bài báo Tiến trình của xã hội đối với các thí nghiệm sinh học và y tế, “được cho ăn dòi sống” của ruồi nhà, đóng trong những viên đựng có vỏ gelatin. Không rõ liệu những con dòi này - hai mươi con cho mỗi đối tượng thí nghiệm! - được đóng viên từng con hay tất cả được đóng vào một viên đựng duy nhất, tuy nhiên dù bằng cách nào đi nữa thì cũng chỉ tốn hai cốc nước để nuốt trôi hết toàn bộ. Một phần ba đối tượng thí nghiệm gần như ngay lập tức đã nôn viên đựng dòi ra không lâu sau khi nuốt với hầu hết số dòi còn sống nguyên. Hai phần ba số đối tượng thí nghiệm đã bị tiêu chảy với dòi chết xuất hiện trong phân của họ. Có một con dòi “hiếm hơi” đã sống sót sau chuyến hành trình kiểu Odyssey qua đường ruột đó, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là bệnh nhân đã bị dòi ký sinh trong ruột. Một chuyến đi ngắn ngủi qua đường tiêu hóa khác hoàn toàn với việc nằm lại và sống ký sinh ở đó. Tất cả các triệu chứng của tình nguyện viên đều biến mất sau 48 giờ và không con dòi nào xuất hiện nữa. Điều này cho thấy, một là, ấu trùng ruồi “không có khả năng sống bám trong đường ruột của loài người”. Và hai là, làm gì có sự chăm sóc y tế nào miễn phí.

Giờ đã gần 8 giờ tối tại nhà của Peck. George vừa mang ra một khay các mẫu vật côn trùng đã được gắn ghim. Tôi bị phân tâm giây lát bởi một con vẫn sống.

“George?”

“Hử?”

“Trên vai anh có một con côn trùng to trông khá đáng sợ đấy.”

Peck không buồn xác nhận lại điều đó. Mắt vẫn không dời khỏi cái khay, anh nói, “Nó có thể là một con bọ xít nâu vằn.” Vào thời điểm này trong năm chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Anh giải thích rằng tên của chúng được đặt dựa theo mùi phát ra khi con bọ bị giẫm nát. Con bọ xít lần này không bị giẫm bẹp mà được cẩn thận đưa ra khỏi màn cửa, và thả vào trong màn đêm đang buông xuống của vùng Maryland. Peck quay lại bàn bếp và ngồi xuống. “Dưới kính hiển vi trông chúng thật đẹp.”

Ta hãy chia tay George Peck - một hành động tôi đã cố trì hoãn lâu nhất có thể - để đến với phần lớn những nhà nghiên cứu về ruồi nhặng trong quân đội ở vùng Florida. Trung tâm chuyên nghiên cứu Côn trùng (NECE) của Hải quân được đặt ở Jacksonville, cách phòng Nghiên cứu Ruồi và Muỗi thuộc Bộ Nông nghiệp khoảng một giờ lái xe. NECE là bộ phận kiểm soát sâu bệnh cho quân đội. Đó là một công việc không bao giờ có hồi kết. Bởi các thế hệ côn trùng mới xuất hiện và biến mất chỉ trong thời gian tính bằng tuần, ruồi sẽ nhanh chóng tiến hóa để kháng lại bất kỳ thứ thuốc diệt côn trùng mới nào tấn công chúng. Luôn luôn có một vài cá thể có chứa một dạng đột biến giúp chúng sống sót, và những con sống sót này cùng với các con cháu đang nhân lên nhanh chóng của chúng sẽ nhanh chóng phục hồi số lượng ở nơi chúng vừa bị tiêu diệt, cười vào mũi loài người với những máy phun sương, tạo mù và máy phụt thuốc diệt côn trùng gắn trên xe tải.

Người ta nhớ đến lũ ruồi trong Chiến tranh Vùng Vịnh bởi sức sống dai dẳng đến mức phi thường, nhằm đáp lại nguồn thức ăn tương đối khan hiếm trong sa mạc. Trong chiến dịch Lá chắn Sa mạc, nhà côn trùng học của Hải quân Joe Conlon đã ở cùng với một tiểu đoàn lính bộ binh trên sa mạc Arab Saudi gần biên giới Cô-oét. Lũ ruồi ở đây giống như một loại đồng hồ báo thức, tuy phiền phức nhưng cực kỳ hiệu quả. “Khi ngủ, miệng cô sẽ mở. Bình minh vừa ló rạng, lũ ruồi sẽ bay ra, tìm kiếm thức ăn và hơi ẩm. Chúng sẽ bay thẳng vào mồm cô. Cô sẽ tỉnh giấc bởi tiếng ho và chửi rủa của lính Thủy quân Lục chiến.” Nhà nghiên cứu ruồi của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Jerry Hogsette, kể cho tôi nghe về một nhóm các nhà côn trùng học tham gia chiến dịch Bão táp Sa mạc đã lái xe thẳng vào vùng sa mạc hoang vắng cho đến khi không còn nhìn thấy căn cứ, dừng lại, và mở một hộp cá mồi. Chỉ trong vài giây, lũ ruồi đã bay đến.

Sự ràng buộc dai dẳng của loài ruồi với con người và sự bẩn thỉu của chúng giải thích cho nỗ lực không biết mệt mỏi của quân đội để tiêu diệt chúng: Những binh sĩ không ngừng vẫy tay đuổi ruồi là người kém tập trung vào nhiệm vụ. Nếu nhiệm vụ là bắn kẻ địch và không để mình bị bắn thì sự xao lãng đó cực kỳ nguy hiểm. Đối với lũ gia súc, sự xao lãng cũng gây ra nhiều tác hại khôn lường. Hogsette nói rằng bò có thể tập trung quá mức vào việc đuổi ruồi đến nỗi quên cả ăn và bị đói. Cộng đồng các chuyên gia nông nghiệp gọi nó là “nỗi lo lắng về ruồi”.

Trong các cuộc chiến ở Vùng Vịnh người ta cũng thấy xuất hiện “nỗi lo lắng về việc phun thuốc diệt côn trùng.” Sau khi Quân đội Mỹ tới Cô-oét, tình báo quân đội biết được rằng Saddam Hussein đã mua bốn mươi máy phun thuốc diệt côn trùng. Với những lời bàn ra tán vào về loại “vũ khí hủy diệt hàng loạt”, nỗi ám ảnh ngày một tăng cao. Joe Conlon được gọi đến để đánh giá khả năng được sử dụng - và độ nguy hiểm - của những máy phun này nhằm phát tán vũ khí hóa học hoặc sinh học. Ông nhận định, việc này rất khó xảy ra. “Các anh không thể kiểm soát được đám mây hóa chất sẽ bay đi đâu. Nhiều khả năng các anh sẽ tự đầu độc cả binh sĩ của mình.” Theo ý kiến chuyên môn của mình, Conlon cho rằng Saddam Hussein chỉ muốn giết mấy con ruồi mà thôi.

Bẫy ruồi cỡ lớn là thiết bị rất thông dụng tại các căn cứ quân sự vì chúng ít cần bảo dưỡng. Điểm chính là nghệ thuật dẫn dụ ruồi. NECE đã thử nghiệm nhiều bước sóng của ánh sáng tử ngoại, nhiều loại màu nền khác nhau và đủ loại chất hóa học dụ ruồi. Trong Thế chiến II, chất thu hút ruồi cũng có lúc đóng vai trò chiến lược trên chiến trường. Phát xít Đức đã tràn vào và kiểm soát vùng thuộc địa của Tây Ban Nha ở Ma-rốc nhằm cắt đường tiếp tế của quân đội Đồng Minh cho cánh quân đang chiến đấu với Quân đoàn châu Phi của tướng Erwin Rommel. Lầu Năm Góc khi đó đã ra chỉ thị cho Stanley Lovell, giám đốc bộ phận Nghiên cứu và Phát triển của Cơ quan Tình báo Chiến lược - OSS (tiền thân của CIA ngày nay), tìm ra cách để có thể bí mật, như Lovell đã ghi lại trong nhật ký của mình, “chiếm được phần lãnh thổ Ma-rốc thuộc Tây Ban Nha”.

“Tôi phát triển một loại chất mô phỏng phân dê,” Lovell viết như vậy, không rõ thực hư ra sao. Ma-rốc thuộc Tây Ban Nha là vùng đất “có nhiều dê hơn là người”, thứ phân dê giả đó sẽ không gây nghi ngờ, ông lập luận. Kế hoạch là người ta sẽ tẩm thứ phân này bằng loại hóa chất thu hút ruồi cực mạnh cùng với một hỗn hợp các vi sinh vật gây bệnh rồi sau đó thả chúng xuống bằng máy bay vào ban đêm. Sau đó là phần việc của ruồi nhặng: đậu xuống phân, dính các mầm bệnh và truyền các mầm bệnh này vào thức ăn của lính Đức Quốc xã.

Các tài liệu của OSS tại Cục Văn thư Lưu trữ Quốc gia Mỹ bao gồm hàng tá những thư mục viết về thiết bị và vũ khí được người ta nghĩ ra[5], nhưng tôi không tìm thấy nội dung nào có các từ khóa như “dê” hay “phân” hay tên mà Lovell đặt cho dự án đó, Chiến dịch Thất thường. Lovell viết rằng ông và đồng nghiệp đã “gần hoàn thành” dự án đó khi nhận được tin quân Đức bắt đầu rút lui khỏi phần lãnh thổ Ma-rốc thuộc Tây Ban Nha. Có khả năng là vậy. Tôi đoán rằng thứ phân sát thủ đó chưa bao giờ rời khỏi bản kế hoạch trên giấy. Hay chính xác hơn là trên tấm khăn lót ly cocktail.

Rồi tôi tìm được một tài liệu của OSS dán nhãn “Ai, Tôi à?”, tôi nhận ra mình đã đánh giá quá thấp Stanley Lovell.

❀ ❀ ❀

[1] Các thủ tục tang ma thời sau Chiến tranh Việt Nam nghiêm cấm điều này vì thuốc trừ sâu có thể tác động tới các chất hóa học được sử dụng để xét nghiệm gien, một phần của hoạt động giám định pháp y. Ngoài ra một thứ khác cũng bị cấm trong nhà xác: vỉ điện diệt ruồi. Chúng khiến những con ruồi nổ tung làm phát tán ADN của chúng cùng với ADN của bất kỳ tử thi nào chúng bò trên đó. Nhà xác quân đội dựa vào “tấm màn khí” để giữ cho ruồi không bay vào. Màn khí là phiên bản cải tiến của “lưới chắn ruồi”, những sợi dây luồn hạt trang trí treo trên cửa ra vào của các ngôi nhà Trung Đông cho phép gió thổi qua nhưng lại ngăn chặn được ruồi. Ai trong số hàng ngàn những thanh niên ngốc nghếch thời những năm 1970 treo những thứ này ở cửa phòng ngủ của họ biết được rằng nó được sử dụng để ngăn ruồi? Không phải tôi.

[2] Tobin Rowland, người hiện nay đang đảm nhận công việc này, đã đưa cho tôi công thức mà Nhà bếp Côn trùng tại WRAIR chế biến thức ăn cho ruồi cát. Trộn đều phân thỏ, cỏ linh lăng và nước rồi đổ vào chín chiếc chảo lớn. Ngâm chúng trong hai tuần, hoặc đến khi nấm mốc phủ kín bề mặt, tạo ra thứ mà Dan Szumlas, giám đốc bộ phận nghiên cứu côn trùng của WRAIR, gọi là “bánh trứng đường-chanh làm từ phân”. Làm khô và nghiền. Người ta dùng phân thỏ vì mùi ít nồng nặc hơn phân bò chứ không phải bởi vì giá rẻ. Phân thỏ còn đắt hơn cả thịt thỏ. Nhà cung cấp cho WRAIR, trên danh nghĩa đang độc quyền cung cấp thứ mà không ai muốn hoặc nghĩ tới việc cạnh tranh, ra giá 35 đô la cho một bình (3,8 kg).

[3] Mã để nhận tiền thanh toán cho phí điều trị đối với liệu pháp dòi là CPT 99070.

[4] Tôi tin là mình sẽ khoái người đã tạo ra từ viết tắt SALSA để miêu tả một cơ sở y tế chuyên điều trị những vết thương ẩm ướt, đẫm máu hình lòng bát.

[5] Những thứ tôi khoái nhất trong số ấy: Giấy không tro, thuốc phóng và thuốc nổ, xe máy gấp, Hedy Lamarr, băng phát quang, giấy không kêu sột soạt, tẩu giấy, chất cháy bỏ túi, bật lửa kiểu punk, diêm đập, ngòi nổ cảm ứng, và thiết bị để leo cây.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.