Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh

Lượt đọc: 291 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13. Trồi Lên Và Lặn Xuống

❊ ❊ ❊

Một thủy thủ tàu ngầm cố ngủ

Những chiếc giường phía trong khoang chứa tên lửa là sự bổ sung mới gần đây. Khi con tàu USS Tennessee được nâng cấp kỹ thuật, sau nhiều năm được đóng, người ta cần phải bổ sung thêm thủy thủ để vận hành máy tính trung tâm. Việc này đã làm nảy sinh một vấn đề, mãi cho đến khi có người tình cờ phát hiện ra giữa hai quả tên lửa hạt nhân còn chỗ trống đủ để xếp giường. Các ống phóng tên lửa Trident II - có tổng cộng hai mươi tư ống phóng như vậy trên tàu - cao 13,5 m, trải ra cả bốn tầng boong của chiếc tàu ngầm. Khoang tên lửa đa tầng là khu vực ít bận rộn nhất trên tàu. Nó giống như những chồng sách trong một thư viện cổ vậy - một nơi yên tĩnh và riêng tư để bạn có thể ngả lưng và chợp mắt.

Tất nhiên là không phải bây giờ. “Tất cả mọi người dậy!” Giọng nói qua bộ đàm kèm theo một hồi chuông, to và dồn dập. Boong, boong, boong, boong. Âm thanh giống như một đứa trẻ ưa phá phách đang gõ gậy vào cái nồi vậy.

“Mô phỏng tình huống phóng toàn bộ tên lửa.” Rất nhiều tên lửa. Mỗi quả Trident đều mang nhiều đầu đạn, và mỗi đầu đạn đều đã được lập trình để tấn công một mục tiêu riêng, với độ chính xác đến mức, như tôi đã nghe kỹ đến hai lần, “bắn trúng một nơi chỉ rộng bằng khoảng đứng của vận động viên vụt bóng chày.” Hạm đội tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Mỹ, có mười bốn chiếc tất cả, chính là kho vũ khí hạt nhân di động. Cùng với các tên lửa đặt trong giếng phóng ngầm dưới lòng đất và trên các máy bay ném bom, chúng tạo thành “bộ ba hạt nhân” răn đe chiến lược của Mỹ. Thông điệp đã rõ ràng, họa có điên mới tấn công hạt nhân chúng tôi; chúng tôi có nhiều bom hạt nhân hơn các người, và các người không thể triệt tiêu tiềm lực hạt nhân của chúng tôi vì sẽ không thể tìm được kho vũ khí hạt nhân trên các tàu ngầm. Tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo có thể ẩn náu trong lòng đại dương mênh mông, và chúng còn có một lò phản ứng hạt nhân để tạo ra năng lượng và nước uống, nên không cần phải nổi lên để tiếp nhiên liệu. Chúng có thể ở sâu trong lòng đại dương cho đến khi lương thực cạn kiệt.

Thuyền phó tàu Tennessee, Sĩ quan Điều hành Nathan Murray, mời tôi đi cùng với anh tới khoang tên lửa xem diễn tập. (Tôi lên chiếc tàu ngầm này cùng một nhóm các sĩ quan chỉ huy tương lai, những người lên tàu để đánh giá năng lực thực tế.) Chúng tôi đi qua một dãy những giường ngủ kê dọc theo một bức tường, một số giường đang buông rèm vải vinyl đen che kín, khiến chúng trông giống như buồng vệ sinh tại các câu lạc bộ tồi tàn hồi những năm 1980. Murray chỉ vào chiếc giường của một chàng trai trẻ đang phải chia sẻ không gian ít ỏi của mình với chiếc vòi cứu hỏa gắn trên tường. Anh ta đã bị dựng dậy đêm hôm qua trong bài diễn tập cứu hỏa, và bây giờ là bài diễn tập này.

Người ta đã chính thức thừa nhận rằng Lực lượng Tàu ngầm gặp vấn đề về giấc ngủ. Đoạn trích trong Bản tin ghi chép khả năng tác chiến của các lực lượng (Ấn bản đặc biệt về tình trạng nghỉ ngơi của thủy thủ), “Thủy thủ trên biển không được ngủ trọn giấc, thường bị đánh thức giữa chừng hoặc quấy rầy bởi các bài huấn luyện, công tác bảo dưỡng và các vấn đề ‘khẩn’ khác…” Thủy thủ đoàn của tàu Tennessee phải tham gia các bài diễn tập chữa cháy, tràn nước, vỡ hệ thống thủy lực, thủng hệ thống khí, rơi khỏi tàu, xâm phạm an ninh, phóng ngư lôi. Thậm chí họ còn thực hành phóng tên lửa thường xuyên hơn việc xỉa răng của một số người. Một mặt, bạn muốn thủy thủ đoàn được huấn luyện thành thục. Bạn không muốn một ai mắc sai sót. Mặt khác, bạn lại không muốn việc huấn luyện và diễn tập diễn ra quá dày khiến những người trông coi kho đạn và lò phản ứng bị thiếu ngủ kinh niên.

Năm 1949, thời gian biểu trên tàu ngầm cho phép thủy thủ ngủ mười tiếng một ngày. Bên cạnh “giấc ngủ dài”, một nửa số thủy thủ đoàn đều có thể chợp mắt ít nhất một lần trong ngày. Từ năm 1954, tàu ngầm chuyển từ động cơ diesel sang động cơ năng lượng hạt nhân. Hệ quả là có thêm rất nhiều thứ phải để tâm đến ngoài mấy cái đồng hồ đo nhiệt độ hay mức dầu. Trên tàu USS Tennessee, trung bình thủy thủ chỉ được ngủ có bốn tiếng.

Trước khi lên tàu, tôi đã nói chuyện điện thoại với nhà nghiên cứu giấc ngủ, Đại tá Greg Belenky (đã nghỉ hưu), người thành lập ra Trung tâm Nghiên cứu Giấc ngủ và Năng lực tại Đại học bang Washington, Spokane. Belenky hiểu điều gì sẽ xảy ra với con người khi thời gian ngủ của họ giảm từ tám tiếng một đêm xuống còn bốn hay năm tiếng. Sau vài ngày, năng lực nhận thức của họ sẽ giảm dần, từ mức cân bằng, xuống một trạng thái bị tổn hại. Họ ngủ càng ít, các năng lực thần kinh của họ càng bị tổn hại và mất nhiều thời gian hơn để ổn định lại. Năng lực thần kinh nào bị ảnh hưởng? Hầu hết tất cả. Việc thiếu ngủ làm giảm trí nhớ và giảm hoạt động của mạng lưới dây thần kinh duy trì tư duy, ra quyết định, và làm mất sự cân bằng giữa lý trí và cảm xúc, Belenky nói. “Cô hẳn đã có lúc đang giải quyết một vấn đề khó khăn đến mức muốn từ bỏ? Sau đó cô ngủ một giấc sâu, sáng tỉnh dậy và đột nhiên tìm thấy giải pháp? Giấc ngủ có tác dụng như vậy đấy. Nó giúp đưa bộ não về trạng thái bình thường.”

Trên tàu ngầm, các thủy thủ cấp thấp thường bị thiếu ngủ trầm trọng hơn. Ngoài những nhiệm vụ được phân công và gác, họ còn phải chuẩn bị cho kỳ “đánh giá năng lực”, một dạng thi sát hạch dưới tàu ngầm: hơn sáu mươi câu hỏi vấn đáp về các bộ phận và hệ thống trên tàu ngầm kèm những bài kiểm tra thực hành về nhiều yếu tố chuyên môn trên con tàu - tất cả mọi thứ từ cầm bánh lái cho đến việc dùng máy đo độ sâu và thông bể phốt. “Tôi sẽ có ba tiếng để ngủ tối nay còn đêm mai thì thức trắng,” - một chàng thủy thủ nghệt mặt ra nói. Anh ta đang phải học về hệ thống lặn thủy lực trong màn khói thuốc mờ ảo phả ra từ đám lính mới đang ngồi thư giãn trên tàu Tennessee. (Giữa những người đang hút thuốc lá điện tử, chơi trò chơi về thảm họa xác sống, cùng một số người đang hăng máu chơi bi lắc thì đây đúng là một chỗ quá tệ để học. Hoặc chỉ là do anh ta đã ở tuổi trung niên.)

Anh chàng sẽ nói với bạn là anh ta vẫn ổn, nhưng Belenky biết chắc là không phải vậy. Khi một người nào đó ngủ ít hơn bốn tiếng mỗi đêm, họ không thể ổn định tâm lý được. Năng lực của họ sẽ tiếp tục bị bào mòn cho đến khi họ rơi vào trạng thái mà những nhà nghiên cứu giấc ngủ đã phải tìm ra các thuật ngữ đặc biệt để gọi, như là “sự mất bù ở mức thảm họa”. “Nói đơn giản, việc không ngủ đủ mỗi ngày liên tục trong một thời gian dài sẽ khiến cơ thể rã rời, trong nhiều ngày, lờ đờ như say rượu” - trong Ghi chép khả năng tác chiến, những từ này được viết sin sít, in đậm nghiêng và gạch chân.

Giống như say rượu, việc thiếu ngủ kinh niên nguy hiểm gấp đôi vì người bệnh không thể biết được trạng thái thương tổn của mình. Jeff Dyche, nhà tâm lý học có đôi lần tiến hành nghiên cứu tại NSMRL, bây giờ đang cộng tác với Đại học James Madison, kể cho tôi nghe về một nghiên cứu chỉ ra rằng những người ngủ sáu tiếng mỗi đêm trong hai tuần thì khả năng nhận thức bị suy giảm tương đương với những người thức liên tục suốt 48 tiếng. Không giống như những người thức trắng đêm, những người quen ngủ sáu tiếng mỗi đêm không thấy mình phải cẩn trọng. Họ chỉ cảm thấy hơi mệt mỏi, và lâu dần nó trở thành chuyện thường, Dyche nói. “Họ giống như, ‘A, tôi đã quen với nó rồi’.” Tôi đã nghe thấy điều này rất nhiều lần trong hai ngày qua. “Tôi ngủ chỉ bốn tiếng rưỡi và nói chung tôi vẫn ổn trong 24 tiếng,” một thủy thủ đã nói vậy lúc đang đổ rác vào trong một máy nén thông thường, thứ rất dễ nghiến vào thịt và xương đốt ngón tay.

Murray và sĩ quan chỉ huy của tàu, Chris Bohner, là hai người đầu tiên thử một thời gian biểu mới nhằm giúp cho thủy thủ đoàn được nghỉ ngơi nhiều hơn, vừa tốt cho sức khỏe của họ - nghiên cứu gần đây cho thấy thiếu ngủ có mối liên hệ với bệnh béo phì, cao huyết áp, tiểu đường và bệnh tim mạch - và cho sự an toàn của mọi người. Đó không phải là một việc đơn giản. “Tôi mất rất nhiều thời gian,” Murray nói, “để tính toán về thời gian nghỉ cần thiết cho mọi người.” Murray là kiểu lãnh đạo thường thấy - trong cả phong thái lẫn dáng vẻ, một cá nhân cứng nhắc. Bạn sẽ không bao giờ thấy anh thõng vai, nghiêng người hay ưỡn hông. Anh luôn đứng vững chãi hai chân rộng bằng vai, giống như một bao xi măng đặt trên nền đất vậy. Hai tay chống nạng, thỉnh thoảng lại vuốt tóc, thứ luôn được cắt tỉa cẩn thận. Đường chân tóc của Murray, cũng giống như vĩ độ xác định vị trí chiếc tàu ngầm, sẽ vẫn là một bí mật với tôi.

Vấn đề là sẽ có những bất ngờ xảy đến. Mọi người không tuân thủ được thời gian biểu và thế là mọi thứ rối tung. Vấn đề của tuần này là tôi. Công việc của mọi người đều bị chen ngang bởi thủy thủ đoàn phải bỏ ra bốn hoặc năm tiếng tìm kiếm một vị trí biển lặng đủ để đặt cầu nối giữa tàu ngầm và con tàu tôi đã đi nhờ.

Một thách thức lực lượng Hải quân gặp phải khi giải quyết vấn đề thiếu ngủ là nó, từ lúc nào đó, đã trở thành một thứ để tự hào. Tại NSMRL tôi đã gặp Ray Woolrich, một chỉ huy tàu ngầm kỳ cựu. “Đám Thủy quân Lục chiến ngồi trong quán rượu,” Ray nói, “sẽ kể cho cô về số lượt chống đẩy họ có thể thực hiện. Phi công sẽ kể về mức gia tốc g mà họ có thể chịu được. Thủy thủ tàu ngầm thì sẽ kể về số tiếng liên tiếp họ thức trắng.” Thà kiệt sức còn hơn bị mang tiếng là “con sâu ngủ”[1].

Trong nhiều thập niên, các nhà nghiên cứu về giấc ngủ trong quân đội gần như giẫm vào chân nhau, họ ít tập trung nghiên cứu làm sao để ngủ mà tập trung nhiều hơn vào việc tìm cách vượt qua cơn buồn ngủ. Các nghiên cứu nối tiếp nhau thử nghiệm đủ loại chất kích thích trên lính không quân, lính bộ binh và lính thủy. Chỉ mới gần đây, việc chăm lo cho giấc ngủ của quân nhân mới trở thành một mục ưu tiên của Bộ Quốc phòng. Chính sách quân đội hiện nay yêu cầu các chỉ huy đơn vị phải lập ra và áp dụng một kế hoạch quản lý giấc ngủ cho binh sĩ trên chiến trường. (Dẫu thế, một cuộc thăm dò ý kiến nhỏ trên những binh sĩ trở về từ Iraq hoặc Afghanistan cho thấy 80% binh sĩ chưa từng được nghe về thứ nào như thế.) Theo Belenky thì điểm quan trọng chính là việc kéo dài thời gian của các cuộc diễn tập trên thực địa của Lục quân, một dạng đối đầu mô phỏng trên diện rộng được xem là một dạng bài thi thực hành cuối kỳ cho các binh sĩ. “Đã có lúc, mấy tay soạn lý thuyết kết luận rằng nếu bất kỳ cuộc chiến nào xảy ra, nó có thể sẽ kéo dài một hoặc hai tuần, do đó họ kéo dài thời gian diễn tập từ ba ngày lên hai tuần.” Belenky nói. Chính vì thế, đã có một phong trào thức trắng cả đợt diễn tập để “trông cho có vẻ là người hăng hái và được đánh giá cao”. Belenky nhớ lại việc đã nhận được một cuộc điện thoại từ một chỉ huy không lâu sau khi người ta thông qua chính sách này. “Anh ta nói, ‘Tôi cần anh tư vấn về thuốc. Tôi muốn lính của mình có thể thức lâu hơn.’” Belenky biết ngay anh ta đang nói đến việc làm sao để lính có thể thức thêm dăm ba ngày. “Tôi nói, ‘Anh muốn họ có thể tỉnh táo trong bao lâu?’ Anh ta nói, ‘Hai tuần.’ Cánh lính thực sự muốn cố thức.” Đó là một minh chứng sống động và khá thú vị về tầm quan trọng của giấc ngủ đối với khả năng chiến đấu.

Lịch sử cũng đã có những minh chứng sống động không kém. Nhà nghiên cứu về lịch sử y khoa Philip Mackowiak đã đối chiếu năng lực cầm quân của Tướng Jackson “Bức Tường Đá”, qua lời kể của các nhân chứng và tướng tá dưới quyền, trong hàng loạt các trận chiến trong Nội chiến Mỹ với thời gian ông được ngủ, nếu có, trong những ngày trước khi các trận chiến xảy ra. Trong 100% các trận chiến mà Jackson không hề được ngủ cả ba ngày liền trước đó, khả năng cầm quân của ông được đánh giá là “tệ”. Trong trận Gaines’ Mill, các sĩ quan chỉ huy của ông đã miêu tả rằng ông “hoàn toàn lúng túng từ đầu tới cuối”. Các lữ đoàn của ông không những “không nhận được mệnh lệnh”, thậm chí “ông còn không biết vị trí của họ”. Trong trận Glendale, Jackson “thiếu nhạy cảm, không có khả năng… suy nghĩ thấu đáo hoặc di chuyển khó khăn… không hào hứng và lờ phờ”. Trong trận Malvern Hill, nhiều lúc Jackson “trông có vẻ rất bàng quan”. Và giữa trận McDowell, người ta phát hiện ông ngủ gà ngủ gật.

Cứ mỗi 24 tiếng thức liên tục, Belenky nói với tôi, con người mất khoảng 25% năng lực tư duy hữu ích. Jackson đang điều binh khiển tướng (hoặc không) chỉ với 25% năng lực tư duy còn sót lại. Tôi đang cố không nghĩ đến Patterson, làm việc trong một phòng máy của tàu Tennessee. Cậu ta đã thức liên tục 22 tiếng để cố sửa cho xong chiếc máy điện phân tạo khí ôxy, một cỗ máy tách phân tử bằng xung điện to lớn có thân kim loại. “Cơ bản thì nó là một quả bom hiđrô,” anh ta vui vẻ nói.

Quãng thời gian dài nhất mà Belenky giữ cho một đối tượng thí nghiệm không ngủ liên tục là 85 tiếng - hơn ba ngày - và đó có vẻ là giới hạn, anh nói. “Thông tin này không,” Belenky bổ sung, “hữu dụng với bất kỳ ai”. Có những người quả quyết rằng họ đã từng không ngủ trong 100, hay thậm chí là 200 tiếng liên tục, tuy nhiên bởi vì người ta không thể giám sát sóng não những người này liên tục như đối tượng thí nghiệm của Belenky, không ai có thể chắc chắn rằng những người này đã không có những giấc ngủ siêu ngắn. Một người mệt rã rời có thể rơi vào trạng thái ngủ Bước 1 trong chốc lát, mắt vẫn mở, và vẫn có thể thực hiện một cách rời rạc phần việc họ muốn làm. Như bất cứ ai đã từng ngủ trên máy bay đều biết, ta vẫn có thể duy trì sự căng cơ trong lúc ngủ - cho đến khi bạn chuyển qua giai đoạn ngủ mơ (REM), là lúc các cơ được thả lỏng. (Khi ai đó có thể ngủ vào các khung giờ lạ lùng trong chu kỳ sinh học của họ, họ có thể bước vào giai đoạn ngủ REM sớm. Hãy đổ tại cho chứng “ngủ REM sớm” khi bạn ngoẹo đầu và há mồm ngồi ngủ gà ngủ gật.)

Các binh sĩ, bao gồm cả lính của Tướng Jackson “Bức Tường Đá”, nhiều khi bị phát hiện vẫn ngủ lúc hành quân đêm. Nếu bạn mệt lử, Belenky nói, bộ não có thể rơi vào trạng thái phân ly tạm thời - nửa ngủ, nửa tỉnh. Có những loài chim và thú biển có khả năng làm điều này thường xuyên. Cá heo và hải cẩu đều có khả năng ngủ một phần - tức là chỉ với một bán cầu não. Bởi vì bán cầu còn lại phải tỉnh táo để giúp chúng hít thở, đồng thời điều khiển cơ thể bơi lên mặt nước để hít không khí. Khi ngỗng và vịt ngủ trong đàn dưới mặt đất, những con ở rìa ngoài cùng của đàn thường mở một mắt và bán cầu não tương ứng với con mắt đó tỉnh táo, cảnh giác trước các loài thú ăn thịt có thể tấn công.

Từ góc nhìn quân sự, một binh sĩ có thể hành quân, bơi, hay thậm chí cảnh giới kẻ địch trong khi vẫn ngủ chính là người mà quân đội khao khát có được. Điều này chính là một trong những mục tiêu của Cơ quan Nghiên cứu các Dự án Quốc phòng tiên tiến (DARPA), chuyên phát triển công nghệ quân sự tương lai: “cho phép binh sĩ thức, cảnh giác cao và làm việc hiệu quả trong bảy ngày liền mà không chịu di chứng tâm lý hoặc thể lực và không dùng bất cứ loại chất kích thích hiện có.” Đó là lý do vì sao bạn sẽ thấy tên Bộ Quốc phòng trong danh sách những nhà tài trợ cho một vài nghiên cứu cơ bản về giấc ngủ nửa não. Nếu khoa học có thể tìm ra cách lũ vịt làm điều đó, có lẽ các binh sĩ - thông qua phẫu thuật hoặc dùng thuốc, có trời mới biết - sẽ có được khả năng ấy. Belenky chế giễu. “Chúng ta còn chưa biết chắc chắn thứ gì kích hoạt giấc ngủ toàn bộ não.”

Thực tế ấy không ngăn được các tổ chức quân sự ngừng mơ mộng về nó. Tôi đã tình cờ tham dự một buổi hội thảo chuyên đề về Tối ưu hóa Năng lực Con người của NATO, bao gồm chuyển đổi mục đích của một nhóm các công nghệ y học nhằm tối ưu hóa khả năng hoạt động của chiến binh. Trong số này có nói đến loại chi giả “mang lại sức mạnh siêu nhân”, mắt cấy ghép để nhìn được tia hồng ngoại và tử ngoại, và cả phẫu thuật cắt bỏ thể chai cho phép “ngủ nửa não và vẫn luôn cảnh giác”. Đôi khi, các bác sĩ phẫu thuật vẫn cắt đi mối liên kết này giữa hai bán cầu não như một phương cách để làm giảm những cơn co giật của bệnh nhân bị động kinh nặng. Liệu cách này có thể làm thay đổi cách bệnh nhân ngủ không? Không, Selim Benbadis - giám đốc Chương trình Nghiên cứu toàn diện về Động kinh, Đại học Nam Florida, tác giả của một bài nghiên cứu về kỹ thuật giải phẫu này - khẳng định. Ông bổ sung thêm rằng những đứa trẻ sơ sinh với thể chai chưa phát triển hoàn toàn vẫn có thể ngủ bình thường với hai bán cầu não đều ngủ cùng một lúc.

“Họ nghĩ nhiều thứ ngu ngốc là ý tưởng hay,” Belenky nói về DARPA. Đúng thế thật. Danh sách những thứ họ muốn làm cũng có cả “phẫu thuật cấy ghép mang cá.”

“Phóng tên lửa hạt nhân.” Giọng nói qua bộ đàm lại vang lên. Dù chỉ là trong một tình huống mô phỏng, nhưng nghe thấy nó cũng gai hết cả người. Tôi nhìn các thủy thủ đang đứng ở gần quanh. Một người đang gỡ một cuộn dây điện có ổ cắm nối. Mặt anh ta lạnh tanh. Một thủy thủ ngồi trực bảng điều khiển xì mũi. “Đây là những gì sẽ xảy ra sao?” Tôi hỏi Murray. “Nếu tình huống này là thật? Mọi người vẫn bình tĩnh làm nhiệm vụ của mình, xì mũi…” Toàn bộ chuyện này ngay lập tức lọt vào máy dò sóng của tôi.

Murray không đồng cảm. “Nếu ngứa mũi, cô phải xì.”

Hai thủy thủ đi nhanh qua chỗ tôi, mỗi người giữ một góc của thứ mà lướt nhìn qua giống như một loại vé xổ số nào đó. Đó chính là mã để mở hộp khóa, hộp đựng các chìa khóa dùng để phóng tên lửa. Hai thủy thủ luôn phải giữ nó mọi lúc một khi nó đã được lấy ra khỏi nơi cất giữ, với cùng lý do mà một số hãng hàng không, hệ quả từ chuyến bay tự sát năm 2015 của hãng Germanwings, yêu cầu phải có hai người ở trong buồng lái.

Nếu như đây là một vụ phóng tên lửa thực sự, tôi dám cá rằng adrenalin trong cơ thể sẽ giữ cho cả đoàn thủy thủ tỉnh táo bất kể họ đã thức lâu đến mức nào. Tuy nhiên, ngày qua ngày, lịch làm việc thông thường trên một tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo mới là thứ khiến người ta ít hăng hái. Công việc gác trực hầu hết chỉ là: hàng giờ ngồi theo dõi. Theo dõi màn hình hiển thị, thông số, núm xoay, tín hiệu sóng âm phản hồi. Nó là một mớ những điều đáng lo ngại: thiếu ngủ, sự nhàm tẻ và những thứ có nguy cơ phá hủy. “Hải quân không muốn chúng tôi công bố bất cứ thứ gì nói rằng những thủy thủ đang giám sát các lò phản ứng hạt nhân này ngủ gật trong phiên gác,” Dyche nói với tôi. “Nhưng chúng tôi biết là họ có ngủ gật.” Ngay cả lúc thức, những người uể oải không phù hợp cho việc đứng gác. Khi các nhà tâm lý học cho những người thiếu ngủ làm các phần việc thông thường cần phải tư duy, số điểm của họ trên thang đo “mức độ cảnh giác tâm lý” - hay khả năng chú ý và phát hiện những thứ bất thường - giảm đáng kể.

Tôi chưa từng được thăm lò phản ứng của chiếc Tennessee và những người trông coi nó, vì lý do an ninh, nhưng tôi đã được thăm buồng ngư lôi. Có bốn quả ngư lôi, đồ sộ như những khúc gỗ công thành thời trung cổ. Thật ngọt ngào (tôi cho là vậy), chúng được đặt tên theo tên vợ của những thủy thủ phóng ngư lôi. Tôi hỏi người đang trực gác rằng lần cuối một tàu ngầm Mỹ buộc phải phóng ngư lôi vào tàu khác là khi nào. Cậu ta nghĩ một lúc, “Thế chiến II”. Cậu ta đảm trách một công việc buồn chán, luôn sẵn sàng cho một hành động chỉ cần thiết trong những tình huống cực kỳ khó xảy ra. Công việc trực gác của một thủy thủ phóng ngư lôi là một danh mục những thứ cần kiểm tra, đi loanh quanh và công việc giấy tờ. Luôn gắn với công việc giấy tờ.[2] Ngoài buồng định vị thủy âm và Trung tâm Điều khiển Tên lửa, hầu như toàn bộ tàu Tennessee đều được điều khiến bằng cơ khí. Tôi nhìn quanh khoang chứa tên lửa và nghĩ, các bộ phận của kèn tuba à. Trên bảng điều khiển phóng ngư lôi có những nút nhựa lớn hình vuông - Làm Ngập Ống Phóng, Mở Ống, sẵn Sàng Phóng - nhấp nháy ánh sáng đỏ hoặc xanh, giống như thứ Q đã chế thêm vào chiếc ô tô Aston Martin của James Bond. Khoang tên lửa có những bảng điều khiển đầy nút kiểu cổ điển tương tự. Chúng tạo nên một bối cảnh cho một trong những câu rất đáng trích dẫn Murray đã nói với tôi - một câu, vốn chẳng có mấy sự cảnh báo nguy hiểm, có thể xếp chung cùng những câu, “Houston, chúng ta vừa gặp một vấn đề” hoặc “Nhìn đây” trong điện thờ những câu tiêu ngữ báo hiệu thảm họa: “Tôi sẽ không dựa vào mấy cái bảng đó đâu.”

Về mặt trực giác, cảnh tượng những người luôn thiếu ngủ trông coi lò phản ứng hạt nhân, ngư lôi và vũ khí hủy diệt hàng loạt không ổn chút nào. Nhưng đó đúng là những gì đang diễn ra trong một chiếc tàu ngầm đang ở độ sâu hàng trăm mét, hoặc sâu hơn. Tuy nhiên, người ta thống kê rằng nguy cơ xảy ra tai nạn cao nhất không phải ở khoang lò phản ứng hạt nhân hay thậm chí là khi tàu lặn sâu. Nguy cơ lớn nhất lại đến từ nhiệm vụ có vẻ như đơn giản nhưng thực tế rất cam go: cho tàu nổi lên mặt nước.

Một chiếc tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo có thể đưa bạn đến những nơi xa xôi hẻo lánh nhất và bạn không hề biết gì về nơi ấy cả. Tàu ngầm không có cửa sổ hay đèn pha, không thứ gì làm nó hiện hình trong bóng tối mịt mùng xung quanh. Ở dưới độ sâu mà ánh mặt trời không thể chiếu đến, kính tiềm vọng là vô dụng. Thủy thủ đoàn nhìn bằng hệ thống định vị âm, thu thập những tiếng động cơ từ các con tàu và tính toán khoảng cách và đường đi của chúng. Để không bị phát hiện, các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo thường chỉ dùng hệ thống định vị âm thụ động: không phát đi âm thanh. Định vị nhờ tiếng vọng - phát ra âm thanh và tính toán thời gian nó dội trở lại - sẽ làm lộ vị trí tàu. Chiếc Tennessee còn mù hơn cả một con dơi.

Ở độ sâu 135 m, độ sâu hiện tại của tàu Tennessee, chẳng có con tàu nào khác để va vào cả. (Mỗi tàu ngầm đều có một khu vực hoạt động nhất định, hay “hộp”, loại bỏ luôn xác suất nhỏ nhất mà hai chiếc tàu đồng đội đâm vào nhau.) Mối nguy hiểm lớn nhất ở bên ngoài lúc này chính là lũ tôm. Khi nhóm thủy thủ đầu bếp đổ đi thùng thực phẩm thừa, hàng đàn lớn tôm sẽ bơi ồ ạt về quanh tàu để ăn. Sự náo động chúng gây ra có thể át mất tiếng ồn động cơ từ những con tàu khác.

Trong buồng định vị thủy âm sáng nay, bốn người đang ngồi trước các màn hình, chăm chú quan sát đường nhấp nháy dịch chuyển chậm chạp của tín hiệu thủy âm trả về màu xanh lá cây và lắng nghe âm thanh qua tai nghe. Một kỹ thuật viên thủy âm có thể nhận dạng một con tàu bằng tiếng động cơ theo cách những nhà điểu học phân biệt các loài chim gõ kiến dựa trên tốc độ hoặc âm sắc của tiếng gõ. Một người đưa tôi tai nghe để nghe tiếng kêu lích kích của mấy con cá heo. Sau vài ngày sống trong tàu ngầm, bất cứ mối liên hệ nào với thiên nhiên có thể khá kích thích. “Cá heo Flipper!” Tôi ghét phải dùng từ ré lên với bản thân, nhưng đúng là tôi đã làm thế đấy.

“Ừ hứ,” chàng kỹ thuật viên thủy âm nói. “Cả đêm chỉ có tiếng của lũ cá heo này thôi.”

Dù cho tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo có khả năng lặn sâu dưới lòng biển hàng tháng trời, nhưng thường thì nó không làm thế. Chiếc Tennessee cũng nổi lên đều đặn, như một con cá voi, để “phun ra” thư điện tử. Chúng tôi đang chuẩn bị trồi lên trong một tuyến giao thương trên biển, việc này khiến mọi người có chút căng thẳng. Trong khoảng thời gian một giờ trước khi con tàu xé toạc mặt biển và nổi lên, ai đó sẽ phải trực kính tiềm vọng, ấn mặt vào thị kính, quan sát kỹ xung quanh nhằm phát hiện những thứ mà hệ thống dò thủy âm có thể bỏ sót. Bởi vì trường quan sát của kính nhỏ hơn 360 độ nên anh ta xoay kính chậm rãi, từng vòng, từng vòng một, chân này bắt chéo sau chân kia, giống như đang nhảy một vũ điệu chậm rãi với bạn nhảy là ống kính tiềm vọng vậy. Bạn muốn chắc chắn 100% rằng không có thứ gì ở phía trên con tàu.

Năm 2001, tàu USS Greeneville nổi thẳng lên từ phía dưới của một con tàu huấn luyện nghề cá Nhật Bản dài 57 m. Cánh lái của tàu ngầm đã xé toạc thân tàu cá khiến nó bị chìm và làm chết chín người. (Việc thiếu ngủ không được ghi vào là một trong những nguyên nhân. Trên tàu có một nhóm khách tham quan: mười bốn vị giám đốc điều hành, và, ừm, một nhà văn. Tất cả những người này đã có mặt trong phòng điều khiển khi tàu nổi, bâu quanh khu vực quan sát bằng kính tiềm vọng, che khuất những màn hình quan trọng, làm phân tâm kỹ thuật viên thủy âm.)

Thuyền trưởng của tàu Greeneville đã bộc lộ tính thiếu kỷ luật khi thao tác kính tiềm vọng. Ông ta chỉ quan sát trong khoảng thời gian bằng một nửa thời gian tối thiểu đã được quy định. Mối đe dọa tiềm ẩn khác với một chiếc tàu ngầm đang nổi là hiện tượng “che thân”. Nếu như một con tàu đi hướng thẳng về các cảm biến thủy âm của một tàu ngầm, sóng âm thanh từ hệ thống động cơ của con tàu đó sẽ bị chặn lại bởi chính thân tàu và hàng hóa của nó. Viên sĩ quan phụ trách an toàn của tàu Tennessee so sánh kịch bản này với việc “hét lên từ trong cốp của một chiếc ô tô với lũ trẻ đang ở trước xe.” Một phép ẩn dụ hữu ích, nhưng lại khiến người nghe lo lắng.

Bây giờ đang là cuối tuần, thời điểm nguy hiểm hơn để nổi tàu. Các tàu chở hàng đang ở gần một bến cảng, không kịp vào cảng trong những giờ làm việc hành chính thông thường trong tuần, đôi khi sẽ tắt động cơ và tính toán để tàu trôi tự do sao cho nó sẽ cập cảng đúng vào thứ Hai, khi phí dịch vụ quay lại mức thông thường. Một chiếc tàu chở hàng có kích thước lớn ngang một trung tâm thương mại, nhưng khi động cơ tắt thì nó sẽ hoàn toàn vô hình trước các thủy thủ trên tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo. Đối với thủy thủ tàu Tennessee, một chiếc thuyền buồm còn nguy hiểm hơn cả một tàu chiến. Bây giờ tôi đã hiểu vì sao chiếc tàu ngầm USS San Francisco, vào tháng Một năm 2005, đã đâm vào một ngọn núi dưới đáy biển. Núi ấy mà, chúng im như thóc đổ bồ vậy.

Cộng thêm vào các mức độ căng thẳng đó còn có: việc cơ động khẩn cấp để tránh né những vụ va chạm kiểu như trên là gần như không thể. Một chiếc tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đang nổi di chuyển với tốc độ khoảng từ 11 tới 22 km mỗi giờ. “Giống như một đứa bé đang bò ra khỏi đường đi của chiếc xe tải,” sĩ quan phụ trách an toàn nói, như thể hét lên từ trong cốp của một chiếc ô tô bảo đứa trẻ tránh ra khỏi đường kẻo bị đâm vậy.

Mọi người luôn phải có tinh thần cảnh giác cao độ. Nếu một tín hiệu thủy âm mới báo hiệu va chạm xuất hiện trên màn hình điều khiển trong quá trình tàu đang nổi lên, chỉ huy tàu có thể ra lệnh “lặn khẩn cấp”. Bởi không có hệ thống định vị thủy âm chủ động, bạn sẽ không thể biết được những con tàu khác đang ở bao xa. “An toàn là trước hết, sau đó hãy tính,” sĩ quan chỉ huy tàu đã nói ngày hôm trước, khi chúng tôi lặn xuống để tránh một con tàu mà sau này mới biết nó còn cách xa vài ki lô mét. Tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo là con tàu không có đích đến, hành trình của nó là một chuỗi các hoạt động tránh né và rút lui căng thẳng. Bất cứ khi nào người ta tính toán cuộc đụng độ sẽ xảy ra ở khoảng cách dưới 3,7 km thì sĩ quan chỉ huy sẽ được gọi đến. Và thường thì cả hoa tiêu và sĩ quan điều hành.

Và thế là đi tong giấc ngủ đêm khác. “Tôi thường bị đánh thức ba đến bốn lần mỗi đêm,” viên hoa tiêu nói với tôi. Murray cũng phải dậy vì trên bức tường phóng của anh có một chiếc loa gắn trên đó, ngay phía trên chỗ gối đầu và nó nhận mọi cuộc hội thoại trong phòng điều khiển. Anh giống như một bà mẹ với máy giám sát trẻ em để ngay tủ đầu giường vậy. “Đột nhiên, giữa những tiếng ồn của tàu và tiếng nói chuyện rì rầm, bạn sẽ nghe ra một từ khóa đặc biệt hay thấy âm lượng hoặc sắc thái giọng nói của ai đó khang khác. Bạn sẽ lập tức tỉnh ngủ.”

Cũng dễ hiểu khi các thủy thủ tàu ngầm đều là những người nghiện cà phê nặng[3]. Tàu Tennessee khi rời cảng thường mang theo hơn 450 kg cà phê. Chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên trên thế giới, đóng năm 1954, ngày nay đã trở thành bảo tàng nổi tại Groton, Connecticut, và nếu như bạn tham gia một tour thăm quan bảo tàng này, bạn sẽ thấy rất nhiều những vòng kim loại được tán cạnh bảng điều khiển và trên vách ngăn tại điểm trực gác: giá đỡ cốc đấy! Caffeine an toàn và hiệu quả, nhưng không phải là thứ không có tác dụng phụ. Tùy thuộc vào độ nhạy cảm của từng người với caffeine, lượng cà phê hấp thụ thường được đào thải một nửa sau sáu đến tám giờ. Ngay cả khi bạn không bị mất ngủ sau khi uống cà phê muộn thì có thể bạn vẫn dễ bị đánh thức vào ban đêm vì hệ thần kinh khi ấy vẫn bị kích thích, bộ não sẽ trở nên thính nhạy với âm thanh và các yếu tố kích thích mà lúc khác nó sẽ bỏ qua. Giấc ngủ càng chập chờn, hôm sau bạn phải uống thêm nhiều cà phê hơn, và đêm sau nữa bạn càng ngủ ít hơn. Và cứ như thế. Như Murray đã nói khi nhìn tôi rót thêm cốc cà phê nữa, “Đấy không phải là giải pháp lâu dài đâu, bạn chung tàu thân mến.”

Chúng tôi đã nổi lên đến độ sâu kính tiềm vọng. Đèn trong phòng điều khiển đã được tắt hết. Đèn tắt để giúp cho thủy thủ quan sát kính tiềm vọng, một lúc nữa anh ta sẽ phải nhìn quanh trong tiết trời tối om của mặt biển lúc 5 giờ sáng. Trong số tất cả những người trên đó, phần lớn chỉ được ngủ bốn tiếng hoặc ít hơn, bóng tối hoàn toàn không hữu ích. Trong tàu không chỉ tối và ấm áp, nhưng vì chúng tôi đang nổi gần mặt biển, con tàu bây giờ bị sóng đánh lắc lư nhẹ nhàng như đưa nôi. “Một màn tra tấn,” lái tàu nói.

Tra tấn cũng là từ nhà nghiên cứu giấc ngủ William Dement sử dụng, ông vốn đã giúp Nathaniel Kleitman, khi vẫn còn là sinh viên vào những năm 1950, ghi chép lại giai đoạn ngủ mắt đảo nhanh (REM). Trước khi người ta phát minh ra các điện cực gắn vào mí mắt và máy ghi chuyển động của mắt, các sinh viên sau đại học phải thức cả đêm. “Nhìn chằm chằm vào đôi mắt nhắm của người trưởng thành trong ánh sáng lờ mờ của một bóng đèn 30 oát giữa đêm hôm khuya khoắt đúng là màn tra tấn ghê gớm,” Dement đã viết trong một bài viết tri ân Kleitman, người được giới nghiên cứu giấc ngủ coi là “Cha đẻ của ngành nghiên cứu giấc ngủ.” (Thế nhưng, công việc của nữ giám sát còn khó khăn hơn, vì Kleitman yêu cầu phải luôn có mặt khi đối tượng thí nghiệm là phụ nữ: để giám sát người đang giám sát đôi mắt của một người đang ngủ cả đêm.)

Bức ảnh chụp năm 1938. Nathaniel Kleitman ngồi tại bàn ăn, dao và nĩa để bắt chéo trên một lát thịt xông khói hồ đào. Điều bất thường với bữa ăn này là nó diễn ra dưới một hang động sâu 36 m. Kleitman, cùng với trợ lý là một sinh viên sau đại học đã sống 32 ngày dưới hang Mammoth ở Kentucky để nghiên cứu về chu trình ngủ và thức ở người. Ông muốn tìm ra: nhịp điệu ngủ-thức liên hệ với các yếu tố ngoại cảnh và thói quen sinh hoạt chặt chẽ đến mức nào? Nếu như loại bỏ những yếu tố báo hiệu - ánh mặt trời, những bữa ăn đúng giờ, giờ làm việc thông thường - liệu người ta có thể dễ bị rơi vào một thói quen ngủ khác không? Chui xuống lòng đất có vẻ như là cách dễ nhất[4] để tìm ra câu trả lời.

Tàu ngầm cuốn hút Kleitman, vì giống như hang động, chúng là một dạng phòng thí nghiệm thực tế để nghiên cứu đồng hồ sinh học. Ngoài ra Kleitman còn rất yêu thích Lực lượng Tàu ngầm. Trước kia, họ luôn gặp các vấn đề về sự tỉnh táo, và ngày nay cũng vậy. Kleitman đã đưa ra một thời gian biểu trực gác phù hợp với việc thiếu vắng ánh mặt trời trong tàu ngầm - thực ra trong tàu luôn, như Murray đã nói, ở “21 độ C và ánh đèn huỳnh quang.” Hoàn toàn khả thi, Kleitman lý giải, khi cho ba nhóm thủy thủ trực gác theo ba thời gian biểu khác nhau bằng cách thay đổi giờ làm việc của họ, mỗi nhóm sẽ bắt đầu ngày mới ở thời điểm khác nhau.

Đầu năm 1949, ba chiếc tàu ngầm, Corsair, Toro và Tusk, đã cho phép Kleitman tiến hành một thử nghiệm kéo dài hai tuần. Kết thúc đợt thử nghiệm, ông phỏng vấn các thủy thủ. Câu hỏi cuối cùng là “Liệu có nên dùng thời gian biểu mới thay thế cái cũ không?” 19 thủy thủ nói có trong khi 143 người nói KHÔNG. Điều gì đã xảy ra? Sự thiếu hụt nhân lực khủng khiếp trong nhà ăn. Thay vì phải nấu và dọn dẹp phục vụ một bữa sáng, một bữa trưa và một bữa tối mỗi hai tư giờ, nhóm phục vụ nhà ăn đã phải làm mỗi bữa ba lần để phục vụ giờ thức dậy khác nhau trong mỗi “ngày” của mỗi nhóm trực gác khác nhau. Các đầu bếp kiệt sức và cáu gắt. Nhà ăn biến thành một chốn bừa bộn - “Chưa lúc nào sạch sẽ và thông thoáng trong khoảng hơn một tiếng rưỡi”, khiến mỗi bữa ăn đều “có mùi của bữa trước đó, và nhà bếp bốc mùi đồ ăn thừa để lâu”. Và vì nhà ăn trên tàu cũng kiêm luôn chức năng của phòng sinh hoạt giải trí, phim ảnh không còn được trình chiếu nữa. “Các hoạt động giải trí bị cắt bớt đến mức để giải trí thủy thủ đi lang thang quanh tàu cố gắng để không làm phiền người khác.” Bạn bè không được bố trí làm cùng “múi giờ” bị tách biệt khỏi nhau. “Người ta thấy thử nghiệm lịch trực gác này bất khả thi và không mong kéo dài nó thêm nữa,” bản ghi chép cuối cùng trong tập tài liệu nghiên cứu về tàu ngầm của Nathaniel Kleitman kết luận.

Có một số người trong Lực lượng Tàu ngầm tin rằng thời gian biểu trực gác của Kleitman đáng ra nên được tiến hành thử nghiệm hoàn chỉnh hơn với lịch sinh hoạt ở nhà ăn và thời gian giải trí được điều chỉnh. Một sĩ quan điều hành đổ cho “sự bướng bỉnh của các thủy thủ”, rằng “họ ghét phải thử những thứ mới mẻ”. Và có thể không phải tình cờ mà những câu ngạn ngữ như “đừng lắc thuyền” hay “đừng tạo sóng” lại có yếu tố hàng hải trong đó.

Viên sĩ quan này có thể đã đúng. Thời gian biểu của Kleitman dựa trên nền tảng khoa học. Ánh sáng mặt trời chính là thứ có khả năng điều chỉnh đồng hồ sinh học của chúng ta mạnh mẽ nhất. Bên cạnh các tế bào thụ thể ánh sáng hình que và hình nón, chúng ta còn có một loại thụ thể ánh sáng thứ ba, nó rất nhạy với ánh sáng xanh trong ánh sáng mặt trời. Thông tin về ánh sáng này, hay sự vắng mặt của nó, sẽ chuyển đến tuyến tùng của não, nơi sản xuất ra melatonin, chất gây buồn ngủ tự nhiên cơ thể tiết ra. Ánh sáng mặt trời kích hoạt tuyến này ngừng sản xuất melatonin, mang lại sự tỉnh táo. (Ánh sáng nhân tạo - đặc biệt là ánh sáng từ máy tính bảng và điện thoại thông minh - cũng có thể ngăn việc sản xuất melatonin, nhưng tác dụng của chúng yếu hơn nhiều so với ánh sáng mặt trời.) Đó là lý do vì sao những công nhân làm ca đêm lái xe về nhà vào buổi sáng khi mặt trời lên rất khó để ngủ bù có thể không còn lo lắng về giấc ngủ bằng cách mua kính mắt màu hổ phách kiểu Bono có tính năng chặn tia sáng lam từ ánh mặt trời.

NSMRL đang cho phát triển một loại kính bảo vệ mắt có viền gọng phát ra loại ánh sáng lam lấy năng lượng từ pin, do đó đánh lừa bộ não nghĩ rằng trời đang ban ngày. Tùy thuộc vào nơi bạn sắp đến, bạn có thể điều chỉnh một hoặc hai nút trên chiếc kính tuyệt vời này để làm quen trước với múi giờ mới. Hoặc, trong trường họp Lực lượng Đặc nhiệm đến Trung Đông để thực hiện nhiệm vụ bí mật lúc 3 giờ sáng, không cần điều chỉnh. Đại úy Kate Couturier, nhà nghiên cứu nhịp sinh học tại NSMRL, đã trang bị cho một đội SEAL Hải quân loại kính bảo vệ phát ra ánh sáng lam trong một loạt các chuyến bay từ đảo Guam tới Bờ Đông nước Mỹ để xem có thể khiến họ không hấp dẫn phụ nữ nữa hay không, à không, ý tôi là để họ vẫn giữ được nhịp sinh học như ở đảo Guam. Nó đã có tác dụng.

Có thể nói rằng rối loạn nhịp sinh học tác động đến sự tỉnh táo và khả năng tác chiến của một binh sĩ ngang bằng hoặc hơn lượng thời gian mà anh ta được ngủ. Cuối những năm 1990, một nhóm gồm các nhà khoa học nghiên cứu giấc ngủ và các nhà thống kê từ Đại học Stanford đã phân tích tỉ số các trận bóng bầu dục của giải Monday Night Football trong suốt 25 mùa. Bởi vì các trận đấu được bắt đầu vào lúc 9 giờ tối, giờ tiêu chuẩn miền đông nên các tuyển thủ đến từ Bờ Tây coi như sẽ đang thi đấu lúc 6 giờ chiều - một thời điểm mà theo nhịp sinh học thì gần với khoảng thời gian cơ thể sung sức nhất lúc chiều muộn[5]. Đúng như các nhà nghiên cứu dự đoán, các đội đến từ Bờ Tây đã thắng nhiều hơn và ghi được nhiều điểm hơn mỗi trận. Ảnh hưởng của việc chênh lệch múi giờ lớn đến mức các đội đôi khi di chuyển đến nơi thi đấu trước vài ngày để cơ thể của các vận động viên có thể điều chỉnh làm quen với nhịp sinh học mới.

Một yếu tố khác làm phức tạp hóa giấc ngủ của quân nhân là người lập ra thời gian biểu thường là những người trung niên và người thực hiện chúng lại là các thanh niên trẻ tuổi. Thanh thiếu niên không chỉ cần ngủ nhiều hơn mà nhịp sinh học của họ còn “chậm nhịp” so với người lớn tuổi; việc sản xuất melatonin bắt đầu muộn hơn, do đó một thiếu niên hay thậm chí là một thanh niên 22 tuổi có thể không cảm thấy buồn ngủ trước nửa đêm. Điều khủng khiếp là các doanh trại quân đội truyền thống thường bắt các binh sĩ tắt đèn đi ngủ lúc 10 giờ tối và dậy lúc 4 giờ sáng.

Jeff Dyche đã kể với tôi chuyện một đô đốc hải quân đến gặp anh để nhờ tư vấn giải quyết tình trạng thiếu ngủ trong các doanh trại của Hải quân. Bà ấy muốn chuyển giờ đi ngủ xuống sớm hơn, vào lúc 9 giờ tối, để cánh lính được ngủ nhiều hơn. Dyche không nói gì và dẫn bà ấy đi bộ vòng quanh doanh trại sau khi đèn tắt. “Hầu hết các thủy thủ đều đang ngồi, tỉnh như sáo và không làm gì cả. Tất cả sẽ đi ngủ lúc nửa đêm, dù cho có phải dậy sớm thế nào đi nữa.” Dyche đã thuyết phục được bà ấy đổi giờ dậy lúc 4 giờ sáng sang 6 giờ sáng. Điểm kiểm tra được cải thiện tốt đến mức một trong số các chỉ huy của hạ sĩ quan cho rằng hẳn đã có một vụ gian lận nào đó.

Trong bốn thập kỷ qua, các tàu ngầm hầu như thực hiện một lịch trực gác gọi là “lịch sáu”, chia thời gian một ngày của thủy thủ thành các khung giờ gồm sáu tiếng: sáu tiếng gác, sáu tiếng học tập và làm các nhiệm vụ khác, sáu tiếng làm các công việc cá nhân và ngủ, và lại tiếp tục sáu tiếng gác. Việc tạo ra thời gian biểu làm việc 18 tiếng một ngày này khiến mỗi thủy thủ phải mất thêm sáu tiếng gác nữa sau mỗi khoảng 24 tiếng. Vấn đề là các hoạt động này của anh ta không theo được nhịp đồng hồ sinh học. Lúc này anh ta phải làm việc khi cơ thể thèm ngủ hết mức. “Nó giống như cô ngày nào cũng phải bay đến Paris vậy,” Jerry Lamb, đồng nghiệp của Kate Couturier, nói khi tôi gặp anh và các chuyên gia nghiên cứu giấc ngủ khác của Hải quân trước khi lên tàu Tennessee. “Chúng tôi đảo lộn thời gian ngủ và làm việc của họ, chúng tôi bắt họ làm việc cật lực, cho họ tranh thủ chợp mắt và đánh thức họ dậy trong các cuộc diễn tập.” Anh quay lại nói với các đồng nghiệp: “Tôi còn nói thiếu điều gì không nhỉ?”

Lamb nỗ lực tham gia xây dựng một thời gian biểu trực gác “thân thiện với nhịp sinh học”. Đã có, lúc nào chả vậy, những sự phản đối. Lịch sáu tiếng đã được thực hiện trong 50 năm. “Nếu nó không ổn, chúng tôi sẽ hoàn thiện nó,” sĩ quan chỉ huy Bohner nói trong một buổi sáng tôi ở phòng ông. “Giờ chúng tôi sắp dẹp hết và đưa mọi thứ trở về như xưa.” Tôi đã cố gắng hình dung ra việc đó sẽ như thế nào.

Vấn đề chủ yếu nằm ở ca trực từ nửa đêm tới 8 giờ sáng - “ca giữa” khủng khiếp. Bạn đi gác về và thay vì ngồi ăn tối, bạn lại phải ăn sáng. Bạn sẽ ngủ từ 4 giờ chiều đến 10 giờ tối, dù cho Nathan Murray đã nỗ lực hết sức, khoảng thời gian này lại thường xuyên xảy ra những sự kiện khiến bạn phải ra khỏi giường. Để có thể chia đều những ca trực quái gở này, thủy thủ đoàn đổi lịch gác cho nhau sau mỗi tuần. Thay vì phải bay đến Paris hằng ngày, bạn chỉ phải bay hai tuần một lần. Thời điểm đổi ca là vào Chủ nhật, ngày này - trừ khi có ai đó lên tàu vẽ thêm việc cho tất cả mọi người - thường là ngày yên tĩnh nhất trong tuần.

Hôm nay là Chủ nhật. Đại úy Kedrowski, người ở buồng kính tiềm vọng, sĩ quan trực phụ trách boong này, sắp chuyển sang trực ca giữa. Hôm nay là sinh nhật của anh. Chúc mừng sinh nhật, Kedrowski. Anh sẽ phải đảo lộn đồng hồ sinh học của mình và chỉ được ngủ ba tiếng - trong một giường có mùi của người khác, vì anh phải nhường giường của mình cho mụ nhà văn nào đó đến từ California.

“Tôi rất xin lỗi, cảm phiền anh.” Tôi sẽ rất vui nếu được ngủ giữa những đầu đạn.

“Không sao đâu,” Kedrowski nói rất tự nhiên và thoải mái. Gần như mọi người tôi gặp dưới tàu đều rất thoải mái và phấn chấn, đặc biệt là nếu bạn biết được họ đã mệt đến mức nào. Tôi có lẽ đang, giống như một đoạn miêu tả viết trên thùng đựng chuối của hãng Dole trong bếp nhà ăn, “ở cùng những người bạn rất tuyệt”. Nếu tất cả mọi người trên thế giới có thời gian ở trong Hải quân, chúng ta sẽ không cần đến Hải quân nữa.

Phía trên đầu Kedrowski một đèn đỏ đang nháy. Kedrowski đã giải thích về hộp báo động này trước đó. Đó là thứ sẽ kêu ầm lên nếu như Tổng thống Hợp chủng quốc ra lệnh phóng tên lửa hạt nhân.

“Vậy đây là một cuộc diễn tập nữa chăng?”

“Không.” Kedrowski đã viết xong thứ gì đó vào sổ có gáy đóng bằng ba vòng sắt và nhìn lên khối hộp đó. “Nó báo hiệu hỏng hóc thứ gì đó.” Anh đặt bút xuống và nghe ngóng. “Đáng lẽ họ phải nói, Tắt báo động chứ.” Họ không nói gì và hộp báo động nhanh chóng kết thúc. “Họ cần phải sửa thứ đó,” anh nói.

Nghe báo động tên lửa khiến ta giật thót (Lạy Chúa nhân từ, nếu báo động thật thì sao?), nhưng không đáng sợ. Theo logic thì khi xảy ra chiến tranh nói chung và đụng độ hạt nhân nói riêng thì ở dưới độ sâu 150 m dưới mặt biển trong một chiếc tàu ngầm mang tên lửa Trident không thể bị phát hiện là nơi an toàn nhất. Thủy thủ đoàn của một tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân hiện đại phải chịu đựng những ngày dài và sự nhàm chán khủng khiếp, nỗi nhớ nhà, sự thèm khát tình dục và món đậu lima đóng hộp, nhưng họ không phải lo lắng điều khiến hầu hết chúng ta không muốn tham gia quân đội: nỗi sợ canh cánh rằng bạn có thể bị bắn hay nổ tung bất cứ lúc nào. Mệt chết còn hơn chết thật.

❀ ❀ ❀

[1] Trong số những từ lóng quân sự, có những biệt ngữ thân thiện cho tất cả mọi người. Chẳng hạn, tôi được gọi là “chất nôn truyền thông.”

[2] Nếu tính theo khối lượng, một chiếc tàu ngầm còn chở theo nhiều giấy tờ hơn là thủy thủ đoàn - dù cho Phó Đô đốc Joseph Metcalf III đã nỗ lực hết mình để giảm thiểu chúng. Metcalf, người chỉ huy cuộc xâm lược Grenada, cũng là người phát động một chiến dịch mạnh bạo không kém để điện tử hóa các công việc trên tàu với mục tiêu - “đến năm 1990 thì tàu không cần giấy tờ nữa”, như ông đã nói với tờ Thời báo New York năm 1987. Ông tính ra một chiếc tàu chiến cỡ nhỏ đã mang theo 20 tấn giấy tờ hướng dẫn kỹ thuật, nhật ký, biểu mẫu và giá để giấy tờ - nếu không có thể chứa thêm ngần ấy nhiên liệu hay đạn dược. Khẩu hiệu của Metcalf (“Chúng ta không bắn giấy vào kẻ địch”) đã lôi kéo được sự chú ý của một số hãng truyền thông và thậm chí là một hai viên đạn giấy, nhưng - nếu như tàu USS Tennessee có tính đại diện - không nhận được sự cam kết thay đổi thực sự nào.

[3] Để giúp giảm lượng đồ các binh sĩ phải mang theo, Lục quân Mỹ đã bổ sung caffeine vào kẹo cao su hay kẹo bạc hà hay thức ăn mà các binh sĩ phải mang theo, như thịt khô. Sĩ quan quan hệ công chúng của Phòng thí nghiệm Natick, David Accetta thường đưa những thanh thịt khô chứa caffeine cho các phóng viên đến thăm phòng thí nghiệm thực phẩm. Tôi thấy nó có vị đúng như bạn nghĩ, vị thịt lẫn caffeine. Accetta nhớ lại. “Brian William khoái chúng lắm.” Thật không đấy? (Brian Williams là người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng của kênh MSNBC, Mỹ. Chương trình của ông phát sóng vào 11 giờ đêm mỗi ngày - BT.)

[4] Thực tế thì không dễ đến vậy, không như những gì Nathaniel Kleitman đã chỉ ra trong các bài báo nghiên cứu của mình. Để tránh “mối nguy hiểm của những con chuột cống nhảy lên”, giường của hai nhà nghiên cứu được lắp những cái chân cao đến một mét rưỡi và gắn “vành chống chuột bằng sắt tây”. Nhưng rốt cuộc thì không có thứ gì ngăn được những nhà quản lý du lịch tìm cách hấp dẫn khách và cánh nhà báo ồn ào. Kleitman đã thông báo từ đầu rằng ông không muốn báo chí nhúng mũi vào nghiên cứu này, tuy nhiên sau khi thí nghiệm diễn ra được một tuần thì Giám đốc quản lý hang Mammoth, W. W. Thompson đã gửi xuống bữa tối kèm theo một tờ giấy nhắn rằng không hiểu bằng cách kỳ diệu nào, các nhà báo đã biết được tin về cuộc thí nghiệm và đang nằng nặc đòi tiếp cận viết bài. Kleitman không im lặng cho qua. Ông đòi phải được xem xét các bài viết trước khi chúng được đăng, ông bắt tạp chí Tin tức trong ngày phải hứa bằng văn bản rằng họ sẽ “không giễu nhại cuộc thí nghiệm”. Tạp chí Đời sống đã “lách qua khe cửa hẹp”: một “lỗi in ấn”, biên tập viên của tờ báo khẳng định trong một lá thư xin lỗi, khiến học vị viết kèm theo tên của Kleitman (“Dr” - tiến sĩ) “chuyển sang” cho tên của cậu sinh viên sau đại học.

[5] Không phải chỉ có mỗi sự tỉnh táo mới lên xuống theo đồng hồ sinh học của cơ thể. Nhu động ruột cũng thay đổi theo nhịp sinh học. Những người khỏe mạnh rất hiếm khi đại tiện lúc nửa đêm, trừ khi họ mới đến một múi giờ khác.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.