Mặc gì khi ra trận
Cha tuyên úy là người mặc trang phục đặc trưng, nhưng đặc trưng như nào? Nếu anh ta đồng hành với một đơn vị dã pháo, anh ta sẽ mặc quần áo làm từ loại vải chống bắt lửa vừa phải, thành phần chính là rayon-nylon chống côn trùng pha thêm 25% Kevlar để tăng thêm độ bền. Trong một chiếc xe tăng, anh ta sẽ bận bộ quần áo làm từ Nomex - loại vật liệu có tính kháng lửa rất cao, nhưng quá đắt để có thể sử dụng làm quân phục hằng ngày. Trong một căn cứ lớn, với môi trường tương đối an toàn, vải quần áo của cha tuyên úy có thành phần 50% nylon, 50% sợi bông - loại vải để may những bộ quân phục thường ngày cho lính Lục quân, cũng như các bộ lễ phục in hoạ tiết ngụy trang được treo trong phòng cha tuyên úy ở khu thí nghiệm Natick.
Tên đầy đủ và chính thức của tổ hợp các phòng thí nghiệm thường được biết đến với cái tên “Natick” là Trung tâm Kỹ thuật, Nghiên cứu và Phát triển Trang thiết bị Quân nhân Natick. Mọi thứ trang thiết bị phục vụ cho việc ăn, mặc, ngủ và sinh hoạt đều được phát triển hay ít nhất là thử nghiệm ở đây. Trong đó, qua rất nhiều năm và nhiều lần thay tên của trung tâm này, có thể kể đến: áo khoác giữ nhiệt, cà phê sấy lạnh, vải Gore-Tex, vải Kevlar, thuốc diệt muỗi permethrin, áo chống đạn mặc trong, lông tơ ngỗng nhân tạo, tơ nhện tái tổ hợp, bít tết tái cấu trúc (tạo miếng từ thịt bò vụn), thịt lợn muối chiếu xạ và thậm chí là thanh socola (trong khẩu phần ăn dùng lúc nguy cấp) được trộn thêm một ít dầu hỏa để tránh ăn quá nhiều. Về phần mình, những cha tuyên úy tại Natick đã chế tạo ra cả phòng xưng tội di động và bánh thánh có hạn sử dụng kéo dài[1].
Chiều nay, nhiệt độ tại Natick khá dễ chịu ở mức 20 độ C. Cùng lúc, nó có thể ở mức -57 độ C với gió tuyết tạt ngang hay 43 độ C trong bóng râm, tùy thuộc vào loại thí nghiệm đang được tiến hành trong Doriot. Các buồng khí hậu Doriot là thiết bị chính của khu phức hợp được mở từ năm 1954. Các binh sĩ sẽ không bao giờ còn bị gửi đến quần đảo Aleutian với những đôi giày thấm nước, không cách nhiệt hay tới các khu rừng rậm xích đạo với lều chưa xử lý chống mốc. Những người lính này không những được đảm bảo ăn uống đầy đủ mà họ còn được bảo vệ từ đầu đến chân và được ngủ ngon giấc về đêm.
Ngày nay, các cỗ máy tạo tuyết và mưa được đem cho công ty L. L. Bean hay Cabela’s thuê cũng thường xuyên như việc chính là thử nghiệm quân phục. Tính năng chống chịu những yếu tố môi trường chỉ là yêu cầu tối thiểu của Lục quân Mỹ đối với quân phục của họ. Nếu có thể, họ còn muốn cho binh sĩ của mình mặc những bộ quân phục có khả năng bảo vệ khỏi tất cả những mối đe dọa của chiến tranh hiện đại gây ra: lửa, chất nổ, đạn, laser, mảnh bom, các chất gây kích ứng da, chất độc anthrax, rệp cát. Họ muốn một bộ quân phục có khả năng giúp các binh sĩ vẫn cảm thấy mát mẻ và khô ráo trong thời tiết nóng nực, chịu được sự tàn phá của các máy giặt là dã chiến, mềm mại với da, trông đẹp và vừa túi tiền. Có vẻ như việc giải quyết tất cả các xung đột ở Trung Đông khéo còn dễ dàng hơn.
Chúng ta hãy bắt đầu với Tòa nhà 110, như cách mà mọi người vẫn gọi nó. Tên chính thức của tòa nhà là Trung tâm Thử nghiệm Nhiệt Ouellette[2], cái tên mang lại sự lịch lãm gợi cảm đậm chất Pháp cho những vụ nổ chết người và những vết cháy nham nhở. Đứng đầu nhóm nghiên cứu về vải sợi là một người phụ nữ tuổi ngũ tuần với dáng vẻ nhỏ nhắn, quý phái, toát ra một vẻ đẹp tinh tế. Hôm nay, bà mặc một chiếc áo len thụng màu kem đan kiểu vặn thừng. Tôi đã đoán bà hẳn là một người họ Ouellette[3], nhưng khi bà cất lời, một giọng nói của vùng Boston như giáng vào tai tôi. Bà là người nhà Auerbach, tên đầy đủ là Margaret Auerbach, nhưng ở Tòa nhà 110 thì bà có danh xưng là Peggy, hay “nữ thần lửa”.
Khi ai đó trong ngành dệt may nghĩ họ đã chế tạo ra một loại vải kháng lửa tốt hơn, mẫu thử sẽ được gửi tới cho Auerbach để kiểm nghiệm. Có người chỉ gửi các mẫu vải nhỏ; trong khi một số rất lạc quan gửi đến cả những súc vải. Hy vọng của họ có thể bị dập tắt chỉ với một sợi vải duy nhất. “Để xem các chàng trai của chúng ta có thể sẽ phải hít vào thứ gì nào,” Auerbach nung nóng vài centimet sợi lên hơn 800 độ C. Khói tạo ra từ quá trình này được nhận dạng bằng máy sắc ký khí. Một số loại vải kháng lửa[4] là nhờ vào các chất hóa học được giải phóng khi nung nóng. Auerbach cần chắc chắn rằng những chất hóa học này không nguy hiểm hơn ngọn lửa.
Sau khi xác nhận loại vải được thử nghiệm là không độc, Auerbach sẽ thử khả năng chịu lửa của nó. Công việc này sẽ được thực hiện một phần bằng máy laser Đồ Sộ Đáng Sợ (theo như tên ghi trên miếng sticker dán ở cạnh bên của nó). Auerbach đặt một mẫu vải trước tầm ngắm laser. Và đây là phần thú vị nhất: để bật thiết bị laser này, bạn sẽ nhấn một chiếc nút to màu đỏ. Tia laser sẽ được điều chỉnh để tạo ra một vụ bùng phát năng lượng cỡ nhỏ mô phỏng sức công phá từ quả bom của quân nổi dậy - ngang với một thiết bị nổ tự chế (IED) to cỡ chén trà. Một cảm biến phía sau mẫu vải sẽ đo mức nhiệt truyền qua, cho biết mẫu vải có thể bảo vệ người mặc ở mức nào và độ bỏng mà ngọn lửa gây ra.
Auerbach bật chiếc bơm chân không để hút chặt một mẫu vải khác vào cảm biến. Thí nghiệm này để mô phỏng lại tác động của sóng xung kích gây ra từ một vụ nổ - thứ sóng tạo ra từ không khí bị gia tốc có thể ép bẹp cơ thể người. Cụ thể nữa, nó ép chặt quần áo vào da, làm tăng khả năng truyền nhiệt khiến cho vết bỏng tệ hơn. Một trong những tính năng bảo vệ tuyệt vời của loại vải Defender-M, hiện đang được sử dụng để may Quân phục chiến đấu kháng lửa cho Lục quân - FR ACU (“nhân viên ở đây gọi nó là ‘frack you’[5]”), là nó sẽ phồng lên và tách khỏi cơ thể khi bị cháy.
Nhược điểm của vải Defender-M là khá dễ rách (nhóm nghiên cứu đang tìm cách khắc phục). Chính thuộc tính giúp cho người mặc cảm thấy thoải mái trong thời tiết nóng cũng làm cho nó dễ rách; thành phần của loại vải này chủ yếu là rayon, thứ vật liệu có khả năng hút ẩm cao nhưng có “độ bền ướt” thấp. Nếu như vải dễ bị rách do mớ hỗn độn sinh ra từ một vụ nổ, lớp bảo vệ cơ thể trước nhiệt độ cao sẽ không còn. Bạn sẽ bị nướng chín. Nhà sản xuất đã thêm vào thành phần sợi Kevlar, tuy nhiên loại sợi này vẫn không bền bằng Nomex, loại sợi thường được sử dụng để may trang phục cho lực lượng cứu hỏa. Nomex có tính chất kháng lửa rất cao: nó sẽ giúp bạn có thêm ít nhất năm giây quý giá trước khi quần áo bốc cháy.
Auerbach giải thích rằng điều này cực kỳ quan trọng cho tổ lái bên trong xe tăng và máy bay. “Nơi mà họ không thể lăn, nằm xuống và…” Bà nhắc lại “Nằm xuống, ngừng lại… gì nữa nhỉ?”
“Ngừng lại, nằm xuống, và lăn?”
“Ừ, cảm ơn cô.”
Vậy tại sao không may toàn bộ quân phục bằng vải Nomex? Chất liệu này thoát ẩm quá kém. Nó không phải là lựa chọn tốt nhất cho các binh sĩ đang mướt mồ hôi chiến đấu tại Trung Đông. Và Nomex cũng khá đắt, đồng thời rất khó in hoạ tiết ngụy trang lên vải.
Vải sợi bảo vệ luôn có một nhược điểm nào đó. Mọi thứ đều là vấn đề. Ngay cả màu vải. Màu vải tối phản xạ nhiệt kém; nó sẽ hấp thụ và truyền nhiều nhiệt hơn đến da. Auerbach đi qua phòng thí nghiệm để lấy mẫu vải đã in hoạ tiết ngụy trang. Bà chỉ vào một vùng màu đen. “Chị có thể thấy ở đây một vết nhăn do hấp thụ nhiều nhiệt hơn.”
“Thấy cái gì cơ?” Tôi nghe rõ rồi nhưng vẫn thích nghe bà ấy nói từ nhăn một lần nữa. Ôi chất giọng tuyệt hảo vùng Boston.
Tôi nghĩ quân đội rất thích chất liệu polyester: bền, rẻ, không bắt cháy. Vấn đề là nó có thể chảy ra như sáp, và giống như những thứ có thể chảy khác, nó sẽ nhỏ giọt và dính vào các bề mặt, do đó kéo dài thời gian tiếp xúc và làm vết bỏng trầm trọng hơn. Thứ mà bạn không hề muốn mặc khi ở trong một chiếc xe tăng cháy chính là một bộ đồ bó làm bằng polyester[6].
Để xác định mức độ thương tích mà nhiệt có thể gây ra, Auerbach sẽ lấy số liệu thu được từ cảm biến đặt sau miếng vải và tính toán nhờ vào thuật toán dự đoán độ bỏng - một thuật toán được phát triển sau Thế chiến II bởi “nữ thần lửa” đầu tiên Alice Stoll. Stoll là người nghiên cứu về bỏng cho Hải quân Mỹ. Để xây dựng thuật toán mô hình hóa bỏng độ một và độ hai, bà đã thử nghiệm trên chính da cẳng tay mình. Bạn nên thông cảm với bà khi phải nhờ đến sự giúp đỡ để xây dựng đường chuẩn cho tình trạng bỏng độ ba. Động vật qua gây mê đã được sử dụng cho việc này - hầu hết là chuột, ngoài ra còn có lợn. So với tất cả các loài động vật, cơ chế hấp thụ và phản xạ nhiệt của da lợn giống da của chúng ta nhất. Loài lợn xứng đáng giành được huân chương Trái tim Tím[7], có thể là Hồng.
Stoll thấy rằng da thịt bắt đầu bị bỏng khi nhiệt độ đạt đến 44 độ C. Thuật toán của Stoll giống như một dạng nhiệt kế đo nhiệt độ của da thịt. Nhiệt độ của da thịt và mức độ xuyên thấu qua da của nguồn nhiệt sẽ là các thông số chính để biết được độ bỏng. Da tiếp xúc chớp nhoáng với ngọn lửa hay bếp có nhiệt độ cao sẽ gây bỏng độ một, hay theo cách nói của đầu bếp là cá ngừ hơ qua lửa. Tiếp xúc lâu hơn với cùng nguồn nhiệt này sẽ gây bỏng cả các lớp bên trong da. Khi ấy vết bỏng sẽ là độ hai hoặc độ ba, giống như bít tết bò tái vừa.
Thậm chí không cần lửa, quần áo vẫn có thể bốc cháy. Chẳng hạn, nhiệt độ tự bốc cháy của vải bông là khoảng 370 độ C. Thời gian tiếp xúc với nhiệt là hết sức quan trọng. Xung nhiệt từ một vụ nổ hạt nhân là vô cùng nóng, tuy nhiên nó lại di chuyển với tốc độ ánh sáng. Liệu xung nhiệt ở tốc độ ấy có thể khiến quần áo tự bốc cháy không? Trước đây, cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Hậu cần, nay là Phòng thí nghiệm Natick, thực sự đã xem xét vấn đề này.
Cuộc thử nghiệm Upshot-Knothole gồm một chuỗi mười một vụ nổ hạt nhân thử nghiệm tại bãi thử Nevada trong những năm 1950. Các nhà khoa học tham gia chiến dịch này chủ yếu hứng thú với những thứ liên quan như vật liệu xây dựng, xe tăng, hầm chống bom, tuy nhiên họ cũng đồng ý cho những chuyên gia thiết kế quân phục chở vào mấy xe tải lợn. Tất cả 111 chú lợn trắng Chester được gây mê và mặc những bộ “quần áo” đặc biệt may bằng nhiều loại vải khác nhau, một số kháng lửa, một số không, và đặt ở những khoảng cách khác nhau từ tâm vụ nổ.
Quân phục kháng lửa lót một lớp len mặc khi thời tiết mát đã vượt qua hàng loạt các loại quân phục kháng lửa mỏng hơn mặc khi trời nóng - những người thiết kế chúng rõ ràng không hề tính đến sức nóng khủng khiếp của một vụ nổ hạt nhân. Các nhà nghiên cứu đã kinh ngạc ghi nhận “hoàn toàn không có bất kỳ một bằng chứng định tính nào về thương tích do nhiệt, cách tâm nổ 560m, gây ra trên phần da động vật có vải bảo vệ tại bãi thử”. Tôi không muốn làm một kẻ lớn tiếng đâu, nhưng ai lại lo lắng đến độ bỏng của các đối tượng thí nghiệm, vốn ở gần tâm một vụ nổ hạt nhân đến mức theo như báo cáo ngắn gọn thì chúng bị “nổ tan xác”? Bất chấp sự vô lý rõ ràng của kịch bản này, nó vẫn là một minh chứng đáng nhớ về sự quan trọng của thời gian tiếp xúc với nhiệt. Với xung nhiệt di chuyển siêu nhanh phát ra từ bom - bao gồm cả những loại có tính sát thương thấp hơn như IED - việc kháng lửa trong vài giây có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn.
Lớp lót len cũng có tác dụng vì lông chính là loại vật liệu kháng lửa tự nhiên. Gần đây, Natick cũng đã nghiên cứu trở lại các loại sợi tự nhiên như lụa hay len. Len không chỉ kháng lửa và không chảy dính, nó còn có khả năng làm thoát hơi ẩm từ cơ thể. Auerbach cho biết bà đã thấy một số loại đồ lót rất đẹp, mềm, chống lửa làm từ len lông cừu mặc khi trời mát. Lông thú được tẩy sạch để không gây ngứa, sau đó còn phải được xử lý để chống co ngót, và cả hai quá trình này đều rất tốn kém. Theo như Tu chính án Berry, các hãng nội địa sẽ được ưu tiên hơn trong các vụ đấu thầu cung cấp quân trang. Trong trường hợp này chính Tu chính án Berry lại làm phát sinh rắc rối bởi - bất chấp sự quả quyết của ngành công nghiệp chăn nuôi cừu ở Mỹ - có thể không đủ lượng lông cừu để cung cấp theo các hợp đồng.
Vậy giả sử bạn có một loại vải mới tạo cho người mặc sự thoải mái, có giá cả hợp lý. Khả năng chống lửa của nó cũng không bị ảnh hưởng gì sau quá trình xử lý chống côn trùng và kháng vi sinh gây mùi. Giờ thì sao? Giờ thì bạn sẽ phải mang vài mẫu vải đến Trung tâm Thử nghiệm Độ bền Vải. Bạn sẽ đưa các mẫu vải qua máy Nu-Martindale để thử nghiệm độ mài mòn, vặn xoắn nhằm biết được loại vải đã xử lý này sẽ sờn rách nhanh đến mức nào trước kiểu dùng như phá trong quân ngũ. Bạn sẽ tiến hành khoảng vài chục lần giặt-sấy. Quá trình giặt không chỉ loại trừ vết bẩn mà nó còn tẩy đi từng chút một các chất hóa học đã dùng để xử lý sợi. Khi tôi tới thăm trung tâm này, Steve đang chờ vài chiếc quần trong máy giặt gia tốc. Anh cho tôi biết một lần giặt trong máy Launder-Ometer này làm hỏng vải nhanh gấp năm lần giặt thông thường.
- “Cũng ghê đấy,” tôi nói.
- “Vâng,” anh cắn môi dưới theo cách rất khiêu khích. “Bi sắt phang vải.”
Giá như những bộ não ở Natick có thể phát minh ra loại vải không cần giặt. Nếu như bất kỳ thứ gì bắn vào, tràn vào hay dây vào quân phục có thể tự co lại và lăn đi, nếu như quân phục có thể được làm sạch chỉ bằng cách xịt nước thì hãy tưởng tượng chúng có thể bền đến mức nào. Và nếu như vậy thì chúng còn an toàn đến mức nào trước hóa chất của các loại vũ khí hóa học.
Những bộ não ở Natick đang hướng đến điều đó. Tại phòng thí nghiệm đánh giá khả năng đánh bật chất lỏng, họ đang thử nghiệm một loại công nghệ mới xử lý vải “siêu róc nước”. Người sẽ đi cùng tôi tới một buổi thử nghiệm là David Accetta, một sĩ quan quan hệ công chúng trầm tính, dễ mến. Chúng tôi gặp nhau trên văn phòng của anh, nơi chất một đống các thùng hàng mới được chuyển đến trong góc. Trên tường là một tờ lịch in hình các giống chó. Tháng Chín có hình một con chó săn vịt lớn màu trắng. Mới đây, Accetta được cử đi phục vụ tại sân bay Bagram, Afghanistan, nơi anh dành toàn bộ thời gian để viết thông cáo báo chí về nỗ lực cứu trợ nhân đạo của Lục quân Mỹ. Cấp trên của anh đã thắc mắc tại sao các câu chuyện trong báo cáo chẳng mấy khi có kịch tính. “Họ không hiểu gì cả. Đó không phải là tin tức.” Anh nhắc lại mà không hề tỏ ra bực tức chút nào. Có rất nhiều điều gây ức chế trong công việc của Accetta, tuy nhiên, anh chưa bao giờ tỏ ra bực bội. Anh luôn điềm tĩnh khi xử lý mọi chuyện, và dáng đi của anh không lúc nào vội vã mà rất thư thả. Anh có lông mi dài và thường chớp khẽ. Tôi suýt nữa đã miêu tả nó giống như lông mi búp bê, nhưng từ này có vẻ không ăn khớp với phần còn lại trên khuôn mặt Accetta, với vết sẹo mảnh vắt một cách ngang tàng, từ trán chạy vòng xuống má anh. Tôi không đặt câu hỏi nào cho nó vì tôi thích câu chuyện tự biên của mình về những lưỡi đao sáng loáng và màn đấu kiếm trên cầu thang.
Vẫn còn sớm nên chúng tôi cùng nhau đi dạo dọc hồ Cochituate, đường biên giới tự nhiên của Phòng thí nghiệm Natick. Ánh nắng lấp lánh trên mặt hồ gợn sóng nhẹ. Nước hồ, ánh lên màu xanh thẫm dưới ánh mặt trời hôm nay, đã từng được sử dụng để nấu ra loại bia tươi Black Label. Hoạt động của Natick đã chấm dứt việc này. Đối với một khu vực ô nhiễm cần làm sạch, cảnh quan ở đây khá đẹp, với chòi ngắm cảnh và các lối mòn để dạo bộ. Chỉ cần thêm mấy con ngỗng xám Canada nữa thì không gian nơi đây đúng y công viên. Mất một lúc tôi mới nhận ra là mình không nhìn thấy con ngỗng nào. Giờ đang là mùa thu. Có lẽ chúng vừa bay hết về phương Nam.
Accetta và tôi dừng lại quan sát một viên sĩ quan đang hướng dẫn một nhóm những người tình nguyện tham gia thí nghiệm thử mặc áo parka, đi giày cổ cao và đội mũ. Họ là các binh sĩ được bố trí để nếm thử thức ăn dã chiến, ngủ trong các túi ngủ loại mới: thử nghiệm, báo cáo, và lại thử nghiệm tiếp những thứ khác. Một kỳ công tác tạm thời tại Natick không phải lúc nào cũng là những trải nghiệm thú vị. Tôi đã được nhìn thấy bức ảnh được chụp những năm 1960, trong đó một nhóm binh sĩ mặc áo mưa và quần chống nước, đầu cúi gằm, nước mưa nhỏ tong tong từ trên mũ của họ, đang đi vòng tròn dưới cơn mưa rào nhân tạo. Có vẻ như họ đã phải đi thế trong nhiều giờ liền.
Có tầm mười tình nguyện viên, đứng xếp hàng trong bãi đỗ xe bên cạnh doanh trại của mình. Một chiếc xe đang lùi khỏi bãi đỗ xe đằng sau họ. Những người lính tiến lên phía trước ba bước, giữ nguyên đội hình, và bước thêm một bước leo lên lề. Khi chiếc xe đi khỏi, họ lại bước xuống và lùi lại.
Mỗi lúc họ cần bước đi, họ đều bước đi theo nhóm khoảng bốn người trở lên, Accetta nói rằng họ cần làm mọi thứ theo đội hình. Giống như đàn ngỗng bay về phương Nam.
Buổi thao diễn bắt đầu bằng tiếng lẹp bẹp của chai mù tạt bị bóp. Một dòng chất sệt sệt màu vàng hoà lẫn những mảng màu xanh ô liu tối của miếng vải ngụy trang hình vuông. Miếng vải được kẹp vào một bảng nghiêng để chất bẩn có thể chảy đi. Đây là thử nghiệm về khả năng trượt đi của chất bẩn trên vải. Trong khi người quay phim và một đám đông nhỏ nhìn chăm chú, dòng mù tạt chảy khỏi tấm vải vẫn giữ nguyên hình dạng. Một kỹ sư hóa học trẻ, Natalie Pomerantz, hướng sự chú ý của những người xem đến phần vải mà chất bẩn vừa chảy qua: “Không có vết bẩn bám lại!”
Sau đó là bài thử nghiệm với tương cà, rồi cà phê, và sữa, giống như là chủ sở hữu của bộ đồng phục này sẽ phải tham gia một trận chiến trong phòng ăn vậy. Mọi thứ được giội sạch bằng nước. Natalie mời tôi sờ thử mặt dưới của tấm vải và tôi làm theo. Nó vẫn khô nguyên.
Natalie bắt đầu bài giảng với phần dễ trước. Chất lỏng có thành phần chủ yếu là nước đều có sức căng bề mặt lớn. Tức là các phân tử của nó liên kết với nhau chặt chẽ hơn là liên kết với bề mặt thứ mà bạn đổ nó xuống. Một chất lỏng với sức căng bề mặt yếu như cồn sẽ không thể đọng thành hạt trên vải như nước, nó sẽ ngay lập tức thấm xuống. Một hạt nước đọng chính là một hội kín các phân tử, tụ lại với nhau, từ chối bắt tay với những phân tử lạ. Trong không khí, bề mặt của nước liên kết với nhau đủ mạnh để tạo ra một lớp màng yếu. Thế giới côn trùng có nhện bò trên nước chứ không có nhện bò trên rượu. Một trong những thứ có sức căng bề mặt lớn nhất chính là thủy ngân. Thủy ngân sẽ đọng thành hạt và lăn khỏi hầu hết các bề mặt bạn đổ nó xuống mà không để lại bất kỳ một vết nào.[8] Một trong những đặc tính của thủy ngân khiến nó được sử dụng trong nhiệt kế là bên cạnh khả năng có thể tồn tại dưới dạng lỏng ở nhiệt độ rất nóng hoặc rất lạnh nó còn không bám dính bên trong thủy tinh. Không có vết dính, do đó bạn có thể đọc được rõ ràng nhiệt độ.
Rất nhiều thứ trong quân đội có thể dính bẩn lên quân trang như dầu máy, xăng máy bay, dung môi hexan, do chúng có sức căng bề mặt kém hơn hẳn nước. Natalie nhỏ dầu máy lên một miếng vải vuông khác. Sau đó cô lấy một cốc nước và hắt mạnh như thể một bạn tình đang nổi đóa. Dầu máy bị trôi tuột đi không để lại vết bẩn nào. “Điều đó thật đáng giá,” một đồng nghiệp thốt lên.
Natalie gật đầu, mặt lộ nét rạng rỡ. “Đối với chúng tôi, điều này mang lại cảm giác như được đi chơi thư thả trong một ngày nắng đẹp vậy.” Cô ấy đang đùa, nhưng cảm xúc đó là thật, một điều tích cực. Sự hân hoan của cô ấy khi làm khoa học giống như tăm rượu đang sủi lên vậy, lóng lánh và rất khó kìm nén. Tất cả chúng ta đều nên yêu nghề của mình nhiều như thế.
Ý tưởng về lớp phủ siêu kháng bám dính đến từ đặc tính không dính nước của lá cây hoa súng. Bề mặt lá hoa súng khi nhìn dưới kính hiển vi điện tử giống như một tấm thảm với nhiều núm, mỗi núm lại được phủ bằng những núm nhỏ hơn có kích thước nano được cấu tạo từ những tinh thể giống như sáp. (Bản thân sáp nến là một chất liệu chống thấm cho vải rất tốt, tuy nhiên nó quá dễ bắt lửa nên không thể sử dụng vào mục đích quân sự.) Những núm và đỉnh nhỏ xíu này làm giảm sự tiếp xúc và tương tác giữa bề mặt vải và chất lỏng bất kỳ rót lên nó. Lớp phủ cũng làm cho bề mặt vải có sức căng ổn định hơn, một lần nữa làm giảm tương tác giữa vải và chất lỏng.
Dù ứng dụng phổ biến trên quần áo của lớp phủ “siêu róc nước” này chủ yếu tập trung vào tính chống bám bẩn của nó - “đồ lót tự làm sạch” là khái niệm mà Accetta cố gắng nhồi vào đầu tôi - ứng dụng quan trọng hơn của lớp phủ này là tạo ra lớp bảo vệ trước vũ khí hóa sinh. Loại quần áo đầu tiên sử dụng công nghệ mới này sẽ là áo trùm và quần: một bộ đồ chống chất độc sinhhóa. Những loại quần áo dạng này còn được bổ sung thêm một lớp carbon hoạt tính (còn được gọi là than hoạt tính) để khử các chất hữu cơ độc hại. Tính chống bám dính cao của lớp phủ sẽ giúp giảm độ dày của lớp này; nếu như 95% của thứ rót lên vải nhanh chóng rơi ngay khỏi nó, thì sẽ cần ít carbon hoạt tính hơn để khử chất độc. Đây là một ưu điểm vì bộ quần áo có lớp carbon hoạt tính quá dày sẽ rất nóng và không thoải mái khi mặc. Như vậy chẳng khác nào mặc cả một bộ lọc không khí lên người. Với quần áo bảo hộ, sự thoải mái là một trong những điều quan trọng nhất. Nếu mặc đồ bảo hộ gây khó chịu, binh sĩ sẽ dễ dàng bỏ qua nguyên tắc an toàn và dùng chúng làm thứ lót mông để ngồi.
Họ cũng làm điều tương tự nếu không thích kiểu dáng của quần áo. “Cụ thể là với quần áo bảo vệ, điều then chốt là bạn phải thiết kế được bộ đồ trông gọn gàng và ưa nhìn, nếu không họ sẽ không thích mặc chúng.” Dẫn lời Annette LaFleur, nhà thiết kế quân phục hàng đầu của Lục quân Mỹ, và cũng là nhân vật tiếp theo trong “Thời gian biểu của Mary Roach lúc 14 giờ, ngày 20 tháng Chín năm 2013”.
Chiếc khóa kéo là một vấn đề với lính bắn tỉa. Đây là những người lính có thể nằm sấp cả buổi chiều, bò loanh quanh trên gạch vỡ và đất đá. Nếu như quân phục của họ có khóa kéo, cát và bùn sẽ rơi vào khe giữa các răng khóa khiến khóa nhanh bị kẹt. Thêm nữa, việc nằm lên một chiếc khóa kéo cũng không thoải mái gì. Vấn đề tương tự cũng xảy ra với cúc cài. Kiểu cài nhám dính như Velcro có ít nhược điểm hơn khi sử dụng cho mặt trước quần áo, tuy nhiên nó lại phát ra tiếng loạt soạt. Tôi đã nghe được những câu chuyện từ lính đặc nhiệm nói về việc mẫu nhám dính Velcro khiến họ gặp nguy hiểm vì bị lộ vị trí. Một mẫu gài nhám dính gần như không phát ra tiếng khi sử dụng hiện đã có mặt ở Phòng thí nghiệm Natick.[9] Nhà thiết kế bộ quân phục bắn tỉa mới - Annette LaFleur, người cũng đẹp như tên vậy - đang chỉ cho chúng tôi cách cô giải quyết vấn đề nhờ việc tạo ra một bộ quần áo có những khóa kiểu mở ngang. Cô trỏ vào một ma nơ canh được đặt đứng giữa khu làm việc trong xưởng Thiết kế, Họa tiết và Mẫu thử Natick. Ma nơ canh không đầu, một vật phẩm quen thuộc của ngành công nghiệp thời trang, trông rất khiên cưỡng khi khoác bộ quần áo đang được hoàn thiện để dùng cho chiến tranh. Chàng lính bắn tỉa này của chúng ta trông như thể đã bị lính bắn tỉa đối phương bắn trúng trước vậy.
LaFleur kẹp tấm vải giữa các ngón tay. “Đây là loại vải Cordura đã được phủ bề mặt mà chúng tôi dùng.” Các cuộn vải có thể có màu xanh ô liu xỉn và máy khâu được thiết kế để may vải Kevlar, nhưng đây vẫn là một xưởng thiết kế thời trang, và ngôn từ của LeFleur cho thấy điều đó. (Cô đã miêu tả quân phục kháng lửa là một trong những “thứ rất thịnh hành hiện nay”.) Tuy nhiên, LaFleur không sử dụng vải Cordura chỉ bởi nó được ưa chuộng. Cô chọn loại vải này bởi tính bền và kháng lửa, và vì mặt trong được phủ một lớp chống hơi ẩm thấm qua. Đây là điều rất quan trọng nếu bạn phải nằm ở chỗ ẩm ướt chờ đợi để giết ai đó. Thậm chí cả những đường may gọn gàng, ngay ngắn trên chiếc áo bắn tỉa cũng có tác dụng, kết quả của việc sử dụng khóa ngang và quyết định chuyển các túi từ thân trước sang tay áo cho dễ lấy đồ. (Bộ quân phục này trông sẽ không còn gọn gàng nữa khi gắn thêm các phụ kiện của bộ ngụy trang Ghillie. Lính bắn tỉa có thể tùy chỉnh phần lưng áo, quần và mũ bằng việc gắn thêm các sợi vải để có thể ẩn mình vào địa hình bụi cây, đồng cỏ. LaFleur so sánh chúng với mấy cái nút buộc trang trí, nhưng có lẽ không nhiều lính bắn tỉa thích cách ví von này.)
LaFleur chỉ vào một miếng vải dài được gọi là nẹp cúc, nó giúp bảo vệ cúc áo khỏi vỡ khi va đập. Cô ấy hẳn không cần phải lo lắng về điều đó. Một trong các tiêu chuẩn về cúc áo của Quân đội Mỹ là sức chịu nén tối thiểu, được kiểm nghiệm bằng việc đặt cúc áo giữa hai khối thép và ép dần xuống cho đến khi “tiếng nứt vỡ đầu tiên phát ra”. Những nhà kiểm nghiệm cúc liên bang làm việc với nhiệt tâm như người thời Trung cổ. Các phương pháp kiểm nghiệm chất lượng cúc khác bao gồm ấn bàn là nóng lên mặt sau cúc, luộc chúng trong nước sôi hay kéo phần chân cúc cho đến khi rời khỏi thân.
Thông số kỹ thuật của một chiếc cúc đạt chuẩn Mỹ được in kín trên hai mươi hai trang tài liệu. Chỉ riêng điều này cũng đủ cho bạn thấy công việc thiết kế quần áo cho Lục quân Mỹ tốn công sức đến mức nào. Dù Lục quân yêu cầu nhà thiết kế phải có bằng cấp về thời trang, thời trang - tính cá nhân thể hiện qua hình thức bên ngoài - lại đối lập với các yêu cầu của quân đội. Điều đó lại vi phạm điều lệnh quân đội. Điều lệnh về Trang phục và Ngoại quan Lục quân Mỹ cấm tất cả mọi thứ có thể đi kèm với tính từ “cực đoan, lệch lạc hoặc kỳ cục”. Lục quân Mỹ không cho phép: kiểu tóc mái lệch hay bên dài bên ngắn, “tóc phồng gài kẹp bướm”, “dây buộc tóc kiểu bèo nhún bản rộng”, tóc vuốt dựng cao hơn 8,7cm tính từ da đầu, tóc nhuộm màu xanh lá cây, tím, xanh nước biển hay “đỏ tươi (giống luồng phụt phản lực)”, kiểu Mohawks, tết lọn, cạo viền cong kiểu cách, râu quai nón cạo tỉa, tóc mai nhọn hoặc bè ra hoặc dài quá 3mm, râu dê, ria mép, râu rậm bất kỳ kiểu nào, ria mép để dài kiểu râu trê, và ria che bất kỳ phần nào của môi trên hay “vượt quá hai đường kẻ thẳng đứng kéo từ mép lên”[10].
Tiêu chí về thẩm mỹ trong phục trang quân đội là sự đồng nhất. Vì thế mới có từ đồng phục. Từ lúc huấn luyện tân binh cho đến khi an nghỉ tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington, các binh sĩ đều giống như những người xung quanh: cùng mũ, cùng giầy và cùng một loại bia mộ màu trắng. Họ không được khuyến khích có một diện mạo khác biệt vì điều đó sẽ khiến họ cảm thấy mình độc đáo và khác lạ, làm tăng tính cá nhân trong họ. Vấn đề của tính cá nhân là họ chỉ nghĩ cho bản thân và về bản thân thay vì nghĩ cho tập thể đơn vị. Họ sẽ giống như con cá vàng đơn độc in trên gói bánh cá Pepperidge Farm, một mình bơi theo một hướng. Vấn đề sẽ nảy sinh từ họ.
“Thực ra, cô giống một kỹ sư hơn là một nhà thiết kế,” LaFleur đã bình luận về công việc của cô ấy như vậy. Cô ấy bắt đầu sự nghiệp bằng công việc thiết kế đồ bơi. Thực ra hai công việc liên quan chặt chẽ với nhau hơn là người ta tưởng. Một bộ đồ bơi cũng cần được thiết kế bởi người có chuyên môn về các loại vải đàn hồi và chịu được cường độ vận động cao, và hiểu về cách sử dụng của từng loại vải. Việc thiết kế một bộ áo giáp mặc trong cũng cần tới chuyên môn và hiểu biết tương tự. Đồng nghiệp của LaFleur, Dalila Fernandez, chuyển đến Natick từ cửa hàng Priscilla, tại Boston, nay đã ngừng kinh doanh, chuyên cung cấp các loại váy cưới cao cấp. Công việc ở đây cũng tương tự: một bộ váy cưới được may bằng rất nhiều lớp vải đặc biệt, đắt đỏ nhưng chỉ được dùng trong vẻn vẹn một buổi chiều. Một bộ bảo hộ gỡ bom cũng giống vậy. Kiểu dáng trang phục phải dựa trên mục đích sử dụng - dù phải thừa nhận rằng điều đó được áp dụng ở đây chặt chẽ hơn bất kỳ cửa hàng thời trang nào. Chỉ trong bản thiết kế của nhà thiết kế quân trang mới có đôi găng tay ba ngón, với ngón trỏ để kéo cò súng.[11]
Khi một quân đội tăng cường ngày càng nhiều ứng dụng khoa học kỹ thuật, quân phục hiện đại giống một hệ thống hơn là trang phục. Quân phục còn được dùng để chứa các thiết bị điện tử, đạn dược và pin cho các thiết bị. Trước khi có những bộ giáp đồ sộ và áo vest mang đầy thiết bị tạo nên vẻ đe dọa cho người lính thì quần áo mặc ngoài đôi khi cũng được sử dụng cho mục đích này. Mũ chóp cao và cầu vai giúp cho các sĩ quan trông cao hơn và vai rộng hơn. Và đôi ủng. Đôi ủng. Những đôi ủng da bóng loáng cao đến đầu gối để bảo vệ ống quần, vâng, nhưng đồng thời nó cũng làm tăng thêm sĩ khí. Đồng phục được tạo ra không chỉ để những người lính trông giống nhau mà nó còn tăng nhiệt huyết và sự tự tin. Chúng được hồ cứng đơ, bắt mắt, được trang trí bằng những ruy băng hay núm tua. Chúng, trích lời của Annette LaFleur, “rất sang trọng”.
Bộ quân phục chiến đấu hiện tại mang lại sự thoải mái cho người mặc trong thời tiết nóng, rộng rãi và không cần sơ vin. Chúng không tạo ra cảm giác “sẵn sàng giết chóc” bằng “sẵn sàng đi ngủ”. Tuy nhiên, quần áo vẫn toát ra thứ rất quan trọng là sĩ khí. Bộ quân phục ACU đã từng là trang phục không phân biệt giới tính, nhưng các nữ quân nhân đã phàn nàn. Áo có vai và eo quá rộng với nhiều nữ quân nhân, hoặc quần có phần mông quá chật. Tấm đệm gối thì lại hay đập vào xương ống. Các nữ quân nhân ghét nó đến mức quân đội Mỹ phải đặt hàng quân phục nữ riêng.
“Nhưng bạn không thể gọi nó là quân phục nữ,” Accetta cho biết, “Bởi vì có mấy anh chàng cũng mặc chúng.” Nó được gọi là Quân phục Chiến đấu Lục quân-Bản thay thế, một bộ quân phục “dành cho các binh sĩ vóc người nhỏ”.
Cứ một thời gian, quân phục lại thay đổi, không phải vì nó hết tính thực tiễn hay nghiên cứu hoặc các vấn đề về sĩ khí mà đơn thuần chỉ vì khuynh hướng thời trang của một chỉ huy cấp cao nào đó. Trong quá khứ, quân đội Anh đã có hai trường hợp là tướng Cardigan và tướng Raglan, tôi thích mường tượng cảnh họ ngồi trong lều của mình, vẽ các bản thiết kế quân phục dưới ánh đèn treo. Hay như mới đây, một Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ đã quyết định rằng mũ nồi của bộ quân phục dã chiến Lục quân sẽ làm bằng len đen, không phải vì len khó bắt lửa và hút ẩm mà bởi vì ông ta thích như vậy. Ông ta mê kiểu mũ đó dù cho có phải mất công đấu tranh có được ngoại lệ khỏi Tu chính án Berry. Ông ta mê nó dù cho hầu như tất cả binh sĩ dưới quyền đều thích mũ lưỡi trai vải hơn. Họ có rất nhiều lý do để thích mũ lưỡi trai, như nó không chỉ ngăn ánh nắng chiếu vào mắt mà còn trông ngầu hơn, và nhẹ hơn, đỡ cộm hơn mũ nồi khi nhét vào túi quần. (Phải mất đến 10 năm, nhưng cuối cùng Lục quân đã quay lại với mũ lưỡi trai.)
Câu chuyện được kể lại nhiều nhất tại Natick, một ví dụ về sự ảnh hưởng của thượng cấp, là mẫu hoạ tiết ngụy trang phổ biến được sử dụng trên bộ quân phục Lục quân từ năm 2005. Người ta đã nảy ra ý tưởng phát triển một loại hoạ tiết ngụy trang duy nhất có thể sử dụng được cho binh sĩ ở tất cả các môi trường như sa mạc, đô thị và rừng thưa. Trung tâm Đánh giá Họa tiết Ngụy trang Natick đã phát triển được mười ba mẫu hoạ tiết và tổ hợp màu ngụy trang, sau đó gửi chúng đến các đơn vị trên chiến trường để kiểm nghiệm và lấy ý kiến. Trước khi các thông tin thử nghiệm được thu thập và hoàn thành nghiên cứu, một viên tướng có máu mặt đã nhanh nhảu chọn một mẫu. Nó thậm chí còn không phải là một trong mười ba mẫu hoạ tiết đã được thử nghiệm. Mẫu hoạ tiết ngụy trang này khi được dùng tại Afghanistan kém hiệu quả đến mức năm 2009 Lục quân đã phải chi ra 3,4 triệu đô la Mỹ để phát triển một mẫu hoạ tiết mới an toàn hơn cho binh sĩ đồn trú ở đây.
Họa tiết ngụy trang là một đề tài khá thú vị nếu xét từ góc độ thời trang. Như một quy luật, quân đội thường sẽ tạo ra, chứ không phải là chạy theo, xu hướng thời trang đại chúng. Đôi khi, họ tạo ra xu hướng rồi lại chạy theo xu hướng đó. Khoảng giữa thế kỷ trước, hoạ tiết ngụy trang quân sự đã bắt đầu xuất hiện trong làng thời trang đại chúng. Bắt đầu với quần áo và sau đó là các thứ khác. Khi tôi viết cuốn sách này, bạn có thể lên mạng và đặt mua đủ thứ có hoạ tiết ngụy trang như nhẫn cưới, áo cho chó, áo liền quần, bao cao su, dép tông, mũ bảo hiểm hay giày đá bóng. Họa tiết ngụy trang đã phổ biến đến mức cuối cùng lính hải quân cũng bắt đầu bàn tán xôn xao về nó. Họa tiết ngụy trang màu xanh nước biển trên mẫu quân phục hiện tại của Hải quân khiến rất nhiều người thất vọng. Nghĩ rằng mình có thể chưa nắm được ý nghĩa sâu xa trong việc chọn màu, tôi đã hỏi một trung tá Hải quân về tính hợp lý của hoạ tiết này. Ông nhìn xuống quần của mình và thở dài: “Chắc là để không ai nhìn thấy cô nếu cô rơi xuống biển.”
Không sự ngờ nghệch nào về thời trang trong quân đội có thể sánh được với câu chuyện về đồ lót màu đỏ cam. Trong giai đoạn chuyển giao của thế kỷ trước, trích từ một bài báo trên tạp chí Medical Bulletin (tạm dịch: Điểm tin Y học), xuất bản tháng Sáu năm 1897, đã xuất hiện “một lời đồn thổi rất thịnh hành rằng đồ lót màu đỏ mang lại giá trị y học huyền bí nào đó”. Dù vô căn cứ nhưng tác dụng của màu đỏ đã được lan truyền đến được tận văn phòng Tổng Y sĩ. Trung tướng William Wood đã báo cáo rằng các sĩ quan quân đội Anh tại Ấn Độ đã thấy thoải mái hơn trước ánh mặt trời nhiệt đới thiêu đốt bằng cách lót vải đỏ vào mũ của họ. Người ta ra chỉ thị tiến hành một nghiên cứu, lấy các binh sĩ đang đóng tại Philippines làm đối tượng thử nghiệm. Dẫu chỉ có một lượng mũ nhỏ được chuẩn bị cho thử nghiệm, Quân đội Mỹ lại chộp ngay lấy ý tưởng về đồ lót màu đỏ - có thể họ coi nó là một loại tài sản bí mật, một ưu thế bí mật về tâm lý như bộ đồ lót diềm đăng ten quyến rũ hay miếng độn giày. Năm ngàn bộ đồ lót màu đỏ cam đã được phát ra từ một kho quân nhu tại Philadelphia, cùng với lượng đồ lót màu trắng tương đương làm căn cứ để so sánh. Sức khỏe thể chất và tinh thần của các binh sĩ được giám sát trong một năm. Đối tượng thử nghiệm là một nghìn lính nghĩa vụ tại Philippines.
Những bộ đồ lót này đã đến tay binh sĩ từ đầu tháng Mười hai năm 1908. Đây là lúc chúng bắt đầu bộc lộ các nhược điểm. Bốn phần năm số đồ lót quá chật với hầu hết binh sĩ, trừ những người thấp bé nhỏ con. Có lẽ do khi nhìn vào điểm đến của số hàng, những thợ may đã hiểu nhầm và thiết kế chúng dành cho những anh chàng người Philippines nhỏ nhắn. Hoặc có thể là họ chỉ đơn thuần tiết kiệm nguyên vật liệu. Ai mà biết được. Sáu trăm binh sĩ được loại khỏi thử nghiệm. Tệ hơn, những chiếc quần lót này được may từ vải bông thô, khiến cho các binh sĩ đổ mồ hôi ở nơi họ không hề mong muốn, chắc chắn là làm phản tác dụng bất kỳ tính chất làm mát huyền bí nào đó mà màu của chúng có thể đem lại. Việc đổ mồ hôi còn gây ra sự khó chịu kép, bởi chất lượng nhuộm tệ hại. Các binh sĩ mặc loại quần này không ngừng bị đồng đội chế nhạo và “đem ra làm trò đùa”. Sau một tháng giặt giũ, những chiếc quần lót màu đỏ chuyển dần sang màu vàng, và tiếp tục chuyển sang “một thứ màu kem bẩn thỉu”. Lớp lót vải đỏ trong mũ dù ít phải đem đi giặt hơn, nhưng khi binh sĩ chạy dưới mưa hay đổ mồ hôi, nó tạo ra những vệt và dòng chảy màu đỏ khắp mặt khiến họ bị trêu chọc thêm nữa.
Khi kết thúc một năm thí nghiệm, các binh sĩ được phỏng vấn về những trải nghiệm của họ với thứ đồ lót đặc biệt trên. Chỉ có 16 người trong số 400 nói những điều có chút tích cực về nó. Đồ lót màu đỏ nóng hơn và cọ rát hơn. Nó “làm cho người mặc dễ nổi cáu hơn”. Ngoài việc làm nổi rôm, phồng rộp và tăng tỉ lệ cảm nắng, nó còn bị coi là nguyên nhân gây đau đầu, chóng mặt, sốt, mờ mắt, bụng sôi và đau bụng. Nếu báo cáo “Một thử nghiệm về đồ lót màu đỏ cam” được xướng lên tại một hội nghị tổ chức cứ mỗi hai năm của Hiệp hội Y học Nhiệt đới Viễn Đông, chắc chắn nó sẽ khuấy động không khí vui vẻ giữa rất nhiều báo cáo thông thường về sốt rét và nấm bàn chân.
Khi chúng ta nói về chủ đề nóng bức và những khó chịu mà nó gây ra, hãy nói một chút về đồ lót Kevlar. Một phiên bản của thứ đồ lót này đã được tiếp thị thành công cho quân đội Anh: quần lót chống bom[12] - bảo vệ khỏi những vết thương ảnh hưởng cả đời.
“Đã có nhiều tranh cãi về thứ này,” Accetta nói.
Đôi mắt to và đẹp của La Fleur mở rộng. “Cô ấy đang ghi âm lời anh đấy.”
“Do chính tôi khơi mào.”
Kênh Fox News đã gọi đến đây và hỏi rằng tại sao lính Anh có quần lót chống bom còn lính của chúng ta thì không. “Làm gì có thứ nào như vậy,” Accetta đã trả lời phóng viên. Anh nói họ đang nghiên cứu một thứ khác, cúp máy và gọi cho các chuyên gia về vật liệu chống đạn của Natick. Thực tế họ đang nghiên cứu thứ gì? Đồ lót tơ lụa - các chuyên gia về vật liệu chống đạn cho biết. Vâng, thực sự là vậy đấy, họ nói. Không giống loại vải thoáng khí tự nhiên - vải bông chẳng hạn - tơ lụa không bị sờn rách và dính các mẩu sợi vào vết thương gây ra nhiễm trùng. Nó cực kỳ chắc khỏe. Cụ thể thì, tơ nhện có chỉ số giữa độ Chắc khỏekhối lượng hơn cả thép. (Tại Natick từng có một “phòng tơ nhện” ở tầng hầm của tòa nhà số 4 và một nhóm các nhà nghiên cứu làm việc tại đây tìm cách phân tách cấu trúc protein đặc biệt của tơ nhện để tổng hợp lại nó.)
Dù rất chắc khỏe, nhưng lụa không mang lại sự tự tin cho người mặc. Vải Kevlar thì ngược lại. Người ta không nhận ra rằng loại vải Kevlar nhẹ như vải kaki (hay các họ hàng mới hơn của nó là vải Spectra và vải Dyneema) không cản được các mảnh kim loại thường được đặt trong bom tự chế. Để cản được chúng, phải cần tới từ 15 đến 40 lớp chồng lên nhau - quá nặng để làm quần lót. Quần lót chống bom có thể cản lại đất cát bắn lên khi bom chôn dưới đất phát nổ. Điều đó mới quan trọng vì đất mang theo nấm và vi khuẩn có thể tạo ra những vết thương bị nhiễm trùng sâu khó chữa lành. Quần lót chống bom rất hữu dụng. Nhưng nó chắc chắn là không thể chống bom, như ý nghĩa được gán cho cái tên của loại quần này. “Thú thực” - Accetta bộc bạch - “nếu quân nổi dậy có thể chế tạo được một quả bom lớn đến mức có thể thổi tung chiếc xe tăng M1 nặng 70 tấn, chúng chắc chắn cũng chế tạo được quả bom sẽ thổi bay quần lót của cô.”
❀ ❀ ❀
[1] Phòng thí nghiệm Natick, ban đầu là Phòng Nghiên cứu Cung ứng Hậu cần, đã có khả năng kéo dài hạn sử dụng của thức ăn ra mức gần như vô hạn. Hiện tại họ đã chế tạo được loại bánh kẹp thịt có hạn sử dụng trong 3 năm. Thịt, nói riêng, đã có sự tiến bộ vượt bậc từ Chiến tranh giành độc lập và Nội chiến Mỹ, khi thịt bò tươi vừa mổ xong được phát ngay cho binh sĩ. Trong Thế chiến II, phòng thí nghiệm hậu cần với tên gọi rất hợp cảnh này đã chế tạo được loại “mỡ quân sự” không chảy, được hydrat hóa một phần cùng với “thịt lợn muối quân sự” cực khô, ướp đẫm muối có thể giữ trong 6 tháng mà không cần làm lạnh, với sự miêu tả lại một cách không hề khoa trương là “ngon và hài lòng”. Tôi xin trích dẫn đoạn này từ tạp chí Breeder’s Gazette, ra tháng 7-8/1943, ấn phẩm họ hàng với tờ Poultry Tribune, một tờ báo dành cho những người chăn nuôi gia cầm.
[2] Bị ghi nhầm thành “Uoellette” trong Danh sách các tòa nhà tại Natick, và “Oullette” tại tấm biển tên ngoài tòa nhà. Hẳn có ai đó đã phải cháy mặt vì vụ này.
[3] Ouellette vốn là một họ gốc Pháp khá phổ biến tại Bắc Mỹ. (BT)
[4] Trong Quân đội Mỹ có nhiều tiêu chuẩn đối với vải kháng lửa như Flame Retardant - Chống bắt lửa, Flame Resistance - Kháng lửa, Fire-proof - Không cháy, cách nhiệt, bảo vệ người mặc. (ND)
[5] Chơi chữ, gần âm với “fuck-you” - một câu chửi bậy. (ND)
[6] Tôi đã tìm thử trong Hệ thống dữ liệu quản lý thương tích quốc gia (NEISS) để tìm ra số các ca bỏng gây ra mỗi năm bởi quần tất bó. Tuy nhiên, NEISS không phân loại các thương tích gây ra theo từng loại vải. Do đó, tôi tìm theo từ khóa “bỏng nhiệt, quần áo mặc ban ngày” cho đến khi tôi gần hết kiên nhẫn thì đã bắt gặp một ca về người đàn ông 37 tuổi bị bỏng khi cố là chiếc quần đang mặc trên người.
[7] Loại huân chương được trao cho những ai bị thương hoặc thiệt mạng khi phục vụ cho Quân đội Mỹ từ sau ngày 5/4/1917. (ND)
[8] Bao gồm cả da những đứa trẻ có bố mẹ, giống bố mẹ tôi, thu lượm thủy ngân từ những chiếc nhiệt kế vỡ và đổ vào các ống bơ thực vật cho chúng chơi. Thời những năm 1960 quả là khác biệt.
[9] Liệu một tổ chức có gặp nhiều vấn đề do các mối nối bằng nhám dính gây ra đến mức phải xây dựng nên cả một phòng ban? Nếu là Lục quân Mỹ thì có đấy. Lục quân Mỹ quan tâm về nhám dính đến mức họ phải thành lập cả Nhóm Chuyên gia về Nhám dính (một tiểu-tiểu ban của Tiểu ban về Tiện ích trên Quân phục).
[10] Điều lệnh về râu tóc của Bộ Quốc phòng Mỹ rắc rối đến nỗi Lục quân đã phải tạo ra một bảng hình ảnh trực quan để nhận dạng các kiểu râu và kiểu tóc mai mà nam giới không được phép để. Khuôn mặt sẽ được chia vùng thành các ô và đánh dấu bằng chữ cái A, B, C, D. Tuy nhiên không có thông tin hay hướng dẫn nào tương tự dành cho nữ giới và người chuyển giới nên tôi khuyến khích tất cả các quân nhân nhập ngũ hãy bắt đầu nuôi ria dài kiểu râu trê và tóc mai kiểu sườn cừu ngay từ bây giờ.
[11] Găng tay ba ngón, một phụ kiện trong Bộ găng tay dành cho thời tiết cực lạnh, để phân biệt nó với găng tay chống nước dùng khi trời lạnh vừa hay một loại khác, tên nghe chừng có vẻ thời trang, là Găng tay năm ngón của phi công dùng vào mùa hè.
[12] Thường được gọi là “tã chiến” hay “tã chống bom”. Nhưng chắc chắn không phải giáp hạ bộ (codpiece). Có lẽ vì giáp hạ bộ gần như chẳng có chút gì liên quan tới việc bảo vệ hạ bộ - hoặc cũng không liên quan tới thời trang hay bìu (cod). C. S. Reed, viết trong mục “Những trường hợp hi hữu trong lịch sử y khoa” trên Internal Medicine Journal, phỏng đoán người ta mặc giáp hạ bộ cốt để che đi các hạch giang mai (những nốt hạch sưng phồng, tấy đỏ) và “lớp len độn cộm” được sử dụng để thấm “lượng lớn dịch lẫn máu và mủ hôi hám rỉ ra từ bộ phận sinh dục”. Tất cả chỉ là phỏng đoán, vì giáp hạ bộ bằng vải, lớp thấm mủ và lớp len độn đều đã bị loại bỏ trong những thế kỷ sau đó. Chúng tôi đã thấy bộ giáp của vua Henry VIII, có phần giáp hạ bộ giống như mũi chiếc máy bay Cessna, nhưng các nhà sử học hiện nay nói rằng không hề có bằng chứng cho thấy vị vua này bị bệnh giang mai. Điều duy nhất tôi có thể nói chắc đó là, đối với một cửa hàng ăn thì cái tên Bubo [Sưng hạch] (ở Thủ đô Kuwait) nghe kém hấp dẫn hơn Bursa [Bìu] (ở San Francisco).