Với quyển sách này bắt đầu công cuộc tăm tối, thứ mà trong suốt tám năm qua đã bao bọc lấy tôi, dẫu cho tôi chưa bao giờ có thể thấu thấu được lớp sương mù khủng khiếp ấy. Nơi vực thẳm của sự dữ mà tôi bị xô đẩy xuống, tôi cảm thấy những đòn roi giáng vào mình, mà không tài nào nhận ra được bàn tay nào đang điều khiển chúng hay phương tiện nào chúng đang sử dụng. Nỗi nhục nhã và bất hạnh dường như tự nhiên đổ ập lên đầu tôi. Khi trong nỗi đau đớn của tâm hồn, tôi để lọt ra một tiếng thở dài, tôi mang dáng dấp của một kẻ kêu ca không có lý do, và những kẻ gây ra sự lụi tàn của tôi lại có một nghệ thuật kỳ lạ đến khó tin trong việc biến công chúng – dù công chúng chẳng hề hay biết hoặc không nhận ra tác động của nó – thành kẻ đồng lõa trong âm mưu của chúng. Thế nên, trong bản tường thuật của tôi về những hoàn cảnh liên quan đến bản thân, về sự đối xử mà tôi phải chịu đựng, và tất cả những gì đã xảy nam với mình, tôi sẽ không thể chỉ ra bàn tay đã đạo diễn toàn bộ sự việc, cũng như không thể quy kết nguyên nhân, trong khi tôi tường thuật lại hậu quả. Những nguyên nhân nguyên thủy đều đã được trình bày ở các quyển trước; và mọi điều liên quan đến tôi, cùng tất cả những động cơ thầm kín đều đã được chỉ rõ. Nhưng tôi thật không sao giải thích nổi, dẫu chỉ bằng cách phỏng đoán, cách mà các nguyên nhân khác nhau kết hợp lại để tạo ra những sự kiện kỳ lạ trong đời tôi. Nếu trong số các độc giả của tôi, dẫu chỉ có một người tỏ ra rộng lượng muốn xem xét tận cùng điều bí ẩn và khám phá ra sự thật, thì xin hãy cẩn thận đọc lại ba quyển trước một lần nữa; sau đó, trước mỗi sự kiện được trình bày trong các quyển tiếp theo, xin hãy thu thập thông tin trong tầm với, rồi lần theo từ âm mưu này sang âm mưu khác, từ kẻ sai vờ này sang kẻ sai vờ khác, cho đến khi chạm đến kẻ khơi mào đầu tiên cho tất cả. Tôi biết những cuộc khảo sát của người đó sẽ kết thúc ở đâu; nhưng trong lúc này, tôi lại lạc lối giữa con đường hầm tối tăm và quanh co mà những bước chân của kẻ đó buộc phải đi qua.
Trong thời gian lưu lại Yverdon, tôi đã làm quen với toàn bộ gia đình người bạn của tôi là Roguin, và trong số đó có cháu gái của ông, phu nhân Boy de la Tour, cùng các con gái của bà; mà như tôi nghĩ mình đã từng nhắc đến, trước kia tôi từng quen biết người cha của họ ở Lyons. Bà đang ở Yverdon để thăm người chú và chị gái của ông; cô con gái lớn của bà, độ mười lăm tuổi, đã làm tôi say đắm bởi sự thông minh tuyệt vời và tính cách vô cùng tốt đẹp. Tôi dành một tình bạn vô cùng dịu dàng cho cả người mẹ lẫn cô con gái. Cô con gái sau đó được M. Rougin định ước cho người cháu trai là đại tá, một người đã bước vào tuổi xế chiều và từng bày tỏ với tôi sự kính trọng cùng tình cảm sâu sắc; nhưng dẫu cho người chú rất mong mỏi cuộc hôn nhân này, điều mà người cháu trai cũng vô cùng ao ước, và bản thân tôi rất thiết tha muốn làm vừa lòng cả hai, thì sự chênh lệch quá lớn về tuổi tác cùng sự cự tuyệt đến cùng cực của thiếu nữ đã khiến tôi hùa theo người mẹ để hoãn buổi lễ lại, và cuối cùng thì chuyện này cũng đổ vỡ. Vị đại tá sau đó đã kết hôn với tiểu thư Dillan, một người họ hàng của ông, xinh đẹp và khả ái như lòng tôi mong ước, và nàng đã mang lại cho ông niềm hạnh phúc trọn vẹn của một người chồng, người cha. Tuy nhiên, M. Rougin vẫn chưa quên việc tôi phản đối ước nguyện của ông. Niềm an ủi của tôi nằm ở sự chắc chắn rằng mình đã trọn vẹn làm tròn bổn phận của một tình bạn trong sáng nhất đối với ông và gia đình, tình bạn đôi khi không nằm ở việc chiều theo ý người, mà là ở việc đưa ra những lời khuyên đúng đắn nhất.
Tôi không phải hoài nghi lâu về sự đón tiếp đang chờ đón mình ở Geneva, nếu như tôi chọn quay về thành phố đó. Cuốn sách của tôi đã bị thiêu hủy ở đó, và vào ngày 18 tháng Sáu, chín ngày sau khi một lệnh bắt giữ tôi được ban hành ở Paris, một lệnh khác tương tự cũng được nước cộng hòa quyết định thiêu hành. Quá nhiều điều vô lý đến khó tin đã được nêu ra trong sắc lệnh thứ hai này – nơi mà sắc lệnh giáo hội đã bị vi phạm một cách trắng trợn – đến mức tôi từ chối tin vào những lời đồn đầu tiên mình nghe được, và khi những điều đó đã được xác thực, tôi vô cùng run sợ rằng một sự vi phạm hiển nhiên đối với mọi luật lệ, bắt đầu từ lẽ thông thường, sẽ gây ra sự hỗn loạn lớn nhất trong thành phố. Tuy nhiên, tôi đã được giải tỏa khỏi những nỗi sợ hãi; mọi thứ vẫn yên bình. Nếu có bất kỳ lời xì xào nào trong dân chúng, thì nó đều bất lợi cho tôi, và tôi bị đối xử một cách công khai bởi tất cả những kẻ lê đôi mách lẫn mấy tên bác học cù mòn như một học trò bị dọa đánh roi vì chưa thuộc giáo lý.
Hai sắc lệnh này là hiệu lệnh cho tiếng kêu rủa nguyền, được cất lên chống lại tôi với một sự cuồng nộ chưa từng có ở mọi xó xỉnh của châu Âu. Tất cả các tờ báo, tạp chí và ấn phẩm đều gióng lên hồi chuông báo động. Người Pháp đặc biệt – dân tộc hiền hòa, hào hiệp và lịch thiệp ấy, những kẻ luôn tự hào về sự quan tâm và lòng ân cần đúng mực dành cho những kẻ bất hạnh – bỗng chốc quên đi những đức tính ưa thích của mình, đã tự chuốc lấy tiếng tăm qua số lượng và sự bạo tàn của những lăng mạ mà họ trút lên đầu tôi, trong khi ai nấy dường như đều tranh đua xem ai là kẻ đày đọa tôi đau đớn nhất. Tôi là kẻ vô đạo, kẻ vô thần, một kẻ điên, một con thú hoang, một con sói. Kẻ tiếp tục biên soạn tờ Tạp chí Trevoux đã phạm phải một sự ngớ ngẩn khi đả kích chứng Hóa sói giả vờ của tôi, điều mà hoàn toàn không thể làm minh chứng cho sự tỉnh táo của chính hắn. Một người lạ hẳn sẽ tưởng rằng một tác giả ở Paris đang sợ phải rước lấy sự khiển trách của cảnh sát nếu xuất bản bất kỳ tác phẩm nào mà không nhồi nhét vào đó vài lời lăng mạ tôi. Tôi luống cuống tìm kiếm nguyên nhân của mối thù hận đồng lòng này, và suýt chút nữa bị cám dỗ để tin rằng thế giới đã phát điên. Cái gì! Tôi tự nhủ, kẻ biên tập cuốn ‘Nền Hòa bình Vĩnh cửu’ lại gieo rắc bất hòa; tác giả của ‘Lời xưng tội của thầy phó tế xứ Savoy’ lại là kẻ vô đạo; người chấp bút cuốn ‘Nàng Eloisa Mới’ lại là một con sói; tác giả của cuốn ‘Emilius’ lại là một kẻ điên! Lạy Chúa nhân từ! Thế thì tôi sẽ ra sao nếu tôi chuyên tâm xuất bản chuyên luận ‘Về Trí khôn’ hay bất kỳ tác phẩm tương tự nào? Thế mà, trong cơn bão do tác giả của cuốn sách đó khơi mào, công chúng thay vì hùa theo tiếng la hét của những kẻ đàn áp anh ta, lại dùng những lời ca tụng để báo thù thay cho anh ta. Hãy đặt cuốn sách của anh ta và cuốn của tôi lên bàn cân, so sánh sự đón tiếp mà hai tác phẩm nhận được cùng sự đối xử dành cho hai tác giả ở các quốc gia khác nhau tại châu Âu; và để sự khác biệt ấy tìm ra những lý do làm thỏa mãn một người có óc phán đoán, tôi sẽ không đòi hỏi gì thêm.
Tôi thấy việc cư ngụ ở Yverdon dễ chịu đến mức quyết định chiều lòng những lời nài nỉ của M. Roguin cùng gia đình ông, những người rất muốn giữ tôi ở lại đó. M. de Moiry de Gingins, quan chấp phán của thành phố ấy, đã dùng lòng tốt của ông để khích lệ tôi ở lại trong quyền tài phán của ông. Vị đại tá nài nỉ tôi nhận lấy một căn nhà nhỏ biệt lập mà ông có trong dinh thự của mình nằm giữa khoảng sân và khu vườn làm nơi sinh sống, đến mức tôi đã nhượng bộ trước thỉnh cầu của ông, và ông lập tức trang hoàng nó với mọi vật dụng cần thiết cho cơ ngơi nhỏ bé của tôi. Quan viên chức Roguin, một trong những người bày tỏ sự quan tâm chăm sóc tôi ân cần nhất, đã không rời bỏ tôi lấy một khoảnh khắc suốt cả ngày dài. Tôi rất hãnh diện trước sự lịch thiệp của ông, nhưng đôi khi chúng cũng làm tôi phiền toái. Ngày mà tôi chuẩn bị dọn vào cơ ngơi mới của mình đã được ấn định, và tôi đã viết thư cho Theresa đến với tôi, thì bỗng nhiên một cơn bão nổi lên chống lại tôi ở Berne, điều được quy cho những kẻ cuồng tín, nhưng tôi chưa bao giờ có thể tìm ra nguyên nhân của nó. Viện nguyên lão, bị kích động chống lại tôi mà tôi chẳng hay biết bởi ai, tỏ ra không sẵn lòng để tôi ở lại yên bình trong chốn ẩn dật của mình. Ngay khi quan chấp phán được thông báo về sự lên men mới này, ông đã viết thư ủng hộ tôi gửi cho một số thành viên trong chính phủ, quở trách sự cố chấp mù quáng của họ và bảo rằng thật đáng hổ thẹn khi từ chối một người có tài đang bị áp bức cái chốn dung thân mà một băng cướp đông đảo nhường ấy lại tìm thấy trên lãnh thổ của họ. Những người có óc phán đoán cho rằng sự nồng nhiệt trong những lời quở trách của ông đã làm gia tăng chứ không hề làm dịu đi tâm trí của các quan tòa. Dù thế nào đi nữa, sức ảnh hưởng cũng như tài hùng biện của ông cũng không thể ngăn chặn được đòn giáng này. Sau khi nhận được thông báo về mệnh lệnh mà ông buộc phải truyền đạt cho tôi, ông đã cho tôi hay trước; và để tôi có thể chờ đợi nó đến, tôi quyết định lên đường vào ngày hôm sau. Khó khăn nằm ở chỗ phải biết đi đâu, khi thấy mình bị khép cửa ở Geneva và toàn bộ nước Pháp, đồng thời tiên liệu rằng trong vụ việc này, mỗi bang sẽ đều né tránh việc bắt chước nước láng giềng.
Phu nhân Boy de la Tour ngỏ ý mời tôi đến cư ngụ tại một ngôi nhà không có người ở nhưng đã được trang bị đầy đủ tiện nghi, thuộc quyền sở hữu của con trai bà tại làng Motiers, thuộc thung lũng Val de Travers, trong hạt Neuchatel. Tôi chỉ phải băng qua một ngọn núi là đến nơi. Lời đề nghị càng trở nên đúng lúc, bởi vì trên lãnh thổ của Quốc vương Phổ, tôi tự nhiên sẽ được che chở khỏi mọi sự bức hại, ít ra thì tôn giáo cũng không thể dùng làm cái cớ cho việc đó. Nhưng một nỗi khó khăn thầm kín: điều mà tôi không tiện tiết lộ vào lúc ấy, lại chứa đựng thứ vô cùng đủ đầy để khiến tôi phải chần chừ. Tình yêu công lý bẩm sinh, thứ mà trái tim tôi luôn tuân theo, cộng với khuynh hướng thầm kín hướng về nước Pháp, đã truyền cho tôi sự ác cảm đối với Quốc vương Phổ, vị vua qua những châm ngôn và hạnh kiểm của ông, dường như đang giẫm đạp lên mọi sự tôn trọng đối với luật pháp tự nhiên và mọi bổn phận của nhân đạo. Trong số những bức tranh khắc khung mà tôi từng dùng để trang trí góc nhỏ của mình ở Montmorency, có chân dung của vị vương công này, và bên dưới là một câu đối mà dòng cuối cùng như sau:
Il pense en philosophe, et se conduit en roi.
[Hắn suy nghĩ như một triết gia, và hành xử như một vị vua.]
Câu thơ này, nếu xuất phát từ bất kỳ cây bút nào khác thì sẽ là một lời ca tụng tốt đẹp, nhưng từ cây bút của tôi thì nó lại mang một ý nghĩa không chút mơ hồ, và giải thích quá rõ ràng cho câu thơ đi trước nó. Câu đối ấy đã được đọc bởi tất cả những ai đến thăm tôi, và khách đến thăm tôi thì rất đông. Kẻ hầu cận Chevalier de Lorenzy thậm chí còn chép lại nó để đưa cho D’Alembert, và tôi không mảy may nghi ngờ rằng D’Alembert đã cẩn thận dùng nó để nịnh nọt vị vương công. Tôi cũng từng làm trầm trọng thêm lỗi lầm đầu tiên này bằng một đoạn văn trong cuốn ‘Emilius’, nơi mà dưới cái tên Adrastus, vua xứ Daunians, người ta có thể thấy rõ tôi đang nhắm đến ai, và sự nhận xét đó đã không thoát khỏi các nhà phê bình, bởi vì phu nhân de Boufflers đã nhiều lần nhắc đến chủ đề này với tôi. Do đó, tôi chắc chắn rằng tên mình đã được ghi bằng mực đỏ trong sổ sách của Quốc vương Phổ, và hơn nữa, giả sử bệ hạ có những nguyên tắc mà tôi đã cả gan quy cho ngài, thì vì lý do đó, ngài không thể không bất mãn với các trước tác của tôi cùng tác giả của chúng; bởi vì ai nấy đều biết đám người vô dụng của nhân loại, và các bạo chúa chưa bao giờ thất bại trong việc nuôi dưỡng lòng thù hận sâu sắc nhất đối với tôi, chỉ thuần túy từ việc đọc các tác phẩm của tôi mà không hề quen biết con người tôi.
Tuy nhiên, tôi vẫn đủ tự phụ để trông cậy vào lòng khoan dung của ngài, và còn lâu mới nghĩ rằng mình đang gặp rủi ro lớn. Tôi thừa biết chỉ những kẻ yếu đuối mới làm nô lệ cho những đam mê đê hèn, và rằng những thứ đó chẳng có mấy quyền năng đối với những tâm hồn mạnh mẽ, thứ mà tôi vẫn luôn nghĩ ngài sở hữu. Dựa theo nghệ thuật trị vì của ngài, tôi nghĩ ngài ắt hẳn sẽ phải tỏ ra hào hiệp trong dịp này, và việc thực sự cư xử như thế hoàn toàn không vượt quá phẩm chất của ngài. Tôi nghĩ một sự trả thù nhỏ mọn và dễ dãi sẽ không thể nào làm lu mờ dù chỉ một thoáng tình yêu dành cho vinh quang của ngài, và nếu đặt mình vào vị trí của ngài, việc ngài tận dụng hoàn cảnh để nhấn chìm dưới sức nặng của lòng hào hiệp một kẻ đã dám nghĩ xấu về mình, đối với tôi không phải là điều bất khả thi. Thế nên tôi đã đến định cư ở Motiers, với một niềm tin cậy mà tôi tưởng tượng ngài sẽ cảm nhận được toàn bộ giá trị của nó, và tự nhủ: Khi Jean Jacques vươn lên tầm cao của Coriolanus, liệu Frederick có hạ mình xuống thấp hơn Tướng quân xứ Volsci?
Đại tá Roguin nài nỉ được cùng tôi băng qua ngọn núi và an trí cho tôi tại Motiers. Một người chị dâu của phu nhân Boy de la Tour, tên là phu nhân Girardier – người mà căn nhà tôi chuẩn bị dọn đến vốn rất tiện lợi cho bà – đã không hề vui vẻ gì khi thấy tôi đặt chân đến đó; tuy nhiên, bà vẫn vui vẻ để tôi nhận chỗ ở của mình, và tôi ăn chung với bà cho đến khi Theresa đến và cơ ngơi nhỏ của tôi được hình thành.
Nhận thấy rằng khi rời khỏi Montmorency, tôi từ nay sẽ là một kẻ lang thang trên mặt đất, tôi đã chần chừ trong việc cho phép nàng đến với mình và chia sẻ cuộc đời lưu lạc mà tôi thấy mình bị kết án. Tôi cảm thấy bản chất mối quan hệ giữa chúng tôi sắp sửa thay đổi, và điều cho đến lúc ấy vẫn là sự ân huệ và tình bạn từ phía tôi, từ nay sẽ trở thành ơn nghĩa từ phía nàng. Nếu sự gắn bó của nàng vượt qua được những bất hạnh của tôi, tôi thừa biết nàng sẽ phải trở thành nạn nhân của điều đó, và nỗi buồn của nàng sẽ chồng chất thêm nỗi đau cho tôi. Giả như sự thất sủng của tôi làm suy yếu tình cảm của nàng, nàng sẽ khiến tôi coi sự kiên định của mình như một sự hy sinh, và thay vì cảm nhận niềm vui khi được sẻ chia với nàng mẩu bánh mì cuối cùng, nàng sẽ chẳng thấy gì ngoài công trạng của chính mình khi đi theo tôi đến bất cứ nơi nào tôi bị dòng đời xô đẩy.
Tôi phải nói hết mọi điều; tôi chưa bao giờ che giấu những thói hư tật xấu của người mẹ tội nghiệp của tôi hay của chính mình; tôi không thể đối xử nhân nhượng hơn với Theresa, và dù có bao nhiêu niềm vui khi đem lại vinh dự cho một người thân thiết với mình, tôi cũng sẽ không che đậy sự thật, dẫu cho nó có thể phơi bày ở nàng một lỗi lầm, nếu như sự thay đổi không tự nguyện trong tình cảm của trái tim là một lỗi lầm. Từ lâu tôi đã nhận thấy tình cảm của nàng dành cho mình nhạt phai đi, và nàng không còn là nàng đối với tôi như trong những năm tháng tuổi trẻ. Tôi càng thấm thía điều này hơn, bởi vì đối với nàng, tôi vẫn luôn là chính mình như trước. Tôi rơi vào cùng một thứ phiền toái mà tôi từng cảm nhận hậu quả với người mẹ, và hệ quả ấy giờ đây lại lặp lại khi tôi ở bên Theresa. Chúng ta đừng đi tìm sự hoàn hảo vốn chưa bao giờ được thiên nhiên sản sinh; mọi chuyện cũng sẽ y như vậy với bất kỳ người phụ nữ nào khác. Cách mà tôi định đoạt các con mình, dẫu cho nó có vẻ hợp lý đối với tôi đến đâu đi chăng nữa, cũng chưa bao giờ để cho trái tim tôi được yên ổn. Trong lúc viết chuyên luận ‘Về Giáo dục’, tôi cảm thấy mình đã lơ là những bổn phận mà bản thân không thể chối bỏ. Sự cắn rứt cuối cùng đã trở nên mãnh liệt đến mức nó suýt ép tôi phải thú nhận công khai lỗi lầm của mình ngay phần đầu cuốn ‘Emilius’, và đoạn văn ấy rành mạch đến mức thật đáng kinh ngạc khi bất kỳ ai, sau khi đọc nó, lại vẫn còn đủ can đảm để quở trách tôi về lỗi lầm của mình. Tuy nhiên, hoàn cảnh của tôi vẫn y như cũ, hoặc tồi tệ hơn đôi chút bởi sự thù hận của những kẻ thù luôn tìm kiếm sơ hở ở tôi. Tôi sợ sự tái phát, và không muốn liều lĩnh, tôi thà nhịn nhục còn hơn đẩy Theresa vào một sự bẽ bàng tương tự. Hơn nữa, tôi từng nhận thấy việc quan hệ với phụ nữ gây tổn hại đến sức khỏe của mình; lý do kép này khiến tôi đưa ra những quyết định mà bản thân chỉ thỉnh thoảng tuân thủ tệ hại, nhưng suốt ba hay bốn năm qua, tôi đã kiên định tuân theo chúng hơn. Chính trong khoảng thời gian này, tôi đã nhận ra sự lạnh nhạt của Theresa; nàng vẫn dành cho tôi sự gắn bó vì bổn phận, chứ không phải vì tình yêu dù chỉ chút ít. Sự giao du của chúng tôi tự nhiên trở nên kém phần thú vị đi, và tôi tưởng tượng rằng, với sự chắc chắn về việc những sự chăm sóc dành cho tôi sẽ được duy trì bất luận nàng ở đâu, nàng hẳn sẽ chọn ở lại Paris hơn là lang thang cùng tôi. Thế nhưng nàng đã bày tỏ những dấu hiệu đau buồn quá đỗi khi chúng tôi chia tay, đã đòi hỏi ở tôi những lời hứa hẹn chắc nịch rằng chúng tôi sẽ hội ngộ, và kể từ lúc tôi ra đi, đã bày tỏ với Hoàng tử de Conti cùng M. de Luxembourg một mong muốn mãnh liệt đến thế, khiến cho tôi, thay vì có đủ can đảm để nói với nàng về việc chia tay, thì ngặt nỗi lại chẳng có nổi chút dũng khí để nghĩ đến điều đó; và sau khi cảm nhận thấu tim đen rằng mình chẳng thể nào sống thiếu nàng, tất cả những gì tôi nghĩ đến sau đó là gọi nàng trở lại với mình càng sớm càng tốt. Tôi đã viết thư cho nàng về điều này, và nàng đã đến. Mới chỉ chưa đầy hai tháng kể từ khi tôi rời xa nàng; nhưng đó là lần chia tay đầu tiên của chúng tôi sau cuộc tình gắn bó ròng rã bao năm. Cả hai chúng tôi đã cảm nhận điều đó một cách cay đắng làm sao. Thật lắm xúc cảm trong cái ôm đầu tiên của chúng tôi! Ồ, những giọt nước mắt của sự dịu dàng và niềm vui mới ngọt ngào làm sao! Trái tim tôi uống cạn chúng biết bao! Cớ sao tôi không có lý do để tuôn rơi chúng thường xuyên hơn chứ?
Khi vừa đến Motiers, tôi đã viết thư cho Lãnh chúa Keith, nguyên soái Scotland kiêm thống đốc Neuchatel, thông báo cho ông về việc tôi lui về lãnh thổ của bệ hạ Phổ và cầu xin sự bảo hộ của ông. Ông đã đáp lại tôi bằng lòng quảng đại vốn nổi danh của mình và theo cách mà tôi từng kỳ vọng từ ông. Ông mời tôi đến dinh thự của mình. Tôi đi cùng M. Martinet, lãnh chúa vùng Val de Travers, người rất được lòng ngài đại sứ. Vẻ ngoài đáng kính của vị quý tộc Scotland lẫy lừng và đức hạnh này đã tác động mạnh mẽ đến trái tim tôi, và ngay từ khoảnh khắc ấy, giữa ông và tôi đã bắt đầu mối gắn kết bền chặt, thứ mà về phần tôi vẫn nguyên vẹn như xưa, và hẳn cũng sẽ như vậy về phần ông, nếu như những kẻ phản bội – những kẻ đã tước đoạt của tôi mọi niềm an ủi trong đời – không lợi dụng sự vắng mặt của tôi để đánh lừa tuổi già của ông và hạ thấp tôi trong sự kính trọng của ông.
George Keith, thế tập nguyên soái Scotland, và là anh trai của vị tướng quân lừng danh Keith – người từng sống trong vinh quang và ngã xuống trên chiếc giường danh dự – đã rời bỏ quê hương từ khi còn rất trẻ, và bị trục xuất vì lòng trung thành với gia đình Stuart. Tuy nhiên, với gia đình đó, ông sớm cảm thấy ghê tởm trước tinh thần bất công và chuyên quyền mà ông nhận thấy ở tính cách thống trị của dòng họ Stuart. Ông đã sống một thời gian dài ở Tây Ban Nha, nơi có khí hậu làm ông vô cùng dễ chịu, và cuối cùng gắn bó, cũng như người anh trai của mình, với sự phục vụ của Quốc vương Phổ – vị vua biết nhìn nhận con người và trao cho họ sự đón tiếp xứng đáng. Bệ hạ đã nhận lại một sự đền đáp xứng đáng cho sự tiếp đón này qua những dịch vụ mà Nguyên soái Keith cống hiến, và qua thứ vô cùng quý giá hơn thế: tình bạn chân thành của lãnh chúa. Tâm hồn vĩ đại của con người đáng kính này, cao ngạo và mang tinh thần cộng hòa, không thể cúi đầu trước bất kỳ ách thống trị nào khác ngoài tình bạn, nhưng trước tình bạn thì ông lại tuân phục đến mức, dù mang những châm ngôn hoàn toàn khác biệt, ông chẳng nhìn thấy ai ngoài Frederick ngay khi ông đã gắn bó với ngài. Nhà vua giao phó cho vị nguyên soái những trọng trách quan trọng, phái ông đi Paris, Tây Ban Nha, và cuối cùng, thấy ông đã luống tuổi, ngài cho ông lui về với chức thống đốc Neuchatel cùng công việc đầy thú vị là trải qua phần đời còn lại ở đó để mang lại hạnh phúc cho cư dân.
Dân chúng xứ Neuchatel, với những phong tục nông cạn, không biết cách phân biệt đâu là tài năng đích thực, và cứ đinh ninh sự thông thái nằm ở những lời bàn dài dòng. Khi họ nhìn thấy một con người điềm đạm với phong thái giản dị xuất hiện giữa họ, họ liền lầm lẫn sự giản dị ấy với vẻ kiêu kỳ, sự bộc trực với tính thô lỗ, sự kiệm lời với sự đần độn, và từ chối những sự quan tâm đầy thiện chí của ông, bởi vì với mong muốn làm điều ích lợi mà lại không phải là kẻ nịnh hót, ông không biết cách nịnh bợ những kẻ mà ông không kính trọng. Trong vụ việc nực cười của mục sư Petitpierre – kẻ bị các đồng nghiệp cách chức vì không muốn họ phải chịu đày đọa đời đời kiếp kiếp – lãnh chúa của tôi, khi phản đối sự tiếm quyền của đám mục sư, đã thấy toàn bộ xứ sở mà ông đứng ra bảo vệ nổi dậy chống lại ông, và khi tôi đến đó, tiếng xì xào ngu ngốc vẫn chưa hoàn toàn lắng xuống. Ông bị xem là một kẻ chịu ảnh hưởng bởi những định kiến mà người khác truyền vào đầu, và trong số mọi lời buộc tội nhắm vào ông, đó là điều xa rời sự thật nhất. Cảm xúc đầu tiên của tôi khi nhìn thấy vị lão ông đáng kính này là niềm thương cảm xót xa, bởi vì thân hình ông quá đỗi gầy gò, tuổi tác đã chẳng để lại cho ông gì ngoài da bọc xương; nhưng khi tôi ngước mắt nhìn lên gương mặt đầy sinh khí, cởi mở và cao quý của ông, tôi cảm thấy một sự kính trọng hòa lẫn với niềm tin cậy, làm lu mờ mọi cảm xúc khác. Ông đáp lại lời chào ngắn ngủi của tôi khi tôi vừa bước vào diện kiến bằng cách nói sang chuyện khác, cứ như thể tôi đã ở trong dinh thự của ông cả tuần nay rồi. Ông không bảo chúng tôi ngồi. Viên quan tư pháp đần độn, vị lãnh chúa của thái ấp, vẫn đứng nghiêm. Về phần tôi, ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã nhìn thấy trong ánh mắt sắc sảo và tinh tường của lãnh chúa một điều gì đó thật dễ mến, đến mức cảm thấy hoàn toàn thoải mái, tôi không khách sáo mà tự nhiên ngồi xuống chiếc ghế sofa ngay bên cạnh ông. Qua sự thân mật trong phong thái của ông, tôi lập tức nhận ra sự tự tiện của tôi đã làm ông hài lòng, và rằng ông đang tự nhủ: Đây không phải là một kẻ xứ Neuchatel.
Hiệu ứng kỳ lạ của sự tương đồng về tính cách! Ở một độ tuổi mà trái tim đánh mất sự ấm áp tự nhiên, trái tim của vị lão ông tốt bụng này lại ấm lên nhờ sự gắn bó với tôi đến mức khiến mọi người phải ngạc nhiên. Ông đến thăm tôi ở Motiers với cái cớ đi săn chim cút, và ở lại đó hai ngày trời mà chẳng hề đụng đến một khẩu súng. Chúng tôi quyến luyến nhau đến mức chẳng biết phải sống thiếu nhau thế nào; lâu đài Colombier, nơi ông trải qua mùa hè, cách Motiers sáu dặm; tôi đến đó ít nhất mỗi tháng hai lần và ở lại suốt hai mươi tư tiếng đồng hồ, rồi trở về như một kẻ hành hương với trái tim ngập tràn tình cảm dành cho chủ nhà. Những xúc cảm mà tôi từng trải qua trong những chuyến đi từ Hermitage đến Eaubonne chắc chắn rất khác biệt, nhưng nó không hề dễ chịu hơn cảm giác khi tôi đến gần Colombier.
Biết bao giọt nước mắt dịu dàng tôi đã tuôn rơi khi trên đường tới đó, khi nghĩ về lòng tốt tựa cha con, những đức tính đáng mến và triết lý quyến rũ của vị lão ông đáng kính này! Tôi gọi ông là cha, và ông gọi tôi là con. Những danh xưng ân cần ấy phần nào gợi lên hình ảnh về sự gắn kết đã hợp nhất chúng tôi, nhưng hoàn toàn không thể lột tả được nỗi khát khao nhau mà chúng tôi cảm thấy, hay mong muốn được ở bên nhau không dứt. Ông một mực muốn dành cho tôi một căn phòng trong lâu đài Colombier, và suốt một thời gian dài nài nỉ tôi dọn đến ở hẳn trong căn phòng mà tôi từng trọ trong những chuyến viếng thăm. Cuối cùng tôi nói với ông rằng tôi được tự do và thoải mái hơn khi ở trong ngôi nhà của chính mình, và tôi thà tiếp tục đến thăm ông cho đến cuối đời còn hơn. Ông chấp thuận sự bộc trực của tôi và từ đó không bao giờ nhắc lại chuyện ấy nữa. Ồ, lãnh chúa kính yêu của tôi! Ồ, người cha đáng kính của tôi! Trái tim tôi vẫn rung động biết bao khi nghĩ về lòng tốt của người? Ah, những kẻ bạo tàn man rợ! Chúng đã làm tổn thương tôi sâu sắc nhường nào khi tước đoạt đi tình bạn của người? Nhưng không, hỡi con người vĩ đại, người vẫn là và sẽ mãi mãi như thế đối với tôi – kẻ vẫn trước sau như một. Người đã bị lừa dối, nhưng người không hề thay đổi. Lãnh chúa nguyên soái không phải không có khuyết điểm; ông là một bậc hiền triết, nhưng ông vẫn là một con người. Với sự thấu thị tuyệt vời, óc phân biệt tinh tế nhất và sự hiểu biết sâu sắc nhất về con người, đôi khi ông vẫn để mình bị lừa dối và chẳng bao giờ sửa chữa sai lầm ấy. Tính khí của ông rất kỳ lạ và đi ngược lại với xu hướng chung trong tâm trí ông. Ông dường như quên béng những người mình gặp mặt mỗi khi, và nghĩ về họ vào khoảnh khắc mà họ ít ngờ tới nhất; sự quan tâm của ông dường như không đúng lúc; những món quà của ông được sai khiến bởi sự thất thường chứ không phải sự phải phép. Ông trao tặng hoặc phái đi trong chớp mắt bất cứ thứ gì xuất hiện trong đầu, dẫu giá trị của nó có nhỏ nhặt đến đâu. Một thanh niên xứ Geneva, khao khát gia nhập quân ngũ của Phổ, đã đến nộp đơn trực tiếp cho ông; vị lãnh chúa, thay vì trao cho anh ta một bức thư, lại đưa cho anh ta một túi đậu nhỏ và bảo anh ta mang nó đến dâng nhà vua. Khi nhận được lời giới thiệu kỳ quặc này, bệ hạ đã ban hàm sĩ quan cho kẻ mang nó đến. Những thiên tài cao cả ấy sở hữu giữa họ một thứ ngôn ngữ mà kẻ phàm phu chẳng bao giờ hiểu nổi. Sự thất thường trong phong thái của lãnh chúa nguyên soái – đôi chút giống như sự đổng đảnh của một người phụ nữ đẹp – lại càng khiến ông trở nên thú vị hơn trong mắt tôi. Tôi chắc chắn, và sau đó đã có những bằng chứng, rằng nó không hề mảy may ảnh hưởng đến tình cảm của ông, cũng chẳng tác động đến sự quan tâm mà tình bạn đòi hỏi trong những dịp trọng đại; thế nhưng trong cách ông ban ơn lại có sự kỳ quặc y như trong phong thái chung của ông. Tôi xin kể ra đây một ví dụ về một vấn đề không lấy gì làm quan trọng. Chuyến đi từ Motiers đến Colombier quá dài để tôi có thể hoàn thành trong một ngày, thế nên tôi thường chia nhỏ nó ra bằng cách khởi hành sau bữa trưa và ngủ lại Brot – trạm dừng chân ở nửa quãng đường. Chủ quán trọ nơi tôi dừng chân, tên là Sandoz, có việc phải thỉnh cầu ở Berlin một ân huệ quan trọng cho bản thân, bèn nài nỉ tôi nhờ ngài đại sứ xin giúp cho ông ta. “Rất sẵn lòng,” tôi nói và dẫn ông ta theo cùng. Tôi để ông ta ở phòng đợi và nhắc đến chuyện đó với lãnh chúa, nhưng ngài chẳng đáp lại câu nào. Sau khi cùng ông trải qua cả buổi sáng, khi băng qua sảnh để đi ăn trưa, tôi nhìn thấy tội nghiệp Sandoz đang mệt lử vì phải chờ đợi. Nghĩ rằng quan thống đốc đã quên bẵng những gì tôi nói với mình, tôi lại nhắc lại việc đó trước khi chúng tôi ngồi vào bàn ăn, nhưng vẫn chẳng nhận được câu trả lời. Tôi nghĩ cách làm cho tôi cảm thấy mình đang phiền toái này hơi có phần cay nghiệt, và thương hại cho gã đàn ông tội nghiệp đang đợi chờ, tôi bèn ngậm tăm. Lúc tôi quay về vào ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên trước lời cảm ơn mà ông ta dành cho tôi vì bữa trưa ngon lành mà bệ hạ đã đãi sau khi tiếp nhận văn bản của ông ta. Ba tuần sau, lãnh chúa gửi cho ông ta bản sắc lệnh mà ông ta khẩn cầu, đã được bộ trưởng xúc tiến và nhà vua ký duyệt, và điều này diễn ra mà chẳng có một lời nào được thốt ra với tôi hay Sandoz về công việc ấy, thứ mà tôi từng tưởng rằng ngài chẳng buồn bận tâm mảy may.
Tôi ước gì mình có thể không ngừng nhắc về George Keith; từ ông phát xuất những ký ức về những khoảnh khắc hạnh phúc cuối cùng mà tôi từng tận hưởng: phần đời còn lại của tôi, kể từ lúc chúng tôi chia tay, đều chìm đắm trong nỗi buồn phiền và đau đớn tâm can. Ký ức về điều đó quá u sầu và rối rắm đến mức tôi không tài nào duy trì nổi dẫu chỉ một chút trật tự trong những gì mình viết ra, thế nên từ nay tôi buộc phải tường thuật các sự kiện mà không thể sắp xếp chúng theo một trật tự thông thường.
Tôi sớm được giải tỏa khỏi sự bất an phát sinh từ sự bấp bênh nơi chốn dung thân của mình, nhờ bức thư hồi đáp từ bệ hạ gửi cho lãnh chúa nguyên soái – người mà như có thể dễ dàng đoán biết, đã trở thành một vị biện hộ đắc lực cho tôi. Nhà vua không những chấp thuận những gì ông đã làm, mà còn muốn ông – vì tôi phải kể lại toàn bộ sự thật – trao cho tôi mười hai đồng louis. Vị lão ông nhân hậu, có phần bối rối trước sứ mệnh này và chẳng biết làm thế nào để thực hiện nó cho phải phép, đã cố gắng làm dịu đi sự sỉ nhục bằng cách biến tiền bạc thành lương thực, và viết thư cho tôi rằng ông đã nhận được lệnh cung cấp cho tôi củi và than để bắt đầu cơ ngơi nhỏ bé của mình; hơn nữa ông còn thêm vào – và có lẽ là ý riêng của ông – rằng bệ hạ sẽ sẵn lòng xây cho tôi một ngôi nhà nhỏ, tùy theo kiểu dáng tôi muốn, miễn là tôi chọn được mảnh đất. Tôi vô cùng cảm động trước lòng tốt của lời đề nghị sau, thứ đã khiến tôi quên đi sự yếu kém của điều trước. Dù không nhận cả hai, tôi vẫn xem Frederick là ân nhân và người bảo hộ của mình, và trở nên gắn bó chân thành với ngài đến mức kể từ khoảnh khắc ấy, tôi quan tâm đến vinh quang của ngài hệt như cách mà trước đó tôi từng nghĩ những chiến thắng của ngài là bất công. Khi hiệp ước hòa bình được ký kết không lâu sau đó, tôi đã bày tỏ niềm vui của mình bằng một màn trang trí đèn hoa vô cùng có thẩm mỹ: đó là một dải vòng hoa mà tôi dùng để trang hoàng ngôi nhà mình đang ở, và quả thật, tại đó tôi đã mang cái sự kiêu hãnh đầy báo thù để chi tiêu số tiền gần bằng mức mà ngài muốn cho tôi. Hiệp ước hòa bình được phê chuẩn, tôi nghĩ khi ngài đang ở đỉnh cao vinh quang quân sự và chính trị, ngài hẳn sẽ nghĩ đến việc giành lấy vinh quang mang một bản chất khác, bằng cách làm hồi sinh các lãnh điều của mình, khuyến khích thương nghiệp và nông nghiệp trong đó, tạo nên một vùng đất mới, phủ lên đó một dân cư mới, duy trì hòa bình giữa những láng giềng, và trở thành vị trọng tài thay vì nỗi kinh hoàng của châu Âu. Ngài đang ở vào vị thế có thể tra gươm vào vỏ mà chẳng sợ nguy hiểm, chắc chắn rằng không một vị quân vương nào có thể ép ngài rút nó ra lần nữa. Nhận thấy ngài không chịu giải giáp, tôi e rằng ngài sẽ thu về chẳng mấy lợi ích từ những thành quả đã đạt được, và rằng ngài sẽ chỉ vĩ đại một nửa. Tôi đã cả gan viết thư cho ngài về vấn đề này, với một sự thân mật mang bản chất làm hài lòng những người có tính cách như ngài, truyền tải đến ngài tiếng nói thiêng liêng của sự thật mà rất ít vị vua xứng đáng được lắng nghe. Sự tự do mà tôi cả gan thực hiện là một bí mật giữa ngài và tôi. Tôi thậm chí không hé lộ nó với lãnh chúa nguyên soái – người mà tôi đã gửi bức thư niêm phong kín đáo gửi cho nhà vua. Lãnh chúa đã chuyển tiếp công văn của tôi mà không hề gặng hỏi bên trong có gì. Bệ hạ đã không hồi âm cho tôi, và chẳng bao lâu sau khi nguyên soái đến Berlin, nhà vua đã nói với ông rằng ngài vừa nhận được một bài sạc mắng từ tôi. Qua điều này, tôi hiểu rằng bức thư của tôi đã không được đón nhận tốt đẹp, và sự bộc trực trong lòng nhiệt thành của tôi đã bị hiểu lầm thành sự thô lỗ của một gã nhà giáo hách dịch. Quả thật, điều này hoàn toàn có thể xảy ra; có lẽ tôi đã không nói những điều cần thiết, cũng chẳng dùng cách thức phù hợp với dịp đó. Tất cả những gì tôi có thể đảm bảo là thứ cảm xúc đã xui khiến tôi cầm bút.
Chẳng bao lâu sau khi tôi định cư ở Motiers, Travers đã có được mọi sự đảm bảo chắc chắn rằng tôi sẽ được dung thứ để ở lại đó trong yên bình, tôi bộc phát thói quen mặc trang phục Armenia. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghĩ đến việc làm điều đó. Trước đây tôi từng có ý định tương tự, đặc biệt là ở Montmorency, nơi việc thường xuyên phải dùng ống thông tiểu buộc tôi phải quanh quẩn trong phòng, khiến tôi nhận thức rõ hơn những lợi ích của một chiếc áo choàng dài. Sự tiện lợi từ một người thợ may người Armenia – kẻ thường xuyên đến thăm một người họ hàng ở Montmorency – đã suýt cám dỗ tôi quyết định mặc bộ trang phục mới này, khi tôi chẳng màng mấy đến việc thế gian sẽ bàn tán ra sao về nó. Tuy nhiên, trước khi đi đến quyết định cuối cùng về vấn đề này, tôi muốn tham khảo ý kiến của M. de Luxembourg, và ông lập tức khuyên tôi nên làm theo ý thích của mình. Thế nên tôi đã sắm sửa một tủ quần áo kiểu Armenia nhỏ bé, nhưng vì cơn bão nổi lên chống lại mình, tôi đã bị xui khiến phải hoãn việc mặc nó cho đến khi tôi tận hưởng được sự bình yên; và mãi cho đến vài tháng sau, bị dồn ép bởi những đợt bùng phát mới của căn bệnh, tôi mới nghĩ rằng mình có thể đường hoàng và chẳng chịu chút rủi ro nào khi khoác lên mình bộ trang phục mới ở Motiers, nhất là sau khi đã tham khảo ý kiến vị mục sư ở đây, người bảo rằng tôi có thể mặc nó ngay cả trong đền thờ mà chẳng hề bất nhã. Tôi liền áp dụng mặc chiếc áo ghi-lê, áo choàng caftan, mũ lông thú và dây nịt; và sau khi mặc bộ trang phục ấy tham dự buổi lễ tôn giáo, tôi thấy chẳng có gì là bất ổn khi diện nó đến thăm lãnh chúa. Vị đại sứ khi nhìn thấy tôi ăn vận thế này đã chẳng đưa ra lời ca tụng nào khác ngoài câu nói: “Salaam aleki,” nghĩa là “Bình an ở cùng ngươi;” lời chào theo lối Thổ Nhĩ Kỳ thông thường; sau đó không có thêm bàn tán gì nữa về vấn đề này, và tôi tiếp tục mặc trang phục mới của mình.
Đã hoàn toàn từ bỏ văn chương, tất cả những gì tôi suy nghĩ lúc bấy giờ là dẫn dắt một cuộc sống yên ả, và dễ chịu nhất có thể trong khả năng của mình. Khi ở một mình, tôi chưa bao giờ cảm thấy sự mệt mỏi trong tâm trí, ngay cả trong sự bất động hoàn toàn; trí tưởng tượng lấp đầy mọi khoảng trống, đủ sức duy trì sự tập trung của tôi. Sự ba hoa vô tích sự trong một vòng tròn quây quần, nơi đối mặt với nhau, những kẻ cất lời chẳng động đậy gì ngoài cái lưỡi, là điều duy nhất mà tôi chưa bao giờ có thể chịu đựng nổi. Khi đi bộ và lang thang đây đó, việc trò chuyện mang lại chút thỏa mãn; đôi chân và đôi mắt đang làm việc gì đó; nhưng việc lắng nghe đám người khoanh tay nói về thời tiết, về vết cắn của ruồi, hoặc tồi tệ hơn nữa là nịnh hót lẫn nhau, đối với tôi là một sự tra tấn không thể chịu nổi. Để không phải sống như một kẻ dã nhân, tôi bỗng nảy ra ý định học làm ren. Hệt như phụ nữ, tôi mang theo chiếc gối đệm của mình khi đi thăm viếng, hoặc ngồi xuống làm việc ngay trước ngưỡng cửa, và trò chuyện với những người qua đường. Điều này giúp tôi chịu đựng tốt hơn sự trống rỗng của đám ba hoa, đồng thời cho phép tôi trải qua thời gian bên những người hàng xóm nữ mà không thấy chán chường. Một vài người trong số họ rất khả ái và không hề thiếu sự tinh tế. Đặc biệt là Isabella d’Ivernois – con gái của vị biện lý xứ Neuchatel – tôi thấy nàng vô cùng đáng quý đến mức đi đến quyết định kết giao với nàng trong một mối tình bạn đặc biệt, từ đó nàng gặt hái được một số lợi ích qua những lời khuyên hữu ích của tôi cùng những dịch vụ mà nàng nhận được từ tôi vào những dịp trọng đại, để rồi giờ đây, khi đã là một người mẹ hiền thảo của gia đình, nàng có lẽ phải mang ơn tôi về lý trí, người chồng, cuộc đời và hạnh phúc của mình. Về phần tôi, tôi nhận được từ nàng sự an ủi dịu dàng, nhất là trong một mùa đông ảm đạm, suốt quãng thời gian mà những nỗi đau đớn của tôi cùng cực nhất, nàng đã đến trải qua cùng Theresa và tôi những buổi tối dài dằng dặc, thứ mà nàng đã rút ngắn lại cho chúng tôi bằng cuộc trò chuyện dễ chịu cùng sự cởi mở từ đáy lòng đôi bên. Nàng gọi tôi là papa, và tôi gọi nàng là con gái, và những danh xưng ấy – thứ mà chúng tôi vẫn gọi nhau – tôi hy vọng sẽ tiếp tục trở nên thân thiết với nàng hệt như với tôi. Để những chiếc ren của mình mang lại chút ít công dụng, tôi trao chúng cho các thiếu nữ quen biết khi họ kết hôn, với điều kiện họ phải tự cho con bú; người chị cả của Isabella đã nhận được một chiếc theo những điều kiện ấy, và hoàn toàn xứng đáng với nó nhờ việc tuân thủ chúng; chính Isabella cũng nhận được một chiếc khác, và xét theo ý định, nàng hoàn toàn xứng đáng không kém. Nàng đã không đủ hạnh phúc để có thể theo đuổi ý nguyện của mình. Khi tôi gửi những chiếc ren cho hai chị em, tôi đều viết cho mỗi người một bức thư; bức đầu tiên đã được chuyền tay nhau khắp thế gian; bức thứ hai không mang tiếng tăm lừng lẫy nhường ấy: tình bạn tiến bước với ít tiếng động hơn.
Trong số những mối quan hệ mà tôi thiết lập ở vùng lân cận, thứ mà tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết, tôi phải kể đến mối quan hệ với Đại tá Pury – người sở hữu một ngôi nhà trên núi, nơi ông đến để trải qua mùa hè. Tôi không tha thiết làm quen với ông, bởi vì tôi biết ông đang có hiềm khích với triều đình và với lãnh chúa nguyên soái – người mà ông không hề đến thăm. Thế nhưng, vì ông đến thăm tôi và tỏ ra rất quan tâm tôi, tôi buộc phải đáp lễ chuyến thăm của ông; điều này lặp lại, và đôi khi chúng tôi dùng bữa cùng nhau. Tại nhà ông, tôi đã làm quen với M. du Perou, và sau đó trở nên thân thiết đến mức không thể bỏ qua tên tuổi của ông mà không nhắc đến.
M. du Perou là một người Mỹ, con trai của một viên quan tư lệnh ở Surinam, người có người kế nhiệm là M. le Chambrier xứ Neuchatel đã kết hôn với góa phụ của ông ta. Trở thành góa phụ lần thứ hai, bà cùng con trai đến sinh sống tại xứ sở của người chồng thứ hai.
Du Perou, là con một, rất giàu có và được mẹ yêu thương hết mực, đã được giáo dục chu đáo và sự học hành đó không hề hoài phí. Ông đã tiếp thu nhiều tri thức, có khiếu nghệ thuật, và tự hào về việc đã tu dưỡng năng lực lý trí của mình; vẻ ngoài mang phong thái Hà Lan, làn da ngăm vàng cùng tính cách kín đáo, ít nói đã củng cố cho nhận định này. Dù còn trẻ, ông đã bị điếc và mắc chứng gút. Điều này khiến các cử động của ông trở nên điềm tĩnh và vô cùng trang nghiêm, và dẫu thích tranh luận, nhìn chung ông rất ít nói bởi thính giác kém. Tôi đã bị ấn tượng bởi bề ngoài của ông và tự nhủ: Đây là một nhà tư tưởng, một con người khôn ngoan, một người mà bất kỳ ai cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc nếu được kết bạn. Ông thường chủ động trò chuyện với tôi mà chẳng hề thốt ra dù chỉ một lời nịnh nọt, và điều này càng củng cố thêm quan điểm tốt đẹp mà tôi đã hình thành về ông từ trước. Ông nói rất ít về tôi hay các trước tác của tôi, và còn nói ít hơn về chính bản thân mình; ông không thiếu những ý tưởng, và những gì ông nói đều rất đúng đắn. Sự đúng đắn và bình thản ấy đã thu hút sự chú ý của tôi. Ông không có sự cao ngạo hay óc phân biệt của lãnh chúa nguyên soái, nhưng ông sở hữu toàn bộ sự giản dị của vị ấy: điều này vẫn gợi nhớ đến vị ấy ở một phương diện nào đó. Tôi không hề mê muội ông, nhưng ông đã chiếm được sự gắn bó của tôi từ lòng kính trọng; và dần dần, lòng kính trọng ấy dẫn dắt đến tình bạn, khiến tôi hoàn toàn quên đi sự phản đối mà tôi từng dành cho Nam tước Holbach: rằng ông ta quá giàu có.
Suốt một thời gian dài, tôi gặp Du Perou rất ít, bởi vì tôi không đến Neuchatel, và ông thì chỉ đến ngọn núi của Đại tá Pury mỗi năm một lần. Tại sao tôi lại không đến Neuchatel? Điều này bắt nguồn từ một sự trẻ con mà tôi không thể không nhắc đến.
Dù được bảo hộ bởi Quốc vương Phổ và lãnh chúa nguyên soái, trong khi tôi tránh được sự bức hại nơi chốn dung thân, tôi lại không tránh được những lời xì xào của công chúng, của các quan tòa thành phố và đám mục sư. Sau những gì đã xảy ra ở nước Pháp, việc lăng mạ tôi bỗng trở thành mốt thời thượng; những kẻ này hẳn sẽ sợ việc tỏ ra không đồng tình với những gì kẻ bức hại tôi đã làm nếu họ không bắt chước theo. Tầng lớp ‘classe’ xứ Neuchatel – nghĩa là các mục sư của thành phố đó – đã khơi mào cho xu hướng này, bằng cách tìm cách lay chuyển hội đồng nhà nước chống lại tôi. Nỗ lực này không thành công, các mục sư liền hướng tới quan tòa thành phố – kẻ lập tức cấm đoán cuốn sách của tôi, đối xử với tôi trong mọi dịp với sự kém lịch thiệp và bảo rằng nếu tôi muốn cư ngụ trong thành phố thì tôi đã chẳng đời nào được dung thứ. Họ làm ngập tờ Mercury của mình bằng những sự ngớ ngẩn và thứ đạo đức giả ngu xuẩn nhất, thứ mà dẫu làm cho mọi người có óc phán đoán phải bật cười, lại kích động đám đông chống lại tôi. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản họ rêu rao rằng tôi phải vô cùng biết ơn vì họ đã cho phép mình sinh sống ở Motiers – nơi họ chẳng có chút thẩm quyền nào; họ hẳn sẽ sẵn lòng đo không khí bán theo từng vừng cho tôi, miễn là tôi chịu trả một cái giá đắt. Họ muốn ép rằng tôi phải mang ơn họ vì sự bảo hộ mà nhà vua ban tặng bất chấp những nỗ lực không ngừng nghỉ mà họ thực hiện nhằm tước đoạt nó khỏi tôi. Cuối cùng, khi thất bại trong việc mưu tính, sau khi đã gây cho tôi mọi tổn hại có thể và phỉ báng tôi đến tận cùng khả năng của họ, họ lại biến sự bất lực của mình thành công trạng, bằng cách khoe khoang về lòng tốt của họ khi dung thứ cho tôi ở lại xứ sở của họ. Lẽ ra tôi phải cười trừ trước những nỗ lực hão huyền ấy, nhưng tôi lại đủ ngu ngốc để bực bội vì chúng, và mang cái sự yếu đuối là không thèm đến Neuchatel – một sự nhượng bộ kéo dài ngót nghét hai năm trời, cứ như thể việc bận tâm đến những hành động của lũ khốn nạn ấy không phải là tự hạ thấp mình quá đỗi, bởi vì dù tốt hay xấu, chúng chẳng bao giờ có thể tự quy trách nhiệm cho bản thân, do chúng chẳng bao giờ hành động nếu không có sự kích động từ bên ngoài. Hơn nữa, đó là những tâm trí thiếu vắng cảm thức hay kiến thức, những kẻ có đối tượng sùng bái là tầm ảnh hưởng, quyền lực và tiền bạc, còn lâu mới có thể tưởng tượng ra rằng người ta cần phải dành chút tôn trọng cho tài năng, và việc tổn thương cùng lăng mạ tài năng là một điều nhục nhã.
Một vị thị trưởng làng nọ, vì dính líu đến nhiều vụ biển thủ công quỹ nên đã bị cách chức, từng nói với quan phó lý xứ Val de Travers – chồng của Isabella rằng: “Tôi nghe nói tay Rousseau này có tài lắm – hãy dẫn hắn đến đây để tôi xem hắn có thật sự thế hay không.” Sự chê bai của một kẻ như thế chắc chắn không nên tạo ra bất kỳ ảnh hưởng nào lên những ai là nạn nhân của nó.
Sau sự đối xử mà tôi phải gánh chịu ở Paris, Geneva, Berne và thậm chí cả Neuchatel, tôi chẳng mong đợi chút ân huệ nào từ vị mục sư ở nơi này. Tuy nhiên, tôi đã được giới thiệu với ông bởi phu nhân Boy de la Tour, và ông đã dành cho tôi một sự đón tiếp tốt đẹp; nhưng ở cái xứ sở mà mọi kẻ đến sau đều không phân biệt được tốt xấu mà nịnh hót, sự lịch thiệp chẳng có mấy ý nghĩa. Dù vậy, sau buổi lễ hợp nhất trang trọng của tôi với giáo hội cải cách và việc sinh sống trong một quốc gia theo đạo Tin Lành, tôi không thể – nếu không vi phạm các cam kết của mình cũng như bổn phận của một công dân – lơ là việc công khai tuyên bố tôn giáo mà tôi đã gia nhập; thế nên tôi đã tham dự buổi lễ tôn giáo. Mặt khác, nếu tôi đến bàn thờ thánh, tôi lại e ngại việc tự đẩy mình vào nguy cơ bị từ chối, và hoàn toàn không có chuyện, sau sự hỗn loạn bị kích động ở Geneva bởi hội đồng và ở Neuchatel bởi giới giáo sĩ (classe), ông ta lại có thể dễ dàng ban phát bí tích thánh thể cho tôi trong nhà thờ của mình. Khi thời điểm cử hành bí tích đến gần, tôi viết thư cho M. de Montmollin – vị mục sư – để chứng minh cho ông thấy mong muốn được rước lễ của mình và tuyên bố bản thân hoàn toàn gắn kết với giáo hội Tin Lành; tôi cũng nói với ông, để tránh việc tranh cãi về các tín điều, rằng tôi sẽ không lắng nghe bất kỳ lời giải thích cụ thể nào về điểm giáo lý. Sau khi thực hiện những bước đi này, tôi cảm thấy nhẹ nhõm, không mảy may nghi ngờ rằng M. de Montmollin sẽ từ chối thu nạp tôi nếu không có cuộc thảo luận sơ bộ mà tôi đã từ chối tham gia, và theo cách đó, mọi chuyện sẽ kết thúc mà chẳng có lỗi lầm nào từ phía tôi. Tôi đã lầm: vào khoảnh khắc mà tôi ít ngờ tới nhất, M. de Montmollin đến tuyên bố với tôi rằng không những ông chấp thuận cho tôi rước lễ theo điều kiện mà tôi đã đề xuất, mà cả ông lẫn các trưởng lão đều cảm thấy vô cùng vinh hạnh khi tôi trở thành một thành viên trong đàn chiên của họ. Chưa bao giờ trong đời tôi cảm thấy ngạc nhiên hơn thế hay nhận được từ đó nhiều niềm an ủi hơn thế. Việc sống mãi một mình và không có liên kết đối với tôi dường như là một định mệnh ảm đạm, nhất là trong nghịch cảnh. Giữa bao nhiêu lệnh trục xuất và bức hại, tôi thấy thật vô cùng dễ chịu khi có thể tự nhủ: Ít nhất ta đang ở giữa những người anh em của mình; và tôi bước đến bàn rước lễ với một niềm xúc động dâng trào trong tim, đôi mắt nhòa lệ vì sự dịu dàng – thứ có lẽ là sự chuẩn bị dễ chịu nhất dâng lên Đấng mà bàn tiệc của Ngài tôi đang tiến lại gần.
Chẳng lâu sau đó, lãnh chúa gửi cho tôi một bức thư từ phu nhân de Boufflers mà ông nhận được – ít nhất tôi phỏng đoán là vậy – thông qua D’Alembert, người quen biết với nguyên soái. Trong bức thư này, bức đầu tiên mà vị phu nhân này viết cho tôi kể từ khi rời Montmorency, bà quở trách tôi nghiêm khắc vì đã viết thư cho M. de Montmollin, và đặc biệt là vì đã tham gia rước lễ. Tôi càng ít hiểu được ý bà trong những lời quở trách ấy, bởi vì sau chuyến đi Geneva, tôi vẫn luôn công khai tuyên bố mình là người theo đạo Tin Lành, và từng đến Khách sạn xứ Holland công khai mà không vấp phải bất kỳ sự khiển trách nào từ bất kỳ ai. Đối với tôi, việc phu nhân de Boufflers muốn định hướng lương tâm của tôi trong các vấn đề tôn giáo quả thực đủ buồn cười. Tuy nhiên, vì tôi chẳng mảy may nghi ngờ sự trong sáng trong ý định của bà, tôi đã không phật ý trước lời sằng bậy kỳ lạ này, và tôi đã đáp lại bà không chút tức giận, đồng thời trình bày cho bà những lý do của mình.
Những lời vu khống in ấn vẫn tiếp tục được lưu hành một cách miệt mài, và những tác giả nhân từ của chúng không ngớt quở trách các thế lực khác vì đã đối xử với tôi quá ư nhẹ tay. Về phần mình, tôi mặc cho họ nói và viết những gì họ muốn, chẳng thèm bận tâm mảy may đến vấn đề ấy. Người ta bảo với tôi có một bản phán quyết lên án từ Sorbonne, nhưng tôi không thể tin nổi điều đó. Sorbonne thì can dự gì vào chuyện này chứ? Chẳng lẽ mấy vị tiến sĩ muốn xác định cho chắc chắn rằng tôi không phải là người Công Giáo hay sao? Ai nấy đều đã biết tôi không phải là người Công Giáo rồi cơ mà. Hay họ khát khao chứng minh tôi không phải là một tín đồ Calvin tốt? Điều đó thì liên quan gì đến họ chứ? Đúng là tự chuốc lấy một bận tâm kỳ lạ, và biến mình thành kẻ thay thế cho các mục sư của chúng ta. Trước khi nhìn thấy ấn phẩm này, tôi cứ đinh ninh nó được phân phối nhân danh Sorbonne chỉ để nhạo báng mà thôi: và khi đã đọc nó xong, tôi càng thêm phần xác tín rằng mọi chuyện đúng là như vậy. Nhưng khi sự xác thực của nó không còn gì phải bàn cãi nữa, thì tất cả những gì tôi có thể ép mình tin tưởng là, thà rằng tống các vị tiến sĩ uyên bác ấy vào nhà thương điên còn hơn để họ ngồi trong viện đại học.
Tôi cảm thấy bị tổn thương nhiều hơn bởi một ấn phẩm khác, bởi vì nó xuất phát từ một con người mà tôi luôn dành sự kính trọng, và sự kiên định của người ấy khiến tôi ngưỡng mộ, dù tôi lấy làm tiếc cho sự mù quáng của ông ta. Ý tôi là bức thư sắc lệnh chống lại tôi do tổng giám mục Paris viết ra. Tôi nghĩ việc viết thư đáp lại nó là một bổn phận mà tôi nợ chính mình. Tôi cảm thấy mình có thể làm điều đó mà không làm suy giảm phẩm giá của bản thân; trường hợp này có đôi nét tương đồng với vị vua nước Ba Lan. Tôi luôn căm ghét những cuộc tranh cãi thô lỗ theo lối của Voltaire. Tôi chưa bao giờ chiến đấu mà không giữ lấy phẩm giá, và trước khi hạ mình bảo vệ bản thân, tôi phải chắc chắn rằng kẻ tấn công tôi sẽ không làm bẩn thỉu lời đáp trả của mình. Tôi không mảy may nghi ngờ rằng bức thư này được ngụy tạo bởi đám tu sĩ Dòng Tên, và dù lúc bấy giờ họ đang khốn đốn, tôi vẫn nhận ra ở đó thứ nguyên tắc quen thuộc của họ: đè bẹp những kẻ khốn khổ. Thế nên tôi hoàn toàn được tự do tuân theo châm ngôn xưa cũ của mình, bằng cách tôn vinh tác giả đứng tên và bác bỏ tác phẩm – điều mà tôi nghĩ mình đã làm một cách trọn vẹn.
Tôi thấy việc cư ngụ ở Motiers vô cùng dễ chịu, và chẳng có gì thiếu thốn để quyết định kết liễu cuộc đời mình ở đó, ngoại trừ sự chắc chắn về phương tiện sinh kế. Sinh hoạt phí ở vùng lân cận đó rất đắt đỏ, và toàn bộ những dự án cũ của tôi đã bị đảo lộn bởi việc giải thể các sắp đặt gia đình ở Montmorency, việc thiết lập những thứ khác, việc bán tháo hoặc phung phí đồ đạc, cùng những khoản chi phí phát sinh kể từ lúc tôi ra đi. Số vốn nhỏ nhoi còn lại của tôi cứ vơi đi từng ngày. Hai hoặc ba năm là đủ để tiêu tán nốt phần còn lại mà tôi chẳng có nổi phương tiện nào để tái tạo nó, ngoại trừ việc dấn thân trở lại vào con đường văn chương: một nghề nghiệp độc hại mà tôi từng từ bỏ. Đinh ninh rằng mọi thứ liên quan đến tôi rồi sẽ đổi thay, và công chúng – sau khi hồi phục khỏi cơn cuồng loạn – sẽ khiến những kẻ bức hại tôi phải đỏ mặt hổ thẹn, mọi nỗ lực của tôi đều hướng đến việc kéo dài nguồn tài nguyên cho đến khi cuộc cách mạng hạnh phúc này diễn ra, sau đó tôi sẽ thoải mái hơn trong việc lựa chọn một phương kế từ những thứ có thể xuất hiện. Nhận định đó, tôi nhặt lại cuốn ‘Từ điển Âm nhạc’ – thứ mà mười năm lao động đã đẩy nó tiến xa đến mức chẳng còn thiếu sót gì ngoài những khâu chỉnh sửa cuối cùng. Những cuốn sách mà tôi mới nhận gần đây đã tạo điều kiện cho tôi hoàn tất công trình này; những tài liệu của tôi được gửi qua cùng chuyến hàng đã cung cấp cho tôi phương tiện để bắt đầu viết hồi ký – thứ mà tôi quyết tâm dồn toàn bộ tâm trí vào đó. Tôi bắt đầu bằng cách chép lại các bức thư vào một cuốn sách, nhờ đó trí nhớ của tôi có thể được dẫn dắt theo thứ tự của sự kiện và thời gian. Tôi đã tuyển chọn sẵn những lá thư mình định giữ lại cho mục đích này, và suốt mười năm, chuỗi sự kiện ấy không hề bị gián đoạn. Tuy nhiên, trong lúc chuẩn bị chúng để sao chép, tôi phát hiện ra một sự đứt đoạn khiến tôi ngạc nhiên. Đó là khoảng thời gian gần sáu tháng, từ tháng Mười năm 1756 cho đến tháng Ba năm sau. Tôi nhớ mình từng gom vào danh sách tuyển chọn vô số bức thư từ Diderot, De Leyre, phu nhân d’Epinay, phu nhân de Chenonceaux, v.v., những lá thư lấp đầy khoảng trống ấy nay lại không cánh mà bay. Chúng đã đi về đâu chứ? Liệu có kẻ nào đã táy máy vào đống tài liệu của tôi khi chúng còn nằm trong Khách sạn xứ Luxembourg hay không? Điều này thật không thể tưởng tượng nổi, và tôi từng tận mắt nhìn thấy M. de Luxembourg cầm chiếc chìa khóa căn phòng nơi tôi ký gửi chúng. Rất nhiều bức thư từ các vị phu nhân khác nhau, và tất cả những bức thư từ Diderot, đều không đề ngày tháng, vì thế tôi buộc phải tự nhớ lại ngày tháng để điền vào trước khi chúng có thể được xếp theo thứ tự, và nghĩ rằng mình có thể đã phạm phải sai lầm, tôi lại lật chúng ra xem xét một lần nữa với mục đích xem có tìm lại được những lá thư lẽ ra phải khấp khểnh lấp đầy khoảng trống đó hay không. Thử nghiệm này chẳng đem lại kết quả. Tôi nhận ra sự trống vắng là có thật, và những bức thư chắc chắn đã bị cuỗm mất. Bởi kẻ nào và vì mục đích gì chứ? Đó là điều tôi không tài nào hiểu nổi. Những bức thư này, được viết trước những cuộc cãi vã lớn của tôi, và vào thời điểm tôi đang say sưa nhất trong việc sáng tác cuốn ‘Eloisa’, chắc chắn chẳng thể gây thú vị cho bất kỳ ai. Chúng chẳng chứa đựng gì ngoài những lời bắt bẻ vụn vặt từ Diderot, những câu trêu chọc từ De Leyre, những lời đảm bảo về tình bạn từ M. de Chenonceaux, hay thậm chí là phu nhân d’Epinay – người mà khi ấy tôi đang có mối quan hệ tốt đẹp nhất. Những bức thư này thì có hệ trọng gì với ai cơ chứ? Chúng sẽ được dùng vào mục đích gì? Mãi cho đến tận bảy năm sau, tôi mới hoài nghi về bản chất của vụ trộm cắp ấy.
Sự thiếu hụt không còn gì phải hoài nghi, tôi liền rà soát lại các bản nháp thô của mình xem đó có phải là chỗ duy nhất bị mất hay không. Tôi tìm thấy vài bản, mà vì trí nhớ kém, tôi cứ đinh ninh rằng còn những bản khác nằm giữa đống tài liệu ngồn ngộn của mình. Những bản tôi nhận ra chính là bản ‘Morale Sensitive’ (Luân lý nhạy cảm) và phần trích đoạn về những cuộc phiêu lưu của Lãnh chúa Edward. Bản sau, tôi thú nhận, đã khiến tôi hoài nghi phu nhân de Luxembourg. La Roche – kẻ hầu phòng của bà – đã gửi cho tôi các tài liệu, và tôi chẳng thể nghĩ đến ai ngoài chính bà là người duy nhất mà mảnh bản thảo này có thể hệ trọng đối với họ; nhưng bản thảo kia thì có can dán gì đến bà, hay mấy lá thư bị mất còn lại, thứ mà dẫu có ý đồ xấu đi chăng nữa, cũng chẳng thể làm gì tổn hại đến tôi trừ khi chúng bị ngụy tạo? Về phần nguyên soái – người mà tình bạn dành cho tôi cùng sự chính trực bất biến của ông đã quá đỗi quen thuộc, tôi chưa bao giờ mảy nghi ngờ ông dù chỉ một khoảnh khắc. Giả thiết hợp lý nhất, sau một hồi tra tấn tâm trí nhằm tìm ra thủ phạm vụ trộm, chính là giả thiết quy trách nhiệm cho D’Alembert – kẻ sau khi len lỏi vào nhóm của phu nhân de Luxembourg, hẳn đã tìm ra cơ hội để lục lọi những tài liệu này, và hốt đi những bản thảo cùng thư từ mà hắn cho là thích hợp, hoặc nhằm mục đích khơi mào xích mích giữa tôi với tác giả những bức thư ấy, hoặc để chiếm đoạt những thứ hắn thấy hữu ích cho tư lợi cá nhân. Tôi tưởng tượng rằng, bị đánh lừa bởi tựa đề Morale Sensitive, hắn hẳn đã lầm tưởng đó là đề cương cho một chuyên luận thực thụ về chủ nghĩa duy vật, thứ mà hắn sẽ dùng làm vũ khí chống lại tôi theo cách có thể dễ dàng tưởng tượng ra. Chắc mẩm rằng chẳng mấy chốc hắn sẽ vỡ lẽ khi đọc bản phác thảo và quyết định từ bỏ mọi mưu cầu văn chương, những vụ trộm vặt này chẳng làm tôi bận tâm là bao. Hơn nữa, đó không phải là lần đầu tiên cùng một bàn tay thực hiện vụ trộm nhắm vào tôi mà tôi chẳng buồn phàn nàn về những thói ăn cắp vặt ấy.
[Tôi từng tìm thấy trong cuốn ‘Elemens de Musique’ (Các yếu tố âm nhạc) của hắn vài thứ được lấy từ những gì tôi từng viết cho bộ ‘Encyclopedie’, và chúng đã được đưa cho hắn vài năm trước khi các yếu tố của hắn được ấn định xuất bản. Tôi không rõ hắn dính líu thế nào đến một cuốn sách mang tựa đề ‘Dictionnaire des Beaux-Arts’ (Từ điển Mỹ thuật), nhưng tôi tìm thấy trong đó những mục từ được chép lại từng chữ từ các bài viết của tôi, và điều này diễn ra từ lâu trước khi những mục từ tương tự được in ấn trong bộ Encyclopedie.]
Chẳng bao lâu sau, tôi không còn bận tâm đến trò hề vừa giăng ra với mình nữa, cứ như thể chưa có chuyện gì xảy ra, và bắt đầu gom góp những tài liệu còn sót lại nhằm thực hiện dự án viết hồi ký đã định.
Từ lâu tôi vẫn hằng đinh ninh rằng hội đồng mục sư, hoặc ít ra là các công dân và tầng lớp trung lưu của Geneva, sẽ lên tiếng phản đối sự vi phạm sắc lệnh trong quyết định chống lại tôi. Mọi thứ vẫn chìm trong tĩnh lặng, ít ra là ở bề nổi; bởi vì sự bất mãn lan rộng toàn dân, và chỉ chực chờ cơ hội đầu tiên để công khai bộc lộ. Những người bạn của tôi – hoặc những kẻ tự xưng là bạn – viết thư này nối tiếp thư nọ hối thúc tôi đến và đứng đầu họ, đồng thời đảm bảo về một sự tách biệt công khai khỏi hội đồng. Nỗi sợ hãi về sự xáo trộn và rối ren mà sự hiện diện của tôi có thể gây ra đã ngăn cản tôi đồng lõa với mong muốn của họ, và trung thành với lời thề từng lập thuở trước là không bao giờ nhúng tay vào bất kỳ cuộc nội chiến nào ở quê hương, tôi thà để sự xúc phạm nằm yên đó và tự trục xuất bản thân vĩnh viễn khỏi xứ sở, còn hơn là quay về bằng những phương thức bạo lực và nguy hiểm. Thật ra, tôi từng kỳ vọng tầng lớp trung lưu sẽ đưa ra những lời phản biện hợp pháp chống lại sự vi phạm mà quyền lợi của họ bị xâm phạm sâu sắc; nhưng chẳng có bước đi nào như thế được thực hiện. Những kẻ lãnh đạo khối công dân ít tìm kiếm sự đền bù thực sự cho các bất bình hơn là cơ hội để khiến bản thân trở nên không thể thiếu. Bọn chúng kết bè kết phái nhưng ngậm tăm, và mặc cho tôi bị chuốc lấy nước bọt bởi đám lê đôi mách cùng mấy kẻ đạo đức giả được giật dây nhằm biến tôi thành kẻ đáng ghê tởm trong mắt dân chúng, đồng thời ngụy trang các hành vi sai trái của chúng thành lòng nhiệt thành tôn giáo.
Sau khi ròng rã suốt một năm trời hoài công mong đợi có ai đó lên tiếng phản đối một hành động trái pháp luật, và thấy mình bị bỏ rơi bởi chính những đồng hương, tôi quyết định từ bỏ mảnh đất vô ơn nơi mình chưa từng sinh sống, nơi không nhận được chút thừa kế hay ân huệ nào, và nơi – để đổi lấy vinh dự mà tôi từng nỗ lực mang lại cho nó – tôi lại phải chứng kiến bản thân bị đối xử tệ bạc đến thế bởi sự đồng thuận nhất trí của tất cả, kể từ khi những kẻ lẽ ra phải lên tiếng lại ngậm tăm. Thế nên tôi đã viết thư cho vị quan chấp chính đầu tiên của năm đó, gửi M. Favre nếu tôi nhớ không lầm, một bức thư trong đó tôi long trọng từ bỏ quyền công dân thành phố Geneva, tuy nhiên vẫn cẩn thận duy trì sự chừng mực và ôn hòa – thứ mà tôi chưa từng chối bỏ trong những hành động kiêu hãnh mà giữa lúc khốn cùng, sự tàn nhẫn của kẻ thù thường ép tôi phải bộc lộ.
Bước đi này đã mở mắt cho các công dân, những kẻ cảm thấy họ đã lơ là quyền lợi của chính mình khi bỏ mặc việc bảo vệ tôi, liền đứng về phía tôi khi đã quá muộn màng. Họ có những nỗi oan ức của riêng mình để rồi gom chúng lại với những nỗi oan của tôi, và biến chúng thành chủ đề cho hàng loạt bản kiến nghị có lập luận chặt chẽ – thứ được họ củng cố và mở rộng, khi sự từ chối của hội đồng, được hậu thuẫn bởi chính quyền Pháp, khiến họ nhận thức rõ hơn về dự án nhằm tròng chiếc ách vào cổ họ. Những cuộc cãi vã này sản sinh ra hàng loạt ấn phẩm bất phân thắng bại, cho đến khi xuất hiện tác phẩm mang tựa đề ‘Lettres ecrites de la Campagne’ (Những bức thư viết từ miền quê), một tác phẩm được viết để ủng hộ hội đồng với nghệ thuật vô hạn, và qua đó, đảng phái phản biện – bị dồn vào cảnh ngậm tăm – đã bị đè bẹp trong chốc lát. Ấn phẩm này, một tượng đài trường tồn về tài năng hiếm có của tác giả nó, xuất phát từ Biên lý Tronchin – một con người thông minh và có hiểu biết minh triệt, am tường luật pháp và thể chế của nền cộng hòa. ‘Siluit terra’ (Đất trời chìm trong tĩnh lặng).
Phe phản biện, sau khi hoàn hồn từ cú ngã ngựa đầu tiên, liền gượng dậy để viết một bài đáp trả, và theo thời gian đã sản sinh ra một tác phẩm giúp họ gỡ gạc thể diện tương đối ổn thỏa. Nhưng tất cả bọn họ đều nhìn về phía tôi, xem tôi là kẻ duy nhất có khả năng đối đầu với một đối thủ tầm cỡ như thế với hy vọng thành công. Tôi thú nhận mình cũng đồng quan điểm với họ, và được khích lệ bởi những người đồng hương cũ – những người nghĩ rằng tôi có bổn phận giúp đỡ họ bằng ngòi bút của mình, hệt như việc tôi từng là nguyên nhân gây ra sự bối rối cho họ – tôi đã đứng ra bác bỏ tập ‘Lettres ecrites de la Campagne’, và nhại lại tựa đề của nó thành ‘Lettres ecrites de la Montagne’ (Những bức thư viết từ trên núi) để đặt tên cho tác phẩm của mình. Tôi viết bài đáp trả này kín đáo đến mức trong một cuộc gặp gỡ ở Thonon với các thủ lĩnh của phe bất mãn nhằm bàn bạc về công việc của họ, nơi họ cho tôi xem bản phác thảo bài đáp trả của họ, tôi đã không hé răng nửa lời về bài của mình – thứ vốn đã hoàn tất, vì e ngại những trở ngại có thể nảy sinh liên quan đến việc in ấn nó, nếu quan tòa hay kẻ thù hay biết những gì tôi đã làm. Tuy nhiên, tác phẩm này đã bị lộ diện ở Pháp trước khi được xuất bản; nhưng chính phủ thà để nó xuất hiện còn hơn là để tôi đoán ra phương thức bằng coe nào bí mật của tôi bị phanh phui. Liên quan đến điều này, tôi xin tường thuật những gì mình biết, dẫu nó chẳng đáng là bao: những gì tôi phỏng đoán sẽ mãi nằm trong lòng tôi.
Tôi nhận được ở Motiers số lượng chuyến thăm gần như tương đương ở Hermitage và Montmorency; nhưng phần lớn trong số đó lại mang một chủng loại khác. Những kẻ từng đến thăm tôi thuở trước là những người có gu thẩm mỹ, tài năng và nguyên tắc tương tự đôi chút với tôi, họ viện dẫn những điều đó làm lý do cho chuyến thăm và khơi gợi những chủ đề mà tôi có thể trò chuyện. Ở Motiers, mọi chuyện hoàn toàn khác biệt, đặc biệt là với những vị khách đến từ Pháp. Bọn họ là sĩ quan hoặc những kẻ chẳng có chút gu thẩm mỹ nào đối với văn chương, thậm chí phần lớn trong số họ còn chẳng hề đọc các tác phẩm của tôi, dẫu theo lời khai của chính họ, họ đã lặn lội ba mươi, bốn mươi, sáu mươi, thậm chí một trăm dặm đường để đến thăm tôi và chiêm ngưỡng con người lẫy lừng, con người cực kỳ nổi tiếng, vĩ đại, v.v. Bởi vì kể từ khi định cư ở Motiers, tôi đã phải hứng chịu những lời nịnh hót trơ trẽn nhất – thứ mà sự kính trọng từ những người tôi từng giao du trước kia từng che chở cho tôi khỏi chúng. Do rất ít vị khách mới chịu hé lộ họ là ai hoặc làm nghề gì, và do họ chẳng hề đọc hay liếc qua các tác phẩm của tôi, cũng chẳng có sự tìm kiếm nào giữa họ và tôi hướng về cùng một đối tượng, nên tôi chẳng biết phải trò chuyện với họ về cái gì: tôi đành chờ xem họ muốn nói gì, bởi vì họ là những người biết rõ và phải cho tôi hay mục đích chuyến thăm của họ. Sẽ dễ dàng hình thành suy nghĩ rằng điều này chẳng đem lại những cuộc trò chuyện nào thú vị đối với tôi, dẫu cho chúng có thể thú vị đối với những vị khách của tôi, tùy thuộc vào thông tin mà họ muốn thu thập; bởi vì do không mảy may nghi ngờ, tôi đã đáp lại không chút giấu giếm trước mọi câu hỏi mà họ thấy thích hợp để đặt ra, và họ thường ra về với lượng thông tin về các chi tiết trong hoàn cảnh của tôi ngang ngửa với chính tôi.
Chẳng hạn, tôi từng được tiếp đón theo cách này bởi M. de Feins – thị vệ của hoàng hậu kiêm đại úy kỵ binh – người đã đủ kiên nhẫn để trải qua vài ngày ở Motiers và lẽo đẽo theo sau tôi tận đến La Ferriere, tay dắt cương ngựa, mà chẳng hề có lấy một điểm chung nào với tôi ngoài việc quen biết Tiểu thư Fel, và cả hai chúng tôi đều chơi trò ‘bilboquet’ [Một loại trò chơi hứng quả bằng ly].
Trước đó, tôi từng nhận được một chuyến thăm khác kỳ lạ hơn rất nhiều. Hai người đàn ông đến nơi bằng cách đi bộ, mỗi người dắt theo một con lừa chở theo hành lý còm cõi của họ, trọ tại quán trọ, tự chăm sóc cho mấy con lừa và nài nỉ được gặp tôi. Dựa theo trang bị của những kẻ dắt lừa này, người ta tưởng họ là bọn buôn lậu, và tin đồn đám buôn lậu đến thăm tôi lập tức lan truyền. Cách họ cất lời thưa gửi với tôi đủ cho thấy họ là những người thuộc tầng lớp khác; nhưng dẫu không phải buôn lậu thì họ cũng có thể là những kẻ phiêu lưu, và sự hoài nghi này khiến tôi phải cảnh giác trong một thời gian. Bọn họ sớm xua tan những e dè của tôi. Một người là M. de Montauban – kẻ mang tước hiệu Bá tước de la Tour du Pin kiêm thị thần của thái tử; người kia là M. Dastier de Carpentras – một sĩ quan già cất giấu chiếc huân chương St. Louis trong túi áo vì không thể trưng bày nó ra ngoài. Những vị quý tộc này, cả hai đều vô cùng khả ái, là những người có óc phán đoán, và cách thức du hành của họ rất hợp gu với tôi, chẳng giống mấy so với các nhà quý tộc Pháp, điều đó phần nào giành được sự gắn bó của tôi, thứ được vun đắp qua những buổi giao du sau đó. Sự quen biết của chúng tôi không kết thúc sau chuyến thăm; nó vẫn được duy trì đến nay, và họ đã nhiều lần quay lại thăm tôi kể từ đó – không phải đi bộ, điều đó chỉ hợp cho lần đầu tiên; nhưng càng gặp gỡ những vị này bao nhiêu, tôi lại càng ít tìm thấy sự tương đồng giữa gu thẩm mỹ của họ và của tôi bấy nhiêu; tôi chưa từng thấy những châm ngôn của họ giống với những gì tôi từng quan sát, hay các tác phẩm của tôi quen thuộc với họ, hoặc có bất kỳ sự đồng điệu thực sự nào giữa họ và bản thân tôi. Vậy rốt cuộc họ muốn gì ở tôi chứ? Tại sao họ lại đến thăm tôi với một trang bị như thế chứ? Tại sao lại lặp lại chuyến thăm cơ chứ? Tại sao họ lại thiết tha muốn tôi làm chủ nhà của họ đến thế? Vào thời điểm ấy, tôi đã không tự đặt cho mình những câu hỏi này; nhưng đôi khi chúng lại hiện lên trong tâm trí tôi từ dạo đó.
Được chinh phục bởi những sự săn đón của họ, trái tim tôi đã buông bỏ mọi phòng thủ không chút giấu giếm, đặc biệt là với M. Dastier – người có gương mặt cởi mở khiến tôi vô cùng quý mến. Tôi thậm chí còn thư từ qua lại với ông ta, và khi quyết định in ấn tác phẩm ‘Những bức thư viết từ miền núi’, tôi đã nghĩ đến việc ngỏ lời với ông ta để qua mặt những kẻ đang chực chờ bưu kiện của tôi trên con đường dẫn đến Hà Lan. Ông ta từng nói với tôi khá nhiều, và có lẽ là có dụng ý, về sự tự do báo chí ở Avignon; ông ta ngỏ ý giúp đỡ tôi nếu tôi có bất kỳ thứ gì cần in ấn ở đó: tôi đã chớp lấy cơ hội ấy và lần lượt gửi qua đường bưu điện những trang bản thảo đầu tiên của mình cho ông ta. Sau khi giữ chúng một thời gian, ông ta gửi trả lại cho tôi và nói rằng: “Bởi vì chẳng có nhà sách nào dám bán chúng cả,” và tôi buộc phải cầu cứu Rey, đồng thời cẩn thận gửi tài liệu đi từng tờ một, không tách rời những phần tiếp theo cho đến khi nhận được thông báo về việc những phần đã gửi trước đó đã được tiếp nhận. Trước khi tác phẩm được xuất bản, tôi phát hiện ra nó từng lọt vào văn phòng của các bộ trưởng, và D’Escherny xứ Neuchatel đã bàn tán với tôi về cuốn sách mang tựa đề ‘De l’Homme de la Montagne’ (Về con người xứ sở trên núi) – thứ mà D’Holbach bảo với ông ta là do tôi viết. Tôi đã quả quyết với ông ta, và đó là sự thật, rằng tôi chưa từng viết cuốn sách nào mang tựa đề đó. Khi những bức thư xuất hiện, ông ta đùng đùng nổi giận và buộc tội tôi gian dối; dẫu tôi đã nói sự thật với ông ta. Bằng cách này, tôi chắc chắn rằng bản thảo của mình đã bị đọc lén; và vì không thể hoài nghi sự trung thành của Rey, giả thiết hợp lý nhất chính là những bưu kiện của tôi đã bị bóc mở tại bưu cục.
Một mối quen biết khác mà tôi thiết lập cũng vào khoảng thời gian đó, nhưng khởi đầu bằng thư từ, chính là mối quen biết với M. Laliand xứ Nimes – người viết thư cho tôi và nài nỉ tôi gửi bức chân dung bán thân của mình; ông ta bảo mình cần nó để tạc bức tượng bán thân bằng cẩm thạch mà Le Moine đang thực hiện cho ông ta nhằm đặt trong thư viện của mình. Nếu đây là một cái cớ được ngụy tạo nhằm đánh lừa tôi, thì nó đã thành công mỹ mãn. Tôi cứ đinh ninh rằng một kẻ muốn có bức tượng bán thân bằng cẩm thạch của tôi trong thư viện hẳn phải chứa đầy trong đầu các tác phẩm của tôi, và hệ quả là các nguyên tắc của tôi, đồng thời ông ta yêu mến tôi vì tâm trí ông ta đồng điệu với tôi. Thật tự nhiên khi ý tưởng đó quyến rũ tôi. Tôi đã có dịp gặp lại M. Laliand sau đó. Tôi thấy ông ta rất sẵn lòng làm ơn cho tôi trong nhiều tiểu tiết và bận tâm đến những việc vặt vãnh của tôi, nhưng tôi hoài nghi việc trong số ít ỏi những cuốn sách mà ông ta từng đọc, liệu ông ta có vô tình vớ lấy bất kỳ cuốn nào trong số những tác phẩm do tôi viết hay không. Tôi không rõ liệu ông ta có thư viện nào hay không, hay thứ đó có mang lại chút công dụng nào cho ông ta; còn về bức tượng bán thân, ông ta sở hữu một hình nặn bằng thạch cao xấu xí do Le Moine thực hiện, từ đó người ta đã khắc ra một bức họa gớm ghiếc mang tên tôi, hệt như thể nó có đôi chút nét tương đồng với tôi.
Người Pháp duy nhất dường như đến thăm tôi vì những tình cảm và gu thẩm mỹ của ông ta đối với các tác phẩm của tôi, là một sĩ quan trẻ thuộc trung đoàn Limousin tên là Seguier de St. Brisson. Anh ta từng tạo được chút tiếng tăm ở Paris – nơi có lẽ anh ta vẫn đang tự khẳng định mình qua những tài năng dễ chịu và sự thông minh. Anh ta từng đến Montmorency một lần vào mùa đông trước thảm kịch của tôi. Tôi rất thích sự hoạt bát của anh ta. Sau đó anh ta viết thư cho tôi ở Motiers, và không biết là anh ta muốn nịnh hót tôi, hay cái đầu của anh ta đã bị cuốn theo cuốn Emilius, anh ta thông báo rằng bản thân sắp sửa từ bỏ quân ngũ để sống tự lập, và đã bắt đầu học nghề mộc. Anh ta có một người anh trai – đại úy cùng trung đoàn – là đứa con cưng của người mẹ; người phụ nữ này cuồng tín đến mức thái quá và bị dẫn dắt bởi một kẻ đạo đức giả nào đó, đã đối xử không tốt với cậu em út, buộc tội anh ta là kẻ bất kính, và tệ hơn nữa là tội ác không thể tha thứ khi giao du với tôi. Đó là những bất bình làm cái cớ để anh ta quyết định cắt đứt quan hệ với người mẹ, và nhận lấy lối sống mà tôi vừa nhắc đến, tất cả chỉ để đóng vai chàng trai trẻ Emilius. Cảm thấy hoảng hốt trước sự bồng bột của anh ta, tôi lập tức viết thư cho anh ta, tìm cách khiến anh ta thay đổi quyết định, và những lời khuyên nhủ của tôi mạnh mẽ nhất có thể trong khả năng. Chúng đã phát huy tác dụng. Anh ta quay về với bổn phận, với người mẹ, và rút lại lá đơn từ chức từng nộp cho vị đại tá – người đủ khôn ngoan để không hề sử dụng nó, cốt để chàng thanh niên có thời gian suy ngẫm về những gì mình đã làm. St. Brisson, sau khi được chữa khỏi những trò ngớ ngẩn ấy, lại vướng vào một trò khác ít đáng báo động hơn, nhưng đối với tôi thì chẳng dễ chịu gì hơn những trò trước: anh ta trở thành một nhà văn. Anh ta lần lượt xuất bản hai hoặc ba ấn phẩm tuyên bố một con người không thiếu tài năng, nhưng tôi không phải tự trách bản thân vì đã dùng những lời ca tụng để khích lệ anh ta tiếp tục viết lách.
Chẳng bao lâu sau, anh ta đến thăm tôi và chúng tôi cùng nhau thực hiện một chuyến hành hương đến hòn đảo St. Pierre. Trong chuyến đi này, tôi thấy anh ta khác hẳn so với những gì tôi từng chứng kiến ở Montmorency. Trong phong thái của anh ta có điều gì đó ra vẻ ta đây, thứ mà thoạt đầu không làm tôi chán ghét lắm, dẫu sau này tôi đã suy ngẫm về nó theo hướng bất lợi cho anh ta. Anh ta từng đến thăm tôi một lần tại khách sạn St. Simon khi tôi ghé qua Paris trên đường sang Anh quốc. Tôi được biết ở đó một chuyện mà anh ta từng giấu nhẹm: rằng anh ta sống trong giới thượng lưu và thường xuyên lui tới nhà phu nhân de Luxembourg. Suốt quãng thời gian ở Trie, tôi chưa từng nhận được tin tức nào từ anh ta, cũng chẳng thấy anh ta buồn hỏi thăm tôi lấy một tiếng thông qua người họ hàng của anh ta là Tiểu thư Seguier – người hàng xóm của tôi. Người phụ nữ này chưa bao giờ tỏ ra có thiện chí với tôi. Tóm lại, cơn cuồng nhiệt của M. de St. Brisson chấm dứt đột ngột hệt như mối giao du với M. de Feins: nhưng con người này chẳng nợ tôi điều gì cả, còn kẻ trước thì mang ơn tôi, trừ khi những trò ngớ ngẩn mà tôi ngăn cản anh ta thực hiện chẳng qua chỉ là sự giả trắc; điều này hoàn toàn có thể lắm chứ.
Tôi cũng nhận được những chuyến thăm từ Geneva. Gia đình Delux, gồm cả cha lẫn con, lần lượt chọn tôi làm người đồng hành để bầu bạn lúc đau ốm. Người cha đổ bệnh dọc đường, người con thì đã bệnh sẵn khi rời Geneva; cả hai đều đến nhà tôi. Các mục sư, họ hàng, những kẻ đạo đức giả và đủ mọi thể loại người từ Geneva và Thụy Sĩ kéo đến, không phải để cười cợt và chiêm ngưỡng tôi như những kẻ đến từ Pháp, mà để quở trách và tra hỏi giáo lý tôi. Kẻ duy nhất trong số họ mang lại cho tôi niềm vui chính là Moultou – người đã ở lại với tôi ba hoặc bốn ngày và là người mà tôi mong muốn được ở lại lâu hơn nữa; kẻ kiên trì nhất, bướng bỉnh nhất và đã đánh gục tôi bằng sự bám riết chính là một lão M. d’Ivernois – thương gia xứ Geneva, một người Pháp tị nạn và có họ hàng với vị biện lý xứ Neuchatel. Tên này lặn lội từ Geneva đến Motiers mỗi năm hai lần chỉ để thăm tôi, túc trực bên tôi suốt mấy ngày liền từ sáng đến tối, kè kè theo tôi trong những chuyến dạo bước, mang đến hàng tá món quà vặt võng, tự ý chèn ép vào sự tín nhiệm của tôi bất chấp ý muốn của tôi, và chõ mũi vào mọi công việc của tôi, dẫu giữa hắn và tôi chẳng có nổi dù chỉ một chút tương đồng tối thiểu về ý tưởng, khuynh hướng, tình cảm hay kiến thức. Tôi không tin là hắn từng đọc trọn vẹn bất kỳ cuốn sách nào, hay hắn biết các tác phẩm của tôi viết về chủ đề gì. Khi tôi bắt đầu đi hái lượm thảo mộc, hắn lẽo đẽo theo tôi trong những chuyến lang thang thực vật học, dẫu chẳng có chút gu thẩm mỹ nào cho thú vui ấy, hay chẳng có gì để nói với tôi hoặc ngược lại. Hắn đủ kiên nhẫn trải qua ba ngày trời với tôi tại một quán trọ ở Goumoins, nơi mà bằng cách làm cho hắn mệt mỏi và khiến hắn cảm nhận rõ tôi chán ngấy hắn đến mức nào, tôi cứ hy vọng sẽ đuổi được hắn đi. Tuy nhiên, tôi chẳng thể lay chuyển nổi sự kiên trì khó tin của hắn, cũng chẳng tài nào khám phá ra động cơ của nó.
Trong số những mối quan hệ được thiết lập và duy trì một cách khiên cưỡng này, tôi không thể bỏ qua mối quan hệ duy nhất mang lại cho tôi sự dễ chịu và thực sự chạm đến trái tim tôi: đó là mối quan hệ với một chàng trai trẻ người Hungary đến sinh sống ở Neuchatel, và từ nơi đó chuyển đến Motiers, vài tháng sau khi tôi dọn đến định cư ở đây. Anh ta được người dân bản địa gọi là Nam tước de Sauttern, cái tên mà anh ta dùng để nhận được thư giới thiệu từ Zurich. Anh ta cao ráo, cân đối, sở hữu một gương mặt dễ chịu cùng tính cách ôn hòa, xã giao. Anh ta nói với mọi người và cũng ngầm hiểu với tôi rằng anh ta đến Neuchatel chẳng vì mục đích nào khác ngoài việc tu dưỡng tuổi trẻ của mình hướng về đức hạnh thông qua việc giao du với tôi. Tướng mạo, phong thái và cách hành xử của anh ta tỏ ra rất phù hợp với những lời trò chuyện, và tôi hẳn sẽ cảm thấy mình thiếu sót một trong những bổn phận lớn nhất nếu quay lưng lại với một thanh niên mà ở đó tôi chẳng thấy gì ngoài những nét khả ái, và là kẻ tìm đến sự quen biết của tôi xuất phát từ một động cơ đáng kính như thế. Trái tim tôi không biết cách kết giao bằng một nửa tâm tư. Anh ta nhanh chóng chiếm được tình bạn và toàn bộ sự tín nhiệm của tôi, và chúng tôi chẳng mấy chốc đã hình thành cảnh hình bóng đôi bên. Anh ta đồng hành cùng tôi trong mọi chuyến dạo bước và đâm ra yêu thích chúng. Tôi dẫn anh ta đến diện kiến nguyên soái, người đã tiếp đón anh ta bằng sự ân cần bậc nhất. Do lúc bấy giờ vẫn chưa thể diễn đạt trôi chảy bằng tiếng Pháp, anh ta nói và viết cho tôi bằng tiếng Latinh, tôi đáp lại bằng tiếng Pháp, và sự pha trộn giữa hai thứ ngôn ngữ này đã không làm cho các cuộc trò chuyện của chúng tôi kém phần suôn sẻ hay sinh động đi. Anh ta kể về gia đình, công việc, những cuộc phiêu lưu của mình cùng triều đình Vienna – những chi tiết đời sống gia đình mà anh ta tỏ ra vô cùng am tường. Tóm lại, suốt hai năm chúng tôi trải qua trong sự thân mật tuyệt đỉnh, tôi tìm thấy ở anh ta một nét tính cách ôn hòa đủ sức chống chọi lại mọi thứ, phong thái không chỉ lịch thiệp mà còn tao nhã, sự tươm tất tột cùng về bề ngoài, một sự nhã nhặn cực độ trong trò chuyện, tóm lại là tất cả những dấu hiệu của một người sinh ra và được giáo dục như một quý tộc, điều khiến anh ta trở nên quá đỗi đáng quý trong mắt tôi để mà không trở thành người thân thiết.
Vào thời điểm chúng tôi đang ở đỉnh cao của sự thân mật và thắm thiết, d’Ivernois viết thư cho tôi từ Geneva, cảnh giác tôi phải đề phòng chàng thanh niên người Hungary đang trọ ở vùng lân cận của tôi; hắn bảo rằng anh ta là một gián điệp được bộ trưởng Pháp cài cắm để theo dõi mọi hành động của tôi. Thông tin này mang bản chất khiến tôi càng thêm hoảng hốt, bởi vì ai nấy đều khuyên tôi phải cảnh giác trước những mưu mô của những kẻ được thuê để canh chừng hành động của tôi và lôi kéo tôi vào Pháp nhằm bán đứng tôi. Để dập tắt một lần cho vĩnh viễn những lời khuyên nhủ ngớ ngẩn này, tôi bèn đề xuất với Sauttern – mà chẳng hé lộ nửa lời về thông tin mình vừa nhận được – một chuyến đi bộ đến Pontarlier, và anh ta đã đồng ý. Ngay khi đặt chân đến đó, tôi trao bức thư của d’Ivernois vào tay anh ta, và sau khi ôm chặt anh ta vào lòng, tôi cất lời: “Sauttern chẳng cần một bằng chứng nào về sự tin cậy của tôi dành cho cậu cả, nhưng tôi cần phải chứng minh cho công chúng thấy tôi biết trao nó vào tay ai.” Cái ôm này đi kèm với một niềm vui mà những kẻ bức hại không tài nào tự mình cảm nhận được, cũng chẳng thể tước đoạt khỏi những kẻ bị áp bức.
Tôi sẽ không bao giờ tin Sauttern là gián điệp, cũng chẳng tin anh ta phản bội tôi: nhưng tôi đã bị anh ta lừa dối. Khi tôi mở toang trái tim mình không chút giấu giếm trước anh ta, anh ta lại luôn khép chặt trái tim mình và lừa dối tôi bằng những lời dối trá. Anh ta bịa ra cái thứ câu chuyện gì đó để chứng minh cho tôi thấy sự hiện diện của anh ta là cần thiết tại quê nhà. Tôi giục anh ta trở về đó càng sớm càng cứ. Anh ta lên đường, và khi tôi cứ đinh ninh anh ta đã về đến Hungary, tôi lại hay tin anh ta đang ở Strasbourg. Đó không phải là lần đầu tiên anh ta có mặt ở đó. Anh ta từng gây ra chút rắc rối trong một gia đình tại thành phố ấy; và người chồng hay tin tôi tiếp đón anh ta trong nhà đã viết thư cho tôi. Tôi đã dốc toàn lực để đưa người phụ nữ trẻ trở lại con đường đức hạnh, và đưa Sauttern trở về với bổn phận.
Khi tôi ngỡ rằng họ đã hoàn toàn dứt khoát với nhau, họ lại nối lại mối quan hệ, và người chồng lại tỏ ra nhã nhặn khi tiếp đón chàng thanh niên ấy tại nhà mình; từ khoảnh khắc đó, tôi chẳng còn gì để nói nữa. Tôi nhận ra gã tự xưng là nam tước đã lừa gạt tôi bằng một tràng dài những lời dối trá. Tên hắn không phải là Sauttern, mà là Sauttersheim. Về phần tước hiệu nam tước được gán cho hắn ở Thụy Sĩ, tôi không thể trách cứ sự bất hợp lý ấy, bởi vì hắn chưa từng tự nhận nó; nhưng tôi không mảy may nghi ngờ việc hắn là một quý tộc, và vị nguyên soái – người tinh tường nhân thế và từng đến Hungary – luôn xem xét và đối xử với hắn hệt như một quý tộc.
Ngay sau khi hắn rời khỏi vùng lân cận của tôi, mụ con gái ở quán trọ nơi hắn từng ăn uống tại Motiers liền lớn tiếng tuyên bố mang thai đứa con của hắn. Mụ ta là một sinh vật bẩn thỉu đến mức, trong khi Sauttersheim – kẻ vốn được người dân bản địa quý trọng vì hạnh kiểm và sự thanh bạch trong đạo đức – rất tự hào về sự tươm tết, khiến cho ai nấy đều bị sốc trước tuyên bố trơ trẽn này. Những người phụ nữ khả ái nhất trong vùng – những người từng hoài công khoe mẽ những đường cong quyến rũ trước mặt hắn – vô cùng phẫn nộ; bản thân tôi cũng suýt nghẹn thở vì căm phẫn. Tôi dốc toàn lực để bịt cái miệng của mụ đàn bà trơ trẽn ấy lại, đồng thời ngỏ ý trả mọi chi phí và đứng ra bảo lãnh cho Sauttersheim. Tôi viết thư cho hắn với niềm tin chắc nịch rằng, không những việc mang thai này chẳng liên quan gì đến hắn, mà nó còn là một trò bịp bợm do kẻ thù của hắn và của tôi dựng lên. Tôi muốn hắn quay lại để vạch mặt mụ đĩ thõa cùng những kẻ đứng sau giật dây mụ ta. Sự nhát gan trong bức thư hồi đáp của hắn đã làm tôi ngạc nhiên. Hắn viết thư cho vị trưởng giáo của giáo xứ nơi mụ sinh vật đó thuộc về và tìm cách ém nhẹm vụ việc đi. Nhận thấy thế, tôi chẳng buồn dính líu đến nữa, nhưng tôi lấy làm kinh ngạc khi một kẻ có thể hạ mình đến mức đó lại đủ khả năng làm chủ bản thân để lừa dối tôi qua sự kín đáo trong tình thân thiết khăng khít nhất.
Từ Strasbourg, Sauttersheim lên đường tìm vận may ở Paris, và chỉ tìm thấy sự khốn cùng ở đó. Hắn viết thư cho tôi để thừa nhận sai lầm của mình. Lòng trắc ẩn của tôi trỗi dậy khi nhớ về tình bạn cũ, và tôi đã gửi cho hắn một khoản tiền. Năm tiếp theo, khi ghé qua Paris, tôi gặp lại hắn trong tình cảnh tương tự; nhưng hắn lại là bạn thân của M. Laliand, và tôi chẳng tài nào tìm hiểu nổi bằng cách thức nào hắn thiết lập được mối quan hệ này, hoặc nó mới diễn ra hay đã kéo dài từ lâu. Hai năm sau, Sauttersheim quay lại Strasbourg, nơi hắn viết thư cho tôi và cũng là nơi hắn qua đời. Đó là tóm tắt ngắn gọn về lịch sử mối quan hệ của chúng tôi cùng những gì tôi biết về các cuộc phiêu lưu của hắn; nhưng trong khi tôi tiếc thương cho số phận của chàng thanh niên bất hạnh ấy, tôi vẫn, và sẽ mãi mãi tin rằng hắn là con cháu của những gia đình danh gia vọng tộc, và sự bất hợp lý trong hạnh kiểm của hắn chỉ là hệ quả từ những hoàn cảnh ngặt nghèo mà hắn bị dồn vào đó.
Đó là những mối giao du và quen biết mà tôi thu thập được ở Motiers. Biết bao nhiêu trong số đó là cần thiết để bù đắp cho những mất mát cay đắng mà tôi phải gánh chịu cùng thời điểm.
Đầu tiên trong số đó chính là sự ra đi của M. de Luxembourg – người sau khi bị tra tấn dài ngày bởi đám y bác sĩ, cuối cùng đã trở thành nạn nhân của họ khi được điều trị căn bệnh gút mà họ khăng khăng không thừa nhận ông mắc phải, như thể đó là một chứng bệnh họ tưởng mình có thể chữa khỏi.
Dựa theo những gì La Roche – người hầu cận đáng tin cậy của phu nhân de Luxembourg – viết cho tôi liên quan đến những gì đã xảy ra, chính qua tấm gương tàn nhẫn và đáng nhớ này mà sự khốn khổ của giới quyền quý mới thật đáng để bi thương.
Sự mất mát đối với vị quý tộc nhân hậu này khiến tôi đau đớn bội phần, bởi vì ông là người bạn chân chính duy nhất mà tôi có ở Pháp, và sự ôn hòa trong tính cách của ông khiến tôi hoàn toàn quên đi địa vị để gắn bó với ông như một người ngang hàng. Mối quan hệ của chúng tôi không hề bị đứt đoạn do việc tôi rời khỏi vương quốc; ông vẫn tiếp tục viết thư cho tôi như thường lệ.
Tuy nhiên, tôi tưởng như mình nhận thấy sự vắng mặt, hoặc những bất hạnh của tôi, đã làm lu mờ tình cảm ông dành cho tôi. Thật khó cho một kẻ hầu cận chốn triều đình có thể duy trì lòng trung thành y nguyên đối với một người mà hắn biết đang thất sủng nơi triều đình. Hơn nữa, tôi hoài nghi quyền lực to lớn mà phu nhân de Luxembourg nắm giữ đối với tâm trí ông đã tác động bất lợi đến tôi, và rằng bà đã lợi dụng sự chia cắt của chúng tôi để bôi nhọ tôi trong sự kính trọng của ông. Về phần bà, bất chấp một vài dấu hiệu quan tâm giả tạo ngày càng thưa dần theo thời gian, bà càng ít che đậy hơn sự biến chất trong tình bạn của mình. Bà viết cho tôi bốn hoặc năm bức thư sang Thụy Sĩ, sau đó không bao giờ viết cho tôi nữa, và chỉ có định kiến, sự tin cậy cùng sự mù quáng mới ngăn cản tôi vạch trần ở con người bà một sự lạnh nhạt lớn hơn thế đối với tôi.
Guy – nhà sách, đối tác của Duchesne, kẻ sau khi tôi rời Montmorency vẫn thường xuyên lui tới khách sạn Luxembourg – viết cho tôi hay tên tôi có trong di chúc của nguyên soái. Chẳng có gì là không thể tin nổi hay bất thường trong chuyện này, vì thế tôi không mảy may nghi ngờ tính xác thực của thông tin đó. Tôi tự đắn đo suy tính xem mình có nên nhận khoản di tặng đó hay không. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi quyết định chấp thuận nó, bất kể nó là gì đi nữa, và xem đó là hành động tôn vinh ký ức về một con người chân chính – kẻ giữa chốn triều đình nơi tình bạn hiếm khi tồn tại, lại dành cho tôi một tình bạn thực sự. Tôi đã không có cơ hội để hoàn thành bổn phận này. Tôi không còn nghe ngóng được gì thêm về khoản di tặng ấy, dù nó là thật hay giả; và sự thật là tôi sẽ cảm thấy đôi chút tổn thương nếu vi phạm một trong những châm ngôn lớn trong hệ thống đạo đức của mình, khi trục lợi từ bất cứ thứ gì nhân cái chết của một người mà tôi từng trân quý. Trong cơn bạo bệnh cuối cùng của người bạn Mussard của chúng tôi, Leneips từng đề nghị tôi tận dụng sự biết ơn mà ông ấy bày tỏ đối với sự chăm sóc của chúng tôi để ám chỉ đến những sắp đặt có lợi cho mình. “Ah! Leneips thân mến của ta,” tôi nói, “chúng ta đừng làm vấy bẩn bằng những ý tưởng vụ lợi lên những bổn phận buồn bã nhưng thiêng liêng mà chúng ta đang thực hiện đối với người bạn sắp qua đời. Tôi hy vọng tên tôi sẽ không bao giờ xuất hiện trong di chúc của bất kỳ ai, chí ít là trong di chúc của một người bạn.” Chính vào khoảng thời gian này, lãnh chúa nguyên soái từng nói với tôi về di chúc của ông, về những dự định ông dành cho tôi trong đó, và tôi đã đáp lại ông bằng câu trả lời mà tôi từng nhắc đến ở phần đầu của bộ hồi ký.
Mất mát thứ hai của tôi, còn đau đớn và không gì bù đắp nổi hơn, chính là người phụ nữ và người mẹ tuyệt vời nhất – người vốn đã oằn mình vì tuổi tác, gánh nặng bởi bệnh tật và khốn khổ, đã từ giã thung lũng nước mắt này để đến chốn phước hạnh, nơi ký ức khả ái về những việc thiện chúng ta từng làm dưới trần gian là phần thưởng vĩnh hằng cho lòng nhân ái của chúng ta. Hãy đi đi, bóng hình dịu ngoan và đôn hậu, hãy đến với những Fenelon, Bernex, Catinat và những người khác, những kẻ ở vị thế khiêm nhường hơn cũng từng rộng mở trái tim đón nhận lòng bác cảm thuần khiết hệt như họ; hãy đi và nếm trải thành quả từ lòng nhân ái của chính mình, đồng thời chuẩn bị cho người con trai của người một chốn mà nó hằng hy vọng được lấp đầy ngay bên cạnh người. Thật hạnh phúc trong những bất hạnh của người khi Thiên đường, trong việc chấm dứt chúng, đã tha thiết spared người khỏi cảnh tượng tàn nhẫn về những bất hạnh của nó! Vì e sợ làm cho trái tim người ngập tràn nỗi buồn qua việc thuật lại những thảm kịch đầu tiên của mình, tôi đã không viết thư cho người kể từ khi đặt chân đến Thụy Sĩ; nhưng tôi có viết thư cho M. de Conzie để hỏi thăm tình hình của người, và chính từ ông ta, tôi hay tin người đã chấm dứt việc xoa dịu những nỗi đau của những kẻ khốn cùng, và rằng nỗi đau của chính người cũng đã chấm dứt. Bản thân tôi sẽ chẳng thể sống lâu thêm bao lâu nữa; nhưng nếu tôi nghĩ mình sẽ không được gặp lại người ở cõi vĩnh hằng, trí tưởng tượng còm cõi của tôi sẽ bớt hoan hỉ biết bao trước ý tưởng về hạnh phúc viên mãn mà tôi hằng hy vọng được tận hưởng ở đó.
Mất mát thứ ba và cũng là cuối cùng của tôi – bởi vì kể từ dạo đó tôi chẳng còn một người bạn nào để mà mất mát nữa – chính là lãnh chúa nguyên soái. Ông không qua đời, nhưng chán ngán việc phục vụ những kẻ vô ơn, ông đã rời bỏ Neuchatel, và tôi chưa bao giờ gặp lại ông kể từ đó. Ông vẫn còn sống, và tôi hy vọng sẽ sống thọ hơn tôi: ông vẫn sống, và tạ ơn ông, tất cả những gắn bó của tôi trên trần gian này vẫn chưa bị hủy diệt. Vẫn còn đó một con người xứng đáng với tình bạn của tôi; bởi vì giá trị đích thực của tình bạn nằm ở những gì chúng ta cảm nhận hơn là ở những gì chúng ta khơi gợi; nhưng tôi đã đánh vần mất niềm vui từng tận hưởng ở ông, và chỉ có thể xếp ông vào số những người mà tôi yêu quý, nhưng chẳng còn giữ mối liên hệ nào nữa. Ông đã đến Anh quốc để xin ân xá từ nhà vua, và giành lại quyền sở hữu khối tài sản từng bị tịch thu trước kia. Chúng tôi không chia tay mà không ôm ấp ý định tái ngộ, ý tưởng đó dường như mang lại cho ông niềm vui lớn lao hệt như tôi từng đón nhận nó. Ông định cư ở Keith Hall, gần Aberdeen, và tôi sẽ đến đoàn tụ với ông ngay khi ông ổn định ở đó: nhưng dự án này quá sức ngon ngọt đối với hy vọng của tôi để mà mang lại bất kỳ thành công nào. Ông đã không ở lại Scotland. Những lời nài nỉ đầy tình cảm từ Quốc vương Phổ đã lôi kéo ông quay lại Berlin, và lý do tại sao tôi không đến với ông ở đó sẽ sớm được phơi bày.
Trước chuyến đi này, tiên liệu trước cơn bão mà đám kẻ thù bắt đầu khơi mào chống lại mình, ông đã tự nguyện gửi cho tôi giấy tờ nhập tịch, thứ dường như là phương thức chắc chắn để ngăn chặn việc tôi bị trục xuất khỏi xứ sở. Cộng đồng Tu viện Val de Travers noi gương vị thống đốc và trao cho tôi văn bản Rước lễ, hoàn toàn miễn phí, hệt như những người đầu tiên. Bằng mọi phương diện, từ đó trở thành một công dân, tôi đã được che chở khỏi nguy cơ bị trục xuất hợp pháp, thậm chí bởi cả vị vương công; nhưng chưa bao giờ con người – kẻ từng bày tỏ sự tôn trọng lớn lao nhất đối với luật pháp trong số tất cả mọi người – lại bị bức hại bằng những phương thức hợp pháp cả. Tôi không nghĩ mình nên liệt kê, trong số những mất mát của tôi vào thời điểm này, sự mất mát về phần Viện phụ Mably. Từng có thời gian sinh sống tại nhà mẹ ông, tôi có quen biết vị viện phụ, nhưng không quá thân thiết, và tôi có lý do để tin rằng bản chất tình cảm của ông ta đối với tôi đã thay đổi sau khi tôi giành được danh tiếng lớn hơn ông ta lúc bấy giờ. Nhưng lần đầu tiên tôi phát hiện ra sự giả dối của ông ta chính là ngay sau khi tác phẩm ‘Những bức thư viết từ miền núi’ được xuất bản. Một bức thư được quy cho là do ông ta viết, gửi đến phu nhân Saladin, được chuyền tay nhau ở Geneva, trong đó ông ta bàn về tác phẩm này như những tiếng la hét nổi loạn của một kẻ mị dân cuồng nộ.
Sự kính trọng mà tôi dành cho Viện phụ Mably, cùng đánh giá cao của tôi về trí tuệ của ông ta, đã không cho phép tôi tin rằng bức thư quái đản này được viết ra bởi chính ông ta. Tôi hành xử trong vụ việc này với sự bộc trực quen thuộc. Tôi gửi cho ông ta một bản sao bức thư, thông báo rằng người ta đồn ông ta là tác giả của nó. Ông ta chẳng thèm hồi âm. Sự im lặng này khiến tôi kinh ngạc; nhưng sự kinh ngạc của tôi lớn nhường nào khi qua một bức thư nhận được từ phu nhân de Chenonceaux, tôi hay tin Viện phụ thực sự là tác giả của bức thư được quy cho ông ta, và cảm thấy vô cùng bối rối trước bức thư của tôi. Bởi vì dẫu cho có giả sử trong khoảnh khắc rằng những gì ông ta tuyên bố là sự thật đi nữa, làm sao ông ta có thể biện minh cho một cuộc tấn công công khai đến thế, được thực hiện một cách bừa bãi, không có nghĩa vụ hay sự cần thiết nào, chỉ với mục đích duy nhất là nhấn chìm giữa lúc khốn cùng đỉnh điểm một con người mà ông ta từng tỏ ra có thiện chí, và là kẻ chưa từng làm bất cứ điều gì có thể khơi ngợi sự thù hận của ông ta? Chẳng bao lâu sau, tập ‘Các cuộc đối thoại của Phocion’ – nơi tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài một sự sao chép không chút xấu hổ hay kiềm chế từ các trước tác của tôi – đã xuất hiện.
Khi đọc cuốn sách này, tôi nhận ra tác giả không hề dành cho tôi dù chỉ một chút tôn trọng, và từ nay tôi phải xếp ông ta vào số những kẻ thù cay đắng nhất của mình. Tôi không tin ông ta từng tha thứ cho tôi về tác phẩm ‘Khế ước Xã hội’ – thứ vượt trội hơn hẳn năng lực của ông ta – hay tác phẩm ‘Nền Hòa bình Vĩnh cửu’; và hơn nữa, tôi có quan điểm rằng mong muốn được thấy tôi tóm tắt tác phẩm của Viện phụ de St. Pierre xuất phát từ việc ông ta giả định rằng tôi sẽ không thể hoàn thành nó một cách xuất sắc bằng mình.
Càng tiến sâu vào bản tường thuật của mình, tôi càng cảm thấy bản thân bất khả trong việc duy trì trật tự. Sự xáo trộn trong phần đời còn lại đã làm đảo lộn chuỗi sự kiện trong tâm trí tôi. Chúng quá ư đông đảo, rối rắm và khó chịu để có thể được thuật lại theo đúng trật tự. Ấn tượng mạnh mẽ duy nhất mà chúng để lại trong tâm trí tôi chính là bức màn bí mật kinh hãi che đậy nguyên nhân của chúng, và tình cảnh đáng thương hại mà chúng đẩy tôi vào. Bản tường thuật của tôi từ nay sẽ trở nên bất thường, và dựa theo những sự kiện xuất hiện trong ký ức mà không theo bất kỳ trật tự nào. Tôi nhớ vào khoảng thời gian được nhắc đến, đong đầy trong đầu ý tưởng về những bản hồi ký tự thú của mình, tôi đã vô cùng bất cẩn khi bàn tán về chúng với tất cả mọi người, chưa từng tưởng tượng rằng việc ngáng chân vào công trình này lại là mong muốn hay lợi ích, hay thậm chí nằm trong tầm tay của bất kỳ ai trên đời, và giả sử tôi có hoài nghi đi nữa, điều đó cũng chẳng khiến tôi trở nên kín kẽ hơn, bởi vì xét theo bản tính của tôi, việc che giấu suy nghĩ lẫn cảm xúc là điều hoàn toàn bất khả thi. Sự hay biết về dự án này, theo như tôi có thể phỏng đoán, chính là nguyên nhân làm bùng lên cơn bão nhằm đuổi tôi khỏi Thụy Sĩ, và tống tôi vào tay những kẻ có thể ngăn cản tôi thực hiện nó.
Tôi còn ấp ủ một dự án khác không được nhìn nhận bằng con mắt thiện cảm hơn bởi những kẻ sợ hãi dự án đầu tiên: đó chính là một ấn bản toàn tập các tác phẩm của tôi. Tôi cho rằng ấn bản toàn tập này là cần thiết để xác định rõ những cuốn sách nào gắn liền với tên tuổi của tôi mới thực sự do tôi chấp bút, đồng thời cung cấp cho công chúng phương tiện để phân biệt chúng với những trước tác bị quy chụp một cách sai trái cho tôi bởi đám kẻ thù nhằm đẩy tôi vào sự nhục nhã và khinh miệt. Hơn nữa, đây là một phương thức đơn giản và danh dự để tự bảo đảm sinh kế cho bản thân, và là phương thức duy nhất còn sót lại cho tôi. Do tôi đã từ bỏ nghề nghiệp cầm bút, những trang hồi ký của tôi không mang bản chất để xuất hiện khi tôi còn sống; do tôi không còn kiếm nổi dù chỉ một xu bằng bất kỳ phương thức nào, và vẫn liên tục chi tiêu một khoản nhất định, tôi thấy điểm tận cùng của nguồn tài nguyên của mình nằm ở phần thu nhập từ những tác phẩm cuối cùng tôi viết. Lý do này đã thúc đẩy tôi đẩy nhanh việc hoàn thành cuốn ‘Từ điển Âm nhạc’ – thứ vẫn chưa hoàn thiện. Tôi nhận được cho nó một trăm đồng louis (guineas) cùng một khoản tiền trợ cấp trọn đời ba trăm livres; nhưng một trăm đồng louis chẳng thể kéo dài lâu trong tay một người tiêu xài vượt quá sáu mươi đồng mỗi năm, và ba trăm livres (mười hai guineas) mỗi năm chỉ là một số tiền cỏn con đối với một kẻ mà lũ ăn bám cùng đám khách khứa ăn mày bu vào như một bầy ruồi.
Một công ty thương nhân xứ Neuchatel đã đứng ra nhận thực hiện ấn bản toàn tập, và một nhà in kiêm nhà sách tên là Reguillat xứ Lyons đã len lỏi vào nhóm của họ bằng cách nào đó để điều hành nó. Thỏa thuận được ký kết với các điều khoản hợp lý, và đủ để hoàn thành mục tiêu của tôi. Tôi có sẵn trong tay các bản in lẫn bản thảo đủ nội dung cho sáu tập khổ lớn quarto. Hơn nữa, tôi đồng ý hỗ trợ trong việc phát hành ấn bản này. Đổi lại, các thương nhân phải trả cho tôi một nghìn vương miện (một trăm hai mươi lăm bảng Anh) ngay lập tức, và cấp cho tôi khoản tiền trợ cấp mười sáu trăm livres (sáu mươi sáu bảng Anh) trọn đời.
Thỏa thuận đã được chốt hạ nhưng chưa kịp ký kết thì tập ‘Những bức thư viết từ miền núi’ xuất hiện. Vụ nổ khủng khiếp do tác phẩm địa ngục này và tác giả ghê tởm của nó gây ra đã làm khiếp vía công ty, và dự án xem như chấm hết. Tôi có thể so sánh hiệu ứng của tác phẩm cuối cùng này với hiệu ứng của bức thư ‘Về Âm nhạc Pháp’, nếu như bức thư đó – trong khi chuốc lấy cho tôi sự căm thù và đẩy tôi vào hiểm nguy – không mang lại cho tôi sự kính trọng và nể nang. Nhưng sau khi tác phẩm cuối cùng xuất hiện, người ta phải kinh ngạc ở Geneva và Versailles rằng một con quái vật như tác giả của nó lại được phép tồn tại trên đời. Tiểu hội đồng, bị kích động bởi viên cư dân Pháp và được điều hành bởi vị biện lý, đã đưa ra một tuyên bố chống lại tác phẩm của tôi, trong đó bằng những từ ngữ khắc nghiệt nhất, nó bị tuyên bố là không đáng để bị thiêu hủy qua đôi tay của đao phủ, đồng thời kèm theo một sự khôn khéo tiệm cận sự hề hước rằng chẳng có khả năng nào để bàn tán hay đáp trả nó mà không tự chuốc lấy sự nhục nhã. Tôi rất muốn chép lại tác phẩm cấu trúc kỳ thú này ở đây, nhưng ngặt nỗi tôi không mang nó theo bên người. Tôi vô cùng ao ước một số độc giả của mình – được thôi thúc bởi ngọn lửa của sự thật và lẽ công bằng – hãy đọc lại ‘Những bức thư viết từ miền núi’: tôi dám hy vọng họ sẽ cảm nhận được sự điềm tĩnh mang tính khắc kỷ bao trùm toàn bộ tác phẩm, sau tất cả những lăng mạ tàn nhẫn mà tác giả phải oằn mình gánh chịu. Nhưng vì không thể đáp trả những lời lăng mạ – bởi vì không một phần nào trong đó có thể được gọi bằng cái tên ấy – cũng chẳng thể bác bỏ các lý lẽ – bởi vì chúng không thể bị bác bỏ – đám kẻ thù của tôi đành giả vờ tỏ ra quá đỗi phẫn nộ để mà đáp trả: và quả thật, nếu chúng coi những lập luận bất khả chiến bại chứa đựng trong đó là lời lăng mạ, thì chúng hẳn phải cảm nhận bản thân bị đối xử không thương tiếc.
Đảng phản biện, thay vì phàn nàn về bản tuyên bố đáng ghê tởm đó, lại hành xử đúng theo tinh thần của nó, và thay vì dựng lên một chiến tích từ ‘Những bức thư viết từ miền núi’ – thứ được họ che đậy để dùng làm khiên đỡ – lại hèn nhát đến mức không dám ban phát công lý hay vinh danh tác phẩm được viết ra để bảo vệ họ, và theo chính thỉnh cầu của họ. Họ không thèm trích dẫn hay nhắc đến những bức thư ấy, dẫu họ ngầm rút ra từ đó toàn bộ các lập luận của mình, và bằng cách tuân thủ chính xác những lời khuyên kết thúc tác phẩm, họ đã biến chúng thành nguồn cội duy nhất mang lại sự an toàn và chiến thắng cho họ. Họ từng áp đặt bổn phận này lên tôi: tôi đã hoàn thành nó và đến cùng đã phục vụ cho chính nghĩa của họ cùng quê hương. Tôi nài nỉ họ hãy buông tha cho mình, và trong những cuộc cãi vã của họ, đừng bận tâm đến ai ngoài bản thân họ. Họ đã bắt lấy lời nói của tôi, và tôi không thèm bận tâm đến công việc của họ nữa, ngoài việc không ngừng hối thúc họ hướng về hòa bình, không mảy màn nghi ngờ rằng nếu họ tiếp tục cứng đầu, họ sẽ bị đè bẹp bởi nước Pháp; tuy nhiên điều đó đã không xảy ra; tôi biết lý do tại sao nó không xảy ra, nhưng đây không phải là nơi để giải thích những gì tôi muốn nói.
Hiệu ứng tạo ra ở Neuchatel bởi ‘Những bức thư viết từ miền núi’ thoạt đầu rất ôn hòa. Tôi gửi một bản sao của nó cho M. de Montmollin, người đã đón nhận nó một cách thiện chí và đọc nó mà chẳng hề đưa ra bất kỳ phản đối nào. Ông ta cũng đổ bệnh hệt như tôi; ngay khi bình phục, ông ta đến thăm tôi một cách thân thiện và trò chuyện về các vấn đề chung. Tuy nhiên, một lời đồn đại bắt đầu nhen nhóm; cuốn sách đã bị thiêu hủy ở xó xỉnh nào đó. Từ Geneva, Berne và có lẽ cả Versailles, sự sục sôi nhanh chóng lan sang Neuchatel, và đặc biệt là Val de Travers, nơi – trước cả khi đám mục sư có bất kỳ bước đi công khai nào – một nỗ lực ngầm đã được tiến hành nhằm kích động dân chúng. Tôi dám khẳng định, bản thân lẽ ra phải được yêu mến bởi người dân ở xứ sở nơi tôi từng sinh sống, phân phát của thí vô số kể, không để lại bất kỳ kẻ cơ hàn nào quanh mình mà không giúp đỡ, chưa bao giờ từ chối làm bất kỳ dịch vụ nào trong khả năng phù hợp với công lý, tự biến mình trở nên quá đỗi thân thiện với tất cả mọi người, đồng thời né tránh – trong khả năng có thể – mọi sự phân biệt có thể khơi ngợi dẫu chỉ một chút ghen tị. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản đám đông dân chúng – bị giật dây ngầm chống lại tôi bởi một kẻ nào đó – dần dần bị kích động chống lại tôi đến mức cuồng nộ, và công khai lăng mạ tôi, không chỉ ở vùng nông thôn hay trên đường cái, mà ngay giữa phố thị. Những kẻ từng nhận từ tôi những ân huệ lớn lao nhất lại là những kẻ tỏ ra phẫn nộ nhất với tôi, thậm chí cả những kẻ vẫn tiếp tục nhận ơn phước của tôi, không dám xuất hiện, lại đi kích động kẻ khác và dường như muốn dùng cách đó để trả thù tôi vì cảm giác bị hạ nhục từ những nghĩa vụ mà họ mang ơn do những ân huệ tôi từng trao tặng. Montmollin dường như phớt lờ những gì đang diễn ra và vẫn chưa đứng ra mặt. Nhưng khi thời điểm rước lễ đến gần, ông ta đến khuyên tôi không nên xuất hiện tại bàn thờ thánh, tuy nhiên đảm bảo rằng ông ta không phải kẻ thù của tôi và sẽ để tôi yên bình. Tôi thấy lời khuyên này đủ nực cười; nó gợi nhớ tôi về bức thư của phu nhân de Boufflers, và tôi không tài nào tưởng tượng nổi đối với ai mà việc tôi rước lễ hay không lại là một vấn đề quan trọng đến thế. Xem sự nhượng bộ này từ phía mình như một hành động hèn nhát, và hơn nữa, không muốn trao cho dân chúng một cái cớ mới để họ buộc tội tôi là kẻ vô đạo, tôi đã từ chối thỉnh cầu của vị mục sư, và ông ta ra về trong sự bất mãn, đồng thời ngầm cho tôi hiểu rằng tôi sẽ phải hối hận vì sự bướng bỉnh của mình.
Ông ta không có đủ thẩm quyền để cấm đoán tôi rước lễ: sự chấp thuận từ Hội đồng Giáo hội – nơi tôi từng được thu nạp vào đó – là bắt buộc, và chừng nào không có sự phản đối từ cơ quan đó, tôi vẫn có thể xuất hiện mà không sợ bị từ chối. Montmollin bèn thông qua Giới giáo sĩ (classe) để xin một ủy quyền triệu tập tôi ra trước Hội đồng Giáo hội, nhằm bắt tôi giải thích về các tín điều đức tin của mình và rút phép thông công tôi nếu tôi từ chối tuân thủ. Sự rút phép thông công này không thể được tuyên bố nếu thiếu đi sự trợ giúp từ Hội đồng Giáo hội cũng như sự đồng thuận của đa số phiếu. Nhưng những nông dân – những kẻ dưới danh nghĩa trưởng lão hợp thành hội đồng này – chịu sự chủ tọa và cai quản bởi mục sư của họ, hoàn toàn có thể được kỳ vọng sẽ hùa theo quan điểm của ông ta, nhất là trong các vấn đề của giới giáo sĩ, thứ mà họ còn ít hiểu biết hơn cả ông ta. Thế nên tôi đã được triệu tập, và tôi quyết định xuất hiện.
Thật là một hoàn cảnh hạnh phúc và một sự khải hoàn biết bao đối với tôi nếu tôi có thể cất lời, và giả sử – nếu tôi có thể nói vậy – ngòi bút của tôi nằm ngay trong miệng! Với sự bề trên biết mấy, thậm chí với sự dễ dàng biết mấy, tôi đã có thể đánh gục vị mục sư tội nghiệp này ngay giữa sáu lão nông dân của ông ta! Cơn khát quyền lực đã khiến giới giáo sĩ Tin Lành quên đi mọi nguyên tắc của phong trào cải cách, tất cả những gì tôi phải làm để nhắc nhở họ nhớ lại và khiến họ phải ngậm tăm chính là đưa ra những bình luận về tập ‘Những bức thư viết từ miền núi’ đầu tiên của tôi – thứ mà họ có sự ngu ng ngốc đi đả kích.
Bản thảo của tôi đã sẵn sàng, và tôi chỉ cần khai triển nó là đối thủ của tôi sẽ phải bẽ mặt. Tôi sẽ không yếu đuối đến mức chỉ đứng ở thế phòng thủ; thật dễ dàng để tôi chuyển sang thế tấn công mà hắn thậm chí không mờ mờ nhận ra, hay có thể tự che chở khỏi đòn tấn công của tôi. Đám linh mục đáng khinh của Giới giáo sĩ, vừa lơ là vừa vô tri, đã tự đặt mình vào hoàn cảnh thuận lợi nhất mà tôi hằng mong muốn để đè bẹp họ theo ý thích. Nhưng nào có ích gì chứ? Tôi buộc phải cất lời mà không chút chần chừ, và tìm kiếm ý tưởng, cách chuyển ngữ lẫn từ ngữ theo ý muốn, đồng thời duy trì sự điềm tĩnh và giữ cho tâm trí không bị xao lãng dù chỉ trong khoảnh khắc. Bởi vì tôi có thể hy vọng gì khi cảm nhận rõ sự bất khả trong việc diễn đạt trôi chảy của mình? Tôi từng bị dồn vào cảnh ngậm tăm bẽ bàng ở Geneva, trước một hội đồng vốn có thiện cảm với tôi và từ trước đã quyết tâm phê chuẩn mọi điều tôi nói. Trái lại, ở đây tôi phải đối đầu với một tay chơi, kẻ thay vì dùng kiến thức lại dùng sự ranh ma để giăng ra hàng trăm cái bẫy trước khi tôi kịp nhận ra dù chỉ một cái, và quyết tâm tóm lấy sơ hở của tôi bất chấp hậu quả ra sao. Càng xem xét hoàn cảnh hiện tại, tôi càng nhận ra mối nguy hiểm lớn lao mà mình đang đối mặt, và cảm nhận rõ sự bất khả trong việc rút lui thành công, tôi liền nghĩ ra một phương sách khác. Tôi trù tính một bài diễn văn dự định sẽ đọc trước Hội đồng Giáo hội, nhằm miễn trừ cho bản thân khỏi sự cần thiết phải đối đáp. Mọi chuyện rất dễ dàng. Tôi đã viết xong bài diễn văn và bắt đầu học thuộc lòng nó với một sự hăng hái khó tin. Theresa bật cười khi nghe tôi lầm bầm và không ngừng lặp lại những cụm từ ấy trong lúc cố gắng nhồi nhét chúng vào đầu. Tôi hy vọng cuối cùng mình sẽ ghi nhớ những gì đã viết; tôi biết vị quan tư pháp – với tư cách là một sĩ quan gắn bó với triều đình của vương công – sẽ có mặt tại Hội đồng Giáo hội, và bất chấp những mưu mô cùng những chai rượu của Montmollin, phần lớn các trưởng lão đều có thiện cảm với tôi. Hơn nữa, tôi còn có lý trí, sự thật và công lý ủng hộ, cùng sự bảo hộ của nhà vua, thẩm quyền của hội đồng nhà nước và thiện chí từ mọi người ái quốc chân chính – những kẻ mà sự thiết lập của tòa án dị giáo này đang đe dọa. Tóm lại, mọi thứ đều góp phần khích lệ tôi.
Vào đêm trước ngày được ấn định, tôi đã thuộc làu bài diễn văn và đọc tuốt tuột không sót một chữ. Tâm trí tôi văng vẳng nó suốt cả đêm: sáng hôm sau tôi quên sạch. Tôi vấp váp ở mọi từ, ngỡ mình đang đứng trước hội đồng, trở nên bối rối, lắp bắp và mất đi sự điềm tĩnh. Tóm lại, khi thời điểm xuất hiện đã kề cận, lòng dũng cảm của tôi hoàn toàn tan biến. Tôi ở nhà và viết thư cho Hội đồng Giáo hội, vội vã trình bày các lý do của mình, đồng thời viện cớ căn bệnh – thứ mà quả thực, trong tình trạng mà nỗi hoảng hốt đã đẩy tôi vào, suýt chút nữa không cho phép tôi ở lại trọn vẹn buổi họp.
Vị mục sư, bị bối rối bởi bức thư của tôi, đành hoãn buổi họp Hội đồng Giáo hội. Trong khoảng thời gian đó, bằng nỗ lực của chính mình và tay chân, ông ta tung ra hàng ngàn nỗ lực để dụ dỗ các trưởng lão – những kẻ tuân theo tiếng gọi của lương tâm hơn là những chỉ thị từ ông ta, đã không bỏ phiếu theo ý muốn của ông ta hay của Giới giáo sĩ. Dù những lập luận rút ra từ hầm rượu của ông ta có sức mạnh đến đâu đối với loại người này, ông ta cũng chẳng thể câu dụ thêm được ai ngoài hai hoặc ba kẻ đã sớm tận tụy phục tùng ý muốn của mình – những kẻ được gọi là ‘ames damnees’ [những linh hồn bị đày đọa]. Viên sĩ quan của vương công và Đại tá Pury – người trong vụ việc này hành động với lòng nhiệt thành lớn lao – đã giữ những người còn lại tuân thủ bổn phận, và khi Montmollin muốn tiến hành rút phép thông công, Hội đồng Giáo hội của ông ta, với đa số phiếu, đã thẳng thừng từ chối trao quyền cho ông ta làm điều đó. Bị dồn vào bước đường cùng, tức là kích động dân chúng chống lại tôi, ông ta, các đồng nghiệp cùng những kẻ khác bắt đầu hành động công khai, và thành công rực rỡ đến mức – bất chấp những sắc lệnh mạnh mẽ và thường xuyên từ nhà vua cùng các mệnh lệnh từ hội đồng nhà nước – cuối cùng tôi vẫn buộc phải rời khỏi đất nước, để không đẩy viên quan của nhà vua vào nguy cơ tự mình bị ám sát trong lúc bảo vệ tôi.
Ký ức về toàn bộ vụ việc này quá ư rối rắm đến mức tôi không tài nào hệ thống hay kết nối các tình tiết của nó lại với nhau. Tôi nhớ có một kiểu đàm phán đã được thiết lập với Giới giáo sĩ, trong đó Montmollin đóng vai trò trung gian. Ông ta giả vờ tin rằng người ta sợ tôi sẽ dùng các tác phẩm của mình để làm xáo trộn nền hòa bình của đất nước, trong trường hợp đó quyền tự do viết lách của tôi sẽ bị khiển trách. Ông ta ngầm cho tôi hiểu rằng nếu tôi đồng ý buông ngòi bút, những chuyện quá khứ sẽ được xí xóa. Tôi từng tự mình vướng vào cam kết này và không ngần ngại thực hiện nó với Giới giáo sĩ, nhưng với điều kiện và chỉ thuần túy trong các vấn đề tôn giáo. Ông ta tìm cách giữ lại một bản sao của thỏa thuận khi có sự thay đổi cần thiết được thực hiện trên đó, do điều kiện đã bị Giới giáo sĩ bác bỏ; tôi đòi lại văn bản và nó đã được trả cho tôi, nhưng ông ta giữ lại bản sao và ngụy tạo rằng nó đã thất lạc. Sau đó, dân chúng – được khích lập công khai bởi các mục sư – cười cợt trước các sắc lệnh của nhà vua cùng những mệnh lệnh từ hội đồng nhà nước, và vứt bỏ mọi sự kiềm chế. Tôi bị bêu rếu từ trên bục giảng, bị gọi là kẻ phản Kitô, và bị săn đuổi khắp vùng nông thôn hệt như một con sói điên. Bộ trang phục Armenia tố cáo tôi trước đám đông; tôi cảm thấy sự bất tiện cay đắng của điều này, nhưng việc cởi bỏ nó trong những hoàn cảnh thế này đối với tôi là một hành động hèn nhát. Tôi không thể ép mình làm điều đó, và tôi điềm đạm bước đi khắp vùng nông thôn với chiếc áo choàng caftan và mũ lông thú giữa những tiếng hò hét của cặn bã xã hội, và đôi khi lọt thỏm giữa một trận mưa đá. Vài lần khi đi ngang qua các ngôi nhà, tôi nghe thấy những kẻ cư ngụ bên trong gọi lớn: “Mang súng ra đây để tao bắn chết hắn.” Vì không vì thế mà rảo bước nhanh hơn, sự điềm tĩnh của tôi càng làm dấy lên cơn cuồng nộ của chúng, nhưng chúng chẳng bao giờ tiến xa hơn những lời đe dọa, ít ra là đối với hỏa khí.
Trong suốt cơn sục sôi ấy, tôi nhận được từ hai tình huống niềm vui sâu sắc nhất. Đầu tiên là việc tôi có được khả năng chứng minh lòng biết ơn thông qua lãnh chúa nguyên soái. Những cư dân lương thiện xứ Neuchatel – tràn đầy sự phẫn nộ trước sự đối xử mà tôi phải gánh chịu cùng những mưu mô mà tôi là nạn nhân – tỏ ra vô cùng căm ghét đám mục sư, nhận thức rõ rằng họ đang tuân thủ những chỉ thị từ bên ngoài và là tay sai đê hèn của những kẻ – khi giật dây họ hành động – lại tự giấu mình đi; hơn nữa họ còn e sợ trường hợp của tôi sẽ để lại hậu quả nguy hiểm và trở thành tiền lệ cho việc thiết lập một tòa án dị giáo thực sự.
Các quan tòa, đặc biệt là M. Meuron – kẻ kế nhiệm M. d’Ivernois trong chức vụ biện lý – đã dốc toàn lực để bảo vệ tôi. Đại tá Pury, dẫu chỉ là một cá nhân, đã làm nhiều hơn và thành công rực rỡ hơn. Chính vị đại tá là người tìm ra phương thức buộc Montmollin phải khuất phục trong Hội đồng Giáo hội của ông ta bằng cách giữ các trưởng lão tuân thủ bổn phận. Ông có uy tín và đã dùng nó để chặn đứng bạo loạn; nhưng ông chỉ có thẩm quyền của luật pháp, cùng sự trợ giúp từ công lý và lý trí để chống lại sức mạnh của tiền tài và rượu chè: cuộc chiến quá ư bất bình đẳng, và ở điểm này Montmollin đã chiến thắng. Tuy nhiên, tỏ lòng biết ơn trước sự nhiệt thành và chăm sóc của ông, tôi muốn có khả năng trả ơn bằng những hành động tốt đẹp, đồng thời phần nào giải quyết một phần nghĩa vụ mà tôi mang ơn ông. Tôi biết ông rất khao khát được bổ nhiệm làm cố vấn nhà nước; nhưng vì đã làm phật lòng triều đình qua hạnh kiểm trong vụ việc mục sư Petitpierre, ông đang thất sủng trước mặt vị vương công và thống đốc. Dù vậy, tôi vẫn bất chấp mọi rủi ro để viết thư cho lãnh chúa nguyên soái ủng hộ ông; tôi thậm chí đi xa đến mức đề cập đến chức vụ mà ông hằng khao khát, và thỉnh cầu của tôi được đón nhận nồng nhiệt đến mức – trái với kỳ vọng từ những kẻ hết lòng ủng hộ ông – nó được nhà vua ban phát cho ông ngay tức khắc. Bằng cách này, định mệnh – thứ không ngừng đẩy tôi lên cao chót vót, hoặc dìm tôi xuống vực thẳm nghịch cảnh – vẫn tiếp tục tung hứng tôi từ thái cực này sang thái cực khác, và trong khi đám đông bôi trét bùn đất lên người tôi, tôi lại có đủ khả năng đưa một kẻ lên làm cố vấn nhà nước.
Tình huống dễ chịu thứ hai chính là chuyến thăm tôi nhận được từ phu nhân de Verdelin cùng con gái – những người từng đến suối khoáng Bourbonne, từ đó họ ghé qua Motiers và ở lại với tôi hai hoặc ba ngày. Bằng sự quan tâm và chăm sóc, cuối cùng bà đã phá vỡ sự cự tuyệt lâu ngày của tôi; và trái tim tôi, được chinh phục bởi phong thái nồng hậu của bà, đã đáp lại toàn bộ tình bạn mà bà từng chứng minh với tôi từ lâu. Chuyến đi này khiến tôi vô cùng thấm thía lòng tốt của bà: hoàn cảnh của tôi khiến những niềm an ủi từ tình bạn trở nên vô cùng cần thiết để chống đỡ tôi vượt qua những khổ ải. Tôi e rằng bà sẽ bị tổn thương quá đỗi trước những lăng mạ tôi nhận được từ đám đông, và từng mong muốn giấu kín chúng khỏi bà để tâm trạng bà không bị ảnh hưởng, nhưng điều đó là bất khả thi; và dẫu sự hiện diện của bà là một chút kiềm chế đối với đám đông vô lễ trong những chuyến dạo bước, bà cũng đã chứng kiến đủ sự thô bạo của chúng để tự mình phán đoán những gì diễn ra khi tôi ở một mình. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi bà lưu lại Motiers, tôi vẫn bị tấn công ngay tại nơi cư ngụ. Một buổi sáng, người hầu phòng của bà phát hiện cửa sổ nhà tôi bị chặn kín bởi những hòn đá từng bị ném vào đó suốt đêm. Một chiếc băng ghế rất nặng đặt trên phố cạnh ngôi nhà, được chằng chống chắc chắn, đã bị nhấc bổng lên và dựng ngược vào cửa ra vào theo cách mà nếu không được phát hiện từ cửa sổ, nó đã đè bẹp bất kỳ kẻ nào mở cửa bước ra ngoài. Phu nhân de Verdelin hay biết mọi chuyện diễn ra; bởi vì bên cạnh những gì tận mắt chứng kiến, người hầu cận đáng tin cậy của bà còn ghé vào nhiều ngôi nhà trong làng, trò chuyện với tất cả mọi người và bị bắt gặp đang đàm đạo với Montmollin. Tuy nhiên, bà dường như chẳng thèm mảy may quan tâm đến những gì xảy ra với tôi, chưa từng nhắc đến Montmollin hay bất kỳ ai khác, và chỉ đáp lại bằng vài từ ngắn gọn khi tôi bàn tán với bà về hắn ta. Đinh rằng việc sinh sống ở Anh quốc sẽ dễ chịu hơn đối với tôi so với bất kỳ nơi nào khác, bà thường xuyên nhắc đến ông Hume – người lúc bấy giờ đang ở Paris – về tình bạn của ông dành cho tôi cùng mong muốn được làm ơn cho tôi ngay tại xứ sở của ông ta. Đã đến lúc tôi phải bàn đôi chút về Hume.
Ông ta đã tạo dựng được tiếng tăm lừng lẫy ở Pháp giữa các thành viên phái Bách khoa toàn thư qua các bài tiểu luận về thương mại và chính trị, và gần đây nhất là qua bộ lịch sử về Dòng Stuart – tác phẩm duy nhất trong các trước tác của ông mà tôi từng đọc một phần, qua bản dịch của Viện phụ Prevot. Do không quen thuộc với các trước tác khác của ông, tôi cứ đinh ninh, dựa theo những gì nghe được về ông, rằng ông Hume sở hữu một tư tưởng cộng hòa kết hợp với những nghịch lý Anh quốc ngợi ca sự xa hoa. Với quan điểm đó, tôi xem toàn bộ lời biện hộ dành cho Charles I của ông là một kỳ quan về sự vô tư, và tôi đánh giá cao đức tính của ông hệt như thiên tài của ông. Mong muốn được làm quen với con người vĩ đại này, và thu về tình bạn của ông, đã củng cố mạnh mẽ khuynh hướng muốn sang Anh quốc của tôi, được khơi gợi bởi những lời nài nỉ từ phu nhân de Boufflers – người bạn thân thiết của Hume. Sau khi đặt chân đến Thụy Sĩ, tôi nhận được từ ông, thông qua phu nhân này, một bức thư vô cùng nịnh nọt; trong đó, bên cạnh những lời ca ngợi cao tột dành cho thiên tài của tôi, ông đính kèm lời mời gọi thiết tha nhằm lôi kéo tôi sang Anh quốc, kèm theo lời hứa trao toàn bộ ảnh hưởng của ông và bạn bè ông nhằm làm cho thời gian cư ngụ của tôi ở đó trở nên dễ chịu. Tôi tìm thấy ở vùng đất mình lui về ở ẩn vị lãnh chúa nguyên soái – người đồng hương và là bạn của Hume – kẻ đã củng cố quan điểm tốt đẹp của tôi về ông ta, và từ ông tôi hay biết một giai thoại văn học mang lại danh tiếng lớn cho ông ta trong mắt lãnh chúa và có hiệu ứng tương tự trong mắt tôi. Wallace – người từng viết chống lại Hume về chủ đề dân số thời cổ đại – vắng mặt trong lúc tác phẩm của ông ta đang được in ấn. Hume đã tự mình đứng ra kiểm tra các bản in thử và thực hiện những công đoạn cần thiết cho ấn bản. Cách hành xử này rất hợp với lối suy nghĩ của tôi. Tôi từng bán với giá sáu sous (ba xu) mỗi bản những bản sao của một bài hát viết chống lại chính mình. Thế nên tôi đã bị tiêm nhiễm định kiến tốt đẹp về Hume khi phu nhân de Verdelin đến và nhắc đến tình bạn nồng nhiệt mà ông bày tỏ cho tôi cùng sự nôn nóng muốn đón tiếp tôi ở Anh quốc; đó là nguyên văn lời bà. Bà nài nỉ tôi chớp lấy cơ hội nhiệt thành này và viết thư cho ông ta. Do vốn không có khuynh hướng sang Anh quốc và không định đi cho đến bước đường cùng, tôi từ chối viết thư hay đưa ra bất kỳ lời hứa nào; nhưng tôi để mặc bà tự do làm bất cứ điều gì bà thấy cần thiết để giữ cho ông Hume duy trì thiện chí đối với tôi. Khi rời Motiers, bà để lại trong tôi niềm tin – qua mọi điều bà kể về con người lẫy lừng đó – rằng ông là bạn của tôi, và chính bà thậm chí còn là bạn của ông nhiều hơn thế.
Sau khi bà rời đi, Montmollin đẩy mạnh các mưu mô của mình với cường độ mạnh mẽ hơn, và đám đông vứt bỏ mọi sự kiềm chế. Tuy nhiên, tôi vẫn tiếp tục điềm đạm dạo bước giữa những tiếng hò hét của đám phàm phu; và niềm đam mê thực vật học – thứ tôi bắt đầu nhen nhóm cùng bác sĩ d’Ivernois – khiến những chuyến lang thang của tôi trở nên thú vị hơn, tôi cứ thế đi khắp xứ sở hái lượm thảo mộc mà chẳng mảy may bị ảnh hưởng bởi những tiếng la hét của lũ cặn bã xã hội này, khi mà sự cuồng nộ của chúng càng được gia tăng bởi sự điềm tĩnh của tôi. Điều làm tôi tổn thương nhất chính là việc chứng kiến các gia đình của những người bạn tôi, hoặc những kẻ tự xưng là bạn, công khai gia nhập liên minh những kẻ bức hại tôi; chẳng hạn như gia đình d’Ivernois, không ngoại trừ cả cha lẫn anh trai của Isabella Boy de la Tour – một người họ hàng của người bạn mà tôi trọ nhà, cùng phu nhân Girardier – chị dâu của cô ta.
[Bi kịch này bắt đầu kể từ lúc tôi cư ngụ ở Yverdon; vị quan viên chức Roguin qua đời một hoặc hai năm sau khi tôi rời khỏi thành phố đó, lão papa Roguin với sự bộc trực đã thông báo với tôi trong nỗi đau buồn, như ông nói, rằng trong giấy tờ của người họ hàng, người ta tìm thấy bằng chứng về việc ông ta dính líu đến âm mưu trục xuất tôi khỏi Yverdon và bang Berne. Điều này chứng minh rõ ràng âm mưu không hề phải là – như một số kẻ giả vờ tin tưởng – một vấn đề đạo đức giả; bởi vì vị quan viên chức, xa rời hình ảnh một kẻ cuồng tín, lại đẩy chủ nghĩa duy vật và sự hoài nghi đi đến mức cố chấp và cuồng tín. Hơn nữa, chẳng có ai ở Yverdon từng dành cho tôi sự quan tâm kiên định hơn, hay phung phí những lời ca ngợi và nịnh hót dành cho tôi nhiều hơn vị quan viên chức này. Ông ta trung thành tuân thủ kế hoạch ưa thích của những kẻ bức hại tôi.]
Gã Peter Boy này thật thô lỗ; quá ư đần độn và hành xử vụng về đến mức, để ngăn chặn tâm trí mình bị xáo trộn, tôi đã mạn phép chế nhạo hắn; và theo phong cách của tập ‘Petit Prophete’, tôi viết một ấn phẩm nhỏ vài trang mang tựa đề ‘La Vision de Pierre de la Montagne dit le Voyant’ — [Khải thị của Peter xứ Sở trên núi được gọi là Nhà tiên tri] — trong đó tôi tìm ra phương thức để pha trò đủ vui vẻ về những phép lạ khi ấy đóng vai trò cái cớ lớn cho sự bức hại tôi. Du Peyrou đã cho in mảnh giấy vụn này ở Geneva, nhưng thành công của nó trong vùng chỉ ở mức vừa phải; dân chúng xứ Neuchatel với tất cả sự thông minh của họ, rất ít thưởng thức muối ática hay sự hóm hỉnh khi chúng hơi được gọt giũa đôi chút.
Giữa muôn vàn sắc lệnh và sự bức hại, cư dân Geneva đã tự tách biệt bằng cách dựng lên một tiếng la ó inh ỏi bằng toàn bộ sức lực của họ; và người bạn Vernes của tôi trong số đó, với lòng hào hiệp anh hùng, đã chọn chính thời điểm này để ấn định việc xuất bản những bức thư chống lại tôi, trong đó hắn ra điều chứng minh tôi không phải là một Kitô hữu. Những bức thư này, được viết với vẻ tự phụ, chẳng tốt đẹp hơn là bao, dẫu người ta quả quyết rằng vị danh nhân Bonnet đã sửa gọt đôi chút cho chúng: bởi vì con người này, dẫu là một tín đồ duy vật, lại sở hữu một thứ chính thống cố chấp ngay khoảnh khắc tôi trở thành tâm điểm. Chắc chắn chẳng có gì trong tác phẩm này có thể cám dỗ tôi đáp trả; nhưng có cơ hội để thốt lên vài lời về nó trong tập ‘Những bức thư viết từ miền núi’, tôi đã lồng vào đó một đoạn chú thích ngắn mang đủ sự khinh miệt để làm Vernes điên tiết. Hắn làm ngập Geneva bằng những tiếng gào thét cuồng nộ của mình, và d’Ivernois viết thư báo rằng hắn đã hoàn toàn mất trí. Chẳng lâu sau đó xuất hiện một ấn phẩm nặc danh, thay vì dùng mực thì dường như nó được viết bằng dòng nước sông Phlegethon. Trong bức thư này, tôi bị buộc tội vứt bỏ con cái ngoài phố, dắt theo một ả đĩ lính tạt ngang dọc, bị tàn tạ bởi những cuộc ăn chơi trụy lạc..., cùng những thứ hay ho tương tự. Thật chẳng khó khăn gì để tôi phát hiện ra thủ phạm. Ý tưởng đầu tiên của tôi khi đọc tập tài liệu bôi nhọ này là hạ thấp xuống giá trị thực của nó mọi thứ mà thế gian gọi là danh tiếng và tiếng tăm giữa loài người; khi chứng kiến một kẻ chưa từng đặt chân đến nhà thổ nào trong đời, và có khuyết điểm lớn nhất là sự rụt rè nhút nhát hệt như một trinh nữ, lại bị đối xử như một kẻ thường xuyên lui tới những chốn như thế; và khi thấy mình bị buộc tội là một kẻ......, tôi – kẻ không những chưa từng dính chút vết nhơ nào của chứng bệnh đó, mà theo như giới y khoa, còn sở hữu cấu trúc khiến cho việc mắc phải nó trở nên bất khả thi. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi nghĩ mình không thể bác bỏ tập tài liệu bôi nhọ này tốt hơn bằng cách cho in nó tại thành phố nơi tôi từng lưu trú lâu nhất, và với ý định đó, tôi gửi nó cho Duchesne để in nguyên văn kèm theo một lời tựa trong đó tôi nêu tên M. Vernes cùng vài đoạn chú thích ngắn với mục đích làm sáng tỏ. Không thỏa mãn với việc chỉ in ấn, tôi gửi các bản sao đến một vài cá nhân, và trong số đó có một bản gửi cho Hoàng tử Louis xứ Wirtemberg – người từng đưa ra những lời tiến cưa lịch thiệp và là người tôi có quan hệ thư từ. Vị vương công, Du Peyrou và những người khác dường như hoài nghi về tác giả của tập bôi nhọ, đồng thời quở trách tôi vì đã nêu tên Vernes dựa trên một nền tảng quá mong manh. Nhận xét của họ làm nảy sinh trong tôi vài sự cắn rứt, và tôi viết thư cho Duchesne yêu cầu thu hồi ấn phẩm. Guy viết cho tôi hay ông ta đã thu hồi nó: điều này có thể đúng hoặc không; tôi đã bị lừa dối trong quá nhiều dịp đến mức chẳng có gì là bất thường nếu tôi lại bị lừa lần nữa ở đây, và từ khoảng thời gian tôi nhắc đến, tôi đã bị bao bọc trong màn đêm tăm tối sâu thẳm đến mức bất khả trong việc chạm đến bất kỳ dạng thức sự thật nào.
M. Vernes gánh chịu sự buộc tội ấy với một sự điềm tĩnh vượt xa mức kinh ngạc ở một kẻ được cho là không xứng đáng với nó, và vượt qua cả cơn cuồng nộ mà hắn từng mắc phải trong những dịp trước. Hắn viết cho tôi hai hoặc ba bức thư bằng những từ ngữ cực kỳ dè dặt, với mục đích – theo như tôi phỏng đoán – là cố gắng qua những câu trả lời của tôi để dò la xem tôi chắc chắn đến mức nào về việc hắn là tác giả của ấn phẩm, và liệu tôi có bằng chứng nào chống lại hắn hay không. Tôi đáp lại hắn hai bức thư ngắn, sắc bén về mặt ý nghĩa nhưng được diễn đạt lịch thiệp, và không làm hắn phật ý. Đến bức thư thứ ba của hắn, nhận thấy hắn muốn thiết lập một kiểu quan hệ thư từ với tôi, tôi liền ngậm tăm không đáp, và hắn bèn sai d’Ivernois đến nói chuyện với tôi. Phu nhân Cramer viết thư cho Du Peyrou, bảo rằng bà chắc chắn tập bôi nhọ không phải do Vernes viết. Tuy nhiên, điều này không làm tôi thay đổi quan điểm. Nhưng vì khả năng tôi bị lừa dối vẫn tồn tại, và việc nếu tôi bị lừa dối thật, tôi nợ Vernes một lời tạ lỗi tường tận là điều hiển nhiên, tôi bèn nhắn nhủ qua d’Ivernois rằng tôi sẽ đưa ra lời tạ lỗi đúng theo cách hắn muốn, miễn là hắn chịu hé lộ tên tác giả thực sự của tập bôi nhọ, hoặc ít ra chứng minh rằng bản thân hắn không phải là thủ phạm. Tôi đi xa hơn thế: cảm nhận rằng rốt cuộc, dẫu hắn có vô tội đi nữa, tôi cũng chẳng có quyền đòi hỏi hắn phải trưng ra bất kỳ bằng chứng nào, tôi đã trình bày trong một biên bản dài dằng dặc những lý do khiến tôi đi đến kết luận đó, đồng thời quyết định đệ trình chúng lên phán quyết của một trọng tài – kẻ mà Vernes không thể phản đối. Rất ít người có thể đoán ra vị trọng tài mà tôi chọn. Tôi tuyên bố ở phần cuối biên bản rằng nếu sau khi xem xét nó và tiến hành những cuộc điều tra cần thiết, hội đồng tuyên bố M. Vernes không phải là tác giả của tập bôi nhọ, thì kể từ khoảnh khắc đó tôi sẽ hoàn toàn tin chắc hắn vô tội, đồng thời lập tức đến quỳ rạp dưới chân hắn để xin tha thứ cho đến khi đạt được điều đó. Tôi có thể nói với sự thật lớn lao nhất rằng lòng nhiệt thành cháy bỏng dành cho công lý, sự ngay thẳng và rộng lượng của trái tim tôi, cùng niềm tin vào tình yêu công lý bẩm sinh trong mọi tâm trí chưa bao giờ hiện lên một cách trọn vẹn và rõ rệt hơn thế trong biên bản khôn ngoan và thú vị này, nơi tôi không chút do dự chọn những kẻ thù bất cộng đới thiên của mình làm trọng tài giữa một kẻ vu khống và chính tôi. Tôi đọc cho Du Peyrou nghe những gì mình đã viết: ông khuyên tôi nên thu hồi nó, và tôi đã làm theo. Ông muốn tôi chờ đợi những bằng chứng mà Vernes hứa hẹn, và tôi vẫn đang mòn mỏi đợi chờ: ông nghĩ tốt hơn là trong lúc này tôi nên ngậm tăm, và tôi đã ngậm miệng lại và sẽ tiếp tục làm thế suốt phần đời còn lại, bất chấp việc bị quở trách vì đã gạt lên đầu Vernes một cáo buộc nặng nề, sai trái và không có bằng chứng chống đỡ, dẫu tôi vẫn hoàn toàn tin chắc, vâng, xác tín hệt như sự tồn tại của mình, rằng hắn chính là tác giả của tập bôi nhọ. Biên bản của tôi đang nằm trong tay Du Peyrou. Nếu nó được xuất bản vào một ngày nào đó, những lý do của tôi sẽ được phơi bày, và trái tim của Jean Jacques – thứ mà những người cùng thời từ chối thấu hiểu – tôi hy vọng sẽ được tỏ tường.
Giờ đây tôi phải tiến đến thảm kịch của mình ở Motiers, và việc rời khỏi Val de Travers, sau quãng thời gian cư ngụ hai năm rưỡi, cùng tám tháng oằn mình chịu đựng sự đối xử tồi tệ nhất với một sự kiên định không suyuyển. Tôi không tài nào nhớ lại một cách rành mạch các chi tiết trong khoảng thời gian tồi tệ này, nhưng chi tiết về chúng sẽ được tìm thấy trong một ấn phẩm chuyên đề của Du Peyrou, thứ mà sau này tôi sẽ có dịp nhắc đến.
Sau khi phu nhân de Verdelin rời đi, sự sục sôi càng gia tăng, và bất chấp những sắc lệnh lặp đi lặp lại của nhà vua, những mệnh lệnh thường xuyên từ hội đồng nhà nước, cùng sự chăm sóc của quan tư pháp và các quan tòa địa phương, đám đông – xem xét tôi một cách nghiêm túc như là kẻ phản Kitô, và nhận thức mọi tiếng la hét của họ chẳng đem lại hiệu quả nào – cuối cùng dường như quyết định bước đến bạo lực; những viên đá đã bắt đầu được ném theo tôi dọc đường, tuy nhiên tôi thường ở khoảng cách quá xa để nhận lấy bất kỳ tổn thương nào từ chúng. Cuối cùng, vào đêm diễn ra phiên chợ Motiers – rơi vào đầu tháng Chín – tôi bị tấn công ngay tại nơi cư ngụ theo cách đe dọa đến tính mạng của mọi người trong nhà.
Vào lúc nửa đêm, tôi nghe thấy một tiếng động lớn ở hành lãng chạy dọc phía sau ngôi nhà. Một trận mưa đá ném vào cửa sổ và cánh cửa mở ra hành lãng rơi vào đó với tiếng động và lực mạnh đến mức con chó của tôi – vốn thường ngủ ở đó và bắt đầu sủa – liền im bặt vì hoảng sợ, rồi cuống cuồng chạy vào một góc cào cấu mấy tấm ván để tìm đường trốn thoát. Tôi lập tức trở dậy, chuẩn bị bước từ phòng ngủ ra nhà bếp, thì một viên đá được ném bởi một cánh tay vạm vỡ bay vụt qua nhà bếp sau khi đập vỡ khung cửa sổ, tung hoành cánh cửa phòng ngủ của tôi và rơi ngay dưới chân tôi, khiến cho giả sử tôi bước ra sàn sớm hơn một khoảnh khắc thì viên đá ấy đã giáng thẳng vào bụng tôi rồi. Tôi phán đoán tiếng động được tạo ra nhằm dụ tôi ra cửa, còn viên đá được ném để đón chào tôi khi tôi bước ra. Tôi lao vào nhà bếp, nơi tôi tìm thấy Theresa – người cũng đã trở dậy và đang run lẩy bẩy dò dẫm bước đến gần tôi nhanh nhất có thể. Chúng tôi nép sát vào tường tránh hướng cửa sổ để né những hòn đá và bàn bạc xem nên làm gì cho tốt nhất; bởi vì bước ra ngoài kêu cứu chính là con đường chắc chắn nhất để rước lấy cái chết. May mắn thay, người hầu gái của một lão già trọ ở tầng dưới tôi bị đánh thức bởi tiếng động liền vùng dậy chạy đi gọi quan tư pháp – người có dinh thự nằm sát cạnh nhà tôi. Ông ta nhảy phắt khỏi giường, khoác vội chiếc áo choàng và lập tức chạy đến chỗ tôi cùng đội tuần tra – do đêm hôm đó có phiên chợ nên đội tuần tra đang đi vòng quanh gần đó. Quan tư pháp hoảng hốt đến mức cắt không còn giọt máu khi nhìn thấy tàn dư của vụ việc, và khi nhìn thấy đống đá nằm rải rác trên hành lãng, ông thốt lên: “Lạy Chúa! Đây chẳng khác gì một mỏ đá!” Khi kiểm tra tầng dưới, người ta phát hiện một cánh cửa dẫn ra khoảng sân nhỏ đã bị cạy phá, và có dấu hiệu cho thấy kẻ gian từng mưu tính đột nhập vào nhà qua lối hành lãng. Khi gặng hỏi lý do tại sao đội tuần tra lại không ngăn chặn cũng không phát hiện ra vụ xáo trộn, sự thật phơi bày rằng đám lính canh của Motiers khăng khăng đòi làm nhiệm vụ đêm hôm đó, bất chấp phiên gác vốn thuộc về lính canh của một ngôi làng khác.
Hôm sau, quan tư pháp gửi báo cáo lên hội đồng nhà nước – cơ quan hai ngày sau đã cử người đến điều tra vụ việc, hứa hẹn phần thưởng cùng sự bảo mật cho kẻ nào đứng ra tố cáo thủ phạm, đồng thời trong lúc chờ đợi, trích ngân sách nhà nước bố trí lính canh xung quanh nhà tôi và nhà của quan tư pháp ngay sát cạnh. Ngày hôm sau vụ xáo trộn, Đại tá Pury, Biên lý Meuron, Quan tư pháp Martinet, Thủ quỹ Guyenet, Thủ quỹ d’Ivernois cùng cha ông ta – tóm lại là mọi nhân vật có trọng lượng trong vùng – đều đến thăm tôi, và đồng loạt nài nỉ tôi nhượng bộ trước cơn bão để rời đi, ít ra là tạm thời, khỏi một nơi mà tôi không thể tiếp tục sinh sống an toàn hay danh dự được nữa. Tôi nhận ra ngay cả quan tư pháp cũng hoảng sợ trước cơn cuồng nộ của đám đông và lo sợ nó có thể lan đến cả bản thân ông ta, thế nên ông hẳn rất vui mừng khi thấy tôi rời đi càng sớm càng tốt, để không còn phải bận tâm bảo vệ tôi ở đó và có thể từ nhiệm khỏi giáo xứ, điều mà ông đã làm sau khi tôi rời đi. Thế nên tôi đã nhượng bộ trước những lời nài nỉ của họ, và điều đó chẳng mấy đau đớn, bởi vì lòng căm thù của đám đông đã đè nặng lên trái tim tôi đến mức tôi không còn đủ sức chống đỡ nó nữa.
Tôi có quyền lựa chọn các điểm đến để lui về. Sau khi phu nhân de Verdelin quay lại Paris, trong vài bức thư, bà từng nhắc đến một ông Walpole – người mà bà gọi là lãnh chúa – vì có mong muốn mãnh liệt được giúp đỡ tôi, đã đề nghị một chốn dung thân tại một trong những điền trang miền quê của ông ta, nơi được miêu tả với phong cảnh vô cùng dễ chịu; bà đi vào chi tiết liên quan đến chỗ ở và sinh kế, chứng minh rằng bà và Lãnh chúa Walpole đã có những cuộc bàn thảo cụ thể về dự án này. Lãnh chúa nguyên soái từng luôn khuyên tôi sang Anh quốc hoặc Scotland, và trong trường hợp tôi chọn Scotland, ông ngỏ ý trao chốn dung thân ở đó. Nhưng ông lại đề nghị một chốn dung thân khác ở Potsdam, gần bên cạnh ông, thứ quyến rũ tôi hơn tất cả những nơi còn lại.
Ông vừa thông báo cho tôi những gì nhà vua nói với ông về việc tôi đến đó, giống như một lời mời gọi gián tiếp dành cho tôi từ vị quân vương ấy, và Nữ công tước xứ Saxe-Gotha đặt niềm tin lớn vào chuyến hành trình của tôi đến mức bà viết thư mong muốn tôi hãy ghé thăm bà trên đường đến triều đình Phổ và ở lại một thời gian trước khi tiến xa hơn; nhưng tôi quá ư gắn bó với Thụy Sĩ đến mức không thể dứt áo ra đi chừng nào vẫn còn có thể sống ở đó, và tôi chớp lấy cơ hội này để thực hiện một dự án từng nung nấu ý tưởng trong nhiều tháng trời, thứ mà tôi trì hoãn nhắc đến để không làm gián đoạn mạch tường thuật.
Dự án này bao gồm việc đến sinh sống tại hòn đảo St. Peter – một điền trang thuộc quyền sở hữu của Bệnh viện Berne, nằm giữa hồ Bienne. Trong một chuyến hành hương đi bộ thực hiện vào năm trước cùng Du Peyrou, chúng tôi từng ghé thăm hòn đảo này, và tôi mê mẩn nó đến mức kể từ dạo đó không ngừng tơ tưởng về phương thức biến nó thành nơi cư ngụ của mình. Trở ngại lớn nhất cho mong muốn của tôi phát sinh từ việc hòn đảo thuộc quyền sở hữu của cư dân Berne – những kẻ từng trục xuất tôi khỏi xứ sở của họ ba năm trước; và bên cạnh sự bẽ bàng khi quay về sống giữa những kẻ từng dành cho tôi sự đón tiếp tồi tệ, tôi còn có lý do để e sợ họ sẽ chẳng để tôi được yên bình trên đảo lâu hơn ở Yverdon. Tôi từng tham khảo ý kiến của lãnh chúa nguyên soái về vấn đề này, và ông có chung quan điểm rằng người Berne hẳn sẽ rất vui mừng khi thấy tôi bị lưu đày đến hòn đảo và giữ tôi lại ở đó làm con tin cho những tác phẩm mà tôi có thể bị cám dỗ viết ra, bèn thăm dò thái độ của họ thông qua M. Sturler – người hàng xóm cũ của ông ở Colombier. M. Sturler trực tiếp tiếp cận các nhà lãnh đạo nhà nước, và dựa trên câu trả lời của họ, ông đảm bảo với nguyên soái rằng người Berne, lấy làm tiếc vì hành xử quá khứ, rất muốn thấy tôi định cư tại đảo St. Peter và để tôi yên bình ở đó. Như một sự phòng ngừa bổ sung trước khi quyết định cư ngụ ở đó, tôi nhờ Đại tá Chaillet tiến hành những cuộc điều tra mới. Ông xác nhận những gì tôi từng nghe trước đó, và vị quản lý hòn đảo sau khi xin phép các cấp trên cho phép tôi trọ lại đó, tôi nghĩ mình có thể không gặp nguy hiểm gì khi dọn đến ngôi nhà ấy, với sự đồng thuận ngầm từ phía chủ quản và các chủ sở hữu; bởi vì tôi không thể kỳ vọng cư dân Berne sẽ công khai thừa nhận sự bất công mà họ từng gây ra cho tôi, qua đó hành động đi ngược lại châm ngôn tối thượng của mọi quốc vương.
Hòn đảo St. Peter, được gọi ở Neuchatel là đảo La Motte, nằm giữa hồ Bienne, có chu vi nửa dặm; nhưng trong không gian nhỏ bé này tụ hội tất cả các sản vật chủ yếu cần thiết cho sinh kế. Hòn đảo có đồng áng, đồng cỏ, vườn cây ăn quả, rừng rậm và các vườn nho, và tất cả những thứ đó, được ưu ái bởi địa hình đa dạng và đồi núi, tạo nên sự phân bổ càng trở nên dễ chịu hơn khi các phần không lộ diện đồng loạt mà xuất hiện lần lượt một cách đắc địa, khiến hòn đảo trông có vẻ lớn hơn thực tế. Một bậc thềm cao vút hình thành nên phần phía tây của nó, nhìn ra Gleresse và Neuverville. Bậc thềm này được trồng cây tạo thành một lối đi dài, bị ngắt quãng ở giữa bởi một phòng khánh tiết lớn, nơi vào mùa thu hoạch nho, cư dân từ các vùng bờ hồ lân cận tề tựu về để vui chơi giải trí. Chỉ có duy nhất một ngôi nhà trên toàn bộ hòn đảo, nhưng nó vô cùng rộng rãi và tiện nghi, do vị quản lý sinh sống và nằm trong một thung lũng được che chở khỏi những cơn gió.
Cách đảo St. Peter năm hoặc sáu trăm bước về phía nam là một hòn đảo khác, nhỏ hơn đáng kể so với hòn đảo trước, hoang sơ và chưa qua canh tác, dường như bị tách ra khỏi hòn đảo lớn bởi những cơn bão: thổ nhưỡng sỏi đá của nó chẳng sản sinh ra gì ngoài liễu và cây hồ tiêu nước, nhưng trên đó có một ngọn đồi cao phủ đầy thảm cỏ xanh vô cùng dễ chịu. Hình dạng của hồ là một hình bầu dục gần như hoàn hảo. Các bờ hồ, kém phần trù phú so với hồ Geneva và Neuchatel, tạo thành một khung cảnh trang trí tuyệt đẹp, đặc biệt là hướng về phần phía tây – nơi dân cư đông đúc và được viền bằng những vườn nho nằm dưới chân một dãy núi, có đôi nét tương tự như Cote-Rotie, nhưng không sản sinh ra loại rượu vang xuất sắc như thế. Các hạt St. John, Neuveville, Berne và Bienne nằm thành một đường thẳng từ nam tới bắc, kéo dài đến tận cùng hồ nước, đan xen là những ngôi làng vô cùng dễ chịu.
Đó chính là chốn dung thân mà tôi tự chuẩn bị cho mình, và là nơi tôi quyết định lui về sau khi rời khỏi Val de Travers.
[Có lẽ việc nhắc lại là cần thiết khi tôi để lại ở đó một kẻ thù là M. du Teneaux – thị trưởng vùng Verrieres – không lấy gì làm được kính trọng trong vùng, nhưng có một người anh trai được đồn đại là người chân chính làm việc trong văn phòng của M. de St. Florentin. Vị thị trưởng từng đến thăm ông ta một thời gian trước cuộc phiêu lưu của tôi. Những chi tiết nhỏ kiểu này, dẫu tự thân chẳng có hệ trọng gì, có thể dẫn đến việc khám phá ra nhiều vụ mưu mô ngầm.]
Lựa chọn này quá ư phù hợp với khuynh hướng yêu hòa bình cùng bản tính cô độc, lười nhác của tôi, đến mức tôi xem nó như một trong những giấc mộng đẹp đẽ nhất mà tôi đắm chìm vào đó một cách cuồng nhiệt nhất. Tôi nghĩ mình sẽ ở trên hòn đảo ấy cách biệt hơn với loài người, được che chở tốt hơn khỏi những lăng mạ của họ, và sớm bị nhân loại lãng quên hơn: tóm lại, được phó mặc nhiều hơn cho những niềm vui ngọt ngào của sự bất động trong đời sống chiêm nghiệm. Tôi ước gì mình bị giam cầm trong đó theo cách không có bất kỳ sự giao du nào với người phàm, và tôi chắc chắn đã thực hiện mọi biện pháp có thể tưởng tượng được để giải cứu bản thân khỏi sự cần thiết phải bận tâm đầu óc về họ.
Vấn đề lớn nhất chính là sinh kế, và do sự đắt đỏ của vật phẩm cùng khó khăn trong việc vận chuyển, nó trở nên tốn kém trên hòn đảo; cư dân ở đó hơn nữa phải phó mặc cho sự định đoạt của vị quản lý. Khó khăn này được dẹp bỏ qua một thỏa thuận mà Du Peyrou thực hiện với tôi khi đứng ra thay thế công ty từng khởi xướng và từ bỏ ấn bản toàn tập của tôi. Tôi trao cho ông toàn bộ tài liệu cần thiết, đồng thời tiến hành sắp xếp và phân bổ hợp lý. Gắn liền với thỏa thuận giữa chúng tôi, tôi trao cho ông thêm bộ hồi ký về cuộc đời mình, và biến ông thành người cất giữ chung toàn bộ tài liệu của tôi, dưới điều kiện tường minh là không được sử dụng chúng cho đến sau khi tôi qua đời, với tâm nguyện thiết tha là được kết thúc những ngày tháng của mình một cách yên bình mà không làm bất cứ điều gì đưa tôi quay trở lại trong ký ức của công chúng. Khoản tiền trợ cấp trọn đời ông cam kết chi trả cho tôi đủ để đảm bảo sinh kế. Lãnh chúa nguyên soái sau khi lấy lại toàn bộ tài sản đã đề nghị chu cấp cho tôi mười hai trăm livres (năm mươi bảng Anh) mỗi năm, một nửa trong số đó tôi chấp thuận. Ông muốn gửi thẳng tiền gốc cho tôi, và tôi từ chối vì khó khăn trong việc đầu tư. Sau đó ông gửi số tiền ấy cho Du Peyrou – người giữ nó và chi trả tiền trợ cấp cho tôi theo các điều kiện đã thỏa thuận với lãnh chúa. Thế nên, cộng dồn kết quả từ thỏa thuận với Du Peyrou cùng khoản trợ cấp từ nguyên soái – hai phần ba trong số đó sẽ chuyển giao cho Theresa sau khi tôi qua đời – cùng khoản trợ cấp ba trăm livres từ Duchesne, tôi được bảo đảm một sinh kế tươm tất cho bản thân và sau đó cho Theresa – người được tôi để lại bảy khoản trợ cấp mỗi năm (hai mươi chín bảng Anh) từ các khoản trợ cấp do Rey và lãnh chúa nguyên soái chi trả; do đó tôi không còn phải lo sợ cảnh thiếu thốn bánh mì ăn. Nhưng định mệnh đã an bài rằng danh dự buộc tôi phải từ chối tất cả những nguồn tài nguyên mà vận may cùng sự lao động đặt vào tầm tay, và rằng tôi sẽ ra đi trong cảnh nghèo khó hệt như lúc chào đời. Người ta sẽ thấy liệu tôi có thể – mà không tự hạ thấp mình xuống tận cùng sự nhục nhã – tuân thủ các cam kết mà sự cẩn trọng luôn tìm cách biến chúng thành ô nhục, bằng cách tước đoạt của tôi mọi nguồn tài nguyên khác nhằm ép tôi phải đồng ý tự chuốc lấy sự nhục nhã của chính mình hay không. Làm sao bất kỳ ai có thể hoài nghi về sự lựa chọn mà tôi sẽ thực hiện trong một sự thay thế như thế? Kẻ khác đã phán đoán trái tim tôi bằng trái tim của chính họ.
Tâm trí tôi thảnh thơi liên quan đến sinh kế và chẳng bận tâm đến bất kỳ chủ đề nào khác. Dẫu tôi để lại thế gian mở toang cánh cửa cho kẻ thù, vẫn còn đó trong ngọn lửa nhiệt thành cao quý từng sai khiến các trước tác của tôi, cùng sự đồng nhất bất biến trong các nguyên tắc của mình, một bằng chứng về sự ngay thẳng của trái tim – thứ tương ứng với bằng chứng suy ra từ hạnh kiểm nhằm ủng hộ khuynh hướng tự nhiên của tôi. Tôi chẳng cần bất kỳ sự bào chữa nào khác chống lại đám vu khống. Bọn chúng có thể phác họa dưới tên tôi một con người khác, nhưng bất khả thi để chúng đánh lừa những ai không chịu để bản thân bị áp đặt. Tôi từng có thể trao cho chúng toàn bộ cuộc đời mình để xoi mói, với sự chắc chắn rằng – bất chấp mọi lỗi lầm, sự yếu kém cùng sự bất khả trong việc gánh vác ách thống trị nhẹ nhàng nhất – chúng sẽ tìm thấy ở tôi trong mọi hoàn cảnh một con người chính trực và nhân hậu, không mang sự cay đắng, căm hận hay ghen tị, sẵn sàng thừa nhận sai lầm của mình, và còn nhanh chóng hơn nữa trong việc quên đi những tổn thương do kẻ khác gây ra; tìm kiếm mọi hạnh phúc trong tình yêu, tình bạn và sự gắn bó, đồng thời trong mọi thứ luôn đẩy sự chân thành của mình đi đến mức bất cẩn và sự vô vụ lợi khó tin.
Thế nên tôi phần nào cất lời từ biệt thời đại mình đang sống cùng những người cùng thời, và chào tạm biệt thế gian với ý định tự giam mình suốt phần đời còn lại trên hòn đảo ấy; đó là quyết định của tôi, và chính tại nơi đó tôi hy vọng thực thi dự án vĩ đại về đời sống lười nhác mà cho đến lúc ấy tôi từng cống hiến chút ít sự năng nổ mà Thiên đường ban tặng. Hòn đảo sắp trở thành đối với tôi hòn đảo Papimanie, vùng đất hạnh phúc nơi cư dân chìm vào giấc ngủ:
On n’y fait plus, on n’y fait nulle chose.
[Ở đó chẳng ai làm gì nữa: ở đó chẳng ai làm gì cả.]
Cái sự ‘chẳng làm gì nữa’ ấy chính là tất cả đối với tôi, bởi vì tôi chưa bao giờ tiếc nuối giấc ngủ là bao; sự lười nhác là đủ đầy cho hạnh phúc của tôi, và miễn là chẳng phải làm gì cả, tôi thà mơ mộng trong lúc tỉnh thức còn hơn trong lúc ngủ. Đã qua cái tuổi của những dự án lãng mạn, và từng bị chấn động nhiều hơn là được nịnh hót bởi tiếng kèn danh vọng, hy vọng duy nhất của tôi là được sống thảnh thơi và liên tục rảnh rỗi. Đó là cuộc sống của những linh hồn phước hạnh ở cõi vĩnh hằng, và đối với phần đời còn lại của tôi dưới trần gian này, tôi xem đó là niềm hạnh phúc tối thượng của mình.
Những kẻ quở trách tôi với bao nhiêu sự mâu thuẫn sẽ không quên thêm vào đây một mâu thuẫn nữa vào danh sách. Tôi từng quan sát thấy sự lười nhác của giới thượng lưu khiến họ trở nên không thể chịu đựng nổi đối với tôi, và giờ đây tôi lại đi tìm sự cô độc với mục đích duy nhất là phó mặc bản thân cho sự bất động. Tuy nhiên, đó chính là bản tính của tôi; nếu trong đó có sự mâu thuẫn, nó xuất phát từ tự nhiên chứ không phải từ tôi; nhưng có rất ít sự mâu thuẫn đến mức chính vì điều đó mà tôi luôn trước sau như một. Sự lười nhác trong giao du là gánh nặng bởi vì nó bị ép buộc. Sự lười nhác trong cô độc là mê hoặc bởi vì nó tự do và phụ thuộc vào ý chí. Trong giao du, tôi đau khổ tột cùng vì sự bất động, bởi vì đó là sự bắt buộc. Tôi phải ngồi đóng đinh vào ghế, hoặc đứng thẳng như cột cọc mà không được động đậy tay chân, không dám chạy nhảy, ca hát, kêu gào hay cử động theo ý thích, thậm chí không được phép mơ mộng, vừa gánh chịu sự mệt mỏi của sự bất động vừa gánh chịu mọi sự tra tấn của sự gò bó; buộc phải chú tâm vào mọi điều ngớ ngẩn được thốt ra cùng mọi lời khen ngợi vô bổ, và không ngừng vắt óc căng thẳng để không bỏ lỡ cơ hội phun ra lời trêu chọc hoặc lời dối trá của mình. Và thế mà người ta gọi đó là sự rảnh rỗi! Đó là lao động của một tên nô lệ khổ sai.
Sự lười nhác mà tôi yêu thích không phải là của một gã lười biếng ngồi khoanh tay trong sự bất động hoàn toàn, chẳng suy nghĩ gì hệt như chẳng làm gì, mà là của một đứa trẻ không ngừng chuyển động mà chẳng làm gì cả, và của một lão già lú lẫn lang thang lạc đề. Tôi thích tự giải trí với những chuyện vặt vãnh bằng cách khởi xướng hàng trăm thứ và chẳng bao giờ hoàn thành dù chỉ một, bằng cách đi đi lại lại tùy theo cảm hứng, bằng cách thay đổi dự án ở mọi khoảnh khắc, bằng cách dõi theo một con ruồi qua mọi đường đi nước bước của nó, bằng cách muốn lật nhào một hòn đá để xem điều gì ẩn giấu bên dưới, bằng cách hăng hái ôm đồm công việc của mười năm rồi từ bỏ nó không chút hối tiếc ở khoảnh khắc mười phút; tóm lại, bằng cách mông lung từ sáng đến tối mà chẳng theo trật tự hay mạch lạc nào, đồng thời tuân thủ trong mọi thứ sự thất thường của khoảnh khắc.
Thực vật học – thứ mà tôi luôn nhìn nhận và bắt đầu đắm chìm vào nó bằng phương thức của riêng mình với một niềm đam mê mãnh liệt – chính xác là một môn học nhàn rỗi, thích hợp để lấp đầy khoảng trống lúc rảnh rỗi của tôi mà không chừa chỗ cho sự mê sảng của trí tưởng tượng hay sự chán chường của sự bất động toàn phần. Lang thang một cách vô tư trong những khu rừng và miền quê, máy móc nhặt nhạnh bông hoa này cành cây nọ; nhai mẩu bánh mì của mình gần như ngẫu nhiên, quan sát đi quan sát lại hàng ngàn lần những thứ y hệt, và luôn với cùng một sự hứng thú, bởi vì tôi luôn quên bẵng chúng, đối với tôi là phương thức trải qua cõi vĩnh hằng mà chẳng có lấy một khoảnh khắc mệt mỏi. Dù cấu trúc của các loài thực vật có tinh tế, đáng ngưỡng mộ và đa dạng đến đâu đi chăng nữa, nó cũng không đập vào mắt kẻ vô tri đủ mạnh mẽ để giữ chân sự tập trung. Sự tương đồng liên tục đi kèm với sự đa dạng phi thường ngự trị trong cấu trúc của chúng chỉ mang lại niềm vui cho những ai đã sẵn có trong đầu đôi chút ý tưởng về hệ thống thực vật học. Những kẻ khác khi ngắm nhìn những kho báu thiên nhiên này chẳng cảm nhận gì ngoài sự ngưỡng mộ ngu đần và đơn điệu. Họ chẳng nhìn thấy gì trong chi tiết bởi vì họ không biết phải tìm kiếm cái gì, cũng chẳng nhận thức được toàn cảnh, do không có chút ý tưởng nào về chuỗi liên kết và sự kết hợp đang áp đảo tâm trí người quan sát bằng những điều kỳ diệu của nó. Tôi đã chạm đến điểm kiến thức hạnh phúc đó, và chứng hay quên của tôi nghiêm trọng đến mức liên tục giữ tôi ở lại đó, rằng tôi biết ít ỏi vừa đủ để làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ đối với mình, thế mà vẫn đủ mọi thứ cần thiết để khiến tôi cảm nhận được vẻ đẹp của mọi bộ phận. Các tầng thổ nhưỡng khác nhau mà hòn đảo – dẫu nhỏ bé – được phân chia, đã cung cấp đủ sự đa dạng về thực vật cho việc học tập và giải trí suốt cuộc đời tôi. Tôi quyết định không bỏ sót một ngọn cỏ nào mà không phân tích nó, đồng thời bắt đầu vạch ra các biện pháp nhằm thực hiện – với một bộ sưu tập khổng lồ các quan sát – tác phẩm ‘Flora Petrinsularis’.
Tôi cho gọi Theresa đến, và nàng mang theo sách vở cùng đồ đạc của tôi. Chúng tôi trọ chung với vị quản lý hòn đảo. Vợ ông có những người chị em ở Nidau, lần lượt ghé thăm bà và làm bạn đồng hành cho Theresa. Tại đây tôi thực hiện thí nghiệm về cuộc sống dễ chịu mà tôi hằng mong muốn được tiếp tục đến cuối đời, và niềm vui tìm thấy ở đó chỉ phục vụ cho việc làm tôi cảm nhận sâu sắc hơn sự cay đắng của cuộc sống sắp sửa thay thế nó.
Tôi vẫn luôn có một tình yêu cuồng nhiệt với nước, và cảnh tượng của nó đẩy tôi vào một trạng thái mộng mơ tuyệt vời, dẫu thường chẳng có một mục đích xác định nào.
Ngay khi thức dậy trên giường, nếu thời tiết đẹp, tôi không bao giờ quên chạy ra hiên nhà để hít thở bầu không khí trong lành và sảng khoái của buổi sáng, đồng thời thả lướt ánh mắt dọc theo đường chân trời của hồ nước – được bao bọc bởi những bờ hồ và ngọn núi vô cùng dễ chịu cho tầm nhìn. Tôi không biết có sự sùng bái nào xứng đáng hơn với đấng thần linh ngoài sự ngưỡng mộ tĩnh lặng được khơi gợi bởi sự chiêm nghiệm các công trình của Ngài và không được biểu lộ ra bên ngoài. Tôi có thể dễ dàng lĩnh hội lý do tại sao cư dân ở các thành phố lớn – những kẻ chẳng nhìn thấy gì ngoài tường vạch và đường phố – lại có rất ít đức tin; nhưng chẳng tài nào hiểu nổi tại sao người dân quê, và đặc biệt là những kẻ sống trong cô độc, lại có thể thiếu vắng nó. Làm thế nào mà họ không dâng trào tâm trí mình lên trong sự ngất ngây hướng về Đấng Tạo Hóa của những điều kỳ diệu đang đập vào giác quan hàng trăm lần mỗi ngày. Về phần tôi, đặc biệt là lúc thức dậy, mệt mỏi vì thiếu ngủ, thứ thói quen lâu đời xui khiến tôi hướng về sự dâng trào này – thứ không áp đặt sự mệt mỏi của việc suy nghĩ. Nhưng để đạt được điều đó, mắt tôi phải chạm vào những vẻ đẹp say đắm lòng người của thiên nhiên. Trong phòng, tôi cầu nguyện ít thường xuyên hơn và không tha thiết bằng; nhưng trước khung cảnh của một vùng quê tuyệt đẹp, tôi cảm thấy lòng mình rung động, dẫu chẳng thể thốt lên bản thân đang cảm thấy gì. Tôi từng đọc ở đâu đó về một vị giám mục khôn ngoan – trong chuyến viếng thăm giáo phận của mình – phát hiện ra một bà lão mà lời cầu nguyện duy nhất chỉ gồm độc nhất một thán từ “Ô!” — “Mẹ hiền,” ông bảo bà ấy, “hãy tiếp tục cầu nguyện theo cách này; lời cầu nguyện của mẹ tốt đẹp hơn của chúng ta.” Lời cầu nguyện tốt đẹp hơn đó cũng chính là của tôi.
Sau bữa sáng, tôi vội vã, với cái cau mày trên trán, viết vài bức thư đáng thương, khao khát cháy bỏng khoảnh khắc sau đó tôi sẽ chẳng còn phải viết lách gì nữa. Tôi bận rộn vài phút với sách vở và tài liệu để mở ra và sắp xếp chúng, hơn là đọc những gì chúng chứa đựng; và sự sắp xếp này – đối với tôi trở thành công trình của nàng Penelope – mang lại cho tôi niềm vui mông lung chốc lát. Sau đó tôi đâm ra mệt mỏi, liền rời bỏ sách vở để dành ba hoặc bốn tiếng đồng hồ còn lại của buổi sáng cho việc nghiên cứu thực vật học, đặc biệt là hệ thống của Linnaeus – thứ tôi đắm chìm đến mức, sau khi cảm nhận sự vô dụng trong sự gắn bó của mình với nó, tôi vẫn chẳng thể hoàn toàn rũ bỏ nó. Nhà quan sát vĩ đại này, theo quan điểm của tôi, là người duy nhất – cùng với Ludwig – cho đến nay xem thực vật học như một nhà tự nhiên học và một triết gia; nhưng ông ta nghiên cứu nó quá nhiều trong các tập tiêu bản thực vật cùng các khu vườn, mà chưa đủ trong chính bản thân thiên nhiên. Về phần tôi – kẻ có khu vườn luôn là toàn bộ hòn đảo, khoảnh khắc muốn thực hiện hoặc kiểm chứng một quan sát, tôi liền lao vào rừng hoặc đồng cỏ với cuốn sách kẹp nách, rồi nằm rạp xuống đất ngay cạnh cái cây đang bàn tới để dễ dàng quan sát nó khi nó đứng thẳng. Phương pháp này mang lại cho tôi sự hỗ trợ lớn lao trong việc thu nhận kiến thức về các loài thực vật ở trạng thái tự nhiên, trước khi chúng bị canh tác và biến đổi bản chất qua bàn tay con người. Fagon – ngự y trưởng của Louis XIV, người đặt tên và am tường hoàn hảo mọi loài thực vật trong vườn ngự uyển – được đồn đại là vô cùng dốt nát khi ở vùng nông thôn đến mức chẳng biết cách phân biệt các loài thực vật y hệt. Tôi thì hoàn toàn ngược lại. Tôi am hiểu chút ít về công trình của thiên nhiên, nhưng chẳng biết gì về công trình của người làm vườn.
Tôi dành trọn mọi buổi chiều cho bản tính lười nhác và vô tư của mình, đồng thời nương theo không theo trật tự nào xung động của khoảnh khắc. Khi thời tiết tĩnh lặng, thường thì ngay sau khi đứng dậy khỏi bàn ăn, tôi một mình bước xuống thuyền. Vị quản lý từng dạy tôi cách chèo bằng một mái chèo; tôi chèo ra giữa hồ. Khoảnh khắc rời khỏi bờ, tôi cảm thấy một niềm vui thầm kín suýt làm tôi nhảy cẫng lên, và nguyên nhân của nó tôi không tài nào diễn giải hay thậm chí lĩnh hội nổi, nếu đó không phải là sự chúc mừng thầm kín vì đã thoát khỏi tầm với của đám ác nhân. Sau đó tôi chèo quanh hồ, đôi khi tiến sát bờ bên kia nhưng không bao giờ cập bến. Tôi thường thả cho chiếc thuyền trôi lênh đênh theo mặc phó của gió và nước, phó mặc bản thân cho những giấc mộng không mục đích, và chúng chẳng kém phần dễ chịu vì sự ngớ ngẩn của mình. Thỉnh thoảng tôi thốt lên: “Hỡi thiên nhiên! Hỡi người mẹ của tôi! Tôi ở đây dưới sự bảo bọc của một mình người; ở đây chẳng có kẻ phàm nào gian ác và xảo quyệt xen vào giữa người và tôi.” Bằng cách này, tôi rời xa đất liền nửa dặm; tôi ước gì hồ nước là đại dương. Tuy nhiên, để làm vừa lòng chú chó tội nghiệp của mình – kẻ không thích thú gì việc ở trên nước lâu như tôi – tôi thường tuân theo một hải trình cố định; đó là cập bến hòn đảo nhỏ nơi tôi đi dạo một hoặc hai tiếng, hoặc nằm rạp xuống bãi cỏ trên đỉnh đồi, ở đó thả lỏng bản thân với niềm vui chiêm ngưỡng hồ nước cùng các vùng lân cận, kiểm tra và mổ xẻ mọi loại thảo mộc trong tầm với, rồi hệt như một Robinson Crusoe thứ hai, tự xây dựng cho mình một nơi cư ngụ tưởng tượng trên đảo. Tôi đâm ra vô cùng gắn bó với ngọn đồi này. Khi tôi dẫn Theresa cùng vợ vị quản lý và các chị em của cô ấy đến đó dạo bước, tôi tự hào biết bao khi được làm người dẫn đường và hoa tiêu cho họ! Chúng tôi thả thỏ lên đó để gây giống. Đó lại là một nguồn cội niềm vui nữa cho Jean Jacques. Những sinh vật này làm cho hòn đảo trở nên thú vị hơn nữa đối với tôi. Sau đó tôi đến đó thường xuyên hơn, và với niềm vui lớn lao hơn nhằm quan sát sự tiến triển của những cư dân mới.
Bên cạnh những thú vui này, tôi bổ sung thêm một thú vui gợi lại trong ký ức cuộc sống tuyệt vời mà tôi từng dẫn dắt ở Charmettes, và được mùa vụ vẫy gọi đặc biệt. Đó là việc tham gia vào những lao động mộc mạc như đào củ và hái quả – thứ mà Theresa và tôi biến thành một niềm vui khi được chia sẻ cùng vợ vị quản lý và gia đình ông ta. Tôi nhớ có một người Berne, một ông Kirkeberguer, đến thăm tôi, phát hiện tôi đang lơ lửng trên một cái cây với cái túi buộc ngang eo, và đã đầy ắp táo đến mức tôi chẳng thể nhúc nhích nổi khỏi cành cây mình đang đứng. Tôi chẳng lấy làm phiền lòng khi bị bắt quả tang trong những tình huống tương tự và thế. Tôi hy vọng cư dân Berne – những nhân chứng chứng kiến công việc lúc rảnh rỗi của tôi – sẽ không còn nghĩ đến việc làm xáo trộn sự bình yên của tôi nữa mà để tôi yên bình trong chốn ẩn dật. Tôi thà bị giam cầm ở đó theo mong muốn của họ: điều đó sẽ làm cho sự tiếp diễn của sự yên nghỉ của tôi trở nên chắc chắn hơn.
Đây lại là một tuyên bố nữa mà từ trước tôi đã chắc chắn về sự hoài nghi từ nhiều độc giả – những kẻ cứ cứng đầu phán đoán tôi bằng chính họ, dẫu họ không thể không chứng kiến, trong suốt chặng đường đời của tôi, hàng ngàn tình cảm nội tâm chẳng mang chút điểm tương đồng nào với bất kỳ tình cảm nào của họ. Nhưng điều kỳ lạ hơn nữa là họ từ chối ban tặng cho tôi bất kỳ tình cảm nào, dù tốt hay xấu, thứ mà họ không sở hữu, đồng thời luôn sẵn sàng quy chụp cho tôi những điều tồi tệ chẳng thể bước vào trái tim con người: trong trường hợp này, họ thấy thật dễ dàng để đặt tôi đối lập với thiên nhiên, và tạo ra từ tôi một con người quái dị chẳng thể tồn tại thực tế trên đời. Chẳng có gì vô lý tỏ ra không thể tin nổi đối với họ, ngay khoảnh khắc nó mang xu hướng bôi nhọ tôi, và chẳng có gì dù chỉ hơi khác thường tỏ ra khả thi đối với họ, nếu nó mang lại vinh danh cho tôi.
Nhưng bất chấp những gì họ suy nghĩ hay bàn tán, tôi sẽ vẫn tiếp tục trung thành tường thuật những gì J. J. Rousseau là, đã làm, và đã suy nghĩ; mà không giải thích hay biện minh cho sự kỳ lạ trong tình cảm và ý tưởng của bản thân, cũng như không tìm hiểu xem liệu người khác có suy nghĩ giống mình hay không. Tôi đâm ra say đắm hòn đảo St. Peter và việc cư ngụ ở đó dễ chịu đến mức, bằng cách tập trung mọi khát khao vào trong đó, tôi hình thành mong muốn được ở lại đó cho đến cuối đời. Những chuyến thăm tôi phải đáp lễ ở vùng lân cận, những hành trình tôi buộc phải thực hiện đến Neuchatel, Bienne, Yverdon và Nidau, đã làm trí tưởng tượng của tôi mệt mỏi. Một ngày trôi qua ngoài hòn đảo dường như đối với tôi là sự mất mát của ngần ấy hạnh phúc, và việc bước qua ranh giới của hồ nước chính là bước ra khỏi bản ngã của mình. Kinh nghiệm quá khứ hơn nữa làm cho tôi trở nên e dè. Bản thân sự thỏa mãn mà tôi nhận được từ bất kỳ thứ gì cũng đủ khiến tôi sợ hãi việc đánh mất nó, và khát khao cháy bỏng muốn kết thúc những ngày tháng của mình trên hòn đảo ấy gắn liền không thể tách rời với sự e sợ về việc buộc phải rời khỏi nó. Tôi hình thành thói quen ra ngồi trên bờ cát vào buổi chiều, đặc biệt là khi hồ nước động sóng. Tôi cảm thấy một niềm vui kỳ lạ khi nhìn những con sóng vỡ tan dưới chân mình. Tôi nhào nặn trong trí tưởng tượng hình ảnh của sự hỗn loạn ngoài kia đối lập với sự bình yên nơi chốn cư ngụ của mình; và ý tưởng dễ chịu này đôi khi làm tôi mềm lòng đến mức tuôn rơi nước mắt. Sự yên nghỉ mà tôi tận hưởng trong sự ngất ngây bị quấy rầy bởi chẳng điều gì ngoài nỗi sợ hãi bị tước đoạt nó, và sự bứt rứt này đi kèm với một chút cay đắng. Tôi cảm thấy hoàn cảnh của mình quá bấp bênh đến mức không dám dựa dẫm vào sự tiếp diễn của nó. “Ah! Thật sẵn lòng biết bao,” tôi tự nhủ, “tôi sẽ từ bỏ quyền tự do rời khỏi chốn này – thứ tôi chẳng hề khao khát – để đổi lấy sự đảm bảo được mãi mãi ở lại đây. Thay vì được phép ở lại đây nhờ ơn huệ, cớ sao tôi không bị giam cầm bằng vũ lực! Những kẻ dung thứ cho tôi ở lại có thể đẩy tôi đi trong khoảnh khắc, và liệu tôi có thể hy vọng những kẻ bức hại mình, khi thấy tôi hạnh phúc, sẽ để tôi tiếp tục hạnh phúc ở đây sao? Việc dung thứ cho tôi sống trên hòn đảo chỉ là một ân huệ cỏn con. Tôi ước gì mình bị kết án làm điều đó, và bị ép buộc phải ở lại đây để không phải buộc phải đi nơi khác.” Tôi liếc nhìn đầy ghen tị về phía Micheli du Cret – kẻ yên bình trong lâu đài Arbourg, chỉ cần quyết định hạnh phúc là có thể đạt được nó. Tóm lại, bằng cách phó mặc bản thân cho những suy ngẫm này, cùng những e dè đáng báo động về những cơn bão mới luôn chực chờ bùng nổ trên đầu mình, tôi khao khát chúng với một sự cuồng nhiệt khó tin, và rằng thay vì dung thứ cho tôi cư ngụ trên đảo, người Berne hãy ban tặng nó cho tôi như một nhà tù vĩnh viễn; và tôi có thể quả quyết rằng nếu nó phụ thuộc vào việc tôi tự chuốc lấy án phạt đó, tôi sẽ vui sướng biết bao khi làm điều đó, thà rằng chấp nhận gấp ngàn lần sự cần thiết phải trải qua cuộc đời ở đó còn hơn là nguy cơ bị trục xuất sang nơi khác.
Nỗi sợ này không ở lại lâu trong tâm trí tôi. Khi tôi ít ngờ tới những gì sắp xảy ra nhất, tôi nhận được một bức thư từ quan chấp phán xứ Nidau – người mà hòn đảo St. Peter nằm trong quyền tài phán của ông; qua bức thư, ông thông báo cho tôi mệnh lệnh từ các ngài đại sứ yêu cầu tôi phải rời khỏi hòn đảo và lãnh thổ của họ. Tôi tưởng mình đang mơ. Chẳng có gì kém tự nhiên, hợp lý hay khó lường hơn một mệnh lệnh như thế: bởi vì tôi xem những e dè của mình như kết quả từ sự bất an của một con người có trí tưởng tượng bị xáo trộn bởi những bất hạnh, chứ không phải xuất phát từ một sự tiên liệu có nền tảng tối thiểu. Những biện pháp tôi từng thực hiện để tự bảo đảm sự đồng thuận ngầm từ vị quốc vương, sự yên bình khi được dung thứ để thiết lập cơ ngơi, những chuyến thăm từ một số người Berne và vị quan chấp phán – kẻ từng dành cho tôi tình bạn và sự quan tâm lớn lao nhường ấy – cùng sự khắc nghiệt của thời tiết khi tống cổ một kẻ bệnh tật và ốm yếu là hành động dã man, tất cả những tình tiết ấy khiến tôi và rất nhiều người tin rằng có sự nhầm lẫn nào đó trong mệnh lệnh và những kẻ có ý đồ xấu đã cố tình chọn thời điểm thu hoạch nho và kỳ nghỉ của viện nguyên lão để bất thình lình giáng cho tôi một đòn đau.
Nếu tôi nhượng bộ trước xung động đầu tiên của sự phẫn nộ, tôi đã lập tức lên đường. Nhưng tôi phải đi đâu? Chuyện gì sẽ xảy ra với tôi vào lúc bắt đầu mùa đông, không có mục đích, sự chuẩn bị, người hướng dẫn hay phương tiện di chuyển? Để không để lại tài liệu và đồ đạc phó mặc cho kẻ đầu tiên vớ được, thời gian là cần thiết để tiến hành những sắp xếp thỏa đáng, và mệnh lệnh không nêu rõ liệu điều này có được chuẩn y cho tôi hay không. Sự tiếp diễn của nghịch cảnh bắt đầu đè nặng lên lòng dũng cảm của tôi. Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy sự kiêu hãnh tự nhiên của mình cúi đầu trước ách của sự cần thiết, và bất chấp những tiếng thở dài trong tim, tôi buộc phải hạ mình đi xin hoãn thời gian. Tôi thỉnh cầu M. de Graffenried – người từng gửi cho tôi mệnh lệnh đó – để xin một lời giải thích. Bức thư của ông, được cấu tứ bằng những từ ngữ phản đối mạnh mẽ nhất đối với bước đi vừa thực hiện, đảm bảo với tôi rằng ông vô cùng tiếc nuối khi phải truyền đạt bản chất của nó, và những biểu cảm đau buồn cùng sự kính trọng chứa đựng trong đó tựa như những lời mời gọi nhẹ nhàng để tôi mở lòng với ông: tôi đã làm vậy. Tôi không mảy ma nghi ngờ bức thư của mình sẽ mở mắt cho những kẻ bức hại tôi, và rằng nếu một mệnh lệnh tàn nhẫn như thế không bị thu hồi, chí ít thì một sự hoãn binh hợp lý, có lẽ là toàn bộ mùa đông, để thực hiện những chuẩn bị cần thiết cho cuộc rút lui và lựa chọn một chốn dung thân, sẽ được chuẩn y cho tôi.
Trong lúc chờ đợi hồi âm, tôi suy ngẫm về hoàn cảnh của mình và đắn đo về những bước đi phải thực hiện. Tôi nhận ra quá nhiều khó khăn bủa vây tứ phía, những phiền muộn tôi từng gánh chịu đã tác động quá mạnh mẽ đến tâm trạng, và sức khỏe của tôi khi ấy ở trong tình trạng tồi tệ đến mức tôi hoàn toàn gục ngã, và hiệu ứng từ sự nhụt chí đã tước đi chút tài nguyên nhỏ nhoi còn sót lại trong tâm trí – thứ nhờ đó tôi có thể thoát khỏi hoàn cảnh ảm đạm của mình tốt nhất có thể. Dù trốn chạy vào bất kỳ chốn dung thân nào, việc tránh né một trong hai phương thức dùng để trục xuất tôi dường như là bất khả thi. Một trong số đó là kích động đám đông bằng các mưu mô ngầm; và phương thức còn lại là tống cổ tôi bằng vũ lực công khai, chẳng thèm đưa ra bất kỳ lý do nào. Do đó, tôi không thể dựa dẫm vào một cuộc rút lui an toàn, trừ khi tôi đi xa hơn để tìm kiếm nó vượt quá tầm sức và thời tiết cho phép. Những tình tiết này một lần nữa gợi lại trong ký ức những ý tưởng từng xuất hiện gần đây, khiến tôi ước gì những kẻ bức hại hãy kết án mình chịu hình phạt tù vĩnh viễn còn hơn buộc tôi phải không ngừng lang thang trên mặt đất qua việc liên tục trục xuất tôi khỏi những chốn dung thân tôi chọn lựa: và vì mục đích đó, tôi đưa ra cho họ một đề xuất. Hai ngày sau bức thư đầu tiên gửi M. de Graffenried, tôi viết cho ông bức thứ hai, mong muốn ông trình bày những gì tôi vừa đề xuất lên các ngài đại sứ. Hồi âm từ Berne cho cả hai là một mệnh lệnh, được cấu tứ bằng những từ ngữ trang trọng và khắc nghiệt nhất, yêu cầu rời khỏi hòn đảo và rời khỏi mọi lãnh thổ, trực tiếp lẫn gián tiếp của nền cộng hòa, trong khoảng thời gian hai mươi tư giờ, và không bao giờ được phép đặt chân trở lại dưới những hình phạt nặng nề nhất.
Đó là một khoảnh khắc kinh hoàng. Kể từ thời điểm đó tôi từng trải qua những đớn đau lớn lao hơn, nhưng chưa bao giờ cảm thấy bối rối hơn thế. Điều làm tôi đau đớn nhất chính là việc bị ép buộc phải từ bỏ dự án từng khiến tôi khao khát được trải qua mùa đông trên hòn đảo. Đã đến lúc tôi phải thuật lại giai thoại chí mạng đã hoàn tất những thảm họa của mình, và kéo vào trong đống đổ nát của tôi một dân tộc bất hạnh – những kẻ có đức hạnh đang chỗi dậy từng hứa hẹn sẽ sánh ngang với Rome và Sparta. Tôi từng nhắc đến người Corsica trong tác phẩm ‘Khế ước Xã hội’ như một dân tộc mới mẻ, quốc gia duy nhất ở châu Âu chưa quá tàn tạ cho việc lập pháp, đồng thời bày tỏ niềm hy vọng lớn lao về một dân tộc như thế, nếu họ may mắn sở hữu một nhà lập pháp uyên bác. Tác phẩm của tôi được đọc bởi một số người Corsica, những người nhận thức được cách thức vinh dự mà tôi từng dùng để nhắc đến họ; và sự cần thiết mà họ tự thấy trong việc nỗ lực thiết lập nền cộng hòa đã khiến các thủ lĩnh của họ nghĩ đến việc thỉnh cầu tôi đưa ra những ý tưởng về vấn đề này. M. Buttafuoco – thuộc một trong những gia đình danh giá nhất xứ sở kiêm đại úy người Pháp trong Trung đoàn Quân đội Ý – đã viết thư cho tôi về điều đó, đồng thời gửi cho tôi vài tài liệu mà tôi từng yêu cầu để tìm hiểu lịch sử quốc gia và tình hình đất nước. M. Paoli cũng viết thư cho tôi vài lần, và dẫu cảm thấy một sứ mệnh như thế vượt quá năng lực của mình, tôi nghĩ bản thân không thể từ chối việc cống hiến sự trợ giúp cho một công trình lớn lao và cao cả như thế, ngay khi tôi thu thập đủ mọi thông tin cần thiết. Đó là nội dung tôi đáp lại cả hai vị quý tộc này, và mối quan hệ thư từ kéo dài cho đến tận lúc tôi ra đi.
Chính xác vào khoảng thời gian đó, tôi hay tin nước Pháp đang cử quân đội sang Corsica và đã ký kết một hiệp ước với người Genoa. Hiệp ước và việc cử quân đội này mang lại cho tôi sự bất an, và dù không tưởng tượng bản thân có thêm mối liên quan nào với công việc đó, tôi vẫn nghĩ rằng thật bất khả và lố bịch nếu mạo muội lao vào một công trình đòi hỏi sự yên bình tuyệt đối như việc thiết lập chính trị cho một dân tộc ngay vào khoảnh khắc mà có lẽ họ đang đứng bên bờ vực bị đô hộ. Tôi đã không giấu giếm những e dè của mình trước M. Buttafuoco, người sau đó đã xoa dịu chúng qua sự đảm bảo rằng, giả như trong hiệp ước có những điều trái ngược với sự tự do của quốc gia ông, một công dân tốt như ông ta sẽ không tiếp tục phục vụ nước Pháp như ông đang làm. Quả thật, lòng nhiệt thành của ông đối với công cuộc lập pháp của người Corsica cùng mối quan hệ của ông với M. Paoli không thể để lại trong tôi bất kỳ hoài nghi nào về ông; và khi hay tin ông thường xuyên thực hiện các chuyến đi đến Versailles và Fontainebleau, đồng thời có những cuộc trao đổi với M. de Choiseul, tất cả những gì tôi đúc rút từ tổng thể là đối với những ý định thực sự của nước Pháp, ông nắm giữ những sự đảm bảo mà ông ngầm cho tôi hiểu, nhưng không chọn cách công khai giải thích qua thư từ.
Điều đó đã xua đi một phần những e dè của tôi. Tuy nhiên, do không tài nào lĩnh hội nổi ý nghĩa của việc điều động quân đội từ nước Pháp, cũng không thể hợp lý suy diễn rằng họ được cử sang Corsica để bảo vệ tự do cho cư dân – những kẻ tự thân đủ sức bảo vệ tốt đẹp trước người Genoa – tôi chẳng thể nào cảm thấy hoàn toàn nhẹ nhõm, cũng không thể nghiêm túc triển khai kế hoạch lập pháp được đề xuất, cho đến khi nắm giữ những bằng chứng chắc chắn rằng toàn bộ mọi chuyện là nghiêm túc và các bên không hề có ý định đùa cợt với tôi. Tôi vô cùng khao khát một cuộc gặp mặt trực tiếp với M. Buttafuoco, bởi đó chắc chắn là phương thức tốt nhất để chạm đến lời giải thích mà tôi hằng mong muốn. Ông ta từng hứa hẹn điều đó với tôi, và tôi chờ đợi nó với sự thiếu kiên nhẫn tột độ. Tôi không rõ liệu ông ta có thực sự định gặp tôi hay không; nhưng giả sử điều đó có thật đi nữa, những bất misfortune của tôi cũng đã tước đi cơ hội tận dụng nó.
Càng cân nhắc về công trình được đề xuất, và càng tiến sâu vào việc khảo sát các tài liệu trong tay, tôi càng nhận ra sự cần thiết phải nghiên cứu tại chỗ dân tộc mà các thiết lập được nhắm đến, thổ nhưỡng nơi họ sinh sống, cùng mọi tình tiết liên quan mà qua đó việc định hình các thiết lập cho phù hợp với họ là điều bắt buộc. Tôi ngày càng nhận thức rõ hơn sự bất khả trong việc thu thập từ xa mọi thông tin cần thiết để dẫn dắt mình. Tôi viết thư bày tỏ điều này với M. Buttafuoco, và ông ta cũng có chung quan điểm. Dù chưa đi đến quyết định chính xác về việc sang Corsica, tôi cũng đã suy ngẫm khá nhiều về những phương thức cần thiết để thực hiện chuyến hải trình ấy. Tôi đề cập nó với M. Dastier – người từng phục vụ trên hòn đảo dưới trướng M. de Maillebois, nên chắc chắn am tường về nó. Ông dùng mọi nỗ lực để can ngăn tôi khỏi ý định này, và tôi thú nhận bản miêu tả đáng sợ mà ông ta vẽ ra về người Corsica cùng đất nước của họ đã làm giảm sút đáng kể khao khát muốn đến sinh sống giữa họ của tôi.
Nhưng khi những cuộc bức hại ở Motiers khiến tôi nghĩ đến việc rời khỏi Thụy Sĩ, khát khao ấy lại được củng cố trở lại nhờ hy vọng cuối cùng tìm thấy giữa những cư dân đảo này sự yên nghỉ bị từ chối ở mọi chốn khác. Chỉ có một điều duy nhất làm tôi hoảng hốt, chính là sự bất kham của tôi đối với đời sống năng động mà mình sắp bị kết án, cùng sự ác cảm mà tôi luôn dành cho nó. Bản tính của tôi, phù hợp cho việc suy ngẫm trong thảnh thơi và cô độc, lại hoàn toàn không phù hợp cho việc cất lời, hành động và giải quyết công chuyện với con người. Tự nhiên – thứ ban tặng cho tôi tài năng thứ nhất – đã từ chối ban cho tôi tài năng thứ hai. Tuy nhiên, tôi cảm thấy rằng ngay cả khi không đóng vai trò trực tiếp và năng nổ trong các vấn đề công cộng, tôi cũng sẽ – ngay khi đặt chân đến Corsica – bị buộc phải nhượng bộ trước mong muốn của dân chúng, và thường xuyên phải hội kiến với các thủ lĩnh. Mục đích của chuyến đi thậm chí đòi hỏi rằng, thay vì tìm kiếm chốn ẩn dật, tôi phải nỗ lực thu thập thông tin mình còn thiếu ngay giữa lòng đất nước. Chắc chắn rằng tôi sẽ không còn làm chủ thời gian của chính mình nữa, và bất chấp ý muốn, bị cuốn vào cơn lốc mà tôi không sinh ra để xoay vần trong đó, tôi sẽ dẫn dắt một cuộc đời đi ngược lại khuynh hướng của bản thân, và chẳng bao giờ xuất hiện mà không mang lại bất lợi. Tôi tiên liệu rằng việc không thể chống đỡ nổi qua sự hiện diện của mình trước những kỳ vọng mà các tác phẩm từng tạo ra trong lòng người Corsica về năng lực của bản thân, tôi sẽ đánh mất danh tiếng giữa họ, và gây tổn hại cho họ hệt như cho chính mình, bị tước đoạt đi sự tín nhiệm mà họ dành cho mình – thứ thiếu vắng nó, tôi không thể tạo ra thành công tác phẩm mà họ kỳ vọng từ ngòi bút của mình. Tôi chắc chắn rằng bằng cách bước ra khỏi quỹ đạo của mình như thế, tôi sẽ trở nên vô dụng đối với cư dân và tự đẩy mình vào cảnh bất hạnh.
Bị tra tấn, bị giã nhừ bởi những trận bão từ mọi hướng, và trong suốt mấy năm qua phải mệt mỏi vì những chuyến hành trình cùng sự bức hại, tôi thấm thía khao khát sự yên nghỉ mà những kẻ thù bạo tàn đã cướp đoạt đi một cách tàn nhẫn: tôi thở dài nhiều hơn bao giờ hết hướng về sự lười nhác ngọt ngào ấy, sự tĩnh lặng dịu êm của thể xác lẫn tâm trí mà tôi từng khao khát biết bao, và hướng về nó – giờ đây khi đã hồi phục khỏi những ảo mộng về tình yêu và tình bạn – trái tim tôi giới hạn hạnh phúc tối thượng của mình ở đó. Tôi nhìn ngắm với nỗi kinh hoàng công trình mình sắp sửa khởi xướng; đời sống hỗn loạn mà tôi sắp bước chân vào làm tôi run rẩy, và nếu sự vĩ đại, vẻ đẹp cùng tính hữu ích của mục tiêu khích lệ lòng dũng cảm của tôi, thì sự bất khả trong việc chinh phục biết bao khó khăn lại tước đi nó hoàn toàn.
Hai mươi năm suy ngẫm uyên thâm trong cô độc hẳn sẽ ít đau đớn đối với tôi hơn là sáu tháng sống năng nổ giữa con người và các vấn đề công cộng, với sự chắc chắn về việc không đạt được thành công trong sứ mệnh.
Tôi nghĩ đến một phương sách dường như phù hợp để xua tan mọi khó khăn. Bị săn đuổi bởi những mưu mô ngầm từ đám kẻ thù giấu mặt đến bất kỳ chốn dung thân nào tôi lui về, và chẳng nhìn thấy nơi nào khác ngoài Corsica – nơi tôi có thể hy vọng tìm thấy sự yên nghỉ ở những năm tháng xế chiều mà từ trước tôi bị tước đoạt ở mọi nơi – tôi quyết định đến đó theo những chỉ dẫn của M. Buttafuoco ngay khi có thể, nhưng sống ở đó trong sự yên bình; từ bỏ bề ngoài mọi thứ liên quan đến lập pháp, và phần nào để đáp lễ lòng hiếu khách từ những người chủ nhà, tôi sẽ giới hạn bản thân trong việc viết lách tại vùng đất ấy bộ lịch sử về người Corsica, đồng thời ngầm ấp ủ trong đầu ý định thầm lặng thu thập những thông tin cần thiết để trở nên hữu ích hơn cho họ nếu tôi nhận thấy xác suất thành công. Bằng cách này, thông qua việc không dấn thân vào một cam kết nào, tôi hy vọng sẽ tự trang bị cho mình khả năng suy ngẫm trong bóng tối tốt hơn và thoải mái hơn về một kế hoạch có thể hữu ích cho mục đích của họ, và điều đó diễn ra mà không phá vỡ quá nhiều chốn cô độc yêu dấu, cũng như không phải cúi đầu trước một lối sống mà tôi luôn thấy không thể chịu nổi.
Nhưng chuyến đi ấy – trong hoàn cảnh của tôi – không phải là một điều dễ dàng để vượt qua. Dựa theo những gì M. Dastier từng kể về Corsica, tôi không thể kỳ vọng tìm thấy ở đó những tiện nghi sinh hoạt tối giản nhất, ngoại trừ những thứ tôi tự mang theo; vải vóc, quần áo, chén đĩa, dụng cụ nhà bếp và sách vở, tất cả đều phải được vận chuyển đến đó. Để tự mình đến đó cùng nữ quản gia, tôi phải băng qua dãy Alps, và trong một chuyến hành trình dài hai trăm dặm lê lết theo sau toàn bộ hành lý; tôi cũng phải vượt qua lãnh thổ của nhiều quốc vương, và theo gương được thiết lập cho toàn bộ châu Âu, dựa trên những gì đã giáng xuống đầu mình, tôi tự nhiên phải kỳ vọng sẽ chạm trán những chướng ngại vật ở mọi ngã rẽ, và rằng mỗi quốc vương sẽ nghĩ rằng việc vùi dập tôi bằng vài lăng mạ mới và vi phạm nơi thân thể tôi mọi quyền lợi của con người lẫn nhân đạo chính là cách mang lại vinh danh cho bản thân. Chi phí khổng lồ, sự mệt mỏi cùng rủi ro từ một chuyến đi như thế đòi hỏi sự cân nhắc trước và đong đếm mọi khó khăn là bước đi cần thiết đầu tiên. Ý tưởng phải ở một mình, và ở độ tuổi của mình, không có nguồn tài nguyên, bị đẩy xa khỏi mọi người quen, và phó mặc cho sự định đoạt của đám người bán dã man và hung hãn ấy – hệt như M. Dastier từng miêu tả cho tôi – đã đủ sức khiến tôi phải đắn đo trước khi quyết định phơi mình trước những hiểm nguy đó. Tôi vô cùng khao khát cuộc gặp mặt mà M. Buttafuoco từng thắp lên hy vọng cho tôi, và tôi chờ đợi kết quả của nó để dẫn đường cho quyết định của mình.
Trong lúc tôi còn chần chừ như thế thì những cuộc bức hại ở Motiers ập đến, buộc tôi phải thoái lui. Tôi hoàn toàn chưa chuẩn bị cho một chuyến đi dài ngày, nhất là đến Corsica. Tôi mong chờ tin tức từ Buttafuoco; tôi tìm kiếm chốn dung thân trên đảo St. Peter, nơi tôi bị tước đoạt ngay lúc đầu mùa đông hệt như tôi từng tường thuật. Dãy Alps ngập tràn tuyết trắng khi ấy làm cho cuộc di cư trở nên bất khả thi, nhất là với sự khẩn trương được đòi hỏi từ tôi. Sự khắc nghiệt thái quá từ một mệnh lệnh như thế quả thực làm cho việc thi hành nó trở nên gần như bất khả; bởi vì giữa chốn cô độc bị cô lập ấy, được bao bọc bởi nước, và chỉ có vỏn vẹn hai mươi tư giờ sau khi nhận được mệnh lệnh để chuẩn bị cho việc ra đi, tìm kiếm thuyền bè cùng phương tiện di chuyển để rời khỏi hòn đảo cùng lãnh thổ, giả sử tôi có mọc cánh thì cũng khó lòng tuân thủ nổi. Tôi viết thư tường thuật điều này cho quan chấp phán xứ Nidau để đáp lại bức thư của ông, và vội vã rời khỏi một vùng đất đầy rẫy sự bất công. Bằng cách này, tôi buộc phải từ bỏ dự án ưa thích của mình, vì lý do đó, khi không thể thuyết phục những kẻ bức hại định đoạt số phận tôi theo cách khác giữa lúc ngặt nghèo, tôi quyết định – theo lời mời gọi từ lãnh chúa nguyên soái – thực hiện một chuyến đi đến Berlin, để lại Theresa trải qua mùa đông trên đảo St. Peter cùng sách vở và đồ đạc, đồng thời ký gửi tài liệu của mình vào tay M. du Peyrou. Tôi hành động khẩn trương đến mức sáng hôm sau tôi rời khỏi hòn đảo và đặt chân đến Bienne trước trưa. Một tai nạn mà tôi không thể bỏ qua mà không nhắc đến suýt chút nữa đã chấm dứt chuyến đi của tôi tại đây.
Ngay khi tin tức về việc tôi nhận được mệnh lệnh rời khỏi chốn dung thân lan truyền, tôi nhận được vô số chuyến thăm từ vùng lân cận, đặc biệt là từ cư dân Berne – những kẻ kéo đến với những lời dối trá đáng ghê tởm nhằm nịnh hót và xoa dịu tôi, quả quyết rằng những kẻ bức hại đã chớp lấy thời điểm kỳ nghỉ của viện nguyên lão để kiếm chác và tống đi mệnh lệnh – thứ mà họ bảo đã khơi mào sự phẫn nộ trong khối hai trăm. Một vài kẻ an ủi đến từ thành phố Bienne – một tiểu quốc gia tự do nằm trong lãnh thổ Berne – và trong số đó có một thanh niên tên là Wildremet thuộc dòng dõi quý tộc hàng đầu và nắm giữ uy tín lớn nhất tại thành phố đó. Wildremet thiết tha nài nỉ tôi nhân danh các đồng công dân của hắn hãy chọn chốn lui về giữa lòng họ, đồng thời đảm bảo rằng họ khao khát điều đó đến nhường nào, và rằng họ sẽ xem việc làm cho tôi quên đi những bức hại từng gánh chịu là một vinh dự cùng bổn phận; rằng ở đó tôi chẳng có gì phải sợ hãi trước ảnh hưởng từ người Berne, rằng Bienne là một thành phố tự do được cai quản bởi luật pháp riêng, và các công dân đồng lòng quyết định không lắng nghe bất kỳ sự xúi giục nào mang tính bất lợi cho tôi.
Wildremet nhận ra mọi lời hắn thốt ra đều vô ích, bèn lôi kéo thêm nhiều cá nhân khác, từ Bienne lẫn vùng phụ cận cho đến Berne; thậm chí, và trong số đó có chính cái lão Kirkeberguer mà tôi từng nhắc đến, kẻ – sau khi tôi lui về ẩn dật ở Thụy Sĩ – từng nỗ lực giành lấy sự kính trọng của tôi và qua các tài năng lẫn nguyên tắc đã làm tôi quan tâm đến hắn. Nhưng tôi nhận được những lời nài nỉ ít ngờ tới hơn và trọng lượng hơn từ M. Barthes – thư ký đại sứ quán Pháp – kẻ đến cùng Wildremet để thăm tôi, và khuyên tôi nên chấp nhận lời mời của hắn, đồng thời làm tôi ngạc nhiên qua nỗi quan tâm sống động và dịu dàng mà hắn dành cho hoàn cảnh của tôi. Tôi không quen biết M. Barthes; tuy nhiên tôi nhận ra trong những lời hắn thốt ra sự nồng nhiệt cùng lòng nhiệt thành của tình bạn, và rằng hắn đặt tâm huyết vào việc thuyết phục tôi định cư ở Bienne. Hắn đưa ra những lời ca ngợi khoa trương nhất về thành phố cùng cư dân ở đó – những kẻ được hắn thể hiện sự gắn bó mật thiết đến mức gọi họ trước mặt tôi bằng danh xưng người bảo hộ và những người cha.
Điều này từ Barthes làm tôi chìm đắm trong những phỏng đoán bối rối. Tôi vẫn luôn hoài nghi M. de Choiseul là thủ phạm ngầm đằng sau mọi cuộc bức hại tôi phải gánh chịu ở Thụy Sĩ. Hành vi của viên cư dân Geneva và vị đại sứ ở Soleure càng củng cố thêm hoài nghi của tôi; tôi nhận ra ảnh hưởng ngầm của nước Pháp trong mọi sự kiện giáng xuống đầu mình ở Berne, Geneva và Neuchatel, và tôi không nghĩ mình sở hữu bất kỳ kẻ thù hùng mạnh nào ở vương quốc đó ngoài Công tước de Choiseul. Thế thì tôi phải nghĩ gì về chuyến thăm của Barthes cùng nỗi quan tâm dịu dàng mà hắn dành cho sự an sinh của tôi? Những bất hạnh của tôi chưa phá hủy đi niềm tin vốn tự nhiên trong trái tim, và tôi vẫn phải học hỏi từ kinh nghiệm để vạch trần những cái bẫy ẩn giấu dưới vỏ bọc tình bạn. Tôi ngạc nhiên tìm kiếm lý do cho sự nhân hậu của M. Barthes; tôi không đủ ngớ ngẩn để tin rằng hắn hành động tự phát; trong phong thái của hắn có điều gì đó phô trương, thậm chí là sự ra vẻ tuyên bố một ý định bị che đậy, và tôi còn lâu mới tìm thấy ở bất kỳ tiểu nhân viên cấp dưới nào sự quả cảm hào phóng từng khơi mào một cơn sục sôi trong tim tôi thuở tôi còn làm ở một chức vụ tương tự. Tôi từng quen biết đôi chút về Chevalier Beauteville tại lâu đài Montmorency; ông ta từng bày tỏ những dấu hiệu kính trọng với tôi; kể từ khi được bổ nhiệm làm đại sứ, ông từng trao cho tôi bằng chứng về việc không hoàn toàn quên lãng tôi, đi kèm lời mời gọi đến thăm ông ở Soleure. Dù không chấp nhận lời mời ấy, tôi vẫn vô cùng thấm thía sự lịch thiệp của ông, do chưa quen với việc được đối xử bằng sự tử tế như thế từ những kẻ nắm quyền. Tôi phỏng đoán M. de Beauteville – bị buộc phải tuân theo chỉ thị liên quan đến các vấn đề của Geneva, nhưng vẫn thương xót cho những bất hạnh của tôi – đã qua những chăm sóc riêng tư chuẩn bị cho tôi chốn dung thân ở Bienne, để tôi có thể sống ở đó trong yên bình dưới sự bảo hộ của ông. Tôi thấm thía sự quan tâm của ông, nhưng không muốn trục lợi từ nó và hoàn toàn quyết định thực hiện chuyến đi đến Berlin, tôi khao khát khoảnh khắc được diện kiến lãnh chúa nguyên soái, đinh ninh rằng từ nay mình sẽ tìm thấy sự yên bình đích thực và hạnh phúc trường tồn ở ngay bên cạnh ông.
Khi rời khỏi hòn đảo, Kirkeberguer đồng hành cùng tôi đến Bienne. Tôi gặp Wildremet và những người Biennois khác đang chờ đợi tôi bước xuống thuyền bên mép nước. Tất cả chúng tôi cùng dùng bữa tại quán trọ, và ngay khi đặt chân đến đó, việc đầu tiên của tôi là tìm kiếm một chiếc xe ngựa với quyết tâm lên đường vào ngày hôm sau. Trong lúc chúng tôi đang dùng bữa, những vị quý tộc này lặp lại lời nài nỉ nhằm thuyết phục tôi ở lại với họ, và điều đó diễn ra với sự nồng nhiệt cùng những lời đảm bảo nhả ý đến mức bất chấp mọi quyết định, trái tim tôi – vốn chưa bao giờ đủ sức chống chọi lại những sự quan tâm thân thiện – đã nhận lấy ấn tượng từ họ; khoảnh khắc họ nhận ra tôi đã bị lay động, họ nhân đôi nỗ lực với hiệu quả lớn lao đến mức cuối cùng tôi cũng khuất phục và đồng ý ở lại Bienne, ít nhất là cho đến mùa xuân.
Wildremet lập tức bắt tay vào việc tìm kiếm nhà trọ cho tôi, và khoe khoang như thể vừa phát hiện ra một điều kỳ diệu, về một căn phòng nhỏ bẩn thỉu nằm ở phía sau ngôi nhà thuộc tầng ba, nhìn ra khoảng sân trong, nơi có tầm nhìn ra bãi phơi da thuộc hôi thối của một thợ thuộc da. Chủ nhà của tôi là một kẻ có bề ngoài đê tiện và mang nhiều nét của một tên vô lại; ngày hôm sau khi chuyển đến nhà hắn, tôi hay tin hắn là một kẻ ăn chơi trác táng, cờ bạc và có uy tín tồi tệ trong vùng. Hắn chẳng có vợ, con hay người hầu nào, và tự giam mình trong căn phòng cô độc, tôi thấy mình đang ở giữa một trong những vùng đất dễ chịu nhất châu Âu, trọ trong một cảnh ngảnh khiến tôi chỉ muốn chết vì u sầu trong vòng vài ngày. Điều làm tôi tổn thương nhất chính là việc bất chấp những gì tôi từng nghe về khao khát thiết tha của cư dân trong việc thu nhận tôi giữa lòng họ, tôi không hề nhận ra – khi bước qua những con đường – bất kỳ sự lịch thiệp nào trong phong thái của họ hay sự nhã nhặn trong ánh nhìn. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết định ở lại đó; nhưng tôi hay tin, chứng kiến và cảm nhận ngay ngày hôm sau rằng trong thành phố đang sục sôi một cơn bão kinh hoàng, và chính tôi là nguyên nhân của nó. Vài cá nhân vội vã báo tin cho tôi một cách tử tế rằng ngày hôm sau tôi sẽ nhận được một mệnh lệnh được cấu tứ bằng những từ ngữ khắc nghiệt nhất, yêu cầu lập tức rời khỏi bang, nghĩa là thành phố. Tôi chẳng có lấy một ai để tin cậy; những kẻ từng giữ chân tôi đều tản mác. Wildremet biến mất; tôi không còn nghe ngóng gì về Barthes nữa, và có vẻ như sự giới thiệu của hắn đã không mang lại cho tôi sự sủng ái lớn lao từ những kẻ từng được hắn tôn vinh là người bảo hộ và những người cha. Một lão M. de Van Travers – một người Berne sở hữu một ngôi nhà dễ chịu không xa thành phố – ngỏ ý mời tôi đến đó làm chốn dung thân, hy vọng rằng ở đó tôi có thể tránh khỏi việc bị ném đá. Lợi ích từ lời đề nghị này không đủ hấp dẫn để cám dỗ tôi kéo dài thời gian cư ngụ giữa những con người hiếu khách này.
Tuy nhiên, vì lãng phí ba ngày qua sự chậm trễ, tôi đã vượt quá khoảng thời gian hai mươi tư giờ mà người Berne ban tặng để rời khỏi lãnh thổ của họ, và hiểu rõ sự khắc nghiệt của họ, tôi không tránh khỏi những e dè liên quan đến cách thức họ cho phép tôi băng qua lãnh thổ, thì quan chấp phán xứ Nidau kịp thời xuất hiện và giải cứu tôi khỏi sự bối rối. Do phản đối gay gắt các hành động bạo lực từ các ngài đại sứ, ông nghĩ rằng trong lòng hào hiệp, ông nợ tôi một bằng chứng công khai về việc không dính líu đến chúng, và có đủ dũng khí rời khỏi hạt của mình để đến thăm tôi ở Bienne. Ông trao cho tôi ân huệ này vào buổi tối trước ngày tôi lên đường, và chẳng những không ngụy trang lén lút mà còn làm ra vẻ long trọng, đến nơi in fiocchi bằng xe ngựa cùng viên thư ký, mang theo một hộ chiếu chính danh để tôi có thể băng qua lãnh thổ Berne một cách thoải mái và không sợ bị quấy rầy. Tôi còn thấy phấn khích trước chuyến thăm này hơn cả tấm hộ chiếu, và hẳn sẽ thấu hiểu giá trị của nó nếu nó hướng đến bất kỳ cá nhân nào khác trên đời. Chẳng có gì tạo ra ấn tượng lớn hơn lên trái tim tôi bằng một hành động dũng cảm đúng lúc bảo vệ kẻ yếu bị áp bức bất công.
Cuối cùng, sau khi vất vả lắm mới kiếm được một chiếc xe ngựa, sáng hôm sau tôi rời khỏi vùng đất dã man này trước khi phái đoàn mà tôi dự định vinh danh kịp đến nơi, thậm chí trước cả khi gặp được Theresa – người mà tôi từng viết thư kêu gọi đến với mình khi nghĩ rằng sẽ ở lại Bienne, và người mà tôi chỉ có chút thời gian ngắn ngủi để gửi thư hủy bỏ qua một bức thư ngắn thông báo về thảm họa mới của mình. Trong phần thứ ba của bộ hồi ký, nếu tôi đủ khả năng viết ra chúng, tôi sẽ tường thuật lại phương thức – qua việc tưởng rằng đang lên đường sang Berlin – tôi thực sự khởi hành sang Anh quốc, cùng những phương thức mà hai vị phu nhân muốn định đoạt số phận của tôi, sau khi dùng mưu mô đẩy tôi khỏi Thụy Sĩ – nơi tôi không nằm đủ trong tầm kiểm soát của họ – cuối cùng đã tống tôi vào tay người bạn của họ.
Tôi thêm vào những dòng sau khi đọc bản hồi ký trước mặt ông bà Bá tước xứ Egmont, Hoàng tử Pignatelli, Nữ hầu tước xứ Mesme cùng Hầu tước xứ Juigne.
Tôi đã viết ra sự thật: nếu bất kỳ ai từng nghe về những điều trái ngược với những gì tôi vừa trình bày, dẫu chúng được chứng minh nghìn lần đi chăng nữa, thì kẻ đó đã nghe phải những lời vu khống và dối trá; và nếu hắn từ chối triệt để kiểm tra và so sánh chúng với tôi ngay trong lúc tôi còn sống, hắn không phải là bạn của công lý hay sự thật. Về phần tôi, tôi công khai và không chút sợ hãi tuyên bố rằng bất kỳ ai, ngay cả khi chưa đọc các tác phẩm của tôi, đã tự mình kiểm chứng qua đôi mắt của mình các đặc điểm tính cách, phong thái, hạnh kiểm, khuynh hướng, niềm vui và thói quen của tôi, rồi phán xét tôi là một kẻ bất lương, thì chính bản thân hắn là một kẻ xứng đáng lên đoạn đầu đài.
Tôi khép lại như thế, và tất cả mọi người đều chìm trong im lặng; phu nhân d’Egmont là người duy nhất dường như bị dao động; bà rõ ràng run rẩy, nhưng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và im lặng hệt như những người khác trong nhóm. Đó chính là những thành quả từ buổi đọc sách và tuyên bố của tôi.
[LƯU Ý: Dưới đây là danh sách ngắn gọn các mục đánh dấu trang, hoặc gợi ý, dành cho những ai muốn nếm thử các ý tưởng của tác giả trước khi thưởng thức trọn vẹn bữa ăn. D.W.]