[QUYỂN II]
Khoảnh khắc nỗi sợ hãi xúi giục tôi bỏ trốn dường như chẳng hề kinh khủng hơn cảm giác ngập tràn vui sướng khi tôi biến dự định ấy thành hiện thực. Rời xa gia đình, rời xa nguồn củng yểm trợ khi vẫn còn là một đứa trẻ, khi đang giữa thời gian học nghề, trước khi kịp nắm vững công việc để tự mưu sinh; lao đầu vào bao khốn khó và hiểm nguy chực chờ; phơi mình giữa tuổi ngây thơ và yếu đuối trước mọi cám dỗ của thói hư tật xấu và sự tuyệt vọng; dấn thân tìm kiếm sai lầm, bất hạnh, cạm bẫy, nô lệ cùng cái chết; chịu đựng những đày ải khốc liệt hơn cả những thứ tôi đang muốn trốn chạy — đó lẽ ra phải là bức tranh mà tôi tự vẽ ra cho mình, là hệ quả tất yếu của canh bạc liều lĩnh ấy. Thế nhưng, ý nghĩ tôi hình dung về nó lại khác biệt làm sao! Sự độc lập mà tôi tưởng chừng nắm giữ chính là đối tượng duy nhất chiếm lĩnh tâm trí tôi; một khi đã giành được tự do, tôi ngỡ mọi thứ đều trong tầm với. Tôi đầy tự tin bước lên sân khấu lớn của thế gian, nơi mà tài nghệ của tôi sẽ hớp hồn tất cả; ở mỗi bước đi, tôi đều mong đợi tìm thấy những chốn vui chơi, kho báu và phiêu lưu; những người bạn sẵn sàng tận tụy, những bóng hồng nôn nao làm tôi đẹp lòng. Tôi chỉ cần xuất hiện, và cả vũ trụ này sẽ phải quan tâm đến vận mệnh của tôi; không phải là tôi không thể hài lòng với ít hơn thế, một hội đoàn duyên dáng cùng phương tiện vừa đủ cũng có thể làm tôi thỏa mãn. Tính chừng mực của tôi lớn đến nỗi cái không gian tôi định dùng để tỏa sáng có phần thu hẹp, nhưng bù lại, nó phải chứa đựng tinh hoa của sự tận hưởng, và tôi sẽ là nhân vật trung tâm. Đơn cử như một lâu đài đơn độc cũng có thể đóng khung tham vọng của tôi; nếu tôi được làm sủng thần của vị nam tước và phu nhân, người tình của tiểu thư, bằng hữu của công tử, và là ân nhân bảo bọc xóm giềng, tôi hẳn đã thấy vô cùng mãn nguyện và chẳng màng tìm kiếm gì thêm xa xôi.
Trong niềm mong mỏi về cái vận may khiêm nhường ấy, tôi đã trải qua vài ngày ở vùng ngoại vi thành phố cùng một số người nhà quê quen biết, những người đã đón tiếp tôi với lòng ân cần lớn hơn nhiều so với những gì tôi có thể nhận được ở chốn thị thành. Họ chào đón, cho tôi túc xá và nuôi nấng tôi một cách vui vẻ; dẫu có thể coi là tôi đang sống nhờ vào lòng bố thí, nhưng những ân huệ ấy lại không hề đi kèm với bất kỳ vẻ bề trên nào khiến tôi thấy chạnh lòng.
Tôi cứ lang thang như thế cho đến khi tới Confignon, thuộc xứ Savoy, cách Geneva khoảng hai dặm đường. Vị linh mục ở đây tên là M. de Pontverre; cái tên rất đỗi lừng lẫy trong lịch sử nước Cộng hòa ấy đã thu hút sự chú ý của tôi; và vì tò mò muốn biết hậu duệ của những quý tộc thời "Cây thìa" trông ra sao, tôi liền đến viếng thăm vị M. de Pontverre này và được tiếp đón vô cùng lịch thiệp.
Ông ta nói về dị giáo của Geneva, hào hứng giảng luận về uy quyền của thánh mẫu Giáo hội, rồi mời tôi ở lại dùng bữa trưa. Tôi chẳng có mấy điều để phản bác những luận điểm lại dẫn đến một cái kết vô cùng mĩ mãn ấy, và bắt đầu nghiêng về ý nghĩ rằng các linh mục hào phóng những bữa ăn thịnh soạn thế này biết đâu cũng tốt chẳng kém gì các mục sư bên ta. Bất chấp gia phả của M. de Pontverre, tôi quả thực là kẻ uy bác hơn; thế nhưng tôi thèm làm một người bạn tri âm hơn là một nhà thần học uyên thâm. Và thứ rượu Frangi của ông ta, thứ mà tôi thấy ngon tuyệt hảo, đã biện hộ mạnh mẽ đến mức tôi sẽ phải đỏ mặt nếu dám làm câm lặng một người chủ nhà niềm nở đến thế. Do đó, tôi đành nhường phần thắng cho ông, hay nói đúng hơn là từ bỏ cuộc tranh luận. Bất cứ ai quan sát sự cẩn trọng của tôi khi ấy chắc chắn sẽ gọi tôi là kẻ giả hình, dẫu trên thực tế, tôi chỉ đơn thuần là kẻ biết điều.
Nịnh hót, hay đúng hơn là sự uyển chuyển chiều lòng người, không phải lúc nào cũng là thói xấu ở người trẻ tuổi; phần nhiều nó là một đức tính. Khi được đối xử tử tế, việc ta cảm thấy gắn bó với người ban ơn là điều hiển nhiên; chúng ta không hùa theo vì muốn lừa dối, mà vì sợ làm người khác phật ý, hoặc vì muốn tránh cái ơn nghĩa bạc bẽo là lấy oán báo ân. M. de Pontverre có mưu cầu gì đâu khi khoản đãi, tôn trọng và tìm cách thuyết phục tôi? Chẳng có gì ngoài lợi ích của chính tôi; trái tim non trẻ của tôi thấu hiểu điều đó, và tôi ngập tràn lòng biết ơn cùng sự kính trọng dành cho vị linh mục quảng đại ấy. Tôi thừa nhận sự vượt trội của mình, nhưng khinh bỉ việc đáp đền lòng hiếu khách của ông bằng cách lợi dụng nó. Tôi hoàn toàn không có khái niệm giả hình trong sự nhún nhường này, cũng chẳng hề nghĩ đến chuyện cải đạo. Thậm chí, ý nghĩ đó xa lạ với tôi đến mức tôi nhìn nó với một nỗi kinh hoàng dường như loại bỏ hoàn toàn khả năng xảy ra một sự việc như vậy. Tôi chỉ muốn tránh làm tổn thương những người mà tôi cảm nhận được rằng họ đang ve vãn tôi chính vì động cơ ấy; tôi muốn nuôi dưỡng thiện cảm của họ, và trong lúc đó, để họ ôm ấp hy vọng thành công bằng cách tỏ ra ít cảnh giác hơn thực tế. Hành vi của tôi trong vụ việc này phảng phất nét lẳng lơ của một số phụ nữ rất đỗi đoan trang, những người đôi khi khuyến khích những niềm hy vọng mà họ chưa từng định thực hiện, nhằm đạt được điều mình muốn mà không phải cho phép hay hứa hẹn bất cứ điều gì.
Lý trí, lòng đạo đức và tinh thần trật tự chắc chắn đòi hỏi rằng, thay vì được cổ vũ trong sự dại dột, tôi phải được can ngăn khỏi thảm họa mà tôi đang lao đầu vào, rồi được tống về với gia đình. Đó mới là hành xử của một người được thúc đẩy bởi đức hạnh chân chính. Nhưng cần phải thấy rằng, dẫu M. de Pontverre là một người có đạo, ông ta lại chẳng phải là một người đức hạnh; ông ta chỉ là một kẻ cuồng tín, kẻ chẳng biết đức hạnh là gì ngoại trừ việc thờ phụng tượng thánh và lần chuỗi mân côi. Nói tóm lại, ông ta là một dạng truyền giáo viên xem đỉnh cao công đức là việc viết những bài sỉ nhục các mục sư Geneva. Thay vì muốn tống tôi về nhà, ông ta lại tìm cách tiếp tay cho cuộc trốn chạy của tôi, tước đi khả năng quay về ngay cả khi tôi có ý định đó. Tỷ lệ một chọi hàng nghìn là tôi sẽ đi đến chỗ chết đói hoặc trở thành kẻ vô lại, nhưng tất cả những điều đó đều nằm ngoài mối quan tâm của ông ta; ông ta chỉ thấy một linh hồn được giật khỏi vòng tay dị giáo và đưa trở về lòng Giáo hội. Việc tôi là người lương thiện hay tên bịp bợm chẳng có chút ý nghĩa gì, miễn là tôi chịu đi lễ.
Lối suy nghĩ lố bịch này không chỉ độc quyền ở người Công giáo; đó là tiếng nói của mọi thứ tín ngưỡng độc đoán, nơi công đức nằm ở niềm tin chứ không phải ở đức hạnh.
“Cậu được Đấng Tối Cao kêu gọi,” M. de Pontverre bảo tôi; “hãy đến Annecy, nơi cậu sẽ tìm thấy một phu nhân tốt bụng và nhân hậu, người được lòng nhân ái của nhà vua trao cho sứ mệnh cứu vớt các linh hồn khỏi những lầm lạc mà chính bà đã may mắn từ bỏ.” Ông đang nhắc đến bà de Warens, một tân tòng, người mà các linh mục khéo léo sai phái đến những kẻ khốn cùng sẵn sàng bán rẻ đức tin của họ. Và với những kẻ ấy, bà buộc phải chia sẻ một phần khoản tiền trợ cấp hai nghìn franc do Quốc vương Sardinia ban tặng. Tôi cảm thấy vô cùng nhục nhã khi bị xem là kẻ cần đến sự giúp đỡ của một phu nhân tốt bụng và nhân hậu. Tôi chẳng ngại ngùng gì nếu được cung cấp mọi thứ mình đang thiếu, nhưng lại không muốn nhận nó dưới danh nghĩa bố thí; và việc mang món nợ ân huệ này với một ả sùng đạo lại càng tồi tệ hơn. Bất chấp những đắn đo của tôi, những lời thuyết phục của M. de Pontverre, nỗi sợ chết đói, những niềm vui mà tôi tự hứa hẹn từ chuyến đi, và niềm hy vọng đạt được một vị trí đáng mong chờ, tôi đã quyết định lên đường đến Annecy dẫu trong lòng đầy miễn cưỡng. Tôi hoàn toàn có thể đến đó trong một ngày, nhưng vì không quá vội vã, tôi đã mất tới ba ngày. Đầu óc tôi ngập tràn những ý tưởng về các cuộc phiêu lưu, và tôi tiếp cận mọi trang viên trông thấy dọc đường với kỳ vọng biến chúng thành hiện thực. Tôi quá rụt rè để gõ cửa hay thậm chí bước vào dù thấy cửa mở, nhưng tôi đã làm điều duy nhất mình dám làm — đó là cất tiếng hát dưới những khung cửa sổ mà tôi cho là có thiện cảm nhất. Tôi hết sức bối rối khi nhận ra mình đã phí sức vô ích, rằng chẳng có vị tiểu thư hay quý bà lớn tuổi nào bị thu hút bởi sự ngọt ngào trong giọng hát hay tài thơ ca của tôi, dẫu một vài bài hát mà các bạn tôi dạy cho vốn được tôi đánh giá là tuyệt đỉnh và tôi thì hát chúng không ai bì kịp. Cuối cùng, tôi cũng đến được Annecy và diện kiến bà de Warens.
Vì quãng đời này đã phần lớn định hình tính cách tôi, nên tôi không đành lòng lướt qua nó một cách hời hợt. Tôi đang ở giữa tuổi mười sáu, và dẫu không thể gọi là đẹp trai, tôi có một thân hình cân đối so với chiều cao; tôi sở hữu đôi bàn chân đẹp, cẳng chân thon gọn và gương mặt tràn đầy sức sống; chiếc miệng cân đối, tóc và mày đen nhánh, đôi mắt dẫu nhỏ và hơi thụt sâu nhưng lại lấp lánh nét tinh anh, phóng ra thứ ngọn lửa bẩm sinh đang hun đốt dòng máu tôi. Thật bất hạnh cho tôi, tôi chẳng hề hay biết gì về những điều này, chưa từng bận tâm dù chỉ một ý nghĩ về ngoại hình của mình cho đến khi quá muộn để nó có thể mang lại lợi ích gì. Sự rụt rè vốn có ở tuổi tôi lại càng bị nhân lên bởi bản tính lương thiện tự nhiên, thứ khiến tôi khiếp hãi ý nghĩ làm tổn thương người khác. Dẫu tâm trí đã được trau dồi đôi chút, nhưng vì chưa từng trải sự đời, tôi hoàn toàn xa lạ với những phép tắc giao thiệp lịch sự; và những kiến thức tôi tích lũy được, thay vì khỏa lấp khiếm khuyết này, lại chỉ làm tăng thêm sự lúng túng khi khiến tôi nhận thức rõ mọi sự thiếu sót của bản thân.
Do đó, vì chẳng đặt mấy hy vọng vào vẻ bề ngoài, tôi đành trông cậy vào những biện pháp khác: Tôi viết một bức thư vô cùng công phu, nơi tôi pha trộn mọi bông hoa tu từ mượn từ sách vở với những câu chữ của một kẻ tập sự, nhằm gây chú ý và đảm bảo thiện cảm từ bà de Warens. Tôi kẹp bức thư của M. de Pontverre vào lá thư của mình rồi đến diện kiến phu nhân với trái tim đập rộn ràng vì sợ hãi và kỳ vọng. Đó là ngày Chủ nhật Lễ Lá năm 1728; tôi được thông báo rằng bà vừa mới đi nhà thờ. Tôi vội vã đuổi theo, bắt kịp và trò chuyện với bà. — Nơi chốn ấy vẫn còn tươi mới trong ký ức tôi — làm sao có thể khác đi được chứ? Đã bao lần tôi làm ướt nó bằng những giọt nước mắt và che phủ bằng những nụ hôn. — Tại sao tôi không thể bao bọc chốn hạnh phúc ấy bằng vàng, và biến nó thành đối tượng được toàn nhân loại tôn sùng? Bất cứ ai muốn tôn vinh những di tích cứu rỗi nhân loại hẳn sẽ chỉ tiếp cận nơi ấy bằng đầu gối.
Đó là một lối đi ở phía sau ngôi nhà, viền bên trái bởi một con suối nhỏ ngăn cách nó với khu vườn, và bên phải là bức tường sân; tận cùng lối đi là một cánh cửa riêng mở ra nhà thờ dòng Cordeliers. Bà de Warens vừa đi qua cánh cửa này, nhưng khi nghe tiếng tôi liền ngoắt lại ngay lập tức. Khoảnh khắc nhìn thấy bà đã tạo ra một hiệu ứng biết nhường nào! Tôi cứ đinh ninh sẽ gặp một bà già sùng đạo, cau có; vị phu nhân ngoan đạo đáng kính của M. de Pontverre trong tưởng tượng của tôi chẳng thể là ai khác; thế nhưng trái lại, trước mắt tôi là một khuôn mặt rạng ngời vẻ quyến rũ, đôi mắt xanh tuyệt đẹp tràn ngập sự ngọt ngào, làn da trắng ngần lóa mắt, dáng cổ kiêu sa quyến rũ — chẳng có gì lọt qua nổi ánh mắt khao khát của cậu tân tòng trẻ tuổi; ngay khoảnh khắc ấy, tôi đã thuộc về bà! — Một tôn giáo được rao giảng bởi những sứ giả như thế chắc chắn sẽ dẫn đến thiên đàng!
Bức thư của tôi được trao đi bằng bàn tay run rẩy; bà mỉm cười đón lấy, mở ra, liếc qua thư của M. de Pontverre rồi quay lại đọc trọn lá thư của tôi. Bà hẳn đã đọc lại lần nữa nếu người hầu không kịp thông báo rằng buổi lễ sắp bắt đầu. — “Cậu bé,” bà cất lời bằng giọng nói làm rung chuyển từng sợi dây thần kinh của tôi, “cậu bôn ba khi tuổi đời còn quá trẻ — thật là đáng tiếc làm sao!” — và không đợi câu trả lời, bà nói thêm: — “Hãy đến nhà tôi, bảo họ cho cậu chút gì ăn sáng, sau thánh lễ, tôi sẽ nói chuyện với cậu.”
Louise-Eleanora de Warens vốn xuất thân từ dòng dõi quý tộc lâu đời La Tour de Pit ở Vevay, một thành phố thuộc xứ Vaudois. Bà kết hôn khi còn rất trẻ với một người họ de Warens, thuộc gia tộc Loys, con trai trưởng của M. de Villardin ở Lausanne. Cuộc hôn nhân không có con cái ấy hoàn toàn chẳng lấy gì làm hạnh phúc. Một vài nỗi phiền muộn gia đình đã khiến bà de Warens đưa ra quyết định vượt hồ, quỳ gối trước Victor Amadeus, người lúc bấy giờ đang ở Evian; qua đó từ bỏ chồng, gia đình và quê hương bằng một sự bốc đồng tương tự như của tôi, thứ quyết định vội vàng mà chính bà sau này cũng nhận đủ thời gian và lý do để hối tiếc.
Nhà vua, vốn thích ra oai là một kẻ nhiệt thành thúc đẩy đức tin Công giáo, đã nhận che chở cho bà và ban cho khoản trợ cấp mười lăm nghìn livre xứ Piedmont — một khoản phụ cấp đáng kể đối với một vị quân vương chưa từng mang tiếng rộng lượng. Nhưng rồi, nhận thấy lòng rộng rãi của mình khiến thiên hạ đồn đoán rằng ông có tình ý với phu nhân, nhà vua bèn cử một đội hộ vệ tống phu nhân đến Annecy. Tại đây, dưới sự chỉ đạo của Michael Gabriel de Bernex, giám mục danh nghĩa xứ Geneva, bà đã từ bỏ tôn giáo cũ tại Tu viện Thăm Viếng.
Tôi đến Annecy tròn sáu năm sau sự kiện ấy; bà de Warens khi đó mới hai mươi tám tuổi, sinh ra cùng năm với thế kỷ. Vẻ đẹp của bà, nằm ở sự sống động đầy biểu cảm của gương mặt nhiều hơn là những đường nét sắc sảo, đang ở độ rực rỡ nhất; phong thái của bà dịu dàng và đầm thắm; một nụ cười thiên thần vương trên đôi môi nhỏ nhắn, thanh tú. Bà để xõa mái tóc màu cho và đẹp lạ lùng theo một vẻ lãng đãng khiến bà càng trở nên lôi cuốn. Bà thấp người, hơi đẫm đà so với chiều cao, dẫu chẳng hề gây khó chịu chút nào; nhưng sẽ chẳng thể tìm đâu ra một khuôn mặt đáng yêu hơn, một chiếc cổ đẹp hơn, hay đôi tay và cánh tay nào được tạc đẽo tinh tế hơn thế.
Học thức của bà thu nhận từ vô số nguồn khác nhau, tạo nên một sự pha trộn kỳ lạ. Giống như tôi, bà mất mẹ từ khi lọt lòng và tiếp thu kiến thức tùy theo cơ hội đưa đẩy. Bà học được chút ít từ gia sư, chút ít từ cha mình, một chút từ các thầy dạy, nhưng dồi dào nhất là từ những người tình; đặc biệt là một nhân vật tên M. de Tavel, người vừa có gu thẩm mỹ vừa uy thông, đã dùng những vốn liếng đó để tô điểm cho tâm hồn người ông yêu. Những kiến thức hỗn hợp này, vì không được sắp xếp ngăn nắp, nên đã cản trở lẫn nhau, khiến bà không đạt tới trình độ uyên bác mà sự minh mẫn bẩm sinh của bà có thể chạm tới. Bà biết chút ít về triết học và y dược, nhưng chưa đủ để dứt bỏ tình yêu dành cho môn thuật giả kim và y học lang băm mà bà thừa hưởng từ cha mình. Bà tự tay pha chế thuốc trường sinh, cồn thuốc, dầu thơm, đeo bám những bí phương và luyện bùa phép; trong khi bọn bịp bợm và lang băm, lợi dụng sự nhẹ dạ của bà, đã tàn phá tài sản giữa những lò lửa, dược liệu và khoáng chất, làm lu mờ đi những nét duyên dáng và tài năng vốn có thể là niềm kiêu hãnh của những tầng lớp thượng lưu nhất. Nhưng dẫu những kẻ thực dụng ấy đã lợi dụng nền tảng học vấn lệch lạc để che khuất trí tuệ thiên bẩm của bà, thì trái tim tuyệt vời của bà vẫn giữ trọn sự trong sạch. Sự dịu dàng đáng yêu, lòng trắc ẩn với kẻ bất hạnh, sự hào phóng vô bờ bến cùng bản tính bộc trực, vui tươi của bà chưa từng suy suyển. Thậm chí khi tuổi già cận kề, lúc bị bao vây bởi đủ thứ tai ương càng thêm cay đắng vì nghèo khó, sự bình thản trong tâm hồn vẫn giữ lại cho bà nét rạng rỡ dễ chịu của những ngày hạnh phúc nhất suốt đến cuối đời.
Những lầm lỗi của bà bắt nguồn từ một nguồn năng lượng vô tận, đòi hỏi phải được bận rộn không ngừng. Bà chẳng tìm thấy sự thỏa mãn trong những trò mưu mô tình ái thông thường của giới mình; trái lại, được sinh ra cho những hoài bão lớn lao, bà tìm kiếm sự dẫn dắt cho các xí nghiệp và phát minh trọng đại. Ở vị trí của bà, nữ công tước de Longueville chỉ là một kẻ vô tích sự, còn trong hoàn cảnh của nữ công tước de Longueville, bà sẽ cai trị cả giang sơn. Tài năng của bà không đi đôi với vận mệnh; thứ có thể mang lại danh tiếng cho bà ở một tầng lớp cao hơn lại chính là nguyên nhân hủy hoại bà. Trong những dự án phù hợp với tính khí, bà vạch ra kế hoạch trong trí tưởng tượng vốn luôn vươn tới cực hạn; và những phương tiện bà sử dụng, vì thiên về ý tưởng hơn là năng lực thực tế, đã khiến bà thất bại do sự yếu kém trong quản lý của những kẻ bà đặt niềm tin. Bà lụi tàn ở nơi mà người khác họa chăng chỉ chịu chút thiệt hại nhỏ. Bản tính năng động ấy, thứ lôi tuột bà vào bao rắc rối, ít ra cũng mang lại một mặt lợi là ngăn bà không phải chôn vùi phần đời còn lại trong tu viện mà bà từng chọn lựa và dấy lên ý định ghé chân. Cuộc sống đơn điệu và tẻ nhạt của một nữ tu sĩ, cùng những chuyện phiếm vụn vặt nơi phòng khách tu viện, chẳng hề thích hợp với một tâm hồn mạnh mẽ và năng nổ — kẻ mỗi ngày đều đẻ ra những hệ thống mới và cần đến sự tự do để biến chúng thành hiện thực.
Vị giám mục nhân hậu xứ Bernex, dù kém tài hùng biện hơn thánh Francis xứ Sales, lại có nhiều điểm tương đồng với ngài; và bà de Warens, người mà ngài rất mực yêu mến gọi là con gái và có nhiều nét giống với phu nhân de Chantel, hẳn đã có thể nhân đôi sự tương đồng ấy bằng cách ẩn dật khỏi thế gian như bà ấy, nếu không vì sự ghê tởm đối với những trò tiêu khiển rảnh rỗi vô bổ trong tu viện. Không phải sự thiếu nhiệt thành đã ngăn cản người phụ nữ đáng yêu ấy đưa ra những bằng chứng sùng đạo vốn có thể trông đợi ở một tân tòng dưới sự dẫn dắt trực tiếp của một vị giáo chủ. Bất kể điều gì đã thúc đẩy bà cải đạo, bà hoàn toàn thành khẩn với tôn giáo mình vừa ôm ấp; bà có thể tìm thấy lý do để hối hận vì đã từ bỏ đức tin cũ, nhưng tuyệt đối không có ý định quay về với nó. Bà không chỉ ra đi như một tín đồ Công giáo tốt, mà thực sự đã sống trọn vẹn cuộc đời của một người Công giáo. Thậm chí, tôi dám khẳng định (và tôi nghĩ mình có cơ hội thấu thị những bí mật trong tim bà) rằng chỉ vì ác cảm với sự khác người mới ngăn cản bà sùng đạo công khai; tóm lại, lòng đạo của bà quá chân thành nên không hề dung chứa bất kỳ sự giả tạo nào. Nhưng đây không phải là lúc để bàn rộng về các nguyên tắc của bà; tôi sẽ còn tìm thấy những dịp khác để nhắc đến chúng.
Hãy để những kẻ phủ nhận sự cộng hưởng giữa các tâm hồn tự giải thích, nếu họ biết cách, vì sao cái nhìn đầu tiên, câu nói đầu tiên của bà de Warens lại truyền cho tôi không chỉ một sự gắn bó sống động, mà còn cả niềm tin tưởng tuyệt đối chưa từng suy giảm từ đó về sau. Cứ cho đó là tình yêu đi (dẫu điều này có vẻ đáng ngờ với những ai đọc phần tiếp theo của mối quan hệ giữa chúng tôi), thì làm sao thứ tình cảm ấy lại đi kèm với những tâm tình vốn hiếm khi xuất hiện ở buổi ban đầu, chẳng hạn như sự bình yên, thanh thản, an toàn và tin tưởng? Làm sao, khi ngỏ lời với một phụ nữ khả ái, lịch thiệp, kẻ có địa vị xã hội vượt trội tôi quá xa, vượt xa mọi thứ tôi từng tiếp cận, người mà số phận tương lai của tôi phụ thuộc phần lớn vào mức độ quan tâm mà bà dành cho nó — làm sao, tôi hỏi lại, với vô vàn lý do có thể đè bẹp tôi xuống, mà tôi lại cảm thấy tự do, thoải mái đến thế, cứ như thể tôi nắm chắc trong tay việc làm hài lòng bà? Tại sao tôi chẳng hề trải qua chút lúng túng, rụt rè hay gò bó nào? Vốn bản tính nhút nhát, dễ bối rối, chưa từng trải sự đời, làm sao ngay lần đầu tiên, ngay khoảnh khắc đầu tiên diện kiến, tôi lại có thể buông những lời ve vãn và giọng điệu thân mật một cách tự nhiên như thể sau mười năm tri kỷ? Liệu có thể có tình yêu, tôi không nói là không có ham muốn, bởi tôi chắc chắn có, nhưng lại không có sự bất an, không có ghen tuông? Liệu ta có thể tránh khỏi việc nung nấu dẫu chỉ một thoáng mong mỏi được biết tình cảm của mình có được đáp đền hay không? Thế nhưng, một câu hỏi như thế chưa từng xuất hiện trong trí tưởng tượng của tôi; tôi hẳn cũng có thể tự hỏi chính mình rằng: "Liệu mình có yêu bản thân không?". Vả lại, bà cũng chưa từng bày tỏ sự tò mò nào lớn hơn thế. Quả thực có điều gì đó phi thường trong sự gắn bó của tôi với người phụ nữ quyến rũ này, và như phần sau sẽ rõ, một số sự cuồng nhiệt không thể đoán trước đã đi kèm với nó.
Tôi phải làm gì đây, đó là câu hỏi cấp thiết lúc bấy giờ, và để bàn thảo vấn đề này một cách thoải mái hơn, bà đã giữ tôi lại ăn trưa. Đó là bữa ăn đầu tiên trong đời mà tôi trải qua cảm giác mất đi sự thèm ăn. Người nữ gia nhân dọn bàn đã nhận xét rằng đây là lần đầu tiên cô ta thấy một kẻ lữ hành ở độ tuổi và ngoại hình của tôi lại kém cỏi đến thế ở khoản này. Nhận xét đó, dẫu chẳng làm tôi mất điểm trong mắt nữ chủ nhân, lại giáng một đòn đau vào gã nhà quê phàm ăn bấy giờ đang ngồi cùng mâm, kẻ ngốn sạch lượng thức ăn đủ cho ít nhất sáu người ăn vận độ vừa phải. Riêng tôi, tôi quá đỗi say mê nên chẳng nghĩ gì đến chuyện ăn uống; trái tim tôi bắt đầu thấm đượm một cảm giác ngọt ngào chiếm lĩnh toàn bộ con người tôi, không chừa chỗ cho bất kỳ đối tượng nào khác.
Bà de Warens muốn nghe chi tiết về tiểu sử vụn vặt của tôi — toàn bộ sự hoạt bát từng đánh rơi trong suốt thời gian làm thuê đã trở lại và tiếp sức cho lời kể. Tương ứng với mức độ quan tâm mà người phụ nữ tuyệt vời này dành cho câu chuyện, bà tỏ ra thương xót cho số phận mà tôi tự đẩy mình vào; lòng trắc ẩn hiện rõ trên nét mặt và được biểu lộ qua từng hành động. Bà không thể giục tôi quay về Geneva, bởi thừa biết lời nói và việc làm của mình đang bị săm soi gắt gao, và lời khuyên như thế sẽ bị xem là tội phản quốc đối với Công giáo; nhưng bà nói bằng giọng đầy cảm thương về nỗi đau mà tôi gây ra cho cha mình, khiến người ta dễ dàng nhận thấy bà ngầm ủng hộ việc tôi quay về để an ủi ông. Hỡi ôi! Bà đâu ngờ rằng điều đó lại chống lại chính bà một cách mạnh mẽ đến thế; lời lẽ của bà càng có sức thuyết phục bao nhiêu, tôi lại càng không sao dứt lòng khỏi bà bấy nhiêu. Tôi biết rằng quay về Geneva sẽ dựng lên một bức tường ngăn cách không thể vượt qua giữa chúng tôi, trừ khi tôi lặp lại cái mánh khóe từng đưa tôi đến đây, và rõ ràng việc bảo vệ bản thân vẫn hơn là lao đầu vào nguy cơ tái phát. Thêm vào đó, hành vi của tôi đã được định đoạt từ trước: tôi quyết tâm không quay về. Bà de Warens, thấy những nỗ lực của mình trở thành vô ích, bèn dịu giọng lại và chỉ nói thêm với vẻ đầy thương cảm: “Cậu bé tội nghiệp! Cậu phải đi theo sự dẫn dắt của bề trên thôi, nhưng sẽ có ngày cậu nhớ đến tôi.” — Tôi tin rằng lúc đó bà không mảy may hình dung nổi lời tiên tri của mình lại ứng nghiệm một cách cay đắng đến thế.
Vấn đề mưu sinh vẫn còn đó. Như tôi đã đề cập, tôi biết quá ít về nghề chạm khắc để nó có thể trở thành nguồn sống; và giả sử tôi có thành thạo hơn đi nữa, Savoy cũng là một xứ sở quá nghèo nàn để có thể cổ vũ nhiều cho nghệ thuật. Gã phàm ăn kể trên, kẻ vừa ngốn phần ăn hộ chúng tôi lẫn cho chính hắn, sau khi buộc phải dừng lại để nghỉ mơi sau cơn mệt nhọc vì... ăn, liền hiến kế một điều mà theo hắn là từ thiên đường rơi xuống; dẫu qua kết quả thực tế thì nó dường như được đọc lên từ một địa chỉ hoàn toàn ngược lại. Đó là tôi nên đến Turin, nơi tại một bệnh viện dành riêng cho việc dạy dỗ tân tòng, tôi sẽ tìm thấy lương thực cả về tinh thần lẫn thể xác, được hòa mình vào lòng Giáo hội và gặp gỡ những tín đồ bác ái — những người sẽ tận tâm kiếm cho tôi một công việc có lợi. “Về phần chi phí đi lại,” vị quân sư của chúng tôi tiếp lời, “đức cha, đức giám mục của chúng ta, sẽ không tiếc rẻ gì khi phu nhân đã cất lời đề nghị về công việc thánh thiện này; và phu nhân nữ nam tước, người có lòng bác ái nổi danh,” hắn lại tiếp tục cắm cúi ăn, “chắc chắn cũng sẽ đóng góp.”
Tôi chẳng mấy mặn mà với những khoản bố thí này; tôi không nói gì nhưng lồng ngực như muốn vỡ tung vì bực bội. Bà de Warens, người có vẻ không đánh giá cao mưu kế này như gã xướng xuất, chỉ đành phán rằng ai nấy đều nên góp sức thúc đẩy những việc thiện, và bà sẽ tâu lại việc này với đức cha. Thế nhưng cái mầm mống phá hoại lắm chuyện kia, kẻ có tư lợi riêng trong vụ này và nghi ngờ liệu bà có chịu nhiệt tình thúc đẩy theo đúng ý hắn hay không, đã lanh chanh báo tin cho các linh mục quản lý quỹ từ thiện. Hắn gây ảnh hưởng mạnh đến nỗi khi bà de Warens, người vốn không thích chuyến đi này vì lo cho tôi, đem chuyện thưa với giám mục, thì mọi việc đã ngã ngũ đến mức ngài trao ngay khoản tiền được thiết kế sẵn cho chuyến viaticum (lộ phí đi đường) ít ỏi của tôi vào tay bà. Bà chẳng dám lên tiếng phản đối thêm; tôi đang bước đến độ tuổi mà một người phụ nữ như bà không thể xuất hiện với bất kỳ sự quan tâm níu kéo nào cho phải phép.
Sự khởi hành của tôi cứ thế bị định đoạt bởi những kẻ đứng ra nhúng tay vào vận mệnh tôi, và tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc phục tùng; tôi cúi đầu chấp nhận mà không quá miễn cưỡng. Dù Turin nằm xa bà de Warens hơn Geneva, nhưng vì là thủ phủ của xứ sở tôi đang đứng chân, nó dường như có mối liên hệ mật thiết với Annecy hơn là một thành phố thuộc chính quyền khác và tôn giáo đối lập. Hơn nữa, vì thực hiện chuyến đi này theo lệnh của bà, tôi coi mình như đang sống dưới sự bảo ban của bà — điều này có vẻ phỉnh nịnh hơn nhiều so với việc cứ lẩn quẩn quanh vùng lân cận. Tóm lại, ý nghĩ về một chuyến đi xa trùng khớp với niềm đam mê lang thang không tài nào dập tắt được của tôi, thứ vốn bắt đầu trỗi dậy. Vượt qua những dãy núi, trong mắt tôi, là một việc vô cùng thú vị; thật tuyệt vời làm sao khi nghĩ đến cảnh bản thân vươn lên trên những người đồng trang lứa với chiều cao của cả dãy Alps! Được nhìn ngắm thế giới là một cám dỗ gần như không thể cưỡng lại đối với một kẻ sinh ra ở Geneva; thế là tôi gật đầu đồng ý.
Gã đề xuất chuyến đi sẽ lên đường sau hai ngày nữa cùng vợ hắn. Tôi được gửi gắm vào sự chăm sóc của họ; họ đồng thời cũng là những kẻ giữ túi tiền của tôi, khoản tiền đã được bà de Warens bồi đắp thêm. Không dừng lại ở những ân huệ đó, bà còn lén lút tiếp tế thêm tiền bạc kèm theo những hướng dẫn cặn kẽ nhất, rồi chúng tôi khởi hành vào ngày thứ Tư trước lễ Phục sinh.
Hôm sau, cha tôi đến Annecy cùng người bạn của ông là ông Rival, cũng là một thợ sửa đồng hồ. Ông là một người am hiểu văn chương, viết thơ hay hơn La Motte và nói chuyện cũng xuôi tai gần bằng; điều đáng ca ngợi hơn nữa là ông mang phẩm chất vô cùng chính trực, chỉ có điều niềm say mê văn chương lại khiến một trong những người con trai của ông trở thành một diễn viên hài. Khi lần theo dấu vết tôi đến tận nhà bà de Warens, họ thay vì đuổi theo tôi (dù việc đó vô cùng dễ dàng vì họ đi ngựa còn tôi đi bộ) lại chỉ biết cùng bà thở dài ngao ngán cho số phận của tôi.
Bác tôi, ông Bernard, cũng làm y hệt thế. Ông đến Consignon, nhận được tin tôi đã đi Annecy, liền quay đầu trở về Geneva ngay lập tức. Cứ thế, những người thân cận nhất của tôi dường như đã hùa với những vì sao nghịch cảnh để tống tôi vào khốn cùng và hủy diệt. Do sự lơ đễnh tương tự, anh trai tôi cũng mất tích đến độ chẳng ai còn hay biết tung tích.
Cha tôi không chỉ là một người danh dự mà còn cực kỳ liêm khiết, chịu đựng gian khó với sự cao thượng thường đẻ ra những đức tính lừng lẫy nhất. Tôi có thể nói thêm rằng ông là một người cha tốt, đặc biệt yêu thương tôi; nhưng ông cũng ưa chuộng những cuộc vui chơi, và kể từ khi chúng tôi xa cách, những mối quan hệ khác đã làm phai nhạt tình cha con. Ông tái hôn ở Nion, và dù người vợ thứ hai đã quá tuổi để mong có con, bà ta vẫn có họ hàng. Cha tôi vướng vào một gia đình khác, bị vây quanh bởi những mối bận tâm mới, và muôn vàn lo toan đã khiến ông quên béng mất tôi. Ông đã xế bóng cuộc đời và chẳng có gì để chống đỡ những bất tiện của tuổi già; tài sản của mẹ tôi lẽ ra thuộc về tôi và anh trai, nhưng trong lúc chúng tôi vắng nhà, hoa lợi của nó lại bị cha tôi thụ hưởng. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm rằng cân nhắc này chi phối trực tiếp hành vi của ông, nhưng nó có tác động vô hình, ngăn cản ông sử dụng những nỗ lực lẽ ra phải bỏ ra để tóm tôi về. Và tôi nghĩ đó là lý do vì sao khi lần theo dấu vết tôi đến Annecy, ông đã dừng bước mà không tiến tới Chambery, nơi ông gần như chắc chắn sẽ tìm thấy tôi; đó cũng là lời giải thích cho việc mỗi lần ghé thăm ông sau khi bỏ trốn, ông luôn đón tiếp tôi niềm nở nhưng chẳng bao giờ mảy may cố gắng giữ tôi lại.
Cách hành xử này ở một người cha mà tôi vô cùng tin tưởng về lòng yêu thương và đức hạnh đã khơi nguồn cho những suy ngẫm về cách điều chỉnh hành vi của chính tôi, thứ đã góp phần to lớn trong việc bảo vệ sự liêm khiết cho tâm hồn tôi. Nó dạy tôi bài học luân lý vĩ đại này — có lẽ là bài học duy nhất có tác động rõ rệt đến hành động của chúng ta — rằng ta phải luôn cẩn trọng tránh đặt lợi ích của mình lên bàn cân đối đầu với bổn phận, hay tự hứa hẹn hạnh phúc từ những bất hạnh của kẻ khác; bởi ta có thể chắc chắn rằng trong những hoàn cảnh ấy, dẫu tình yêu đức hạnh của ta có thành tâm đến đâu, sớm muộn gì nó cũng sẽ sụp đổ, và ta sẽ vô tình trở thành kẻ bất công, độc ác dẫu ý định ban đầu có ngay thẳng đến đâu chăng nữa.
Phương châm này, được khắc sâu vào tâm trí tôi và được đem ra thực hành (dẫu có phần hơi muộn màng), đã tô điểm cho hành vi của tôi một vẻ ngoài ngớ ngẩn và kỳ quặc, không chỉ trước công chúng mà còn giữa những người quen biết. Người ta bảo rằng tôi ra vẻ độc lạ và thích hành xử khác người; sự thật là tôi chẳng hề cố gắng tỏ ra hòa nhập hay khác biệt, tôi chỉ muốn sống đức hạnh và tránh xa những tình huống có thể đẩy lợi ích của tôi đối kháng với người khác, để rồi khơi dậy trong tôi một ước muốn thầm kín dẫu vô tình nhằm hại họ.
Hai năm trước, Ngài Thống chế suýt điền tên tôi vào di chúc của ông, và tôi đã dùng mọi cách để ngăn cản, khẳng định rằng tôi thà chết chứ không muốn biết mình có tên trong di chúc của bất cứ ai, huống chi là của ông. Ông đành từ bỏ ý định đó, nhưng đổi lại một mực bắt tôi phải nhận một khoản niên kim trọn đời; tôi đành chấp nhận. Người ta sẽ bảo rằng tôi có tính toán vụ lợi trong sự thay đổi này; có lẽ là vậy! Nhưng ôi, vị ân nhân của tôi! Cha ơi, giờ đây con nhận ra rằng nếu con bất hạnh sống sót qua ngài, con sẽ mất tất cả và chẳng được gì.
Trong ý niệm của tôi, đó là triết học chân chính, là thành lũy vững chãi nhất bảo vệ sự chính trực của con người; và mỗi ngày trôi qua tôi lại càng xác tín sâu sắc hơn về tính kiên cố thâm trầm của nó. Tôi đã cố gắng ca tụng nó trong tất cả các tác phẩm hậu bán cuộc đời mình, nhưng đám đông đọc quá hời hợt nên chẳng nhận ra điều đó. Nếu tôi sống sót qua dự án hiện tại và có thể bắt đầu một cuốn sách khác, tôi dự định trong phần tiếp theo của bộ Emilius sẽ đưa ra một ví dụ sinh động và khắc họa đậm nét về phương châm này, đảm bảo sẽ thu hút sự chú ý. Nhưng tôi đã suy ngẫm quá nhiều cho một kẻ lữ hành rồi, đã đến lúc tiếp tục chuyến đi.
Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ hơn tôi tưởng: gã dẫn đường thô lỗ của tôi không hề khó ưa như bề ngoài. Ông ta là một người đàn ông trung niên, búi đuôi sam mái tóc điểm bạc, mang phong thái nhà binh, giọng nói vang khỏe, khá vui tính, và để bù đắp cho việc không được học một nghề nào, ông ta có thể làm tay ngang bất cứ việc gì. Từng đề xuất thành lập một dạng xưởng sản xuất nào đó ở Annecy và được bà de Warens nhiệt liệt ủng hộ, ông ta nay đang trên đường đến Turin để trình bày kế hoạch lên bộ trưởng nhằm xin chuẩn thuận — một chuyến đi mà ông ta đã khéo léo chớp lấy phần thưởng hậu hĩ.
Gã hề này có tài nịnh bợ các linh mục, những người mà hắn luôn tỏ ra sốt sắng phục vụ; hắn học đòi một thứ biệt ngữ khi lui tới với họ và tự cho mình là một nhà truyền giáo lỗi lạc. Hắn thậm chí có thể lặp lại đúng một đoạn Kinh thánh bằng tiếng Latinh, và nó phát huy tác dụng tốt hệt như khi hắn biết cả nghìn câu, bởi hắn lặp lại nó hàng nghìn lần một ngày. Hắn hiếm khi túng tiền nếu biết chiếc túi nào đang cất giấu nó; tuy nhiên, hắn ranh mãnh nhiều hơn là gian xảo, và khi tuôn ra bằng cái giọng điệu ra vẻ ta đây những bài giảng vô nghĩa, trông hắn chẳng khác nào Pierre L'Ermite đang rao giảng về các cuộc Thập tự chinh với thanh gươm đeo bên sườn.
Bà Sabran, vợ hắn, là một người đàn bà tạm ổn; bình yên ban ngày hơn là ban đêm. Do nằm chung phòng, tôi thường xuyên bị làm phiền bởi chứng trằn trọc của bà ta, và sẽ còn bị quấy rầy hơn nữa nếu tôi đủ hiểu nguyên nhân của nó; nhưng tôi đang ở chương sách của sự khờ khạo, để mặc cho tự nhiên lo liệu toàn bộ việc giáo hóa chính mình.
Tôi tiếp tục bước đi vui vẻ cùng người dẫn đường sùng đạo và người bạn đồng hành đầy hứa hẹn của hắn, chẳng có tai họa đen tối nào cản trở hành trình. Tôi đang ở trong hoàn cảnh hạnh phúc nhất cả về thể xác lẫn tinh thần mà tôi từng ghi nhận trong đời: trẻ trung, tràn trề sức khỏe và an yên, đặt niềm tin vô bờ bến vào bản thân lẫn thế giới; ở khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng quyến rũ ấy của đời người, khi nguồn năng lượng cuồn cuộn đẩy bản ngã của chúng ta vươn tới cực điểm của cảm xúc, tô điểm cho toàn bộ tự nhiên bằng một vẻ đẹp không thốt nên lời, tuôn trào từ sự ý thức và tận hưởng sự tồn tại đang trỗi dậy.
Những nỗi băn khoăn dễ chịu của tôi bớt vẩn vơ hơn: tôi giờ đây đã có một đối tượng để trí tưởng tượng bám víu. Tôi nhìn nhận bản thân như tác phẩm, là học trò, là bạn, và suýt chút nữa là người tình của bà de Warens; những lời săn sóc bà từng thốt, những vuốt ve bà từng trao, sự quan tâm dịu dàng bà dành cho mọi thứ liên quan đến tôi, ánh mắt đắm đuối như thể chứa chan tình yêu bởi vì chúng khơi dậy tình yêu một cách mãnh liệt — mọi suy nghĩ đều vỗ về ý niệm của tôi trong suốt chuyến đi này, dâng hiến những mộng mơ ngọt ngào nhất mà không mảy may bị vẩn đục bởi nỗi sợ hãi nào về tương lai. Khi gửi tôi đến Turin, tôi cứ đinh ninh họ cam kết sẽ tìm cho tôi một sinh kế dễ chịu ở đó. Thế là, rũ sạch mọi bận tâm, tôi nhẹ bước đi qua trong lúc những khát khao tuổi trẻ, hy vọng mê hoặc và viễn cảnh rực rỡ chiếm lĩnh tâm trí; mỗi vật thể hiện diện đều như bảo chứng cho hạnh phúc cận kề. Tôi tưởng tượng rằng mọi ngôi nhà đều ngập tràn tiệc tùng hoan hỉ, những đồng cỏ vang dội tiếng trò chơi và hội hè, dòng sông mời gọi những bơi lội sảng khoái, những chú cá ngon lành tung tăng trong làn nước, và thật tuyệt vời làm sao khi lang thang dọc theo bờ hoa thắm! Cây cối oằn trĩu những trái ngon vật lạ, trong khi bóng râm của chúng dâng tặng những chốn ẩn náu đê mê và quyến rũ nhất cho các đôi tình nhân hạnh phúc; những ngọn núi ngập tràn sữa và kem; sự bình yên và rảnh rỗi, tính chất phác và niềm vui hòa quyện với nỗi đê mê của việc đi đến một nơi vô định, và mọi thứ tôi thấu thị đều truyền vào tim tôi một lý do ngây ngất mới. Sự vĩ đại, đa dạng và vẻ đẹp thực sự của khung cảnh phần nào khiến cho sự mê đắm ấy trở nên hợp lý, nơi mà lòng kiêu hãnh cũng chiếm một phần chia sẻ; việc được đến Ý khi còn quá trẻ, được ngắm nhìn một vùng đất rộng lớn và bước theo con đường hành quân của Hannibal qua dãy Alps, dường như là một vinh quang vượt tầm tuổi tác. Thêm vào đó là những lần dừng chân thường xuyên và thú vị với cơn đói bụng ngon lành cùng vô số thức ăn để thỏa mãn nó; bởi thực sự việc gì phải tẻn tò tiết kiệm, ở bàn ăn nhà ông Sabran thì những gì tôi nuốt vào chẳng đáng là bao để mà bị để ý. Trong suốt cuộc đời, tôi không thể nhớ nổi khoảng thời gian nào hoàn toàn vô lo hơn bảy, tám ngày tôi đang đi từ Annecy đến Turin. Vì phải bước đi theo nhịp độ của bà Sabran, nó giống một chuyến dã ngoại dễ chịu hơn là một hành trình mệt mỏi; những ấn tượng ngọt ngào nhất vẫn lưu lại trong tâm trí tôi, và ý niệm về một chuyến đi bộ đường dài, đặc biệt là giữa chốn núi non, từ dạo ấy đã trở nên vô cùng tuyệt diệu trong mắt tôi.
Chỉ trong những ngày hạnh phúc nhất, tôi mới đi bộ, và luôn với sự thỏa mãn vô biên; về sau này, bận rộn với công việc và vướng víu hành lý, tôi buộc phải ra dáng quý ông và thuê xe ngựa, nơi sự lo âu, lúng túng và gò bó chắc chắn là những kẻ đồng hành, và thay vì tận hưởng chuyến đi, tôi chỉ mong mau chóng đến được đích.
Tôi từng có một khoảng thời gian dài ở Paris nuôi ý nguyện tìm kiếm hai người bạn có cùng chí hướng, những người chịu chi ra năm mươi guinea tài sản và một năm thời gian của mình để cùng nhau thực hiện chuyến du khảo nước Ý bằng chân, chẳng mang theo gì ngoài một cậu trai trẻ để vác vật dụng thiết yếu. Tôi từng gặp nhiều kẻ tỏ ra mê mẩn dự án này, nhưng rốt cuộc họ chỉ coi nó như một ý tưởng viển vông để bàn tán chứ chẳng hề có ý định biến nó thành hiện thực. Một ngày nọ, khi tôi hào hứng bàn về dự án này với Diderot và Grimm, họ hăng hái hưởng ứng đến mức tôi cứ tưởng mọi chuyện đã chốt hạ; thế nhưng hóa ra đó chỉ là một chuyến đi trên giấy, nơi Grimm thấy thú vị nhất là việc xúi Diderot thốt ra hàng loạt câu bất kính rồi tống cổ tôi vào Tòa án Dị giáo thay vì chính hắn.
Sự tiếc nuối vì đến Turin quá sớm được đền bù bởi niềm vui được ngắm nhìn một thành phố lớn và niềm hy vọng sẽ tỏa sáng rực rỡ ở đó, bởi bộ óc tôi lúc ấy đã bắt đầu ngây ngất men say quyền lực. Hoàn cảnh hiện tại dường như cao hơn hẳn một kẻ học nghề, và tôi hoàn toàn không lường trước được mình sẽ nhanh chóng tụt xuống dưới đáy ra sao.
Trước khi tiếp tục, tôi phải đưa ra lời xin lỗi hoặc biện minh trước độc giả vì khối lượng lớn những chi tiết nhạt nhẽo mà tôi buộc phải lặp lại. Để tuân thủ quyết tâm công khai phơi bày bản thân này, tôi bắt buộc không được để lại bất kỳ sự mờ ảo hay che giấu nào. Tôi phải liên tục nằm dưới tầm mắt của độc giả, để họ có thể theo chân tôi trong mọi ngóc ngách của tâm hồn, qua từng mê cung của các cuộc phiêu lưu; họ không được phép tìm thấy bất kỳ khoảng trống hay hố thẳm nào trong lời kể của tôi, cũng không được rời mắt khỏi tôi dù chỉ một khoảnh khắc, kẻo họ lại thốt lên rằng lúc đó tôi đang làm gì và nghi ngờ tôi không dám bộc lộ toàn bộ sự thật. Những gì tôi kể đã mở đường rộng rãi cho sự độc ác gièm pha rồi, tôi chẳng cần phải chuốc thêm điều đó bằng sự im lặng của mình.
Số tiền của tôi đã cạn sạch, kể cả khoản lén lút nhận từ bà de Warens; tôi đã thiếu kín đáo đi khoe khoang bí mật ấy và những kẻ dẫn đường đã chớp lấy cơ hội để trục lợi. Bà Sabran tìm cách tước đoạt mọi thứ tôi có, thậm chí cả chiếc ruy băng thêu chỉ bạc mà bà de Warens từng dùng để trang trí chuôi kiếm của tôi — thứ mà tôi tiếc nuối hơn tất thảy những món khác; quả thực, nếu tôi không ngoan cố giữ lại thì thanh kiếm cũng đã bay màu theo nốt. Họ đã hỗ trợ tôi suốt chuyến đi là sự thật, nhưng chẳng để lại cho tôi xu nào khi kết thúc, và tôi đặt chân đến Turin trong cảnh tay trắng, chẳng tiền nong, chẳng quần áo hay khănó, rơi đúng vào hoàn cảnh phải cậy nhờ vào chính tài năng của mình để giành lấy vinh quang của khối tài sản sắp sửa thu phục.
Việc đầu tiên tôi làm là đi trao những bức thư mang theo, rồi nhanh chóng được dẫn đến bệnh viện dành cho các tân tòng để được giáo hóa thứ tôn giáo mà đổi lại, tôi sẽ nhận lấy cơm áo. Vừa bước vào, tôi đi qua một cánh cổng rào sắt ngay lập tức bị khóa trái hai vòng — sự khởi đầu chẳng lấy gì làm hứa hẹn để mang lại cho tôi cái nhìn thiện cảm về hoàn cảnh hiện tại. Sau đó, tôi được dẫn đến một căn phòng lớn, với đồ đạc gồm một bàn thờ bằng gỗ ở phía tận cùng, trên đặt một cây thánh giá lớn và xung quanh là vài chiếc ghế tựa xập xệ làm cùng chất liệu. Tụ họp trong thính phòng này là bốn, năm gã băng cướp mặt mày hung ác, những người bạn đồng môn trong học đường của tôi, những kẻ thà bị bắt làm đầy tớ tin cẩn của ma quỷ còn hơn là ứng viên cho vương quốc thiên đàng.
Chẳng bao lâu sau, họ mở một cánh cổng sắt khác phân rẽ khoảng ban công rộng nhìn xuống khoảng sân trong, và qua lối đi đó, những người chị em tân tòng của chúng tôi bước vào. Giống như tôi, họ sắp được tái sinh, không phải bằng phép báp-têm mà bằng một nghi thức thề từ bỏ đạo nghiêm ngặt. Một bầy ả lười nhác, dơ bẩn và truỵ lạc chưa từng bôi nhọ bất kỳ giáo phái nào đến thế; tuy nhiên, có một ả trông khá xinh xắn và thú vị; ả chắc trạc tuổi tôi, hoặc lớn hơn độ một hai tuổi, sở hữu đôi mắt tinh ranh cứ hết lần này đến lần khác chạm trán với ánh mắt tôi. Nhiêu đó cũng đủ khơi dậy trong tôi ham muốn làm quen, nhưng ả đã được cẩn thận gửi gắm cho mụ quản gia già của hội chị em đáng kính này, lại bị giám sát ngặt nghèo bởi vị tu sĩ nhiệt thành — người miệt mài cải đạo cho ả bằng sự sốt sắng hơn là hiệu quả. Thế nên trong suốt hai tháng chúng tôi cùng trúng tuyển ở ngôi nhà này (nơi ả đã ở đó được ba tháng), tôi thấy hoàn toàn bất khả thi để trao đổi dù chỉ một lời với ả. Ả hẳn phải vô cùng đần độn, dẫu bề ngoài không đến nỗi thế, bởi chưa từng có khóa học giáo lý nào kéo dài đến vậy; vị tu sĩ thánh thiện chẳng tài nào đưa ả đến trạng thái tâm lý thích hợp để tuyên bố từ bỏ tôn giáo; trong khi đó, ả đã chán ngấy tu viện của mình và tuyên bố rằng dù có là Cơ Đốc nhân hay không, ả cũng sẽ không ở lại đây thêm ngày nào nữa. Cuối cùng, họ buộc phải chiều theo ý ả, kẻo ả nổi loạn và khăng khăng bỏ đi với nguyên vẹn tội lỗi như lúc mới bước chân vào.
Cộng đồng đầy hứa hẹn này được tụ họp lại để chào mừng thành viên mới; và các vị hướng dẫn đã ban cho chúng tôi một bài diễn từ ngắn gọn. Tôi được tha thiết cầu xin hãy vâng lời ân huệ mà Thiên đường ban phát; những người khác thì được nhắc nhở hãy hỗ trợ tôi bằng những lời cầu nguyện và làm gương sáng cho tôi. Các trinh nữ của chúng tôi sau đó rút lui về phòng khác, để lại tôi một mình thong thả chiêm ngưỡng nơi chốn mà tôi đang bị giam cầm.
Sáng hôm sau, chúng tôi lại tập trung để học giáo lý. Lần đầu tiên, tôi bắt đầu suy ngẫm về bước đi mà mình sắp thực hiện và những hoàn cảnh đã đẩy tôi dấn thân vào đó.
Tôi lặp lại, và có lẽ sẽ còn lặp lại lần nữa, một xác quyết mà tôi từng đưa ra — điều mà mỗi ngày trôi qua lại củng cố thêm niềm tin — rằng nếu có đứa trẻ nào nhận được một nền giáo dục hợp lý và đức hạnh, thì đó chính là tôi. Sinh ra trong một gia đình có đạo đức không tì vết, mọi bài học tôi nhận được đều ngập tràn châm ngôn về sự thận trọng và đức hạnh. Cha tôi (dù ham chuộng chuyện tình trường) không chỉ sở hữu lòng liêm khiết nổi bật mà còn rất sùng đạo; ở ngoài đời, ông là một người đàn ông chuộng hoan lạc, nhưng trong gia đình, ông là một tín đồ Cơ Đốc và đã sớm cấy vào tâm trí tôi những tình cảm mà ông thấu hiểu sâu sắc. Ba người cô của tôi đều là những phụ nữ đức hạnh và sùng đạo; hai người lớn tuổi hơn là những tín nữ thực thụ, còn người thứ ba, người dung hòa mọi nét duyên dáng của trí tuệ và sự minh mẫn, thậm chí còn thực sự sùng đạo hơn cả hai người kia, dù ít phô trương hơn. Từ vòng tay của gia đình đáng yêu ấy, tôi được chuyển sang nhà mục sư Lambercier — một người tận tụy với chức thánh, kẻ tin vào giáo lý mình truyền dạy và sống đúng với từng lời răn. Ông và chị gái đã vun đắp qua những bài giảng dạy cho các nguyên tắc đạo đức minh mẫn mà tôi đã sớm hấp thụ; và phương pháp của những con người đáng kính ấy được thiết kế hoàn hảo đến mức, thay vì mệt mỏi, tôi hiếm khi lắng nghe những lời răn dạy của họ mà không thấy lòng mình rung cảm sâu sắc, đồng thời tự lập ra những quyết tâm sống đức hạnh — thứ mà ngoại trừ những khoảnh khắc lãng quên, tôi hiếm khi chệch hướng. Ở nhà bác tôi, tôn giáo trở nên tẻ nhạt hơn nhiều vì họ biến nó thành một công việc bắt buộc; còn với ông chủ của tôi, tôi chẳng màng gì đến nó nữa, dẫu tình cảm của tôi vẫn không đổi. Tôi không có bạn bè xấu để làm vẩn đục đạo đức: tôi trở nên lười nhác, bất cẩn và bướng bỉnh, nhưng các nguyên tắc của tôi không hề bị tổn hại.
Do đó, tôi sở hữu lượng tôn giáo nhiều như một đứa trẻ có thể thụ đắc. Tại sao giờ đây tôi phải che giấu suy nghĩ của mình? Tôi tin chắc rằng mình còn có nhiều hơn thế. Thời thơ ấu, tôi không phải là một đứa trẻ; tôi cảm nhận, tôi suy nghĩ như một người trưởng thành: khi lớn lên, tôi hòa nhập vào tầng lớp bình thường; còn lúc nhỏ, tôi tách biệt khỏi số đông. Tôi chắc chắn sẽ rước lấy sự chế giễu khi cứ ngạo mạn tự xem mình là một thần đồng — tôi chấp nhận điều đó. Cứ để những kẻ thích thú cười cợt cười cho đã đời; sau đó, hãy thử tìm cho tôi một đứa trẻ lên sáu biết rung động, quan tâm, bị lay động bởi những tiểu thuyết đến mức khóc trào nước mắt; khi đó tôi sẽ nhận ra sự phù phiếm lố bịch của mình và thừa nhận bản thân đã sai lầm.
Thế nên, khi tôi nói rằng ta không nên trò chuyện về tôn giáo với trẻ em nếu muốn chúng sau này có được đức tin; khi tôi khẳng định chúng không có khả năng hiệp thông với Đấng Tối Cao, ngay cả ở mức độ hạn chế của chúng ta, tôi đã rút ra kết luận từ quan sát chung; tôi biết chúng không áp dụng cho từng trường hợp cá biệt. Hãy tìm một J. J. Rousseau năm sáu tuổi, trò chuyện với chúng về các chủ đề tôn giáo vào năm bảy tuổi, và tôi xin đảm bảo rằng thí nghiệm ấy sẽ chẳng đi kèm với bất kỳ hiểm họa nào.
Ai cũng hiểu, tôi tin là vậy, rằng một đứa trẻ, hay thậm chí một người trưởng thành, có khả năng chân thành nhất khi họ kiên định với tôn giáo mà họ sinh ra và được giáo dục trong đó; chúng ta thường tước bớt chứ hiếm khi bồi đắp thêm cho nó. Đức tin tín điều là hệ quả của giáo dục. Bên cạnh nguyên tắc chung gắn kết tôi với tôn giáo của tổ tiên ấy, tôi còn mang trong mình ác cảm đặc biệt mà thành phố của tôi dành cho Công giáo — nơi tôn giáo này được mô tả như thứ dị giáo quái monstros nhất, và giới giáo sĩ của họ được phác họa bằng những gam màu đen tối nhất. Tình cảm ấy bám rễ sâu đến mức tôi chưa từng dám nhìn vào bên trong những nhà thờ của họ; tôi không chịu nổi cảnh bắt gặp một linh mục mặc áo surplice (áo tu sĩ màu trắng), và chưa từng nghe tiếng chuông của một đám rước mà không run rẩy kinh hoàng. Những cảm giác ấy sớm phai nhạt ở các thành phố lớn, nhưng thường xuyên tái diễn ở những giáo xứ đồng quê vốn mang nhiều điểm tương đồng với nơi tôi lần đầu trải nghiệm chúng. Trong khi đó, nỗi chán ghét này lại tương phản kỳ lạ với ký ức về những cái xoa đầu cưng chiều mà các linh mục quanh vùng Geneva thường ban phát cho trẻ em thành phố ấy. Nếu tiếng chuông mang theo của lễ viaticum làm tôi hoảng sợ, thì tiếng chuông reo báo thánh lễ hoặc kinh chiều lại gọi tôi đến với bữa sáng, những món tráng miệng, hay niềm vui thưởng thức bơ tươi, trái cây hoặc sữa; những món ăn ngon lành của M. de Pontverre đã tạo ra tác động đáng kể lên tôi. Nỗi ác cảm thuở trước bắt đầu suy giảm, và khi nhìn đạo Công giáo qua lăng kính của sự giải trí cùng ăn uống thịnh soạn, tôi dễ dàng dung hòa với ý nghĩ chịu đựng nó, dẫu tôi chưa bao giờ nuôi dưỡng điều gì hơn ngoài một ý định rất đỗi thoáng qua và xa vời về việc thực hiện một nghi thức tuyên bố tôn giáo trang trọng.
Vào khoảnh khắc này, một hành động như thế hiện lên với tất cả sự kinh hoàng của nó; tôi run rẩy trước cam kết mình đã dấn thân vào và những hậu quả tất yếu của nó. Bao kẻ tân tòng tương lai vây quanh tôi chẳng hề đủ sức mạnh để vực dậy lòng dũng cảm qua tấm gương của họ, và tôi không tài nào ngăn mình xem công việc thánh thiện mà mình sắp thực hiện giống như hành vi của một kẻ đê tiện. Dù còn trẻ, tôi dư sức nhận thức rằng dù tôn giáo nào là chân chính đi nữa, tôi cũng đang bán đi đức tin của mình; và dẫu có may mắn chọn trúng đạo tốt nhất, tôi vẫn đang nói dối Chúa Thánh Thần và xứng đáng nhận lấy sự khinh miệt của mọi người lương thiện. Càng ngẫm nghĩ, tôi càng khinh bỉ bản thân và khiếp sợ số phận đã dẫn dắt mình rơi vào hoàn cảnh oái oăm này, cứ như thể hoàn cảnh hiện tại không phải do chính tôi tự chuốc lấy. Có những khoảnh khắc sự cắn rứt ấy mạnh mẽ đến mức nếu tìm thấy cánh cửa mở dù chỉ một thoáng, tôi chắc chắn đã trốn thoát; nhưng điều đó bất khả thi, và quyết tâm cũng chẳng kéo dài lâu, bị đánh gục bởi quá nhiều động cơ thầm kín khiến nó không còn một chút cơ hội chiến thắng nào.
Quyết tâm cứng rắn không quay về Geneva, sự hổ thẹn chực chờ ở đó, khó khăn khi phải vượt qua những ngọn núi, ở xa quê hương, không bạn bè, không nguồn cứu trợ — mọi thứ hùa vào khiến tôi xem sự cắn rứt lương tâm của mình chỉ là một sự ăn năn quá muộn màng. Tôi ra điều trách móc bản thân vì những gì đã làm, tìm kiếm lý do bào chữa cho những gì sắp thực hiện, và bằng cách thổi phồng sai lầm trong quá khứ, tôi nhìn tương lai như một hệ quả tất yếu. Tôi không tự nhủ rằng: "Chưa có gì xảy ra cả, và ngươi vẫn có thể là người lương thiện nếu muốn"; trái lại, tôi nói: "Hãy run rẩy trước tội ác ngươi đã phạm, thứ đẩy ngươi vào sự cần thiết phải lấp đầy chiếc ly tội lỗi của mình."
Đòi hỏi sự quyết tâm lớn hơn nhiều so với bản tính tuổi trẻ để rút lại những kỳ vọng mà tôi đã gieo rắc cho họ, để bẻ gãy những xiềng xích đang cầm tù tôi, và hiên ngang tuyên bố rằng tôi sẽ tiếp tục sống trong tôn giáo của tổ tiên bất kể hậu quả ra sao. Sự việc đã tiến quá xa, và bất chấp mọi nỗ lực của tôi, họ vẫn sẽ tìm mọi cách đưa nó đến hồi kết.
Cái ngụy biện đã hủy hoại tôi ấy cũng tạo ra tác động tương tự lên phần lớn nhân loại — những kẻ chỉ biết than vãn về sự thiếu kiên quyết khi cơ hội thực hành nó đã trôi qua. Việc thực hành đức hạnh chỉ khó khăn do sự cẩu thả của chính chúng ta; nếu ta luôn thận trọng, ta sẽ hiếm khi phải đối mặt với bất kỳ nỗ lực đau đớn nào của nó. Ta bị cuốn hút bởi những ham muốn dễ dàng vượt qua, dễ dãi buông xuôi trước những cám dỗ lẽ ra có thể kháng cự, để rồi vô tình dấn thân vào những hoàn cảnh hiểm nghèo, bối rối — nơi ta chẳng thể thoát ra nổi nếu không tốn kém vô vàn nỗ lực. Bị đe dọa bởi chính nỗ lực ấy, ta rơi tõm xuống vực sâu và gào lên với Đấng Tối Cao: "Tại sao Ngài lại tạo ra chúng con là những sinh linh yếu đuối đến vậy?" Thế nhưng, bất chấp những ngụy biện vô ích của ta, Ngài đáp lại qua tiếng nói lương tâm: "Ta tạo ra các ngươi quá yếu đuối để thoát khỏi vực sâu, bởi vì Ta đã ban cho các ngươi đủ sức mạnh để không ngã xuống đó từ đầu."
Tôi không hoàn toàn quyết tâm trở thành người Công giáo, nhưng vì không cần phải tuyên bố ý định của mình ngay lập tức, tôi dần quen với ý nghĩ đó; trong lúc hy vọng rằng một sự kiện bất ngờ nào đó sẽ cứu tôi khỏi cảnh bối rối này. Để câu giờ, tôi quyết tâm bảo vệ quan điểm của chính mình một cách tốt nhất có thể; nhưng sự phù phiếm nhanh chóng làm cho quyết định này trở nên thừa thãi, bởi khi nhận ra mình thường xuyên làm khó những kẻ chịu trách nhiệm giáo hóa, tôi lại muốn đẩy cao chiến thắng bằng cách đánh gục họ hoàn toàn. Tôi hăng hái theo đuổi kế hoạch, không phải không kèm theo niềm hy vọng lố bịch là có thể cải đạo ngược lại những kẻ cải đạo mình; vì tôi đủ khờ khôi để tin rằng nếu mình thuyết phục được họ về những sai lầm của họ, họ sẽ trở thành người theo phái Kháng cách. Thế nên, họ chẳng thấy công việc này dễ nuốt như từng tưởng tượng, bởi tôi khác biệt cả về ý chí lẫn kiến thức so với những gì họ định hình về tôi.
Những người theo phái Kháng cách nhìn chung được giáo dục kỹ càng hơn về các nguyên tắc tôn giáo của họ so với người Công giáo; lý do rất hiển nhiên: giáo lý của phái trước đòi hỏi phải thảo luận, còn phái sau đòi hỏi sự phục tùng mù quáng. Người Công giáo phải bằng lòng với quyết định của kẻ khác, còn người theo phái Kháng cách phải học cách tự quyết định cho chính mình. Họ không hề mù tịt về điều này, nhưng cả tuổi tác lẫn ngoại hình của tôi chẳng hứa hẹn mấy khó khăn cho những gã đàn ông đã quen với việc tranh biện. Họ cũng biết rằng tôi chưa nhận lễ rước mình đầu tiên, cũng chẳng trải qua những buổi giáo lý đi kèm với nó; nhưng mặt khác, họ chẳng thể ngờ về khối lượng thông tin tôi thu nhận được ở nhà mục sư Lambercier, hay việc tôi đã học thuộc lòng lịch sử giáo hội và đế chế gần như làu lau ở nhà cha mình. Và dẫu từ dạo đó, mọi thứ hầu như đã phai mờ, nhưng khi được khơi mào bởi tranh cãi (vô cùng bất hạnh cho các vị này), chúng lại ùa về trong trí nhớ tôi.
Một vị linh mục già nhỏ thó, nhưng có vẻ đáng kính chấp nhận buổi tranh luận đầu tiên; nơi tất cả chúng tôi được triệu tập. Về phần các bạn đồng môn của tôi, đó giống một buổi học giáo lý hơn là một cuộc đối đầu, và ông ta tốn nhiều công sức để nhồi nhét họ hơn là trả lời các phản biện. Nhưng khi đến lượt tôi, mọi chuyện lại hoàn toàn khác: tôi chặn họng ông ta ở từng điều khoản và không tha bất kỳ điểm nào tôi cho là sẽ tạo ra rắc rối. Điều này khiến buổi tranh luận kéo dài và vô cùng mệt mỏi cho những người có mặt. Vị linh mục già nói rất nhiều, rất hăng hái, thường xuyên lạc đề và tự cứu mình khỏi những khúc mắc bằng cách ngụy biện rằng ông ta không rành tiếng Pháp cho lắm.
Ngày hôm sau, sợ rằng những phản biện không đứng đắn của tôi sẽ làm hỏng tâm trí của những kẻ dễ bảo hơn, tôi được dẫn vào một căn phòng riêng và giao phó cho một vị linh mục trẻ tuổi hơn, một tay hùng biện cừ khôi — tức kẻ thích những câu cú dài dòng rối rắm và tự hào về năng lực bản thân hệt như bất kỳ vị tiến sĩ hợm hĩnh nào. Tuy nhiên, tôi chẳng hề để bản thân bị khuất phục bởi ánh mắt trịch thượng đó; thấu hiểu rằng mình có thể giữ vững lập trận, tôi phản bác các khẳng định của hắn, phơi bày những sai lầm và vung vẩy kiến thức một cách tốt nhất trong khả năng. Hắn tưởng có thể đánh gục tôi ngay lập tức với thánh Augustine, thánh Gregory cùng các giáo phụ khác, nhưng phải nhận lấy sự ngạc nhiên khôn tả khi thấy tôi xử lý những nhân vật này khéo léo chẳng kém gì hắn. Không phải tôi từng đọc qua sách của họ, hay thậm chí chính hắn cũng chưa chắc đọc hết, mà vì tôi lưu giữ vô số đoạn trích lấy từ cuốn sách của Le Sueur; và khi hắn dồn ép tôi bằng một trích dẫn, thay vì đôi co tranh chấp, tôi liền phang lại ngay bằng một trích dẫn khác — phương pháp khiến hắn bối rối tột độ. Cuối cùng, tuy nhiên, hắn vẫn thắng thế nhờ hai lý do cực kỳ nặng ký: thứ nhất, hắn đứng về phe mạnh hơn; trẻ người non dạ nhưng tôi thấy việc dồn hắn vào đường cùng có thể mang lại hiểm họa, bởi tôi thừa thấy vị linh mục già chẳng hề hài lòng với tôi hay sự uy bác của tôi. Thứ hai, hắn đã qua trường lớp nghiên cứu còn tôi thì không; điều đó mang lại một sự bài bản cho luận điểm của hắn mà tôi không tài nào theo kịp. Mỗi khi bị dồn ép bởi một phản biện bất ngờ, hắn liền lảng sang buổi hội thảo tiếp theo với lý do tôi lạc đề. Thậm chí đôi khi hắn bác bỏ toàn bộ các trích dẫn của tôi, khăng khăng rằng chúng là giả mạo, rồi thách tôi tìm ra cuốn sách đối chứng. Hắn thừa biết mình chẳng rủi ro mấy, và với chút kiến thức vay mượn ít ỏi, tôi không đủ thói quen đọc sách cũng như quá kém tiếng Latinh để mò ra một đoạn văn trong cuốn sách khổ lớn, dù có chắc mẩm nó nằm ở đó đi nữa. Tôi thậm chí nghi ngờ hắn từng phạm phải trò bỉ oỉ mà hắn thường buộc tội các mục sư của chúng ta, đó là tựa bịa ra các đoạn trích dẫn nhằm né tránh một phản biện gây bất lợi cho mình.
Trong khi đó, bệnh viện ngày càng trở nên khó chịu với tôi, và chỉ nhìn thấy một lối thoát duy nhất, tôi nỗ lực đẩy nhanh lễ tuyên bố từ bỏ tôn giáo với sự hăng hái hệt như lúc trước tìm cách trì hoãn nó.
Hai gã người Phi đã được rửa tội với nghi lễ hoành tráng, họ khoác lên mình bộ cánh trắng từ đầu đến chân tượng trưng cho sự thanh khiết của những tâm hồn được tái sinh. Đến lượt tôi một tháng sau đó, bởi khoảng thời gian này được các vị giám hộ cho là cần thiết để họ tận hưởng vinh quang của một ca cải đạo khó nhằn; và mọi giáo điều đức tin đều được lặp lại nhằm chiến thắng hoàn toàn sự dễ bảo mới mẻ của tôi.
Cuối cùng, sau khi được giáo dục thỏa đáng và uốn nắn theo ý muốn của các bậc thầy, tôi được đưa đi trong một đám rước đến nhà thờ chính tòa thánh John để thực hiện nghi thức thề từ bỏ tôn giáo trang trọng, trải qua một nghi thức giống hệt lễ báp-têm — thứ phục vụ cho mục đích thuyết phục quần chúng rằng những người theo phái Kháng cách không phải là Ki-tô hữu. Tôi được mặc một dạng áo choàng xám trang trí bằng những đường viền bện kiểu Brandenburg màu trắng. Hai người đàn ông, một đi trước một đi sau, mang những chiếc chậu đồng và liên tục gõ vào chúng bằng một chiếc chìa khóa; những ai có lòng bác ái sẽ thả tiền bố thí vào đó tùy theo sự xui khiến của lòng đạo hoặc thiện ý dành cho tân tòng. Tóm lại, chẳng có màn phô trương Công giáo nào bị bỏ sót nhằm biến sự long trọng ấy thành bài học giáo hóa quần chúng và là sự nhục nhã cho tôi. Bộ cánh trắng vốn có thể hữu ích, nhưng vì tôi không có vinh dự làm người Moors hay người Do Thái, họ không thèm ban phát nó cho tôi.
Sự việc vẫn chưa dừng lại ở đó; giờ đây tôi phải đến Tòa án Dị giáo để được tha thứ tội lỗi tồi tệ của chứng dị giáo, và quay về lòng Giáo hội bằng đúng nghi thức mà vua Henry IV từng phải trải qua trước đại sứ của ông. Phong thái và vẻ mặt của ngài cha bề trên Inquisitor chẳng có chút nào giúp xua tan nỗi kinh hoàng thầm kín đang bóp nghẹt tâm can tôi khi bước chân vào ngôi nhà thánh thiện này. Sau hàng loạt câu hỏi liên quan đến đức tin, hoàn cảnh và gia đình, ngài hỏi thẳng thừng tôi rằng liệu mẹ tôi có bị đày xuống địa ngục không? Nỗi sợ hãi đã đè nén luồng giận dữ bùng nổ ban đầu; nó cho tôi thời gian để trấn tĩnh lại và tôi đáp: "Tôi hy vọng là không, bởi Chúa có thể đã soi sáng những giây phút cuối đời của bà." Vị tu sĩ chẳng đáp lời, nhưng sự im lặng ấy đi kèm với một cái nhìn hoàn toàn không mang chút biểu cảm tán thưởng nào.
Toàn bộ những nghi lễ đó kết thúc, ngay khoảnh khắc tôi mộng tưởng mình sẽ được chu cấp đầy đủ, họ liền khuyến khích tôi tiếp tục làm một Ki-tô hữu tốt và sống vâng phục ân huệ đã nhận. Sau đó, chúc tôi may mắn với hơn hai mươi franc tiền xu lẻ trong túi — sản phẩm của buổi quyên góp kể trên — họ tống cổ tôi ra ngoài, đóng sầm cửa lại và tôi chẳng bao giờ gặp lại họ nữa!
Cứ thế, trong khoảnh khắc, mọi kỳ vọng ngọt ngào của tôi tan thành mây khói; và chẳng còn lại gì từ cuộc cải đạo vụ lợi ngoài ký ức về việc bị biến thành cả một kẻ ngốc lẫn kẻ bội giáo. Thật dễ dàng hình dung sự cách mạng đột ngột diễn ra trong tâm trí tôi khi mọi viễn cảnh rực rỡ về việc làm giàu kết thúc bằng việc thấy mình lao đầu vào tận cùng khốn khổ. Buổi sáng tôi còn đang đắn đo xem mình sẽ cư ngụ ở cung điện nào, thì trước khi tối đến, tôi đã bị hạ bệ xuống đường phố tìm chỗ qua đêm. Người ta có thể đoán rằng tôi sẽ chìm đắm trong những cơn bộc phát tuyệt vọng dữ dội, càng thêm cay đắng bởi ý thức rằng chính sự ngốc nghếch của mình đã đẩy bản thân vào những bước đường cùng này; thế nhưng sự thật là tôi chẳng hề trải qua bất kỳ cảm giác khó chịu nào như thế. Tôi đã trải qua hai tháng bị giam cầm tuyệt đối — điều hoàn toàn mới mẻ với tôi; giờ đây tôi đã được giải phóng, và cảm xúc tôi cảm nhận mạnh mẽ nhất chính là niềm vui vì lấy lại được sự tự do. Sau một khoảng thời gian nô lệ dài đằng đẵng, tôi lại trở thành chủ nhân của thời gian và hành động của chính mình, ở một thành phố lớn, dồi dào nguồn tài nguyên, đông đúc những kẻ giàu có — nơi mà tài năng và phẩm chất của tôi chắc chắn sẽ ghi điểm. Tôi có đủ thời gian trước mắt để chờ đợi vận may ấy mỉm cười, bởi hai mươi livre đối với tôi là một kho báu vô tận mà tôi có thể tiêu xài chẳng cần phải phúc trình với ai. Đó là lần đầu tiên tôi thấy mình giàu có đến thế, và thay vì chìm đắm trong những suy ngẫm u sầu, tôi chỉ ôm ấp những hy vọng mới nơi mà lòng tự yêu mình không hề chịu thiệt thòi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mức độ tự tin và an yên lớn đến thế; tôi xem vận may của mình như đã được an bài và vô cùng sung sướng khi nghĩ rằng mình sẽ chẳng cần phải cậy nhờ ai ngoài chính bản thân để thu phục nó.
Việc đầu tiên tôi làm là thỏa mãn sự tò mò bằng cách lang thang khắp thành phố, và tôi xem nó như sự khẳng định cho tự do của mình; tôi đi xem lính gác đổi ca và vô cùng thích thú với quân phục của họ; tôi dõi theo những đám rước và say mê âm nhạc trang nghiêm của các linh mục; kế đến tôi ghé thăm cung điện hoàng gia, tiếp cận nó với nỗi kính sợ nhưng rồi thấy kẻ khác bước vào liền làm theo và chẳng ai ngăn cản tôi cả. Có lẽ tôi nợ sự ưu ái đó nhờ gói đồ nhỏ kẹp dưới nách; dù sao đi nữa, tôi vẫn ôm ấp ý niệm cao ngẩng về tầm vóc của mình từ sự kiện đó và ngỡ bản thân đã là một cư dân ở đây. Thời tiết oi ả; tôi đi bộ đến mức mệt nhoài và bụng đói cồn cào. Muốn tìm chút gì lót dạ, tôi bước vào một tiệm sữa; họ đem ra cho tôi chút kem sữa đông cùng váng sữa và hai lát bánh mì tuyệt hảo xứ Piedmont — món mà tôi thích hơn bất kỳ loại nào khác. Với năm hoặc sáu xu, tôi có được một trong những bữa ăn ngon lành nhất đời mình.
Đã đến lúc phải tìm chỗ trọ. Vì tôi đã biết đủ tiếng Piedmont để diễn đạt ý mình, việc này chẳng mấy khó khăn; và tôi đủ thận trọng để muốn chọn chỗ ở phù hợp với tình trạng chiếc túi tiền hơn là sở thích của bản thân. Qua dò hỏi, tôi được biết vợ một người lính ở phố Po chuyên cho người hầu thất nghiệp thuê trọ với giá chỉ một xu một đêm; và khi thấy một chiếc giường tồi tàn còn trống, tôi liền chiếm lấy nó. Bà ta còn trẻ, mới cưới nhưng đã có năm sáu đứa con. Mẹ, con cái và khách trọ đều ngủ chung trong một phòng, và tình trạng ấy kéo dài suốt thời gian tôi ở đó. Bà ta bản tính tốt bụng, chửi thề như dân đánh xe, chẳng đội khăn cũng chẳng quàng khăn cổ, nhưng có một trái tim dịu dàng, sốt sắng và luôn sẵn lòng giúp đỡ tôi.
Suốt mấy ngày trời, tôi chìm đắm trong những hoan hỉ của sự độc lập và tò mò; tôi tiếp tục lang thang khắp thành phố cùng vùng ngoại vi, săm soi mọi vật thể lạ lẫm hay mới mẻ — và thực sự hầu như mọi thứ đều mang vẻ ngoài ấy đối với một gã tân binh. Tôi chưa từng bỏ lỡ việc ghé thăm triều đình và đều đặn tham dự thánh lễ của nhà vua mỗi sáng. Tôi nghĩ đó là một vinh dự lớn lao khi được đứng chung nhà nguyện với vị quân vương và đoàn tùy tùng của ngài; thế nhưng niềm đam mê âm nhạc — thứ bắt đầu nảy mầm trong tôi lúc bấy giờ — mới là động lực lớn lao hơn sự tráng lệ của triều đình, bởi vẻ hoa lệ ấy dẫu sớm được nhìn thấy và luôn y nguyên, chẳng mấy chốc sẽ mất đi sức hấp dẫn. Quốc vương Sardinia thời bấy giờ sở hữu dàn nhạc hay nhất châu Âu; Somis, Desjardins và Bezuzzi luân phiên tỏa sáng ở đó. Tất cả những điều ấy không thực sự cần thiết để làm mê hoặc một thiếu niên vốn chỉ cần nghe âm thanh của một nhạc cụ đơn sơ nhất, miễn là đúng nhịp, cũng đủ làm cậu ta ngất ngây vui sướng. Sự nguy nga chỉ tạo ra sự ngưỡng mộ đần độn mà chẳng kèm theo ham muốn sở hữu mãnh liệt nào; tâm trí tôi chủ yếu bận rộn quan sát xem có vị tiểu thư vương giả nào xuất hiện đáng để tôi dâng hiến lòng kính ngưỡng và biến thành nàng thơ cho một câu chuyện tình.
Trong khi đó, tôi sắp sửa bắt đầu một cuộc tình; trong một tầng lớp kém cao cấp hơn thật đấy, nhưng nếu có thể đưa nó đến hồi kết, tôi hẳn đã tìm thấy những niềm vui ngọt ngào gấp ngàn lần.
Dù sống với sự tiết kiệm tối đa, chiếc túi tiền của tôi vẫn vô tình nhẹ dần. Tuy nhiên, sự tằn tiện ấy ít là hệ quả của sự khôn ngoan hơn là bản tính yêu chuộng sự giản dị — thứ mà cho đến tận ngày nay, việc sử dụng những bàn ăn đắt đỏ nhất cũng không tài nào làm vấy bẩn nổi. Trong ý niệm của tôi, cả ở thời điểm đó hay sau này, chẳng có gì vượt qua nổi một bữa ăn thôn dã; hãy cho tôi sữa, rau củ, trứng và bánh mì đen cùng chút rượu vang tạm ổn, tôi sẽ luôn nghĩ mình được khoản đãi một cách xa hoa. Cơn đói bụng sẽ lo phần còn lại, miễn là người quản gia cùng bầy đầy tớ không làm tôi phát ngấy bởi sự sốt sắng quá đà của họ. Năm hoặc sáu xu khi ấy mua được cho tôi một bữa ăn thỏa mãn hơn nhiều so với vài livre sau này. Do đó, tôi ăn uống kham khổ vì thiếu vắng sự cám dỗ để làm khác đi; dù tôi không biết mình có sai lầm không khi gọi đó là sự tiết kiêm, bởi với lê, phô mai tươi, bánh mì và vài ly rượu vang xứ Montferrat có thể cắt ra bằng dao, tôi chính là kẻ sành ăn vĩ đại nhất. Bất chấp chi phí rất đỗi khiêm tốn, người ta vẫn thấy được điểm tận cùng của hai mươi livre; tôi càng ngày càng nhận ra điều này sâu sắc hơn, và bất chấp sự bốc đồng của tuổi trẻ, những âu lo cho tương lai đôi khi chạm mức kinh hoàng. Toàn bộ lâu đài trên không của tôi đã tan thành mây khói, và tôi ý thức được sự cần thiết phải tìm kiếm một công việc đủ sức bảo đảm sinh kế.
Ngay cả việc đó cũng là một thử thách khó khăn. Tôi nghĩ đến nghề chạm khắc, nhưng vốn kiến thức quá ít ỏi khiến tôi không đủ điều kiện làm thợ cả, và các xưởng cũng chẳng mọc lên nhiều ở Turin. Do đó, tôi quyết định tạm thời đi từ cửa hàng này sang cửa hàng khác, ngỏ ý nhận chạm khắc các ký tự lồng hoặc huy hiệu lên đồ vật bằng bạc, v.v., và hy vọng kiếm được việc nhờ làm với giá rẻ mạt hoặc nhận tùy tâm chủ nhà trả bao nhiêu cũng được. Thậm chí biện pháp đó cũng chẳng đáp ứng kỳ vọng; hầu như mọi nỗ lực gõ cửa đều vô ích, và chút ít thu nhập kiếm được hầu như chẳng đủ cho vài bữa cơm qua quýt.
Một buổi sáng đi dạo khá sớm trên phố Contra nova, tôi nhìn thấy một nữ thương gia trẻ đang đứng sau quầy hàng, với khuôn mặt thu hút đến mức bất chấp sự rụt rè cố hữu trước phái đẹp, tôi vẫn bước vào cửa hàng không chút do dự, chào hàng như mọi khi và may mắn được chấp nhận. Nàng bảo tôi ngồi xuống, kể lại câu chuyện nhỏ của mình, tỏ vẻ thương xót cho hoàn cảnh bơ vơ, giục tôi vui lên và cố gắng làm tôi phấn chấn bằng sự đảm bảo rằng mọi Ki-tô hữu tốt bụng đều sẽ sẵn lòng giúp đỡ; rồi (khi có dịp tiện tay) nàng đi lên lầu và đem xuống cho tôi chút gì ăn sáng. Đó có vẻ là một khởi đầu đầy hứa hẹn, và những gì diễn ra sau đó cũng chẳng kém phần phỉnh nịnh: nàng hài lòng với sản phẩm của tôi, và khi tôi đã trấn tĩnh lại đôi chút, nàng còn hài lòng hơn với những lời trò chuyện. Nàng ăn vận khá trang nhã và bất chấp vẻ dịu dàng, chính diện mạo rạng rỡ này từng làm tôi bối rối; nhưng bản tính tốt bụng, giọng nói đầy trắc ẩn cùng phong thái dịu dàng vuốt ve của nàng đã nhanh chóng giúp tôi thoải mái trở lại với chính mình. Tôi thấy những nỗ lực làm vui lòng người khác của mình đã đơm hoa kết trái, và sự tự tin ấy càng thúc đẩy tôi thành công hơn. Dù là người Ý và quá xinh đẹp để hoàn toàn vô can với sự lẳng lơ, nàng lại sở hữu sự kín đáo lớn lao đến mức tôi dù nhút nhát đến đâu cũng hiểu rằng cuộc phiêu lưu của chúng tôi khó lòng đi đến một kết cục chóng vánh, và họ cũng chẳng cho chúng tôi đủ thời gian để làm nên trò trống gì. Tôi không thể hồi tưởng lại những khoảnh khắc ngắn ngủi trôi qua bên người phụ nữ tuyệt vời này mà không cảm nhận một sự quyến rũ không thốt nên lời, và tôi vẫn có thể khẳng định rằng chính nơi ấy, tôi đã nếm trải sự hoàn hảo tột cùng của những niềm vui tình ái vừa tuyệt diệu vừa tinh khiết nhất.
Nàng là một thiếu phụ tóc nâu hoạt bát, dễ mến, và sự tử tế phảng phất trên khuôn mặt xinh đẹp càng làm tăng thêm vẻ sinh động thú vị. Nàng tên là Madam Basile. Chồng nàng, lớn hơn nàng nhiều tuổi, đã phó thác nàng trong thời gian vắng nhà cho một tay thư ký — kẻ quá khó ưa để có thể bị xem là mối hiểm họa, nhưng dẫu vậy vẫn nuôi dưỡng những tham vọng chẳng bao giờ bày tỏ ra ngoài ngoại trừ sự cáu kỉnh. Hắn trút phần lớn sự bực bội đó lên đầu tôi, dù tôi vẫn thấy thích thú nghe hắn thổi sáo bởi hắn chơi thứ nhạc cụ này khá ổn. Tên Aegistus thứ hai này luôn càu nhàu mỗi khi thấy tôi bước vào phòng bà chủ, đối xử với tôi bằng thái độ khinh miệt mà nàng đã chu đáo trả lại cả vốn lẫn lời, tỏ ra vui vẻ vuốt ve tôi ngay trước mặt hắn nhằm tra tấn tâm lý hắn. Kiểu trả thù này, dẫu hoàn toàn hợp khẩu vị tôi, sẽ còn tuyệt vời hơn nữa nếu được diễn ra trong không gian chỉ có hai người; nhưng nàng không đi xa đến thế, hoặc chí ít cũng có sự khác biệt trong cách thể hiện sự quan tâm. Dẫu nàng nghĩ tôi còn quá trẻ, hay cho rằng việc chủ động là phần việc của tôi, hoặc nàng thực sự quyết tâm giữ gìn trinh bạch, nàng luôn giữ một khoảng cách nhất định trong những khoảnh khắc ấy — thứ dẫu không hoàn toàn dập tắt hy vọng nhưng vẫn giữ ngọn lửa tình của tôi trong khuôn khổ.
Tôi không dành cho nàng sự tôn trọng chân thành và sâu sắc hệt như đối với bà de Warens; tôi thấy lúng túng, bấn loạn, sợ hãi ngay cả khi nhìn và suýt chẳng dám thở khi ở trước mặt nàng, thế nhưng việc phải rời xa nàng lại tồi tệ hơn cái chết. Con mắt tôi thèm thuồng nuốt lấy biết bao chi tiết mà nó có thể ngắm nghía mà không bị phát hiện: những bông hoa trên chiếc váy, chóp đôi bàn chân xinh xắn, khoảng hở của cánh tay trắng ngần lộ ra giữa găng tay và nếp viền cổ áo, một phần nhỏ nhất của chiếc cổ — mỗi chi tiết đều nhân đôi sức mạnh của những thứ còn lại và tăng thêm sự cuồng si. Cứ đắm chìm trong việc ngắm nghía những gì có thể thấy và thậm chí vượt xa những gì được phép thấy, tầm nhìn của tôi trở nên lóa mắt, lồng ngực thắt lại và nhịp thở trở nên đau đớn qua từng khoảnh khắc. Tôi phải oằn mình chống chọi với sự bấn loạn, kìm nén để những tiếng thở dài không bị phát hiện, và sự khó khăn ấy càng nhân lên gấp bội bởi những khoảng lặng kéo dài giữa chúng tôi. May mắn thay, Madam Basile bận rộn với công việc thêu thùa nên chẳng thấy hay vờ như không thấy bất cứ điều gì; thế nhưng đôi khi tôi vẫn nhận ra sự đồng điệu nào đó, đặc biệt qua nhịp phập phồng liên hồi của chiếc khăn choàng cổ, và khung cảnh nguy hiểm ấy suýt đánh gục mọi nỗ lực của tôi. Nhưng ngay khi chuẩn bị buông xuôi đầu hàng trước những cơn cuồng nhiệt, nàng lại thốt lên vài từ với vẻ điềm tĩnh, và chỉ trong chớp mắt, mọi bấn loạn liền tan biến.
Tôi đã gặp nàng vài lần trong hoàn cảnh ấy mà chẳng cần đến một từ ngữ, một cử chỉ hay thậm chí một cái nhìn quá mức biểu cảm nào để thiết lập sự thông suốt giữa đôi bên. Hoàn cảnh ấy vừa là sự đày ải vừa là niềm hoan hỉ đối với tôi, bởi với sự ngây thơ trong tim, tôi hầu như chẳng tài nào lý giải nổi nguyên nhân của sự bất an ấy. Tôi đoán rằng những buổi chuyện trò riêng tư ấy chắc chắn không làm nàng khó chịu, chí ít thì nàng cũng thường xuyên tìm kiếm cơ hội để tái lập chúng; rõ ràng đó là một sự nỗ lực đầy vô tư, hệt như cách nàng tận dụng hoặc cho phép tôi tận dụng chúng.
Một ngày nọ, thấy chán ngấy những lời lải nhải của gã thư ký, nàng lui về phòng ngủ. Tôi vội vã hoàn tất nốt việc ở gian sau tiệm rồi bước theo; cánh cửa khép hờ và tôi bước vào mà không bị phát hiện. Nàng đang ngồi thêu bên cửa sổ phía bên kia căn phòng; nàng không thể thấy tôi, và tiếng xe cộ ngoài đường đủ lớn để che giấu tiếng bước chân. Nàng luôn ăn vận chỉn chu, nhưng bộ trang phục hôm nay phảng phất nét lẳng lơ. Tư thế của nàng thật uyển chuyển, đầu hơi nghiêng về phía trước để lộ phần cổ nhỏ nhắn. Mái tóc tạo kiểu thanh nhã được trang hoàng bằng những bông hoa; vóc dáng nàng tuyệt mỹ từ mọi góc nhìn và tôi có cơ hội chiêm ngưỡng không bị ngắt quãng. Tôi rơi vào trạng thái ngây ngất tột độ, và vô thức quỵ xuống một chân, đắm đuối vươn hai tay về phía nàng — chắc mẩm nàng không nghe thấy và chẳng có ý niệm rằng nàng có thể nhìn thấy tôi. Thế nhưng có một chiếc gương lò sưởi ở tận cùng căn phòng đã phản chiếu toàn bộ hành động của tôi. Tôi chẳng hay biết hành động cuồng nhiệt đó đã tạo ra hiệu ứng gì ở nàng; nàng không nói gì, không nhìn tôi; nhưng vừa quay đầu sang một bên, chỉ bằng một cử động nhỏ của ngón tay, nàng chỉ cho tôi chiếc thảm nằm ngay dưới chân mình. Bật dậy với tiếng kêu vui sướng nghẹn ngào và chiếm lấy vị trí nàng vừa chỉ là việc diễn ra trong chớp mắt; thế nhưng người ta sẽ khó mà tin nổi tôi không dám làm gì thêm — thậm chí không dám cất lời, không dám ngước nhìn lên đôi mắt nàng, hay dừng lại dù chỉ một khoảnh khắc trên đầu gối nàng, dẫu tư thế ấy dường như đòi hỏi sự nâng đỡ đó. Tôi câm lặng, bất động, nhưng cách xa sự tĩnh lặng vô cùng; sự bấn loạn, niềm vui, lòng biết ơn, những khát khao cuồng nhiệt vô định bị kìm hãm bởi nỗi sợ làm phật ý — thứ mà trái tim chưa từng trải của tôi vô cùng khiếp sợ — hiện lên rõ mồn một. Nàng cũng chẳng hề tỏ ra bình tĩnh hay bớt sợ hãi hơn tôi: lo lắng về hoàn cảnh hiện tại, bối rối vì đã lấp lửng gọi tôi đến, bắt đầu run rẩy trước hậu quả của một ký hiệu được tạo ra mà không suy tính đến kết cục, không cổ vũ cũng chẳng bày tỏ sự bất mãn, với đôi mắt dán chặt vào đường thêu, nàng cố gắng tỏ ra không hay biết bất cứ điều gì đang diễn ra. Thế nhưng sự ngốc nghếch của tôi cũng không ngăn nổi việc kết luận rằng nàng chia sẻ nỗi bấn loạn, và có lẽ cả sự cuồng nhiệt của tôi, chỉ là bị cản trở bởi sự thẹn thùng y hệt tôi — dẫu giả định đó chẳng mang lại cho tôi thêm chút sức mạnh nào để vượt qua nó. Lớn hơn tôi năm sáu tuổi, mọi sự chủ động trong ý niệm của tôi lẽ ra phải đến từ nàng; và vì nàng chẳng làm gì để khuyến khích tôi, tôi đinh ninh rằng chúng sẽ làm nàng phiền lòng. Thậm chí cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nghiêng về ý nghĩ rằng mình đã nghĩ đúng; nàng chắc chắn đủ khôn ngoan để nhận ra rằng một gã tân binh như tôi không chỉ cần sự khích lệ mà còn cả sự chỉ bảo.
Tôi chẳng rõ khung cảnh đầy sức sống nhưng câm lặng ấy sẽ kết thúc ra sao, hay tôi sẽ tiếp tục đứng bất động trong hoàn cảnh nực cười nhưng đê mê ấy bao lâu nữa, nếu chúng tôi không bị ngắt quãng. Giữa đỉnh điểm của sự bấn loạn, tôi nghe tiếng cửa bếp mở ra — căn bếp giáp ranh với phòng của Madam Basile. Hoảng hốt, nàng cất giọng và vùng dậy đầy gấp gáp: “Đứng lên mau! Rosina đấy!” Vội vã đứng dậy, tôi chộp lấy một bàn tay nàng dang ra và trao lên đó hai nụ hôn vội vã; đến nụ hôn thứ hai, tôi cảm nhận bàn tay tuyệt vời ấy siết nhẹ lên môi mình. Chưa bao giờ trong đời tôi được tận hưởng khoảnh khắc ngọt ngào đến thế; thế nhưng cơ hội đã tuột mất ấy không bao giờ trở lại, bởi đó chính là hồi kết cho mối tình của chúng tôi.
Đó có lẽ là lý do vì sao hình bóng nàng vẫn in sâu vào trái tim tôi với những sắc màu tươi đẹp nhường ấy — thứ thậm chí còn sáng bừng lên sau khi tôi đã lăn lộn giữa cõi đời và phụ nữ. Giả sử nàng từng trải hơn chút ít, nàng đã chọn những phương án khác để khêu gợi một gã nhân tình trẻ tuổi đến thế; nhưng nếu trái tim nàng yếu đuối, nó vẫn vô cùng đức hạnh, và chỉ để bản thân bị cuốn đi bởi một xung năng mãnh liệt dẫu không cố ý. Đó dường như là lần đầu tiên nàng phản bội chồng, và tôi có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc khuất phục những giằng xé của nàng thay vì của chính mình. Dẫu không tiến xa đến thế, tôi vẫn trải qua bên nàng những niềm vui khôn tả. Chưa từng có người phụ nữ nào mang lại cho tôi những phút giây thỏa mãn sánh ngang với hai phút tôi quỳ dưới chân Madam Basile mà chẳng dám chạm lấy gấu váy của nàng. Tôi tin chắc rằng chẳng có sự thỏa mãn nào sánh được với cảm giác ta có được bên cạnh một người phụ nữ đức hạnh mà ta kính trọng; mọi thứ đều cuồng nhiệt! Một cái ngoảu ngón tay, một bàn tay khẽ ấn lên môi tôi — đó là những đặc ân duy nhất tôi từng nhận từ Madam Basile, thế nhưng ký ức trần trụi về những sự nhún nhường nhỏ bé ấy vẫn đủ sức làm tôi ngây ngất.
Thật hoài công khi tôi ngóng chờ suốt hai ngày tiếp theo để tìm kiếm một cơ hội trò chuyện riêng tư; việc đó bất khả thi, và tôi cũng chẳng nhận thấy ở nàng bất kỳ mong muốn nào thúc đẩy điều đó. Thái độ của nàng không hề lạnh lùng hơn, nhưng giữ khoảng cách hơn thường lệ, và tôi tin nàng đã tránh né ánh mắt tôi vì sợ không kiểm soát nổi ánh mắt chính mình. Gã thư ký khốn kiếp lại càng trở nên phiền toái hơn bao giờ hết; hắn thậm chí còn giở trò thông thái, mỉa mai buông lời châm chọc rằng tôi chắc chắn sẽ làm nên chuyện lớn giữa chốn quần thoa. Tôi run rẩy sợ rằng mình đã phạm phải sự thiếu kín đáo nào đó, và tự xem bản thân như một kẻ dấn thân vào cuộc tình, liền cố gắng phủ lên bằng một lớp màn bí ẩn cho thứ tình cảm vốn chưa từng cần đến nó. Điều đó khiến tôi càng thêm thận trọng trong việc chọn lựa cơ hội, và khi chỉ quyết tâm tóm lấy những khoảnh khắc hoàn toàn an toàn khỏi nguy cơ bị bắt quả tang, tôi chẳng tìm thấy một khoảnh khắc nào cả.
Một thói lãng mạn ngốc nghếch khác mà tôi chưa từng vượt qua được — kết hợp cùng sự rụt rè bẩm sinh — đã trực tiếp mâu thuẫn với những tiên đoán của gã thư ký: tôi luôn yêu quá chân thành, quá hoàn hảo đến mức khó lòng chạm tay vào hạnh phúc. Chưa từng có ngọn lửa tình nào vừa mãnh liệt vừa tinh khiết như của tôi; chưa từng có tình yêu nào dịu dàng, chân thực hay vị tha đến thế. Tôi sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của bản thân cho hạnh phúc của đối tượng mình yêu; danh dự của nàng còn quan trọng hơn cả tính mạng tôi, và tôi chẳng thèm màng đến bất kỳ thứ hạnh phúc nào nếu nó đánh đổi bằng sự bình yên trong tâm hồn nàng dù chỉ một thoáng. Bản tính này đã luôn khiến tôi tiêu tốn quá nhiều công sức, dùng đến vô số sự cẩn trọng và tính bảo mật trong các cuộc phiêu lưu, để rồi kết quả là tất cả chúng đều thất bại. Tóm lại, sự thiếu thành công của tôi với phụ nữ luôn xuất phát từ việc tôi đã yêu họ quá sâu đậm.
Trở lại với gã Aegistus đánh đàn sáo của chúng ta; điều đáng chú ý là khi trở nên khó ưa hơn, kẻ phản bội này lại đâm ra giả vờ dễ thương. Kể từ ngày Madam Basile nhận tôi dưới sự che chở của nàng, nàng đã cố gắng giúp tôi có ích trong nhà kho; và khi thấy tôi hiểu biết kha khá về số học, nàng đề nghị hắn dạy tôi cách giữ sổ sách. Đề nghị ấy bị đón nhận khá hờ hững bởi gã tính toán khó ưa — kẻ có lẽ sợ bị hất cẳng. Khi kế hoạch đó phá sản, toàn bộ công việc của tôi, bên cạnh việc chạm khắc, chỉ là sao chép các hóa đơn và sổ sách, chép sạch lại mấy cuốn sách và dịch thư thương mại từ tiếng Ý sang tiếng Pháp. Đùng một cái, hắn lại chịu nhận cái đề nghị từng bị từ chối trước đó, bảo rằng sẽ dạy tôi cách giữ sổ kép và đặt tôi vào vị trí có thể chào mời dịch vụ với M. Basile khi ông trở về. Thế nhưng ẩn chứa trong phong thái của hắn có gì đó vô cùng giả dối, hiểm độc và mỉa mai, hoàn toàn chẳng đủ sức khơi gợi niềm tin ở tôi. Madam Basile hóm hỉnh đáp lại rằng tôi rất biết ơn nhã ý của hắn, nhưng nàng hy vọng vận may sẽ đối xử tử tế hơn với tài năng của tôi, bởi sẽ là một điều tai họa lớn nếu một kẻ có thừa sự khôn ngoan như tôi lại chỉ làm một gã nhân viên còi cọc.
Nàng thường bảo sẽ kiếm cho tôi vài mối quan hệ hữu ích; chắc hẳn nàng cảm thấy sự cần thiết phải tống khứ tôi đi và đã khôn ngoan quyết định điều đó. Lời tuyên bố câm lặng của chúng tôi diễn ra vào thứ Năm, và đến Chủ nhật tuần đó nàng tổ chức một bữa tiệc. Một vị linh mục dòng Jacobin có diện mạo khả kính nằm trong số các vị khách, và nàng đã vinh hạnh giới thiệu tôi với ông. Vị tu sĩ đối xử với tôi vô cùng ân cần, chúc mừng tôi về vụ cải đạo vừa qua, nhắc đến vài chi tiết trong câu chuyện của tôi — điều chứng minh rõ ràng rằng ông ta đã được thông báo tường tận. Sau đó, vỗ vỗ thân mật lên má tôi, ông bảo tôi hãy sống ngoan ngoãn, giữ vững tinh thần và ghé thăm ông ở tu viện nơi ông có nhiều thời gian trò chuyện với tôi hơn. Dựa vào sự cung kính mà người ta dành cho ông, tôi đoán ông là nhân vật có thế lực; và qua giọng điệu mang tính phụ phuộc mà ông áp dụng với Madam Basile, tôi đoán ông là cha xứ giải tội của nàng. Tôi cũng nhớ rằng sự thân mật đứng đắn ấy đi kèm với vẻ tôn trọng, thậm chí sự kính cẩn dành cho vị nữ tín đồ xinh đẹp — thứ lúc đó để lại ít ấn tượng trong tôi hơn hiện tại. Giá như tôi từng trải hơn, tôi hẳn đã tự chúc mừng bản thân vì đã chạm đến trái tim của một người phụ nữ trẻ được chính cha xứ giải tội của nàng kính trọng!
Bàn ăn không đủ rộng để chứa toàn bộ khách khứa, một chiếc bàn nhỏ được chuẩn bị riêng, nơi tôi có bữa trưa thỏa thích cùng gã thư ký dễ thương của chúng ta; nhưng tôi chẳng thiệt thòi chút nào về khoản quan tâm hay thức ăn ngon, bởi rất nhiều đĩa thức ăn được chuyển sang bàn phụ vốn chẳng đời nào dành cho hắn.
Cho đến nay mọi thứ vẫn ổn; các quý cô thì hào hứng còn các quý ông thì vô cùng ga-lăng, trong khi Madam Basile làm chủ bữa tiệc với vẻ duyên dáng đặc biệt. Giữa bữa ăn, chúng tôi nghe tiếng xe ngựa dừng lại trước cửa, rồi có tiếng ai đó bước lên lầu — đó là M. Basile. Tẩy não tôi lúc này vẫn thấy hình ảnh ông ta bước vào trong chiếc áo bành tô nhung đỏ đính cúc vàng — kể từ ngày hôm đó, tôi căm ghét sắc màu ấy. M. Basile là một người đàn ông cao ráo, đẹp trai, phong thái lịch thiệp; ông bước vào với vẻ mặt bề trên và điệu bộ như thể bắt quả tang gia đình chưa chuẩn bị, dù chẳng có ai ngoài bạn bè hiện diện. Vợ ông chạy ùa ra, ôm chầm lấy cổ và dâng ngàn nụ hôn — thứ được ông đón nhận với thái độ lãnh đạm tột độ. Chẳng thèm đáp lại, ông chào hỏi mọi người và ngồi vào chỗ của mình. Khi họ vừa bắt đầu bàn về chuyến đi, ông liếc mắt nhìn chiếc bàn nhỏ và hỏi bằng giọng sắc lẹm rằng cậu thiếu niên đó là ai. Madam Basile thành thật trả lời. Ông tiếp tục hỏi liệu tôi có ngủ lại trong nhà không và nhận được câu trả lời phủ định. “Tại sao lại không?” ông thô lỗ vặn lại, “đã bám trụ ở đây suốt cả ngày, sao không ở luôn qua đêm cho rồi?” Vị linh mục bấy giờ mới xen vào bằng một lời ca ngợi nghiêm túc và chân thực dành cho Madam Basile; chỉ bằng vài từ, ông cũng làm điều tương tự với tôi, bổ sung rằng thay vì trách móc, ông chồng nên ủng hộ hành động bác ái thánh thiện của vợ, vì rõ ràng nàng chưa từng vượt quá ranh giới sự chừng mực. Người chồng đáp lại bằng giọng điệu cáu kỉnh — thứ được kiềm chế bởi sự hiện diện của vị linh mục nhưng vẫn đủ để tôi hiểu rằng ông ta đã được thông báo về tôi từ trước, và gã thư ký đáng kính của chúng tôi đã chơi xấu tôi một vố đau.
Chúng tôi vừa đứng dậy khỏi bàn ăn thì gã thư ký hớt hải chạy vào từ chỗ ông chủ để thông báo rằng tôi phải rời khỏi nhà ngay lập tức và cấm bén mảng đến đó suốt phần đời còn lại. Hắn chu đáo khoác lên lệnh điều động này mọi thứ sắc thái tàn nhẫn và lăng mạ nhất. Tôi lặng lẽ ra đi, trái tim ngập tràn nỗi buồn, không phải vì bị buộc phải rời xa người phụ nữ khả ái ấy, mà vì ý nghĩ để nàng lại dưới sự bạo ngược của một người chồng như thế. Ông ta có lý khi muốn vợ mình chung thủy; nhưng dù khôn ngoan và có học thức, nàng vẫn là một phụ nữ Ý — tức là giàu cảm xúc và dễ thù hận, điều khiến tôi cho rằng ông ta cực kỳ bất cẩn khi sử dụng những phương pháp dễ dẫn đến thứ tội ác mà ông ta hằng kinh hoàng nhất.
Đó là cái kết cho cuộc phiêu lưu đầu tiên của tôi. Tôi lang thang vài vòng qua con phố, thèm thuồng được nhìn ngắm bóng hình mà trái tim không ngừng nhung nhớ; nhưng tôi chỉ có thể bắt gặp người chồng hoặc gã thư ký cảnh giác kia. Khi nhận ra tôi, hắn đưa ra ký hiệu bằng chiếc thước đo vải dùng trong cửa hàng — thứ còn biểu cảm hơn là lôi cuốn. Nhận ra mình bị giám sát chặt chẽ, lòng dũng cảm của tôi tan rã và tôi không quay lại nữa. Tôi ít nhất muốn tìm ra vị ân nhân mà nàng từng chuẩn bị sẵn cho mình, nhưng ngặt nỗi tôi lại chẳng biết tên ông ta. Tôi lang thang vài vòng quanh tu viện, hoài công tìm kiếm. Cuối cùng, những sự kiện khác đã xóa nhòa ký ức ngọt ngào về Madam Basile; và chẳng mấy chốc tôi quên bẵng nàng để tiếp tục sống ngây ngô, một gã tân binh trọn vẹn hệt như trước, thậm chí ham muốn dành cho phụ nữ cũng chẳng có chút gia tăng đáng kể nào.
Tuy nhiên, sự hào phóng của nàng đã làm tăng thêm tủ quần áo ít ỏi của tôi, dẫu nàng làm điều đó với sự cẩn trọng và thận trọng, chú trọng sự gọn gàng hơn là trang sức, nhằm giúp tôi thoải mái thay vì hào nhoáng. Chiếc áo khoác mang từ Geneva vẫn còn mặc được, nàng chỉ bổ sung thêm một chiếc mũ và vài chiếc khăn. Tôi không có cổ tay áo diềm xếp nếp, và nàng cũng chẳng chịu cho tôi món đó, dù tôi rất thèm thuồng. Nàng bằng lòng với việc giúp tôi giữ gìn vệ sinh cá nhân, dẫu việc ra lệnh điều đó là thừa thãi khi tôi luôn xuất hiện trước mặt nàng.
Vài ngày sau thảm họa đó, nữ chủ nhà trọ — như tôi từng đề cập, rất thân thiện — hớn hở thông báo rằng bà đã nghe ngóng được một công việc, và có một quý bà quyền quý đang muốn gặp tôi. Tôi lập tức đinh ninh mình đang bước trên con đường đến với những cuộc phiêu lưu vĩ đại — cái đích hướng tới của mọi suy tưởng; thế nhưng thực tế lại chẳng rực rỡ như tôi tưởng tượng. Tôi đến diện kiến phu nhân cùng người hầu gái từng giới thiệu tôi. Bà hỏi hàng loạt câu hỏi, và những câu trả lời không làm bà phật ý đã giúp tôi lập tức được nhận vào làm, không phải với tư cách sủng thần, mà trong vai trò một gã người hầu. Tôi được mặc đồng phục giống như những người khác trong nhà, điểm khác biệt duy nhất là họ đeo dây khuyết vai còn tôi thì không, và vì bộ đồng phục chẳng có viền ren nào, trông nó hệt như trang phục của một gã thợ buôn. Đó là cái kết bất ngờ cho mọi kỳ vọng vĩ đại của tôi!
Nữ bá tước de Vercellis, người tôi phục vụ, là một góa phụ không con; chồng bà là người Piedmont, nhưng tôi luôn đinh ninh bà là người Savoy, bởi tôi chẳng thể hình dung một người bản xứ Piedmont lại có thể nói tiếng Pháp sõi và chuẩn giọng đến thế. Bà là một phụ nữ trung niên, phong thái quý phái và trí tuệ thấu đáo, rất chuộng văn học Pháp và cực kỳ uyên thâm về nó. Những bức thư của bà mang biểu cảm và sự thanh lịch suýt ngang ngửa văn phong của Madam de Sevigne; một số trong đó có thể bị nhầm tưởng là của bà ấy. Công việc chính của tôi, và tôi chẳng hề ghét bỏ gì nó, là chép lại theo lời đọc của bà, bởi chứng ung thư vú hành hạ dữ dội khiến bà không tự cầm bút được.
Madam de Vercellis không chỉ sở hữu trí tuệ sắc sảo mà còn có một tâm hồn mạnh mẽ và cao thượng. Tôi ở bên bà trong giai đoạn lâm chung, chứng kiến bà chịu đựng đau đớn và qua đời mà chẳng mảy may hé lộ chút yếu đuối hay gượng gạo nào; bà vẫn giữ trọn phong thái nữ tính, không hề có ý niệm rằng sự kiên cường ấy mang lại cho bà chút danh tiếng triết học nào — từ ngữ chưa bùng nổ thời bấy giờ cũng như chẳng được bà hiểu theo nghĩa hiện đại. Sức mạnh tinh thần ấy đôi khi vươn đến mức dửng dưng, dường như bà chẳng mảy may bận tâm cho người khác lẫn bản thân; và khi bố thí cho kẻ bất hạnh, bà làm điều đó vì lẽ phải nhiều hơn là từ lòng trắc ẩn chân thành. Tôi thường xuyên trải nghiệm sự vô cảm này trong suốt ba tháng sống cùng bà. Sẽ là điều tự nhiên khi bà dành chút thiện cảm cho một thanh niên có chút năng lực cứ lượn lờ trước mắt, và nghĩ rằng khi cái chết cận kề, cậu ta sẽ cần đến sự hỗ trợ và nâng đỡ; thế nhưng hoặc vì bà đánh giá tôi không đáng nhận sự quan tâm đặc biệt, hoặc vì những kẻ săm soi từng cử động của bà không cho bà cơ hội nghĩ đến ai khác ngoài họ, bà chẳng làm gì cho tôi cả.
Tôi nhớ rất rõ rằng bà từng tò mò về câu chuyện đời mình, thường xuyên gặng hỏi và tỏ ra thích thú khi tôi cho xem những bức thư gửi bà de Warens hay giải thích tâm tư; thế nhưng vì bà chẳng bao giờ bộc lộ tâm tư của chính mình, bà đã chọn sai cách để thấu hiểu người khác. Trái tim tôi, vốn mang bản tính cởi mở, thích bày tỏ cảm xúc bất cứ khi nào chạm trán với sự đồng điệu; thế nhưng những câu hỏi khô khan, lạnh lùng, chẳng kèm theo lời khen chê nào cho câu trả lời đã dập tắt mọi niềm tin. Chẳng thể xác định được lời nói của mình làm phật ý hay vừa lòng, tôi luôn sống trong nỗi sợ hãi và nghĩ đến việc cẩn trọng để không nói ra điều gì bất lợi cho bản thân nhiều hơn là bày tỏ ý tưởng. Tôi nhận ra sau này rằng phương pháp gặng hỏi khô khan để thăm dò tâm lý người khác này là mánh khóe quen thuộc ở những phụ nữ tự phụ về trí tuệ vượt trội. Họ tưởng rằng bằng cách che giấu tâm tư của chính mình, họ sẽ dễ dàng thấu thị tâm tư kẻ khác hơn — mà chẳng hề hay biết phương pháp ấy phá hủy niềm tin vốn là điều kiện cần thiết để ta bộc lộ chúng. Một khi bị gặng hỏi, con người ta lập tức dựng lên hàng rào cảnh giác; và nếu nghi ngờ rằng bạn chẳng hề quan tâm đến số phận của họ mà chỉ muốn khơi màu cho họ nói nhảm, họ sẽ chọn cách nói dối, im lặng, hoặc cân nhắc từng câu chữ trước thốt ra để thà nhận mình là kẻ ngốc còn hơn trở thành con tôm con tép trong trò tò mò của bạn. Tóm lại, đó luôn là một cách tồi tệ khi cố gắng đọc vị trái tim người khác bằng cách che đậy trái tim chính mình.
Madam de Vercellis chưa từng thốt ra với tôi một từ nào biểu lộ sự ân cần, thương xót hay nhân từ. Bà tra vấn tôi lạnh lùng, và câu trả lời của tôi cất lên với sự rụt rè đến mức bà chắc hẳn ôm ấp ấn tượng tồi tệ về trí tuệ của tôi, bởi về sau bà chẳng thèm đặt câu hỏi nào hay nói bất cứ điều gì ngoài những thứ bắt buộc cho công việc. Bà đánh giá tôi dựa trên những gì bà áp đặt hơn là thực chất con người tôi, và việc xem tôi như một gã người hầu đã ngăn cản tôi thể hiện bất kỳ điều gì khác.
Tôi nghi ngờ rằng mình từng gánh chịu thiệt thòi từ trò mưu mô lợi ích ngầm ấy — thứ đeo bám tôi suốt cuộc đời và tạo ra cho tôi một ác cảm tự nhiên với mọi thứ mang bóng dáng của nó. Vì Madam de Vercellis không có con cái, người cháu trai của bà là Bá tước de la Roque là người thừa kế và vô cùng siêng năng lấy lòng bà, hệt như những người hầu cận chủ chốt — những kẻ thấy thời điểm tàn lụi cận kề liền lo thu vén cho bản thân. Tóm lại, quá nhiều kẻ bu quanh khiến bà chẳng có lấy thời gian để nghĩ đến tôi. Đứng đầu đám gia nhân là M. Lorenzy, một gã lắm mưu nhiều kế cùng người vợ còn ranh ma hơn; mụ ta đã luồn lách sâu vào sự sủng ái của nữ chủ nhân đến mức giữ vị trí bạn bè hơn là kẻ hầu. Mụ nhét vào nhà một đứa cháu gái làm hầu phòng tên là Mademoiselle Pontal — một ả ranh ma khoác lên mình mọi điệu bộ của một nữ gia nhân thực thụ và trợ giúp mưu mô của mụ dì xuất sắc đến mức nữ bá tước chỉ nhìn qua đôi mắt họ và hành động qua đôi tay họ. Tôi không may mắn làm vừa lòng bộ tam quyền lực này; tôi vâng lời nhưng không phục tùng họ, bởi tôi không nghĩ bổn phận với nữ chủ nhân bắt buộc tôi phải làm đầy tớ cho đám đầy tớ của bà. Thêm vào đó, tôi là kẻ mang lại cho họ chút bất an; họ thấy tôi không thuộc về vị trí đó và sợ rằng nữ bá tước sẽ nhận ra điều đó, rồi thuyên chuyển tôi về đúng chỗ, qua đó làm giảm phần gia tài của họ. Bởi những kẻ tham lam đến mức vô liêm sỉ này xem mọi khoản di chúc để lại cho người khác là sự xẻ thịt tài sản của chính chúng, chúng tìm mọi cách tống khuyết tôi khỏi tầm mắt của bà. Bà vốn thích viết thư, nhưng họ tìm cách làm bà ngấy ngở bằng cách hùa với bác sĩ thuyết phục rằng việc đó quá mệt mỏi; và dưới vỏ bọc tôi không biết cách phục vụ bà, họ điều hai gã khiêng kiệu thô kệch vào thay thế. Tóm lại, họ xoay sở khéo léo đến mức trong suốt tám ngày trước khi lập di chúc, tôi không hề được bước chân vào phòng bà. Sau đó, tôi vào như thường lệ và thậm chí còn siêng năng hơn bất kỳ ai, bởi tôi đau đớn trước nỗi thống khổ của người phụ nữ tội nghiệp — người mà tôi thực sự kính trọng và yêu mến vì sự bình thản, kiên cường chống chọi bệnh tật, và tôi đã rơi không ít giọt nước mắt xót xa mà chẳng để ai hay biết.
Cuối cùng, chúng tôi mất bà — tôi chứng kiến phút lâm chung của bà. Bà sống như một phụ nữ khôn ngoan, đức hạnh và ra đi như một triết gia. Tôi có thể khẳng định rằng bà đã làm cho tôn giáo Công giáo trở nên đáng yêu trong mắt tôi thông qua sự bình thản khi thực hiện các giáo điều của nó, chẳng hề vướng chút cẩu thả hay giả tạo nào. Bản tính bà nghiêm nghị, nhưng về cuối đời, bà sở hữu một dạng vui tươi đều đặn đến mức không thể giả tạo, đóng vai trò như chiếc neo chống lại sự u sầu của hoàn cảnh. Bà chỉ nằm liệt giường hai ngày, tiếp tục trò chuyện vui vẻ với những người xung quanh cho đến phút chót.
Bà để lại một năm tiền lương cho toàn bộ gia nhân cấp dưới, nhưng vì không nằm trong danh sách chính thức, tôi chẳng nhận được gì. Tuy nhiên, Bá tước de la Roque vẫn ban ơn cho tôi ba mươi livre cùng chiếc áo khoác mới tôi đang mặc — thứ mà M. Lorenzy chắc chắn đã tước đoạt nếu không có lệnh đó. Ông thậm chí hứa hẹn tìm việc cho tôi và cho phép tôi đến gặp ông bất cứ lúc nào. Theo đó, tôi ghé qua hai ba lần nhưng chẳng tài nào nói chuyện được với ông, và vì bản tính dễ nản lòng, tôi không quay lại nữa. Việc tôi làm có sai hay không sẽ được minh chứng ở phần sau.
Giá như tôi đã hoàn tất những gì cần nói về quãng đời ở nhà Madam de Vercellis thì tốt biết mấy. Dù hoàn cảnh bề ngoài có vẻ không đổi, tôi đã không rời khỏi ngôi nhà đó hệt như lúc bước chân vào: tôi mang theo gánh nặng dài và đau đớn của một tội ác, một khối lượng hối hận không thể dung thứ vẫn đè nặng lên lương tâm tôi. Và ký ức cay đắng ấy, thay vì phai nhạt trong suốt bốn mươi năm, lại dường như củng cố sức mạnh theo thời gian. Ai có thể tin rằng một lỗi lầm thời thơ ấu lại sản sinh ra những hệ quả u sầu đến thế? Thế nhưng chính những hệ quả có thể xảy ra ấy đã khiến trái tim tôi không tài nào tìm lại sự bình yên. Tôi có lẽ đã đẩy một cô gái đáng yêu, lương thiện, đáng kính — người chắc chắn xứng đáng với số phận tốt đẹp hơn tôi — đi đến chỗ diệt vong trong nỗi nhục nhã và khốn cùng.
Dù việc giải tán cơ ngơi gia đình thường khó khăn và không tránh khỏi thất thoát tài sản, nhưng nhờ sự trung thực của gia nhân và sự cảnh giác của vợ chồng M. Lorenzy, không một món đồ nào trong danh mục kiểm kê bị thiếu sót. Tóm lại, chẳng có gì thất lạc ngoài chiếc ruy băng lụa màu hồng pha bạc từng được sử dụng, vốn thuộc về Mademoiselle Pontal. Dù có nhiều món đồ giá trị hơn nằm trong tầm với, chiếc ruy băng đơn độc ấy lại cám dỗ tôi, và tôi đã ăn trộm nó. Vì chẳng che giấu món đồ chơi ấy quá kỹ, nó nhanh chóng bị phát hiện; họ ngay lập tức gặng hỏi nguồn gốc món đồ. Điều này làm tôi lúng túng — tôi ngập ngừng và cuối cùng thốt lên trong bối rối rằng Marion đã cho tôi nó.
Marion là một thiếu nữ người Maurienne, làm đầu bếp cho Madam de Vercellis kể từ lúc bà ngừng tổ chức yến tiệc, bởi nhận thấy bản thân cần những bát súp bổ dưỡng hơn là những món hầm sang trọng, bà đã sa thải đầu bếp cũ. Marion không chỉ xinh xắn mà còn sở hữu sắc hồng tươi tắn chỉ có ở miền núi, cùng sự ngọt ngào, khiêm nhường khiến ai nhìn cũng động lòng. Hơn thế nữa, nàng là một cô gái tốt, đức hạnh và nổi tiếng trung thực đến mức tất cả mọi người đều ngạc nhiên khi nghe tên nàng. Họ cũng đặt niềm tin tương tự vào tôi và buộc phải làm rõ kẻ nào trong hai đứa là thủ phạm. Marion được triệu tập; đông đảo người có mặt, trong đó có Bá tước de la Roque. Nàng bước đến; họ chìa chiếc ruy băng ra; tôi trơ trẽn cáo buộc nàng. Nàng bàng hoàng chết lặng, đăm đăm nhìn tôi bằng ánh mắt đủ sức làm tan chảy cả một con quỷ, thế nhưng trái tim tàn nhẫn của tôi vẫn trơ trơ. Cuối cùng, nàng kiên quyết phủ nhận nhưng không giận dữ, khuyên nhủ tôi hãy hồi tâm chuyển ý và đừng hãm hại một cô gái vô tội chưa từng làm điều gì có lỗi với tôi. Với sự trơ trẽn của loài quỷ dữ, tôi xác nhận cáo buộc của mình và khẳng định vào mặt nàng rằng chính nàng đã tặng chiếc ruy băng cho tôi. Nghe đến đây, cô gái tội nghiệp bật khóc nghẹn ngào và thốt lên: “Ah, Rousseau! Tôi từng nghĩ cậu là người tốt — cậu làm tôi đau khổ biết bao, nhưng tôi thà chịu đựng chứ không muốn ở vào hoàn cảnh của cậu.” Nàng tiếp tục tự biện hộ với sự ngây thơ và kiên quyết, nhưng không thốt ra bất kỳ lời lăng mạ nào nhắm vào tôi. Sự nhún nhường của nàng, đặt cạnh thái độ chắc nịch của tôi, đã làm hại chính nàng; bởi người ta thấy khó mà chấp nhận một bên là sự táo tợn quỷ quái, còn bên kia là sự hiền hòa thiên thần. Vụ việc không thể đi đến kết luận tuyệt đối, nhưng cán cân nghiêng về phía tôi; và Bá tước de la Roque, khi sa thải cả hai chúng tôi, chỉ thỉnh thoảng lướt qua câu nói: “Lương tâm của kẻ có tội sẽ trả thù cho người vô tội.” Lời tiên đoán của ông là sự thật và được minh chứng mỗi ngày.
Tôi chẳng rõ nạn nhân của trò vu khống ấy đã trôi dạt về đâu, nhưng xác suất để nàng có thể tự lập một cách suôn sẻ sau cú sốc đó là vô cùng thấp, bởi nàng gánh trên vai lời cáo buộc tàn nhẫn làm vấy bẩn danh dự trên mọi phương diện. Trộm cắp chỉ là chuyện nhỏ, nhưng nó là trộm cắp; và tệ hơn nữa, nó được dùng để dụ dỗ một đứa trẻ. Trong khi sự gian dối và ngoan cố chẳng để lại chút hy vọng nào ở một kẻ hội tụ quá nhiều thói hư tật xấu. Tôi thậm chí không xem nỗi khốn khổ và nhục nhã mình đẩy nàng vào là tội ác lớn nhất: ai mà biết được, ở tuổi nàng, sự khinh miệt và đức hạnh bị chà đạp sẽ dẫn dắt nàng tới xó xỉnh nào? — Hỡi ôi! Nếu sự cắn rứt vì làm nàng bất hạnh đã là không thể dung thứ, thì tôi phải chịu đựng những gì khi nghĩ rằng mình còn biến nàng trở thành một kẻ tồi tệ hơn cả bản thân? Ký ức tàn nhẫn về sự kiện này đôi khi làm tôi bấn loạn và dày vò đến mức trong những giấc mơ chập chờn, tôi cứ ngỡ cô gái tội nghiệp ấy đang bước vào và trách múa tội ác của tôi, hệt như thể tôi vừa mới gây ra nó ngày hôm qua. Trong những năm tháng an nhàn bình yên, tôi bớt dằn vặt hơn vì chuyện này; nhưng giữa một cuộc đời phong ba bão táp, nó tước đi của tôi niềm an ủi ngọt ngào dành cho sự vô tội bị bức hại, và khiến tôi đau đớn nghiệm ra điều mà tôi từng đề cập trong vài tác phẩm: sự hối hận chợp mắt dưới ánh nắng thái bình của thị vượng, nhưng sẽ bừng tỉnh giữa giông bão của nghịch cảnh. Tôi chưa từng đủ dũng khí để trút gánh nặng này trong lòng một người bạn; sự thân thiết tột độ cũng chẳng thể khuyến khích tôi làm điều đó, kể cả với Madam de Warens. Tất cả những gì tôi có thể làm là thừa nhận mình mang trọng tội, nhưng không bao giờ dám nói rõ bản chất của nó. Do đó, gánh nặng vẫn đè nặng lên lương tâm tôi cho đến ngày nay; và tôi thực sự thừa nhận rằng khát khao giải thoát bản thân khỏi nó phần lớn đã thúc đẩy tôi đưa ra quyết định viết nên cuốn *Tự thú* này.
Tôi đã tường thuật trung thực trong những dòng vừa qua, và người ta chắc chắn sẽ thấy rằng tôi không hề tìm cách ngụy trang sự bỉ ổi trong lỗi lầm của mình; thế nhưng tôi sẽ không hoàn thành mục đích của tác phẩm này nếu đồng thời không phơi bày tâm tư bên nội tâm và biện hộ cho bản thân trong giới hạn phù hợp với sự thật.
Sự độc ác chưa từng xa rời suy nghĩ của tôi đến thế như trong khoảnh khắc tàn nhẫn ấy; và khi tôi cáo buộc cô gái tội nghiệp, thật kỳ lạ nhưng hoàn toàn chính xác, tình bạn của tôi dành cho nàng chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành động đó. Nàng hiện diện trong tâm trí tôi, và tôi vớ lấy lời biện hộ từ bất kỳ đối tượng đầu tiên nào xuất hiện trước mắt: tôi cáo buộc nàng làm điều mà chính tôi định làm, và vì dự định ban đầu là tặng chiếc ruy băng cho nàng, tôi khẳng định nàng đã cho tôi nó. Khi nàng xuất hiện, trái tim tôi đau thắt, nhưng sự hiện diện của quá nhiều người áp đảo sự cắn rứt. Tôi không sợ hình phạt, mà khiếp sợ sự nhục nhã — tôi sợ nó hơn cả cái chết, hơn cả tội ác, hơn cả thế gian này. Tôi muốn tự chôn vùi, trốn chạy vào tận tâm can trái đất: sự hổ thẹn bất khả chiến bại đè bẹp mọi cảm xúc khác. Chỉ có sự hổ thẹn mới sinh ra sự trơ trẽn, và càng phạm tội, nỗi sợ bị phơi bày lại càng làm tôi trở nên gan lì. Tôi chẳng sợ gì ngoài việc bị phát hiện, bị tuyên bố công khai ngay trước mặt là một kẻ trộm, kẻ dối trá và kẻ vu khống. Nỗi sợ không thể khuất phục trước điều đó lấn át mọi giác quan. Nếu được để mặc một mình, tôi chắc chắn đã thú nhận sự thật. Hoặc nếu Bá tước de la Roque kéo tôi ra một góc và bảo: “Đừng hãm hại cô gái tội nghiệp này; nếu ngươi có tội hãy thừa nhận đi,” tôi tin chắc mình đã quỳ sụp dưới chân ông ngay lập tức. Nhưng họ hù dọa thay vì khích lệ tôi. Tôi khi ấy vẫn chưa thoát khỏi tuổi thơ, hay đúng hơn là vẫn đang chìm đắm trong đó. Việc khoan dung cho tuổi tác của tôi cũng là điều hợp lý. Ở tuổi trẻ, tội ác được hoạch định đen tối thường nặng nề hơn tuổi trưởng thành, nhưng những điểm yếu thì ít trầm trọng hơn nhiều. Lỗi lầm của tôi thực sự không có gì hơn thế; và tôi đau khổ vì hệ quả của nó nhiều hơn là bản thân hành vi đó. Dù vậy, nó cũng mang lại một mặt tích cực là bảo vệ tôi suốt quãng đời còn lại khỏi bất kỳ hành vi phạm tội nào, xuất phát từ ấn tượng khủng khiếp đọng lại từ tội ác duy nhất tôi từng phạm phải. Và tôi nghĩ ác cảm với việc nói dối bắt nguồn phần lớn từ nỗi hối hận vì từng nhúng chàm vào một lời dối trá đen tối đến thế. Nếu đó là một tội lỗi có thể chuộc lại — điều mà tôi dám tin là có — thì bốn mươi năm sống chính trực và danh dự qua vô số hoàn cảnh ngặt nghèo, cùng bao bất hạnh đè nặng những năm tháng cuối đời, có lẽ đã hoàn tất điều đó. Cô gái tội nghiệp Marion đã tìm thấy rất nhiều kẻ báo thù trên cõi đời này, thế nên dù lỗi lầm của tôi lớn đến đâu, tôi cũng chẳng sợ phải mang theo nó xuống mồ. Đến đây, tôi đã khép lại những gì cần thổ lộ về chủ đề đau đớn này; nguyện xin tôi không bao giờ phải nhắc đến nó thêm một lần nào nữa.