Từ khi thuyết tiến hoá của Darwin ra đời (1859) và mặc dù được đa số các nhà khoa học danh tiếng công nhận là hợp lý đúng theo khoa học, được giảng dạy khắp nơi trên thế giới,
nhưng vẫn chưa có một mô hình Toán hay thực nghiệm nào khác đưa ra để minh chứng cụ thể, hoặc để làm sáng tỏ ý nghĩa thêm cho phần lý thuyết. Do đó, đã có một thắc mắc nói chung về khoa học: Nếu trong vũ trụ này có những định luật vật lý về chuyển động (Laws of Motion) được diễn tả theo một công thức tính toán gần như chính xác của luật hấp dẫn trọng trường, lực đẩy (Archimede)
của nước, hay sự truyền dẫn nhiệt năng v.v, thì tại sao chúng ta không thể có một quy luật hay một công thức nào đó để tính toán thời gian, áp dụng cho sự thay đổi và tiến hoá của vũ trụ nói chung, hay cho trái đất và các loài sinh động vật nói riêng, kể cả cho con người? Nên nhớ là không phải tất cả các quy luật khoa học hay công thức tính toán nào cũng đều phải có độ chính xác cao như khoa Vật Lý, nhất là khi áp dụng cho các bộ môn khoa học về nhân văn hay kinh tế tài chánh.
Một suy luận bình thường cho thấy: Nếu tất cả vật thể rơi tự do trong không gian đều phài chịu chi phối bởi lực hấp dẫn trọng trường nói chung, thì sự tiến hoá của các loài Sinh-Động
Vật trên trái đất này, nếu nói theo ngôn ngữ vật lý, đã và đang “rơi tự do” từ lúc vũ trụ mới khai sinh cho đến hiện tại, cũng có thể phải chịu tác động theo một trật tự hay quy luật nhất
định nào đó (?). Suy diễn từ ý tưởng trên đã cho ra một kết luận khá lô-gích là: Phải có một quy luật về thời gian vật lý nào đó để áp dụng cho sự thay đổi và tiến hóa cuả các loài Sinh-Động-Vật trên trái đất này. Nếu không, thì có lẽ sự tiến hóa cuả vạn vật đã trở thành rối loạn, mất trật tự và không cân bằng, biến trái đất thành một hành tinh chết, hay ngay đến cả vũ trụ này cũng chưa chắc tồn tại và vận hành như chúng ta thấy được hiện nay(!?)
Kết quả từ suy luận đó cho ra, như đã giới thiệu sơ lược ở trên, một sự liên kết và so sánh khá ấn tượng giữa luật hấp dẫn trọng trường cuả vật thể rơi tự do, và quy luật tiến hoá cuả các
loài Sinh-Động-Vật nói chung, kể cả con người, dựa vào một số dữ kiện chính sau đây:
Trước khi phát hiện ra lực gia tốc G, Newton đã quan sát các vật thể hay trái táo rơi và có thắc mắc là tại sao tất cả các trái táo đều rơi xuống đất mà không có cái nào rơi ngược trở lại ra ngoài không gian. Kết luận của Newton khá đơn giản là phải nhờ có một lực nào đó kéo trái táo về hướng trái đất. Một cách giống tương tự như vậy nếu chúng ta quan sát lịch sử tiến hoá của các loài Sinh-Động-Vật, tất cả đều cho thấy có sự thay đổi liên tục sau mỗi thế hệ, để cho ra các hậu duệ mới kế tiếp và thường là tốt đẹp và tiến bộ nhiều hơn theo chiều hướng tương lai. Nghĩa là nếu nói theo cách khác, xã hội con người nói chung, càng ngày càng văn minh và tiến bộ với một tốc độ thay đổi nhanh hơn so với tiền nhân cuả mình. Đây phải là tiến trình thay đổi nhất định và không thể làm cho đảo ngược lại được. Cụ thể minh chứng cho thấy lịch sử của 1000 năm trong thiên kỷ thứ 2 đã thay đổi khá nhiều trong hai thế kỷ cuối cùng nếu so với 8 thế kỷ trước đó, nhất là về phương diện khoa học
và kỹ thuật. Ngay cả tuổi thọ trung bình của con người cũng đã gia tăng nhanh chóng đáng kể, nếu so sánh thế kỷ 20 với những thế kỷ trước.
Đồng thời và ngược lại, trong quá khứ mấy ngàn năm lịch sử, tập thể hay xã hội nào chọn con đường quá bảo thủ hay không muốn thay đổi nhiều để theo kịp đà tiến bộ, thì chắn chắn hầu hết đã bị chậm tiến và tụt hậu, rồi cuối cùng cũng đưa đến hậu quả là bị chiếm đoạt hay mất luôn chủ quyền quốc gia vào tay các xã hội văn minh và tiến bộ hơn. Cụ thể như là số phận của các bộ tộc hùng mạnh trước Công Nguyên ở Phi Châu và Trung Đông, đã bị tụt hậu trong thiên niên kỷ đầu tiên, hay các nước Á Châu bị chậm tiến trong hai thế kỷ 19, 20,v.v.
Trở lại chủ đề chính, đa số chúng ta đều biết là muốn xác định được luật hấp dẫn trọng trường hay còn gọi là luật rơi tự do của một vật thể, các nhà khoa học đã làm những thí nghiệm cụ thể và đơn giản để chứng minh như sau: Thả một vật rơi tự do trong một môi trường lý tưởng và xác định vị trí cuả vật thể đó sau một khoảng thời gian bằng nhau nhất định. Vị trí của những vật rơi xác định nói trên tại mỗi thời điểm được ghi nhận và gọi là “Dữ kiện khoa học”. Kế đến, dùng kết quả thí nghiệm đó để nghiên cứu và tìm ra mô hình toán cho những liên hệ vật lý của sự rơi, dựa trên những dữ kiện có được . Cụ thể như hình A sau đây cho thấy:

Các nhà khoa học đã thả một vật rơi và chụp hình vị trí cuả vật thể đó sau mỗi 1/20 giây. Kết quả nhận xét cho thấy khoảng cách hay vị trí của vật rơi tự do là một hàm số tỷ lệ thuận với bình phương của thời gian. Tương tự giống như thí nghiệm vật lý về vật rơi tự do nói trên, công việc đi tìm một quy luật cho thuyết tiến hoá gồm có ba công đoạn chính:
1. Nhận diện và xác định các nền văn minh chính của nhân loại, dựa trên những dữ kiện lịch sử đã có và đáng tin cậy trong mấy ngàn năm qua. May mắn là chúng ta đã có ít nhất
hơn hai ngàn năm lịch sử thế giới được ghi chép khá đầy đủ, và ít nhất là thêm vài ngàn năm nữa với các di tích văn hoá đã được phát hiện hay tìm thấy mới đây như lăng mộ, cổ vật, xương cốt và dụng cụ sinh hoạt hàng ngày. Lịch sử thế giới qua mấy ngàn năm cũng cho thấy, một nền văn minh lớn thường là được thừa hưởng hay kế thừa từ các nền văn minh nhỏ hơn trước đó quy tụ lại.
Từ đó, theo định nghĩa thực tế, một nền văn minh chính và lớn nhất, đại diện cho một thời đại, phải là một nền văn minh dẫn đầu thế giới trong cả ba lãnh vực trọng yếu: Kinh tế, Quân sự và Khoa học-Kỹ thuật.
2. Dựa trên các dữ kiện đã có và được kiểm chứng nói trên, chúng ta sẽ thử đi tìm một mô hình toán cơ bản, biểu thị tổng quát cho sự liên kết của các dữ kiện lịch sử lại với nhau một
cách hợp lý, để có thể gọi chung là quy luật Tiến Hoá.
3. Sau cùng, mô hình toán tìm thấy sẽ được áp dụng trong phương pháp tính ngược trở lại cho tới thời điểm khai sinh ra Vũ trụ, Thái dương hệ, và tất cả các nguyên đại kế tiếp theo
sau đó. Mục đích chính là dùng để kiểm chứng lại phần lý thuyết đưa ra của mô hình Toán đã được trình bày.