Nguyên Ðại VI này gắn liền với giai đọan chuyển tiếp giữa loài linh trưởng hay dã nhân và người tiền sử. Nhưng trên hết tất cả là sự lập lại của chu kỳ thay đổi tiến hoá những bộ phận cơ bản cuả thể xác gồm có Đầu, Mình và Chân Tay. Chính xác hơn là theo thứ tự từ dưới lên trên, qua các bộ phận chính trong cơ thể của con người gồm 6 thành phần như đã lập lại trong năm (5) nguyên đại trước đây: Chân, Tay, Thân dưới, Thân giữa, Thân trên, Cổ và Đầu.
Thời kỳ này có thể được coi như là giai đoạn chuyển tiếp giữa các loài dã nhân qua các giống người Homo-Erectus, xin gọi chung là người Thượng Cổ Đại (TCĐ).
Cũng trong Nguyên Ðại thứ 6 này, lần đầu tiên hoàn tất một chu kỳ tiến hoá toàn bộ gồm sáu (6) bộ phận trong cơ thể cuả các loài động vật cao cấp như đã trình bày. Bắt đầu là giống Người Thượng Cổ Đại I sơ khai và các phát triển về khả năng dùng chân, kể cả các thay đổi tiến bộ về những sinh hoạt ảnh hưởng đến chân, như đi đứng hay chạy.
Băng chứng cho những thay đổi về thể xác lẫn trí khôn có thể thấy rõ nếu so sánh dung tích não bộ của loài Dã Nhân chỉ có từ 900-1000 cm3, và của các giống người sau này như Neanderthal và Homo-Sapiens là từ 1400-1500 cm3.
16.1 Người Thượng Cổ Đại I
Homo Erectus I (1.2 mya – 0.6 mya)
Chân - Chạy - Ði - Ðứng
Bức tranh về sự tiến hóa cuả con người bắt đầu rõ nét dần trong thời kỳ này, nhờ công trình khảo cổ, đào xới và nghiên cứu di tích hoá đá cuả các nhà nhân chủng học. Những phát hiện gần đây nhất về xương hoá đá trong thập niên 1960 trở lại đây cho thấy, thuỷ tổ cuả loài người chắc phải xuất hiện sớm hơn.
Bằng chứng về di tích đã được tìm thấy cuả “Lucy” (1974), hay mới nhất là bộ xương còn nguyên “Ardi” (2009) cho biết chắc chắn giống Dã nhân và các loài Linh Trưởng (Genus Homo) xuất hiện khoảng từ 1.8 đến 3.0 triệu năm, xuất phát hay có cùng nguồn gốc với nhóm Ardi (Australopithecus Afarensis) đã xuất hiện trước đó từ 3.0 đến 5.0 triệu năm(*101 Microsoft Encarta 98 Encyclopedia).
Tuy nhiên, có một chi tiết khác biệt rất đáng chú ý về thể xác cuả Lucy và nhóm Linh Trưởng (Australopithecines) là chỉ có chiều cao chừng 1 mét, và đặc biệt là dung tích não bộ chỉ lớn khoảng 750 cm3, so với con số trung bình cuả nhóm Dã Nhân có niên đại khoảng chừng 1.5 triệu năm hay gần hơn về sau này là 900 cm3.
Như vậy có thể minh chứng được những gì đã trình bày trong chương 5 trước:
Thứ nhất, thân hình ngắn và nhỏ con vì phải thích nghi với đời sống trên cây cao, và chỉ ăn toàn trái cây hay thực vật. Thứ hai, nhờ tình cờ may mắn sống trên cây cao và ăn nhiều các loại lá hay trái cây có chất ngọt, nên não bộ các loài Linh Trưởng tăng trưởng mau chóng, ảnh hưởng đến trí khôn hay sự thông minh cuả các giống dã nhân và các nhóm Người TCĐ (Homo Erectus) về sau.

Không còn phải thắc mắc gì nữa khi quan sát sinh hoạt và nếp sống bầy đàn cuả các loài linh trưởng.
Một số loài dã nhân có những sinh hoạt bầy đàn rất gần với con người, nhất là loài khỉ dã nhân (Gorilla). Dễ phân biệt nhất cuả các loài khỉ dã nhân so với các giống linh trưởng khác là khả năng đi đứng thẳng người trong một thời gian khá lâu. Xin nhắc lại trong thời kỳ khởi đầu này các nhóm người TCĐ I khi đi vẫn còn có thể bị khòm lưng, với hai tay vẫn còn có thể chạm đất và thụ động vì chưa quen hoạt động nhiều.
Lý do khiến người TCĐ I vẫn còn đi khom lưng và thòng hai tay xuống đất như là để chống đở thân hình vì não bộ chưa phát triển nhiều, nên các hệ thần kinh vẫn chưa hoàn toàn điều khiển và kiểm soát được sự thăng bằng, nhất là hệ thần kinh cột sống khi đứng thẳng hoặc đi bằng hai chân. Có thể thấy rõ tình trạng phải khom lưng xuống khi đi của người TCĐ I giống tương tự như những người cao tuổi. Do bị thoái hoá cột sống lưng và mật độ cuả tế bào nhớ bị giảm dần, những người lớn tuổi thường gặp khó khăn giữ cho cột sống lưng thẳng và sự cân bằng trong khi đi đứng, nên thường là phải nghiêng người hay cong lưng xuống cho đỡ mệt mỏi và đau nhức trong khi bước đi.
Phải mất thêm khoảng chừng nửa triệu năm để não bộ cuả người TCĐ I phát triển thêm hệ thống thần kinh giác quan và bộ nhớ điều khiển cơ thể, làm quen dần với các động tác thăng bằng khi đi đứng thẳng người! Xin nói thêm ở đây, một phần động lực giúp giống dã nhân có thêm nhu cầu cần đứng thẳng người lên là nhờ bản năng sinh tồn. Thói quen bắt chước dùng tay để thị uy hay đe doạ đối thủ trong các cuộc chiến tranh dành quyền cư trú trên lãnh thổ đang sinh sống. Thêm vào, chạy cũng là một hành động giúp cho xương cốt người TCĐ I họat động cứng rắn hơn để cho khi đứng, thân mình được thẳng lên.
Minh chứng cụ thể cho thấy, nếu so sánh tỷ số giữa trọng lượng não bộ với trọng lượng cuả toàn thân xác, con người hiện nay có tỷ số nói trên cao hơn bất cứ sinh vật nào trên trái đất, dù trọng lượng thân xác nhỏ và nhẹ hơn rất nhiều, ngay cả so với các loài động vật có vú (mammal) nặng cả tấn. Bắt đầu trong khoảng thời kỳ này (cách đây từ 1.0 đến 0.65 mya), nhờ tăng thêm bộ nhớ do não bộ phát triển lớn hơn, thị giác cuả người TCĐ I đã có thể phân biệt được đa số các màu sắc tiêu chuẩn của cầu vòng, khác với các màu cơ bản Xanh Vàng và Đỏ đã thấy trước đó từ các nhóm Dã Nhân. Dĩ nhiên là mắt của người TCĐ I trong thời kỳ nói trên chỉ có khả năng phân biệt được màu sắc giống như các trẻ em 3, hay 4 năm tuổi hiện nay mà thôi.
Kế đến, dựa vào đặc tính cuả một số hậu duệ các loài linh trưởng (như Chimpazee) còn sót lại hiện nay, có thể biết chắc trong thời kỳ này, hầu như các giống dã nhân và người TCĐ I vẫn còn dùng thức ăn chính là thực vật từ những đọt lá, các loại vỏ hay trái cây, chưa biết ăn thịt và như đã nói, có chiều cao khoảng chừng gần một mét, và nặng không quá 50 kilô.
Một minh chứng khác giải thich tại sao các Nguyên Đại chính thường bắt đầu từ những vùng nằm gần đường xích đạo ở Phi Châu. Nhờ thời tiết nóng và ấm quanh năm, nên nhu cầu về ăn để có năng lượng hay thân nhiệt (Calorie) ít hơn nhiều. Các giống sinh động vật có thể chịu đựng nhịn đói và sống sót một thời gian khá lâu hơn, trong những lúc cạn hết lương thực để dành, hay vì lý do thiên tai như bão lụt làm cản trở công việc đi săn thú tìm kiếm thức ăn. Đó cũng là lý do chính giải thích tại sao các giống người Cổ Đại khác sau này như Neanderthal sống tập trung nhiều ở Nam Âu Châu trong các vùng khí hậu ôn đới, đã bị tuyệt chủng do thiếu tại sao các giống người Cổ Đại khác sau này như Neanderthal sống tập trung nhiều ở Nam Âu Châu trong các vùng khí hậu ôn đới, đã bị tuyệt chủng do thiếu nguồn thức ăn trong chu kỳ băng giá cuối cùng cách đây hơn hai chục ngàn năm.
Ðây là thời bắt đầu phát triển mạnh về chân tay như đã xác định theo thứ tự thay đổi và tiến hoá cuả cơ thể. Trong thời kỳ đầu tiên của nguyên đại VI này, phát triển mạnh và nhiều nhất vẫn là từ hai chân cuả các giống người TCĐ I. Do sức nặng thân mình phải chia cho 4 chân trước được chuyển sang 2 chân, nên hai chân sau phải to và khoẻ mạnh hơn trước rất nhiều để chịu được sức nặng của cả toàn thân người.
Không chỉ lớn hơn về khối lượng mà còn mạnh hơn phần cơ bắp hay gân, nhất là các ống xương đùi. Ðồng thời, hai cánh tay cũng bị thu nhỏ lại dần do ít nhu cầu xử dụng để chịu sức nặng.
Nói chung, sở trường cuả nhóm người TCĐ I trong thời đại này gồm có một số các động tác như chạy nhanh hay nhảy lên cao được bằng hai chân, vv. Lý do để luyện tập các động tác cũng là nhờ cố gắng hết sức chạy thật nhanh và mau hơn đối thủ để bảo vệ sinh mạng, hay dùng để săn mồi kiếm ăn.
Nhắc lại thời kỳ còn sống trên cây cao, hai bàn tay cuả các loài linh trưởng đã có những thay đổi vì nhu cầu sinh tồn. Do cần phải bám chặt và bám mạnh vào các nhánh cây khi di chuyển, đánh đu hay chuyền tay nhau chụp bắt giữa những cành cây, nên các đốt ngón tay thay đổi về hình dạng và chiều dài. Từ đó, các đốt lóng tay sinh ra to lớn và dài hơn ngón chân, cánh tay cũng nhỏ lại và không phải tuỳ thuộc vào hình dạng hay chiều dài của tay.
Trong thời đại này, tất cả những gì thuộc về chân đều được phát triển mạnh. Hai bàn chân, dưới sức nặng gia tăng sẽ to lớn dần lên để giúp thân xác thêm cân bằng ổn định. Trong khi hai bàn tay (hay 2 chân trước)
không còn chịu sức nặng áp lên nên nhỏ lại dần, nhưng trở thành uyển chuyễn và linh hoạt hơn, nhất là có thể làm thêm được rất nhiều động tác tinh vi và phức tạp khác. Chạy, nhảy hay đi đứng trong thời kỳ này của giống người TCĐ I cũng đã đạt tới mức nhanh kỷ lục, nghĩa là nhanh hơn nếu so với đa số các loài Linh Trưởng còn đang hiện diện trên trái đất.
Trong hơn sáu trăm ngàn năm, nhóm người TCĐ I cũng đã có thêm một số những thay đổi chính về não bộ như là dung tích tăng lên làm cho phần sọ não ở trán cao và nở rộng ra hai bên trán (Hình 30). Hệ quả cho ra là khoảng cách của hai tròng mắt thu hẹp dần nhỏ lại và bộ phận xương hàm miệng bớt chồ ra phía trước như loài Dã Nhân. Thêm vào, nhờ phần trán và mũi nở to ra, nên làm cho khuôn mặt trông có vẽ như cân dối hơn.
17.1 Người Thượng Cổ Đại II
Homo Erectus II (0.6 – 0.3mya)
Tay – Xử Dụng Vũ Khí
May mắn lại đến với nhóm Người Thượng Cổ Đại tiến bộ hơn, gọi chung là người Thượng Cổ Đại II.
Do tình cờ và bất ngờ xảy ra cho một thành viên tuy rất nhỏ con so với đối thủ, nhưng trong lúc bị thua lui vào đường cùng, đã vô tình dùng một nhánh cây làm vũ khí tự vệ thành công. Bằng cách cầm nhánh cây đâm mạnh vào mặt đối tượng làm cho đối thủ bị thương tich và phải bỏ chạy vì quá đau đớn.
Một cuộc cách mạng lớn về nghệ thuật xử dụng vũ khí chiến tranh đầu tiên cuả thuỷ tổ loài người đã xảy đến cho các nhóm TCĐ II. Không bao lâu sau đó, chỉ trừ những đứa trẻ còn quá nhỏ hay các người mẹ đang phải nuôi con, tất cả các nhóm TCĐ II còn lại đều biết mang theo trên tay một nhánh cây để làm vũ khí tự vệ phòng thân, hay còn dùng để tấn công các con mồi khi đi kiếm thức ăn. Trong thời kỳ này, một nhánh cây cứng là vật không thể thiếu trên tay cuả các thânh viên trong nhóm, giống như cây đao hay cây kiếm, vũ khí tự vệ hay còn gọi là vật “bất ly thân” cuả các giang hồ lái buôn hay hiệp sĩ kiếm khách về sau này.

Kể từ khi biết xử dụng vũ khí bằng nhánh cây nói trên, nhóm TCĐ II nói trên đã trở thành nhóm có ưu thế mạnh nhất trong các nhóm đồng chủng. Nhưng ưu thế đó cũng không kéo dài được lâu vì các nhóm khác lần lượt bắt chước làm theo. Kết quả có thể là một cuộc thi đua võ trang đã thật sự bắt đầu giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm khác biệt với nhau. Mục tiêu cuối cùng cho các cuộc thi đua võ trang này có lẽ là sự cố gắng tìm kiếm cho được các nhánh cây cứng, gọn nhẹ và có nhiều góc cạnh sắc bén. Ngoài ra, còn một biện pháp tự vệ khác, nếu trong tay không có nhánh cây hay hòn đá aắc nhọn, Các nhóm người TCĐ II cũng không quên xử dụng đến hàm răng hay cả hai bàn tay với những móng vuốt sẵn có, như đã trông thấy và học được từ cách săn mồi của những loài mãnh thú hung dữ.
17.2 Tay - Xây Dựng - Diễn Tả Ý Tưởng.
Công việc đầu tiên mà nhóm người TCĐ II cần phài làm bằng tay trước tiên là chế tạo những dụng cụ như các miếng đá mỏng to bằng bàn tay, với một đầu bén nhọn để dùng như dao.
Kế đến là dùng các dụng cụ bằng đá để mài dũa hay đẽo gọt các nhánh cây, làm ra vũ khí cầm tay hay tạo ra nguồn cung cấp vật liệu về xây dựng cho những hang động mới.
Bắt đầu từ thời điểm này cho đến gần ba trăm ngàn (300 000.) năm sau, hai bàn tay cuả các giống người TCĐ II đã làm thêm được những chuyện phi thường và kỳ diệu, không những dùng để tự vệ hay trong công việc ăn uống, mà còn tự biến chế làm ra những hang động để trú ẩn. Một số ít khác còn biết làm nhà bằng cách nhánh lá cây để che mưa nắng, xây dựng hay lót ổ trong những lúc cần sinh đẻ v.v.
Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng người TCĐ II đã biết kỹ thuật tự làm ra mồi lửa để sưới ấm. Lập luận nói trên thật ra chưa có cơ sở minh chứng rõ ràng để tin là đúng, nhưng chắc chắn một chuyện đã xảy ra là các nhóm người TCĐ II đã nhìn thấy và kinh qua hay được chứng kiến, hậu quả của các đám cháy rừng và những công dụng của lửa.
Thêm vào, có những tiến bộ khác rõ nhất trong thời kỳ này là xử dụng hai tay trong việc chọn lựa và chuẩn bị thức ăn, nhờ biết cách lột hay cắn bỏ các phần vỏ cứng đã bị hư hỏng, không ăn được. Nhưng quan trọng hơn tất cả trong thời kỳ này và cũng có thể coi như là một cuộc cách mạng về trí tuệ, chính là khả năng diễn tả thái độ. Nhờ đứng thẳng được và với khả năng xử dụng các ngón tay đã nhuần nhuyển, nhóm TCĐ II có thể bắt đầu biết diễn tả chi tiết về thái độ cuả mình cho đối tượng hiểu rỏ hơn.
Ðồng thời chính nhờ vậy, một ý thức về bản ngã hay cái “Tôi” đã bắt đầu thành hình. Cụ thể minh chứng về những biểu lộ cảm tính thường thấy nhiều nhất trong các loài dã nhân còn sống sót hiện nay, là dùng hai tay đấm vào ngực và nhe răng gầm gừ để thị uy đối phương, ngầm ý như muốn nói là “Ta đây, có sợ không? Hãy cút đi!”.
Tất cả những thay đổi tiến bộ trên có thể đã giúp cho các nhóm TCĐ II đang gặp khó khăn về nguồn nước trên lục địa Phi Châu vì hạn hán và sa mạc hóa vùng bình nguyên Sahara, đã hồi sinh trở lại với chu kỳ của sự phát triển và lạm phát dân số. Gần cuối thời kỳ này, sau gần một triệu năm vắng bóng, chu kỳ băng giá trở lại với trái đất ít nhất là ba lần nữa. Mặc dù dưới góc nhìn thực tế thì đó là một thiên tai hay đại họa cho người TCĐ II và các sinh vật hiện diện, làm cho ít nhất một nửa dân số chết đói và làm tuyệt chủng một số các giống thú khác. Nhưng ngược lại, đó chính là động cơ thúc đẩy tiến bộ hữu hiệu nhất cho các nhóm TCĐ II còn lại, một sự bù trừ hay quân bằng của tạo hoá và thiên nhiên, sẽ áp dụng luôn cho cả con người hiện đại sau này. Bài toán giải quyết hữu hiệu nạn đói do thiếu thức ăn và tình trạng lạm phát dân số đã được lập lại ờ đây và từ đó chiến tranh sẽ cho ra kết quả “Mạnh được Yếu thua”.
Trong vòng một trăm ngàn năm đầu tiên của thời kỳ 2 này, một số đông các nhóm người TCĐ II yếu kém hơn đã bị xua đuổi, phải bỏ chạy ra khỏi Phi Châu và tiến dần lên phía Bắc cùa hai lục điạ Âu châu và Á châu vì lý do sinh tồn. Trên con đường di tản ngàn dậm xa xôi đầy nguy hiểm và khó khăn đó, một số các tiến bộ về kỹ thuật cũng đã được phát minh và tiếp thu. Cụ thể như việc xây dựng hang động để làm nhà cư trủ, chế tạo ra vũ khí cầm tay sắc bén hơn, v.v có thể đã được nhóm này nghiên cứu tìm ra với chủ ý chống lại khí hậu khắc nghiệt quá lạnh, cũng như là để chiến đấu với các kẻ thù nguy hiểm.
Nhờ vậy, vào cuối thời kỳ này khi chu kỳ băng giá trở lại, hậu duệ ngàn đời của nhóm người TCĐ II tiến bộ nói trên đã có thể quay ngược trở về lại phương Nam với mục đích trốn lạnh và tìm kiếm thức ăn. Nhưng có thể khi về lại Phi Châu thì gặp phải sự đối kháng của các nhóm cũ còn ở lại, nên họ phải chiến đấu để chinh phục và thống trị luôn nhóm người TCĐ II chậm tiến và yếu kém này, bắt đầu một thời đại mới của người TCĐ III văn minh và tiến bộ hơn tiền nhân của mình.
18.1 Người Thượng Cổ Đại III
Homo Erectus III (0.3 – 0.15 mya)
Thân dưới–Bộ phận Sinh Dục
Bắt đầu thời kỳ 3, mỗi giai đoạn trong thời kỳ này đã là một cuộc cách mạng thay đổi rất nhiều về thể xác và cảm xúc, vượt mức rất nhiều so với các thời kỳ trước đó, đưa các nhóm người TCĐ tiến tới gần hơn với giống người Homo Sapiens, hay còn gọi là người Cổ Đại (CĐ) thông minh. Tuy nhiên, để được thật sự bắt đầu gọi bằng chữ “Người”, một số thói quen cuối cùng cuả các giống người TCĐ III cần phải được thay đổi phát triển.
Trong thời kỳ này, thay đổi sớm nhất là biết chọn lựa từ thức ăn cho đến bạn tình. Nhờ được gia tăng thêm tế bào bộ nhớ nên các giác quan phát triển mạnh để phân biệt được nhiều màu sắc. Hai bàn tay cũng làm được việc nhiều hơn, các giống người TCĐ III đã bắt đầu biết lựa chọn, loại bỏ các món đồ vật kém chất lượng như một trái cây bị khô héo, hay các đọt lá cây có quá nhiều sâu bọ, v.v.
Tương tự như vậy cho việc lựa chọn bạn tình! Không còn việc làm tình với bất cứ đối tượng nào có sẳn tại chổ như lúc trước để thoả mản nhu cầu sinh lý tự nhiên nữa. Các nhóm người TCĐ III đã bắt đầu biết kén chọn những đối tượng trông “bắt mắt” hay dễ dàng để theo đuổi tấn công, hay ngược lại, bỏ chạy để tránh xa những đối tượng có quá nhiều yếu tố để thu hút sự nguy hiểm (?)

Một yếu tố thay đổi quan trong khác có thể coi là một cuộc cách mạng về tình dục trong thời kỳ 3 này để chuyển hóa dần giống người TCĐ III thành giống người Homo Sapiens thông minh. Ngoài yếu tố kén chọn bạn tình và biết phân biệt, nhờ có trí nhớ phát triển nhiều và tốt hơn, nên các giống TCĐ III có thể đã chủ động đổi tư thế giao hợp từ phía sau như các giống thú trước đây, ra phía trước mặt như người hiện đại. Có hai nguyên nhân chính để giải thích cho cuộc cách mạng thay đổi về tình dục nói trên:
Một là, hầu hết các vụ giao hợp nam nữ trong thời kỳ này đều xuất phát từ người Nam với sự cưỡng hiếp hay ép buộc do nhu cầu tình dục quá mạnh của giống Đực. Đa số là do kết quả của sự chạy đuổi và rượt bắt vì thói quen di truyền đã có từ ngàn đời. Do vậy, khi người Nữ bị chụp bắt được trong tư thế tự vệ nằm xấp sát xuống mặt đất, thì người Nam sẽ gặp khó khăn hay không thể thoả mản được.
Chỉ còn có giải pháp là phải lật người Nữ trong vị trí nằm ngửa, rồi dùng sức mạnh cuả cả hai tay và hai chân để thực hiện được công việc giao cấu.
Hai là để có thể nhận dạng được dễ dàng đối tượng hay bạn tình mà mình thích, nhất là để tránh khỏi bị nhầm lẫn ngoài ý muốn. Một minh chứng cụ thể cho thấy những tiến bộ đáng kể về mặt tình cảm tự nhiên, hay những cảm xúc thô sơ mới được hình thành cho giống người TCĐ III, và sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong tương lai cho các giống người CĐ và hiện đại về sau này.
Thêm vào một chi tiết đặc biệt là một khi đã biết lựa chọn hay biết để ý thích cái này hơn cái khác, thì tự nhiên khái niệm về quyền sở hữu cá nhân và sự ích kỷ cũng bắt đầu hình thành mạnh mẻ hơn ở các giống người TCĐ III này. Thay vì lúc trước là chỉ tranh dành với nhau do nhu cầu về ăn nhiều hơn, trong thời kỳ này còn phải tranh dành với nhau cả những món đồ vật trực tiếp thuộc về quyền sở hửu như hang động, đồ dùng cá nhân hay cả những ý thức về trách nhiệm phải bảo vệ lâu dài bạn tình và những đứa con được sinh ra sau đó nữa.
18.2 Dục Tính–VịKỷ
Do phát sinh ra từ tính vị kỷ, nên khái niệm về một đời sống riêng tư cũng đã từ từ xuất hiện dần. Thay vì sống bầy đàn chung chạ nhau như trước, những bạn tình hợp tính với nhau đã bắt đầu biết tách rời ra khỏi bầy đàn, lập nhóm riêng với nhau để có thể an toàn sinh hoạt riêng tư với nhau. Khái niệm về đời sống gia đình đã được gieo mầm móng từ đây. Đồng thời, một khi ý thức về quyền sở hữu càng nhiều thì tính ích kỷ càng gia tăng và sự ham muốn càng mạnh bạo, khiến cho các giống người TCĐ III càng ngày càng phải chịu nhiều cảnh xung đột nội bộ với nhau. Chiến tranh với các nhóm khác là chuyện xảy ra thường ngày. Nhưng chính nhờ vậy mà nguyên tắc “Chọn lọc tự nhiên” lại áp dụng rất khá đúng trong trường hợp này.
Nhờ thường xuyên phải đối diện với chiến tranh nguy hiểm như vậy và để bảo tồn sinh mạng hay bảo vệ bầy đàn, các nhóm người TCĐ III yếu kém cũng bắt đầu trờ lại chu kỳ phân tán ra đi khắp lục địa Phi châu, như trong thời kỳ trước đây cuả nhóm Bò Sát giữa Nguyên Ðại IV hay các nhóm Khủng Long trong Nguyên Ðại V. Còn một lý do quan trọng khác để các nhóm tìm cách rời khỏi lục địa Phi châu trong thời kỳ này là để tránh cái nắng nóng, do khí hậu trái đất ấm dần lên sau khi chấm dứt thời kỳ băng giá hai (400 – 200 tya-thousand years ago).
Do não bộ phải cố gắng làm việc thật nhiều hơn để sinh tồn, hậu quả tích cực là làm cho bộ nhớ cuả giống người TCĐ III càng được phát triển nhiều hơn, so với các nhóm đồng loại khác. Bước đầu để tiến hoá và thay đổi thành các giống người Cổ Đại thông minh hơn, cỏn được gọi chung theo tên khoa học là giống người Homo-Sapiens.
19.1
Người Cổ Đại I
Homo-Sapiens (150.000- 75.000 yrs)
Dự trữ thức ăn – Trở lại ăn thịt
Trở ngại lớn nhất cuả các nhóm nhỏ hay những cặp người CĐ I tách rời bầy đàn ra sống riêng trong các hang động là phải tự sức tìm kiếm lấy thức ăn, không thể nhờ vào bầy đàn như lúc trước, nhất là những khi gặp phải thời tiết xấu hay vì lý do bệnh hoạn không thể đi tìm kiếm lấy thức ăn. Khái niệm về sản xuất và dự trữ nước uống cũng như thức ăn bắt đầu sớm được thành hình trong thời đại này.
Do nhu cầu cần thức ăn trong những lúc khẩn cấp, các nhóm người CĐ I đã có sáng kiến biết nghĩ đến chuyện để dành thức ăn. Tuy công việc để dành thức ăn có thể đã bắt đầu khởi động trong thời kỳ này và không phải là điều khó khăn, nhưng vào thời kỳ đó không dễ dàng gì, vì đòi hỏi phải có một số lượng lớn các tế bào bộ nhớ, nhất là khả năng tư duy làm ra kế hoạch để dành thức ăn.
Thoạt đầu có thể là người CĐ I đã dùng những quả hạt còn dư vì ăn không hết, để dành cho ngày hôm sau hay cho những ngày tháng tiếp theo đó.
Nhưng công việc tư duy não bộ hay trí nhớ cuả người CĐ I đã bắt đầu làm việc nhiều hơn, do thắc mắc đã có sau khi đã được lập lại nhiều lần: “Tại sao (chúng ta) không cố gắng đi kiếm thức ăn nhiều thêm một chút khi có cơ hội làm việc thêm, rồi từ đó để dành lại cho những ngày kế tiếp theo sau, nếu vì một nguyên nhân nào đó làm cho không thể đi ra khỏi hang động được v.v”
Nhờ sự khôn ngoan muốn làm việc và kiếm thêm để dành hay tích luỹ nhiều thức ăn của nhiều nhóm CĐ I nên đã xảy ra tình trạng tranh dành và đánh nhau là chuyện thường tình. Hậu quả khác tất nhiên đưa đến vì chiến tranh, và vì tình trạng quá đói nên đã sinh ra thêm nhu cầu cần phải ăn thịt trở lại. Câu chuyện sau đây giải đoán được lý do tại sao các nhóm đã tiếp cận và quen dần trở lại với ăn thịt.
Một ngày tình cờ có nhóm mẹ con người CĐ I vì quá đói khát nên bị kiệt sức và vì quá yếu nên người mẹ đã bị ngã chân té xuống vực đá chết. Những đứa con còn may mắn sống sót, và nhờ bản năng tự nhiên cần phải uống sữa khi đói, đã uống nhầm phải máu cuả mẹ chảy ra từ vết thương trên cơ thể, nên đã khoẻ mạnh trở lại để tiếp tục sống còn. Hậu quả từ kinh nghiệm quý báu đó đã được truyền lại cho các thế hệ về sau biết cách sống còn trong những lúc bị đói khát. Ðó là nếu vì nhu cầu sống còn, thì cần phải uống máu hay ăn thịt của những sinh vật khác, kể cả đồng loại. Sự kiện minh chứng là cho đến thế kỷ 20 vừa qua, một số rất ít các bộ lạc ở Phi châu vẫn còn có tục lệ ăn thịt của người thân vừa mất để bày tỏ sự thương tiếc và tôn kính người chết.
Dĩ nhiên là các giống người CĐ I thông minh lúc ban đầu chỉ ăn thịt hay uống máu các đồng loại vừa chết vì quá đói khát. Nhưng lâu dần lại quen với mùi thịt và nghiện luôn đến mùi máu, nên xảy ra chuyện tham lam bắt luôn cả những con vật còn sống để ăn thịt hay uống máu, thay vì là chờ đợi quá lâu.
Theo thời gian, thịt cuả đồng lọai cũng bị khan hiếm và khó kiếm, không có đủ số lượng để thoả mản nhu cầu đói khát, các giống người CĐ I lại phải ăn luôn tất cả các loài sinh động vật khác, nếu bắt hay có được trong tay.
Chuyện ăn thịt và uống máu đã xuất hiện trở lại như một giải pháp hữu hiệu làm cho các giống người CĐ I càng ngày càng trở thành thêm dũng mãnh và thông minh hơn hẳn các giống người TCĐ chưa biết ăn thịt và uống máu, nhờ thể xác được hấp thụ trực tiếp các chất sinh tố dinh dưởng hay khoáng chất cần thiết từ ngay thân xác cuả thú vật hay đồng loại. Cũng từ đó, nhờ có khả năng liên lạc qua âm thanh và trở lại thói quen ăn thịt, nên cơ thể các giống người CĐ I đã có thêm khả năng chống rét và có thể tiến dần xa hơn về miền bắc giá lạnh cuả các lục địa Âu châu và Á châu.
Bằng chứng là cho đến nay, chỉ có những di tích hoá thạch trong khoảng niên đại này (162,000-81000 ya)
cuả giống người CĐ I (Homo Sapiens) là có thể được tìm thấy trên các lục điạ khác ngoài Phi Châu như bộ xương cuả người Homo Heidelbergenis tìm thấy ở Ðức, v.v.
19.2 Bộ phận Tiêu Hóa- Dục vọng - Tư hữu
Hệ quả tất nhiên khi nhóm người CĐ1 chuyển đổi thức ăn chính từ các loài thực vật sang động vật khiến cho bộ máy tiêu hóa hay các bộ phận trong cơ thể phải thay đổi để thích ứng với nhau, mặc dù cơ thể của giống người CĐ1 vào thời điểm cách đây hơn một trăm ngàn năm đã gần giống như người hiện đại sau này. Tuy vậy, những phần trăm khác biệt chính còn lại là những tuyến kích thích tố quan trọng chỉ có và được phát triển trong các giống người CĐ về sau, kể cả giống người văn minh hiện đại sau này. Cụ thể trong thời kỳ này có thể là những tuyến kích thích tố phát triển trong Gan hay Thận để giúp bao tử tiêu hoá được các loại thịt sống, hay các kích thích tố về tình dục giữa Nam và Nữ.
Khái niệm về tài sản hay cuả cải cũng đã bắt đầu xuất hiện từ khi các nhóm người CĐ I biết tích luỹ hay để dành thức ăn. Thật là đơn giản cho các nhà làm kinh tế về sau này khi muốn giải thích khái niệm về quyền “tư hữu”, nếu nhìn về nguồn cội cuả vấn đề tích luỹ thức ăn làm thành cuả cải trong thời kỳ còn sơ khai này. Sở dĩ những món đồ vật để dành hay thức ăn dư thưà đó biến thành tài sản riêng cuả cá nhân hay chung cho cả nhóm, khi có nhu cầu muốn dùng đến sản vật để dành hay dư thừa cuả nhóm khác.
Tóm lược lại từng sự kiện nói trên: Khởi đầu chỉ là mong muốn để dành thức ăn để dành phòng bị cho những lúc khẩn cấp, bệnh tật hay thời tiết xấu không thể đi kiếm thức ăn. Kế đến là những cá nhân khác trong nhóm, nếu có nhu cầu cần thức ăn nhưng lại không thể, hay tự bản thân không muốn đi ra ngoài tìm kiếm. Từ đó lại phát sinh ra vấn đề tích luỹ công sức lao động, rồi sau cùng biến dạng thành tài sản do “Cung và Cầu” hay ý thức về quyền tư hữu.
Lòng ham muốn có được thức ăn hay tài sản càng nhiều càng tốt, không những phát sinh ra chuyện muốn để dành, tích luỷ cho thật nhiều, mà còn nảy sinh ra tính tham lam muốn chiếm đoạt cuả đối tượng khác, giữa các thành phần “Không Có”
và “Có” hay đi xa hơn giữa thành phần “Có nhiều” và “Có ít”. Vấn đề đụng chạm quyền tư hữu xảy ra, dù ít hay nhiều, cuối cùng rồi cũng sẽ đưa đến chiến tranh xung đột lẫn nhau để giải quyết vấn đề.
Chiến tranh giữa hai đối tượng hay giữa các nhóm bầy đàn khác nhau là chuyện không thể tránh được, vì trong tất cả các thời kỳ này cho đến về sau, các phần tử trong nhóm CĐ đều chưa có khả năng xử dụng ngôn ngữ để nói chuyện hay giải quyết các vấn đề sinh tử với nhau.
20.1 Người Cổ Đại II
Homo Sapiens Sapiens(75.000 – 37.500 yrs)
Tim-Phổi– Phát âm tốt hơn
Ðáng nói hơn tất cả trong thời kỳ này là một bước đột phá trong tiến hoá đã xảy ra. Một cuộc cách mạng về dinh dưỡng cuả giống người Cổ Đại II (CĐ II), và sẽ trở thành thuỷ tổ cuả loài người, thay vì là tiếp tục mãi mãi đời sống cuả người CĐ. Ðó chính là bước đầu chuyển đổi giữa những âm thanh la hét gầm gừ thành tiếng nói rỏ rệt với nhiều âm khác nhau hơn để biểu lộ ý muốn và cảm xúc. Nhắc lại trước thời điểm này, đa số các giống thú sinh con (mammal), đều có “giọng nói” là những tiếng hú, hầm hừ hay gầm rống lên để bày tỏ thái độ với đối tượng.
Để được như trên, hai bộ phận chính trong cơ thể cần phải thay đổi trước lả Tim và Phổi. Tim cần làm việc nhiều hơn để cung cấp đủ nhu cầu máu cho não bộ phát triển ra to lớn và có nhiều tế bào nhớ hơn. Phổi cần phài chứa nhiều không khí để có thể cho ra những làn hơi dài, mạnh hơn qua cổ hay thanh quản, rồi từ đó phát ra âm thanh với nhiều tần số khác nhau. Tất cả nhu cầu trên đều thoả mản được dễ dàng trong thời kỳ này là nhờ nhóm người CĐ II tình cờ biết dùng đồ ăn có nhiều chất ngọt như mật ong, nhất là biết ăn thêm chất chua từ các loại trái cây hoa quả có nhiều sinh tố C, giúp cho thanh quản làm việc tốt hơn. Một yếu tố quan trọng ít ai để ý là: Sở dĩ con người nói được, hay các giống chim hót líu lo cả ngày, chính là nhờ có cái “Cổ” dài hơn so với các loài thú vật khác.
Những âm thanh khác nhau phát ra từ giống người CĐ IItrong thời đại này thì chắc cũng không có gì nhiều hơn, ước chừng có thể có tối đa là khoảng trong vòng gần hơn vài chục Âm khác nhau phát ra từ miệng để thông tin và liên hệ. Nhưng cách phát âm thì khác biệt nhau nhiều, vì đó là những tiếng la hét theo nguyên âm A, O, U, I, v.v., rõ ràng và rất dễ phân biệt, cho ra những tín hiệu khác nhau.
Giải thích hiện tượng đột phá về ngôn ngữ nói trên gồm có khá nhiều lý do, nhưng có hai lý do tiêu biểu nhất là:
1) Hệ thần kinh dọc trên vùng thuỳ não đã phát triển khá nhiều để có thể điều khiển tích cực các cơ bắp tại vòm miệng, làm cho vành môi có thể thay đổi hình dạng nhiều hơn, và cuối cùng là có thể phát ra được nhiều âm khác nhau. Nhận xét này có thể kiểm chứng được do những người bị tai nạn thương tật ở vùng thuỳ não sẽ khó phát âm hay dễ bị nói ngọng, nhất là khi vừa bị thuốc tê mê ở xương hàm mặt để chữa răng.
2) Bộ phận nhớ cuả thuỳ não gia tăng thêm khả năng ghi nhớ chính xác cũng như lập lại y hệt các động tác cuả cơ bắp tại thanh quản hay yết hầu, với khả năng điều tiết luồng hơi thở dài hay ngắn, làm chuẩn cho các phát âm chính và phụ.
20.2 Cảm Tính- Hợp Đoàn- Tình Cảm
Sau một thời gian dài tách ra để phát triển và phân tán ra khắp nơi trên các lục địa, dân số các giống người CĐ II đã bắt đầu sinh ra nhiều theo từng nhóm bộ lạc. Lý do là nhờ khí hậu giá lạnh hơn ở các vùng ôn đới, nên các giống người CĐ II phải sống chung trong những hang động khá an toàn nhiều hơn.
Thêm vào, đứng trước các hiểm nguy do chính đồng loại gây ra, các nhóm nhỏ ít người buộc phải tìm cách gia tăng dân số bằng cách duy nhất trong thời kỳ này là sinh sản. Vị trí và bổn phận cuả hai giống nam nữ bắt đầu được phân chia rõ rệt do nhu cầu sinh tồn.
Người nam phải ra ngoài đi săn tìm thức ăn, trong khi người nữ ở lại trong hang động để lo công việc sinh sản và bảo vệ các thức ăn để dành.
Những nhóm người CĐ II nào không có may mắn theo quy luật nói trên tất nhiên là có thể đã bị diệt vong, vì người nữ đã không thể bảo vệ hay sinh sản được con nhỏ nếu phải chạy theo nhóm săn đuổi các con mồi hay tìm thức ăn. Ngay cả vài chục ngàn năm về sau vào thời kỳ cuả các giống người văn minh hiện đại (modern man), quy luật nói trên vẫn còn được áp dụng. Các sắc dân du mục xưa đã lần lượt bị tuyệt chủng nếu họ không trụ lại được trên một mảnh đất cố định nào trong một thời gian lâu dài đủ để an-cư lạc-nghiệp.
Các nhóm người Cổ Đại II mạnh nhất vào thời kỳ này chính là những nhóm sống trong các hang động thiên nhiên hay tự xây dựng lấy hang động bằng chính sức mạnh tay chân. Khái niệm về cái gọi là “mái nhà” hay mái ấm gia đình đã có từ lúc này.
Công dụng chính thứ nhất cuả cái nhà chính là để che mưa che nắng, che cái sương giá lạnh buốt cuả trời đất và núi rừng, bảo vệ phần nào sức khoẻ cuả các cư dân. Kế đến là dùng nhà để dự trữ lương thực hay chống lại với thú dữ hãm hại. Không có gì là khó hiểu nếu cả chục ngàn năm sau, cái nhà cũng là tài sản lớn và quý nhất cuả con người.
Một khi có ý thức được tài sản riêng tư thì tất nhiên có sự ích kỷ, lòng ham muốn và sự tham lam.
Ða số đều muốn có tài sản ngay liền cho khỏi cực nhọc, thay vì là phải mất nhiều công sức và thì giờ tạo dựng nên. Từ đó chiến tranh là điều không thể tránh được và cuối cùng cũng đã xảy ra bởi một nguyên nhân duy nhất chung cho tất cả: xung đột quyền lợi.
Tuy chiến tranh mang đến mất mát đau khổ và những hậu quả khó khăn theo sau không thể tránh được, nhưng bù lại là gia tăng cảm xúc hay tình cảm cuả giống người Cổ Đại II (Homo Sapiens Sapiens). Thật ra tình cảm chỉ là một biến dạng cuả trí nhớ. Càng có trí nhớ dài hạn nhiều, càng dễ có nhiều cảm xúc hay tình cảm, do bởi dễ làm cho đối tượng cảm thấy xúc động khi nhớ lại những mùi vị, âm thanh và hình ảnh của những kỷ niệm vui buồn đã đi qua.
Một thành quả khác cuả chiến tranh ít người để ý tới. Sau chiến tranh cả hai bên thắng cũng như bên thua đều có những tiến bộ về nhiều phương diện, nhất là trí tuệ do não bộ đã cố gắng làm việc tối đa trong thời gian chiến tranh, để sống còn hay bảo vệ sinh mạng cho chính mình và những người khác trong nhóm. Một trong hai phát triển thể xác rất ấn tượng đã xảy ra cho gìống người CĐ II liên hệ đến phần thân trên theo đúng quy trình tiến hóa làm cho lá Phổi phát triển và nở lớn ra nhiều hơn, nhờ đã cố gắng la hét thật to trong những lúc chiến đấu với kẻ thù. Hậu quả là một số các gìống người CĐ II đã có thể chế ngự và dùng làn hơi dài để phát ra khá nhiều thanh sắc khác nhau, bước đầu thành hình cho tiếng nói hay hệ thống ngôn ngữ của các giống người về sau này.
Tiến hoá sau cùng của gìống người CĐ II quay về với trái tim, cũng đã nở ra to lớn hơn để có thể cung cấp đầy đủ máu cho não bộ làm việc. Từ đó, đã cho ra những nhịp đập của trái tim thay đổi khác thường tuỳ theo cám xúc có được của đối tượng. Tuy chưa có tất cả những tình cảm buồn vui hay thù hận giống như con người văn minh sau này, nhưng chắc chắn là gìống người CĐ II cũng đã có thể biều lộ một vài cảm xúc sơ đẳng như vui, buồn, thích hay không thích, v.v.
21–1 Người Rừng
(Neanderthals, 37.500 - 18.750 yrs)
Cổ – Miệng– Ngôn ngữ– Thời kỳ Băng Giá cuối cùng
Ðây là thời kỳ cuối cùng băng giá lạnh nhất nên các giống người Cổ Đại II khôn ngoan (Neanderthals) đã phải di cư về phương Nam trốn lạnh, trở lại lục địa Phi Châu một lần nữa. Nhắc lại một quy luật thiên nhiên cho các sinh vật sống trên đất liền trong các thời kỳ băng giá là di cư về phương nam để trốn lạnh, cũng như phải di cư hay bỏ chạy về phương Bắc vì bị rượt đuổi, de dọa tính mạng, vào thời điểm giữa các thời kỳ băng giá khi thời tiết nắng nóng trở lại.
Để chống lạnh hiệu quá, một nhóm người CĐ II thông minh đã tìm ra phương cách đốt lửa để sưởi ấm trong các hang động ở các miền cực lạnh phương Bắc. Nhưng không phải lúc nào họ cũng thành công trong công việc quan trọng là giữ mồi lửa không để cho bị tắt, trong khi những ngọn lửa mồi thiên nhiên chỉ xuất hiện rất ít trong những vụ cháy rừng do sấm sét, rất nguy hiểm vì luôn luôn đe doạ dến tính mạng.

Hai thay đổi đáng kể về thể xác cho các nhóm người Cổ Đại II để chống lạnh gồm có: Nhu cầu ăn thịt nhiểu hơn nên tạo ra thêm lớp mỡ dày đóng dưới da, làm cho thể xác tăng trường, cao lớn hơn bình thường. Lông và Tóc cũng được kích động từ chất kích thích tố có trong máu thịt của thú rừng nên mọc ra nhiều hơn, giúp cơ thể giữ lại được thân nhiệt. Từ đó, nhóm người Cổ Đại II đã thay đổi dần hình dáng và có những đặc tính giống như người Rừng (Neanderthal).
Sau cùng, nhờ những ưu thế kỹ thuật vượt trội hơn tất cả các đồng loại khác, nên giống người Rừng-Neanderthal chỉ về lại đến lục địa Âu Châu rồi chiếm đóng và định cư luôn tại đó. Mãi cho đến hơn mười ngàn năm sau, khi bị nhóm người văn minh hơn từ Phi Châu tràn lên đánh đuổi phải chạy lên các miền rừng núi, sống trong các hang động để rồi pha giống với sắc dân Phi châu hay bị tuyệt chủng luôn. Tình trạng nói trên đã xảy ra tương tự giống như những bộ tộc của các nhóm người sống trên các núi cao (Thượng) hiện nay đang ở trên các vùng cao nguyên Nam Dương, Phi Luật Tân và Việt Nam.
Không còn là điều khó hiểu, hiện nay với những kết quả nghiên cứu khoa học đã được công bố về hệ thần kinh và não bộ, tất cả những tiến bộ của các sinh vật trên trái đất này đều thuộc về một yếu tố duy nhất là sự gia tăng chất xám hay các tế bào bộ nhớ. Ngôn ngữ hay tiếng nói là một thí dụ cụ thể. Vào cuối thời đại kỳ 6 thuộc nguyên đại VI này, để gìống người Rừng-Neanderthal nói được nhiều hơn so với các giống người CĐ II khác (Homo Sapien Sapiens) thì não bộ cần phải phát triển nhiều hơn.
Một tiến bộ rõ nhất là giây thần kinh điều khiển các cơ vòng ở cuống họng hay yết hầu, nhất là bộ phận lưỡi và cơ vòm miệng đã uyển chuyển được khá nhiều để tạo ra những cách phát âm khác nhau. Nhờ những tế bào bộ nhớ phát triển khá nhiều, đã đóng vai trò như một cuốn từ điển nhỏ dùng để thông dịch những chuổi phát âm và ý nghĩa của các nhóm âm thanh.
Tuy vậy, phần chất xám quan trọng nhất giúp con người nói được nhiều là nhờ bộ phận thuỳ não nằm ở phiá trước trong trán (Frontal Lobe). Hãy thử quan sát và so sánh hình dạng phần trán phiá trên cuả con người và gìống người TCĐ thì thấy ngay sự khác biệt. Hầu như các gìống người TCĐ không có hay thiếu hẳn phần trán trước, nên lớp xương sọ ngay trên phần mắt bị bẹp hẳn xuống, không phồng cao lên và to lớn ra như cuả con người văn minh hiện đại. Ngay cả khi so sánh con người với nhau, cũng có thể thấy rõ phần trên trán cuả các nhà nghiên cứu hay học giả danh tiếng, thường là cao to và rộng lớn hơn mức độ trung bình.

Yếu tố may mắn khá quan trọng cần nhắc tới trong thời kỳ này cũng chính là giai đoạn kết thúc kỷ nguyên băng giá lần chót cuả trái đất. Khí hậu trên mặt đất, nhất là ở các vùng nhiệt đới Phi Châu, bắt đầu nóng dần lên trở lại như hiện nay. Băng giá tan dần ra và biến mất từ từ trên hơn ¾ diện tích bề mặt trái đất, cho ra quy trình cuả thời kỳ đóng băng đảo ngược lại.

Càng ít băng giá thì năng lượng ánh sáng mặt trời hấp thu bởi mặt đất càng tăng cao, làm trái đất nóng dần lên. Ðồng thời và ngược lại, do khối lượng băng tuyết ở Bắc và Nam cực bị tan chảy ra mau, nên mặt nước đại dương cũng tăng dần và toả rộng ra hơn một nửa bề mặt của trái đất.
Trái đất nóng dần lên nên số năng lượng do thức ăn cung cấp thường xuyên hàng ngày cho giống người rừng khôn ngoan (Homo Sapien Sapiens) không còn có nhu cầu cần xử dụng nhiều cho việc chống lạnh nữa, mà có thể đã tích tụ lại dưới da, làm thành lớp mỡ dự trữ trong người, hay tạo thành các lớp vỏ bọc trong hệ thống tế bào thần kinh thuộc bộ nhớ. Nhờ vậy giống người rừng trở thành lanh lợi, năng nổ và hoạt động nhiều hơn so với các giống người rừng khác, kể cả các nhóm người Neanderdal còn đang sinh sống ở Bắc Phi hay Nam Âu châu.
Nhờ năng lượng dư thừa do khi hậu nóng dần lên, đã giúp các giống người rừng sống trong vùng nhiệt đới Phi-châu phát triển rất nhiều về thể xác, nhất là hệ thống tế bào bộ nhớ. Nhưng đồng thời các nguồn nước dồi dào trước đó bị mất dần, nhiều sông hồ đã bị khô cạn hay trở thành sa mạc, cây trái và các nguồn thực phẩm dổi dào trước đây cũng bị gỉảm xuống rất nhiều. Hậu quả là một cuộc chiến tranh tàn sát lẫn nhau để tranh dành nguồn nước hay thức ăn là chuyện khó tránh được.
Trở lại với sự kiện bắt đầu thời kỳ băng giá, các nhóm người Rừng-Neanderthal mạnh bạo và to lớn hơn nhiều, đã tiến dần về phương Nam, độc chiếm Âu Châu, đánh đuổi các nhóm người CĐ II yếu kém hơn chạy xuống Phi Châu. Nhưng chuyện bất ngờ không biết trước được đó là chu kỳ băng giá lạnh nhất so với các chu kỳ băng giá trước đây (Hình K) đã tiếp tục kéo dài trong khoảng vài ngàn năm nữa. Tất cả lục địa Á, Úc, Âu và Mỹ đều bị đóng băng trừ các vùng nhiệt đới gần xích đạo. Hầu hết các bình nguyên đều biến thành những vùng băng giá suốt cả năm, làm cho đa số các loài sinh động vật bi tuyệt chủng gần hết, kể cả số người Rừng-Neanderthal, vì nạn đói do thiếu thức ăn.
Ngược lại, cách đây khoảng hơn 20.000 năm hay 18.000 BC, chỉ với một số các nhóm nhỏ không quá vài trăm người CĐ II (Homo Sapien Sapiens), vừa chiến đấu với thiên nhiên và nghịch cảnh, vừa liều mạng bỏ trốn chạy về Phi Châu để được sống còn. Nhưng rồi cuối cùng lại cho ra kết quả là có gần 7 tỷ người cùng sống chung trên trái đất như ngày hôm nay, thật là một kỳ công của thiên nhiên hay là quyền năng cuả Thượng Đế ban cho con người?