Luật Tiến-hoá & Dịch-lý

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Đại Dương Kỷ Proterozoic - Pre-cambrian (5.5 – 0.5 Bya) Thời Đại Trước Cambrian

❊ ❊ ❊

Trong chương vừa qua chúng ta đã biết trái đất khởi đầu như một hành tinh chết, nhưng sau khi được “thụ tinh” bằng va chạm mạnh với một sao chổi lớn, trái đất đã thay đổi rất nhiều. Từ một hành tinh khô khan nóng bỏng như sao Hoả, sau vài tỷ năm, đã trở thành hành tinh có khí hậu ôn hoà tràn đầy sinh lực, mang sự sống đến cho vạn vật. Tuy vậy, với ý định minh chứng cho rõ về ngôn từ thường được dùng trong các sách cổ của phương Đông như chuyện “hấp thụ tinh khí” từ trời, người viết xin nhắc đến một hiện tượng thiên nhiên xảy ra giống như vậy cho con người.

 

Nhờ kỹ thuật vi phim quay lại được chi tiết cho thấy trứng của người phụ nữ khi vừa được thụ tinh, xuất hiện ngay một lớp võ bọc bên ngoài, làm cho quả trứng sáng lên như có lớp lân tinh bao lại. Công dụng của lớp vỏ bên ngoải quả trứng thụ tinh còn có thêm nhiệm vụ  bảo vệ, chống lại sự xâm nhập của hàng ngàn con tinh trùng đang tiến dần lên quả trứng. Cũng giống tương tự như vậy cho trái đất, sau vụ va chạm của sao chổi, một lớp khí quyển dày đặc khoảng 100 km xuất hiện trong thời gian vài trăm triệu năm sau, đã bao bọc che chở cho trái đất tránh khỏi sự cố va chạm với hàng triệu khối đá vẫn thạch, sao băng bay vào trái đất trong suốt mấy tỷ năm qua.

 

Lớp khí quyển nói trên đã làm cho đa số đá vẫn thạch khi bay vào trái đất, cọ sát với không khí, bị đốt cháy ở nhiệt độ cao và nổ tung ra thành nhiều mảnh nhỏ trong không gian trước khi rơi xuống mặt đất. Nếu không nhờ có bầu khí quyển bao bọc che chắn đó, thì có lẽ các loài sinh động vật kể cả con người khó tồn tại cho đến ngày nay.

 

Điều mà các nhà khoa học đồng ý là sẽ khó tránh được tai họa cho mọi sinh vật trên trái dất, nếu trong tương lai có một sao chổi hay sao băng nào có đường kính to hơn cả trăm cây số bay vào trái đất, mà bầu khí quyển không đủ sức để cản lại hay dốt cháy hết được. Nhưng xác xuất để cho xảy ra một tai họa tận thế nói như trên rất là hiếm, với xác xuất từ vài trăm ngàn năm đến cả triệu năm mới xảy ra một lần, và chắc chắn là con người sẽ không còn sinh sống trên trái đất này lâu đến như vậy.

 

Sự trùng hợp coi như bằng chứng rõ rệt nhất là các hành tinh của thái dương hệ chỉ có được bầu khí quyển bao bọc xung quanh, nếu có hai đặc tính sau: Tự xoay tròn và có các “Mặt Trăng” bay theo xung quanh.  Một số các đặc điểm khác thường của trái đất so với các hành tinh khác trong thái dương hệ, bao gồm: Bầu khi quyển và nước. Trong khi bầu khí của các hành tinh như Kim Tinh (Venus), Mộc Tinh (Jupiter), Thổ Tinh(Saturn)

chứa đa số khí Monoxide Carbon (CO), thì bầu khí quyển của trái đất lại chứa gần 70% khí Nitro(N2). Nước(H2O) cũng là hợp chất có khá nhiều trên trái đất.

 

Mặt khác, nếu trái đất có được số may mắn duy nhất trong giải ngân hà này, trở thành nơi xuất hiện của con người hay các loài sinh động vật, thì có lẽ tất cả đều tuỳ thuộc vào một yếu tố duy nhất: Nước, hay biến thể qua dạng khác là Mây.

Khác với sự hiểu nhầm hay không biết cuà đa số chúng ta, đại dương rộng lớn bao la hiện nay chỉ mới hoàn thành cách đây chừng hơn 600 triệu năm, vào cuối thời kỳ Pre-Cambrian. Trước đó mấy tỷ năm, trái đất cũng đã có những cơn mưa rất ngắn, có sông nhỏ,  có nước, nhưng không nhiều vì trái đất còn quá nóng, và phần lớn nước đều bốc hơi thành mây rất mau. Tuy nhiên, nhờ vậy mà làm cho trái đất nguội dần, để có được các trận mưa bão lớn kéo dài quanh năm, tích tụ lại được nhiều nước như hiện nay. 

 

Sở dĩ trái đất có được một trữ lượng hơi nước lớn là nhờ trước đó hơn 4 tỉ năm, có một ngôi sao chổi định mệnh bay đâm vào. Theo sau đuôi sao chổi là khối nước đá khổng lồ có niên đại xuất hiện trước cả Thái Dương Hệ (*25) hàng tỷ năm, dài hàng ngàn cây số, bị tan chảy và bốc hơi thành những đám mây dày đặc bao phủ xung quanh trái đất, làm cho trái đất mau chóng nguội dần so với những hành tinh khác. Kết quả cho ra là một chuổi những tác động vật lý của thiên nhiên. Nhiệt độ mặt đất nguội dần làm cho hơi nước tích luỹ nhiều hơn, nên mưa xuống lâu hơn, cho ra những dòng chảy lớn và tạo thành các sông ngòi, ao hồ hay đại dương.

 4.1  Hữu Cơ - Mưa (5.5 - 4.0+ bya)

Ngày nay các nhà khoa học có thể chứng minh khá dể dàng, để bắt đầu đời sống cuả các vi sinh vật hay sự hình thành cuả các tế bào, tất cả đều phải qua một giai doạn đầu tiên là biến đổi các phân tử “Vô Cơ” sang “Hữu Cơ”. Theo lý thuyết cho định nghĩa, kết hợp hữu cơ là những kết nối hóa chất không bền vững nếu so với kết hợp vô cơ, gồm có ít nhất 2 trong 4 nguyên tố chính H (Hydrogen), C (Carbon), N (Nitrogen), và O (Oxygen). Dưới áp suất lớn và nhiệt độ cao, các phân tử vô cơ dễ dàng bị kết nối hay nhập lại (fusion) thành những phân tử hữu cơ.

Ngược lại, đa số các chất hữu cơ khi bị phân hủy hay tan rả thành các chất vô cơ thì lại phát tán ra nhiệt lượng.

 

Cũng từ lý thuyết đã được minh chứng từ lâu bởi các nhà khoa học danh tiếng (Stanley L. Miller, 1953), các phân tử hữu cơ đơn giản như CH4, CO, NH3, v.v, sau một quá trình kết hợp ngẩu nhiên dưới áp suất và nhiệt độ cao, cho ra những kết hợp phức tạp hơn. Tiếp tục kết hợp thêm nữa sẽ cho ra  những phân tử hữu cơ sau cùng được gọi là Amino Acid, một dạng của chất đạm hay các thành tố cơ bản của chủng tử DNA tạo thành tế bào sinh thực vật sau này. Có thể tóm tắt quá trình biến đổi từ những phân tử hữu cơ đơn giản đến các phân tử phức tạp để tạo thành những nguyên liệu sinh ra tế bào như sau (*11):

 

Kết hợp các phân tử hữu cơ đơn giản để cho ra khoảng 20 gốc Amino acid. Nên nhớ con số khoảng 20 gốc Amino acid là kết quả của hàng trăm, ngàn, triệu tỷ những kết hợp ngẫu nhiên và chọn lọc trong hàng tỷ năm.

 

Yếu tố quan trọng cần nhất trong ba giai đoạn nói trên là đại dương hay nước, đã đóng vai trò chất xúc tác chính cho tất cả các hiện tượng biến đổi hay kết hợp từ bốn (4) nguyên tố vô cơ sang hữu cơ, từ chất đạm sang DNA nói trên. Nói rõ hơn, không có nước hay Oxy thì cả ba gian đoạn nói trên đã không thể xảy ra, và chúng ta cũng không thể có mặt trên trái đất như hiện nay. Cụ thể minh chứng là cho đến bây giờ, tất cả các sinh vật kể cả con người vẫn còn cần hấp thu khí Oxy để sống còn.

 

4.2  Dinh Dưỡng – Sinh Tồn (4.0+ – 3.0+ bya)

 

Trong chương trước, người viết có trình bày sơ qua về nhu cầu bảo tồn cơ cấu của các phân tử vô cơ, một hình thức sơ đẳng nhất cuả nhu cầu dinh dưởng. Nói chung, chuyện “ăn” của các phân tử hữu cơ. Dưới dạng kết cấu hữu cơ, nhu cầu bảo tồn cơ cấu tăng lên rất cao vì do sự thất thoát của các nguyên tố tạo thành thường xuyên dễ xảy ra hơn. Để thỏa mản nhu cầu tự nhiên nói trên, sau đây là thí dụ cụ thể cho một vài trường hợp tiêu biểu:

 

Lấy phân tử CH4 (Methane)  làm thí dụ, nếu một nguyên tố H thình lình bị lấy mất một âm điện tử e (electron), thì trong một thời gian ngắn (khoảng 1 phần ngàn giây), cả nguyên  tố H đó sẽ bị tống xuất ra ngoài ngay, vì không còn lực hấp dẫn từ phân tử C nữa. Hậu quả là phân tử CH4 sẽ trở thành CH3, rồi cũng biến mất luôn vì cơ cấu CH3 không bền.

 

Nhưng bây giờ, giả sử là trong một thời gian cực ngắn hơn khoảng 1 phần ngàn giây hay nhanh hơn, phân tử CH4 đang bị mất một e, có cơ hội và may mắn chộp ngay được một e nào khác đang hiện diện ở chung quanh  để thay cho e bị lấy mất. Như vậy coi như là phân tử CH4 bảo tồn được sự hiện hữu hay coi như là còn “sống sót”.

 

Theo đúng định nghĩa thực tế, hành động tự nhiên “chộp” lấy để thỏa mản nhu cầu bão tồn cơ cấu, là một hình thức sơ đẳng về nhu cầu dinh dưỡng hay còn gọi là “ăn” của các phân tử hửu cơ cao cấp sau này dưới dạng tế bào. Do đó, khái niệm sơ đẳng đầu tiên về vấn đề “ăn” chỉ đơn giản là hành động của một chủ thể hay một phân tử, tìm kiếm và lấy lại được những nguyên tử đã bị mất đi. Một hình thức bổ xung năng lượng đã bị mất của các sinh-động vật sau này.

 

Một yếu tố chính khác cho sự tồn tại cuả các phân tử hữu cơ DNA là sức mạnh của tập thể hay sự kết đoàn, mà cho đến hiện tại này, con người và các loài sinh vật trong thiên nhiên vẫn còn áp dụng. Trước hết, theo lý thuyết thì các phân tử cùng loại thường dễ kết hợp lại với nhau, làm tăng thêm lực hấp dẫn của cả khối lượng chung và các nguyên tố ở ngoài cùng sẽ được giữ chặt hơn. Cụ thể trong thí dụ về CH4 nói trên, nếu có hai phân tử kết hợp (CH4)2 sẽ giữ lại nguyên tố H chặt hơn hay mạnh hơn là một CH4. Ngay cả trong trường hợp bị mất đi một nguyên tố, cũng vẫn dễ dàng lấy lại hay chiếm đoạt lại từ các phân tử yếu hơn. Từ đó suy ra, càng nhiều phân tử kết hợp lại với nhau, thì độ sống còn của các phân tử càng tăng cao hơn.   

 

Khả năng tích luỹ và phát triển là một hệ quả tất yếu cuả hai nguyên tắc dinh dưỡng và kết đoàn tự nhiên nói trên. Thật vậy, thoạt đầu chỉ là phản ứng tự nhiên của sự việc “lấy lại cái đã bị mất” của một bộ phận nhỏ ở bên ngoài của tập thể. Nhưng tiếp theo là giai đoạn trở thành thói quen lập lại không bị hạn chế, đưa đến phát triển quá lớn của cả hệ thống để tăng thêm sức mạnh và sinh tồn.

 

Hệ quả sau cùng là cả hai phản ứng ban đầu nói trên dần dần trở thành một thói quen không thể ngưng lại hay hạn chế được. Kết quả là công việc gom thu vượt quá xa nhu cầu cần có lúc ban đầu, trở thành bản tính tự nhiên của sự phát triển không hạn chế. Một hình thức sơ khai của tham lam hay dục vọng.

 

4.3   Đơn Bào - Sinh Sản (3.0+– 2.5+ bya)

 

Trong tiểu mục này và các phân đoạn sau, để tránh lập lại những chi tiết không cần thiết hay quá phức tạp thuộc lãnh vực nghiên cứu hàn lâm đã có sẳn trong các sách giáo khoa, người viết xin chỉ ghi lại vắn tắt, tóm lược những ý chính, làm cơ sở tham khảo cho việc trình bày các ý tưởng mới trong bài được đơn giản và dễ hiễu hơn.    

 

Nhờ những dụng cụ chụp hình tối tân và tinh vi của ngành vật lý, chúng ta có thể chứng kiến rõ ràng từng bước một, hiện tượng tạo thành tế bào. Từ những kết hợp các phân tử chất đạm qua cơ cấu có hình xoán dây của di truyền tử DNA, rồi cho ra đơn vị khởi đầu căn bản nhất của đời sống là tế bào duy nhất, còn gọi là đơn bào (Hình 14).  

 

Điều cần biết trong tiểu mục này chính là đinh nghĩa rõ ràng về sự sống cuả một đơn bào. Có vài tiêu chuẩn đã được đưa ra, nhưng ý chính quan trọng nhất về sự sống vẫn là khả năng tái tạo hay sàn xuất ra được các tế bào đơn khác, còn gọi là khả năng sinh sản.

 

Tóm lại, con đường biến đổi từ những phân tử hữu cơ đến một đơn bào mới không phải là một tiến trình ngắn và đơn giản. Tất cả gồm ba(3) công đoạn trong chuổi thời gian kéo dài hơn một tỷ năm để thành hình, như sau:

 

Công đoạn 1: Tích luỹ và phát triển.

 

Bản chất tự nhiên của bất cứ phân tử Đạm nào (dưới dạng Hn Cm Ox Ny) là “chộp” lấy những  nguyên tố đã bị mất để bù vào chỗ thiếu hụt. Nhưng vấn đề không dễ dàng chút nào, vì không phài lúc nào cũng có sẳn những nguyên tố bị thiếu ở ngay bên cạnh. Như vậy, chuyện gì sẽ xảy ra nếu tình trạng bị “đói ăn” kéo dài quá lâu và chắc chắn sẽ bị “chết đói” ? Câu trả lời chắc sẽ không làm ngạc nhiên bất cứ ai: Thanh toán hay “ăn thịt” lẫn nhau. Nghĩa là một phân tử đạm này sẽ chộp lấy nguyên tố cần có từ một phân tử đạm khác để giải quyết nhu cầu “đói ăn”. Nhưng không phài lúc nào cũng thành công, nếu đối thủ cũng có cấu trúc phân tử bền chắc như nhau. Trường hợp chẳng bên nào chịu thua, thì hai phân tử sẽ bám dính với nhau luôn và trở thành phân tử kép. Sau quá nhiều lần tích luỹ như vậy thì kết quả sẽ phát triển cho ra những phân tử có khối lượng lớn hơn.

 

Công đoạn 2: Phân phối và Nhiệm vụ.

 

Hãy thử xét trường hợp cụ thể minh chứng sau: Trong một phòng họp đầy kín người và không thể di chuyển được, nếu có ai đang ngồi phía trước muốn đưa một vật gì đó cho người đang ngồi xa ở phía sau, thì chỉ còn có cách là đưa chuyền tay nhau cho từng người một ngồi bên cạnh. Có thể gọi đó là “phương pháp dây chuyền”.

 

Trở lại trường hợp tích luỹ nhiều những phần tử đạm sẽ tạo ra vấn đề “nuôi ăn” cho các phần tử bị kẹt nằm ở giữa hay trong cùng. Không có gì khó khăn để giải quyết vì như đã nói trên, phân tử trong cùng sẽ chộp lấy những nguyên tố cần thiết ở ngay bên cạnh, phân tử bên cạnh sẽ chụp lại phân tử kế, tạo ra một chuổi những phản ứng dây chuyền lan ra tới tận phần tử bên ngoài cùng. Phần tử ngoải cùng nếu không muốn “chết” hay bị phân hủy, thì phải cố gắng “chộp” cho được một phần tử khác lạ ở ngoài. Hai hành động tuy giống nhau hoản toàn  về bản chất nhưng khác nhau theo cách định nghĩa. Xảy ra từ bên trong thì gọi là bồi dưỡng hay nuôi nấng, còn xảy ra ở bên ngoài thì  có nghĩa là “ăn” hay “nuốt con mồi”! 

 

Công đoạn 3: Sinh Sản

 

Trong diễn tiến về “ăn” thuộc công đoạn 2 nói trên, sẽ có lúc bị trở ngại, không hạn chế hay kiểm soát được vì tình trạng phát triển quá mức. Thoạt đầu, “Cung” nhiều hơn “Cầu”, do các phân tử ở bên ngoài cùng ăn quá nhiểu để “nuôi” hay cung cấp nguyên tố cần cho các phân tử bên trong, theo đúng phương pháp dây chuyền. Các nguyên tố dư thừa quá nhiều không tiêu thụ hết sẽ được tích luỹ lại, làm cho đơn bào phát triển lớn dần ra thêm.

 

Đơn bào càng lớn dần quá to, thì quy trình bị đảo ngược lại, “Cung” lại không có đủ cho “Cầu”, nên các phân tử nằm ngay ở giữa bị “chết đói” do tiếp tế không tới được, phải “ăn thịt”

lẫn nhau và bị phân huỷ ra ở ngay phần giữa của tế bào đơn, gián tiếp cho ra hai tế bào, hay cỏn được coi như là tự phân chia ra làm hai hay theo động từ chung là “sinh sản”. Hai đơn bào mới sẽ tiếp tục “ăn”

và sinh sản như cũ. Công việc lập lại này sẽ kéo dài hàng trăm triệu năm cho đến khi biến đổi qua thành Đa bào.

 

Đúc kết lại ba công đoạn chính của đơn bào nói trên, có thể thấy một “Triết Lý Sống” hình như đã có sẳn  ngay từ lúc khởi thuỷ, khi vạn vật còn là những sinh vật quá nhỏ bé : “ Ăn để sống còn, nhưng cũng là đầu mối dẫn đến cái chết, và chết cũng chỉ là một sự khởi đầu cho những đời sống khác tốt đẹp hơn sau này!”. 

 

5.1    Ða Bào  (2.5+ – 2.0 bya)

 

Trong tiểu mục trên đã giải thích và minh chưng cho thấy hiện tượng “ăn” hay kết hợp giữa các phân tử đạm với nhau. Thêm vào, không phải chỉ có con người mới biết hợp đoàn để tạo thêm sức mạnh, mà các loài sinh động vật hay ngay cả các đơn bào sơ khai nguyên thuỷ cũng đã biết làm như vậy. Đúng hơn, tất cả đều chịu ành hưởng của sự lập lại tự nhiên nói trên, đều làm theo mệnh lệnh của bộ nhớ đã được ghi chép hay lập trình sẳn có trước đó. Theo lý thuyết đã được chứng nghiệm về sức hấp dẫn của vật chất, một kết hợp sẽ càng mạnh và bền hơn nếu khối lượng của sự kết hợp càng lớn. Từ đó, kết quả là một chuổi những chu kỳ được lập lại cho sự kết hợp và tích luỹ cuả các đơn bào sơ khai, giống như sự kết hợp của các phân tử đạm trước đây.

Càng tích luỹ hay “ăn” càng nhiều, thì kết hợp của các đơn bào càng lớn, cho ra sức hấp dẫn càng tăng mạnh hơn nhiều, và càng dễ kết hợp thêm các đơn bào khác. Sự kết hợp của các đơn bào thường là tình cờ và ngẩu nhiên, không theo một quy trình sắp đặt nào trước, tuy vẫn tuân theo một số những quy luật của thiên nhiên là “Mạnh được Yếu thua”, v.v.

 

 

5.2   Thực Vật Dưới Biển (2.0+ – 1.5 bya)

 

Các đa bào tiếp tục tích luỹ và kết hợp với nhau không ngừng nghĩ, trong môi trường thuận tiện và ổn định của nước, cuối cùng cho ra các loại rong rêu hay thực vật sơ đẳng sống dưới biển. Các loài thực vật sống dưới biển cũng có nhu cầu ăn rồi tích luỹ và phát triển, nhưng rất thụ động nếu so với bất cứ các sinh vật nào khác.

Cụ thể tiêu biểu nhất là các loài rong biển, chỉ biết chờ thức ăn đưa đến qua sự giúp đở hay trung gian của môi trường nước. Đó cũng là lý do giái thích tại sao từ khởi thuỷ, các loài rong rêu chỉ xuất hiện bên cạnh các đường nứt cuả trái đất nằm sâu dưới đáy biển, do các phân tử hoá chất hay thức ăn có quá nhiều từ các loại nham thạch của vùng núi lửa đang trào ra.

5.3    Vi Sinh Vật -Vi trùng (1.5+ – 1.2 bya)

 

Ngược lại với tính thụ động trong vấn đề “ăn” của các loài thực vật, các vi sinh hay các loại động vật ra đời sau này đều tích cực và chủ động đi tìm kiếm thức ăn. Đó cũng chính là đặc tính khác biệt duy nhất để phân loại thực vật và động vật. Chủ động và năng nổ nhất vẫn là những vi sinh vật hay các loại đơn bào hay đa bào có kích thước nhỏ và vừa. Nhờ kích thước nhỏ, gọn và nhẹ, các đơn bào hay đa bào này đã được các luồng nước đẩy đi xa hơn, đưa tới những nơi chốn mới có nhiều thức ăn và ít cạnh tranh.

 

Dù vậy, cũng có một số các loại đơn hay đa bào rất là háu ăn do môi trường cạnh tranh rất nghiệt ngã của các thế hệ trước đã huấn luyện và di truyền, nên có khuynh hướng tham “ăn” một cách quá đáng, sẳn sàng bám vào và chộp lấy bất cứ nguyên tố của các vi sinh nào xuất hiện trước mặt, dù có dùng được hay không. Hậu quả là các loài vi sinh khác chậm chạp hay yếu kém hơn dễ bị tiêu diệt. Thêm vào, các giống vi sinh càng ăn mạnh bạo thì lại càng sinh sản nhanh chóng gấp nhiều lần hơn các loài vi sinh khác, và đó cũng chính là thuỷ tổ của các giống vi trùng hay vi khuẩn độc hại sau này.

 

6.1  Hải Sinh Vật (1.2 – 1.0 bya)

 

Trở lại các giống thực vật đang phát triển dưới đáy biển, thoạt đầu nhờ có thức ăn quá 

 

dồi dào, các loài thực vật sơ đẳng dưới biển nhanh chóng tích luỹ và phát triển gần như không hạn chế theo cấp số nhân. Nhưng sau một thời gian, dĩ nhiên, đã đưa đến tình 

 

trạng một vài khu vực bị lạm phát và thiếu nguồn cung cấp thức ăn. Hậu quả là các loài cây thực vật trong vùng đó đã bị “chết đói” và bị tiêu huỷ dần. Giống như những cây khô chết vì bị thiếu nước sau này trên đất liền, các loài cây thực vật dưới biển cũng bị 

 

tan rã và chết dần theo thứ tự từ trên ngọn trước, rồi kéo xuống dần cho tới tận gốc rễ. Dù vậy, bao giờ cũng có một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt và may mắn đã xày ra. Phần gốc rễ cuà một vài giống cây thực vật lại bị chết và tan rã trước, giải phóng được phần thân 

 

chút xíu còn lại ở trên đang ngắt ngư nhưng chưa chết hẳn, rồi được dòng nước đưa đến nơi có nguồn thức ăn dồi dào, để được hồi sinh, “ăn” và “sinh sản” trở lại.

 

Kết quả là đã bắt đầu xuất hiện dưới đáy biển, những loài thực vật mới có thể di chuyển được rất chậm, có khả năng ăn nhiểu hơn bằng cả hai đầu, và là tiền thân của những con giun biển to lớn về sau này. Điều đáng ghi nhận ở đây chính là chu kỳ vừa nói ở trên, đã được lập lại vô số lần trong hàng tỷ năm về sau này, không những đã xảy ra cho các loài động vật mà còn luôn cho cả con người văn minh hiện đại.

 

6.2   Giun biển– Chia Phái tính (1.0 – .75 bya)

Cho tới thời điểm xuất hiện các loài giun thực-vật sơ khai này, sự sinh sản của tất cả các loài tế bào sinh thực vật đều xuất phát từ phương cách của các tế bào đơn tính-dục (uni-sex). Theo đúng quy trình sinh sản đó, cơ thể của các loài sinh động vật ở dưới biển cứ dần tích luỹ và phát triển lớn dần cho đến khi tới một giới hạn nào đó thì ngay phần ở chính giữa hay phần lớn nhất sẽ tự động thu hẹp lại, phân huỷ và tự động chia cơ thể ra làm hai phần gần như đối xứng và bằng nhau, hay hai sinh vật mới và giống hệt như nhau .

 

     

                         

 

Các loài giun vi sinh hay các loài đa bào nhỏ ban đầu cũng có đời sống và quy trình sinh sản kéo dài hàng trăm triệu năm giống như trên.  Nhưng khi cơ thể các loài giun vi sinh bắt đầu phát trỉển lớn manh dần, các tế bào trở thành nhiều loại phức tạp hơn, cho ra nhiệm vụ khác biệt của các loại tế bào. Do đỏ, ảnh hưởng nhiều đến việc phân chia và thời gian hợp lý cho việc sao chép lại cuà các tế bào chủ chốt. Công việc sinh sản bằng cách tự chia hai không cỏn thực tế và theo thời gian không còn hữu hiệu nữa, nghĩa là tỷ lệ sinh sản thành công cuả các loài giun vi sinh càng nhỏ dần khi kích cỡ cuả các loài giun càng tăng cao lên.    

 

Nhưng sự kiện chính đã xảy ra trong giai đoạn sinh sản khi một số các tế bào cuả loài giun vi sinh đang làm công việc sao chép lại chưa xong, thì có thể bị một chấn động khủng khiếp từ một vụ động đất hay do núi lửa phun trào, lảm cho cơ thể loài giun bị chấn động mạnh và bị chia hai trước khi có đầy đủ các bộ phận như trước.

 

Hiện tượng trên xảy ra sau này còn được gọi bằng một tử khoa học khác là sinh non. Hậu quả là đã cho ra hai loài giun vi sinh khác nhau, trong đó một loài chỉ sở hữu có một phần hay phân nữa bộ phận cần thiết cho sinh sản. Sự phân chia sơ khởi này bắt đầu đánh dấu cho sự phân biệt hai giống “Đực và Cái”. Từ đó về sau này,  sau khi qua một số các quy trình chọn lọc và thay đổi, tới thời điểm cần có nhu cầu sinh sản, các loài giống đực chỉ việc sao chép lại các thông tin hay ký hiệu cần thiết, bỏ chung vào trong một cái bọc nhỏ (còn gọi là tinh trùng) để gởi tới những cái trứng đang lơ lửng chờ đợi xung quanh trong dòng nước.

 

Qua cách sinh sản gián tiếp này, cơ thể cuả các loài giun vi sinh mới đã có thể tích luỹ và phát triển lớn mạnh hơn bình thường vì không phải chia ra hai như trước. Ngược lại, cơ thể các loài giun vi sinh còn sinh sản trực tiếp chia hai vẫn không thể tích luỹ hay phát triển thêm được nữa, nên sau một thời gian, trở lại thành những con mồi ngon cho các loài giun biển lớn mạnh hơn. Đó cũng chính là định luật về sinh tồn hay bài học chung cho tất cả các loài sinh động vật về sau này, kể cả cho loài người. Bất cứ xã hội nào mà không chịu thay đổi cho phù hợp với trào lưu tiến bộ của thế giới loài người, thì sớm muộn gì cũng bị đào thải và trở thành miếng “mồi ngon” cho các xã hội tiến bộ văn minh hơn.

 

Nhờ sự thay đổi cách sinh sản hiệu quả, nhất là có sẳn quá nhiều mồi ngon trực tiếp tử các con giun vi sinh nhỏ hơn, các loài giun biển đã phát triển lớn mạnh và mau chóng lan tràn khắp nơi dưới đáy biển cho đến ngày nay, còn sót lại dưới dạng của những con Hải-sâm.

 

Cũng trong giai đoạn chuyển tiếp lớn mạnh và do nhu cầu muốn di chuyển nhanh hơn dưới đáy biển để tìm thức ăn, các loài giun biển đã phát triển kỹ thuật uốn lượn thân hình trên cát để tạo lực đẩy trườn mình tiến tới. Sự cọ sát giữa hai bên thân mình cuà loài giun và cát dưới đáy biển, lâu ngày sẽ làm chai đi những tế bào ở ngoài cùng và trở thành hai cái vẫy hai bên. Tiếp tục một thời gian vài triệu năm nữa, cơ thể loài giun lớn dần dưới bụng, hai cái vảy dưới sẽ bị đẩy dần lên trên, sau cùng sẽ trở thành hai cái vây dùng để bơi lội hay di chuyển trong nước.

 

6.3    Lươn Biển (Period 0.75 – 0.5+ bya)

 

Chu kỳ tăng trưởng nhanh rồi lại bị lạm phát về số lượng và đưa đến thiếu ăn đã trở lại giống y hệt như thời kỳ lạm phát của các loài rong thực vật trước đây, cũng làm đa số các loài giun biển bị tuyệt chủng. Tuy vậy, cuối cùng thì may mắn cũng trở lại với một thiểu số rất ít các giun biển, dù có sự khác biệt đôi chút. Lần này do vì quá đói ăn, cơ thể của một số loài giun biển bị teo tốp nhỏ trở lại, nên đã bị lực đẩy của nước làm cho nổi trôi lên trên mặt biển đầy ánh sáng mặt trời. Một thiên đàng có quá nhiều thức ăn và cơ hội để giúp một số giun biển từ từ lột xác trong vài chục triệu năm, trở thảnh các loài lươn biển hiếu động và linh hoạt hơn rất nhiều so với các loai giun biển sống dưới nước. Các giống giun biển “may mắn” hơn còn sót lại dưới đáy biển vẫn tiếp tục phát triển cho đến hiện tại để trở thành những con giống như con Vòi Voi, Đồn Đột hay còn gọi là Hải Sâm.        

 

Trong thời kỳ một số các loài giun nổi trên mặt biển và do có tiếp xúc trực tiếp với sức nóng của ánh sáng mặt trời, làm cho các tế bào của lớp da ngoài trên đầu bị bỏng và mất đi, thay thế bằng một lớp tế bào mớí nhô lên. Chu kỳ nói trên lập lại hàng triệu năm và do mặt Trời lên xuống từ hai hướng Đông Tây, nên đã bíến vùng da đầu đó trở nên hai vùng nhay cảm với ánh sáng. Tiếp tục tiến hóa và thay đổi trong vài chục triệu năm nữa thì hai vùng trên đầu sẽ trở thành hai con mắt sơ khai của giun biển, có vị trí nằm sát bên nhau trên mặt bằng phẳng, tương tự gần giống như hai con mắt của loài cá sấu hiện nay. Nhiệm vụ sơ khởi ban đầu cuả hai “con mắt” chỉ là báo động cho giun biển biết khi nào có ánh sáng mặt trời xuất hiện và chiếu xuống chạm vào đầu giun biển.

 

 

                      

 

Đồng thời với những cảm ứng về nhiệt xạ hay ánh sáng, thêm vào là những âm thanh như sấm sét hay núi lửa cũng tạo ra những chấn động quá mạnh. Một hệ cảm ứng khác của da về độ rung chấn hay âm thanh cũng đã bắt đầu thành hình sơ khai trên đầu các con giun biển.           

 

6.4Kỷ Băng Giá I  (650 mya –625 mya)    

 

Gần cuối đại kỳ 3 này, cách đây khoảng 650 triệu năm, đã xảy ra một chu kỳ băng giá I (The Ice age I) kéo dài khoảng 25 triệu năm, lần đầu tiên trong tổng số 4 chu kỳ băng giá xuất hiện trên trái đất (*24-Hình E). Thoạt đầu, băng giá xuất hiện bình thường theo mùa đông.

Tuy nhiên, do sự bùng phát về số lượng các giống vi sinh vật hay các loài lươn biển tạo ra, nên trái đất bị thiếu hụt quá nhiều khí Oxy.

Kết quả là đã làm cho khí hậu trái đất lạnh thêm, cho ra thêm nhiều vùng tuyết rộng lớn hơn, phản chiếu ánh sáng nhiều hơn nữa. Hệ quả dây chuyền là càng giảm độ hấp thu ánh sáng hay nhiệt năng cho trái đất, thì càng làm trái đất lạnh thêm và tuyết hay băng giá càng bị tích luỹ nhiều hơn, vv. Chu kỳ trên bị lập lại nhiều lần cho đến khi băng tuyết bao phủ hầu hết mặt đất, dày lên cao cà vài chục thước, trừ ra một số các vùng miền nằm gần sát đường xích đạo.

 

Cuối cùng, chu kỳ băng giá I cũng bị phá vỡ và chấm dứt bằng một hiện tượng thiên nhiên khác, do các núi lửa cực khủng (Super Volcanos). Các núi lửa khủng đã giúp hai công vỉệc chính: Chọc thủng lớp băng tuyết dày đặc và đồng thời các lớp khói bụi khổng lồ nham thạch được phóng lên tầng khí quyển cũng tạo ra hiệu ứng lồng kính, làm cho khí hậu trái đất nóng ấm lên, nên các lớp băng tuyết dày đặc cũng bị tan rả mau lẹ hơn .

 

Sau thời kỳ băng tuyết lần thứ I kéo dài khoảng 25 triệu năm, đa số các sinh vật sống dưới đại dương hầu hết đều bị tuyệt chủng hết vì bị thiếu ăn, chỉ trừ một số ít rất là may mắn được nằm gần sát trong vùng xích đạo hay gần các miệng núi lửa dưới đáy biển.

Chắc chắn trong số rất ít các sinh vật may mắn trên sẽ là thuỷ tổ của các loài bò sát và khủng long sau này.    

Tác giả: Vietnamthuquan.eu
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 8 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.