Thời Đại Obligocene Epoch-(38.0-19.0 mya)
Biểu tượng đầu tiên của sự sống cho tất cả mọi sinh vật đều liên quan đến tính năng hoạt động cuả thân xác hay sự chuyển dịch của thể chất tạo thành, từ một vị trí này sang một vị trí khác. Luật tự nhiên và đơn giản nói trên áp dụng không những cho các vi sinh vật mà còn cho cả con người văn minh hiện đại. Chỉ những động vật khỏe mạnh mới có thể di chuyển nhiều, càng xa và càng nhanh thì lại càng chứng tỏ là khỏe mạnh nhất.
Ngược lại, già yếu và tật bệnh thì chỉ muốn nằm nghĩ, không thể chạy hay ngay cả đi đứng bình thường được. Cũng giống tương tự như vậy, một xã hội muốn được coi là giàu sang thịnh vượng thì xã hội đó phải thật sự có tính năng động mạnh, nhất là có các phương tiện hạ tầng giao thông vận tải hay di chuyển nhanh chóng và hữu hiệu.
Trước khi biết xử dụng các phương tiện trợ giúp cho sự di chuyển thì cao điểm của sự chuyển dịch nói trên cho tất cả các sinh vật là hành động “chạy” hay “đi”, mà nguyên nhân chính lại là do bản năng sinh tồn. Ngoài việc chứng tỏ cho đồng loại hiểu là mình có sức khỏe tốt, hành động chạy thật nhanh còn có hai nguyên nhân chính: Một là cố chạy thật mau để đuổi bắt con mồi làm thức ăn, hai là phải chạy thật mau để tránh nguy hiểm hay trở thành con mồi. Cả hai hành động chạy rượt đuổi hay chạy thoát thân đều là một cuộc thi đua về sức khỏe rất tự nhiên, mạnh được yếu thua, mà phần thưởng là thức ăn từ con mồi hay trả giá bằng sinh mạng của chính mình. Ngoài ra, hầu như rất hiếm khi có sự lựa chọn nào khác.
Theo thời gian và trải qua nhiều thế hệ, tốc độ chạy cuả các động vật thường tăng dần và nhanh hơn trước, cho tới khi đạt tới mức bảo hoà tối đa vì giới hạn vật lý của thân xác. Lý do là vì thể lực của bất cứ sinh vật nào cũng có một giới hạn nào đó, không thể phát triển to lớn lên mãi được. Cụ thể như thân xác cuả các loài khủng long đã phát triển lớn nhất trong các loài động vật đã từng xuất hiện trên trái đẩt, khi nguồn thức ăn có đầy đủ và dư thừa. Nhưng cuối cùng giống khủng long đã bị tuyệt chủng sớm nhất so với các giống thú khác, vì thiếu thức ăn để cung cấp cho một thân xác quá to lớn và kém năng suất.
Cũng chính vì thể xác khủng long to lớn, nên khi di chuyển gặp nhiều khó khăn, nhất là kém hiệu quả trong chuyện săn mồi hay tranh dành lấy thức ăn với các giống thú mới xuất hiện sau. Hiện nay các giống thú có vú (Mammal) hay hậu duệ còn sót lại trong kỷ nguyên V đều sở hữu một yếu tố di truyền tự nhiên là khả năng “chạy” mau để thoát thân, vì nếu không thì có lẽ là đã bị tuyệt chủng từ lâu rồi.
Giống voi đã bắt đầu xuất hiện sau thời kỳ này, và dựa trên hình dạng của thân xác, cũng có thể là hậu duệ duy nhất còn sót lại của các loài khủng long cuối cùng trên trái đất. Nhưng một điều chắc chắn là thuỷ tổ cuả các giống linh trưởng về sau này lại là hậu duệ của loài khủng long yếu kém và nhỏ con hơn nhiều, giống như loài rái cá Ida đã nói trong tiểu mục trước.
Từ một vài loài khủng long thích ăn thịt đồng loại và tiêu diệt lẫn nhau, những con yếu kém và may mắn hơn, đã chạy thoát được lên miền Bắc Phi và phân tán vào hai lục địa Âu-Á mới phân chia và thành hình trong vài chục triệu năm trước đó. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây chính là nhờ biết ăn thịt lẫn nhau, nên các hậu duệ của khủng long đã có thể tồn tại và chịu đựng được cái khí hậu giá rét cuả miền ôn đới. Hiện tượng cần phải ăn thịt đồng loại để sinh tồn sẽ được lập lại giống như vậy cho các giống linh vật kể cả những giống người tiền sử về sau này.
11.2 Rái Cá – Đi - Chạy
Nhắc lại thời kỳ khủng long có hai đặc điểm đáng ghi nhớ. Đó là loài động vật to lớn nhất từng sống trên đất liền. Dựa vào các bộ xương hóa đá được bảo tồn, khủng long có thể cao tới 10 mét và nặng chừng vài tấn (như bộ xương của giống voi Mamut ở Siberia nước Nga, cách đây chừng khoảng 5 triệu năm, cao 4 m nặng 20 tấn.) Kế đến, tuy giống khủng long to lớn nhất hành tinh, nhưng vẫn còn sinh ra trứng như các giống bò sát và trái tim nếu có cũng thuộc dạng rất thô sơ giống như của các loài chim.
Một đặc tính khác của khủng long là tuy có bốn chân, nhưng hai chân sau thường to lớn hơn rất nhiều. Vào thời bùng phát dân số của các loài bò sát, tổ tiên của các giống khủng long chỉ có cây cỏ là thực phẩm chính. Do phần đông đa số đều phải chồm lên cao để ăn những đọt lá non còn sót lại trên cây cao, hai chân sau phải chịu nhiều sức nặng nên phát triển to ra và mạnh hơn hai chân trước.

Mặt khác, vì phải luôn rướn lên cao để ăn, nên cổ của các loài khủng long cũng dài thêm ra, so với thuỷ tổ là loài rắn mối hay cá sấu. Hậu duệ còn sót lại là những con hưu cao cổ. Cũng do không cân bằng và trọng lượng khác nhau quá nhiều giữa hai chân sau và trước nên giống khủng long và hậu duệ sau đó cũng không thể chạy bằng bốn chân mà chỉ có thể nhảy bằng hai chân sau hay đi chậm hơn với sự giúp đỡ của hai chân trước.
Trong thời kỳ chuyển tiếp này các giống hậu khủng long nhỏ con và yếu kém (như loài IDA), để tránh phải làm mồi cho đồng loại khỏe mạnh hơn, đã phải tiếp tục di chuyển thường xuyên về miền Bắc và ra khỏi lục địa Phi châu. Do phải thường xuyên nằm xuống để lẫn trốn trong những bụi cây và nhu cầu di chuyển nhanh hơn địch thủ, nên các hậu duệ khủng long mất dần khà năng nhảy bằng hai chân sau, cũng như làm quen dần với khả năng di chuyển, đi và chạy bằng bốn chân cho nhanh. Nhờ đó, hai chân trước trở thành lớn mạnh gần bằng với hai chân sau.
Trong khi đó có một nhóm hậu duệ khác cuả khủng long còn sót lại có thể đã đi lạc qua Úc châu, nhưng không gặp phải sự nguy hiểm hay đe doạ đến tính mạng, nên bước tiến hoá chậm lại và bị biến dạng thành những con Kangaroo, vẫn còn duy trì lối nhảy dùng hai chân sau.
Một chi tiết khác đáng chú ý là theo các chuyên gia nhận xét về bộ xương hoá đá có hình thù giống như loài rái cá (Hình 23) đã kết luận là có thể có liên hệ nguồn gốc với các loài hải cẩu hay hà mã. Chính xác hơn, đó là thuỷ tổ của những con rái cá sông (Beaver).
Tuy chưa có gì minh chứng cho lý thuyết nói trên, nhưng theo suy luận thông thường thì các loài hậu khủng long như IDA dù có chạy trốn ở đâu cũng phài cần có nước để uống, và chắc chắn là chỉ có thể di chuyển tới những nơi sinh sống dọc theo các ao hồ hay sông suối. Từ đó khả năng bơi lội hay lặn sâu dưới nước để bắt cá hay săn mồi cũng có thể được phát triển theo bản năng sinh tồn. Các hậu duệ trong nguyên đại V còn sỏt lại là các loài thú 4 chân: Voi, sư tử, cọp, beo, ngựa, trâu, bò, v.v đều có khả năng di truyền về bơi lội ít nhiều.

Cũng còn có một lý do chính là trong số các động vật rời khỏi Phi châu ở thời điểm hậu khủng long, chỉ những loài sống gần ao hồ hay sông suối, biết bơi lội và bắt cá làm thức ăn chính là còn có thể sống sót và tồn tại đến bây giờ.
Nhờ có thêm khả năng di chuyển nhanh và mau cùa giống rái cả và các hậu duệ sau đó, nên loài thú bốn (4) chân có thể đã đi xa hơn và có mặt khắp nơi trên trái đất.
Thời đại này đã bắt đầu xuất hiện đa số hậu duệ của khủng long chuyên ăn thịt đồng loại, hậu quả của một thời kỳ kéo dài hơn 10 triệu năm hạn hán và khan hiếm thức ăn. Các loài động vật ăn thịt, theo bản năng sinh tồn và tính di truyền, càng ngày càng trở nên linh động dũng mãnh và nguy hiểm hơn rất nhiều, khi săn đuổi con mồi. Ngược lại, các loài sinh vật bị săn đuổi kể cả các giống hậu duệ khủng long nhỏ bé hơn, cũng do bản năng sinh tồn, thường phát triển khả năng chạy thoát thân mau hơn hay nhảy cao hơn.
12.1 Đứng – Hai chân sau Thời Đại Miocene-I (19.0 – 9.5 mya)
Kỷ băng giá kéo dài khoảng vài chục triệu năm sau vụ va chạm thiên thạch (Hình E), làm cho tuyệt chủng các giống khủng long đã kết thúc trong giai đoạn này. Trái đất bắt đầu nóng dần lên cũng là yếu tố giúp phần nào cho các loài rái cá đang bị lạm phát dân số, phài di cư về phương Bắc. Câu chuyện về luật thiên nhiên, “Mạnh” thắng được ở lại, “Yếu” thua phải bỏ đi xa, lập lại ở đây sau thời đại khủng long và còn sẽ lập lại nhiều lần nữa sau này cho cả hai giống người cổ đại và cả loài người văn minh.
Dù sao những gì nói trên cũng là chứng cứ rõ rệt cho thấy, hậu duệ của những loài khủng long yếu kém hơn, bị đồng loại săn đuổi liên miên, đã phải chạy lên miền Bắc để sống và làm quen dần với khí hậu lạnh của vùng Ôn đới và Hàn đới. Để có thể sống trong môi trường khá lạnh và luôn bị thiếu thức ăn, một trong số các thay đổi chính đầu tiên cho loài rái cá là biết dùng cả hai chân trước (hay hai tay) để chụp giữ hay nắm bắt con mồi. Trong tư thế phải dùng hai chân trước để nắm bắt con mồi, nên hai chân sau phải phát triển nhiều hơn để tập lảm quen, chịu đựng được sức nặng của cả thân hình. Từ đó, hậu duệ các giống thú ra đời sau loài rái cá như chồn hay gấu đều có khà năng đứng lên được bằng hai chân sau. Không chỉ có vậy, loài rái cá còn biết cách dùng đến cả hai tay để xây dựng hang động hay lót tổ để ở và sinh con.
Do phải thường xuyên chạy mau nên phải thở nhanh, tạo ra nhu cầu cần nhiều Oxy, nên cần khá nhiều máu lưu thông hơn. Kết quả là trái tim phải làm việc nhiều và máu phải lưu thông nhanh hơn nữa so với các giống khủng long trước đây. Từ đó đã sinh ra nhiệt lượng làm cho máu nóng lên, nhờ có sự cọ sát giữa tế bào máu đang di chuyển với thành vách của các mạch máu. Một lý do sinh tồn khác làm cho máu ấm lên là để chống lại cái lạnh, do các loài thú trong nguyên đại này đã bắt đầu di cư và tản mác về phương Bắc.
12.2 Leo - Hai Chân Trước
Giống rái cá chạy về phương Bắc, thuỷ tổ cuả các giống Chồn và Gấu sau này còn phát triển thêm đặc tính đầu tiên cho các loài thú có bốn chân là khà năng leo cây. Một kết luận chắc chắn cho thấy khả năng leo trèo trên cây của một số động vật trong thời kỳ này như Chồn, Gấu, v.v, là do kết quả của những lần bị rượt đuổi quá cấp bách, bị chận lại ở phía sau và cùng đường phía trước với những hàng cây cao chận lối đi, trong tình huống cực kỳ nguy hiểm. Qua hình ảnh quan sát thực tế từ những con gấu bị chó săn rượt đuổi, hành động phóng mình “chạy” luôn lên thân cây rồi dùng hai chân trước bám vào một nhánh cây để giữ cho khỏi rơi xuống đất, đã xảy ra và là giải pháp cấp bách cuối cùng khi không còn đường chạy nào khác!
Dù vậy cũng cần phài mất thêm vài ngàn thế hệ và hàng triệu năm nữa thì khả năng leo trèo với hai chân trước khỏe mạnh, mới có thể thành thạo và quen thuộc, trở thành bản chất tự nhiên của các giống thú sống luôn trên cây sau này.
Thay đổi quan trọng sau cùng là bộ lông bắt đầu xuất hiện, mọc ra dài hơn trên đầu của những con rái cá. Cả triệu năm sau, khi các loài rái cá yếu kém phải bỏ chạy xa hơn về miền Bắc dọc theo những con sông hay bờ biển, thì bộ lông mới có điều kiện được phát triển dày đặc và mềm mại hơn để chống lạnh. Từ đó, loài rái cá yếu kém và nhỏ con của hàng triệu năm trước đã thay đổi biến dạng từ từ thành những con Chồn Cáo hay loài Gấu tinh khôn ở miền ôn đới và cực Bắc.
Tưởng cũng nên nói thêm một chi tiết quan trọng về việc dùng thức ăn chính của các loài sinh động vật để tìm bằng chứng liên hệ di truyền trực tiếp của các giống thú. Cụ thể như là trong tất cả các loài thú có vú sinh con sống trên cạn hay đất liền, chỉ có hai loài gấu và chồn cáo là có khả năng và thích bắt cá để ăn.
13.1 Sinh con
Thời Đại Miocene-II (9.5 – 4.8 mya)
Cũng trong nguyên đại này, do đặc tính lưu động nhiều, xa và nhanh hơn, nên đã có một thay đổi đột biến khác trong vấn đề sinh sản là sự chuyển tiếp giữa các loài đẻ trứng và sinh con sau này. Do phải thường xuyên chạy để săn đuổi hay thoát thân, các loài động vật sinh trứng trước đây không thể bảo vệ trứng hay làm công việc nuôi con hiệu quả nữa, nên dân số từ từ bị giảm dần cho tới khi gần tuyệt chủng luôn.
Ngẩu nhiên tình cờ trong sự tiến hoá hay may mắn đã xảy ra trong số hàng ngàn con thú mẹ đã phải vừa chạy vừa đẻ rơi trứng khắp nơi khi bị săn đuổi quá khẩn cấp. Tuy nhiên vẫn có những thú mẹ đến kỳ hạn sinh ra trứng nhưng vì quá khiếp sợ và hoảng hốt khi bỏ chạy, đã quên luôn nhu cầu sinh trứng tự nhiên rồi nín đẻ luôn! Hậu quả là đa số các thú mẹ có thể đã bị chết ngay sau đó khi quả trứng bị hư và ung thối trong bụng. Nhưng trong hàng trăm ngàn trường hợp giống như trên thì cũng có may mắn của một vài trường hợp đặc biệt ngoại lệ, khi có quả trứng còn sót lại đã được trực tiếp thụ tinh và ấp nở ngay trong bụng nhờ thân nhiệt trong mình cuả con thú mẹ.
Một thắc mắc khác là bằng cách nào các con thú mẹ có thể bảo vệ được các thú con của mình trong giai đoạn cỏn quá nhỏ để tự vệ ?
Câu trả lời ở đây là sự thích ứng với thiên nhiên để sống còn (Fitness of Survival) trong thuyết tiến hoá.
Một là thú mẹ thuộc các loài mãnh thú chuyên đi săn mồi, để có thể răn đe hay đánh đuổi địch thủ và bảo vệ thú con, như các loài Sư tử, Cọp, Beo, Chó Sói, vv. Hay ngược lại, thú mẹ đã có khả năng lẫn trốn trong bụi rậm, trên cây cao hay hang hóc sâu dưới đất thật giỏi để tránh bị săn mồi, như các loài thỏ, nai hay khỉ vượn sau này.
Điều đáng ghi nhận là các loài thú thuộc nhóm thứ hai nói trên đều thuộc nhóm dùng thực vật như lá cây làm thức ăn chính, do phải lẫn trốn thật lâu trong rừng rậm hay trên những cây cao trong một thời gian khá lâu.
Trường hợp sau cùng nhưng hiếm khi xảy ra là thú mẹ quá lớn xác không thể lẩn trốn được, nhưng lại không thuộc loại mãnh thú săn mồi, nên giải pháp thích ứng nhất cho sự tồn tại là phải mang theo con trong một cái bọc da trên bụng như loài Kangaroo hay loài sóc Kaola.
Dù vậy, cũng rất khó khăn để bảo vệ thú con khi bị săn đuổi quá khẩn cấp. Bằng chứng cho thấy rõ lý do tại sao các loài thú thuộc giống Kangaroo chỉ có thể còn sống sót và tồn tại ở châu Úc, nơi không có các loài mãnh thú săn mồi hung bạo như Sư tử ở châu Phi, hay Cọp ở châu Á.

Thêm một lần nữa, luật thiên nhiên được áp dụng ở đây, loài thú nào dũng mãnh thì được ở lại gần trong vùng nhiệt đới với khí hậu ấm áp quanh năm, còn yếu kém hơn thì phải bỏ chạy lên miền Bắc lạnh lẽo hay đi xa hơn, chính là lý do giải thích việc lên miền Bắc lạnh lẽo hay đi xa hơn, và cũng là lý do giải thích tại sao ở hai châu xa xôi hơn, Mỹ và Úc không có các loài mãnh thú sống trong thiên nhiên như Sư Tử, Cọp, Voi hay Tê giác.
13.2 Gấu Tinh Khôn
Đồng thời với các thế hệ rái cá yếu kém bỏ chạy vào sâu trong đất liền, hay tiếp tục sinh sống dọc theo các con sông lớn để biến thành các loài động vật cao cấp có bốn chân sau này, một nhóm thứ hai khác tiếp tục đi thẳng về phương Bắc, thay đổi hình dạng để trở thành loài gấu chó tinh khôn. Sở dĩ gọi là gấu chó vì giống gấu này có cái đầu nhìn gần giống đầu chó. Những thế hệ gấu chó này tuy vẫn cỏn giữ một số bản tính cũ cuả loài rái cá như là thích ăn cá, biết làm hang để ở, nhưng lại khác xa nhiều vì đã được phát triển thêm một số các khả năng đặc biệt khác. Cụ thể như các loài gấu chó đều có thể đứng thẳng người để bắt cá bằng hai tay trong một thời gian khá lâu, biết dùng mũi đánh hơi rất xa như loài chó sau này, nhất là có bản tính hung hăng dũng mãnh hơn rái cá rất nhiều.
Ngoài các đặc tính của các loài thú cao cấp với khả năng leo cây và làm hang dưới đất, giống gấu chó còn phát triển thêm lớp mỡ dày sau bộ lông để chống lạnh. Do nhu cầu cần thiết đó, thể chất cuả những con rái cá chạy xa hơn về miền Bắc đã được phát triển lớn mạnh trở lại nhờ có thức ăn dư thừa và ít cạnh tranh hơn, sau hàng ngàn thế hệ tiếp nối nhau và mất cả vài triệu năm. Có thể không cần phải có thêm bằng chứng về di tích hoá đá để có thể kết luận loài gấu chó chính là thuỷ tổ của đa số các loài động vật cao cấp (Mammal) sau này, kể cả cảc loài Gấu Vượn hay Khỉ Vượn.
14.1 Tim – Vú Ngực
Thời Đại Pliocene (4.8 – 2.4 mya)
Cũng giống như thời gia tăng dân số của khủng long nhờ dư thừa thức ăn của hàng ngàn giống cây thực vật mới xuất hiện, đây là thời kỳ bùng phát dân số của các giống thú cao cấp nhờ cách sinh sản và nuôi con khá hiệu quả trong kỷ nguyên này. Hầu hết đa số các loài động vật có vú sinh con có mặt trên trái đất hiện nay đều xuất hiện trong thời kỳ này.
Đây cũng là thời đại của những sinh vật đã đạt tới mức kỷ lục chạy nhanh nhất trên đất liền cho đến bây giờ.
Để thỏa mản nhu cầu cung cấp lượng Oxy đủ cho việc hô hấp trong lúc chạy quá nhanh, trái tim của các loài thú củng đã bị biến dạng thay đổi khá nhiều, gần giống tới 90% trái tim của con người hiện nay.
Một trong những thắc mắc thú vị nhất của các nhà “Tiến Hoá Học”( Darwinist) là câu hỏi: Bằng cách nào, các loài thú sinh trứng và ấp nở ra con, khi chuyển biến qua loài sinh con trực tiếp thì lại tạo ra thêm bộ phận nuôi con là “Nhủ hoa” hay “Vú” của các loài động vật cao cấp?
Trở lại thời kỳ sinh trứng và ấp nở, các thú con mới sinh ra khỏi lớp vỏ trứng đều có bộ xương mạnh để đi đứng và có sẳn sàng hàm răng khá cứng để có thể nhai hay cắn thức ăn ngay được liền. Trong khi đó ngược lại, các loài thú con sinh ra ngay từ trong bụng mẹ, nếu có hàm răng hay bộ xương quá cứng và to, chắc chắn sẽ khó sinh ra và trong nhiều trường hợp đã đưa đến tử vong cho cả hai, và dĩ nhiên là có thể đã bị tuyệt chủng luôn.
Tuy nhiên, tình cờ và ngẫu nhiên lại xuất hiện trong hàng ngàn trường hợp bị sinh non do chấn động gây ra vì bị rượt đuổi, nên thú con được sinh ra đời nhờ có bộ xương cốt còn rất mềm, do bị đói ăn và thiếu chất vôi lâu ngày. Thêm vào may mắn là thú mẹ bị yếu sức và đang nằm im trong bụi rậm để lẩn tránh nguy hiểm, nên các thú con do bản năng sinh tồn vì quá đói, đã vô tình có thể cắn cho chảy máu và bú vào lớp da thịt mềm ở dưới bụng của thú mẹ nằm gần sát với âm đạo.
Nhờ bú máu của con thú mẹ nên thú con đã có thể sống sót và lớn mạnh để tự tìm kiếm thức ăn. Chỗ vết thương bị chảy máu vì bị bú quá lâu ngày, nên các mô tế bào chết ngoài da bị biến dạng, phổng ra thành một vết sẹo lồi di truyền vĩnh viễn và trở thành núm vú quen thuộc sau hàng ngàn thế hệ di truyền.
Sau cùng, một chi tiết quan trọng cần nhấn mạnh là nhờ cách nuôi thú con nói trên có kết quả tốt nên đã trở thành thói quen, giúp cho loài thú đó không bị tuyệt chủng. Qua nhiểu trăm ngàn thế hệ, huyết thanh cuả máu từ vết thương hoà với chất kích thích tố trong miệng thú con đã cho phản ứng sinh hoá để biến dạng thành chất sữa khi thú mẹ sinh con, trong khi vết sẹo di truyền thành núm vú, sau cả triệu năm tiến hoá.
Còn lý do tại sao lại có hai hàng núm vú là vì thú mẹ phải thường xuyên thay đổi tư thế nằm nghiêng cả hai bên trái phải cho đỡ mỏi mệt, và số núm vú có được bao nhiêu là do nhu cầu sinh ra nhiều hay ít con. Cụ thể, các giống Heo, Chó hay Mèo có nhiều núm vú vì thường sinh ra nhiều con, nên ngay từ khởi thuỷ theo thuyết nói trên, các thú con khi mới sinh ra đã sắp hàng dài dọc theo bụng mẹ để cắn và bú máu.
Đáng ghi nhận thêm là sự di truyền về thể chất đã áp dụng luôn cho cả hai giống Đực hay Cái khi mới sinh ra đời và còn quá nhỏ để sản xuất ra các chất kích thích tố phân chia tính dục. Đó chính là lý do giải thích cho đến bây giờ, phái nam đàn ông vẫn còn lại vết tích di truyền cuả cả hai núm vú trên ngực!
Tóm lại cho thấy, điều may mắn kỳ lạ đã xảy ra cho những loài thú phải ăn thịt và uống máu đồng loại, lại là những giống thú đã sống sót tồn tại và tiếp nối con đường tiến hoá.
14.2 Gấu-Vượn
Thời kỳ đại băng giá bắt đầu trở lại trong giữa thời kỳ này (Hình E). Các giống gấu chó sau một thời gian dài tiến hóa và lạm phát dân số, đã không còn có đủ thức ăn vì muà đông kéo dài quá lâu, sau mấy tháng ngủ say trong hang. Kết quả là sau một thời gian dài tranh dành và giết hại hay ăn thịt lẫn nhau để sống còn, các nhóm gấu chó yếu kém hơn phải bỏ chạy về phương Nam vì lý do sinh tồn.
Dù là yếu kém ở phương Bắc nhưng lại là khá cường mạnh ở phương Nam nếu so sánh vóc dáng của gấu với các loài rái cá hay chồn cáo nhỏ con hơn đang sống dọc theo các ao hồ hay sông suối. Từ đó các giống gấu chó đã có thể tiếp tục xâm chiếm lãnh thổ và sinh sống ở phương Nam, rồi lại bị lạm phát gia tăng dân số để sau cùng lại di cư xuống tận miền nam của các châu lục, trước khi bị thách thức và đe dọa bởi các loài mãnh thú khác như Sư tử hay Cọp beo ở các vùng nhiệt đới.
Cuối thời đại này, một biến cố quan trọng xảy ra để khởi đầu cho giai đoạn chuyển tiếp dần dần từ giống gấu sang các loài gấu vượn và khỉ vượn.
Đó là sự kiện một nhóm gấu chó tinh khôn nhưng thể chất yếu kém, đã bị kẻ thù săn đuổi và phải leo lên những cây cao để lánh nạn, rồi kẹt lại và ở luôn trên cây, do kẻ thù đóng chốt và sinh hoạt bầy đàn ngay ở dưới

May mắn có được của nhóm gấu tinh khôn là đã leo lên một nhánh cây cổ thụ to lớn trong khu rừng già với hảng ngàn cây khác mọc san sát chằng chịt lẫn nhau tạo ra thành một tấm thảm dày, to lớn và chắc chắn, rất lý tưởng cho cả nhóm gấu sống luôn trên đó. Trở ngại lớn nhất để sống luôn trên cây cao là viêc tìm kiếm thức ăn. Do vì không thể đi xuống dưới sông hay ao hồ để bắt cá làm thức ăn chính, nhưng đói quá thì đành phải ăn bậy bạ. Mới đầu có thể là những bông hoa hay đọt cây còn non, rồi từ từ phải cố ăn luôn đến cả lá cây và cành rễ, v.v.
Một sự kiện may mắn hiếm có khác chính là những đọt cây lá non có những hợp chất hữu cơ có vị ngọt gần như đường. Nhắc lại các thời kỳ trước đây, cơ thể của các sinh động vật còn nhiều chất mặn của muối khá cao, vì có nguồn gốc xuất phát từ đại dương. Chất ngọt thiên nhiên của cây trái vào trong cơ thể của loài gấu chó, đã đóng vai trò như những liều kích thích tố, tạo ra một sự bùng phát dung tích não bộ và dĩ nhiên là làm cho trí tuệ tăng trưởng vượt bực. Đó cũng là một lý do giải thích tại sao hiện tại này, chỉ có Gấu là loài thú sinh con thứ hai biết thưởng thức hay ăn được mật ong như con người. Một dữ kiện khoa học khác cần ghi nhận ở đây là cho tới thời điểm này, dung tích não bộ của các loài động vật cao cấp sinh con như Chồn Cáo, Bò Heo, Chó hay Mèo, v.v, chỉ đạt tới mức trung bình là từ 100-300 cc.
Tóm lại, qua nhiều ngàn thế hệ sống trên cây, có nhiều thay đổi và biến hoá chính đã xảy ra cho loài gấu chó như sau:
Thể xác to lớn trước kia của loài gấu chó đã bị co cụm, nhỏ dần lại và nhẹ hơn rất nhiều vì lý do thức ăn chính gồm toàn cành lá hay hoa quả, nhưng thiếu chất đạm. Hai cánh tay trở thành mạnh khoẻ hơn gấp nhiều lần so với trước, có thể dùng để đánh đu hay di chuyển thành thạo trên những cây cao. Quan trọng nhất là nhờ não bộ của Gấu phát triển mạnh nên phần đầu của loài gấu chó nở phình và to lớn ra, đẩy phần trán lên cao hơn. Kết quả là đã làm cho phần mũi và miệng như bị hạ thấp xuống và đưa vô trong (Hình 26), thay vì chộ ra ngoài như miệng của loài Chó.
Thực tế theo những gì đã mô tả ở phần trên, loài gấu chó đã tiến hoá và biến dạng thành loài Gấu-Vượn, chỉ thích sống luôn ở trên cây, không muốn hay không thích xuống dất nữa. Một sự kiện khác đáng ghi nhận trong thời đại này, gấu chó là loài thú lớn thứ hai đã di cư quy mô qua châu Mỹ sau thời đại khủng long. Dựa trên điều kiện địa lý đặc biệt của châu Mỹ, chỉ có vùng đất cực kỳ lạnh ở miền bắc Alaska, kế bên vùng vịnh Biển Berring nối liền với Nga sô dài cà ngàn cây số là có thể đi bộ vượt qua được. Do đó, chỉ có loài Gấu Chó tinh khôn đang sống trong miền cực bắc châu Á, là có đủ khả năng thể chất và điều kiện địa lý để di cư đến Mỹ châu trong thời kỳ nói trên.
15.1 Khỉ Hầu-Dã Nhân
Thời Đại Pleistocene (2.4 – 1.2 mya)
Thời kỳ này có thể nói là cực thịnh cuả các loài Gấu-Vượn, trước khi tiến hoá thêm một bước nữa để thay đổi, thành ra các loài Khỉ-Vượn. Nhờ ăn những đọt cây lá non có vị ngọt khác thường nên tất cả hệ thần kinh não bộ điều khiển năm (5) giác quan, Tai, Mắt, Mủi, v.v đều được phát triển đầy đủ và khá tốt cho các loài khỉ vượn sống trên cây.
Một đặc điểm tiến hóa cần chú ý trong thời kỳ này của giống khỉ vượn là vị trí cuả hai con mắt. Do não bộ lớn dần lên từ phía sau gáy cổ, tạo ra ảp suất đẩy hai bên hộp sọ đầu ra phía trước và nở to ra, nên hai tròng mắt ở hai bên được đưa ra luôn phía trước mặt, trong vị trí đối xứng nhau qua sống mũi.
Một thay đổi tiến bộ khác là mắt của các loài khỉ vượn này đã có thể bắt đầu phân biệt được vài loại mầu sắc khác nhau như Vàng Xanh và Đỏ, nhờ dung tích nảo bộ gia tăng và nhãn cầu mắt chứa thêm nhiều tế bào cảm quang làm tăng độ phân giải ánh sáng của con ngươi.

Cho tới thời điểm này, các tiến bộ và thay đổi đáng kể về thể chất nói trên có thể đã biến loài khỉ vượn sống trên cây thành ra một loài động vật mới, có tên gọi khác đi là Khỉ-Hầu (Chimpazee). Đây cũng là cao điểm nhất của thời kỳ băng giá, các rừng cây trong các lục địa bị mất đi rất nhiều do băng giá lạnh, nên địa bàn sinh sống kể cả thức ăn cũng bị khan hiếm nghiêm trọng. Các loài thú phải chiến đấu khó khăn hơn để tranh dành thức ăn, loài khỉ hầu yếu kém hơn đành phải di cư xuống gần vùng nhiệt đới Châu Phi để sinh tồn.
Di cư về lại Phi Châu lần này, nhóm khỉ-hầu không còn phải lo sợ bị những loài mảnh thú ở Phi Châu đe dọa hay hãm hại nữa. Lý do, nhóm khỉ hầu sống theo bầy đàn trên những cây cao trong rửng, không nằm trong tầm với của các loài Sư Tử hay Voi. Các loài Beo Gấu thì không có khả năng đương đầu với cả đàn Khỉ cả trăm con vừa nhảy nhót vừa biết la hét để uy hiếp tinh thần đối phương.
Nhờ vùng rừng cây cao nhiệt đới Phi châu quá rộng lớn với nhiều cây trái mới lạ và có khí hậu ấm áp quanh năm, các nhóm khỉ hầu di tản xuống đây đã có thể sinh sống khá an toàn và phát triển thêm nhiều khả năng đáng kể. Khả năng phát ra âm thanh với nhiều tần số khác nhau đã xuất hiện khá rõ ràng. Nhờ gia tăng thêm số lượng các dây thần kinh dẫn truyền và điều khiển các cơ vòng trong cuốn họng, nên miệng và thanh quản có thể đóng hay mở, tạo ra những âm thanh có tần số khác nhau. Nhờ vậy, đã có một thứ ngôn ngữ riêng của các loài khỉ hầu khá là tiến bộ, dùng để thông tin với nhau rất hiệu nghiệm. Cụ thể như những tiếng kêu ở tần số cao phát ra giống như tiếng kêu cứu khẩn cấp hay tuyệt vọng cầu cứu.
Chính nhờ tất cả những thay đổi tiến bộ cũng như với kinh nghiêm sống bầy đàn có tổ chức, loài khỉ hầu yếu kém quen sống trên cây trước đây, đã có thể cùng nhau đánh đuổi được những kẻ thù nguy hiểm nhất, trở thành một trong những loài động vật chúa tể rừng xanh, hùng mạnh nhất trong thiên nhiên lúc bấy giờ. Vũ khí lợi hại nhất của các loài khỉ hầu này là dùng số đông đánh đu trên những cành cây cao để la hét và hù dọa, ném xuống bất cứ vật gì có trong tay, làm cho đối thủ hay mãnh thú phải sợ và bỏ chạy.
Một khi có thêm khả năng tự vệ và không còn hay bớt sợ nguy hiểm rồi, thì cũng không còn có lý do gì để phải sống mãi trên cây cao.
Loài khỉ hầu đã từ bỏ dần những cành cây cao, leo xuống đất sinh hoạt bầy đàn, do thám những vùng đất mới để tìm kiếm thêm thức ăn nhiều hơn.

Nhiều thuyết đưa ra với những di tích khảo cổ cho rằng các nhóm khỉ hầu vào cuối thời kỳ này đã biết cách làm các dụng cụ bằng đá để xử dụng như vũ khí cầm tay. Tuy nhiên, khách quan nhận xét thì những di tích tìm thấy đó cũng có thể là những vật thể mà nhóm khỉ hầu tình cờ tìm thấy được trong thiên nhiên, không nhất định là phải làm ra bằng tay. Điều chắc chắn biết được là trong thời kỳ này, các nhóm khỉ hầu đã biết dùng những hòn đá lớn để đập bể những trái cây có lớp vỏ cứng như dừa, hay những con sò gai ở dưới biển, giống như loài rái cá vẫn thường làm hàng triệu năm trước đó.
Cuối thời đại này cách đây hơn một triệu năm, các loài khỉ hầu nhờ có thêm số lượng cây trái và thức ăn dư thừa trên mặt đất nên thể xác đã phát triển khá lớn mạnh. Cụ thể như hai cánh tay thu ngắn lại và to ra vì không còn dùng để di chuyển đánh đu trên cây cao nữa. Tương tự như vậy cho cái đuôi bị cụt dần rồi mất hẳn đi vì không còn xử dụng nữa khi sinh sống ở dưới đất, lại có thể gây ra nhiều rắc rối nguy hiểm, nhất là lúc bị những thú dữ rượt đuổi. Thể xác tăng trưởng lớn mạnh thì số lượng của các tế bào nhớ trong não cũng gia tăng theo, nhất là những thay đổi về ngũ quan hay những âm thanh phát ra từ trong cổ họng.
Tận cuối thời đại này, loài khỉ hầu đã thay đổi biến dạng thành dã nhân (Gorilla-Hình 28). Giống Dã Nhân là thuỷ tổ cuả giống người tiền sử, có thể đứng thắng và đi bằng hai chân, danh từ khoa học còn gọi là Homo-Erectus.
Bảng tóm tắt sau đây cho thấy thời điểm tiến hoá của các loài động vật cao cấp:
