Bắt đầu chương sách lịch sử đầy thú vị và hứa hẹn của nền văn minh nhân loại này, đều trách sự hiểu nhầm về thời gian, con số về niên đại hay Năm theo Dương lịch được chuyển đổi ra theo quy ước chung BC hay AD tiếp theo sau con số chính thức, như trong thí dụ trên. Ngoài ra, xin chú ý là hai con số nằm trong ngoặc đơn chỉ có ý nghĩa là năm cực thịnh của hai nền văn minh kế tiếp nhau trong quá khứ và hiện tại đang nói tới, không phải là khoảng cách hay tổng số thời gian kéo dài hay tồn tại của nền văn minh đó.
***
Ðiạ điểm hay cái nôi thật sự cuả các nền văn minh con người hiện đại, đã xuất phát trong vòng vài trăm cây số kể từ đường xích đạo, bên cạnh một con sông nào đó của lục địa Phi Châu. Có nhiều yếu tố với xác xuất đúng rất cao cho thấy có thể đó là con sông Nile dài nhất ở Phi Châu chảy theo hướng Nam-Bắc, trở thành con đường thông thương huyết mạch, khai sinh và nuôi dưỡng nền văn minh Phi Châu hơn mấy chục ngàn năm.
Những dữ kiện lịch sử đã được minh chứng qua các công trình khảo cổ, hay được khai quật từ các di tích hoá đá bên bờ sông Nile và các công trình xây dựng Kim-Tự-Tháp ở Giza. Thêm vào là những bộ xương hóa đá cuả các giống người Thượng cổ đại (Lucy, Arti,v.v), đều được tìm thấy nhiều nhất tại các quốc gia nằm trong lục địa Phi Châu, có lãnh thổ nằm gần ngay trên đường xích đạo như Tanzania, Zaire, Congo, v.v.
Tuy vậy, điều cần thảo luận ở đây chính là tìm hiểu nguyên nhân hay động lực nào đã làm cho các dân tộc sống gần đường xích đạo ở châu Phi, trở thành giống người thông minh nhất lúc bây giờ trong buổi chớm rạng đông của nền văn minh nhân loại. Một ghi nhận thêm là mỗi thời đại kế tiếp của nguyên đại VII này, các sắc dân hay bộ tộc văn minh tiến bộ thường có những phát minh hay sáng chế ra những vật dụng lợi ích. Đa số các nền văn minh chính thường có những sáng kiến mới lạ về văn hóa mà tầm ảnh hưởng lan tỏa ra khắp nơi, bao trùm một vùng lãnh thổ rộng lớn và tạo ra những thay đổi tích cực cho toàn thể xã hội.
Những thay đổi lớn cho xã hội còn được gọi chung là "Cách Mạng", như Cách Mạng Kỹ Nghệ ở Anh trong thế kỷ 19 hay Cách Mạng Tin Học ớ Mỹ trong thế kỷ 20, đã làm thăng tiến đời sống, không những chỉ dành riêng cho tất cả các thành viên thân cận trong cộng đồng xã hội cuả dân tộc đó, mà còn ảnh hưởng nhiều đến cho cả những xã hội hay các quốc gia láng giềng khác ngay sát bên cạnh, hoặc có thể lan tỏa xa hơn nữa cho toàn thế giới. Nói chung, tất cả các thay đổi lớn trong mỗi thời đại này thường có đặc điểm chính về văn hoá và thường bắt đầu bằng một trong các yếu tố sau: Tôn giáo, Khoa học-Kỹ thuật hay xây dựng các công trình quy mô lớn.
22.1 Văn minh Xích đạo
-Người Tiền Sử (7400 BC)
(*Xin Chú Ý: Con số nằm trong ngoặc đơn là năm cực thịnh hay cao điểm của nền văn minh đang nói tới, với sai số có thể thay đổi trong vòng từ 10-50 năm theo AD, và cho tới 100-500 năm theo BC)
Sau thời kỳ băng giá lần cuối cùng cách đây khoảng 20 ngàn năm, khí hậu trái đất nóng dần lên nên năng lượng cần có cho giống Người Tiền Sử (NTS) giảm xuống nhiều, do không có nhu cầu cần thêm thức ăn hàng ngày xử dụng cho việc chống lạnh nữa. Nhu cầu năng lượng giảm dần thì lượng chất béo dư thừa tích tụ tạo thành các lớp mỡ dự trữ trong người, nguồn cung ứng dồi dào cho nhu cầu cần sản suất thêm các tế bào bộ nhớ. Ngoài ra, các loại chất béo dư thừa còn tiếp tục bồi dưởng tốt lớp vỏ bọc hệ thống tế bào thần kinh truyền đạt mệnh lệnh hay tín hiệu xuống cho cơ thể hay tay chân. Nhờ vậy, các giống người ở Phi châu đã trở thành thông minh, lanh lợi và hoạt động năng nổ nhiều hơn các giống người tiền sử khác, sau mỗi thế hệ.
Cụ thể như thay đổi quan trong giữa các nhóm người Rừng hay nhóm Neanderthal mấy ngàn năm trước đó khi vừa trở lại Phi châu, so sánh với lớp Người Tiền Sử mới sau này, đều tập trung nhiều nhất vào hai vị trí đặc biệt của cơ thể: Vầng thuỳ não trước Trán cùng hai bên Thái dương (Hình 34) nở rộng thêm ra, và hệ thống thần kinh dẫn truyền xuống hai chân đều có những phát triển đặc biệt đáng kể làm cho sinh hoạt nhanh nhẹn và hiệu quả hơn.
Chân – Di Chuyển
Chu kỳ phát triển về “Chân” trở lại từ đầu trong nguyên đại VII cho nền văn minh hay KNTH đầu tiên, tạm gọi là nền văn minh Xích Đạo của con người hiện đại, với một tầm vóc cao hơn nhiều, dưới tác dụng do trí tuệ cuả con người tạo ra. Nhắc lại thời kỳ của người cổ đại (Homo-Sapiens) với khả năng chạy trung bình mau nhất đạt tới mức khoảng chừng 15-20 km/Giờ. Trong Nguyên Ðại VII này, khả năng chạy bằng hai chân cuả con người văn minh hiện đại cũng không thể mau hơn, vì sự phát triển về thể xác cuả con người cũng có giới hạn. Tuy nhiên, với sự thông minh và tiến bộ nhiều về trí tuệ, con người có đã thể tìm ra những phương tiện sẳn có trong thiên nhiên để trợ giúp thêm cho việc di chuyển, vừa nhanh hơn mà cũng khoẻ hơn rất nhiều.

Ðiạ bàn sinh hoạt chính cuả các nhóm bộ tộc văn minh nhất trong thời kỳ này đều tập trung ở lục địa Phi châu, bên cạnh những con sông chính như sông Nile. Nhờ khả năng tư duy tốt và vật chất đủ mạnh, những bộ lạc văn minh nhất thường dễ dàng chiếm đoạt và bảo vệ lảnh thổ đã có được. Nhưng lòng tham không bao giờ chịu ngừng lại và chấp nhận những gì đã có được. Các nhóm nào mạnh nhất thường đụng chạm quyền lợi với nhau, lần lượt chiếm đoạt đất đai cuả các nhóm yếu hơn và nới rộng dần lảnh thổ. Ðồng thời như trình bày, các nhóm yếu kém hay lạc hậu hơn đã bị đánh đuổi và lần lượt bỏ chạy rời khỏi Phi châu trong thời kỳ này, tạo ra những hạt nhân mới cho các nền văn minh kế tiếp khác tiến bộ hơn.
Một lý do khác được tìm thấy khiến các bộ tộc phải di cư ra khỏi Phi châu: Trái đất nóng dần lên sau thời kỳ băng giá cuối cùng, lượng nước mưa cũng bị giảm dần xuống đáng kể hàng năm, làm cho một vùng đất rộng lớn ở bình nguyên như Sahara hoá thành sa mạc, do hạn hán kéo dài quá lâu trong cả ngàn năm. Các bộ lạc dân tộc vốn không quen sống trong vùng bị sa mạc hoá phải di cư, tản mác ra khỏi lục địa Phi châu lần chót để tìm đất sống và cung cấp thức ăn cho đồng loại.
Theo kết quả nghiên cứu cuả các nhà nhân chủng học mới đây cho biết, đã có ít nhất hai nhóm người từ lục địa Phi châu di tản hay đi dọc theo sông Nile vể tận hướng Bắc, phân tán ra theo hai hướng chính.
Hướng thẳng lên vùng biển Ðiạ Trung Hải rẻ trái về hướng Tây lập nền văn minh Ðiạ Trung Hải, bao gồm văn minh Hy Lạp và La Mã, cái nôi sinh ra văn minh Âu châu. Một chi nhánh của nhóm này bị đánh đuổi phải chạy ngược lại lên hướng Đông Bắc để lập ra nền văn minh Trung-Đông chịu ảnh hưởng Hồi Giáo.
Nhóm thứ hai rẻ qua phải đi băng ngang về hướng Đông, lần theo các vùng dọc bờ biển qua Ấn Độ Dương để cho ra các nền văn minh Ấn Giáo (Hindu) và Phật Giáo, khởi đầu cho nền văn minh Á châu. Một chi nhánh thuộc các nhóm các bộ lạc hải đảo này đã đi thẳng lên vùng đồng bằng sông Hồng, rồi tiếp tục theo hướng Đông Bắc đi tiếp lên nữa, lập ra nền văn minh Bách Việt bên sông Dương Tử, cái nôi sinh ra Văn minh Trung Hoa chính thống thuộc giòng dõi Hán Tộc sau này.
Vài ngàn năm sau nữa, lần lượt môt nhóm dân Trung quốc đó lại bị rượt đuổi nên liều mình mạo hiểm tiến xa hơn về hướng Bắc vượt qua eo biển Bering, dịnh cư ở vùng Alaska trước khi di dân xuống miền Nam Mỹ Châu để lập ra các nền văn minh Incas, Pueblo,v.v. Có một sự liên tưởng khôi hài là: Liệu rằng trong thế kỷ qua cho đến hiện nay, những chuyến bay xa chở các di dân từ vùng Đông Nam Á kể cả Viêt Nam hay Trung Hoa, thường có lộ trình bay vòng lên Bắc cực qua Alaska trước khi vào Mỹ, đã là một sự lập lại của lịch sử, hay là phản ánh của luật Nhân-Quả?
22.2 Những Phát Minh Chính Làm Lửa
– Đi Thuyền - Cỡi Ngựa
Sáng kiến đầu tiên về văn hoá ẩm thực trong đại kỳ này chính là cách “Nướng” hay đốt cháy con mồi tươi sống trong lửa trước khi ăn. Nhắc lại trong các thời đại trước, do các trận cháy rừng tự nhiên đã làm cho một số thú vật bị chết thiêu biến thành những thức ăn nóng và thơm ngon khác thường cho các bộ lạc người Rừng.
Tuy vậy, trở ngại lớn nhất cuả các giống người Rừng thông minh thời bấy giờ là vẫn chưa tìm ra cách để tự làm ra lửa, thay vì là phải chờ lấy lửa thiên nhiên từ những đám cháy rừng, rồi sau đó là phải tìm cách giữ cho được ngọn lửa mồi. Một công việc rất khó khan đòi hỏi sự khôn ngoan và sáng tạo.
Thêm vào, công việc giữ ngọn lửa mồi cũng không phải dễ dàng gì trong các muà mưa bão và lại rất nguy hiểm vì có thể đốt cháy luôn tất cả những gì để dành được trong các hang động kể cả sinh mạng con người hay nơi chốn sinh sống cuả bộ lạc. Cả ngàn năm sau, không hiểu truyền thống cố gỉữ cho ngọn lửa đuốc thiêng thế vận hội không bị tắt đi trong một thời gian lâu dài, có thể nào là một trong những hành động tạo ấn tượng để vinh danh và tưởng nhớ lại thời kỳ khó khăn trong chuyện “giữ được mồi lưả” đó(!? Phim "Quest for Fire" từ sàn diễn Hollywood diễn tả lại gần đúng với những gì đã nói trên)
Phải đợi đến gần hết thời kỳ này con người mới đủ trí tuệ thông minh để bắt chước thiên nhiên và làm giống như vậy. Theo ghi nhận chung của các nhà nhân chủng học, phát minh quan trọng nhất trong thời đại của lịch sử con người hiện đại, chính là tìm cách làm ra lửa, bất cứ lúc nào khi cần đến. Khác biệt duy nhất là thay vì ngồi chờ những trận cháy rừng hay dùng những cây đuốc giữ mồi lửa có thể mang đến những tai hoạ khủng khiếp, thì con người đã tạo ra lửa bằng cách xoáy thật nhanh một đầu cây que khô vào viên đá lửa với mồi lá khô cùng đống củi. Nhiệt lượng cao tạo ra bởi sự ma sát làm ngún cháy đầu cây que với nhúm lá khô làm mồi.
Nhờ những đống lửa được đốt lên giữa các hang động để nướng chín thịt của con mồi săn bắt được, đồng thời cho ánh sáng và sưởi ấm mọi người trong những sinh hoạt bầy đàn, nên đời sống của các bộ tộc biết cách tự làm ra lửa, đã được thay đổi và thăng tiến rất nhiều về mọi mặt. Một lợi ích thực tế khác là nhờ thức ăn được nướng chín trên các bếp lửa cuả các bộ lạc văn minh nói trên, con người đã có thể tránh được rất nhiều bệnh tật. Sức khoẻ cũng gia tăng đáng kể, kéo dài tuổi thọ lên, thay vì chỉ có 10-20 năm như các loài dã nhân và giống người rừng trước đây. Cho đến hiện tại này những món thịt sống nướng trên bếp than trộn với mùi khói thơm từ chất béo cháy lên, đều làm kích thích dây thần kinh hay bộ nhớ di truyền cả ngàn năm cho khẩu vị cuả mọi người trên thế giới này, không phân biệt màu da chủng tộc. Phải chăng điều vừa trình bày, minh chứng cho thấy rõ hai sự kiện: Mùi khói từ lớp mỡ cháy và thịt nướng trên các bếp lửa, một kết hợp hữu cơ giữa chất than và chất béo, không những đã giúp cho não bộ người tiền sử khởi sắc phát triển tối đa, mà còn lưu dấu ấn sâu đậm lại trong bộ nhớ cuả con người mãi mãi đến bây giờ.
Những Người Tiền Sử (NTS) cũng đã tìm thấy trong thiên nhiên có hai loại trợ giúp cơ bản cho phương tiện di chuyển nhanh và đỡ mệt hơn: Cách thứ nhất là trực tiếp dùng một con thú khoẻ mạnh chạy nhanh hơn con người như Ngựa hay Lạc đà để đu bám vào. Cách thứ hai dùng gián tiếp sức mạnh của thiên nhiên như giòng nước chảy cuả các con sông hay suối để bám vào các khúc cây gỗ trôi theo giòng nước.
Ðiều trùng hợp khá chính xác là cho đến khi khoa học phát triển tiến bộ nhiều trong các thế kỷ qua, đa số các phát minh hay sáng tạo cuả con người đều xuất hiện từ những tai nạn rủi ro ngoài ý muốn hay do tình cờ ngẩu nhiên không được biết trước, nhất là các phát minh có tính đột phá giúp rất nhiều cho đời sống hàng ngày. Cụ thể đã xảy ra trường hợp thoát chết khi bị những cơn lũ lụt cuốn đi, các thú vật hay con người đã tình cờ và may mắn ôm chặt và bám vào các cành cây hay khúc gỗ đang trôi sát bên cạnh.
Với kinh nghiệm sống chết đó, nhóm người thông minh thời tiền sử đã có được một kết luận quý giá: “Ða số các khúc cây gỗ đều nổi trên mặt nước và quan trọng nhất là không tuỳ thuộc vào hình dáng to nhỏ hay nặng nhẹ bao nhiêu”. Cuối cùng, trong số những NTS thông minh, có ai đã có sáng kiến tìm ra cách để con người có thể di chuyển trên sông nước nhanh và tiện lợi hơn đi bộ rất nhiều, bằng cách ôm vào một thân cây gỗ rồi thả trôi theo dòng sông đang chảy.
Tuy vậy, khởi đầu có thể là các NTS chỉ chọn một thân cây to đủ rộng cho một hay hai người ôm nằm. Kế tiếp là ai đó đã nghĩ ra cách khác là đục vào thân cây một lỗ trống để ngồi luôn trong đó cho được an toàn hơn, và từ đó con người có thể dùng tay để điều khiển hướng đi. Cuối cùng sau vài ngàn năm, tất cả những sáng kiến nói trên đã giúp thay đổi khúc cây gỗ trở thành con thuyền. Di tích lịch sử còn sót lại đề minh chứng là các loại thuyền “độc mộc” của các giống dân da đỏ trong những vùng sông nước ở các xứ Nam Mỹ còn đang xử dụng.
Câu chuyện thứ hai liên quan đến việc săn thú của các nhóm người tiền sử. Những bộ lạc đông người cần săn những loài thú to lớn để cung cấp thức ăn cho cả chục hay vài trăm nhân khẩu.
Ða số trong nhiều trường hợp, với các loại vũ khí thô sơ như cây lao, cọc nhọn hay các tảng đá sắc bén cũng không thể giết chết liền những con thú to lớn và khoẻ mạnh. Nhưng có thể vì tiếc rẻ con mồi và vì quá đói, nên đã có nhiều trường hợp nguy hiểm làm cho những tay thợ săn phải liều mạng cố đuổi theo, bám chặt vào cái đuôi hay cưỡi lên thân con thú để cố triệt hạ và giữ mồi. Trong nhiều trường hợp chỉ bị thương nhẹ nên con thú đã có thể bỏ chạy và mang theo luôn người săn thú đang đu bám trên lưng. Nhờ kinh nghiệm sinh tử có được, nhất là được di chuyển nhanh hơn trên mình cuả một vài con thú như ngựa hay các loài trâu bò, các tay thợ săn NTS thời đó đã khám phá ra cách dùng sức mạnh thú vật để làm phương tiện di chuyển nhanh và tiện lợi.
Do từ nhu cầu cần phải thuần hoá một số các loài thủ to lớn để làm phương tiện di chuyển, phát minh mới trong KNTH này là tìm cách bắt sống con thú bằng những sợi dây mềm lấy từ những rễ cây rừng.
Kỹ nghệ đánh bẫy hay đi săn bắt đầu thành hình trước khi NTS học cách huấn luyện làm sao cho các giống thú hoang chịu thuần phục. Từ đó, kỷ nghệ chăn nưôi sơ khai cũng được thành hình do số thú hoang đã bị bắt sống mang về khá nhiều. Nghể chăn nủôi để lấy da và thịt cũng có thể được phát sinh từ nhu cầu cần thiết nói trên.
22.3 Đặc Tính Văn Hóa
Du Cư – Thờ Thần Vật
Trong thời kỳ này, thành viên cuả các bộ lạc văn minh nhất đều chưa mặc áo quần gì cả và sống trần truồng rất tự nhiên. Hầu hết đều có đời sống du cư và thay đổi chổ ở thường xuyên, do chưa biết cách xây nhà vững chắc để bảo vệ cư dân chống lại thời tiết xấu. Hình ảnh của những người tiền sử mang những nhánh lá cây quanh mình chỉ có sau này trong sự tưởng tượng của phim ảnh mà thôi, không hề xuất hiện vào thời điểm đó. Phải chờ cho đến KNTH kế tiếp để con người có thể dùng hai bàn tay khéo léo chế tạo ra được những bộ quần áo bằng lá cây và kết dính lại với nhau.
Mặt khác, hầu như đa số chưa có khái niệm gì về chuyện đạo đức tình dục hay mặc cảm tội lỗi, dù vẫn biết có sự ganh tỵ hay các tính tham lam và ích kỷ. Luật lệ trong xã hội nếu có lúc bấy giờ là luật cuả kẻ mạnh được xử dụng cùng lúc với bản năng sinh tồn. Cá nhân hay tập thể nào mạnh nhất sẽ được đám đông thần phục và đương nhiên sẽ trở thành tù trưởng hay lãnh chuá, sau khi đã chiến thắng hết những đối thủ còn lại bằng các trận đấu tay đôi với nhau.
Con người văn minh trong KNTH 1 này bắt đầu có ý thức nhiều về cái “Tôi” kiêu hãnh của mình, nhưng đồng thời cũng có những mặt-cảm tự-ty khác đối với các hiện tượng thiên nhiên khủng khiếp, vượt quá sự hiểu biết của con người thời đó, như sấm sét, bão lụt, vv. Khái niệm về sự hiện hữu của một đấng linh thiêng hay ông “Thần” có quyền uy tối cao, đã tạo ra những tai họa khủng khiếp và sẽ định đoạt số phận con người. Những ý tưởng về Thần Linh tuy đã có trước đó khá lâu và chẳng có gì là mới lạ, nhưng đã thật sự bắt đầu được nhiều người tin tưởng và chấp nhận hơn, do những phát triển khá mạnh về hệ thần kinh tạo cảm xúc. Trong KNTH này, con người thờ cúng Thần-Vật hay bất cứ đồ vật nào được cho là thiêng liêng như một hòn đá lớn, ngọn núi, cây cổ thụ , v.v.
Đồng thời cũng xuất hiện trong thời đại hay KNTH này, do tham vọng và ích kỷ muốn duy trì quyền lực lâu dài, một số các tù trưởng tài giỏi hay thông minh cuả các bộ tộc đông dân, đã tìm ra phương cách làm lãnh tụ muôn năm. Bằng cách dùng sức mạnh tổng hợp của nhiều cá nhân để lập ra một cơ chế hay bộ máy quyền lực bao gồm nhiều thành viên được hưởng một số quyền lợi ưu đãi, rồi từ đó dùng nó để áp đảo hay khống chế lại những cá nhân hay các nhóm khác yếu kém hơn, không chịu phục tùng hay không nghe theo mệnh lệnh.
Nhờ vậy, các tù trưởng hay lãnh chúa về sau này không những có thể cai trị suốt đời mà còn có thể truyền ngôi lại hàng trăm năm sau cho con cháu, nếu không bị các thế lực mạnh hay các cá nhân tài giỏi hơn lật đổ để "cướp chính quyền".
Về diện tiến hoá và thay đổi sinh lý, trong thời đại hay KNTH này các sự phát triển về não bộ và hệ thần kinh của con người chắc hẳn đều được dẫn truyền xuống và tập trung gần như đa số vào đôi chân. Minh chứng cụ thể cho nhận xét nói trên là những hậu duệ trực tiếp sau này thường bị té ngã xuống hay đứng không vững, do các thần kinh điều khiển cơ chân bị tê liệt hay yếu hẳn đi, mỗi khi có chuyện buồn hay do xúc động mạnh về tâm lý.
Sự khỏe mạnh, to lớn và dẽo dai của hai chân đã được ngưỡng mộ và tôn sùng như là tài sản quý giá nhất của con người. Nhờ nó mà những thợ săn chính trong mỗi bộ tộc dùng để đi săn bắt thú vật, cũng như mang về nguồn thức ăn cần có cho cả nhóm. Ngay cả khi đi tìm kiếm ban tình, tiêu chuẩn về nét đẹp hay sự lôi cuốn hấp dẫn của cả hai phái đến với nhau cũng đã dựa rất nhiều vào hình dáng và màu sắc của đôi chân trong thời kỳ này. Thực tế nhất cho thấy những người gốc Phi Châu ngày nay, cả hai phái nam hay nữ gì cũng đều được thừa hưởng tính di truyền hay sở hữu một bộ giò khỏe mạnh vững chắc, thường có ưu thế và chiến thắng được nhiều huy chương thế vận về môn chạy bộ điền kinh xa hay gần.
Tóm lại, trong suốt gần hơn 10000 năm của KNTH 1 này, tuy chưa có được đầy đủ dữ kiện lịch sử chính xác, nhưng chắc chắn là đã có ít nhất một nữa dân số hay nhiều hơn nữa, đã phải liều mạng di tản hay bỏ chạy ra khỏi Phi châu để tìm đường sống, do chiến tranh hay vì do yếu kém quyền lực hơn. Nhưng vài ngàn năm sau, hậu duệ của những người đau khổ, đói kém và đã bỏ chạy khỏi Phi châu đó, sẽ có một ngày trở về để chinh phục lại mãnh đất thiêng liêng này.
23-1 Văn minh Phi Châu
– Đế Quốc Ai Cập (2540 BC)
(*Một lần nữa, xin chú ý: Con số nằm trong ngoặc đơn là năm cực thịnh hay cao điểm của nền văn minh đang nói tới, với sai số có thể thay đổi trong vòng từ 10-50 năm theo AD, hay từ 100-500 năm theo BC)
Bàn Tay - Chế Tạo

Theo thứ tự như đã trình bày, nếu trong thời đại hay KNTH 1 chủ động chính về “Chân” thì trong KNTH 2 này có liên quan đến những phát triển và có nhiều ảnh hưởng mới lạ về hai bàn “Tay”. Người ta vẫn thường nói là làm nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng, không ai nói làm nên sự nghiệp bằng hai chân! Tại sao? Câu trả lời nằm ở vấn đề hai bàn tay có khả năng làm được nhiều chuyện hơn là chân chỉ giúp cho việc đi đứng và chạy là chuyện chính. Dĩ nhiên, con người qua trí tuệ còn biết xử dụng khéo léo hai bàn tay để làm ra những sản vật có ích cho cộng đồng xã hội.
Theo dòng tiến hóa tự nhiên của các loài sinh động vật, tay hay chân là những bộ phận cơ bản đầu tiên của các loài, giúp cho thân xác có được tính cơ động và di chuyển, nên được gọi là động vật. Hai Tay và hai Chân, theo như cách gọi của môn cơ thể học là “Tứ Chi”, nghĩa là bốn thành phần của thân xác có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Cụ thể như khi hai chân chạy thì hai tay cũng phải đong đưa đánh nhịp theo.
Do đó, khi não bộ phát triển các hệ thần kinh nối liền với chân quá nhiều, bị giới hạn và bảo hòa, thì tự nhiên phải chuyển hướng phát triển qua tay là đối tượng kế tiếp theo.
Sau này trong các KNTH kế thừa, quy luật về tiến hoá và phát triển nảo bộ cho hệ thần kinh của các bộ phận khác trong cơ thể, theo luật tự nhiên, sẽ được tiếp tục giữ đúng thứ tự từ dưới lên trên như đã được trình bày trong các chương trước đây.
Sự cần thiết cũng như đóng góp cả hai tay trong công việc làm của con người cho tới ngày nay vẫn còn cần rất nhiều, dù kỹ thuật về cơ khí và tự động hóa đã làm giùm cho khá nhiều chuyện khác. Trong bất kỳ xã hội hay thời đại nào, mất hai chân thì cũng còn hy vọng có thể làm ăn hay sinh sống được, nhưng nếu mất hai tay thì chắc là gặp khó khăn hơn rất nhiều. Đó là lý do giải thích tại sao vào thời trung cổ phong kiến, hình phạt cho kẻ phạm tội nặng nhất sau cái chết vẫn là bị chặt mất hai Tay.
Ðây cũng là thời kỳ đột phá về xây dựng do hai bàn tay và trí tuệ con người làm nên. Biểu tượng rõ nhất cuả hai bàn tay chính là viết ra hay phác họa những chương trình xây cất lên một dự án nào đó, hay thiết kế xây dựng những công trình chung vĩ đại, để lại dấu ấn lịch sử cho cả mấy ngàn năm sau này, như các đền thờ hay các Kim Tự Tháp hùng vĩ.
23.2 Phát Minh Chính
Chữ Viết– Chăn Nuôi – Rượu
Thời kỳ này đánh dấu một cuộc cách mạng lớn về văn hoá, bắt đầu bằng chữ viết và có thể coi như là một phát minh quan trọng nhất trong KNTH 2 này. Câu chuyện dự đoán cho thấy, khời đầu là do những người đi săn mồi trong những khu rừng, muốn ghi lại những dấu hiệu cho dễ nhớ khi tìm đường trở về, hay những lúc đi quá xa để tìm kiếm thức ăn.
Mới đầu, có thể là họ chỉ tạo ra những dấu vết trông rất bình thường và dễ thấy, như một dấu vết của thiên nhiên. Nhưng một thời gian sau, do nhu cầu cần phải biết thêm nhiều thông tin cần thiết khác, nên họ đã phải sáng tạo và cho xuất hiện thêm một số các dấu vết đặc biệt khác.
Nói chung, các nhóm người văn minh thời kỳ đó đã phát minh ra một số những dấu hiệu khác nhau theo quy ước riêng cho dễ nhận dạng và dễ hiểu bởi mọi người. Chữ viết có thể đã xuất hiện từ thời đại này như một nhu cầu cần thiết cho việc thông tin liên lạc giữa những con người cùng có chung một văn hoá và ngôn ngữ hiện đại.
Có chữ viết rồi thì cũng cần phải dùng cái gì đó để viết lên. May mắn là trong một trong các nền văn minh như Badarian trước đó đã phát hiện và biết cách xử dụng đất sét mềm, nung lên thật nóng, để làm ra thành những viên gạch cứng dùng cho xây dựng nhà cửa. Đồng thời trong khi viên gạch còn mềm, sẽ được viết hay khắc lên để ghi lại những sự kiện Lịch Sử đáng nhớ.
Không có gì ngạc nhiên nếu biết rằng các vua chúa Ai-Cập sau này đã cùng chọn biểu tượng là hai bàn tay để tôn thờ như những vị thần được “Trời” ban cho và sai xuống trần gian để giúp đỡ con người.
(Hình 35)

Những phát minh hay sáng kiến đặc biệt khác làm bằng Tay trong thời kỳ này còn có:
Phát minh ra bánh xe hình tròn bằng gỗ, quay xung quanh một cái trục, xuất hiện đầu tiên trong lịch sử của nhân loại. Từ đó về sau, các nhà sáng chế Ai-Cập đã dùng bánh xe để chế tạo ra loại xe ngựa kéo, còn gọi là “Chariot” . Nhờ các loại xe ngựa kéo này, các Hoàng Đế Ai-Cập đã có ưu-thế hơn các đối thủ trong chiến tranh, tóm thâu vào nhiều lãnh thổ để xây dưng lên đế quốc Ai-Cập rộng lớn khắp vùng Bắc Phi.
Dùng da thú vật để che thân thể và chống lạnh. Một phát ninh đưa đến từ trí thông minh và sáng tạo cuả các người thợ săn. Do vì công việc phải mang những con mồi bị bắt sống hay đã chết về lại bộ lạc khi trời vừa tối với những cơn gió lạnh. Nhưng đồng thời cũng nhờ thân nhiệt cuả con thú chuyền qua bộ lông và giữ lại lâu hơn trên thân thể cuả người đi săn, đã tạo ra một cảm giác ấm áp dễ chịu. Từ đó, ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện với sự suy luận: Tại sao không tìm cách cắt bộ lông da thú ra, phơi khô để dành làm vật bao che thân thể chống lạnh (?). Tuy nhiên, đó không phải là chuyện dễ dàng ngay từ đầu, vì tất cả đều phải qua một số các công đoạn cần thiết như phơi khô, làm sạch các lớp thịt dư hôi hám còn bám vào lớp da bên trong, và cuối cùng là cột lại hay kết dính những miếng da thú với nhau cho vừa sát với thân thể. Tất cả công đoạn làm ra áo da thú có được là nhờ tài biết xử dụng bàn tay khéo léo và trí thông minh để thoả mản nhu cầu sinh tồn.
Khám phá ra các chất kim loại cơ bản như vàng hay đồng, và đã biết cách dùng lò lửa để làm công việc luyện kim, đúc vũ khí hay làm những vòng trang sức. Chính nhờ khám phá mới lạ này, về sau được gọi chung danh từ là kỹ thuật, đã giúp nhóm người phát minh đó trở thành đầy quyền lực và giàu có, thu phục được nhiều bộ lạc nhỏ gom lại trên những vùng đất rộng lớn hơn như các tiểu quốc về sau này. Ðiều cần biết và nhắc lại đây là hầu như những phát minh về kỹ thuật trong mấy ngàn năm qua đều là do tình cờ ngẩu nhiên phát hiện và khám phá ra.
Do kết quả từ những vụ cháy rừng làm cho một số các hợp chất quặng kim loại bị nung nóng và chảy ra, tụ lại trong những chổ đất bị trủng xuống và thấp hơn mặt đất. Kết quả sau một vài ngày khi nguội đặc lại, đã cho ra những đồ vật có hình dạng đặc biệt theo như chỗ đất bị trủng xuống. Kết quả ngẩu nhiên ban đầu có thể là hình dạng cuả một cái vòng tròn từ trái cây khô đã bị cháy. Cũng nhờ có sự khéo tay, các bộ tộc văn minh nhất thời bấy giờ đã tìm ra phương pháp vẽ sẳn và tạo mẩu khuôn trên những khối đất sét ướt mềm và đốt nung trên đó các quặng kim loại được tìm thấy tại những mỏ lộ thiên.
Sau cùng là do nhu cầu sản suất ra hàng loạt vũ khí chiến tranh như cây đao hay kiếm. Các phương pháp sản xuất trên lần lượt được thay đổi và làm cho hoàn hảo hơn.
Một phát minh khác có tầm quan trọng về văn hoá ẩm thực cho loài người cả mấy ngàn năm sau này chính là “Rượu”. Nói về lịch sử phát minh ra rượu thì đa số cũng có thể đoán biết được. Do tình cờ vì muốn để dành trái cây trong các chum đất đóng kín, vài ngày sau lên men và tiết ra một chất lỏng có vị chua và đắng. Nhưng nếu để lâu thêm chút nữa cho rượu lên đúng độ, khi uống vào thì có vị cay nồng và làm cho “say” với cảm giác lâng lâng ngây dại, cuồng nhiệt và làm cho dễ ngủ, tạm thời quên những chuyện buồn hay không vui vừa xảy ra.
23.3 Đặc Tính Văn Hóa
Định Cư – Thần Linh
Trong KNTH 2 này, các tổ chức chính trị hay tôn giáo đã có một vị thế chắc chắn và ổn định rõ rệt trong cộng đồng các quốc gia hay xã hội. Nhờ có phát minh ra chữ viết, nên vấn đề giáo dục hay truyền bá kinh nghiệm lại các thế hệ hậu sinh đã có thể thực hiện ở tầm vóc lớn quy mô và rất hữu hiệu vì được ghi chép lại khá đầy đủ.
Tuy vậy, tất cả những gì có được trong suốt chiều dài hơn mười ngàn năm lịch sử của cả hai nền văn minh Xích Đạo và Phi châu nói riêng, nhân loại nói chung, đã không thể xảy ra được nếu như không có sự xuất hiện hay ra đời của con sông Nile. Phải nói sông Nile là con sông đặc biệt nhất của cả thế giới, không những dài nhất mà còn có một đặc tính là có nhánh sông dài hơn 1000 km, chảy thẳng hướng dọc theo trục Nam-Bắc, từ gần đường xích đạo cho tới biển Địa Trung Hải.
Có thể nói nhánh sông Nile đặc biệt này đã đóng vai trò như một “sinh lộ” hay con đường sống còn cho nhân loại trong buổi sớm rạng đông của lịch sứ thế giới.
Dựa vào những sự kiện minh chứng nói trên cho thấy, các bộ tộc yếu kém hay bại trận trong KNTH 1, bỏ chạy lên hướng Bắc Phi dọc theo sông Nile. Một số đông đã định cư lại và sinh sống trên các bình nguyên mới phát sinh do phù sa của sông Nile tạo nên, để sau vài ngàn năm lập ra đế quốc Ai-Cập.
Sau khi lần lượt thâu tóm các tiểu quốc nhỏ, các “Ramseh” hay Hoàng đế cuả đế quốc Ai-Cập đã khởi binh thanh toán luôn các vương quốc yếu kém thuộc các nền văn minh cổ trước kia như Sumerian, Badarian, v.v, nhờ vào kỹ thuật tiến bộ, chế tạo ra các cổ xe Ngựạ có hai bánh (Chariot) dùng trong chiến trận.
Một sáng kiến quan trọng khác đã giúp phát triển các tổ chức tín ngưỡng hay tục lệ tôn thờ thần linh, với mục đích là để hổ trợ thêm sức mạnh tinh thần cho các thủ lảnh cai trị những bộ lạc đông dân, có lãnh thổ quá rộng lớn. Thật vậy, đã không có cách gì hay hơn cho các thủ lãnh bộ lạc là làm mọi người tin tưởng quyền uy của họ đã được ban phát và hổ trợ bởi những vị thần linh thiêng hay từ các đấng Tối Cao vô hình.
24-1 Văn Minh Trung Đông
- Đế Quốc La-Mã (119 AD)
Một sự giải thích cho nền văn minh chính có tên gọi là Trung-Đông.
Nhiều sử gia thường gọi là nền văn minh Địa-Trung-Hải, dành cho các quốc gia hay chư hầu có lãnh thổ hay điạ bàn hoạt động chung quanh vùng biển Địa-Trung-Hải (Mediteranian). Tuy nhiên, có hai lý do chính đáng người viết muốn gọi là Trung-Đông (thay vì là Địa-Trung-Hải).
Trong khi đế quốc Ai-Cập suy tàn, ngoài hai nền văn minh chính Hy-Lạp và La-Mã, còn có một số các nền văn minh khác mới nổi lên trong vùng Bắc Phi như Libya, Morocco, và về phía Đông thuộc khối các nước Á-Rập sau này như Saudi Arabia, Iraq, Iran, v.v. nhưng không nằm gần hay ngay sát bờ biển Địa Trung Hải.
Đa số các quốc gia vừa kể trên đều nằm trong vùng miền có tên gọi chung, theo quy ước sau này do Tổ chức Liên-Hiệp-Quốc đặt ra là Trung-Đông (Middle-East), cho đồng nhất và dễ phân biệt với các vùng miền khác được gọi theo danh xưng của các lục đia như Á châu, Âu châu, v.v.
Bộ Phận Sinh Lý- Tính Dục
Liên hệ ngầm hay gián tiếp giữa biểu tượng và thực tế. Cụ thể như hai Kỷ Nguyên Tiến Hóa (KNTH) vừa qua, KNTH 1 tuy dùng biểu tượng là chân, nhưng thực tế lại liên hệ đến với những phương tiện khác dùng cho việc di chuyển. Cũng như khi nói đến biểu tượng Tay có liên hệ nhiều hơn những gì mà bàn tay được đụng chạm tới, v.v. Trong KNTH 3 này thuộc về phần thân dưới với biểu tượng chính là bộ phận sinh lý, tuy còn có nhiều ý nghĩa liên hệ gián tiếp khác, bao gồm luôn cả hai bộ phận cho ra chất thải cứng và nước tiểu.
Sau cùng, ý tưởng đầu tiên liên quan đến trí tuệ trong KNTH 3 này là phải được liên tưởng đến những ứng dụng trong lãnh vực Nghệ-Thuật hay Mỹ-Thuật.
Tại sao những vấn đề thuộc tính dục lại ảnh hưởng trực tiếp đến nghệ thuật hay mỹ thuật? Câu trả lời đơn giản dễ hiểu là khi tìm kiếm người bạn tình, con người đều có những ước muốn giống nhau, muốn nhìn những góc cạnh hay hình ảnh nào cho mình cảm thấy thích thú và hứng khởi, hay ít ra là dễ chịu! Có thể đó chỉ là những gì cân đối và hài hoà cuả thiên nhiên phản ánh trên thân thể cuả con người, được cho là đẹp dưới cái nhìn của nghệ thuật và thẩm mỹ. Những ý tưởng đó được tích luỹ và làm cho tốt đẹp hơn theo dòng thời gian sau mỗi thế hệ, được lưu giữ lại qua những hình ảnh của nghệ thuật, những bức tượng đá nỗi danh như tượng Thần Vệ-Nử còn được chiêm ngưỡng với vẽ đẹp tự nhiên trải qua hơn hai ngàn năm.

Hệ quả cuả sự ham muốn tìm kiếm cảm giác thích thú và dễ chịu đó cũng đã cho con người có thói quen ích kỷ, muốn làm chủ nhân toàn diện, sở hữu luôn được đối tượng mãi mãi, giống như thời kỳ trước đó đúng một Nguyên Đại (Nguyên Đại VI, Kỷ Nguyên Tiến Hóa 3). Chỉ có sự khác biệt lớn và đầy ấn tượng trong nguyên đại này chính là nhờ trí tuệ, con người đã phát triển và hoàn thành được ước muốn một cách dễ dàng hơn.
Bằng luật pháp và lễ nghi, các nhà thông thái hay vua chúa đã tìm cách đặt ra những luật lệ cùng những quy ước xã hội về hôn nhân, với mục đích để gìn giữ và bảo vệ quyền lợi tối thiểu cho người bạn tình hay bạn đời của mình. Dưới sự hậu thuẩn của các hoàng đế La Mã cũng như tôn giáo, các lễ nghi trịnh trọng cho đám cưới dưới sự chủ tọa và điều hành của các quan chức hành chánh địa phương hay các tu sĩ, đã bắt đầu xuất hiện và trở thành truyền thống tốt đẹp kéo dài mấy ngàn năm sau nầy.
Cũng chính vì những khó khăn và ràng buộc tinh thần của hôn nhân, nên gia đình cả hai bên Nam hay Nữ đã phải cân nhắc kỷ lưởng trước khi lấy quyết định. Xin nhắc lại trước đây, trong các thời đại của KNTH 1&2(17500 BC-2540 BC), hầu hết đa số chỉ biết có vấn đề “tình dục” giữa Nam Nữ, do nhu cầu sinh lý tự nhiên để duy trì nòi giống. Liên hệ giữa hai phái tính thường là liên hệ giữa chủ nhân và nô lệ, hay nhiều khi chỉ là kết quả cuả sự cưỡng bức hay mua bán của cha mẹ, do lòng ích kỷ tự nhiên cuả người Nam muốn sở hửu, làm chủ nhân suốt đời cuả người Nữ.
Trong hai KNTH vừa nói, phái nữ được coi như là của cải tài sản của người Nam. Người Nam hay chủ nhân có toàn quyền sinh sát, mua đi bán lại, vv. Do đó, ý nghĩa hôn nhân hay vợ chồng trong hai KNTH 1 và 2 hầu như chưa có hay mới chỉ là một khái niệm mơ hồ, và không được bảo vệ bằng luật lệ của bất kỳ nhà nước nào.
Cụ thể minh chứng là những quan niệm nói trên vẫn còn có thể tồn tại trong một số các nước Á châu hiện nay, như là một phong tục điạ phương.
24-2Những Phát Minh Chính
Phát minh quan trọng nhất mà văn minh Trung Đông đã để lại cho con người chính là tìm ra đặc tính kỹ thuật làm xi măng, vẫn cỏn có nhu cầu xử dụng cho tới hiện nay. Thời đó, các chuyên gia xây dựng Hy-Lạp và La Mã đã biết dùng đá vôi nghiền ra thành bột, trộn vào thêm với đất cát, nước và chất Axít (Lime), để khoảng một vài ngày là đặc cứng lại như xi-măng hiện nay.
Một trùng hợp ngẩu nhiên khác chính là sự liên tưởng giữa bộ phận sinh lý và nhiệm vụ cho ra phần nước thải cuả con người, nếu đem so sánh với công việc xây dựng hệ thống các ống cống chứa chất thải ra cuả con người trong văn hóa La-Mã. Chính nhờ những phát minh tiến bộ trên đã giúp cho công dân sống tại La-Mã và các vùng lân cận sống khoẻ và sống thọ hơn, nhờ giữ được phần nào vệ sinh, tránh được khá nhiều các chứng bệnh truyền nhiễm.
Tương tự như ống cống nước thài, một phát minh khác có tính đột phá đã giúp La Mã trở thảnh đế quốc phát triển hùng mạnh bậc nhất trong thời kỳ này, chính là nhờ sáng kiến kỹ thuật xây dựng hệ thống dẫn nước từ sông về tới thành phố cho dân xài. Hệ thống dẫn nước này gồm có nhiều miếng đá xi măng đúc lõm ở giữa như cái máng xối, nối liền với nhau từ nguồn nước và dẫn đến các khu cư dân.
Cũng trong thời đại này, các chuyên gia La-Mã còn có thêm một số các sáng kiến phát minh ấn tượng khác như sau:
Hai bánh xe ngựa (Chariot) ở hai bên cùng quay đồng bộ giúp xe chạy mau và nhịp nhàng hơn, nhờ được nối liền nhau bằng một trục ngang kim loại, thay vì gắn vào riêng rẽ và quay độc lập với nhau.
Nhà cầu xí và phòng tắm công cộng giúp duy trì vệ sinh cá nhân và tránh được rất nhiều bệnh tật cho công dân La-Mã từ các bệnh truyền nhiễm lây lan qua cơ thể người mắc bệnh.
Dùng quân kỵ mã trong chiến tranh. Nhờ kỹ thuật này quân đội La-Mã đã chiếm được rất nhiều ưu thế trong các trận chiến. Trước đó, quân lính của các nước khác như Ai-Cập, Hy-Lạp, v.v, chỉ biết dùng ngựa kéo xe và bộ binh. Dù vậy, trong thời kỳ này, kỵ binh chỉ biết dùng đao để chặt chém hay dùng cây thương dài đâm vào đối thủ như trong các trận giác đấu La-Mã, chưa có khả năng muá kiếm hay bắn ra cung tên từ trên minh ngựa như kỵ binh Mông Cổ sau này.
Văn minh La Mã là nền văn minh cuối cùng và huy hoàng nhất trong một chuỗi thay thế các nền văn minh thuộc miền Trung Đông hay còn gọi tên khác là văn minh Ðịa-Trung-Hải
24-3Đặc Tính Văn Hóa
Mỹ thuật – Hôn nhân
Trong thời kỳ văn minh Trung Đông hay sau cùng hết là văn hóa La Mã, một cuộc cách mạng về giới tính và tình dục đã xảy ra. Ngoài những ràng buộc vầ hôn nhân, vai trò và thiên chức làm vợ rồi làm mẹ đã được đề cao và vinh danh qua con đường truyền đạo giáo lý cuả các tín đồ Thiên Chúa Giáo. Nhờ vậy gíá trị hay vị trí cuả người Nữ được nâng cao lên trong xã hội khá nhiều, tuy rằng vẫn chưa có được quyền bình đẳng Nam Nữ nếu so với tiêu chuẩn của hai ngàn năm sau. Đức Mẹ Maria đã được đưa ra như một biểu tượng của thiêng liêng hay sư tôn kính cho người Nữ trong thời kỳ Thiên Chúa Giáo La Mã. Đồng thời và cũng là ngẫu nhiên trùng hợp xảy ra trong các nền văn minh Á châu, Phật giáo cũng đã đưa ra biểu tượng của Phật Bà Quan Thế Âm cho phái Nữ.
Ðó cũng chính là những điểm son cuả nền văn minh Ðiạ Trung Hải-Trung Đông, bao gồm luôn các nước Bắc Phi Châu. Nổi bật nhất vẫn là hai nền văn minh Hy-lạp (Greek) và La-Mã (Roman). Nhưng taị sao thời đại KNTH 3 này lại ám chỉ nhiều về bộ phận sinh dục? Đơn giản là nếu không có sự khuyến khích về tình dục và “tôn sùng” bộ phận sinh lý của Nam Nữ thì có thể các nền văn minh của nhân loại đã bị chậm lại rất nhiều, nhất là Âu châu. Một chi tiết khác cần để ý tới là tuổi thọ của con người còn khá ngắn trong thời đại này. Khoảng chừng trong vòng trên 30 tuổi, và ai sống tới 40 là đã quá tuổi thọ rồi.
Một yếu tố tâm lý khác, khi công khai phô bày nét đẹp của Nam Nữ đã tạo ra tâm lý coi trọng và chăm sóc nhiều hơn cho bô phận sinh dục và nhất là giữ cho sạch sẽ vệ sinh hơn. Từ đó, sinh hoạt tình dục đã được khuyến khích rất nhiều trong các thành phố chính La Mã, qua các buổi truy hoan tập thể, một yếu tố giúp cho dân số gia tăng gấp bội phần. Các tượng nỗi danh trong nền văn minh Trung Đông như Thần Vệ Nữ (Venus) hay Thần Ái Tình phô bày ra bộ phận sinh dục của Nam Nữ đều được chiêm ngưỡng hay tôn thờ trong các nền văn minh chịu ảnh hưởng kế thừa sau này như Ấn Độ, đã là những biểu tượng minh chứng cụ thể nhất trong KNTH 3 này.

Nhân đây cũng nên nói đến những nét đặc thù của văn hóa Ấn Độ.
Có thể thấy ngay là Ấn Độ cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn minh Trung-Đông hay La-Mã, không chỉ về những câu chuyện tình dục qua triết lý “Phồn Thực”, mà còn đến cả kiến trúc và điêu khắc. Cụ thể rõ nhất có thể so sánh là viện bảo tàng tình dục hay đền Lakshmana ở Ấn Độ, một di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận. Ngoài những hình dáng về kiến trúc trụ cột nói chung, các hình tượng điêu khắc gắn liền trên các bức tường cũng có những nét hao hao rất giống với nghệ thuật kiến trúc của La Mã. Nhận xét khách quan cho thấy cường độ về tính dục của các hình tượng được phô bày công khai ở đây đã đạt đến mức độ cao nhất trên thế giới, kể cả những tượng đá hay tranh vẽ nổi tiếng tại Rome.
Lý giải sự việc trên cho thấy, khi nền văn minh La Mã bắt đầu đi xuống dần thì ảnh hưởng văn hoá tính dục cũng đã lan tràn đến Ấn Độ và bùng phát lên mạnh nhất, trước khi đi vào suy tàn. Sẽ không ngạc nhiên và khó hiểu khi lịch sử cho thấy cả ba tôn giáo lớn đều cấm kỵ chuyện tà dâm, lại xuất hiện ngay trên mãnh đất có nền văn minh chú trọng nhiều về vấn đề tình dục. Có phải đó là một phản ứng tự nhiên của con người hay một cái “Phanh Hãm” Trời cho để giảm bớt những hành vi tình dục quá độ của con người(?)
Ngoài ra, nền văn minh La-Mã cũng đã có sáng kiến tiên phong trong việc hợp pháp hoá hành vi mãi dâm, để vừa giải quyết công việc làm cho phái Nữ cùng vấn nạn trai thiếu gái thừa do hậu quả của chiến tranh, vừa được thu thuế vào cho công quỹ của nhà nước. Dư âm hay ảnh hưởng lợi hại của sáng kiến đó vẫn còn là một vấn đề tranh cãi kéo dài cho tới hiện nay.
25-1 Văn Minh Á Châu
Đế Quốc Nguyên-Mông (1279 AD)
Thân Dưới – Bộ Tiêu Hoá - Bụng
Biểu tượng cho Kỷ Nguyên Tiến Hóa (KNTH) 4 này là cái Bụng hay Dạ Dầy và các bộ phận tiêu hoá, mang ý nghĩa thực tế là chuyện ăn uống cuả con người, hay nói chung là vấn đề dinh dưỡng theo ngôn ngữ khoa học.
Như đã trình bày trong chương mở đầu, phần đông dân Á châu nói chung hay Trung Hoa nói riêng là những chuyên gia nấu ăn đầu tiên trên thế giới. Cụ thể như xuất xứ của các món gia vị chính dùng để nấu ăn, làm tăng thêm sự ngon miệng hay thích thú cho mùi vị khi ăn như tỏi, hành, tiêu, quế cay đều có cùng nguồn gốc xuất xứ từ khu vực châu Á. Kể từ thời đại này, con người không chỉ muốn ăn no mà còn đòi hỏi được ăn ngon nữa. Từ đó lại thêm nhu cầu cần có những chuyên viên nấu ăn hay còn gọi là “Ðầu Bếp”, nghĩa là ngay cả khi ăn uống con người vẫn phải cần xử dụng đến trí tuệ nếu muốn ăn cho ngon.

Khi đế quốc La Mã đang thống trị Âu châu và trên đà chinh phục một phần Trung-Nam Á châu kể cả Ấn Độ, thì Trung hoa chỉ là một nước còn non trẻ, mới vừa được lập quốc và thống nhất dưới sự cai quản của các Hoàng đế thuộc giòng dõi Hán-Tộc. Những thành quả về thương mại hay khoa học đạt được ban đầu và đầy hứa hẹn đó của nhà Hán không phải là không có tiền lệ hay ngay cả được lập lại vể sau này. Trước đó mấy trăm năm, các vùng đất lành chim đậu của Trung Hoa thời bấy giở còn gọi là Trung Nguyên, sau thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, đã giang tay rộng mở chiêu mộ anh hùng hào kiệt, thu nạp nhân tài của các vùng rộng lớn thuộc miền Trung, Nam Á châu. Các nhà khoa học gốc Trung Đông qua nghiên cứu hóa chất hay tìm thuốc Trường sinh cho Tần Thuỳ Hoàng, các tu sĩ Phật giáo đi truyền đạo từ các xứ Nam Á hay các thương gia tài giỏi khôn khéo chạy trốn chiến tranh cướp bóc theo con đường tơ luạ, vv, đã giúp đưa dần nước Trung Hoa lên tột đỉnh địa vị của một cường quốc, hơn cả ngàn năm sau đó.
Trở lại từ đầu câu chuyện, một khi đất nước Trung hoa bắt đầu được sung túc và thịnh vượng rồi thì cái ăn cái mặc phải là câu chuyện mở đầu cho các sự kiện chính.
Các cựu đế quốc Hy Lạp, La Mã có thể tôn thờ các Thần Lửa, Thần Mặt Trời hay Thần Tình Dục, nhưng dân Trung Hoa lại thực tế hơn khi đa số lại chọn ông Táo, ông Điạ hay Thần “Bếp” để thờ.
Triết lý của Trung Hoa trong việc thờ cúng ông Táo cũng khá đơn giản. Thờ ông Táo thì không những có ăn mà còn được cho ăn ngon nữa là có “Phúc”. Ăn ngon thì ăn nhiều nên có sức khỏe mạnh để làm việc, tiền của sẽ vô như nước là có “Lộc”. Giàu sang, ăn no mặc đủ và có sức khỏe thì hy vọng được sống lâu, kéo dài tuổi “Thọ”. Sau cùng, nếu mỗi người dân đều có được Phúc-Lộc-Thọ thì tự nhiên sẽ làm cho dân giâu nước mạnh, đất nước phát triển và thịnh vượng.
Không những vậy, chính các dân tộc châu Á đã phát minh và cải tiến rất nhiều kỹ thuật nông nghiệp trong cả hai lãnh vực chăn nuôi và trồng trọt, làm gia tăng sản lượng ngũ cốc đáng kể. Lịch sử ghi nhận Trung Quốc là nước thoát khỏi nạn đói kém trên thế giới trong thiên niên kỷ I đầu tiên dưới thời kỳ Thịnh Đường. Cụ thể minh chứng chính là nhờ vậy, dân số cuả thế giới đã tăng lên rất nhiều lần trong thiên niên kỷ số I này để duy trì sự hiện diện cuả con người, và cũng để giải thích lý do tại sao Trung hoa ngày nay lại có dân số đông nhất trên quả địa cầu.
25.2 Những Phát Minh Chính
Chúng ta đã từng nghe nói nhiều về những phát minh có tính cách thay đổi cả thế giới của Trung Hoa, đại diện cho các nền văn minh châu Á thời bấy giờ, như la bàn, bàn tính (Abacus), giấy, tơ lụa, thuốc súng, vv. Nhưng phát minh quan trọng nhất, không những đã đưa Trung Hoa lên địa vị cường quốc với nền văn minh số 1 thời bấy giờ, mà còn giúp cho nột số dân tộc láng giềng châu Á, và gần cả ngàn năm sau là Âu châu, tránh khỏi nạn đói, chính là nhờ phát minh ra kỹ thuật canh tác mới, sáng chế ra cái cày, cái bừa và dùng sức kéo của trâu bò. Một phát minh mà hơn cả hai ngàn năm sau vẫn còn được xử dụng rất hiệu quả tại nhiều nơi nghèo đói và chậm tiến trên thế giới.
Một trong các phát minh quan trọng khác về ẩm thực đã làm thay đổi cuộc diện thế giới hay có thể coi như lả một cuộc “Cách mạng về thực phẩm” chính là kỹ thuật sấy khô gạo và ướp khô mặn được hầu hết các loại thịt để dành. Nhờ có lương khô để dành, đã giúp cho những người dân nghèo khỏi phải bị chết đói trong các mùa lũ lụt hay bão tuyết kéo dài quá lâu; Các đoàn người lữ hành đi buôn bán xa xôi trên những con đường tơ lụa dài ngày, được thuận lợi hơn để phát triển kinh tế; Các đoàn chiến binh có thể đi chiến đấu xa xôi hơn, v.v và v.v. Chỉ mãi sau này khi Âu châu phát minh ra kỹ thuật đóng đồ hộp mới có khả năng đánh bại ưu thế của lương khô. Nhưng đó cũng là một sự trớ trêu của lịch sử, vì chính Âu châu sau này nhờ kỹ thuật làm lương khô, đã có thể dùng tàu chiến vượt đại dương xa xôi cả chục ngàn dậm, đến để chinh phục và thống trị lại các xứ Á châu chậm tiến lạc hậu.
Nói chung, đa số những phát minh quan trọng và đáng kế thừa từ nền văn minh Trung Hoa đều tập trung nhiều vào phương diện ẩm thực. Ngoài ra, những phát minh khác cũng đáng được nói đến vào thời kỳ cực điểm của văn minh Nguyên-Mông như là kỹ thuật làm giấy và in ấn. Chính nhờ vào kỹ thuật làm giấy và in ấn các loại sách vở học tập, nền giáo dục của Trung Hoa đã có cơ hội phát triển khá tốt đẹp và ảnh hưởng nhiều đến với các nước láng giềng, giúp duy trì được vị thế của một đế quốc Trung Hoa rộng lớn và giàu mạnh. Kỹ thuật dùng trong chiến tranh như phát minh, chế tạo ra các loại mìn bẫy hay địa lôi, súng hoả pháo và súng thần công.
25.3 Đặc Tính Văn Hóa
Ẩm Thực – Sức Khoẻ
Điều khá gây ấn tượng là ngay cả trong lãnh vực văn hoá của Châu Á nói chung, Trung hoa nói riêng, cũng đều chú trọng nhiều vào cái dạ dày và bộ đồ lòng! Đầu tiên phải nói đến tín ngưỡng hay tôn giáo. Theo nhận xét khách quan, đa số các cửa tiệm của người buôn bán gốc Trung Hoa trên thế giới, đều có đặt trong nhà một cái bàn thờ Ông Địa hay Thần Tài, có nụ cưởi thật tươi với cái bụng to tròn được phô bày ra ngoài một cách công khai, ám chỉ sự may mắn cho tiền tài và phúc lộc như giải thích trước đây.
Hầu hết trong tất cà các dịp lễ hội hay cúng tế thần linh, cha mẹ và người quá cố, giàu hay nghèo không cần biết, đều phải có thức ăn và nước uống đặt trên bàn thờ. Minh chứng cho thấy văn hoá châu Á kể luôn Trung Hoa nói chung đều chú trọng nhiều vào cái Bụng hay chuyện ăn uống. Ngạn ngữ của Trung Hoa có câu nói gần như là một chân lý: “ Dĩ thực vi tiên”.
Lý giải khá thú vị ở đây chính là nhờ dân Trung Hoa đã phát minh ra và biết cách dùng lò bếp đầu tiên trên thế giới, cũng như đã học cách nấu ăn cho ngon miệng. Do đó, qua hàng chục thế hệ di truyền, các thần kinh cảm giác đã được phát triển và tập trung lại rất nhiều ở vùng bụng hay dạ dầy và đường ruột. Hệ quả là trong các ngôn từ cuả dân Á châu hay Trung hoa nói riêng, khi muốn bày tỏ sự xúc động tình cảm đều có khá nhiều từ ngữ ám chỉ về bụng dạ hay đường ruột cho những câu thành ngữ. Cụ thể trong tiếng Việt, các từ nói về cảm giác thất bại hay đau khổ đều có nghĩa liên hệ với bụng, như: “Bụng làm Dạ chịu”; “Làm đau Lòng ...”, v.v.
Không gì cụ thể minh chứng rõ nhất là chuyện tình cảm của dân Á Châu. Ngay cả những ngôn từ chỉ riêng về tình cảm cũng đã có chứa tên các bộ phận thuộc về bụng như chúng ta thường nói: “Lòng Mẹ bao la như biển ..;“Thương ai đứt Ruột..”, “Buồn thúi ruột”,v.v. Nếu gặp phải những xúc động mạnh về tâm lý, đa số dân Á châu thường bị chấn động nhiều đến hệ thần kinh truyền dẫn mệnh lệnh xuống bao tử hay đường ruột. Kết quả là làm cho nạn nhân chán ăn hay ăn không tiêu vì bao tử không chịu làm việc bình thường. Bởi vậy nên trong văn hóa xưa của người dân Trung quốc khi gặp nhau thường dùng câu chào hỏi nhau “Đã ăn chưa?” thay vì là “Mạnh khoẻ luôn?” như sau này.
Trong các lãnh vực Y học và Võ thuật cũng vậy, các y sĩ cổ truyền châu Á thường có những toa thuốc gia truyền rất hay chuyên trị về Bụng hay đường Ruột. Các võ sĩ luyện nội công hay các thiền sư Yoga, khi thở hay luyện khí công đều tập trung ý tưởng vào một chổ duy nhất nằm ngay dưới rún gọi là “Đan Điền”. Khi chọn con đường giải thoát cuộc đời hay tự vận, các hiệp sĩ Trung Quốc hay Nhật Bản thời còn vua chuá khi xưa thường tự vận chết bằng cách dùng gươm dao đâm thẳng vào bụng hay rạch bụng móc ruột cho lòi ra để chứng tỏ dũng khí!
Điều đáng chú ý và thắc mắc là cho đến hiện tại này, thống kê y khoa vẫn còn cho thấy các giống dân châu Á, bao gồm cả Nhật, Hàn hay Việt thường chết bởi các chứng bệnh trong Bụng hay thuộc về đường Ruột nhiều hơn bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới, nhất là vấn đề ung thư Dạ Dày!
Nền văn minh Á châu hay Trung Quốc đã kế thừa được một số các tiến bộ về kỹ thuật và khoa học của văn minh Trung Đông qua con đường tơ luạ, trở thành quốc gia giàu mạnh nhất thế giới hơn một ngàn năm, để rồi chuyển giao lại cho các nền văn minh khác ở Âu châu, không qua lại trên con đường Tơ Lụa cũ, mà bằng những con đường khai phá mới theo vó ngựa các đoàn kỵ mã của đế quốc Nguyên-Mông.
26-1 Văn Minh Âu Châu
Đế Quốc Anh (*1919AD)
Thân Trên – Bộ Tuần Hoàn - Trái Tim
Kiến thức về y khoa thông thường cho thấy trong cơ thể nội tạng của con người có hai bộ phận làm việc nhiều nhất: Dạ dày và trái Tim. Nếu so sánh một cách chi tiết hơn, dạ dày có thể vì lý do nào đó ngưng làm việc môt vài phút hay cả giờ cũng không sao, nhưng nếu trái tim mà ngưng làm việc chừng vài giây đồng hồ thôi, thì cũng đủ để gây ra nguy hiểm hay đe dọa cho tính mạng. Dưới góc nhìn y khoa thực nghiệm, trái tim đóng vai trò cần thiết và nhạy cảm nhất trong cơ thể, và là biểu tượng chính của văn hoá Âu Châu.
Có một sự liên tưởng và có thể chắc chắn được một điều, văn minh Âu Châu là nền văn minh náo động và cuồng nhiệt nhất trong tất cà các nền văn minh khác trên thế giới, kể cả Mỹ. Biểu tượng văn hoá của thể xác con người cho Kỷ Nguyên Tiến Hóa (KNTH) thứ 5 này là “Trái Tim” hay lồng ngực, với sự năng động như nhịp đập của trái tim, mang ý nghĩa tự nhiên về cảm tính hay nói chung là những vấn đề thuộc về xúc cảm và tính đam mê của con người, theo ngôn ngữ Triết học.

Chúng ta vẫn thường nghe người dân Âu Châu nói là sẳn sàng làm việc gì đỏ theo tiếng gọi của trái tim, nghĩa là làm việc gì đó hết sức mình. Bề mặt tốt của vấn đề chính là bất cứ công việc nào cũng có hy vọng đưa tới thành công nhờ có sự cố gắng tối đa.
Nhưng đồng thời ngược lại, cũng dễ dàng đưa ra tình trạng đam mê hay tham vọng cuồng nhiệt, và đó cũng là những nét văn hoá chung của Âu châu. Người dân gốc Âu châu khi muốn bày tỏ sự biết ơn ai thì nói là xin khắc ghi vào tận đáy tim, trong khi dân Á châu lại xin khắc ghi vào tận đáy lòng.
Nói chung, nền văn minh Âu châu đã được nuôi dưỡng và vươn lên nhờ có được hai yếu tố chính: Thứ nhất là những cơ sở công quyền hay tổ chức văn hóa chính trị, coi như là kế thừa văn hoá của đế quốc La Mã còn sót lại trong thiên niên kỷ I . Thứ hai là nhờ hệ thống giáo luật và giáo lý Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo qua sự quản lý chặt chẻ từ Vatican tại Rome. Có thể nói thêm ở đây mà không sợ sai lầm là Thiên Chúa giáo đã đóng vai trò nồng cốt hay nền móng chính để xây dựng lên ngôi nhà văn hóa Âu Châu.
Nền văn minh Âu châu đã thật sự khởi sắc từ văn minh Tây Ban Nha (Spanish), tiến dần lên Nam Âu và vể hướng Bắc Âu, lan qua tận Đông Âu, rồi sau cùng quy tụ về lại Tây Âu. Những thành tích sáng chói về Khoa Học hay Kỹ Thuật của Liên-Xô hay nước Nga sau này, có thể được mô tả là “Dư Âm” hay những âm hưởng vang vọng lại cuả văn minh Âu Châu, giống như trường hợp phát triển thần kỳ của Nhật trong thế kỷ trước của Á Châu.
26.2 Những Phát Minh Chính
Qua nghiên cứu lịch sử phát triển khoa học và kỹ thuật của các nền văn minh chính, có một nhận xét khá ấn tượng và rất thú vị cho thấy là đa số các phát minh khoa học đều có sự liên hệ gián tiếp với biểu tượng văn hoá của nền văn minh chính hay các bộ phận nội tạng trong cơ thể con người về diện y học. Từ đó, nếu xét những phát minh có liên hệ của trái tim tới nhiệm vụ nào hay với bộ phận nào trong cơ thể con người, thì các phát minh chính về kỹ thuật hay khoa học của Âu châu đều xảy ra gần giống như vậy. Cụ thể như sau:
Đồng hồ cơ động. Nếu so sánh đồng hồ cơ động với nhịp đập của trái tim thì thấy không khác gì mấy so với vòng xoay hay nhịp đánh của quả lắc đồng hồ. Dù đa số đã thấy đồng hồ quá quen thuộc đến độ nhàm chán, nhưng nếu xét kỷ thì đó chính là một trong những phát minh hữu ích và tiện dụng lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại.
Thật sự đồng hồ là một trong những dụng cụ được nhiều người xử dụng nhất, có mặt trong nhiều lãnh vực nhất, và là một trong những sản phẩm có đời sống kéo dàì và lâu đời nhất trên trái đất.
Máy hơi nước; Máy nổ: Cũng tương tự như đồng hồ quả lắc nói trên. Động cơ chính cho sự chuyển động là sức đẩy từ hơi nước hay sự nổ đánh vào cái đầu xi-lanh để giúp cho toàn hệ thống hay guồng máy chạy và làm việc, giống tương tự như nhịp đập của trái tim, đẩy máu đi khắp nơi trong cơ thể.
Hãy liên tưởng đến cuộc cách mạng dân chủ lần đầu tiên của Pháp đã xảy ra rất ồn ào, manh động và náo nhiệt không khác gì tiếng động hay âm thanh phát ra của các động cơ chạy máy. Nhiên liệu có được trong các cuộc cách mạng chính là do nhờ niềm tin hay nhiệt huyết của những người dân nuốn có tự do dân chủ. Thêm vào, những sáng kiến cho các lễ nghi truyền thống như lễ nhậm chức hay lời tuyên thệ, v.v.,dùng để tạo ra thêm sự gắn bó và niềm tin của cá nhân với tổ chức hay đảng phái, đều có nguồn gốc hay điểm xuất phát từ những trái tim nồng nhiệt và lý tưởng bên Âu châu.
Điện năng: Đây có thể được coi như là một phát minh chính để giúp đưa Âu châu vượt lên đỉnh cao của khoa học, qua mặt Á Châu hay Trung Hoa thời bấy giờ. Một sự ngẫu nhiên hay tình cờ trùng hợp, là chúng ta đều biết trong mỗi quả tim của các loài động vật, đều phài có môt cái “Nguồn Phát Điện” (Pace Maker)
tự nhiên, dùng để phát ra dòng điện kích thích trái tim đập nhịp hay co thắt và bơm máu chạy ra khắp nơi trong toàn thân thể.
Xe Lửa và hệ thống chuyên chở công cộng: Nhiêm vụ hay công dụng của các đoàn xe lửa chuyên chở hàng hóa và con người ra khắp mọi phương hướng, cũng giống như là những dòng máu chảy luân lưu từ trái tim, không những mang theo chất bổ dưỡng để nuôi sống các loại tế bào trong cơ thể, mà còn mang theo các đội binh bạch cầu ra tận biên giới để chiến đấu với vi trùng, bảo vệ cho thân thể và sự sống.
Chính nhờ phương tiện giao thông hữu hiệu và nhanh chóng này mà hàng hoá di chuyển được thuận lợi, kinh tế phát triển vượt mức, nên Âu châu đã trở thành nền văn minh đứng đầu và lãnh đạo thế giới trong hai thế kỷ 18 &19.
Trong thời kỳ thuộc KNTH 5 này, các nhà thám hiểm Âu châu cũng đã thành công, khám phá và phát triển ra thêm hai lục địa cuối cùng là Mỹ châu và Úc châu, hoàn thành xong bản đồ toàn diện cho trái đất.
Tưởng cũng nên nhắc lại đây một chi tiết lịch sử khác quan trọng như sau: Khám phá ra châu Mỹ và châu Úc trước tiên không phải là dân Âu châu, mà là do các thổ dân đến từ các vùng Á châu băng qua vùng vịnh biển Bering gần Alaska đến Mỹ châu, hay từ các bán đảo Nam Dương và Mã-Lai qua Úc châu, cách đây khoảng vài ngàn năm hay gần hơn. Tuy nhiên, công lớn của Âu châu chính là biết cách khai thác và phát triển thành những mãnh đất hứa hẹn, giàu có và cũng là nơi chốn khai sinh ra các nền văn minh kế thừa lớn nhất của lịch sử con người.
26.3 Đặc Tính Văn Hóa
Ái Tình - Tín Điều - Khoa Học
Bên cạnh những đam mê hay nghiên cứu rất đáng tôn trọng trong nhiều phương diện thuộc về thi ca nghệ thuật hay khoa học kỹ thuật tiến bộ, văn hoá Âu châu cũng còn có những ảnh hưởng nghiêm trọng khác về mặt tình cảm, nhất là chuyện tình ái của Nam Nữ. Nếu như văn hóa Trung Hoa trước đó rất khắc khe và bảo thủ trong chuyện tình cảm trai gái, thì Âu Châu có phần cởi mở và phóng túng hơn khá nhiều, ít nhất là so sánh trên hai lãnh vực văn chương và nghệ thuật. Cụ thể là so sánh cách hành xử cuả các nhân vật chính trong hai câu chuyện tình sử “Trương Chi- Mỵ Nương” với “Romeo và Julliet”.
Nhưng ấn tượng rõ nét nhất là ngày lễ Tình Yêu (Valentine), đủ để nói lên sức mạnh khác thường của trái tim yêu thương trong văn hoá Âu Châu.
Tôn giáo: Tuy Á châu đóng vai trò sinh ra những thánh địa của các tôn giáo lớn, nhưng Âu châu mới chính là vùng đất thiêng lý tưởng để phát triển mạnh về tôn giáo, dựa trên sự kiện là đã có khá nhiểu những trái tim hăng say và đam mê với những giáo điều đã tin theo. Cụ thể như đã từng xày ra trong quá khứ, tuy vẫn có những xung đột về tôn giáo xảy ra khắp nơi trên thế giới, nhưng các xung đột đẩm máu nhất hầu hết đều xảy ra tại Âu châu. Dĩ nhiên, hệ quả tích cực là chính nhờ vậy mà Âu châu có thể vận động và khai thác được sức mạnh của toàn thể nhân dân trong cộng đồng xã hội mỗi khi có nhu cầu cần thiết.
Đặc điểm văn hoá của nền văn minh Âu châu còn nhờ vào một yếu tố tich cực khác là tổ chức giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã, mà người Việt quen gọi là Công Giáo. Chính vì nhờ có hệ thống tổ chức tinh thần mạnh mẽ dưới sự quản trị của toà thánh Vatican trong thiên niên kỷ I, đã giúp cho dân Âu châu chống trả và tránh khòi bị xâm lăng toàn diện bởi cả hai làn sóng văn minh Hổi Giáo và các đạo quân Mông Cổ dũng mãnh. Kế tiếp về sau này trong hai thế kỷ 14 và 15, cũng chính nhờ các đạo quân Thập Tự Chinh mà Châu Âu đã có thể đứng vững và tiến mạnh vào thời kỳ “Khai Phá”, tìm kíếm các vùng đất mới để làm giàu nhờ khai thác tài nguyên và làm chủ các thuộc địa.
Chính Trị: Những nhà hoạt động chính trị xã hội bên Âu châu đã tiên phong đưa ra khái niệm về dân chù và nhân quyền. Để hậu thuẩn cho các quan niệm hay ý tưởng nói trên, các hình thức về tổ chức dân sự như hội đoàn hay đảng phái chính trị đã được thành lập và sinh ra đời. Đó là những thành quả văn minh rất xứng đáng được ca tụng và vinh danh Âu châu. Hệ quả ắt có là điều kiện và luật lệ hay tín điều đã được khai sinh nhằm kết chặt các thành viên cùng chung một lý tưởng lại với nhau.
Cụ thể thí dụ như hai từ ái quốc đầy tính lãng mạn và trừu tượng chỉ có thể xuất phát từ Âu châu, trong khi Á châu không hề có trước đó. Có một khác biệt lớn khi kêu gọi lòng dân yêu nước thay vì lòng dân trung thành tuyệt đối với Vua Chúa. Điểm tiêu cực ở đây đã xảy ra khi tập hợp của các sức mạnh tổng hợp nhân dân nói trên được giao phó cho sự sai lầm của một vài cá nhân có quá nhiều tham vọng quyết định.
27-1Văn Minh Mỹ Châu
Cường Quốc Mỹ - Mễ – Tây - Á (2230 AD)
Tai - Miệng – Âm Thanh – Nghe - Nói
Ngay thời điểm này, chúng ta đang sống với nền văn minh Mỹ châu, trong thời kỳ của KNTH 6 thuộc Nguyên-Đại 7, một kỷ nguyên có nhiều sự thay đổi ngoạn mục và thú vị mà đa số chúng ta vừa mới trải nghiệm qua hay sẽ tiếp thu trong tương lai. Tất nhiên, xin được lập lại là người viết chỉ muốn nhấn mạnh đến các phát minh về khoa học và kỹ thuật chính yếu, đã hay đang tạo ra những thay đổi quan trọng đến mô hình tiến hóa chung của loài người, hơn là muốn đi sâu vào các chi tiết lịch sử nhân văn quá phức tạp có tính cách hàn-lâm học-thuật.
Qua kinh nghiệm so sánh với các nền văn minh trước đây cho thấy, luôn luôn có sự tiến bộ hay thay đổi tốt đẹp hơn, giữa một nền văn minh trong quá khứ và hiện tại, nhất là về phương diện khoa học và kỹ thuật. Nền văn minh hiện tại thường đóng vai trò là bậc thầy trong các áp dụng thực tế cho những phát minh khoa học hay kỹ thuật của các nền văn minh tiền nhiệm trong quá khứ trước dó, nhưng đồng thời cũng là người học trò khiêm tốn cần phải nghiên cứu và học hỏi thêm cho các phát minh về khoa học và kỹ thuật trong tương lai.
Cụ thể như Âu châu đã là bậc thầy trong việc xử dụng thuốc súng để làm ra các loại vũ khí chiến tranh, hay trên các bàn tiệc ăn uống với lối chế biến và trình bày thức ăn rất chu đáo, cầu kỳ và nghệ thuật ( Nói một cách ví von để so sánh là người Trung Hoa nấu ăn theo nhu cầu của cái bụng, trong khi người Âu châu nấu ăn theo nhu cầu của trái tim!). Nhưng đồng thời ngược lại, nếu đem so sánh về kỹ thuật âm thanh hay các phim ảnh ca hát của Âu châu với Mỹ châu sau này thì chẳng có gì đáng nói, trừ một số phát minh ban đầu như loa phóng thanh hay các máy hát đĩa nhựa quay tay.
Nhận xét tổng thể nền văn minh Mỹ châu cho thấy, những phát minh khoa học kỹ thuật và tiến bộ phát triển thường liên quan nhiều đến hai bộ phận chính trên cơ thể con người là “Tai” và “Miệng”. Tai nghe, miệng dùng để ăn, nói hay ca hát. Đúng là như vậy rồi, nhưng chắc sẽ còn thiếu sỏt nhiều nếu không nói tới những chương trình nói chuyện với chủ đề hay các buổi diễn xuất vể ca hát trên màn ành truyền hình. Tóm lại, ngoài hai bộ phận chính là Tai hay Miêng đều liên hệ đến âm thanh, mang ý nghĩa tự nhiên về ngôn ngữ tiếng nói hay nói chung là âm nhạc, KNTH 6 của Mỹ châu còn chú trọng phát triển các áp dụng về tự động hóa như Rôbô hay máy tính, nhằm giải thoát dần những công việc làm nặng nhọc và nhàm chán của tay chân. Đặc điểm riêng trong suốt thời gian của KNTH 6 này, sự di chuyển hay những công việc đòi hỏi sức lực của hai chân sẽ được giải thoát và giảm dần cho đến khi không còn có nhu cầu để dùng nhiều nữa.
27.2 Phát Minh Chính
Không phải là tình cờ hay ngẩu nhiên mà đa số những phát minh khoa học kỹ thuật của nền văn minh Mỹ châu, cho đến thời điểm này, đều thuộc về việc xử dụng gián tiếp hay trực tiếp hai bộ phận chính trong cơ thể con người là Tai và Miệng, gồm có:
Điện Thoại: Có thể được coi như đây là phát súng lệnh mở đầu cho cuộc cách mạng thông tin hay còn có thể coi là biểu tượng tiên phong cho sức sáng tạo phong phú của văn minh Mỹ châu so với các nền văn minh trước đây.
Vô Tuyến Truyền Thanh hay Radio:
Giống như Âu châu đã tìm được nguồn Điện và phát minh ra sóng từ, khi phát triển và khai thác được kỹ thuật phát sóng truyền âm thanh cho Radio, nền văn minh Mỹ châu đã đi trên những đôi hia 7 dậm, chính thức vượt qua mặt được Âu châu về mặt khoa học và kỹ thuật. Không chỉ có vậy, nước Mỹ đã khởi đầu đi tiên phong trong lãnh vực thông tin đại chúng khi có những tổng thống Mỹ đã tiên phong khai thác, dùng đến Radio hay Tivi để nói chuyện với toàn thể nhân dân trong nước mỗi khi có những sự kiện hay thông tin quan trọng xảy ra.
Tivi và Phim Ảnh. Một phát minh rất đáng hãnh diện cho nền khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ trong thế kỹ 20 vừa qua. Nhưng nền tảng chính của Tivi vẫn phải dựa trên âm thanh hay tiếng nói. Không có âm thanh đi cùng thì màn ảnh Tivi sẽ mất hết công dụng thực tế và ý nghĩa của nó. Không có gì thực tế cho bằng hình thức quảng cáo kinh doanh hay tuyên truyền theo kiểu “Tai nghe, Mắt thấy”.
Đàn Điện &Âm Thanh nhân tạo. Nhiều người nghĩ đó chỉ là những sáng kiến tầm thường, không có gì đáng phải kể ra. Nhưng nếu không có đàn điện thì chắc sẽ không có những buổi trình diễn ngoài trời cho đám đông mấy chục ngàn người, không có những dòng nhạc kích động não bộ của người nghe như Rock&Roll, R&B, không có Elvis, Beatles, Michael Jackson, vv. Đã có nhiều thí nghiệm thực tế cho thấy, những con bò sữa trong các trang trại chăn nuôi, nếu được cho nghe nhạc thường xuyên thì sẽ mau lớn, khoẻ mạnh và cho ra nhiều sữa hơn. Lịch sử cũng cho thấy là các nền văn minh lớn luôn luôn để lại cho nhân loại một lối thưởng thức và chơi âm nhạc độc đáo của riêng nó.
Dụng cụ đo lường và tìm kiếm bằng sóng Âm. Nói chung, có thể hiện nay nước Mỹ đang đóng vai trò bậc thầy trong các nghiên cứu xử dụng hay điều hành và chế ngự sóng âm thanh. Tất cả các phát minh về âm thanh nhân tạo như sóng Sonar được áp dụng rộng rãi trong rất nhiều lãnh vực dưới nước như: Phát hiện đá ngầm, theo dõi tàu, hướng dẫn thuỷ lôi, thám sát đáy biển, tìm kiếm cá cho ngư dân, v.v.
Máy Vi Tính; Điện Thoại di động. Giống như tivi, tuy không trực tiếp liên hệ với Tai-Miệng, nhưng là một phương tiện quan trọng nhất để mang tới cho con người âm thanh và kiến thức. Nói chung theo luật tiến hóa, có thể cả hai phát minh trên chỉ là một sự khởi đầu của những phát minh thần kỳ khác về các kỹ thuật tiếp thu sóng điện từ và phương pháp hiển thị màn hình, và chắc chắn là sẽ xuất hiện trong tương lai xa hay gần.
27.3 Phát Minh Trong Tương Lai
Một lần nữa, xin được nhắc lại là chúng ta không nên hiểu nhầm những lời tiên đoán hay những câu sấm truyền của các nhà tiên tri với những lời dự đoán dựa trên cơ sở khoa học. Cả hai đều nói đến những chuyện có thể xảy ra trong tương lai, nhưng khác biệt chính là những lời tiên tri thì dựa vào yếu tố tâm linh hay trực giác và không thể giải thích được, trong khi dự đoán khoa học thì dựa trên những dữ kiện khoa học có thể giải thích được. Tất cả những gì được ghi ra sau đây đều thuộc về những dự đoán khoa học có thể xảy ra trong tương lai. Dù vậy, chỉ là những dự đoán về các phát minh có ảnh hưởng gián tiếp hay trực tiếp đến hai bộ phận chính trên cơ thể là Tai và Miệng của con người, theo quy trình thứ tự của luật tiến hoá đã được nói tới trước đây:
Máy Thông Dịch cá nhân. Trong khoảng chừng vào năm 2050 hay chậm hơn, các máy thông dịch cá nhân nhỏ và gọn sẽ được phổ biến rộng rãi khắp nơi trên thế giới, giống như phong trào nghe nhạc hiện nay.
Khi được bật nút xừ dụng, máy sẽ tự động nhận vào tiếng nói và dịch ngay ra ngôn ngữ mình muốn nghe. Dĩ nhiên là ban đầu chỉ dùng cho một vài ngôn ngữ thông dụng nhất, và dần dần bức tường khó khăn về các ngôn ngữ khác sẽ từ từ được tháo gở dần theo thời gian.
Ngôn Ngữ Quốc Tế. Một ngôn ngữ quốc tế chung cho các dân tộc trên thế giới sẽ ra đời vào cuối thế kỷ này. Phần lớn cơ sở của ngôn ngữ quốc tế này có thể dựa vào tiếng Anh. Đa số các quốc gia sẽ dùng ngôn ngữ quốc tế này như là ngôn ngữ chính thức bên cạnh các ngôn ngữ điạ phương. Một số các phương pháp và dụng cụ nhân tạo sẽ giúp cho bất cứ ai muốn nói thông thạo ngôn ngữ quốc tế này trong một thời gian rất ngắn. Trong thế kỷ 22 chắc chắn sẽ không còn những trở ngại về ngôn ngữ tại bất cứ nơi nào trên thế giới.
Cuối thế kỷ 21 này, có thể các nhả khoa học vật lý sẽ tìm ra được nguồn gốc và nguyên nhân của lực hấp dẫn trái đất hay lực trọng trường nói chung. Một số các máy móc thô sơ và cồng kềnh dùng để chống lại lực trọng trường sẽ ra đời và lần lượt thay thế hay trợ giúp các phương tiện vận tải cơ giới đã có, giúp hành khách di chuyển nhanh chóng và tiện lợi hơn rất nhiều. Dù vậy, phải chờ đến cuối thế kỷ 22 thì các máy chống lại lực trọng trường cá nhân mới xuất hiện và trở thành gọn nhẹ hơn rất nhiều, giúp con người có thể di chuyển khắp nơi như những siêu nhân trong các phim khoa học giả tưởng hiện nay. Từ đó, các nguồn năng lượng chính thông dụng hiện nay thuộc về tài nguyên tự nhiên dưới lòng trái đất như dầu hỏa, than đá, khí đốt, v.v sẽ bị mất dần hết giá trị và được loại bỏ, thay thế bằng các dạng sóng năng lượng có sẳn sàng quá nhiều trong vũ trụ.
Cũng vào khoảng cuối thế kỷ này, hầu hết các công việc trong nhà hay ngoài vườn như nấu ăn, dọn dẹp lau chùi, lái xe, mua sắm v.v. đều có thể tự động hóa bằng các phương tiện máy móc hay người máy Rô Bô. Cụ thể, một người có thể vừa gọi cho xe chạy tự động đến sở làm để chở về nhà, vừa ra lệnh cho Rôbô đầu bếp chuẩn bị một tiệc ăn sang trọng cho nhiều người, với các thức ăn được xe siêu thị tự động mang lại và đưa thẳng luôn vào nhà bếp. Tóm lại, các RôBô hay người máy sẽ làm hết hầu tất cả các công việc trong nhà hay ngoài vườn, kể cả các công việc bảo trì hay sửa chửa các dụng cụ máy móc bị hư hỏng.
27.4 Đặc Tính Văn Hóa
Trong vòng hơn nữa thế kỳ qua, thức ăn nhanh (Fast Foods) với hình ảnh kiến trúc chính thức của MacDonald đã làm cho nhiểu khách du lịch nước ngoài vẫn còn có ấn tượng rõ nét về một biểu tượng văn hóa của nước Mỹ. Đó là hình ảnh cái bánh Hamburger và mái vòm chữ M màu vàng của những tiệm bán thức ăn nhanh MacDonald. Đó cũng là minh chứng rõ nhất cho thấy sự khác biệt văn hoá giữa hai nền văn minh kế tiếp với nhau. Trong khi Âu châu chú trọng về nghệ thuật ăn uống theo sở thích của trái tim, thì Mỹ châu lại chọn cách ăn uống theo sở thích của cái đầu, ngon cái miệng mà cũng tiện lợi cho cái túi tiền, nghĩa là có tính cách thực dụng. Một cái bánh Hamburger vừa có nhiều chất dinh dưỡng, lại vừa rẻ mà lại nhanh gọn và không mất nhiều thì giờ, thích hợp cho đa số mọi người dân, không phân biệt giầu nghèo sang hèn.
Tuy bây giờ nhiều dư luận chỉ trích về nguyên nhân của bệnh béo phì do thức ăn nhanh gây ra, nhưng không ai có thể phủ nhận rầng chính những cái bánh Hamburger đó đã giúp phần nào con số hàng trăm triệu công dân Mỹ có đầy đủ dinh dưỡng để phát triển trí tuệ suốt hơn nữa thế kỷ qua, trước khi xuất hiện vấn nạn béo phì. Điều đáng chú ý là trong những chương trình mới đây nói về chủ đề “Thay đổi não bộ”(Brain Change) của đài tivi PBS công cộng (32), các chuyên gia về dinh dưỡng cũng đã nhìn nhận và khẳng định rõ, kẻ thù nguy hiểm nhất cho sức khỏe con người là “Đường” hay chất ngọt và các chất phụ gia khác, hơn là “Mỡ” hay các chất béo tốt, nếu biết dùng hạn chế theo mức độ vừa phải cho phép.
Ca Nhạc - Thông Tin - Nhân Quyền
Một đặc tính văn hóa khác là các “Sô” trình diển nhạc hay văn nghệ với các nhạc điệu như Jazz, Rock&Roll, Soul, R & B, Hip-Hop, etc. Có thể dân Mỹ đã không sáng chế ra tất cả các nhịp điệu nói trên, nhưng nước Mỹ đã và đang là nơi chốn của “Đất lành Chim đậu”, hay mãnh đất mầu mở để phát triển và nuôi dưỡng các thiên tài sáng tạo âm nhạc nói trên. Có một sự so sánh thực tế lịch sử về thân phận của các tài năng âm nhạc như sau:
Những ca sĩ đàn hay hát giỏi trước đây trong văn hóa Á châu thì bị xem thường là hạng “xướng ca vô loài”, ngay cả trong đời sống kinh tế cũng gặp khó khăn, nghèo túng. Trong khi văn minh Âu châu thì ca sĩ nổi tiếng có danh vọng và được đối xử tốt đẹp hơn, đời sống tuy có thoải mái nhưng cũng chẳng giàu có nhiều. Chỉ có nền văn minh Mỹ châu mới có thể biến họ ra thành những thần tượng ca nhạc được ngưỡng mộ kính trọng và trở thành là những triệu phú giàu sang ngất ngưởng.
Một ấn tượng khác về văn hóa liên quan đến “Miệng Lưỡi” là những sô nói chuyện của các chuyên gia trên Radio, Tivi hay những buổi diễn thuyết với chủ đề chính (Keynotes Speaker). Cách đây chỉ khoảng 50 năm hay nửa thế kỷ, không ai có thể nghĩ đến chuyện giàu to hay trở thành triệu phú khi làm những công việc tổ chức điều khiển các chương trình nói chuyện trên Radio hay Tivi. Không cần phải nói đến những sô diễn hàng ngày với các tài năng ngoại hạng như Johnny, Ophra hay Letterman, v.v, có những nhà diễn thuyết nổi tiếng được trả công cho một lần nói chuyện với những khoảng tiền cát-sê khủng, bằng hay hơn cả năm lương trung bình của một công nhân làm việc ở Mỹ.
Một nhận xét ấn tượng khác cho thấy, mặc dù Âu châu đã tiên phong trong lãnh vực về “Nhân Quyền”, nhưng nước Mỹ mới chỉnh là quốc gia đầu tiên viết ra rõ ràng trên giấy tờ bằng văn bảng của Hiến Pháp, đặc biệt nhất là nhấn mạnh đến quyền tự do “Ngôn Luận”, xuất phát bởi nhu cầu cần nói lên sự thật của cái Miệng.
Cũng chưa hết những ý tưởng thật sự khôi hài về cái Tai, khi nhắc đến câu thành-ngữ “Rừng mạch vách Tai”. Đúng là bất cứ nơi nào và ở đâu trên thế giới này đều có chuyện nghe lén của các cơ quan thi hành pháp luật, nhưng những vụ sì-căng-đan “nói bậy bị nghe lén”
hay “nghe lén điện thoại” quá đình đám và động trời giống như vụ Watergate thì dám chắc chỉ có thể xảy ra trên đất nước Mỹ.
Còn có gì cụ thể hơn những gì vừa nói ở trên, để minh chứng cho thấy hiện tại này, chúng ta đang sống trong thời đại phát triển rất nhiều về Tai và Miệng, hay nói gọn hơn là chúng ta đang sống với đủ các loại âm thanh thiên nhiên hay nhân tạo, và đang dần đạt đến cao điểm của nghệ thuật “Nghe và Nói”.
Dù chưa có những nghiên cứu khoa học xác minh, nhưng dựa vào những dữ kiện thực tế cho thấy, hình như là khả năng thẩm âm của tai và kỹ thuật huấn luyện giọng nói hay tiếng hát của đa số con người hiện tại đã phát triển, tiến bộ vượt bậc và hơn gấp nhiều lần so với con người sống trong các thế kỷ trước đây(?)
27.5 Cường Quốc nào thay thế Mỹ?
Lịch sử được ghi chép mấy ngàn năm cũng như luật tiến hoá cho thấy, không có một dân tộc, đế quốc hay cường quốc nào, duy trì vĩnh viễn được vị trí quyền lực mạnh nhất trên thế giới mãi với thời gian . Rồi sẽ xảy ra tại một thời điểm nào đó, cường quốc Mỹ chắc cũng sẽ phải nhường lại ngôi vị số 1 này cho một cường quốc nào khác, đang hay sắp nổi lên trong tương lai. Do đó, vấn đề chính yếu ở đây không còn là chuyện thắc mắc có xảy ra hay không, mà chính là làm công việc dự đoán kết quả sẽ xảy ra khi nào, như thế nào và ở đâu (?), dựa vào kinh nghiệm quý giá về lịch sử của các nền văn minh trong quá khứ.
Như đã xác định được ngay từ đầu, hiện tại này đang là thời đại của văn minh Mỹ châu thuộc KNTH 6, trong nguyên đại VII. Thắc mắc đưa ra là: Trong thời kỳ văn minh Mỹ châu này cho tới năm cực điểm là 2230 AD, nước Mỹ sẽ giữ được vị trí số 1 trong bao lâu nữa, và cường quốc nào khác sẽ thay thế Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử cuối cùng cho nền văn minh Mỹ châu, trong KNTH 6 thuộc Nguyên đại VII này?
Để có cơ sớ chính cho dự đoán nói trên, hãy thử nhìn lại toàn thể 6 nền văn minh chính đã qua, kể cả Mỹ, mà chúng ta có thể phát hiện ra một số các dữ kiện tương đồng và dị biệt nếu so sánh với nhau. Các nền văn minh được đánh số chẳn như 2 (Phi Châu-Ai Cập), 4(Á Châu-Nguyên Mông), và 6 (Mỹ Châu- Mỹ-US?) có khá nhiều điểm tương đồng giống nhau như sau:
Bước đầu lập quốc từ nhửng nhóm nhỏ hay bộ lạc yếu kém bị đánh đuổi, di cư hay bỏ chạy ra khỏi nước. Cụ thể, các bộ lạc yếu kém ở gần đường xích đạo Phi châu đã di cư hay bỏ chạy về hướng Bắc dọc theo sông Nile (33) để lập ra các nền văn minh kế thừa như Badarian, v.v trước khi bị tiêu diệt hay thu nhập lại thành đế chế Ai Cập.
Trung quốc cũng đã được hình thành do tập hợp các sắc dân thiểu số yếu kém từ miền nam bị đánh đuổi, phải bỏ chạy lên miền Bắc và định cư dọc theo hai con sông lớn là sông Dương Tử và sông Hoàng Hà.
Tương tự như vậy, văn minh Mỹ châu cũng được khởi đầu bằng những nhóm dân Âu châu yếu kém, bị kỳ thị vể chủng tộc, tôn giáo hay chính trị, đã vượt đại dương đến lập nghiệp trên đất nước Mỹ.
Một điều tương tự có thể sẽ xảy ra trong tương lai cho Mễ tây cơ (Mexico). Bằng một nguyên nhân nào đó như kỳ thị tôn giáo hay lý do chính trị xã hội, có thể có những nhóm công dân Mỹ “di cư”
hay “bỏ chạy” xuống vùng vịnh Mexico trong thế kỷ này hay thế kỷ tới, mang theo những hạt giống tinh hoa của nền văn minh Bắc Mỹ châu.
Điểm tương đồng kế tiếp là cho dù lãnh thổ ban đầu có rất nhiều sắc dân hay bộ tộc chiếm đóng và cai quản, nhưng tất cả các chư hầu hay tiểu quốc cuối cùng đểu bị thâu tóm lại thành một quốc gia lớn mạnh, được lãnh đạo và cai quản bởi một hệ thống trung-ương tập-quyền hay tổ chức chính quyền trung ương duy nhất rất hữu hiệu và vững mạnh như:
Vương Quốc Ai-Cập của các Pharoah; Đế Quốc Đại Hán của các hoàng đế Trung-Hoa, hay tổ chức chính quyền liên bang của Hoa Kỳ.
Do đó, đã có sự khác biệt với các nền văn minh 1(Xích-Đạo), 3(La-Mã) và 5 (Âu châu), không thể tập trung được quyền lực trung ương và phải dùng phương cách phân quyền hành cai trị ra cho các lãnh chúa, hay thành hình các khu vực tự trị và thuộc địa riêng biệt cho nhiều sắc dân.
Do cai trị bởi các chế độ trung ương tập quyền, các sắc dân yếu kém trước kia tại những vùng miền khác nhau trên đất nước, đã lần lượt hùng mạnh và thay phiên nhau nổi dậy, đánh đuổi và thay thế lãnh đạo hay vua chúa bất lực của các triều đại đương nhiệm. Cụ thể là đã xảy ra ở Trung quốc. Chỉ có một vài bộ tộc Mông Cổ sống tận biên giới phía Bắc, luôn bị coi thường là những sắc dân man ri mọi rợ, lại có thể trở thành những lực lượng hùng mạnh về quân đội, chiến thắng và chiếm đóng cai trị, không những cả nước Trung Hoa mà luôn trọn hơn phân nữa đất Á châu và một phần Âu châu. Cũng đã xảy ra tương tự như vậy cho tộc Mãn Thanh sau cùng, đã chiếm đóng và cai trị đất nước Trung hoa gần ba trăm năm.
Trong nền văn minh Phi châu của đế chế Ai-Cập, các sắc dân bị chèn ép làm nô lệ trong các công trường xây cất lớn như Kim Tự Tháp, đã bỏ chạy hay trốn lên phía Bắc vùng Điạ Trung Hải để lập ra các nền văn minh mới như Madocenia, Greece, v.v, tiền nhiệm của văn minh Trung Đông hay đế quốc La Mã sau này.
Điểm dị biệt của văn minh Mỹ châu so với các nền văn minh tiền nhiệm khác là phương hướng chuyển giao nền văn minh đi ngược lại. Thay vì là từ Nam lên Bắc như các nền văn minh Phi châu và Á châu, thì văn minh Mỹ châu lại có khuynh hướng đi ngược lại, từ Bắc xuống Nam, theo dòng chảy của sông Mississispi (34), và từ Đông say Tây theo dòng chảy của sông Colorado. Lý giải sự kiện trên cho thấy đơn giản là vì nền văn minh của Mỹ châu đã khởi đầu ngay tại vùng cực Đông-Bắc của nước Mỹ, nên chỉ còn có con đường duy nhất để phát triển là về hướng Tây-Nam và Nam.
Cụ thể minh chứng, trung tâm quyền lực kinh tế, đầu tầu khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ đã di chuyển dần từ các vùng New York, Boston trong thế kỷ 19, qua miền Trung-Tây Pensylvania, Ohio, Detroit hay Chicago vào đầu thế kỷ 20, rồi lan truyền xuống Tây-Nam ra tới các vủng Texas, Californina với những khu “Silicon Valley” vào cuối thế kỷ 20 như một biểu tượng dẫn đầu tầu về khoa học và kỹ thuật. Chỉ còn chờ có sự xuất hiện của một trung tâm tài chánh lớn ở Houston hay Los Angeles thay thế phố Wall là các tiểu bang đó sẽ chính thức làm xong nhiệm vụ chuyển giao quyền lực.
Không cần phải minh chứng cho thêm phức tạp, chỉ dựa vào lợi thế hay vị trí tiếp cận của địa chính trị, làn sóng văn minh Bắc Mỹ châu chắc chắn sẽ phải di chuyển dần xuống hướng Nam thuộc vùng Mễ Tây Cơ trong thế kỷ 22 tới, qua ngã Texas và California. Thêm vào, còn có một số các hiện tượng tiêu cực xuất hiện trên đất Mễ hiện nay như các vụ tham nhũng quy mô, thanh toán giết người coi thường pháp luật giữa các băng đảng, đã xảy ra và giống tương tự một cách thuyết phục, như đã từng xày ra với các tay Cao-Bồi ở miền viễn tây hoang dã của nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19.
Một khi đã nói tới văn minh Mỹ châu, thì không thể bỏ qua các vùng đất rộng lớn ở về phía Nam Mỹ thuộc Nam Bán Cầu. Chắc chắn đa số chúng ta đã có một thắc mắc từ lâu là tại sao cho đến bây giờ, các nền văn minh đã xuất hiện trên thế giới đều xảy ra trên vùng Bắc Bán Cầu. Có hai lý do chính giải như các nền văn minh Phi châu và Á châu, thì văn minh Mỹ châu lại có khuynh hướng đi ngược lại, từ Bắc xuống Nam, theo dòng chảy của sông Mississispi (34), và từ Đông say Tây theo dòng chảy của sông Colorado. Lý giải sự kiện trên cho thấy đơn giản là vì nền văn minh của Mỹ châu đã khởi đầu ngay tại vùng cực Đông-Bắc của nước Mỹ, nên chỉ còn có con đường duy nhất để phát triển là về hướng Tây-Nam.
Cụ thể minh chứng, trung tâm quyền lực kinh tế, đầu tầu khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ đã di chuyển dần từ các vùng New York, Boston trong thế kỷ 19, qua miền Trung-Tây Pensylvania, Ohio, Detroit hay Chicago vào đầu thế kỷ 20, rồi lan truyền xuống Tây-Nam ra tới các vủng Texas, Californina với những khu “Silicon Valley” vào cuối thế kỷ 20 như một biểu tượng dẫn đầu tầu về khoa học và kỹ thuật. Chỉ còn chờ có sự xuất hiện của một trung tâm tài chánh lớn ở Houston hay Los Angeles thay thế phố Wall là các tiểu bang đó sẽ chính thức làm xong nhiệm vụ chuyển giao quyền lực.
Không cần phải minh chứng cho thêm phức tạp, chỉ dựa vào lợi thế hay vị trí tiếp cận của địa chính trị, làn sóng văn minh Bắc Mỹ châu chắc chắn sẽ phải di chuyển dần xuống hướng Nam thuộc vùng Mễ Tây Cơ trong thế kỷ 22 tới, qua ngã Texas và California. Thêm vào, còn có một số các hiện tượng tiêu cực xuất hiện trên đất Mễ hiện nay như các vụ tham nhũng quy mô, thanh toán giết người coi thường pháp luật giữa các băng đảng, đã xảy ra và giống tương tự một cách thuyết phục, như đã từng xảy ra với các tay Cao-Bồi ở miền viễn tây hoang dã của nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19.
Một khi đã nói tới văn minh Mỹ châu, thì không thể bỏ qua các vùng đất rộng lớn ở về phía Nam Mỹ thuộc Nam Bán Cầu. Chắc chắn đa số chúng ta đã có một thắc mắc từ lâu là tại sao cho đến bây giờ, các nền văn minh đã xuất hiện trên thế giới đều xảy ra trên vùng Bắc Bán Cầu. Có hai lý do chính giải thích hiện tượng “không công bằng”
nói trên: Thứ nhất, đa số các lục địa trên thế giới đều nằm trong vùng Bắc Bán Cầu. Theo con số thống kê ước tính, gần ba phần tư (3/4)
diện tích bề mặt trái đất nằm về phía trên Bắc Bán Cầu. Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết tất cả chính là những con sông lớn trên thế giới đều nằm về phía bắc bán cầu, nhất là con sông Nile dài nhất ở Phi châu có dòng chảy theo hướng Nam-Bắc ra biển Địa Trung Hải, nên trong giai đoạn đầu phát triển, đa số các nền văn minh chính thường quy tụ trong vùng bắc bạn cầu.
Sau cùng, nếu làn sóng văn minh Mỹ châu có thể rời bỏ được nước Mỹ để lan tỏa xuống hướng Nam tới Mễ-Tây-Cơ, thì không có lý do gì để nó không thể tiếp tục vượt qua đường xích đạo xuống luôn tới tận Nam Bán Cầu. Dựa theo thực tế của sự phân chia điạ lý và lãnh thổ của hai miền Bắc Mỹ và Nam Mỹ cho thấy, có thể vào cuối thế kỷ 22 hay sớm hơn, nền văn minh cực điểm của Bắc Mỹ sẽ chính thức vượt qua đường xích đạo, để xuống dưới vùng Nam Bán Cầu.
Ngoài ra cũng vào gần thời điểm đó, một dự đoán văn hóa đặc biệt khác có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên trùng hợp, là thế giới bắt đầu chính thức nhìn nhận là có “Nam Nữ Bình Quyền”.
Tóm lại cho những dự đoán trên: Trung tâm văn minh cực đỉnh cuối cùng tại Mỹ châu sẽ di chuyển dần về phương Nam trong cuối thế kỷ 21 này hay đầu thế kỷ 22, và chắc chắn sẽ dừng lại trong lãnh thổ của Mexico hay Cuba trong một thời gian, trước khi di chuyển xuống Nam Bán Cầu của Châu Mỹ La-Tinh. Có thể ví Cuba và Mexico với USA hiện nay giống tương tự như là Mông Cổ và Mãn Thanh với Trung Hoa cách đây hơn một ngàn năm.
Các nước châu Mỹ Latin nằm trong vùng Nam bán cầu còn lại như Chile, Uraquay, Ba-Tây hay Á-Căn-Đình đều có thể là những cường quốc số 1 trong thế kỷ 23 tới. Dù vậy, nếu dựa vào các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, lịch sử cũng như các yếu tố Điạ-Chính-Trị, thì Ba-Tây và Á-Căn-Đình là hai ứng viên hàng đầu có triển vọng và sáng giá nhất.
Cuối cùng, khi nền văn minh Mỹ châu đạt tới cực điểm vào khoảng năm 2230 AD, tại Sao Paulo hay Buenos Aires, thì bên kia bờ Thái bình dương sẽ có một cường quốc khác chuẩn bị vươn vai đứng dậy, để trở thành là siêu cường đầu tiên trong KNTH thứ 7 của Nguyên Đại VII. Đó chính là lục điạ Úc châu, vừa trẻ nhất và cũng là nhỏ nhất trong tổng số năm châu lục trên thế giới.
Dựa theo kinh nghiệm của các nền văn minh trước đây, để chuyển giao quyền lực kinh tế và trí tuệ số 1 trên thế giới từ một lục địa này, vượt đại dương để tới một lục địa khác, thì cũng cần phải có một nguyên nhân rõ ràng hay lý do chính đáng. Kỳ thị chủng tộc, kỳ thị tôn giáo, khác biệt chính trị hay chiến tranh là những lý do thường hay được nghĩ tới. Tuy nhiên, trong tương lai hơn 300 năm nữa, với trình độ văn minh và tiến bộ cao cấp của con người như đã mô phỏng, thì xác xuất để xảy ra những vấn đề nói trên rất thấp, nếu không nói là khó có thể xảy ra. Như vậy, dư đoán còn lại là vài lý do hay nguyên nhân thuộc về “Thiên Tai” hơn là thuộc về “Nhân Tai”. Cụ thể với xác xuất cao nhất xảy ra là một thời kỳ “Đại Băng Giá” ngắn trên vùng Bắc Bán Cầu và kéo dài khoảng hơn một trăm năm, có thể xuất hiện trở lại trên trái đất. Từ đó, Úc Châu có thể sẽ trở thành là miền đất hứa cho những cư dân miền Bắc di cư về phương Nam để trốn lạnh, như đã lập lại nhiều lần trước đây.
Theo các nghiên cứu mới đây nhất của các nhà Địa Chất, hai vùng có thể xảy ra hiện tượng “siêu núi lửa”, một nằm phía Nam Tháí Bình Dương và một nằm ở phía Bắc Mỹ trong vùng công viên Yellowstone thuộc bang Idaho. Kịch bản xấu nhất khi các siêu núi lửa bùng nổ là sẽ cho ra những đám tro bụi khổng lồ và dầy đặc trên không, che phủ hầu hết ánh sáng mặt trời và hạ thấp nhiệt độ trung bình của trái đất xuống từ 15-25°C, như đã từng xảy ra trong các kỷ băng giá trước đây. Hãy thử tưởng tượng là trong tương lai, nếu xày ra hiện tượng băng giá nói trên, những vùng trên vĩ tuyến Bắc 20° N sẽ gần như bị bao phủ bởi băng tuyết quanh năm, trong khi các thành phố nằm gần đường xích đạo như SàiGòn hay Bangkok thì ít nhất là vài tháng có tuyết!
28-1 Văn Minh Úc Châu
Siêu-Cường Úc - Nam - Mã - Phi(2390 AD)
Ánh Sáng - Mắt - Ngữi - Nhìn
Đây là thời kỳ thuộc Kỷ-Nguyên-Tiến-Hoá thứ 7, KNTH cuối cùng của Nguyên-Đại VII, theo thứ bậc thay đổi của các Hào trong Dịch-lý cho giai đoạn tiến hoá nói chung. Dự đoán cho Úc châu sẽ trở thành siêu cường đầu tiên trong KNTH 7 này chắc sẽ không làm ai ngạc nhiên cả, vì thậm chí có rất nhiều người đã từng nghĩ như vậy. Lý do dễ hiểu là trong 6 nền văn minh vừa qua đã có mặt hay xuất hiện trên cả bốn lục địa Phi, Á, Âu và Mỹ rồi, chỉ còn thiếu có mỗi Úc châu là chưa có mặt.
Ngoài lý do đã giải thích trong tiểu mục trước, còn có một số các hiện tượng không thể gíải thích được do thiếu chứng minh khoa học. Cụ thể như: Lý do tại sao các nhà khai sinh hay giới lãnh đạo dân cử của nước Úc, đã chọn lá cờ quốc gia Úc có hình các ngôi sao, gồm có một sao nhỏ 5 cánh và 4 sao lớn có 7 cánh? Chọn hình ngôi sao 7 cánh có ý nghĩa gì ở đây? Câu hỏi hay thắc mắc vừa nói trên đưa tới một liên tưởng về hình tượng học có tính huyền bí khá thú vị mà không thể giải thích được theo khoa học vật lý, như sau:
Cho đến thời điểm của nền văn minh Trung Đông thuộc KNTH 3, dưới sự cai quản của đế quốc La-Mã, thì Kim Tự Tháp vẩn còn được coi như là một biểu tượng văn hóa cao nhất hay còn coi như là một ngôi sao chỉ có 3 cạnh (trong vòng tròn). Tiếp theo văn minh Á châu thuộc KNTH 4 thì dân Trung Hoa lại chọn biểu tượng văn hoá trong các lá cờ là hình vuông “Trời tròn, Đất Vuông” , coi như là tương đương với một ngôi sao có 4 cạnh. Lần lượt đến văn minh Âu châu thuộc KNTH 5 lại chọn ngôi sao có 5 cạnh, đang xuất hiện trên lá cờ của nhiều nước trên thế giới.
Đến nền văn minh Mỹ châu thuộc KNTH thứ 6 thì lại thấy xuất hiện các ngôi sao có 6 cạnh. Ai cũng biết ngôi sao 6 cạnh là biểu tượng thiêng liêng của người Do Thái, nhưng đồng thời đa số cũng thấy ngay rằng chính những người Mỹ gốc Do Thái đã đóng góp rất nhiều cho sự thịnh vượng chung của cường quốc số 1 là Mỹ, nên cũng có thể coi như là một chỉ dấu của ngôi sao “Định Mệnh” có 6 cánh. Như vậy thắc mắc còn lại là phải chăng những nhả lãnh đạo bên Úc, đã thấy rõ vấn đề Úc châu sẽ thay thế Mỹ châu trong tương lai? Ai dám nghĩ đây chì là một câu chuyện huyền bí, không đáng được chú ý?
Dù vậy, nếu đi sâu vào chi tiết giải thích, trong thời đại này chắc sẽ có rất nhiều tiến bộ khoa học và kỹ thuật vượt quá xa tầm hiểu biết của con người hiện tại, nên rất khó để làm công việc dự đoán khoa học cho những gì sẽ xảy ra trong tương lai xa. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa hoàn toàn theo phương pháp tiệm tiến và kinh nghiệm lịch sử từ các nền văn minh trước đây, cũng như áp dụng mô hình tiến hoá của cơ thể con người như đã được minh chứng, chúng ta cũng có thể hy vọng có được kết quả dự đoán không sai biệt quá nhiều, so với những gì thật sự sẽ xảy ra trong tương lai gần bốn trăm năm.
Cuối cùng rồi cũng giống như văn minh Mỹ châu, nước Úc sẽ không là siêu cường số 1 duy nhất trong suốt thời kỳ cực thịnh của nền văn minh Úc châu kéo dài khoảng 160 năm. Trong khoảng thời gian 60 năm cuối cùng, từ 2330 – 2390 AD, cán cân quyền lực và đỉnh cao khoa học chắc sẽ di chuyển ra khỏi lục địa Úc và tiến lên trở lại phương Bắc, vào trong khu vực của ba quốc gia hải đảo, Nam Dương, Mã Lai và Phi Luật Tân. Tưởng cũng nên nói thêm là thời gian của 60 năm trong thế kỷ 24 không phải là quá ngắn, so với hơn 600 năm của cả hai triều đại nhà Minh và nhà Thanh từ thế kỷ 14 đến 19.
28.2 Phát Minh Trong Tương Lai
Không Dùng Chân Tay - Thần Giao Cách
Những phát minh khoa học chính của nền văn minh Úc Châu chú trọng nhiều về ánh sáng và những ứng dụng thực tế của nó, qua việc xử dụng gián tiếp hay trực tiếp hai bộ phận chính trong cơ thể là Mũi và Mắt, gồm có:
Hoàn hảo và phát triển thêm kỹ thuật quang-tử, hóa giải hay chống lại lực hấp dẫn trọng trường, cho phép con người di chuyển trên mặt đất nhanh chóng, thoải mái và tiện lợi hơn rất nhiều. Trong KNTH này, các công việc làm liên hệ đến tay chân đều lần lượt biến mất hay không còn nữa. Tất cả mọi sinh hoạt hàng ngày trong đời sống con người sẽ được tự động hoá, và điều khiển bằng ý muốn qua các làn sóng não.
Mũi thần. Không những có khả năng đánh hơi rất xa hay rất nhạy cảm, mà còn có thể có khả năng tiến hoá và phát triển, đóng thêm vai trò như cái máy thu phát sóng cho các mục tiêu thăm dò và tìm kiếm các vật thể ở ngoài tầm xa trên cả ngàn cây số.
Mắt thần. Ngoài khả năng nhìn xuyên xuốt qua một số các đồ vật, nhìn xa hay gần trong bóng tối hay ngoài ánh sáng, nhãn lực của con người trong kỷ nguyên nầy có thể nhìn thấy xa cả cây số nhờ bắt được sóng não của những người quen biết và do đó những hình ảnh tại địa phương xa xôi đó sẽ được hiển thị luôn lên màn hình, nhân tạo hay tự nhiên trong não bộ.
Truyền Thông cá nhân: Xem các chương trình truyền hình hay phim ảnh có ngay trong đầu theo phương pháp bắt sóng và hiển thị màn hình đã nói trên. Trong thế kỷ 23 tới, tiến bộ khoa học kỹ thuật khá ấn tượng của các nền văn minh kế tiếp là con người sẽ không cần phải cầm điện thoại trong tay hay đụng đến các vật dụng nói trên nữa. Tất cả sẽ có được tự nhiên và hiển thị ra luôn hình ảnh trong não bộ con người. Cụ thể như con người sẽ nghe, thấy hay nói chuyện trực tiếp với bất cứ ai trên trái đất này, qua sự tiếp thu chọn lọc hay tiếp nhận chỉ một loại sóng đặc biệt YKZ với mã khoá của người muốn liên hệ, và hiển thị hình ảnh lên ngay trên màn hình trong não bộ.
Cộng Đồng Trí Tuệ: Tất cả mọi quyết định quan trọng của bất cứ cá nhân nào đều có thể được tư vấn hay giúp đở bởi một “Bộ Óc Siêu Việt” của riêng tổ chức hay đoàn thể. Cụ thể thí dụ: Cá nhân A gặp phải trường hợp khó khăn và không biết phải làm gì, liền dùng sóng não nối với “Bộ Óc Siêu Việt” và dùng nó ngay trong đầu, để phân tích và giải quyết nhanh chóng các vấn đề như là của riêng mình.
28.3 Đặc Tính Văn Hoá
Các nét chính về văn hóa trong KNTH 7 này ảnh hưởng nhiều đến những tiện nghi cá nhân trong đời sống nhiều hơn là xã hội hay gia đình. Có thể xem đó là một cuộc cách mạng vĩ đại về văn hóa nếu dùng phán xét dựa theo tiêu chuẩn hiện nay. Quan trọng nhất và trên hết là yếu tố con người cùng những phát triển vượt mức của thể xác, nhất là não bộ và các hệ thần kinh giác quan. Từ đó, có thể có một số các hiện tượng kỳ lạ, còn gọi là phép lạ theo tiêu chuẩn hiện nay, trong đời sống xuất hiện mà đa số con người văn minh hiện nay vẫn chưa hiểu rõ được. Cụ thể như sau:
Giống tương tự như cái đuôi quá nặng và cồng kềnh của các loài bò sát khi lên sống trên đất liền, trong suốt quá trình thay đổi dần qua văn minh không gian của KNTH 7, chuyện quan trọng đầu tiên là chân tay của con người sẽ không còn cần dùng đến nữa, và sẽ từ từ được loại bỏ. Khi con người cần di chuyển nhanh trong không gian, chân tay sẽ trở thành một gánh nặng và đôi khi còn có thể gây ra nguy hiểm cho chính bản thân nữa. Một số các biện pháp hay phương tiện để gỉảm thiểu, làm cho chân tay nhỏ lại dần hay thậm chí có người còn làm cho biến mất luôn.
Con người chỉ làm việc tối đa là vài chục phút trong một ngày, vì tất cả đều đã được “người máy” làm giùm hết. Nếu người máy này bị hư hỏng hay có vấn đề, thì sẽ có người máy khác sửa chữa hay thay thế ngay. Đa số gần hơn 90 phần trăm các công vìệc làm hiện nay sẽ bị biến mất. Những việc làm còn sót lại cho con người trong KNTH này, là điều khiển các hệ thống người máy và các dịch vụ tư vấn ngắn hạn về tâm linh.
Theo đà tiến bộ từ từ của Nữ quyền hiện nay, điều có thể xảy ra trong KNTH này là phụ nữ sẽ trở thành phái mạnh và đàn ông trở thành phái yếu! Dĩ nhiên hai chữ mạnh-yếu ở đây hiểu theo nghĩa tinh thần hay tâm linh hơn là thể xác. Có ba lý do để tin là chuyện này chắc chắn sẽ xảy ra: Trong KNTH này, sức mạnh về cơ bắp hay chân tay không còn cần đến nữa, mà được thay thế bằng sức mạnh tinh thần hay năng lượng sóng não. Đây chính là sở trường hay năng khiếu riêng của phái nữ.
Thứ hai, quan niệm về sinh sản và duy trì nòi giống theo hiện nay sẽ trở thành vô nghĩa hay biến mất luôn, vì con người sẽ sống lâu hơn cả trăm năm, nhờ kỹ thuật y khoa quá tiến bộ, có thể thay thế được bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Nhưng trên hết tất cả vẫn là kỹ thuật nhân giống người sẽ đạt tới mức hoàn hảo, và có thể dễ dàng cho sinh ra bản sao con người của bất cứ ai đã từng sống trên trái dất, nếu muốn.
Đời sống hôn nhân hay nhu cầu tình dục sẽ mất hết dần ý nghĩa trong thời đại này, do sự khác biệt về giới tính bị đảo lộn và thu hẹp lại cỏn rất ít, gần như là không đáng kể. Ngoài những lý do đã nói ở trên, còn có những yếu tố khác như: Có thể dùng sóng não để tự tạo ra những khoái cảm hay cảm giác hạnh phúc tràn đầy mà không cần phải tiếp xúc hay liên hệ với người khác, cùng hay khác phái tính. Có thể nhìn và nói chuyện hay liên hệ một cách thân mật và thoải mái với bất cứ ai trên thế giới mà mình thích hay đồng cảm.
Cuối cùng có thể đây là bước chuẩn bị cuối cùng trước khi con người tiến vào nguyên đại kế tiếp thứ 8, trở lại thành “Đơn Tính Dục” (Unisex) và không còn có sự phân chia giới tính Nam Nữ.
Văn hóa ẩm thực sẽ không có giới hạn và gần như là không còn hiện diện hay mất luôn. Hầu như tất cả mọi người trong KNTH này đều có thể được ăn hay thưởng thức các món ngon hay lạ miệng nhất trên đời mà không cần phải đi đâu hết. Các máy nấu ăn tại nhà sẽ tự động “bào chế” ra các thực phẩm cần thiết và làm ra giống như thật, trăm phần trăm, với đầy đủ tất cả các thành phần dinh dưỡng cần thiết. Dĩ nhiên, trong KNTH 7 này, sẽ không còn có chuyện phải giết chết bất cứ con thú nào để lấy thịt cho thức ăn nữa.
Sự phân chia giai cấp xã hội hay khác biệt về chủng tộc, danh vọng, địa vị trong xã hội, v.v cũng sẽ không còn thực tế nữa. Con người hầu như đạt gần đến bình đẳng toàn diện. Vô số các nhà máy công cộng sẽ bào chế và cung cấp bất cứ món hàng nào được yêu cầu trong vòng vài phút đồng hồ, miễn phí. Tất cả các quyết định quan trọng hay không đều có thể nhờ ngưởi máy làm giùm và luôn cho ra kết quả tốt đẹp nhất, nên con người thật sự sống trong KNTH này sẽ không thấy có sự khác biệt nhau nhiều trên mọi phương diện vật chất của đời sống.
Trong khi nền văn minh Châu Úc đang lần lượt toả sáng và chinh phục cả thế giới với những tiến bộ khoa học và kỹ thuật vượt mức phi thường trong thế kỷ 24, thì ngay sát bên trên đường xích đạo, các quốc gia thuộc vùng Đông-Nam-Á đã có những thành quả đáng ngạc nhiên hơn rất nhiều về diện tâm linh.
Xuất hiện đầu tiên trên thế giới, một nhóm khoa học gia Đông-Nam-Á đã có thể cô lập và tách rời toàn bộ trí nhớ ra khỏi thể xác của một người trong thời gian ngắn, khởi đầu cho sự chuyển giao tới một nguyên đại mới của nền văn minh siêu nhân.