Rắn Mối – Tứ Chi

Đây là thời kỳ bắt đầu xuất hiện các loài rắn mối to lớn, thuỷ tổ của giống khủng long sau này, được các nhà khoa học tìm hiểu chi tiết và phim trường Hollywoods diễn tả lại khá chính xác theo như câu chuyện trong phim “Jurassic Parks”. Nhưng trước hết, trong giai đoạn đầu cuả thời kỳ này kéo dài khoảng chừng vài chục triệu năm, hai chân sau của các loài lươn đất phải bắt đầu xuất hiện. Động lực để phát triển hai chân sau cũng giống tương tự như hai chân trước. Thoạt đầu, do hai chân trước còn yếu nên khi di chuyển, thân hình còn lại phía sau của lươn đất phải tiếp sức đẩy bằng cách trườn mình qua lại như lúc trước. Hệ quả sau cùng là cho ra hai chân sau, giống hệt như quá trình sinh ra hai chân trước.
Một thắc mắc nhỏ cho thấy là nếu quá trình sinh ra 2 rồi 4 chân cuả các loài lươn đất giống như vậy, thì tại sao chúng ta không có các loải thú có 6 hay nhiều chân hơn nửa? Câu trả lời có thể là đã xảy ra đúng như vậy, đã có những loài thú có nhiều hơn 4 chân xuất hiện sau đó vài chục triệu năm. Nhưng có thể vì lý do không hiệu quả để di chuyển hay chạy mau khi săn mồi, hay để tránh bị săn mồi, nên cuối cùng đã bị tiêu diệt hay tuyệt chủng, đúng như lý thuyết về sinh tồn đã đưa ra trong thuyết Tiến Hoá. Bằng chứng là trong các câu chuyện thần thoại cổ cuả cả Đông lẫn Tây đều có nói về các con thú hay giống quái vật có rất nhiều tay chân còn sống sót lại sau hàng triệu năm trong các hang động xa xôi hẻo lánh và biệt lập.
8.2 Não Bộ -Hệ Thần Kinh
Một vài chi tiết khác đáng chú ý là trong thời đại này, hệ thần kinh và não bộ của loài rắn mối đã được phát triển khá hơn rất nhiều do nhờ tiếp xúc thường xuyên với nguồn nước ngọt từ các dòng sông hay ao hồ. Từ đó, các loài rắn mối đã có thêm cơ hội để thăm dò và tiếp tục tiến vào sâu trong đất liền, bằng cách di chuyển lần dọc theo các bờ sông hay ao hồ.
Trong quá trình gần cả hai trăm triệu năm sau, các loài rắn mối đã thay hình đổi dạng, trở thành to lớn và phát triển mau lẹ về thể xác, nhất là bộ phận ngón và các móng chân, giúp rất nhiều cho việc di chuyển mau hơn trên đất liền, biến dạng thành các loài bò sát to lớn hơn. Những con rắn mối to lớn có hình dạng gần giống con kỳ nhông mà một chi nhánh chính, hậu duệ sau cùng cuả những con rắn mối này chính là loài cá sấu hiện đang sống trong các vùng đầm lầy ngập mặn khắp nơi trên thế giới.
9.1 Khủng Long - Nguyên Đại Cretaceous (146-65 mya)
Bộ Sinh Dục
Các loài rắn mối mới này cũng gặp phải một trở ngại khác khi phát triển thêm được hai chân sau. Do vì hai chân sau có khuynh hướng nâng bộ phận sinh dục của con cái lên cao, nên thói quen phóng tinh lên mình con cái lại trở thành ít hiệu quả hơn. Do đó, để bảo tồn nòi giống, một trong các loài rắn mối khôn ngoan phải tìm ra được phương cách hữu hiệu hơn để làm cho con cái thụ tinh. Theo thời gian khi hai chân sau của các loài rắn mối càng phát triển mạnh và dài hơn, nên có thể uyển chuyển thay đổi vị trí cao thấp khác nhau, con cái có thể hạ thấp phía đầu và nâng đuôi cao lên, trong khi con đực thì làm ngược lại là cong đuôi xuống thấp hơn để bắn tinh vào. Nhờ cố gắng muốn làm cho thành công nhiệm vụ giao phối trên, đồng nghĩa với việc phải đưa được bộ phận bắn tinh vào gần hơn, nên có sự co giãn của cơ vòng ngay trên lỗ bắn tinh cuả các con đực.

Tất cả các diễn tiến giao cấu thuần thục nói trên của loài rắn mối đã phải qua quá trình thay đổi từ từ theo tính chọn lọc ngẩu nhiên mất hàng triệu năm. Sau cùng, loài rắn mối nào có bộ phận sinh dục được thành hình, có nhiều cơ vòng mạnh khỏe, nhô ra nhiều và dễ cho thụ tinh hơn, sẽ là giống rắn mối tồn tại và lớn mạnh, biến thành các giống khủng long sau đó.
9.2 Trứng
Nhờ những yếu tố thuận lợi như đã nói trong tiểu mục trước, thêm vào là thay đổi cách giao cấu và nguồn thức ăn dồi dào, các giống rắn mối sắp bị tuyệt chủng lại được phục hồi và phát triển vượt mức để trờ thành các loài khủng long. Tuy nhiên cũng còn có một trở ngại khá lớn nữa đã chận đứng lại sự phát triển lớn mạnh cuả các loài rắn mối mới này trong một thời gian khá lâu.
Cho tới thời điểm này, các giống rắn mối sống trên đất liền đẻ trứng ra, còn phài nhờ vào môi trường nước để bảo vệ vì các vỏ bọc trứng quá mềm và dễ bị vỡ khi bị rơi xuống và chạm vào đất đá. Một khi dân số các loài rắn mối phát triển quá nhiều, thì nguồn nước ao hồ trở thành khan hiếm, làm cho hầu hết dân số các loài rắn mối sống trên đất liền gần như bị tuyệt chủng hết, trừ một số ít may mắn được sống gần các vùng có nhiều đá vôi. Các nguổn nước uống có nhiều chất vôi này đã giúp cho lớp vỏ bọc trứng dày và cứng lên, đủ để bảo vệ quá trứng trong một thời gian dài trước khi được nở ra con.
Nếu đúng theo các di tích khảo cổ được tìm thấy hiện nay với sự công nhận của các nhà khoa học, khủng long đã là giống động vật có thân xác lớn nhất trên trái đất. Có hai lý do giải thích như sau:

Khủng long là hậu duệ trực tiếp cuả các giống rắn mối đầu tiên sống trên đất liền, nên không có kẻ thù hay mối nguy hiểm trực tiếp nào đe dọa đến sinh mạng, trừ các trở ngại về thiên nhiên. Thứ hai, quan trọng hơn hết là trong thời đại này, nguồn thức ăn từ cây cỏ và các loài rong rêu đều có quá nhiều, không phải giành giật hay đánh nhau để có thức ăn. Nhờ có thức ăn dư thừa và không bị hạn chế, nên thân xác loài khủng long đã phát triển và lớn mạnh gấp nhiều ngàn lần. Theo như ước tính dựa trên những bộ xương hoá thạch tìm thấy, trong vòng tiến hoá và phát triển hơn một trăm triệu năm, các loài khủng long đã tăng trọng từ khoảng vài chục ký lô đến cả hàng chục Tấn như các loài voi ma-mút còn còn sống sót ở Siberia.
Cũng nhờ các yếu tố thuận lợi nói trên nên dân số các giống khùng long đã phát triển gần như vượt mức tối đa, đưa đến sự kiện có thể nói là lạm phát hay bùng nổ về dân số cuả cà hàng trăm loài khủng long khác nhau về trong kỷ nguyên này. Hệ quả đưa đến là vào cuối thời đại kỳ này (Jurassic 270-135 Mya), đã cóhiện tượngdi cư lần đầu tiên của các giống khủng long ra khỏi Phi Châu, tản mác ra khắp nơi trên thế giới.
Điều cần nhấn mạnh với bằng chứng rõ rệt, chính là sự trùng hợp gần như chính xác giữa các chu kỳ băng giá (Ice Ages) và chu kỳ di cư của các sinh động vật trên trái đất. Cuối thời kỳ băng giá, thời tiết Phi châu hay các vùng miền gần xích đạo nóng dần lên, tạo ra hạn hán hay thiếu nước lâu dài. Hiện tượng khô hạn có thể đã kéo dài khá lâu làm giảm số lượng cây cối thực vật và cũng làm cho khan hiếm luôn nguồn thực phẩm dồi dào có trước đây. Chiến tranh để dành lấy thức ăn tất nhiên đã xảy ra cho các loài khủng long và hậu quả là một số đã phải tháo chạy ra khỏi Phi Châu vì bản năng sinh tồn.
Dựa theo hình D ở đầu chương sách này, các đại lục vẫn còn dính liền và nằm gần với nhau cách đây 160 triệu năm, nên theo dữ kiện của hình E trên, minh chứng cho thấy tại sao trên hai châu Mỹ và châu Úc chỉ có di tích của các loài khủng long hay rắn, đã di cư ra khỏi Phi châu trước đó. Riêng các giống Khỉ hay Dã nhân nguyên thuỷ thì không có mặt khi các hai châu lục đã bị tách ra quá xa bởi hai đại dương.
Ngược lại, vào thời kỳ bắt đầu băng giá, hầu hết trái đất bị đóng băng nên cuối cùng chỉ còn các vùng đất gần đường xích đạo là có thể tạm sinh sống được. Do đó đã có hiện tượng các giống sinh vật từ miền bắc chịu lạnh không nỗi, phài di cư xuống trở lại phương Nam. Chu kỳ lên Bắc xuống Nam này sẽ còn tiếp tục tái diễn hay lập lại rất nhiều lần, kéo dài mãi cho đến hiện nay, thuộc giai đoạn cuối của thời kỳ băng giá tan ra làm trái đất nóng dần lên.
9.3 Bộ Tiêu Hóa
Thời kỳ trước khi rời khỏi hẳn vùng sông nước, bộ phận tiêu hóa của các loài giun biển chỉ có đơn giản là một ống dẫn thức ăn thẳng từ miệng xuống tới hậu môn. Dọc theo trên thành của nữa ống dẫn đầu tiên, là vô số các tế bào có chứa chất ác-xít để phân huỷ thức ăn cho mau. Sau đó tiếp tục xuống phân nửa dưới là những tế bào sợi li ti chuyên hấp thu lại các hợp chất bổ dưỡng để phân phối đi khắp nơi nuôi cơ thể, cung cấp các nguyên tố cần thiết đã bị mất.
Một chi tiết khác là trước khi đổ bộ lên bờ, thức ăn cuả các loài lươn đất đều có độ mềm cao nhờ có tác dụng của nước. Nhưng trên đất liền vì thức ăn khô cứng hơn nhiều, nên bộ phận tiêu hóa đã phải làm việc nhiều hơn nữa. Trước tiên là hệ nước giải thấm nước lảm mềm thức ăn ngay tại miệng. Nên nhớ là trong thời đại này các giống bò sát hay khủng long cũng còn dùng thực vật cây cỏ làm thức ăn chính, chưa biết ăn thịt. Chỉ xảy ra trong kỷ Jurrasic sau khi vụ va chạm mạnh với thiên thạch xảy ra, ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu và làm khan hiếm các nguổn thực phẩm, nên các loài khủng long vì quá đói, phải tìm cách ăn thịt lẫn nhau để sống còn. Từ đó, để thích ứng với nhu cầu ăn thịt, những thay đổi tiếp theo sau của hệ thống tiêu hóa trong nguyên đại này kéo dài gần hơn 200 triệu năm đã hình thảnh thêm một số các cơ quan khác như Bao tử, Gan, Mật, v.v, để giúp tiêu hoá các loại da thịt hay mỡ.
Cụ thể thí dụ cho việc hình thành bao tử sơ khai của loài rắn mối sống trên đất liền. Do thức ăn khô cứng khó tiêu, bị tích luỹ lâu ngày ở phần giữa cuả ống dẫn, nên bị lên men căng cứng và trương phình ra. Một số lớn rắn mối đã chết vì lý do trên, nhưng trong số rất ít may mắn thì lâu ngày, phần ống dẫn bị trương phình và mất dần tính đàn hồi, nên phần ruột đó bị dãn ra luôn và có hình dạng gần giống như bao tử của đa số động vật hiện nay.
Thoạt đầu, chỗ phình ra do thức ăn mắc kẹt lại và bị phân huỹ, đã là một tai nạn nguy hiểm làm cho đa số rắn mối chết do không ăn uống được. Nhưng thời gian dài về sau thì cơ thể của một ít rắn mối làm quen dần và phản ứng lại được bằng cách làm cho thức ăn phân huỷ mau hơn để đẩy xuống tiếp, vào được phân nữa ruột còn lại ở dưới và tống ra ngoài sau khi hấp thu một số nguyên tố hay thức ăn.
Cụ thể minh chứng cho hệ thống tiêu hoá nói trên là cách tiêu thụ con mồi cuả các loài Trăn, hậu duệ còn sống sót lại duy nhất của các con lươn đất.
9.4 Máu – Ăn Thịt
Như đã nói đến trong tiểu mục trước, đây là giai đoạn 3, nguyên đại thứ Tư thuộc biểu tượng của bộ phận tiêu hoá hay bao tử và cái bụng, nên các loài thú như Khủng long đã phát triển đến tột đỉnh về thể xác. Một trở ngại khác xuất hiện khi các bộ phận cuả thân xác phát triển lớn dần ra, làm cho thức ăn từ các mao dẫn li ti không chuyển kịp thức ăn đến những nơi cách quá xa đường ruột.
Theo luật sinh tồn và để giải quyết trở ngại nói trên, cơ thể của các loài bò sát đã phải hoạt động nhiều để tạo ra một áp suất thật cao, đẩy các thức ăn đi mau hơn. Nhưng có một yếu tố khác quan trọng không kém chính là độ chảy lỏng của dung dịch thức ăn.
Càng có độ lỏng cao thì mức thẩm thấu và di chuyển thức ăn càng mau, và sau một thời gian dài thay đổi trở thành dòng chất lỏng mà ngày nay gọi là Máu.
Trong thời đại này, máu cuả các loài bò sát chỉ có màu xanh đậm hay xám đen, còn gọi là động vật có máu lạnh, chưa có màu huyết đỏ như loài có máu nóng sau này của những loài động vật cao cấp, kể cả con người. Nhiệm vụ chính của máu là mang chất dinh dưỡng đi nuôi tất cà các bộ phận khác trong cơ thể, qua dạng sinh hoá kể cả các hợp chất dưới dạng kích thích tố hay chất béo.
Dù vậy, có nhiều người vẫn còn thắc mắc là trái tim đã được thành hình như thế nảo(?) Trong quá trình hơn mấy trăm triệu năm, bất cứ bộ phận nào trong cơ thể cuả các loài động vật, kể cả con người hiện nay, cũng đều là do nhu cầu cần thiết cho sự sinh tồn hay đời sống ngay tại thời điểm nó xuất hiện. Lý thuyết minh chứng cũng cho thấy không phải muốn là có ngay liền được. Đa số là phải xuyên qua quá trình thay đổi từ từ và luôn được điều chỉnh cho đến khi hoàn hảo, mất cả hàng triệu năm hay lâu hơn nữa.
Trong việc hình hành trái tim, thoạt đầu là nhu cầu cần đẩy nhanh máu hay thức ăn hấp thu từ đường ruột, tới khắp nơi trong cơ thể cuả các loài rắn mối ngày càng lớn mạnh. Tuy là nhờ có hai chân trước và hai chân sau nâng cao hay hạ thấp xuống, dung dịch lỏng cuả máu đã có thể di chuyển bằng trọng lực hấp dẫn của trái đất. Do các loài rắn mối có chân phải thường xuyên nâng cao hay hạ thấp đầu xuống để làm cho máu được lưu thông và khỏi bị nghẹt, nên đã tạo ra nhịp kéo và đẩy cuả máu.
Cũng vì nhờ máu thường bị nghẹt lại gần sát cổ họng, trước khi được đưa lên đầu, nên lâu dần các tế bào máu chết bên ngoài đã tạo thành một lớp màng hữu cơ hay bắp thịt bao bọc xung quanh để bào vệ.
Trải qua thêm khoảng vài chục triệu năm thay đổi, bộ máy gồm những cơ bắp thịt đàn hồi để bơm máu làm thành một bộ phận mới thô sơ có tên là Trái Tim. Thêm một vài lần thay đổi và dưới ảnh hưởng môi trường thiên nhiên trong khoảng vài chục triệu năm nữa, trái tim mới có thể đạt tới cơ cấu đơn giản như của loài chim hôm nay. Điều đáng ghi nhận là quả tim chỉ xuất hiện trong cơ thể của các loài động vật có khả năng di chuyển mau lẹ với vận tốc nhanh. Cụ thể thí dụ như các loài chim đều có trái tim nhưng thô sơ và không phức tạp bằng các loài động vật có vú sinh con xuất hiện sau này trong nguyên đại V.
10.1Hậu Khủng-Long - Kỷ Nguyên Tertiary (65-38mya)
Động Vật Sơ Cấp - Hệ Thần Kinh

Hệ thống giác quan trong các kỷ nguyên đại trước 1, 2, và 3 chỉ tập trung vào xúc giác, ví giác và khứu giác theo thứ tự. Phát triển nhiều và mạnh nhất trong kỷ nguyên này là thính giác hay khà năng nghe và nói (tiếng kêu hú). Các loài động vật chính trong kỷ nguyên này là các loài khủng long hay các loài thú đang phát triển và tiến gần tới xử dụng cả bốn chân, nhất là hai chân trước để giử lấy con mồi, như giống chồn nguyên thuỷ sau đó. Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng về khả năng nghe cho các loài động vật 4 chân trong thời đại này chính là nhờ sự cố gắng phát ra âm thanh tối đa cuả các hệ cơ vòng trong cổ họng cuả các con thú, bị quá đau đớn vì thương tích khi chiến đấu tranh dành thức ăn.
Cho tới thời đại trước đây (60 mya), các giống khủng long cỏn sống sót sau vụ va chạm thiên thạch chỉ có thể phát ra tiếng gầm gừ hay rống lên để bày tỏ thái độ thích hay không. Trong thời đại sau đó, các hậu duệ khủng long đều có thể phát triển nhiều âm từ khác nhau ra ngoài, nhờ những thay đổi đáng kể cuả các cơ vòm họng chung quanh yết hầu gần thanh quản. Do đó, mỗi tần số âm sắc xuất hiện trong thời đại hậu khủng long này đểu mang theo một tín hiệu nào đó.
Gạch Nối Quan Trọng (IDA- 47 mya)
Chỉ mới phát hiện trong vài năm nay (2009), một bộ xương hoá thạch của một loài động vật có thân hình gần giống với loài khủng long và chồn, được đặt tên là IDA, có niên đại vào khoảng chừng 47 triệu năm.

Đây là di tích hoá thạch duy nhất được tìm thấy trong khoảng niên đại này (64 – 32 mya), ngay sau kỷ nguyên khủng long và trước thời nguyên đại cuả động vật cao cấp, có vú và sinh con (Mammal). Điều đáng nói là thân xác của con IDA chỉ nhỏ bằng con mèo, quá nhỏ nếu so với khủng long có thân hình ít nhất là vài trăm ký lô vào thời kỳ trước đó.
Một bằng chứng hiển nhiên về vụ va chạm mạnh của một thiên thạch khá lớn vào trái đất cách đây khoảng 65 triệu năm. Đám mây bụi khổng lồ lẫn đất đá bắn ra không gian làm bao phủ hơn nữa vòng trái đất, tạo ra hiệu ứng lồng kính làm cho khí hậu nóng hơn bình thường, đã lkhô cạn nhiều nguồn nước, huỷ diệt đa số các cây cối và thực vật dùng làm thức ăn cho loài khủng long.
Từ sự khan hiếm thức ăn với số lượng khủng long quá nhiều, đã cho ra một số các hậu quả sau:
Các loài khủng long phải chiến đấu tiêu diệt lẫn nhau để dành lấy thức ăn. Đa số các giống khủng long yếu kém hơn đã bị tiêu diệt hay đánh đuổi, bỏ chạy thoát ra khòi lục địa Phi Châu, phân tán ra khắp các châu lục về phương Bắc. Đây là lần đầu tiên một loài động vật sống trên đất liền đã đi ra tản mát khắp nơi trên trái đất. Bằng chứng cho thấy là chỉ có các bộ xương hoá đá cuả nhiều giống khủng long đã được tìm thấy ở châu Mỹ và châu Úc. Chính nhóm khủng long yếu kém nhỏ con (như loài IDA trong hình 22) đã tiếp tục đi về hướng Bắc, thay hình đổi dạng từ từ trong môi trường sống, để cuối cùng sẽ biến thành các loài động vật cao cấp sau này.