MỘT CÁI CHẾT RẤT DỊU DÀNG

Một Cái Chết Rất Dịu Dàng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 0 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Simone De Beauvoir Một Cái Chết Rất Dịu Dàng Vũ Đình Lưu Dịch Nhà Xuất Bản Văn Hóa Sài Gòn - Chương 1

❊ ❊ ❊

Ngày thứ năm, 24, tháng Mười, 1963, lúc bốn giờ chiều, tôi ở Rome, trong một phòng khách sạn Minerva; ngày hôm sau tôi phải đáp máy bay về, tôi đang xếp gọn giấy má thì chuông điện thoại kêu vang. Bost ở Ba-lê gọi sang: “Cụ nhà mắc tai nạn”, anh nói. Tôi nghĩ: chắc bị xe hơi đụng, má tôi lập cập chống gậy bước từ mặt đường lên lề nên bị xe đụng phải. Bost nói rằng: “Cụ nhà bị té trong phòng tắm, gẫy đầu xương đùi”. Anh cùng ở ngôi nhà với má tôi. Tối hôm qua, vào khoảng mười giờ đêm, anh lên cầu thang với Olga thì thấy ba người đi trước: một bà và hai người cảnh sát. Bà này nói: “Ở quá tầng lầu hai”. Có xảy ra cái gì cho bà de Beauvoir chăng? Có. Bà bị té. Bà đã bò lê trên sàn trong hai giờ để đến chỗ máy điện thoại; bà đã gọi một người bạn, bà Tardieu, bảo phá cửa vào. Bost và Olga đã đưa mấy người đến nơi. Họ thấy má tôi mình mặc áo trong nhà bằng nhung đỏ có sọc nổi. Bà bác sĩ Lacroix cùng thuê nhà ấy cho là gẫy đầu xương đùi; đưa ra ban cấp cứu nhà thương Boucicaut, mẹ tôi đã ngủ một đêm trong phòng chung. Bost nói với tôi: “Nhưng tôi đưa cụ đến bệnh viện C, ở đây có những bác sĩ giải phẫu về xương giỏi nhất. Có bác sĩ B. Cụ không muốn đến sợ phí tổn quá. Nhưng tôi đã thuyết phục được cụ rồi.”

Tội nghiệp cho má tôi quá? Tôi mới dùng cơm với má tôi khi ở Mạc-tư-khoa về, cách đây năm tuần lễ; trông má tôi không được tươi tỉnh, cũng vẫn như mọi ngày. Trước đây không bao lâu, đã có hồi má tôi tự kiêu rằng còn trẻ hơn tuổi mình; bây giờ thì không ai lầm được nữa: đúng là một bà cụ 77 tuổi, yếu đuối lắm rồi. Bệnh sưng khớp xương háng phát ra từ sau cuộc chiến tranh, mỗi năm một nặng thêm, tuy có thoa nắn và trị nước suối ở Aix Les Bains: má tôi đi quanh một dãy nhà phải mất một giờ. Má tôi đau nhức, không ngủ được, mặc dù mỗi ngày uống 6 viên aspirine. Từ hai ba năm nay, nhất là từ mùa đông mới qua tôi vẫn thấy mắt cụ quầng tím, mũi nhăn lại, má lóp. Viên y sĩ riêng, bác sĩ D, nói rằng bệnh không nặng: can suy, trường nhược, ông vẫn cho thuốc, và bảo ăn mứt me để khỏi bón. Tôi không lấy làm lạ rằng hôm ấy má tôi đã “quỵ”; điều làm tôi đau khổ là mùa hè ấy má tôi không được bình an. Má tôi có thể đi nghỉ mát trong một khách sạn hay một nhà tu nhận người đến nghỉ. Nhưng má tôi tính rằng cũng như mọi năm, cô Jeanne mời đến Meyrignac hay em gái tôi mời đến Scharrachbergen. Cả hai người đều không được rảnh. Má tôi ở lại Ba-lê, trơ trọi, mà trời lại mưa. Má tôi bảo “chưa bao giờ má thấy buồn, mà bây giờ má thấy buồn thật”. May quá, tôi qua Ba-lê ít lâu thì em tôi mời cụ lên Alsace chơi hai tuần lễ. Bây giờ bạn bè má tôi ở Ba-lê, tối cũng về đấy: nếu không bị gãy xương chắc là tôi sẽ được thấy má tôi tươi tỉnh. Tim má tôi còn tốt lắm, áp lực động mạch còn như đàn bà trẻ: tôi không ngờ tai nạn xẩy ra cho má tôi ác hại như thế.

Tôi gọi điện thoại đến bệnh viện nói chuyện với má tôi vào khoảng sáu giờ. Tôi báo trước sẽ trở về thăm. Má tôi trả lời bằng một giọng ngập ngừng. Bác sĩ B cầm lấy máy điện thoại: sáng thứ bảy ông sẽ giải phẫu.

“Đã hai tháng con không viết thư cho má!”. Má tôi trách tôi khi tôi đến gần giường. Tôi thưa lại: tôi mới gặp má; ở Rome tôi có viết thư. Má tôi nghe ra vẻ không tin. Trán và tay nóng như lửa; miệng hơi nhăn nhó, nói thì khó khăn, đầu óc như bị phủ sương mù. Có phải vì té mà có hậu quả ấy chăng? Hay trái lại, má tôi té vì bị kinh phong? Má tôi vẫn thường bị giật gân (không, không bị luôn, nhưng bệnh đã từ lâu. Từ bao giờ?). Khi nháy mắt, lông mày nhướng lên, trán nhăn lại. Trong lúc tôi ở đấy, mắt má tôi không ngừng máy động như thế. Khi nhắm mắt mi mắt nhẵn và phồng cong trùm kín con ngươi. Bác sĩ J, một người phụ tá đi qua: cuộc giải phẫu vô ích, khúc xương đùi không trật ra ngoài, ba tháng nghỉ ngơi sẽ liền lại. Má tôi đỡ lo, bèn kể lại một cách lộn xộn: sự gắng sức với đến máy điện thoại, nỗi lo sợ, lòng tử tế của Bost và Olga. Người ta đưa má tôi đến nhà thương Boucicaut trong lúc má tôi chỉ mặc áo trong nhà, không có đồ dùng gì mang theo. Ngày hôm sau, Olga mang lại cho má tôi đồ rửa mặt, dầu thơm, một bộ áo đọc sách bằng len trắng. Khi má tôi cám ơn Olga, cô trả lời: “Thưa bà, vì tôi mến bà đó thôi”. Má tôi nhắc lại nhiều lần, vẻ trầm ngâm, mơ màng: “Cô ấy bảo vì quý mến đó thôi”.

Tối hôm ấy Olga bảo tôi: “Cụ có vẻ sượng sùng đã làm phiền người khác và rất biết ơn người đã giúp cụ: cụ đã quá bận tâm”. Olga bực tức mà nói đến bác sĩ D. Ông ta phật ý vì đã cho mời bác sĩ Lacroix, ông không đến nhà thương Boucicaut thăm má tôi ngày thứ năm. Cô nói: “Tôi phải mất đến hai mươi phút để gọi điện thoại. Sau một cơn xúc động như thế, cụ nhà cần phải được bác sĩ quen biết an ủi. Thế mà ông ta nhất định không muốn hiểu”. Bost không nghĩ rằng má tôi bị bệnh gì bộc phát: khi đỡ cụ dậy, cụ hơi ngơ ngác nhưng tỉnh trí. Tuy nhiên anh sợ rằng ba tháng nữa má tôi không khỏi được: gãy đầu xương không có gì là nặng lắm, nhưng người già cả nằm yên một chỗ lâu quá làm da đóng vảy mục không thể khỏi được. Ngồi cong lưng làm mệt phổi: người bệnh có thể bị sưng phổi mà chết được. Tôi hơi xúc động. Tuy tàn tật nhưng má tôi còn khỏe mạnh. Nhưng dẫu sao má tôi cũng đến cõi rồi.

Bost đã báo cho em tôi biết. Tôi nói chuyện qua điện thoại với dì nó rất lâu. Dì nó bảo tôi: “Em vẫn lo sẽ xảy ra như thế này”. Khi ở Alsace dì nó đã thấy má tôi già và yếu quá, dì nó đã phải bảo Lionel: “Chắc má không qua được mùa đông này”. Một đêm má tôi thấy đau đớn dữ dội, đã tưởng phải đưa đi nhà thương. Nhưng sáng hôm sau lại khỏi. Và khi đánh xe đưa về, má tôi bảo rằng rất vui vẻ, lên ở với con, má tôi lấy lại được sức khỏe và tươi tỉnh lắm. Tuy nhiên, vào giữa tháng Mười, khoảng mười ngày trước khi bị nạn, Francine Diato đã gọi dì nó bảo rằng: “Tôi vừa dùng cơm với cụ nhà. Tôi thấy cụ yếu mệt lắm nên muốn nói cho chị biết”. Dì nó nói thác có việc đến Ba-lê đưa mẹ đi chiếu điện. Xem xét ảnh chiếu điện, bác sĩ cả quyết rằng: “Không có gì đáng lo cả. Trong ruột nổi lên cái gì như một cái túi, có chất dơ, làm đồ ăn đi qua rất khó khăn. Mấy lại cụ nhà ăn ít quá, có thể thiếu chất bổ dưỡng nhưng không đến nỗi nguy hiểm”. Ông khuyên rằng má tôi nên ăn đồ bổ và cho thứ thuốc mới rất mạnh. Dì Poupette bảo tôi: “Dẫu sao, em cũng vẫn áy náy”. “Em đã khẩn khoản bảo má mướn một người gác đêm. Má không chịu: má không chịu đựng được có người nằm bên cạnh má”. Poupette và tôi đã bàn với nhau để hai tuần nữa dì nó đến ở Ba-lê, lúc tôi dự định đi Prague.

Ngày hôm sau, miệng má tôi vẫn còn méo đi, nói năng khó khăn. Mi mắt dài che lên mắt, lông mày vẫn giựt. Cánh tay phải hồi hai mươi năm về trước bị gãy vì té xe đạp không được lành hẳn, chuyến ngã mới đây làm đau cánh tay trái, chỉ cử động được chút ít. May mà được săn sóc chu đáo. Phòng má tôi trông ra vườn, xa tiếng ồn ào thành phố. Người ta đổi chỗ chiếc giường nằm, để theo dọc bức tường, ngang tầm cửa sổ, để có thể đưa tay với được máy điện thoại treo tường. Mình tựa lên gối, má tôi gần như ngồi: không làm cho mệt phổi. Nệm bơm hơi có máy điện chạy làm rung rinh để thoa nắn bắp thịt: như vậy có thể tránh được cho da khỏi đóng vảy mục. Một y sĩ vận động khoa mỗi buổi sáng đến làm cử động hai cẳng chân. Có lẽ thoát được những hiểm họa mà Bost nói cho biết. Giọng ngái ngủ, má tôi bảo tôi rằng có mụ hầu buồng đến cắt thịt cho và hầu ăn, bữa cơm rất ngon miệng. Ở nhà thương Boucicaut, người ta chỉ cho ăn dồi lợn với khoai tây! “Người bệnh mà ăn dồi lợn!”. Má tôi nói nhiều hơn hôm trước. Má tôi muốn bù lại hai giờ lo sợ, bò lê dưới đất, không biết có với được máy nói và kéo lại gần mình không. Một hôm tôi bảo bà Marchand cũng sống độc thân: “May mà còn có điện thoại”. Bà trả lời: “Nhưng còn phải làm thế nào cầm được máy điện thoại”. Với một giọng nghiêm trọng, má tôi nhắc đi nhắc lại những tiếng sau và nói thêm: “Nếu không với được tới nơi thì mình đã chết rồi”.

Má tôi có thể la lớn để người ngoài nghe tiếng chăng? Chắc là không rồi. Tôi tưởng đến nỗi thất vọng của má tôi. Má tôi tin có trời; nhưng mặc dù đã già nua, tàn tật, đau ốm, má tôi vẫn bám chặt lấy cõi trần, đối với cái chết, má tôi có cái sợ sệt của phàm nhân. Má tôi có kể với dì nó một giấc mơ thường xảy đến nhiều lần: “Họ đuổi má, má chạy, má đụng vào tường; má phải nhảy qua tường rồi không biết đằng sau có gì; má sợ quá”. Má tôi cũng nói: “Má không sợ chính cái chết: má sợ phải nhảy qua cái gì mới chết được”. Khi bò trên sàn nhà, má tôi tưởng đã đến lúc phải nhảy. Tôi hỏi: “Chắc lúc té má đau lắm?” – Không. Má không nhớ. Má cũng không thấy đau”. Tôi nghĩ thầm, vậy là má tôi đã chết giấc. Má tôi nhớ lại thấy người choáng váng; và nói thêm rằng mấy hôm trước, khi uống thuốc mới, má tôi thấy cẳng như muốn sụm xuống: vừa kịp lúc nằm dài xuống giường. Cô em họ Marthe Cordonnier mang lại giùm mấy lọ thuốc của má tôi và ít đồ nhật dụng, tôi nhìn những lọ thuốc một cách ngờ vực. Má tôi định tiếp tục uống thuốc ấy: không biết có nên không?

Bác sĩ B đến thăm vào buổi chiều, tôi theo ông ra ngoài hiên; ông nói: khi khỏi rồi má tôi cũng đi lại được như trước: “Má có thể sống như ngày trước”. Ông ta có nghĩ rằng mẹ tôi bị chết ngất chăng? Ông ta không nghĩ gì cả. Ông ta có vẻ bối rối khi tôi cho ông biết rằng mẹ tôi có bệnh ở ruột. Nhà thương Boucicaut cho biết gãy đầu xương đùi và ông ta cũng không nghĩ đến bệnh gì khác. Ông ta sẽ đưa mẹ tôi đi khám bác sĩ nội khoa.

Tôi bảo má tôi: “Má sẽ đi lại được cũng như trước má có thể trở lại đời sống bình thường – Thôi! Không bao giờ má trở lại căn nhà ấy nữa. Dù có thế nào chăng nữa tao cũng không muốn trông thấy căn nhà ấy”.

Cái nhà ấy ư! Má tôi vẫn lấy làm hãnh diện mà! Má tôi đã phát sốt phát rét vì căn nhà ở phố Rennes, cha tôi về già trở nên u uất đã làm vang tiếng gắt gỏng. Ba tôi mất, được ít lâu bà tôi cũng mất theo, má tôi muốn dứt đoạn với những kỷ niệm cũ. Mấy năm trước một người bạn của má tôi ở một cái xưởng vẽ, má tôi khoái trá vì phong vị kim thời đó. Vào năm 1942 ai ai cũng biết thuê nhà rất dễ, má tôi có thể thực hiện được giấc mộng: cụ thuê được một cái studio có phòng lớn ở đường Blomet. Má tôi bán căn phòng giấy bằng gỗ lê đã sậm đen, phòng ăn kiểu Henri II, cái giường cưới, cái dương cầm có đuôi; chỉ giữ lại đồ đạc khác và cái thảm đỏ cũ. Má tôi treo những bức họa của em tôi lên tường. Trong phòng ngủ má tôi kê một cái đi-văng. Bấy giờ má tôi lên xuống cầu thang trông rất nhanh nhẹn. Thực ra tôi thấy chỗ ở đó không thú vị lắm: ở tầng lầu hai, không sáng sủa mấy dù có những cửa kính lớn. Những phòng ở tầng trên – buồng, bếp, phòng tắm – đều tối om. Má tôi vẫn ở đấy từ khi mỗi bước trên cầu thang làm cụ rên một tiếng. Qua hai mươi năm, tường, đồ đạc, thảm, cái gì cũng ố bẩn và cũ đi. Má tôi đã tính lui về ở một nhà dưỡng lão, thì năm 1960 căn nhà đổi chủ, má tôi đã tưởng bị trục xuất. Má tôi không kiếm được cái nhà nào ưng ý, vả lại cụ quyến luyến nơi mình vẫn sống. Biết rằng người ta không có quyền đuổi mình, má tôi ở lại đường Blomet. Nhưng bây giờ, bạn bè và cả tôi nữa muốn tìm một nhà dưỡng lão khang trang để má tôi ở. Khi khỏi bệnh, tôi bảo má tôi: “Con hứa với má, má không phải trở lại căn phố đường Blomet nữa.”

Ngày Chủ nhật, má tôi vẫn còn hai mắt lim dim, trí nhớ lu mờ, tiếng nói rỉ từ miệng ra từng giọt quánh sệt, má tôi lại kể cho nghe nỗi đau khổ của mình. Tuy nhiên, cũng có cái gì an ủi: má tôi đã được nằm bệnh viện này và cụ khen ngợi một cách quá đáng. “Ở nhà thương Boucicaut, chắc họ đã mổ từ hôm qua! Đây có lẽ là bệnh viện hay nhất ở Ba-lê”. Hình như sự tán thưởng đối với má tôi chỉ toàn vẹn khi kèm theo một sự chê bai, má tôi bèn ám chỉ một bệnh viện khác gần đấy mà nói thêm: “Ở đây hơn bệnh viện G nhiều. Người ta bảo rằng bệnh viện G không ra gì cả!”.

Ngày thứ hai má tôi bảo: “Đã từ lâu má không ngủ được”, sắc diện má tôi trở lại bình thường, tiếng nói gọn, mắt nhìn rõ. Trí nhớ đã có mạch lạc, thứ tự. “Ta phải gửi hoa đến cho bà bác sĩ Lacroix”. “Để con gửi cho”. “Còn những thầy cảnh sát? Có thể không tặng người ta cái gì được không?”. Tôi khó lòng can ngăn má tôi được. Má tôi tựa vào gối, nhìn thẳng vào mắt tôi và nói nhất quyết: “Con thấy không, má đã lạm dụng; mà tự làm mình mệt quá: má đã đến cõi rồi. Trước má vẫn không chịu cho mình là già. Nhưng mình cũng phải nhìn thẳng vào cuộc sống chứ, trong vài ngày nữa là bảy mươi tám rồi đây, già lắm rồi. Thôi mình cũng phải liệu chứ. Ta sắp giở một trang sách.”

Tôi nghĩ về má tôi mà khen ngợi má tôi. Lâu nay má vẫn khăng khăng cho là mình còn trẻ. Một hôm người con rể nói một câu vụng về, má tôi tức giận mà cãi lại: “Tôi biết, tôi biết rằng tôi đã già, như thế cũng đủ khó chịu rồi: từ rày xin đừng ai nhắc đến nữa”. Vật vờ trong đám sương mù đã từ ba ngày nay, bất thần má tôi có sức để dấn mình vào tuổi bảy mươi tám, sáng suốt và cả quyết.

“Ta sắp giở một trang sách.”

Má tôi đã can đảm lạ lùng mà giở một trang sách khi ba tôi mất. Bấy giờ má tôi đau khổ mãnh liệt. Nhưng không để mình sa lầy trong quá khứ. Nhân dịp thấy lại tự do, má tôi xây dựng lại một cuộc đời theo ý muốn. Ba tôi không để lại cho má tôi xu nào mà má tôi đã năm mươi tư tuổi. Má tôi đi thi, tập việc, lấy được mảnh bằng để đảm nhận việc phụ tá thủ thư trong một tổ chức Hồng Thập Tự. Má tôi học đi xe đạp lại để đi đến bàn giấy. Hết thời chiến tranh, má tôi tính nhận việc về may ở nhà. Bấy giờ tôi đã có thể giúp đỡ má tôi được. Nhưng cụ không chịu ăn không ngồi rồi. Má tôi ưa sống theo sở thích của mình nên nghĩ ra rất nhiều sự bận rộn. Má tôi giúp việc không lương cho thư viện của một viện phòng bệnh ở ngoại ô Ba-lê, rồi sau cho thư viện của một câu lạc bộ Công giáo trong khu phố. Má tôi ưa cầm đến sách vở, bao sách, xếp loại, ghi phiếu, chỉ dẫn cho người đọc. Má tôi học tiếng Đức, tiếng Ý, trau dồi tiếng Anh. Má tôi thêu thùa trong các trường nữ công, tham dự vào những việc từ thiện, đi nghe diễn thuyết. Má tôi kết giao với nhiều bạn mới, trở lại thân thiện với thân bằng cố hữu đã xa lánh gia đình tôi vì cha tôi buồn rầu lặng lẽ. Má tôi vui vẻ họp bạn trong phòng lớn của mình. Bấy giờ đến lúc má tôi có thể thỏa mãn được một trong những sở thích mà cụ cố làm cho kỳ được: đi du lịch. Má tôi “thẳng chân” vật lộn với bệnh liệt khớp xương làm cứng hai chân. Má tôi đến thăm dì nó ở Vienne, ở Milan. Đến mùa hè cụ đi son són qua các phố ở Florence, ở Rome. Cụ thăm các viện bảo tàng ở Bỉ, ở Hòa Lan. Gần đây má tôi đã gần tê liệt nên không đi đó đi đây nữa. Nhưng khi bạn bè hay chị em họ rủ đi chơi tỉnh nhỏ hay vùng thôn dã thì không gì ngăn cản được má tôi cả. Cụ không ngần ngại nhờ nhân viên hỏa xa dắt lên xe hỏa. Sự vui thích nhất của má tôi là đi xe hơi. Mới đây, Catherine, người cháu gái, đưa má tôi đến Meyrignac bằng xe hai ngựa, đi hơn 450 cây số về đêm. Má tôi bước xuống xe tươi tỉnh như một đóa hoa.

Tôi phải thán phục sinh lực của má tôi và tôi kính trọng má tôi là người cương nghị. Tại sao khi nói năng được, má tôi lại nói những lời làm tôi phải xót xa? Nhớ lại đêm ở nhà thương Boucicaut má tôi bảo: “Đàn bà bình dân, con biết họ thế nào chứ: Họ kêu khóc”. “Trong nhà thương nữ y tá chỉ làm vì đồng tiền. Thế thì...”. Đó là những câu ở cửa miệng, nói không nghĩ cũng như thở vậy, nhưng dầu sao cũng có liên hệ với lương tâm: không thể nghe thấy mà không bồn chồn. Tôi buồn rầu vì sự tương phản giữa sự thật về thể xác đau yếu của má tôi và những chuyện vẩn vơ nhỏ mọn chứa chất trong đầu óc ấy.

Bà y sĩ vận động khoa đến gần giường, bỏ khăn trải nệm, nắm lấy chân trái má tôi: áo lót mình bỏ ngỏ, má tôi thản nhiên phơi cái bụng nhăn nheo những vết nhỏ. Má tôi kinh ngạc mà rằng: “Má không còn biết thẹn thùng nữa” – “Thật thế má à”. Tôi trả lời rồi quay đi, tôi để ý ngắm cái vườn. Nhìn vào bụng mẹ, điều ấy đã xúc động tôi. Không một thân thể nào lại ít hiện hữu trong tôi bằng má tôi – mà lại hiện hữu nhiều bằng má tôi. Lúc thơ ấu, tôi yêu quý người má tôi; lớn lên người, má tôi làm cho tôi ngại ngùng muốn tránh, cái đó là thường; và tôi cho là thường nếu bây giờ người má tôi vẫn còn giữ hai tính chất ghê tởm và thiêng liêng: đó là một sự cấm kỵ. Dù sao tôi cũng ngạc nhiên rằng tôi khó chịu quá sức như thế. Má tôi thản nhiên bằng lòng để người ta làm thế, tôi càng thêm khó chịu; má tôi không giữ những điều cấm đoán, những thói phép đã đè nặng lên mình suốt đời; tôi tán thành. Nhưng cái thân mình ấy, bất thần từ khước hết cả, chỉ còn lại là một cái thân xác chẳng khác gì một cái tử thi. Cái thân xác khổ nhục không còn biết chống cự, để cho những bàn tay chuyên nghiệp sờ mó, thoa nắn, sự sống hình như một thứ nọa tính ngu độn kéo dài ra. Đối với tôi thì mẹ tôi vẫn còn hiện hữu, chưa bao giờ tôi nghĩ rằng lại có ngày mẹ tôi chết đi. Lúc chết cũng như lúc sinh của má tôi thuộc về một thời gian huyền ảo. Khi tôi tự nhủ: má đã đến tuổi mệnh chung, đó chỉ là những danh từ trống rỗng, cũng như nhiều danh từ khác. Lần đầu tiên, tôi thấy má tôi là một cái tử thi chưa thành.

Sáng hôm sau, tôi đi mua áo sơ-mi mặc đêm theo lời nữ y tá: phải là áo ngắn nếu không cộm dưới mông sẽ làm cho đóng vảy mục. Người bán hàng hỏi: “Bà muốn áo đêm ngắn, áo kiểu búp bê?”. Tôi mân mê những quần áo cũng phù phiếm như tên gọi nó, màu sắc dịu dàng, êm nhuyễn để cho những người vui vẻ trẻ trung. Hôm ấy là một ngày đẹp trời, về mùa thu, trời xanh ngắt: tôi đi qua một thế giới xám màu chì và tôi hiểu rằng mẹ tôi lâm nạn đã làm tôi xúc động hơn tôi dự đoán trước. Tôi không hiểu tại sao. Vì tai nạn ấy mà mẹ tôi không còn là người mẹ ở trong khung cảnh, vị thế và hình ảnh mà tôi vẫn giữ yên trong tâm trí không thay đổi. Tôi nhận biết mẹ tôi nằm trên giường bệnh đó, nhưng tôi không nhận biết được sự thương xót và một thứ bối rối mà tình hạng đó đã khơi động lên. Sau tôi quyết định lựa sơ-mi ba phần tư màu hồng, hoa trắng.

Bác sĩ T có trách nhiệm trông coi tình trạng chung của sức khỏe mẹ tôi cũng đến thăm trong khi tôi ở đấy. “Hình như cụ ăn được ít lắm thì phải? – Mùa hè này tôi buồn lắm. Tôi không có can đảm để ăn uống gì – Cụ có ghét nấu bếp không? – Nghĩa là... Tôi làm những món ăn thật ngon: rồi tôi không ăn miếng nào – A! Như vậy không phải là lười biếng: cụ tự nấu lấy những món ăn ngon à?”. Má tôi suy nghĩ: “Một lần tôi làm một món chiên có phó-mát: ăn hai muỗng nhỏ rồi bỏ cả. – Tôi hiểu rồi”. Y sĩ nói thế rồi ra vẻ thông cảm mà đi ra.

Bác sĩ J, giáo sư B, bác sĩ T, ăn mặc nghiêm trang, dầu thơm phưng phức, sạch sẽ tươm tất; họ từ trên cao cúi xuống nhìn bà cụ già đầu tóc rối bù, mặt mày ngơ ngác; những ông lớn cả. Tôi biết rõ vì sao có sự trịnh trọng phù phiếm ấy: các quan tòa đại hình trước mặt một bị can, bị can có thể mất đầu như chơi. “Cụ tự nấu lấy những món ăn ngon à?”. Không có gì đáng mỉm cười khi má tôi có thiện chí tự vấn tâm: má tôi đã đem sức khỏe mình ra đánh cuộc. Lấy tư cách gì bác sĩ B dám nói với tôi: “Cụ có thể trở lại sống bình thường.”? Tôi khước từ phương pháp của ông. Khi con người thượng lưu trong mẹ tôi nói, tôi cưỡng lại; nhưng tôi thấy tôi hợp với người già tàn tật nằm liệt giường đang chiến đấu để đẩy xa sự tê liệt, sự chết.

Trái lại, tôi có thiện cảm với các cô y tá; họ gần gũi với người bệnh vì quen với những việc dơ dáy, nhục nhã cho người bệnh, ghê tởm cho họ, ít ra việc họ để ý đến người bệnh cũng có vẻ thân hữu bề ngoài. Cô Laurent, y sĩ vận động khoa, trẻ, đẹp, giỏi, biết khuyến khích má tôi, làm cho má tôi yên lòng và tin tưởng mà không bao giờ tỏ ra mình hơn người.

Bác sĩ T kết luận: “Đến mai cụ sẽ chiếu điện”. Má tôi bối rối: “Thế phải uống một thứ thuốc rất khó uống! – không đến nỗi khó uống lắm – Khó uống chứ!”. Lúc còn một mình tôi, má tôi rên rỉ: “Con không biết chứ nó khó uống lắm! Mùi vị thật kinh khủng! – Má đừng nghĩ đến trước như vậy”. Nhưng má tôi không thể nghĩ đến cái gì khác. Từ ngày vào bệnh viện, đối với má tôi chỉ có việc ăn uống là quan trọng hơn cả. Tôi cũng ngạc nhiên rằng má tôi lo lắng như con nít vậy. Má tôi đã từng chịu đau đớn không hề nhăn mặt. Việc sợ thuốc đắng có che giấu một sự khắc khoải sâu xa hơn không? Lúc này tôi chưa tự hỏi xem thế nào.

Hôm sau họ cho tôi biết rằng chiếu điện dạ dày, phổi được trôi chảy, không có gì trắc trở. Sắc mặt thư thái, mình mặc sơ-mi hồng hoa trắng và cái áo đọc sách của Olga cho mượn, tóc bện lại thành một cái bím lớn, mẹ tôi không ra vẻ một người bệnh. Đã cử động được tay trái, mẹ tôi mở nhật trình, mở quyển sách, cầm máy điện thoại không phải nhờ ai. Thứ tư. Thứ năm. Thứ sáu. Thứ bảy. Mẹ tôi chơi ô chữ, đọc một cuốn sách về mối tình của Voltaire và một truyện của Jean de Levy kể lại cuộc thám hiểm Ba-tây, giở tờ Figaro, tờ France-Soir. Mỗi buổi sáng tôi đều đến, tôi chỉ ở lại một hai giờ, má tôi cũng không mong giữ tôi ở lại lâu hơn, cụ tiếp rất nhiều khách và thỉnh thoảng than phiền: “Hôm nay lắm khách quá”. Trong phòng đầy hoa: xích-la-men, a-da-lê, hồng, thu mẫu đơn; trên bàn, từng chồng hộp trái cây, súc-cù-là, kẹo. Tôi hỏi: “Má không buồn chứ? – Ồ, không!”. Má tôi khám phá ra cái vui thích được hầu hạ, chăm chút, vuốt ve. Trước kia má tôi phải cực nhọc lắm mới bước qua được thành bồn tắm, mà phải đỡ chân bằng cái ghế đẩu, xỏ được đôi bít-tất vào là người đau ê ẩm. Bây giờ sáng và tối đã có người nữ khán hộ thoa nước hoa và phấn talc. Cơm nước do người làm để vào mâm tươm tất: “Có người nữ y tá làm tao bực mình. Nó hỏi tao bao giờ thì ra. Nhưng tao không muốn ra”. Khi người ta cho biết má tôi sắp được ngồi vào ghế bành và sẽ thuyên chuyển sang một gian dưỡng sức, cụ sa sầm nét mặt: “Họ sẽ lôi kéo xô đẩy mình”. Tuy nhiên, có lúc má tôi để ý đến tương lai. Một người bạn chỉ cho biết một nhà dưỡng lão cách Ba-lê độ một giờ, má tôi ra vẻ thiểu não mà kêu: “Sẽ không có ai đến chơi, tao phải thui thủi một mình!”. Tôi phải nói cho má tôi yên dạ là má tôi không phải sống trơ trọi, tôi đưa cho coi danh sách những địa chỉ đã thu lượm được. Má tôi tưởng tượng ngay ra mình ngồi đọc sách hay thêu thùa dưới ánh nắng trong vườn hoa một viện dưỡng lão ở Neuilly. Má tôi lại bảo tôi, hơi ra vẻ luyến tiếc, nhưng cũng có vẻ ranh mãnh: “Trong khu phố, chắc họ nhớ má. Mấy bà ở câu lạc bộ, vắng má chắc họ cũng buồn”. Một lần, má tôi nói “Má đã sống nhiều cho người khác. Bây giờ má sẽ như những bà già ích kỷ chỉ biết sống cho mình”. Một điều làm má tôi lo ngại: “Mình sẽ không còn tự mình rửa ráy chăm nom cho mình được nữa”. Tôi vội an ủi: “Đã có một người hầu, một cô nữ y tá làm hộ. Trong khi chờ đợi má hãy nghỉ ngơi cho thỏa thích trong “bệnh viện sang nhất Ba-lê, hơn bệnh viện G nhiều”. Người ta chạy chữa cẩn thận từng ly từng tí. Ngoài việc chiếu điện còn nhiều lần thử máu, cái gì cũng bình thường. Đến tối má tôi hơi sốt, tôi muốn biết tại sao, nhưng các cô y tá hình như không cho là quan trọng.

Ngày chủ nhật, má tôi nói: “Hôm qua, tiếp nhiều khách quá, má hơi mệt”. Má tôi kém vui. Nữ y tá thường ngày đều nghỉ, cô mới vào làm đánh đổ bô nước tiểu, giường, gối ướt đẫm. Má tôi thường nhắm mắt lại trí nhớ lại lộn xộn. Bác sĩ T không đọc được những bức hình chụp của bác sĩ D, ngày mai lại phải chiếu điện một lại. “Người ta lại rửa ruột bằng baryte, đau lắm, người ta lại xốc xáo, dày vò. Tao muốn họ để cho yên thân!”. Tôi cầm lấy tay má tôi, bàn tay ướt, hơi lạnh: “Má đừng nghĩ đến trước, đừng lo ngại. Lo lắng cũng hại người”. Dần dần má tôi yên tâm, nhưng vẫn yếu hơn hôm trước. Nhiều bà bạn gọi điện thoại tới, tôi trả lời rồi bảo má tôi: “Sao mà mãi không dứt. Bà Hoàng nước Anh cũng không được trọng đãi hơn: Hoa, thư từ, kẹo bánh, rồi điện thoại nữa. Biết bao người nghĩ đến má!”. Tôi cầm bàn tay nhọc mệt của má tôi, hai mắt cụ nhắm nghiền nhưng cái miệng buồn rầu đã hé một nụ cười: “Người ta yêu má vì má vui vẻ”.

Ngày thứ hai má tôi sẽ có nhiều khách mà tôi thì bận việc quá, mãi sáng thứ ba mới đến được. Tôi đẩy cửa vào rồi đứng sững. Má tôi đã gầy thế còn gầy thêm, thân hình co quắp, nứt nẻ, khô đét, một cành nho màu hồng. Giọng nói hơi ngơ ngác, má tôi lẩm bẩm: “Họ làm người má mất hết nước”. Phải đợi đến chiều mới chiếu điện mà trong hai mươi bốn giờ không được uống nước. Rửa ruột bằng baxyte không đến nỗi đau đớn, nhưng khát nước và lo lắng đã làm má tôi mệt nhoài. Nét mặt má tôi đã rã rượi, sự khổ cực còn làm cho co rúm lại. “Chiếu điện thấy thế nào các cô?”. Mấy cô y tá kinh ngạc trả lời “Chúng tôi không biết coi”. Tôi đến thăm bác sĩ T. Lần này cũng không rõ vết tích gì; theo ông thì không có chỗ thịt sưng thành cái “túi”, nhưng ruột bị thắt lại, vì nguyên do thần kinh ruột quặn làm cho không tác động được từ hôm qua. Tuy rằng mẹ tôi một mực lạc quan, nhưng mẹ tôi là người nóng nảy, tư lự, điều đó cắt nghĩa tại sao má tôi hay giật gân. Tiếp khách vất vả quá, má tôi phải bảo tôi gọi điện thoại xin thôi không mời cha P, ông cha rửa tội. Má tôi nói ít và không hề mỉm cười.

“Chiều mai con lại nhé má!”. Tôi chào má tôi rồi đi ra. Đêm ấy dì nó tới, sáng hôm sau vào bệnh viện. Chín giờ tối, chuông điện thoại kêu. Đó là bác sĩ B. “Bà có bằng lòng cho tôi để một người gác đêm gần cụ không? Cụ yếu lắm. Bà định chiều mai đến à, có lẽ nên đến buổi sáng thì hơn”. Sau cùng ông cho biết là có một chỗ sưng làm bế tắc ruột: một cái ung thư.

Ung thư. Người ta cũng cảm thấy. Mà lại còn rành rành trước mắt nữa; mắt quầng, người ốm nhom. Nhưng thầy thuốc của má tôi đã gạt giả thuyết ấy đi. Cái đó cũng không lạ: cha mẹ vẫn là người cuối cùng công nhận rằng con mình điên, con cái cũng là người cuối cùng công nhận rằng mẹ mình ung thư. Chúng tôi càng ít tin vì suốt đời má tôi sợ ung thư. Năm bốn mươi tuổi, nếu má tôi va ngực vào bàn, má tôi hốt hoảng: “Tao sợ ung thư vú quá!”. Mùa đông mới rồi, một người bạn của tôi phải mổ ung thư dạ dày: “Rồi má cũng mắc bệnh ấy”. Tôi nhún vai: “Từ bệnh ung thư đến bệnh hư ruột trị bằng mứt me khác nhau nhiều”. Chúng tôi không thể tưởng tượng được điều ám ảnh mẹ tôi lại có thể đúng với sự thực. Tuy nhiên, sau này dì nó mới nói – Francine Diato đã nghĩ đến ung thư: “Tôi biết cái bộ dạng ấy, cái mùi ấy”, dì nó nói thêm như vậy. Tất cả đều sáng lòe ra. Ở Alsace, má tôi khó ở vì cái ung thư đó. Cũng cái ung thư làm má tôi chết ngất và ngã quỵ. Hai tuần nằm liệt giường, ruột bị đe dọa từ lâu nay tắc nghẹt.

Poupette gọi điện thoại cho má nhiều lần, tưởng rằng má khỏe khoắn rồi. Dì nó thân với mẹ hơn nên quyến luyến hơn. Tôi không thể để nó đến bệnh viện bất thần thấy mẹ có bộ mặt người hấp hối. Dì nó vừa tới bằng xe hỏa, tôi vội gọi điện thoại đến nhà Diato để nói chuyện với nó. Dì nó đã ngủ rồi: lúc dậy sẽ kinh hãi biết bao!

Ngày thứ tư mùng sáu tháng một này có cuộc đình công ngành vận tải, hơi đốt và điện lực. Tôi đã nhờ Bost đưa xe đến đón tôi. Đến nơi, giáo sư B lại gọi điện thoại cho tôi: má tôi nôn mửa suốt đêm, chắc không qua khỏi được ngày hôm nay.

Phố xá không đến nỗi kẹt xe như tôi tưởng. Đến mười giờ tôi gặp Poupette đứng trước cửa phòng 114. Tôi nhắc lại lời giáo sư B. Dì nó cho tôi biết rằng từ sáng nay, bác sĩ N ráng làm cho má tôi hồi sinh; ông ta sẽ thòng một cái ống qua mũi để rửa dạ dày. Poupette khóc sướt mướt: “Nếu biết không thể cứu được thì làm khổ má để làm gì? Để má chết được yên ổn”. Tôi dắt Poupette đến chỗ Bost đứng đợi ngoài phòng khách để anh đưa đi uống ly cà phê. Bác sĩ N đi qua, sắp vào phòng, tôi ngăn lại: ông ta mặc áo choàng trắng, đội ca-lô trắng, người còn trẻ, ra vẻ kín đáo: “Sao lại phải rửa ruột? Hành hạ má tôi làm gì khi đã hết hy vọng?”. Ông ta nhìn tôi dữ như sấm sét: “Tôi làm cái gì tôi phải làm”. Ông ta đẩy cửa vào. Một lát sau người nữ khán hộ bảo tôi vào.

Cái giường lại để về chỗ cũ, đầu áp vào tường. Bên trái, một cái ống nhỏ giọt nối vào cánh tay má tôi. Một cái ống lát-tích trong suốt từ trong mũi ra, đi qua những máy móc rắc rối rồi thông vào một cái bình. Mũi má tôi cau lại, mặt thêm nhăn nheo, người có vẻ cam chịu để người khác sai khiến. Má tôi lẩm bẩm nói rằng cái ống không làm khó chịu lắm, nhưng đêm qua đau đớn quá. Khát nước mà không được uống; người nữ y tá đưa gần miệng một cái ống con nhúng vào một ly nước, chỉ được nhắp ướt môi chứ không được nuốt; tôi bị thôi miên bởi cử chỉ mút ống nước, vừa thèm thuồng vừa rụt rè, môi phớt làn lông tơ phồng lên như hồi tôi còn thơ ấu, má tôi bất bình hay bực tức. “Bà có ưng cho người ta để cái này trong dạ dày cụ không?”. Bác sĩ N nói giọng gay gắt tay chỉ cái bình đầy một chất vàng vàng. Tôi không trả lời. Ra ngoài hành lang, ông ta bảo tôi: “Lúc tang tảng sáng cụ chỉ còn sống được chừng bốn giờ nữa. Tôi đã làm thuốc hồi sinh”. Tôi không dám hỏi ông ta: để làm gì? Y nghiệm của các bác sĩ chuyên khoa. Em tôi đứng gần tôi trong khi một y sĩ và một y sĩ giải phẫu, bác sĩ P, lấy tay nắn bụng mẹ tôi, cái bụng căng phồng, mẹ tôi rên rỉ và kêu la. Tiêm a phiến. Mẹ tôi vẫn rên rỉ. Chúng tôi yêu cầu: “Tiêm cho mẹ tôi mũi nữa!”. Họ nói rằng chích nhiều a phiến quá đại tiểu trường sẽ bị tê liệt. Như vậy họ hy vọng gì? Vì có cuộc đình công, điện bị cắt, họ gửi máu đi thử nhờ bên bệnh viện Mỹ, bên ấy có máy phát điện riêng. Họ nghĩ đến việc giải phẫu chăng? Không thể được, vì bệnh nhân yếu quá, viên y sĩ giải phẫu đã nói với tôi như vậy lúc đi ra khỏi phòng. Ông đi khỏi thì một bà y tá già, bà Gontrand, nghe rõ chuyện, vội bảo tôi rằng: “Đừng để họ mổ cụ nhà!”. Rồi bà ta để ngón tay lên miệng: “Bác sĩ N sẽ la tôi nếu biết rằng tôi nói với bà như thế! Thật tôi làm như là chính mẹ tôi vậy”. Tôi hỏi bà y tá: “Nếu mổ thì sao?”. Nhưng bà ta đã ngậm kín miệng lại không trả lời tôi.

Má tôi đã thiu thiu ngủ; tôi ghi lại số điện thoại cho Poupette rồi ra đi. Vào khoảng năm giờ, khi dì nó gọi tôi ở nhà Sartre, thì giọng nói tỏ ra có chút hy vọng: “Y sĩ giải phẫu muốn mổ xem sao. Phân tích máu xem ra rất khả quan; má đã có sức lực, tim có thể chịu đựng được. Vả chăng ông ta cũng không biết chắc là bệnh ung thư: có lẽ chỉ là trường hợp sưng phúc mô. Nếu quả vậy thì má may lắm đó. Chị đồng ý chứ? (Không để họ giải phẫu). – Tôi đồng ý. Mấy giờ? – Chị hãy đến vào độ hai giờ. Mình không nói là sẽ mổ mà chỉ nói là chiếu điện lại thôi.”

“Không cho giải phẫu”. Lý lẽ yếu ớt trái với quyết định của một bác sĩ chuyên khoa, trái với hy vọng của dì nó. Nếu má tôi không tỉnh lại thì sao? Đó không phải là giải pháp dở nhất. Và tôi cũng không cho rằng một bác sĩ lại để đến nỗi thế: má tôi sẽ chịu được cuộc giải phẫu. Giải phẫu sẽ làm cho bệnh nhanh chóng trở nên trầm trọng? Chắc là bà Gontrand muốn nói như vậy. Nhưng ruột đã bị tắc như thế, chắc má tôi không qua được ba ngày, mà tôi e rằng lúc hấp hối sẽ đau đớn lắm.

Một giờ sau, Poupette khóc nức nở ở đầu dây nói: “Chị đến ngay. Họ đã mổ bụng ra; họ thấy một cái ung thư rất lớn”. Sartre xuống dưới đường với tôi, đưa tôi lên tắc-xi đến tận bệnh viện, cổ tôi nghẹn ngào vì lo lắng. Một y tá chỉ cho biết căn phòng đợi ở giữa lối vào và phòng mổ. Em tôi đã có mặt ở đấy. Nom dì nó tiều tụy quá, tôi phải xin cho nó một viên thuốc an thần. Em tôi nói rằng các y sĩ đã lấy giọng tự nhiên báo cho má tôi biết sẽ chích mũi thuốc chỉ thống trước khi chiếu điện, bác sĩ N đã đánh thuốc mê; suốt trong lúc chụp thuốc mê Poupette cầm tay má, tôi tưởng tượng ra dì nó đã phải đau khổ đến thế nào khi chứng kiến thân hình tàn phá của má tôi để trần truồng. Hai mắt xếch xéo, miệng há hốc: khuôn mặt ấy, chắc không bao giờ nó quên được. Họ đã đưa má tôi vào phòng mổ, một lát sau bác sĩ N bước ra: hai lít mủ trong bụng, phúc mô bị vỡ, một chỗ sưng lớn, một ung thư thuộc loại độc nhất. Bác sĩ giải phẫu còn đang lấy ra tất cả cái gì có thể cắt đi được. Trong khi chúng tôi đợi, cô em họ Jeanne dẫn con gái là Chantal đến; cô ta ở Limoges về và tưởng rằng má tôi nằm yên ổn trên giường bệnh: cháu Chantal mang lại một quyển ô chữ. Chúng tôi tự hỏi không biết phải nói gì khi má tôi tỉnh dậy. Tưởng cũng giản dị lắm: chiếu điện thấy sưng phúc mô và người ta quyết định phải giải phẫu ngay.

Bác sĩ N nói đã đưa má tôi về buồng nằm. Ông ta đã thắng cuộc: buổi sáng má tôi gần như tắt thở, giờ má tôi chịu được một cuộc giải phẫu lâu và quan trọng. Nhờ phương pháp đánh thuốc mê tối tân, tim, phổi và toàn thể các cơ quan đều tác động như thường. Em tôi đã nói với bác sĩ: “Xin ông cứ mổ. Nhưng nếu là ung thư thì xin ông hứa rằng không để mẹ tôi phải đau đớn”. Ông ta đã hứa. Nhưng lời hứa của ông ta có giá trị gì không?

Má tôi nằm ngủ, nằm dán lưng xuống giường, nước da vàng ệnh như màu sáp, mũi cau lại, miệng há hốc. Em tôi và một người gác ở lại với má tôi. Tôi trở về nhà, tôi nói chuyện với Sartre, chúng tôi nghe nhạc Bartok. Bất thần, đến 11 giờ đêm, nước mắt tôi tràn ra, rồi thần kinh tôi bị xúc động quá mạnh.

Người ngây ngất tê mê. Khi ba tôi mất, tôi không có giọt nước mắt nào. Tôi đã bảo em tôi: “Đối với má, chắc cũng vậy”, cho đến đêm nay, tôi mới hiểu sự đau khổ của tôi: dù rằng mình bị đau khổ đè nặng lên người, mình vẫn hiểu mình qua sự đau khổ ấy. Lần này thì tôi không tự kiểm soát được sự đau khổ, trong người tôi có một người khác đang than khóc. Tôi nói với Sartre qua miệng của má tôi đúng như tôi đã trông thấy sáng hôm nay, tôi nói ra tất cả cái gì tôi có thể nhận thấy: sự thèm thuồng của ngon vật lạ không được thỏa mãn, sự nhún nhường đến gần như đớn hèn, niềm hy vọng, sự khốn cực, nỗi cô đơn mà mình không muốn tự thú nhận – cô đơn vì lẽ tử sinh – Sartre đã bảo tôi rằng cái miệng của tôi không nghe theo ý muốn của tôi nữa; tôi đã đặt miệng của má tôi lên mặt tôi và bắt chước điệu bộ của má tôi ngoài ý muốn của tôi. Cả cá nhân của má tôi, cả cuộc đời của má tôi đã thể nhập vào tôi, tôi như bị tước xé vì sự cảm thông đó.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.