Một Cái Chết Rất Dịu Dàng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Vừa tỉnh dậy tôi đã gọi điện thoại cho em tôi. Má tôi đã tỉnh hẳn từ lúc nửa đêm; bà biết rằng người ta vừa giải phẫu và cũng không kinh ngạc lắm. Tôi gọi một cái tắc-xi. Vẫn con đường ấy, vẫn mùa thu ấm áp, trời xanh ngắt, vẫn bệnh viện ấy. Nhưng tôi đi vào một đoạn truyện khác: má tôi đáng lẽ khỏi bệnh ăn lại sức thì lại đến lúc hấp hối. Trước kia, tôi đến đây hàng mấy giờ vô tư lự; tôi đi qua hàng hiên một cách thản nhiên. Biết bao thảm kịch xảy ra sau những chiếc cửa kín mít, không lọt ra ngoài chút gì. Tôi lên cầu thang càng mau... Và càng chậm bao nhiêu càng hay. Trên cửa bây giờ có tấm biển: “Xin miễn vào thăm”. Khung cảnh đã thay đổi. Cái giường vẫn để như trước, hai bên để trống không có đồ đạc gì. Kẹo cất vào ngăn, cả sách báo nữa. Trên cái bàn lớn ở một góc nhà, không còn hoa mà chỉ có chai lọ, bóng thủy tinh, ống thủy tinh. Mẹ tôi ngủ, không có ống thở ở mũi, nom đỡ thảm; nhưng ở dưới gầm giường, bình và ống thông với dạ dày và ruột. Cánh tay trái nối vào một cái bình nhễu giọt. Má tôi không mặc áo quần gì cả: áo đọc sách vắt như một cái mền lên mình và vai để trần. Một nhân vật mới xuất hiện: người gác riêng, cô Leblon, yểu điệu như một bức chân dung của Ingris; một cái mũ xanh trùm kín tóc, chân bọc vải trắng; cô ta canh chừng cái bình nhễu giọt, tay lắc bình thủy tinh để làm tan huyết tương. Dì nó nói rằng, theo bác sĩ có thể sống thêm được vài tuần, có khi vài tháng. Dì nó hỏi giáo sư B: “Khi lại đau nữa thì biết nói gì với má tôi? – Bà đừng lo. Rồi sẽ kiếm kế, bao giờ cũng kiếm được cớ. Người bệnh bao giờ cũng tin mình.”

Buổi quá trưa, má tôi mở mắt; giọng nói không rõ lắm nhưng người sáng suốt: “Má à! Má gẫy chân, người ta giải phẫu ruột dư!”. Má tôi giơ ngón tay, lẩm bẩm có vẻ kiêu hãnh: “Không phải ruột dư mà sưng màng ruột”. Mẹ tôi nói thêm: “Thật là may mắn, bệnh chỉ có thế – Con về đây mẹ bằng lòng chứ? – Không. Má không muốn”. Bệnh sưng màng ruột: bệnh viện này đã cứu sống má. Chúng tôi bắt đầu lừa dối má. “Bỏ được cái ống thở đi thật sung sướng quá”. Gột sạch chất dơ làm căng phồng bụng, má tôi không đau đớn gì nữa. Có hai con gái ở bên giường bệnh, má tôi tưởng mình được an toàn. Khi hai bác sĩ N và P bước vào, mẹ tôi thỏa mãn mà nói: “Tôi không bị bỏ rơi.”, rồi nhắm mắt lại. Họ bàn bạc với nhau: “Lạ quá, bà cụ chóng lại người thế! Thật là kỳ lạ!”. Quả thế thật. Nhờ truyền máu và tiếp sức, mặt má tôi hồng hào, nom có vẻ khỏe mạnh. Cái thân hình đau đớn nằm lịm trên giường hôm trước nay đã trở lại là một người.

Tôi chỉ cho má tôi cuốn sách chơi ô chữ của Chantal mang lại. Má tôi ấp úng nói với người gác riêng: “Tôi có cuốn tự điển Larousse, cuốn mới tái bản, tôi mua chỉ để chơi ô chữ”. Cuốn tự điển ấy là một nguồn vui thích cuối cùng của má tôi; má tôi đã nói đến từ lâu trước khi mua; mỗi lần tôi mở coi, má tôi vui vẻ ra mặt. Tôi nói: “Con sẽ mang lại – Ừ, cả cuốn Nouvel Oedipe nữa, má không tìm thấy hết...”. Phải lượm lấy ngay ở một tiếng nói mà má tôi bứt từ trong người ra bằng hơi thở, sự bí hiểm của những câu nói cũng làm cho người ta bối rối như những sấm ngữ. Kỷ niệm, dục vọng, lo âu phảng phất ở ngoài thời gian, tiếng nói vẩn vơ và cái chết trước mắt đã biến thành những giấc mộng hư ảo và xót xa.

Má tôi ngủ rất nhiều, thỉnh thoảng hút vài giọt nước bằng cái ống nhỏ rồi nhổ vào một chiếc khăn giấy, người gác để áp vào miệng. Đến tối, má tôi bắt đầu ho; cô Laurent đến lấy tin tức đã nâng dậy, thoa bóp và giúp mẹ tôi khạc nhổ. Bấy giờ mẹ tôi mỉm cười với cô: lần thứ nhất từ bốn ngày nay.

Poupette định ngủ đêm tại bệnh viện. Dì nó bảo tôi: “Chị đã có mặt lúc ba và bà nội chết, còn tôi ở xa; để tôi trông coi má. Vả lại tôi muốn ở bên má”. Tôi đồng ý. Má tôi ngạc nhiên: “Sao lại muốn ngủ ở đây? – Con vẫn ngủ trong phòng Lionel khi anh ấy đi mổ, người ta vẫn thường làm thế – À! Thế cũng được!”.

Lúc trở về, tôi lên cơn cảm sốt. Ở trong bệnh viện nóng bức ra, tôi bị lạnh vì trời thu ẩm ướt; tôi đi ngủ, thuốc cảm làm đờ đẫn cả người. Tôi không khóa máy điện thoại; má tôi có thể tắt nghỉ bất cứ lúc nào, như một ngọn nến, như lời thầy thuốc nói, dì nó thấy chút gì báo động phải gọi tôi ngay. Chuông kêu vào lúc bốn giờ sáng làm tôi bật dậy. “Phút cuối cùng đây”. Tôi cầm lấy ống nghe, một tiếng nói lạ: lầm số. Tôi chỉ ngủ lại lúc tang tảng sáng. Tám rưỡi: chuông lại kêu; tôi lại vội vàng cầm máy: không có gì quan trọng. Tôi ghét cái máy màu linh cữu này: “Cụ nhà bệnh ung thư. – Cụ nhà không qua khỏi đêm nay”. Một ngày kia nó sẽ rền rĩ bên tai tôi: “Tắt nghỉ rồi.”

Tôi đi qua vườn, vào phòng lớn. Tưởng như trong một phi cảng: bàn thấp, ghế tân thời, người ta hôn nhau, chào hỏi hay từ giã, người khác ngồi đợi, va-li, đồ xách tay, hoa trong bình, bó hoa bọc giấy bóng như để đón người sắp đến... Nhưng trên các khuôn mặt, qua tiếng thì thào, người ta cảm thấy có cái gì mờ ám. Thỉnh thoảng từ cửa trong cùng hiện ra một người mặc toàn đồ trắng, có vết máu ở giày. Tôi lên một tầng gác. Bên trái là một hàng hiên dài với các phòng, phòng các cô khán hộ, phòng giấy. Bên phải, là căn tiền phòng vuông vắn, trong kê một cái ghế dài và một cái bàn giấy trên để một máy điện thoại trắng. Một bên trông ra phòng đợi, bên kia trông sang phòng 114. “Xin miễn vào thăm”. Sau cửa, tôi thấy một khúc ống cao su, bên trái là phòng rửa mặt với bồn tắm, bông gòn, bình; bên phải là ngăn xếp đồ dùng của má tôi; trên bướm treo cái áo đỏ mặc trong nhà đầy bụi. “Má không muốn trông thấy cái áo trong nhà ấy nữa”. Tôi đẩy cánh cửa thứ hai. Trước đây, tôi đi qua chỗ này mà không trông thấy gì cả. Bây giờ tôi biết rằng những đồ vật ấy sẽ mãi mãi chiếm chỗ trong đời tôi.

Má tôi nói: “Má thấy dễ chịu lắm”. Bà còn nói thêm, ra vẻ hí hởn: “Hôm qua, thầy thuốc nói chuyện với nhau, má nghe được họ bảo: Thật là kỳ lạ!”. Câu ấy làm má tôi khoan khoái: bà thường nhắc đến một cách cẩn trọng, như một câu thần chú phù hộ cho bà chóng khỏi. Tuy nhiên má tôi còn yếu lắm, điều cần thiết hơn cả là tránh cái gì làm mệt đến người. Má tôi mơ màng được nuôi dưỡng bằng cách tiếp huyết tương suốt đời: “Từ rày má sẽ không ăn nữa – Sao vậy! Má xưa nay vẫn hay ăn lắm mà. – Không tao sẽ không ăn nữa”. Cô Leblon lấy một cái lược và một cái bàn chải để chải đầu cho má tôi, bà ra lệnh một cách hách dịch: “Cô cắt tóc đi cho tôi”. Chúng tôi phản đối. “Các người làm tôi mệt: cứ cắt di”. Má tôi chú trọng đến điều ấy một cách bướng bỉnh quái dị; hình như bà muốn hy sinh như thế để cầu lấy sự yên ổn từ đây. Cô Leblon từ tốn tháo bím tóc và gỡ mối tóc rối; cô bện tóc lại, gài kim và quấn lên đầu, sắc diện má tôi thư thái trở lại đôn hậu lạ lùng. Tôi nghĩ đến một bức họa của Léonard de Vinci vẽ một bà cụ rất đẹp: “Coi má đẹp như một bức tranh của Léonard de Vinci”. Má tôi mỉm cười: “Ngày trước má không đến nỗi xấu”. Giọng hơi bí hiểm, má tôi tâm sự với người gác: “Trước kia, tóc tôi rất đẹp, tôi quấn lên trên đầu”. Rồi bà nói đến mình: bà đã thi được bằng thủ thư thế nào, tính bà yêu quý sách thế nào. Cô Leblon trả lời bà trong khi chế một bình huyết tương; cô cho tôi biết bình nước trong ấy cũng có gờ-luy-cô và muối kim khí. Tôi nói: “Một thứ cốc-tay thực sự.”

Suốt ngày hôm ấy chúng tôi làm cho mẹ rối rít vì dự định tương lai. Mẹ tôi nhắm mắt nằm nghe. Hai vợ chồng dì nó vừa mua được một cái ấp cũ kỹ ở Alsace và sắp chỉnh trang để ở. Má tôi sẽ ở một căn phòng lớn biệt tịch để dưỡng sức cho thật khỏe. “Nhưng má ở lâu sợ phiền cho Lionel? – Không hề gì má ạ – Phải, ở đấy tao không làm phiền ai. Ở Sharrachbergen chật chội, cũng có phiền hà thật”. Chúng tôi nói đến Meyrignac. Má tôi thấy lại kỷ niệm lúc còn là người vợ trẻ. Đã từ bao năm nay, má tôi khoan khoái mà nói cho nghe những sự tu bổ. Má tôi rất yêu mến cô Jeanne, ba đứa con gái lớn xinh đẹp tươi tắn và vui vẻ đều ở Ba-lê, chúng đến bệnh viện luôn: “Má không có cháu gái, còn chúng nó không có bà”, má tôi giải thích với cô Leblon như thế. “Thành ra tôi là bà của mấy cháu”. Khi má tôi chợp ngủ, tôi mở một tờ nhật trình; má tôi mở mắt ra và hỏi: “Ở Sài Gòn có chuyện gì thế?”. Tôi kể lại. Một lần, má tôi nói ra vẻ trách móc nhưng chỉ để vui câu chuyện thôi: “Người ta đã đánh lừa tao để mổ tao.”, và khi bác sĩ P vào, bà nói bông đùa: “Đây, đao phủ đây!”. Ông ta đứng gần má tôi một lúc; ông ta bảo: “Tuổi nào người ta cũng phải học”, má tôi bèn trả lời, giọng hơi trịnh trọng: “Phải rồi. Tôi học được rằng tôi bị sưng màng ruột”. Tôi cũng theo má tôi nói cho vui: “Má cũng không phải tầm thường! Má vừa vá xương đùi, người ta lại mổ màng ruột! – Đúng thế, tôi không phải người thường”. Trong nhiều ngày, má tôi khoan khoái vì chỗ lầm lộn ấy: “Má đã chơi khăm một vố cho giáo sư B. Ông ta phải mổ xương đùi. Còn bác sĩ P thì lại mổ màng ruột.”

Hôm ấy, điều làm cho chúng tôi cảm động là má tôi chú ý đến những cảm giác thích thú nhỏ nhoi: má tôi làm như đến năm 78 tuổi mới bắt đầu bừng tỉnh để thấy những kỳ lạ của đời sống. Trong khi người khác thu dọn chăn gối, một cái ống sắt chạm vào đùi: “Chà, mát lạnh! Dễ chịu thật!”. Má tôi hít mùi nước hoa, mùi phấn: “Thơm tho lắm!”. Má tôi cho xếp đặt bó hoa và các chậu hoa lên cái bàn đẩy: “Những đóa hoa hồng nhỏ kia trồng ở Meyrignac”. Má tôi bảo quấn màn che cửa lên và nhìn đám lá cây nhuốm nắng hồng qua cửa kính: “Nom đẹp quá, ở nhà chả bao giờ mình thấy thế này!”. Má tôi mỉm cười. Tôi và dì nó cùng chung một ý nghĩ: chúng tôi thấy lại nụ cười đã làm tươi sáng tuổi thơ ấu chúng tôi, một nụ cười rạng rỡ của người thiếu phụ. Từ đấy đến nay, nụ cười đã rất đâu?

Poupette nói: “Nếu má được vài ngày hạnh phúc như thế, thì kéo dài cuộc sống cũng đáng”. Nhưng sẽ phải trả giá thế nào?

Ngày hôm sau, tôi nghĩ: “Đây là phòng người chết”. Một tấm màn xanh nặng nề che kín cửa. (Tấm màn đã hư, không hạ xuống được, nhưng trước kia ánh sáng không làm mẹ tôi khó chịu). Má tôi nằm lịm trong chỗ tối, mắt nhắm nghiền. Tôi cầm lấy tay, má tôi lẩm bẩm: “Simone đấy à, má không trông thấy con!”. Poupette đi khỏi, tôi mở một cuốn tiểu thuyết trinh thám. Thỉnh thoảng má tôi than phiền: “Má không còn sáng suốt nữa”. Má tôi phàn nàn với bác sĩ P: “Tôi đã hôn mê – Nếu cụ hôn mê cụ đã không biết là cụ hôn mê”. Câu trả lời làm má tôi phấn khởi. Sau này, má tôi làm ra vẻ trầm ngâm mà nói: “Má đã chịu được một cuộc giải phẫu quan trọng. Phải mổ vì một bệnh nặng”. Tôi nói thêm vào, dần dần má tôi yên tâm. Tối hôm qua, má tôi đã nằm mơ, tuy hai mắt mở: “Có nhiều người trong một căn phòng, những người dữ tợn, mặc áo xanh, muốn lôi má đi và cho uống cốc-tay. Còn ba đuổi họ đi...”. Tôi đã nói tiếng cốc-tay nhân lúc cô Leblon pha thuốc; cô này đội mũ xanh; những người đàn ông là những cô nữ khán hộ đã đưa má tôi vào phòng mổ. “Phải rồi, chắc là thế...”. Má tôi bảo mở cửa sổ “Không khí mát mẻ, dễ chịu thật”. Chim hót, má tôi khoan khoái: “Chim chóc!”. Trước khi tôi đi ra, má tôi còn nói: “Lạ thật. Má thấy ánh sáng vàng trên má bên trái. Y như là có miếng giấy vàng trên má. Một tia sáng đẹp đẽ qua mảnh giấy vàng: như thế dễ chịu lắm”. Tôi hỏi bác sĩ P: “Cuộc giải phẫu như thế là thành công chứ? – Thành công nếu tiểu trường tác động trở lại. Đợi hai ba ngày nữa sẽ biết.”

Tôi có cảm tình với bác sĩ P. Ông ta không làm ra vẻ quan trọng, ông ta nói năng với má tôi, đối xử với người đối thoại với mình có tư cách một người, ông sẵn lòng trả lời những câu hỏi của tôi. Trái lại, tôi với bác sĩ N không ưa nhau, vẻ người lịch sự, thể thao, hoạt động, say sưa kỹ thuật, ông ta tận tình hồi sinh cho mẹ tôi; như mẹ tôi đối với ông chỉ là vật để thí nghiệm chứ không phải một người. Ông ta làm chúng tôi phát sợ. Má tôi có một người bà con cũng là người già cả, người ta làm cho hôn mê trong sáu tháng. Mẹ tôi nói: “Má mong rằng con đừng để họ làm hôn mê lâu như thế, thật là ghê tởm!”. Nếu bác sĩ N có ý muốn chiếm kỷ lục thì thật là nguy hiểm.

Sáng chủ nhật, Poupette buồn rầu mà bảo tôi: “Họ đã thức má tỉnh dậy để xem sao nhưng không có kết quả. Tại sao lại hành hạ người ta vậy?”. Lúc bác sĩ N đi qua, tôi giữ ông lại, tự ông, không bao giờ ông nói với tôi. Tôi lại van nài ông ta “Đừng làm khổ má tôi”. Ông ta phật ý trả lời: “Tôi không làm khổ, tôi làm bổn phận của tôi.”

Màn cửa kéo lên, căn phòng đỡ tối. Má tôi nhờ mua cho cặp kính râm. Khi tôi bước vào, má tôi bỏ kính: “À ngày hôm nay, má nhìn thấy con!”. Má tôi thấy người khỏe khoắn, bà hỏi một giọng bình thản: “Này! Má có nửa người bên phải không? – Sao vậy, thì má vẫn có chứ. – Kỳ quá, hôm qua họ bảo má tươi tỉnh. Nhưng chỉ tươi tỉnh về phía bên trái. Má thấy nửa bên kia xám xịt. Hình như không có phía bên phải, người tao đã phân đôi. Bây giờ mới hợp lại một chút.”

Tôi sờ tay vào má bên phải: “Má thấy gì không? – Có, nhưng chỉ như trong giấc mơ”. Tôi sờ má bên trái: “Bên này thì có thực”. Xương đùi gãy, cái ung, chỗ băng bó, ống thở ở mũi, tiếp huyết tương, tất cả đều ở phía người bên trái. Có phải vì thế mà nửa người bên kia như không có chăng? “Sắc diện má tươi tỉnh, các bác sĩ đều vui vẻ về má – Đâu có, bác sĩ N không bằng lòng, ông ta muốn tao đánh hơi được”. Má tôi mỉm cười với mình: “Khi ra khỏi đây, mình sẽ gửi tặng ông ta ít kẹo súc-cù-là.”

Nệm bơm, hơi thoa bóp ngoài da, gối để kê giữa hai đầu gối, nệm đội cao lên cũng không chạm vào; một phương pháp khác giữ cho gót chân khỏi đụng xuống nệm tuy thế nhưng người cũng bắt đầu có nhiều chỗ đóng vẩy mục. Háng tê liệt vì sưng khớp xương, cánh tay phải gần như bất động, cánh tay trái ghì chặt vào ống nhễu giọt, má tôi không thể cử động được chút nào. “Để người má cao lên một chút”. Má tôi bảo thế, nhưng một mình tôi không dám làm. Tôi không khó chịu vì người má tôi không có áo quần: không phải má tôi nữa, chỉ là một cái thân thể bị cực hình. Tuy nhiên tôi vẫn sợ sự bí mật kinh khủng mà tôi linh cảm thấy ở dưới lớp vải. Tuy tôi không tưởng tượng ra nó thế nào, vả lại tôi sợ làm đau má tôi. Sáng hôm ấy phải rửa người lại, cô Leblon cần tôi giúp một tay.

Tôi ôm dưới nách cái thân thể chỉ bọc lần da xanh và ướt nhẹp. Khi đặt nằm nghiêng bên phải, mặt má tôi nhăn lại, mắt đảo lên, má tôi kêu la: “Té mất!’’. Má tôi nhớ lại lúc bị té. Tôi đứng trên đầu giường giữ lấy má tôi và an ủi má tôi.

Chúng tôi lại để má nằm ngửa, gối chèn cẩn thận. Sau một lát, má tôi kêu lên: “Má vừa mới đánh hơi!”. Lát sau má tôi hỏi: “Mau mau! Cho cái bô!”. Cô Leblon và một người nữ khán hộ tóc đỏ tìm cách đặt má lên bô; má tôi kêu la; thấy người má bị nghiến vào thành kim khí rắn và sáng loáng, tôi có cảm tưởng rằng họ đặt má lên lưỡi dao. Hai người đàn bà cố giữ má tôi lại, lôi kéo má tôi, người đàn bà tóc đỏ cằn nhằn, má tôi kêu la, người cứng ra vì đau đớn. Tôi vội bảo: “Thôi để yên cho má tôi!”. Tôi theo mấy người khán hộ ra ngoài: “Thôi! Để má tôi tiểu ra khăn nệm cũng được – Nhưng làm như vậy tủi nhục quá, người ốm không chịu được đâu, cô Leblon nói – Người sẽ ướt đầm, làm khó chịu chỗ đóng vẩy mục, người khán hộ tóc đỏ nói – Mỗi lần đi tiểu xong cô thay khăn nệm đi”. Tôi trở lại bên má tôi; má tôi nói giọng như trẻ con: “Chị tóc đỏ này người độc ác lắm”. Mẹ tôi buồn rầu nói thêm: “Thế mà má không cho rằng mình được săn sóc từng ly từng tí! – Má không được như thế”. Tôi lại bảo má tôi: “Má cứ đi tiểu không cần bô, họ sẽ thay khăn nệm, không có gì rắc rối cả – Ừ”; má tôi cau mày, vẻ mặt cả quyết, mà nói như thách thức: “Người chết vẫn đái ra nệm”.

Tôi như bị tắc hơi thở. “Chịu nhục đến như vậy sao!”. Má tôi sống đầy tự ái kiêu căng thế mà không thấy xấu hổ. Đó cũng là một hình thức can đảm đối với một người duy tâm mô phạm mà quả quyết nhận những ràng buộc của xác phàm như má tôi.

Người ta đã thay đồ, rửa ráy, xức dầu thơm cho má tôi. Bây giờ đến lúc chích một mũi thuốc khá đau, chắc để trừ niệu tố không bài tiết được ra đường tiểu. Má tôi có vẻ mệt nhọc đến nỗi cô Leblon ngần ngại, bà bèn nói: “Cứ chích đi”. Chúng tôi lại đặt má tôi nằm nghiêng; tôi giữ má tôi và tôi nhìn khuôn mặt bối rối lo âu lẫn lộn với can đảm, hy vọng, “Vì chích cái đó tốt”. Chích để khỏi bệnh. Chích để chết.

Tôi những muốn xin lỗi người nào đó.

Ngày hôm sau, tôi biết rằng buổi quá trưa hôm ấy yên lành lắm. Một người khán hộ trẻ tuổi thay cô Leblon, Poupette bảo má tôi: “Má hên lắm đấy, được một người gác trai trẻ và tử tế như thế – Phải, coi nó đẹp trai – Má biết xem người đấy chứ! – Ô! Đâu có biết nhiều, má tôi nói giọng nhớ nhung – Sao? Má có gì nhớ tiếc? – À! Má vẫn nói với các cháu: Các cháu ạ, hãy tận hưởng cuộc đời – Con biết, vì thế mà chúng nó rất yêu mến má. Nhưng sao má không nói vậy với con gái?”. Thế là bất thình lình má tôi trở nên nghiêm nghị: “Bảo con gái thế à? Không được!”. Bác sĩ P đưa đến một bà già tám mươi tuổi sợ hãi vì hôm sau phải mổ: má tôi đem trường hợp mình ra làm thí dụ để khiển trách bà cụ.

Đến thứ hai, mẹ tôi thích chí mà bảo rằng: “Họ đem mình ra để làm quảng cáo”. “Không biết phía bên phải của má đã trở lại chưa? Mình có thật có một phía bên phải không? – Có chứ. Má trông vào gương xem”. Em tôi nói thế, má tôi nhìn vào gương ra vẻ không tin, bà nghiêm khắc, kiêu kì: “Người này mà là tao à? – Chứ ai, má thấy mặt má có đầy đủ đấy nhé – Người má xanh mét – Tại ánh sáng đấy. Thực ra má đỏ đắn”. Thực ra má tôi tươi tỉnh lắm. Khi má: tôi mỉm cười với cô Leblon, má tôi bảo: “À, lần này thì tôi cười cả miệng. Trước tôi cười chỉ có nửa miệng.”

Đến quá trưa, má tôi không cười nữa. Nhiều lần má tôi nhắc lại một cách kinh ngạc và chê bai: “Nhìn vào trong gương mới thấy mình xấu thế!”. Đêm trước, đã có cái gì lộn xộn trong ống nhễu giọt: phải lấy ống ra rồi cắm lại vào mạch máu: người gác đêm lần mò, nước chảy rỉ ra ngoài da, má tôi đau lắm. Người ta phải lấy băng bọc cánh tay sưng vù, tím xanh. Bây giờ bình thuốc nối vào cánh tay phải; mạch máu đã nhược còn chịu được huyết thanh, chứ huyết tương thì làm cho mẹ tôi rên xiết. Đến tối, má tôi khắc khoải: bà sợ đến đêm lại xảy ra chuyện gì nữa làm cho đau đớn. Nét mặt nhăn nhó, má tôi nói khẩn khoản “coi kỹ giùm cái ống nhễu giọt!”. Tối hôm ấy, tôi nhìn cái cánh tay mà sự sống chỉ còn là sự đau đớn nhức nhối, tôi phải tự hỏi: Tại sao?

Ở bệnh viện tôi không có thì giờ tự vấn. Phải giúp đỡ má tôi khạc nhổ, cho uống, xếp lại gối hay mái tóc, xê dịch cái chân, tưới hoa, mở cửa, đóng cửa, đọc nhật trình, trả lời những câu má tôi hỏi, lên dây chiếc đồng hồ để trên ngực, treo vào một cái dải đen. Má tôi khoan khoái mà trông cậy tất cả vào người khác và luôn luôn đòi hỏi chúng tôi phải chú ý đến mình. Nhưng khi tôi về nhà, những buồn nản và kinh hoàng trong mấy ngày gần đây mới đè nặng xuống vai. Và một cái ung thư cũng đang tàn phá người tôi: sự hối hận. “Đừng để cho họ mổ”. Tôi không làm gì để ngăn cản. Thường thường, khi người bệnh phải chịu cực khổ lâu, tôi bất bình vì thân quyến họ nọa tính: “Tôi, thì tôi giúp cho họ chết”. Lần thử thách thứ nhất tôi rùng tay: tôi chối bỏ đạo đức của tôi, tôi chịu thua đạo đức của xã hội. Sartre bảo tôi: “Không phải thế, cô chỉ thua kỹ thuật thôi, cái đó mới tai hại”. Quả vậy, người ta bị kẹt vào lằn răng bánh xe xã hội, bất lực trước lời thẩm định của bác sĩ chuyên khoa, dự tính của họ, quyết định của họ. Người bệnh trở thành vật sở hữu của họ, phải đến lôi người bệnh ra khỏi tay họ! Chỉ có hai con đường đến thứ tư này: giải phẫu hay làm cho chết không đau đớn. Trái tim vững chắc lại được phục thuốc hồi sinh mạnh mẽ, mẹ tôi sẽ chịu đựng được tình trạng tắc ruột rất lâu và sống trong địa ngục, bởi vì y sĩ không dùng phương pháp làm u mê người bệnh để chết khỏi đau đớn. Tôi đã đến đấy từ sáu giờ sáng. Nhưng liệu tôi có dám bảo bác sĩ N: “Để cho má tôi chết” không? Tôi đã gợi ý cho họ khi tôi nói: “Xin đừng làm cho mẹ tôi đau đớn”. Họ đã đối xử với tôi tàn nhẫn và làm ra người tin chắc bổn phận mình phải làm. Có lẽ họ sẽ bảo tôi: “Bà sẽ giảm bớt mấy năm tuổi thọ của cụ”. Và tôi sẽ phải thối lui. Suy nghĩ như thế tôi cũng không yên tâm. Tương lai vẫn làm cho tôi hãi hùng. Khi tôi 15 tuổi, chú Maurice tôi chết vì bệnh ung thư bao tử. Người ta nói rằng chú tôi rên la trong mấy ngày: “Giết tôi đi, đưa cho tôi khẩu súng, thương đến tôi”. Bác sĩ P có giữ lời hứa không: “Cụ nhà sẽ chết không đau đớn gì”. Một cuộc thi đua bắt đầu giữa sự chết và khổ hình. Tôi tự hỏi làm thế nào để sống sót khi một người thân của mình cầu khẩn: thương tôi với!

Cho dù cái chết thắng thế, đó cũng là một sự bịp bợm khả ố. Má tôi tưởng rằng chúng tôi gần gụi má tôi, nhưng chúng tôi đã ở phía bên kia cuộc đời của má tôi rồi. Tôi thấu hiểu tâm trạng người khác cho nên tôi biết mặt trái của việc đời, mẹ tôi đã ở xa, đã đang quằn quại giữa sự cô đơn. Mẹ tôi kiên nhẫn, can đảm, cố gắng khỏi bệnh, tất cả đều do sự xếp đặt. Những sự đau khổ của má tôi đều không được đền bù, Khuôn mặt má tôi hiện lên: “Vì chích cái đó tốt”. Tôi thất vọng vì lỗi lầm của tôi, không bao giờ tôi chuộc được lỗi tuy tôi không có trách nhiệm về lỗi ấy.

Mẹ tôi qua một đêm yên tĩnh, người gác thấy bà xao xuyến nên không rời tay bà. Người ta đã tìm được cách đặt má tôi lên bô mà không đau đớn. Mẹ tôi đã bắt đầu ăn được, sẽ không phải tiếp huyết tương. Mẹ tôi van nài: “Xin thôi từ tối nay!”. Bác sĩ trả lời: “Tối nay hay ngày mai”. Trong những điều kiện ấy, người gác tiếp tục ở bên má tôi, còn dì nó ở nhà bạn. Tôi hỏi ý kiến bác sĩ P: Sartre sẽ đáp máy bay đi Prague vào ngày hôm sau, tôi có đi với ảnh được không? “Bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng tình trạng này cũng có thể kéo dài mấy tháng. Prague chỉ cách Ba-lê có một giờ rưỡi máy bay mà lại có thể gọi điện thoại dễ dàng”. Tôi nói cho má tôi biết dự định của tôi: “Con cứ đi, má không cần con lắm”. Tôi đi xa là mẹ tôi tin rằng đã thoát vòng nguy hiểm: “Họ đã đưa má từ xa về! Sưng màng ruột khi đã bảy mươi tám tuổi! May má còn ở bệnh viện này! May mà họ không mổ xương đùi”. Cánh tay trái không băng bó đã bớt sưng. Má tôi chăm chú đưa tay lên mặt; bà soát lại mũi và miệng: “Má còn cảm tưởng là mắt ở giữa má, mũi lộn ngược ở phía dưới mặt. Kỳ quá...”

Má tôi không có thói quen tự ngắm nghía. Bây giờ má tôi phải chịu để thể xác khu xử mình. Vì nặng nề thể xác, má tôi không thể bay bổng trên mây và không thể nói câu gì làm phiền lòng chúng tôi. Má tôi nói đến nhà thương Boucicaut là để phàn nàn cho những người bệnh phải ở phòng chung. Bà bênh vực nữ khán hộ bị nha giám đốc bệnh viện lợi dụng. Mặc dù bệnh tình ngặt nghèo, mẹ tôi vẫn ý nhị như bà thường tỏ ra như vậy. Mẹ tôi sợ cô Leblon phải làm việc quá mức. Mẹ tôi cám ơn và xin lỗi: “Phí bao nhiêu sinh lực cho một bà già, trong khi tuổi trẻ cần những sinh lực ấy!”. Mẹ tôi tự trách mình đã lấy hết thì giờ của tôi: “Con phải làm bao nhiêu việc mà con lại phải mất nhiều thì giờ ở đây: má rất buồn lòng!”. Má tôi để lộ kiêu hãnh và hối tiếc khi nói: “Các con ơi! Ta đã làm cho các con bối rối, chắc các con lo sợ”. Má tôi ân cần cũng làm cho chúng tôi cảm động. Sáng thứ năm, vừa tỉnh cơn hôn mê, người hầu buồng mang cơm sáng vào cho dì nó, má tôi nói qua hơi thở: “Ch... – Cha giải tội? – Không, cho mứt vào”, má tôi nhớ dì nó hay ăn mứt. Má tôi bận tâm với việc bán cuốn sách mới xuất bản của tôi. Cô Leblon bị chủ nhà trục xuất, má tôi theo đề nghị của dì nó, cho ở tạm phòng lớn của bà: thường thường má tôi không chịu để ai vào nhà mình lúc mình vắng mặt. Bệnh hoạn đã đập tan lớp vỏ thành kiến và hoài bão: có lẽ má tôi không cần những sự bảo vệ ấy nữa. Không có vấn đề hy sinh, quên mình: bận tâm hàng đầu của má tôi là khỏi bệnh nghĩa là nghĩ đến mình; má tôi chỉ biết có sở thích, có ý muốn của mình, không cần đắn đo, má tôi giải trừ được sự oán hận. Má tôi thấy lại nụ cười và vẻ tươi đẹp thế là má tôi đã thỏa hiệp với chính mình, lúc hấp hối trên giường bệnh như thế cũng là một thứ hạnh phúc.

Chúng tôi hơi ngạc nhiên rằng má tôi không cho mời cha xưng tội đến, hôm thứ ba má tôi đã từ chối một lần. Trước ngày giải phẫu, má tôi đã bảo Martha: “Cháu cầu kinh cho bà đi, vì cháu biết chứ, khi người ta bệnh hoạn người ta không thể cầu kinh được”. Chắc rằng má tôi bận tâm với ý muốn khỏi bệnh quá, không thể mệt trí với nghi lễ đạo giáo. Một hôm bác sĩ N bảo: “Cụ chóng lại sức thế, chắc là cụ tin tưởng Thượng Đế lắm. – Vâng! Tôi thân thiện với Thượng Đế, nhưng tôi không muốn đến thăm ông ngay”. Hưởng đời sống vĩnh viễn tức là chết, là từ bỏ nơi trần thế, nhưng má tôi không muốn chết. Hẳn là những người sùng đạo quen biết má tôi cho rằng chúng tôi đã cưỡng ép ý muốn của bà, họ định dùng phương pháp cưỡng ép chúng tôi. Tuy đã có biển “Xin miễn vào thăm”, một buổi sáng dì nó cũng thấy cửa mở ra trước một bộ áo thầy tu; dì nó từ chối mãnh liệt: “Tôi là cha Avril. Tôi đến thăm với tư cách người bạn – Cũng vậy thôi, trông thấy áo của cha là má tôi sợ”. Ngày thứ hai lại có người định vào: “Má tôi không tiếp ai”, dì nó vừa nói vừa kéo bà Saint-Ange ra ngoài. “Đành vậy. Nhưng tôi cần bàn bạc với cô một vấn đề rất quan trọng: Tôi biết sự tin tưởng của má cô... – Dạ, tôi cũng biết, dì nó nói cộc lốc như thế, má tôi vẫn sáng suốt. Ngày nào má tôi muốn tiếp cha xưng tội, chúng tôi sẽ cho mời lại”. Khi chúng tôi bay đi Prague, sáng hôm thứ tư, má tôi vẫn chưa muốn cho mời linh mục.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.