Tại sao cái chết của mẹ tôi đã làm tôi xúc động mạnh mẽ như vậy? Từ khi tôi không ở với mẹ tôi, tôi không thắm thiết với mẹ tôi cho lắm. Khi ba tôi mất, má tôi đau khổ mãnh liệt và giản dị làm tôi xúc động và tôi cũng xúc động vì sự săn sóc của má đối với tôi: “Con hãy nghĩ đến con”, má tôi thường nói thế, vì cho rằng tôi giấu nước mắt để khỏi làm cho má buồn thêm. Một năm sau, bà tôi hấp hối làm má tôi đau đớn nhớ lại lúc hấp hối của cha tôi: ngày đưa đám mẹ tôi phải nằm liệt giường vì bệnh thần kinh nguy kịch. Đêm ấy, tôi ở bên mẹ tôi; tôi quên hẳn sự ghê tởm đối với cái giường cưới mà mẹ tôi đã sinh ra tôi ở đấy, mà cha tôi đã chết ở đấy; tôi nhìn má tôi ngủ; má tôi nằm nhắm mắt, vẻ mặt thư thái, vào tuổi bốn mươi lăm, má tôi vẫn còn đẹp; tôi thán phục mẹ tôi có tình cảm mạnh mẽ thắng được ý muốn. Thường thường tôi nghĩ đến mẹ tôi một cách lãnh đạm thờ ơ. Tuy nhiên, trong giấc mơ – cha tôi ít khi hiện ra và hiện ra một cách mờ nhạt – còn má tôi chiếm một chỗ trọng yếu: hình ảnh má tôi lẫn với hình ảnh Sartre, tôi với mẹ tôi quyến luyến nhau và lấy làm sung sướng. Rồi giấc mơ trở thành ác mộng: tại sao tôi trở lại chịu ảnh hưởng nặng nề của mẹ tôi? Sự thân mật ngày trước sống lại dưới hai bộ mặt: tâm hồn tôi chịu sự chi phối của mẹ tôi, tôi vừa yêu mến hoàn cảnh ấy, vừa ghét bỏ nó. Sự thân mật ấy sống lại rất mãnh liệt khi mẹ tôi mắc nạn, đau yếu mệnh một đã làm mất một thói quen vẫn khuôn định mối tình mẫu tử. Khi một người qua đời thì đằng sau họ thời gian tan biến mất; tuổi tôi càng cao, quá khứ của tôi càng co rút lại. Người “má của con” lúc tôi lên mười không còn phân biệt với người mẹ đã áp chế tôi lúc mới lớn lên; và tôi đã khóc cả hai người mẹ ấy khi tôi khóc người mẹ già. Sự đau khổ vì thất bại trong mối tình thân mà tôi tưởng rằng đã có thái độ nhất định, nay trở lại dày vò tôi. Tôi nhìn hai bức ảnh của tôi và của mẹ tôi cùng chụp vào một thời kỳ. Bấy giờ tôi mười tám tuổi, mẹ tôi gần bốn mươi. Ngày nay tôi gần có thể là mẹ của người mẹ gần bốn mươi, là bà của đứa con gái hai mắt u buồn. Cả hai người đều làm tôi thương hại, tôi, bởi vì tôi còn trẻ quá, mà tôi không hiểu đời; má tôi, bởi vì tương lai má tôi bị khép kín, không bao giờ má tôi hiểu gì cả. Nhưng tôi không thể khuyên bảo người nào được điều gì. Tôi không có quyền xóa bỏ những lỗi lầm tuổi trẻ của tôi, chính vì những lỗi lầm ấy mà mẹ tôi làm cho tôi khổ sở, mà mẹ tôi cũng đau khổ. Bởi vì, nếu mẹ tôi đã đầu độc cuộc sống của tôi trong bao nhiêu năm, thì tôi cũng đầu độc cuộc sống của má tôi tuy tôi không chủ tâm. Trong kiếp sống này, mẹ tôi vui lòng vì những thành công của tôi, nhưng buồn khổ vì tôi gây ra tai tiếng trong xã hội mẹ tôi sống. Mẹ tôi không có gì là hả dạ khi nghe họ hàng nói rằng: “Simone là vết nhục của gia đình”.
Những sự thay đổi trong mẹ tôi từ khi bà ngọa bệnh làm cho tôi thêm bực dọc vì mối hận lòng. Tôi đã nói ở trên: tính tình má tôi cứng rắn và hăng hái, má tôi trở nên loạn trí và vụng về vì muốn thoát tục. Nằm trên giường bệnh, mẹ tôi định sống cho mình nhưng luôn luôn nghĩ đến người khác: do những xung đột nội tâm đó lại thành hình một nhịp điệu. Con người xã hội của cha tôi diễn tả đúng chân tướng cha tôi: Giai cấp của ông và chính ông cùng chung một tiếng nói qua miệng của ông. Lời nói cuối cùng của ông làm cho tôi không thể chảy nước mắt được: “Con, thì con biết làm ăn sớm, nhưng em con đã làm ba hao tài tốn của”.
Mẹ tôi chạy theo một ý thức hệ duy linh; nhưng đối với cuộc sống mẹ tôi tha thiết với tất cả nhiệt độ của thể xác. Đó là nguồn gốc sự can đảm của mẹ tôi, khi mẹ tôi đã có sự can đảm ấy và đã biết sự quan trọng của thân xác, mẹ tôi tới gần chân lý. Mẹ tôi cởi bỏ những lớp men hào nhoáng che lấp cái gì là thành thực và đáng mến của bà. Biết thế tôi mới cảm thấy một tình yêu đằm thắm mà sự ghen tị đã làm biến dạng đi, mà mẹ tôi cũng chỉ biết thổ lộ một cách vụng về. Tôi đã tìm thấy trong giấy má của mẹ tôi những bằng chứng rất cảm động. Mẹ tôi đã soạn riêng ra hai bức thư, một bức của một thầy tu dòng Tên, một bức của một người bạn an ủi má tôi rằng sẽ có ngày tôi trở về tin Thượng Đế. Chính tay má tôi đã viết lại một đoạn văn của Chamson, trong đó nói lên rất nhiều: nếu vào lúc hai mươi tuổi tôi gặp một người đàn anh, có uy tín nói đến Nietzsche, Gide, tự do, chắc tôi đã cắt liên lạc với gia đình tôi. Tài liệu ấy được bổ túc bằng một bài cắt ở nhật trình: Jean-Paul Sartre đã cứu một linh hồn. Rémy Roure kể lại rằng sau khi diễn vở Bariona, một y sĩ vô thần xin theo đạo – chuyện này không đúng. Tôi biết rõ mẹ tôi muốn tìm gì trong những bản văn ấy; mẹ tôi muốn an tâm về tôi; nhưng mẹ tôi chả cần làm thế nếu không bận tâm nhiều đến sự cứu rỗi linh hồn của tôi. Mẹ tôi đã viết cho một nữ tu sĩ trẻ: “Hẳn là tôi muốn lên thiên đường nhưng không muốn lên một mình không có các con”.
Rất ít khi ái tình, tình thân hữu, sự giao du làm cho người ta khỏi cô đơn lúc lâm chung; mặc dù bề ngoài tôi cảm thông với má tôi, mặc dù tôi cầm tay má tôi, tôi vẫn ở ngoài má tôi: tôi đã dối trá má tôi. Vì má tôi đối với tôi vẫn là bí mật, cho nên sự bí mật cùng cực ấy thật là khả ố cho tôi. Tôi đã tự làm cho mình hóa ra tòng phạm của vận mệnh để vận mệnh đàn áp mẹ tôi. Tuy nhiên, bằng mỗi tế bào của tôi, tôi đoàn kết với má tôi khi má tôi khước từ, khi má tôi nổi loạn: vì lẽ đó mà sự thất bại của má tôi làm cho tôi kinh hãi. Đã ba lần tôi chứng kiến những phút cuối cùng của người hấp hối. Tuy tôi vắng mặt lúc mẹ tôi tắt nghỉ, nhưng lúc ở bên giường bệnh mẹ tôi, tôi đã trông thấy Thần chết nhảy múa, nhăn nhó và mỉa mai, Thần chết trong những truyện kể về đêm gõ cửa dồn dập, tay cầm lưỡi hái, Thần chết ở đâu đến lạ lùng, không có bản sắc người: Thần chết cũng có bộ mặt như bộ mặt mẹ tôi nhe hàm răng với một nụ cười ngu xuẩn.
“Ông ấy cũng đến cõi rồi”. Người già cả buồn rầu và cô độc: nhiều người không nghĩ rằng họ đã đến tuổi ấy. Tôi cũng vậy, đối với mẹ tôi cũng dùng câu khuôn sáo ấy. Tôi không hiểu rằng người ta có thể thành thật mà khóc một người thân, một vị tổ mẫu ngoài bảy mươi tuổi. Nếu tôi gặp một người đàn bà năm mươi tuổi ủ rũ vì mẹ chết, tôi cho là họ suy nhược thần kinh: chúng ta, ai cũng phải chết; đến tuổi tám mươi người ta đã già lắm rồi chết cũng phải...
Nhưng không. Người ta không chết vì đã sinh ra, đã sống ở đời hay đã già cả. Người ta chết vì một cớ gì. Biết rằng mẹ tôi vì tuổi tác mà sắp qua đời, tôi cũng không bớt kinh ngạc ghê gớm: mẹ tôi bị bệnh ung thư. Một bệnh ung thư, một bệnh tắc mạch máu, một bệnh sưng phổi: bệnh nào cũng tàn bạo và bất ngờ như máy bay lưng trời không chạy nữa. Mẹ tôi khuyến khích người đời lạc quan khi bà đã liệt giường, đã sắp ra ma còn xác định giá trị vô lượng của mỗi thời khắc; nhưng má tôi quyết liệt một cách vô ích làm cho tấm màn nhàm chán thường ngày vẫn khiến cho ta yên dạ phải xé toang ra. Không! Làm gì có cái chết tự nhiên: không có cái gì xảy ra cho loài người lại tự nhiên mà xảy ra cả, vì sự có mặt của loài người đã đặt cuộc sống thành vấn đề. Tất cả mọi người rồi phải chết: nhưng đối với mỗi người lại là một tai ách, mà cho dù người ta biết và chấp nhận, cái chết cũng là một sự cưỡng bách, trái với lẽ thường.
HẾT