Đến trưa, tôi gọi điện thoại, Poupette nghe tiếng nói rõ ràng bèn hỏi: “Chị chưa đi à!”. Má tôi đã khá lắm rồi, ngày thứ năm cũng thế; ngày thứ sáu đã nói chuyện với tôi, má tôi nức lòng vì tôi gọi điện thoại về từ xa. Má tôi đọc sách một chút và chơi ô chữ. Thứ bảy tôi không gọi dây nói được. Đến chủ nhật, lúc mười một rưỡi, tôi xin số điện thoại của Diato. Trong khi tôi ở trong phòng đợi, người ta đưa cho một bức điện tín: “Má mệt lắm. Chị có về được không?”. Francine bảo rằng Poupette ngủ ở bệnh viện. Một lát sau Poupette ở đầu dây nói: “Một ngày khổ cùng cực, tôi không rời tay má, má nói khẩn khoản: đừng để má chết. Má chỉ sợ không được thấy mặt Simone. Bây giờ người ta cho uống thuốc ngủ, má đang ngủ”.
Tôi nhờ người gác cửa giữ chỗ máy bay ngày hôm sau cất cánh lúc sáu giờ rưỡi. Đã ký hợp đồng rồi, Sartre khuyên tôi nên đợi một hai ngày: không thể được. Tôi không cần phải trông thấy mặt má tôi trước khi má tôi chết, nhưng tôi không thể để cho má tôi không thấy mặt tôi. Tại sao lại gán một tầm quan trọng quá cho một thời khắc vì trong thời khắc làm gì có trí nhớ? Cũng không có sự đền bù. Tôi chỉ hiểu riêng cho tôi, hiểu đến tận xương tủy rằng người ta có thể đưa tuyệt đối vào trong những phút cuối cùng của một người chết.
Ngày thứ hai, lúc một giờ rưỡi, tôi bước vào phòng một trăm mười bốn. Biết tin tôi về, má tôi cho rằng tôi đã xếp đặt đúng như vậy. Má tôi gỡ cặp kính đen và mỉm cười với tôi. Ảnh hưởng của thuốc chỉ thống làm má tôi thư thái. Sắc diện đổi hẳn, nước da vàng ệch, một chỗ sưng phồng từ mắt bên phải chạy xuống, dài theo sống mũi. Tuy nhiên, trên các bàn đều có hoa mới. Cô Leblon đã đi khỏi, má tôi không cần người gác riêng vì người ta đã bỏ cái ống nhễu giọt đi. Chiều hôm tôi đi, cô Leblon bắt đầu tiếp huyết tương, công việc phải mất hai giờ: tĩnh mạch đã mệt mỏi chịu đựng, máu còn kém huyết tương. Má tôi rên la trong năm phút. Poupette bảo ngừng lại. Cô nữ khán hộ không chịu: “Bác sĩ N sẽ nói thế nào? – Tôi chịu trách nhiệm”. Quả nhiên bác sĩ N nổi giận: “Chỗ mổ sẽ chậm liền”. Tuy nhiên, ông ta biết rõ là vết thương không liền được; sẽ còn lại một cái lỗ hổng làm đồ ăn trong ruột thoát ra: như vậy ruột không bị bế tắc lần nữa vì sự tác động đã ngưng lại rồi. Mẹ tôi sẽ cầm cự được bao lâu nữa? Theo sự phân tích, chỗ sưng ruột là một ung thư rất độc, độc tố đã ngấm ra khắp cơ thể; nhưng sự tiến triển có thể lâu, vì tuổi tác.
Má tôi kể lại chuyện hai ngày gần đây. Thứ bảy má tôi đọc cuốn truyện của Simenon và thắng Poupette một bàn ô chữ. Trên bàn, từng chồng ô chữ do má tôi cắt ở nhật trình ra. Ngày chủ nhật, má tôi dùng bữa sáng với khoai nghiền, món ăn không tiêu được (thực ra má tôi đã trở bệnh nên người bị tàn phá). Má tôi qua một cơn mê sảng trong lúc tỉnh: “Má nằm trong tấm nệm xanh ở trên một cái hố, em con giữ cái nệm và má van lơn: Đừng để má tụt xuống hố... – Con giữ má đây, má không lăn xuống đâu”. Suốt đêm Poupette ngồi trong một chiếc ghế bành, thường thường má tôi vẫn nghĩ đến giấc ngủ của con, hôm ấy phải nói: “Đừng ngủ, đừng để má đi. Nếu má thiếp đi, gọi má dậy, đừng để má chết trong lúc ngủ. Em tôi kể lại rằng có lúc má tôi nhắm mắt, nom người mệt nhoài. Tay má tôi níu lấy nệm, miệng nói: “Sống! sống!”.
Để tránh những lúc kinh hoảng, thầy thuốc cho uống và chích thuốc an thần, má tôi đòi hỏi một cách thèm muốn. Suốt ngày má tôi tươi tỉnh. Má tôi còn thêm thắt vào cảm tưởng của mình: “Trước mặt má có một cái gì tròn tròn làm má nhọc mệt. Em mày không thấy. Tao đã bảo: Bỏ cái vật tròn ấy đi, nó không thấy cái gì tròn”. Đó là một mảnh kim khí đóng vào khung cửa, người ta đã hạ thấp bức mành xuống để che đi. Má tôi đã tiếp Chantal và Catherine, thỏa mãn và tuyên bố: “Bác sĩ P nói rằng má rất thông minh, má đã xử trí một cách rất thông minh: trong khi chỗ mổ lành thì xương đùi cũng liền lại”. Đến tối, tôi đề nghị thay phiên em tôi đêm trước đã gần như không hề ngủ chút nào; nhưng má tôi quen ở với dì nó hơn, má tôi cũng cho rằng dì nó hiểu ý hơn vì đã chăm nom cho Lionel.
Ngày thứ ba được trôi chảy. Đến đêm má tôi mê sảng: “Người ta bỏ má vào một cái hòm. Má nằm đây, nhưng má nằm trong hòm. Mình vẫn là mình nhưng lại không phải mình nữa. Nhiều người đến mang hòm đi, má giẫy giụa: đừng để họ mang tao đi!”. Poupette để tay lên trán má rất lâu: “Con hứa, với má. Họ không đem má đi trong cái hòm ấy đâu”. Mẹ tôi đòi thêm thuốc ngủ. Lúc hết mê sảng, mẹ tôi hỏi: “Thế là nghĩa lý gì, cái hòm, những người ấy? – Má nhớ lại lúc mổ đấy, những người khán hộ để má trên cáng chở đi”. Má tôi ngủ thiếp đi. Nhưng đến sáng mắt bà hiển hiện vẻ buồn rầu của con vật cùng đường chống cự. Khi nữ khán hộ thay giường, rồi để má tôi tiểu tiện bằng cái ống dẫn, má tôi đau đớn, má tôi hỏi bằng giọng người sắp chết: “Con nghĩ má có qua khỏi được không?”. Tôi phải nói nặng má tôi. Má tôi rụt rè hỏi bác N: “Ông có bằng lòng tôi không?”. Ông ta trả lời không có vẻ gì tin tưởng, nhưng má tôi bám lấy cái phao nổi ấy. Má tôi vẫn nghĩ ra những lý do rất hay để giải thích tại sao lại mệt quá như vậy. Vì người mất hết nước, vì món khoai nghiền khó tiêu; ngày hôm ấy má tôi trách mấy cô khán hộ hôm qua chỉ làm băng bó có ba lần, đáng ra phải làm bốn lần. Má tôi kể lại: “Đến tối bác sĩ N nổi giận đùng đùng và sửa trị họ!”. Má tôi nhắc lại nhiều lần ra vẻ tán thành: “Ông ta nổi giận đùng đùng”. Trên mặt không còn gì là vẻ đẹp nữa; gân lại giật từng cơn; bây giờ giọng nói lại để lộ sự oán hờn và sự đòi hỏi nhiều.
Má tôi phàn nàn “má mệt quá”. Bà bằng lòng đến chiều sẽ tiếp linh mục Marthe, một nhà tu dòng Tên trẻ tuổi: “Má có muốn bãi bỏ cuộc tiếp rước này không? – Không. Má sẽ làm em con yên lòng. Để họ nói chuyện thần học. Má nhắm mắt nằm yên, không cần nói năng gì cả”. Má tôi chưa ăn sáng. Bà thiêm thiếp ngủ, đầu cúi xuống ngực: Khi Poupette mở cửa vào, bà tưởng mọi việc đã xong xuôi. Charles Cordonnier đến và chỉ ở lại có năm phút. Anh nói đến những bữa tiệc mỗi tuần ba anh thường mời má tôi đến dự: “Tôi ước ao rằng sẽ được tiếp cụ tại nhà tôi ở đường Raspail vào một bữa thứ năm gần đây”. Má tôi nhìn anh não nùng, không tin: “Anh cho rằng tôi còn đến được à?”. Chưa bao giờ tôi thấy má tôi có vẻ đau khổ như vậy: ngày hôm ấy má tôi cảm thấy mình không sống được nữa rồi. Chúng tôi nghĩ rằng lúc cuối cùng đã gần lắm cho nên Poupette đến mà tôi không về. Má tôi lẩm bẩm: “Nghĩa là bệnh thêm trầm trọng nên cả hai con cùng ở đây”. Một lần nữa tôi làm ra vẻ giận: “Con ở lại vì tinh thần má xuống. Nhưng nếu ở lại chỉ làm má áy náy thì con về đây. – Không, không”, má tôi vội thẹn thùng mà nói vậy. Tôi phải cứng rắn một cách bất công nên tôi rất buồn. Giữa lúc sự thật đè nặng lên má tôi và tôi cần nói để che lấp đi, chúng tôi lại bắt má tôi yên lặng; chúng tôi bắt buộc mẹ không được nói đến những thắc mắc, phải dồn nén những nghi ngờ: má tôi cảm thấy mình vừa có lỗi vừa không được người hiểu – như trong đời má tôi vẫn thường như thế. Nhưng chúng tôi không được lựa chọn: hy vọng cần cho má tôi hơn cả. Chantal và Catherine sợ hãi khi thấy mặt má tôi, vội vàng gọi điện thoại về Limoges khuyên mẹ mình về ngay.
Poupette đứng không vững. Tôi quyết định: “Đêm nay, tôi sẽ ngủ đây”. Mẹ tôi lo ngại: “Con biết cách không? Con biết để tay lên trán lúc má mê sảng không? – Con biết”.
Mẹ tôi lầm bầm, nhìn tôi trừng trừng: “Con hay làm cho má sợ”. Tôi vẫn lấn át tinh thần mẹ tôi vì mẹ tôi cho rằng tôi thông minh, còn con thứ thì mẹ tôi cố ý cho rằng kém thông minh. Ngược lại, sự e lệ của mẹ tôi làm cho tôi lạnh giá. Lúc bé, tôi là đứa trẻ cởi mở; lớn lên tôi đã thấy những người lớn sống thế nào, mỗi người kín mít trong những bức tường riêng, có khi họ khoan ra một cái lỗ rồi bít ngay lại. Má tôi thì thầm với tôi ra vẻ quan trọng: “Họ đã tâm sự với má”. Hay người ta đã khám phá ra một kẽ hở: “Họ giấu giếm, họ không nói gì; nhưng hình như là...”. Lời thú nhận và chuyện ngồi lê có cái gì thầm lén làm tôi ghê tởm và tôi muốn xây cho tôi những thành trì không kẽ hở. Đối với mẹ tôi, tôi cố ý không tiết lộ tâm sự, phần vì sợ má tôi bối rối, phần vì tôi sợ cái nhìn của mẹ tôi. Chẳng bao lâu mẹ tôi không dám hỏi gì tôi nữa. Giải thích qua loa về thái độ vô tín ngưỡng của tôi, chúng tôi đã phải nỗ lực ghê gớm. Tôi khổ tâm khi thấy má tôi khóc. Nhưng tôi hiểu ngay sau đấy rằng má tôi khóc vì thất bại chứ không để ý gì đến ý nghĩ thâm sâu của tôi. Má tôi thích sợ hãi tôi (vì cái thông minh trí thức của tôi) hơn là thân mật với tôi, điều đó đã làm tôi se người lại.
Tôi với má tôi còn có thể ăn ý với nhau, nếu đáng lẽ đi xin mọi người cầu nguyện cho linh hồn tôi, má tôi tín nhiệm và thông cảm với tôi một chút. Bây giờ tôi biết rõ cái gì đã ngăn cản má tôi: bà bận bịu phải trả đũa nhiều chuyện, phải hàn gắn nhiều vết thương, cho nên không thể đặt mình vào địa vị người khác. Trong lúc hành động, mẹ tôi hy sinh mình, nhưng vì bà là người dễ xúc động nên không thể thoát ra ngoài bản chất của mình được. Vả chăng, làm sao mẹ tôi có thể tìm hiểu tôi trong khi mẹ tôi né tránh không muốn nhìn vào thâm tâm của mình. Còn như bịa ra một điệu bộ để thân mật với tôi thì không có gì chuẩn bị cho mẹ tôi làm thế, cái gì không xếp đặt trước sẽ làm cho mẹ tôi hốt hoảng, bởi vì người ta đã dạy mẹ tôi chỉ được suy nghĩ, hành động và xúc động trong những khuôn khổ đúc sẵn.
Sự yên lặng giữa tôi và mẹ tôi đã trở nên dày đặc. Cho đến khi tôi xuất bản cuốn L’Invitée, mẹ tôi gần như không biết gì về đời sống của tôi. Má tôi muốn tự xác định cho mình rằng ít ra đối với thuần phong mỹ tục, tôi vẫn là người đứng đắn. Dư luận đã làm tiêu tan ảo tưởng của má tôi, nhưng đến lúc ấy mối liên lạc của chúng tôi đã thay đổi. Má tôi phải nhờ tôi về vật chất; má tôi quyết định việc nhà vẫn hỏi ý kiến tôi: tôi là trụ cột của gia đình, là con trưởng. Vả lại tôi là một nhà văn có tiếng tăm. Hoàn cảnh ấy miễn thứ được phần nào cuộc sống thất thường của tôi, vả chăng mạ tôi cũng ráng cho chỉ là thất thường trong một phạm vi tối thiểu: một trường hợp hôn nhân tự do cũng không trái đạo bằng một cuộc hôn nhân dân sự. Thường thường má tôi cho rằng nội dung những sách tôi viết rất chướng tai, nhưng bà nức lòng vì sách của tôi viết đã thành công. Nhưng vì sách đó làm cho tôi có thêm uy tín đối với mẹ tôi cho nên mẹ tôi càng thêm bứt rứt. Tôi đã cố sức tránh không tranh luận với mẹ tôi – mà có lẽ chính vì tôi muốn tránh cho nên mẹ tôi nghĩ rằng tôi xét đoán nghiêm khắc mẹ tôi. Còn Poupette, “con bé con”, không được má tôi nể vì như tôi.
Tuy ảnh hưởng má tôi đến dì nó ít hơn, nhưng dì nó không thừa hưởng tính bướng bỉnh – dì nó thảnh thơi hơn tôi khi tiếp xúc với mẹ. Khi xuất bản cuốn Mémoires d’une jeune fille rangée, mẹ tôi đã tìm hết cách làm nguôi lòng dì nó. Còn tôi, tôi chỉ mang lại cho em một bó hoa và xin lỗi một tiếng, dì nó cũng cảm động và kinh ngạc. Một hôm má tôi bảo tôi: “Cha mẹ không hiểu con cái, nhưng ngược lại con cái cũng không hiểu cha mẹ”; chúng tôi nói đến những chỗ hiểu lầm nhau đó, nhưng chỉ nói một cách đại quát. Rồi chúng tôi không trở lại vấn đề nữa. Tôi gõ cửa. Một tiếng than khẽ, tiếng giày lê trên sàn, lại một tiếng thở dài, tôi tự hứa với tôi lần này sẽ tìm được đầu đề nói chuyện, được mảnh đất thỏa hiệp. Chỉ năm phút sau, tôi thua cuộc rồi: tôi với má tôi có rất ít điểm đồng ý với nhau! Tôi xem đến những sách má tôi đọc: chúng tôi không đọc cùng một loại sách. Tôi gợi cho má tôi nói, tôi nghe, tôi bình luận. Nhưng vì bà là má nên những lời chê trách còn ray rứt hơn lời chê trách của người ngoài. Tôi cũng se thắt người lại như hồi còn hai mươi tuổi khi mẹ tôi tìm cách thân mật với tôi bằng cái vụng về thường ngày. “Má biết rằng, con thấy má không thông minh. Nhưng dù sao má cũng truyền lại cho con cái sinh khí của con bây giờ, điều đó làm cho má vui lòng”, về điểm cuối cùng này, tôi sẵn sàng đứng về quan điểm của má tôi, nhưng phần đầu câu nói đã làm tôi mất hứng khởi.
Như thế là chúng tôi tự làm cho nhau tê liệt. Mẹ tôi muốn nói những điều trên đây khi mở to mắt nhìn tôi: "Còn con, con làm cho má sợ”.
Tôi mặc cái áo ngủ của dì nó và nằm xuống giường bên cạnh giường má tôi: về phần tôi, tôi cũng có những sự lo nghĩ. Tối đến căn phòng trở nên ảm đạm, má tôi đã cho buông màn xuống, chỉ có ngọn đèn đầu giường le lói. Tôi cho rằng cái tối làm cho sự bí mật bi ai càng thêm dày đặc. Nhưng thực ra đêm nay và ba đêm kế, tôi ngủ ngon hơn ở nhà tôi, khỏi áy náy vì cái máy điện thoại và những sự tưởng tượng lộn xộn: tôi nằm đó không nghĩ đến gì cả.
Má tôi không mê sảng. Đêm thứ nhất, má tôi hay tỉnh dậy đòi uống nước. Đêm thứ hai, xương cùng đau, cô Cournot đặt má tôi nằm nghiêng bên phải, nhưng cánh tay phải làm cho đau đớn. Người ta đặt nằm lên cái nệm cao su tròn, chỗ đau giảm được phần nào, nhưng có thể làm hư da mông đã suy nhược và bầm lại. Thứ sáu và thứ bảy, má tôi ngủ được gọi là. Trong ngày thứ năm, nhờ có thuốc chỉ thống, má tôi trở lại tin tưởng. Má tôi không hỏi: “Má có thể qua khỏi được không?” nhưng hỏi: “Liệu má có thể trở lại sống bình thường được không? Má tôi sung sướng mà nói: “À, ngày hôm nay má nhìn thấy con, hôm qua má không thấy!”. Ngày hôm sau, Jeanne ở Limoges về nhận thấy má tôi không đến nỗi tiều tụy như cô ấy vẫn lo. Cô ấy nói chuyện với má tôi gần một tiếng. Sáng thứ bảy cô trở lại với Chantal, mẹ tôi hí hởn nói rằng: “Không phải ngày mai sẽ đưa ma tôi đâu! Tôi sẽ sống đến trăm tuổi, phải giết tôi, tôi mới chết”. Bác sĩ N phải bối rối: “Đối với cụ nhà không thể dự đoán gì trước: cụ nhà có sức sống mạnh đến thế!”. Tôi nói lại với má tôi câu sau: “Phải, má có sức sống mạnh!”. Má tôi lấy làm thỏa mãn mà công nhận như vậy. Má tôi hơi ngạc nhiên: ruột không tác động nữa mà bác sĩ hình như không để ý đến. “Điều cần thiết là nó đã tác động: như vậy tỏ ra nó không bị tê liệt. Các bác sĩ đều thỏa mãn – Nếu họ thỏa mãn thì đó là điều cần nhất”.
Tối thứ bảy, trước khi đi ngủ, chúng tôi nói chuyện với má: “Lạ thật! Mẹ tôi nói ra vẻ mơ màng, khi má nghĩ đến cô Leblon, má thấy cô ta ở trong phòng này, một thứ hình nộm, phồng lên, không có tay, y như trong cái máy ép. Bác sĩ P là một miếng giấy đen trên bụng má. Bởi vậy má nhìn thấy ông bằng xương bằng thịt. Thật là kỳ dị”. Tôi bảo: “Má thấy không, má quen với sự có mặt của con rồi đó, con không làm cho má sợ. – Đâu có! – Má nói rằng con làm cho má sợ – Má nói thế à? Thật là tức cười”.
Tôi cũng vậy, tôi đã quen với cảnh sống này. Tôi đến vào lúc tám giờ tối; Poupette cho biết tin tức trong ngày; bác sĩ N qua thăm. Cô Cournot đến và tôi đọc sách trong phòng ngoài khi cô ta thay băng. Mỗi ngày bốn lần đẩy vào phòng một cái bàn có bánh xe đầy băng, vải, gòn, họp bằng sắt, chậu thau, kéo; tôi cẩn thận quay mắt đi khi cô ta đi trở ra. Cô Cournot cùng một người giúp việc rửa ráy cho mẹ tôi và đặt nằm lại để ngủ đêm. Tôi đi nằm. Trong khi tôi ngồi đọc sách dưới ánh đèn ở đầu giường thì cô ta tiêm thuốc cho má tôi rồi đi uống một tách cà phê. Cộ trở lại, ngồi gần cửa ra vào để ngỏ trông ra lối vào để có chút ánh sáng; cô ta đọc sách và đan áo. Người ta nghe thấy tiếng động êm êm của cái máy điện làm rung rinh chiếc nệm. Trong lúc băng bó, tôi quay mặt vào tường, may mà bệnh cảm làm nghẹt mũi; Poupette không chịu được mùi hôi thối; tôi không ngửi thấy gì cả, trừ mùi nước hoa tôi thường thoa lên trán và má mẹ tôi, tôi thấy mùi nước hoa nồng và khó chịu, có lẽ tôi sẽ không thể dùng được nhãn hiệu này nữa.
Cô Cournot đi khỏi, tôi mặc áo và ăn sáng. Tôi pha cho má tôi một thứ thuốc trăng trắng, mẹ tôi bảo rằng rất khó uống, nhưng làm cho dễ tiêu hóa. Rồi cho má tôi uống từng muỗng nước trà ngâm bánh bích quy. Người hầu buồng dọn dẹp. Tôi sửa sang bình hoa và tưới hoa. Thường thường chuông điện thoại reo vang; tôi chạy sang phòng ngoài; tôi đóng cửa lại nhưng vẫn sự mẹ tôi nghe được, nên thận trọng lời nói. Má tôi cười khi tôi kể lại: “Bà Raymond hỏi thăm má xương đùi đã bớt đau hay chưa. – Bà ta chẳng hiểu gì cả!”. Một cô nữ y tá cũng thường gọi tôi: bạn bè và người thân thích của má tôi đến hỏi thăm. Thường thường má tôi không có sức để tiếp khách nhưng má tôi rất bằng lòng được người ta nghĩ đến mình. Lúc băng bó, tôi ra ngoài. Rồi tôi giúp má tôi dùng cơm: má tôi không nhai được nên chỉ ăn đồ nghiền, đồ nấu nhừ, đồ băm nhỏ, mứt trái cây và kem; mẹ tôi cố ăn hết đĩa: “Má không muốn chết”. Cách hai bữa ăn, má tôi uống từng hớp nhỏ nước trái cây tươi: “Trong này có nhiều sinh tố, má uống rất tốt”. Độ hai giờ thì Poupette đến. Má tôi nói: “Má rất ưa thói quen sống như thế này. Một hôm, má tôi nói ra vẻ hối tiếc: “Đáng buồn là lúc có cả hai con bên mình thì lại đau ốm!”
Tôi thấy yên tĩnh hơn trước khi ở Prague. Bây giờ má tôi đã thành hẳn một cái thây ma còn sống. Đời sống thu gọn lại trong kích thước căn phòng bệnh. Khi tôi đi tắc xi qua Ba-lê, tôi chỉ thấy một khung cảnh người qua lại câm lặng. Đời sống thực sự của tôi diễn ra ở gần mẹ tôi và chỉ có một mục đích: bảo vệ mẹ tôi. Đêm đến, một tiếng kêu nhỏ cũng hóa ra lớn: tiếng sột sạt cô Cournot mở tờ nhật trình, tiếng u u cái máy điện. Ban ngày, tôi bỏ giày đi bít-tất không. Tiếng đi lại ngoài cầu thang trên đầu chúng tôi như xé màng tang. Đến mười một rưỡi, tôi còn khó chịu vì tiếng ầm ầm những cái bàn đẩy trên bánh xe đựng đầy những đĩa sắt. Thùng ga-men đụng nhau loảng xoảng. Tôi nổi giận vì mẹ tôi đang thiêm thiếp ngủ, một người hầu buồng ngu xuẩn vào hỏi thực đơn ngày hôm sau: thỏ ăn với xốt hay gà quay? Tôi cũng bực mình khi đến bữa trưa, người ta mang lại món thịt băm không ngon thay thế món óc. Tôi cũng như má tôi, có cảm tình với cô Cournot, cô Laurent, các cháu Martin và Parent; bà Gontrand, tôi cũng cho là hay nói quá: “Bà kể chuyện buổi chiều được nghỉ đã đi mua giày cho con; má biết chuyện ấy để làm gì?”.
Chúng tôi không ưa cái bệnh viện này nữa. Các cô nữ y tá tươi cười và chăm chỉ đều bận việc túi bụi, họ bị đối xử rất nghiêm khắc mà lãnh lương ít ỏi. Cô Cournot mang cà phê đến. Người ta chỉ cho dùng nước sôi thôi. Người gác đêm cũng không được một phòng tắm hay một phòng rửa mặt để rửa ráy và trang điểm sau một đêm phải thức. Cô Cournot bối rối kể lại những chuyện rắc rối với người giám thị. Cho đến hôm sau nữa, má tôi còn bất bình mà nhắc lại câu này: mụ giám thị vẫn thích vào bè với người này để chèn ép người kia. Một buổi tối cô bạn của Cournot vào trong phòng khóc lóc: người bệnh của cô nhất định không nói một lời với cô nữa. Những cô gái này hàng ngày dây dưa với những tấn kịch nghề nghiệp nhưng các cô không hề quen để chịu đựng những thảm kịch vụn vặt của đời sống tâm tư.
Poupette nói: “Người ta cảm thấy mình thành người đần độn”. Tôi, tôi thản nhiên chịu đựng chuyện trò dớ dẩn, bông đùa sáo rỗng: “Mày đã chơi một vố cay cho giáo sư H! – Đeo kính đen đó nom mày giống Greta Garbo!”. Những ngôn từ ung thối trong miệng tôi. Tôi có cảm tưởng rằng ở đâu mình cũng đóng kịch. Nói chuyện với người bạn cũ về việc y dọn nhà, lời nói vồ vập của tôi có vẻ như dối trá; tôi có cảm tưởng như nói dối một cách trang nghiêm khi tôi ngay thật xác định với người quản lý một quán rượu bia: “Rượu ngon lắm”. Vào những lúc khác, hình như cuộc đời đã ngụy trang. Một khách sạn, tôi thấy hóa ra một bệnh viện; tôi cho những cô hầu phòng là nữ khán hộ; các cô chiêu đãi ở tiệm ăn cũng thế: họ theo một phương thuốc là ăn uống. Tôi nhìn mọi người với cặp mắt mới, vì họ bị ám ảnh bởi những ống rắc rối ở dưới lớp quần áo của họ. Chính tôi, có khi tôi cũng biến thành một cái bơm vừa hút vừa thổi, hay thành một hệ thống túi và ống cao su.
Poupette đã bị khích động thần kinh. Còn tôi bị tăng huyết áp, máu xông lên đầu. Điều khổ tâm cho chúng tôi hơn cả là má tôi hấp hối rồi lại hồi sinh, là sự mâu thuẫn của chúng tôi. Trong cuộc thi đua giữa sự đau đớn và cái chết, chúng tôi ước mong cho cái chết thắng cuộc. Nhưng khi má tôi ngủ, mặt không còn cử động, chúng tôi lo ngại mà nhìn cái dải đen đeo đồng hồ khẽ đưa lên đưa xuống trên tấm áo trắng: nghĩ đến cơn quằn quại cuối cùng, chúng tôi sợ hãi đến thắt ruột lại.
Má tôi được vô sự khi tôi từ giã má tôi, hôm chủ nhật, vào lúc quá trưa. Sáng thứ hai, bộ mặt gầy nhom của má tôi làm tôi sợ hãi; đã thấy rõ là những ổ vi trùng tàn phá tế bào giữa lớp da và bộ xương. Đến mười giờ tối, Poupette trao một mảnh giấy vào tay người canh gác: “Tôi có cần gọi chị tôi không?”. Người gác lắc đầu: trái tim còn chịu đựng được. Nhưng những cực khổ khác lại sắp xảy đến. Bà Gontrand đã chỉ cho tôi thấy sườn bên phải của má tôi: nước rỉ ra từ lỗ chân lông, khăn đệm ướt đầm. Mẹ tôi gần như không tiểu tiện nữa, thịt sưng lên. Má tôi nhìn bàn tay và cử động những ngón sưng húp. Tôi bảo: “Vì không có vận động nên như thế đó”. Nhờ có nha phiến và thuốc chỉ thống làm cho yên tĩnh, mẹ tôi biết mình mệt nhưng vẫn kiên tâm: “Em con nói cho má biết một điều rất có ích: rồi đây má lại thấy mệt. Như vậy má biết rằng má mệt cũng là thường”. Má tôi tiếp bà Saint-Ange một phút và nói với bà rằng: “Bây giờ, tôi đã khá lắm!”. Một nụ cười làm lộ hàm răng: đây đã là cái nhếch mép ghê rợn của một bộ xương, nhưng mắt còn sáng lên một vẻ ngây thơ nóng nảy. Sau bữa ăn, má tôi thấy váng vất; tôi gọi nữ khán hộ hai ba lượt; điều tôi nghĩ đến đã thực hiện, má tôi thở hắt ra làm tôi kinh hãi. Uống một viên thuốc lại hồi.
Đến tối, tôi tưởng tượng má tôi chết, tim tôi muốn đảo lộn. “Má khá hơn, nếu nói một phần nào trong cơ thể”, sáng ra Poupette bảo tôi thế, và người tôi rã rời vì tin tức ấy. Má tôi khỏe khoắn đến nỗi có thể đọc được vài trang Simenon. Đêm đến má tôi đau lắm: “Chỗ nào cũng đau!”. Người ta chích a phiến. Đến sáng, khi má tôi mở mắt ra, mắt đã trong vắt, tôi nghĩ “Lần này thì thật hết”. Má tôi ngủ lại. Tôi hỏi N: “Đã đến giờ cuối cùng chưa? – Ồ! Chưa, người ta đã hồi sinh cụ chu đáo quá!” Ông ta nói một giọng nửa thông cảm, nửa đắc thắng. Như vậy thì má tôi sẽ chết vì đau đớn chăng? Giết chết tôi đi. Đưa cho tôi khẩu súng. Thương đến tôi. Má tôi nói: “Đau đớn khắp mình”. Má tôi cử động những ngón tay sưng lớn mà lo ngại. Má tôi đã mất tin tưởng: “Những ông bác sĩ này, họ bắt đầu làm cho tao bực mình. Họ vẫn nói rằng tao khá hơn, mà tao thì thấy yếu đi nhiều”.
Tôi quyến luyến người hấp hối này.
Khi tôi nói chuyện với má tôi trong chỗ hơi tối này, mối hận lòng ngày trước được xoa dịu: tôi gây lại cuộc đối thoại đã bị gián đoạn từ thuở tôi mới lớn lên, vì những điểm tương đồng tương dị giữa hai người, chưa bao giờ chúng tôi nối lại được cả.
Sự thương yêu mà tôi tưởng đã tắt hẳn lại hồi sinh khi má tôi có thể dùng đến lời lẽ và cử chỉ giản dị.
Tôi nhìn mẹ tôi. Mẹ tôi nằm đấy, có mặt, có ý thức, nhưng hoàn toàn không biết những gì đang xảy ra cho mình. Không biết cái gì xảy ra trong người là việc thường. Nhưng phía bên ngoài thân thể mình cũng không biết gì cả: vết thương ở bụng, chỗ lỗ hổng ở ruột không liền để phân trong bụng thoát ra, nước da màu xanh bầm, nước rỉ từ chân lông ra; tay má tôi gần như tê liệt không thể sờ đến người được, khi người ta băng bó thì má tôi ngửa đầu ra đằng sau. Má tôi không hỏi đến cái gương soi nữa: đối với bà không có cái mặt người sắp chết ấy. Má tôi nằm nghĩ và mơ màng, ở xa vô chừng cái xác thịt thối rữa của mình, bên tai vang dội những lời dối trá của chúng tôi. Má tôi dồn hết mình vào một hy vọng say mê: khỏi bệnh. Tôi những muốn tránh cho má tôi những cái khó chịu vô ích: “Má không cần uống thứ thuốc ấy nữa. – Để má uống thì hơn”. Và má tôi uống thứ nước trắng như thạch cao. Mẹ tôi ăn một cách khó khăn: “Má đừng ăn cố, ăn như thế đủ rồi – Con tưởng thế chứ!”. Má tôi ngắm nhìn cái đĩa, lưỡng lự: “Cho má chút nữa”. Sau cùng tôi phải giấu đĩa đi: “Má ăn hết rồi”. Má tôi tự bắt mình ăn một cốc sữa chua mỗi buổi quá trưa, và thường hỏi nước trái cây. Bà sẽ cử động cánh tay, giơ hai bàn tay khoanh lại làm hình cái chén, bà thong thả, cẩn thận sờ soạng, cầm lấy cái ly vẫn ở trong tay tôi. Má tôi hút những sinh tố tốt lành qua một cái ống nhỏ: một cái miệng quỷ hau háu nuốt lấy sự sống.
Trên bộ mặt khô đét, hai mắt như to ra quá sức, má tôi mở rộng ra nhìn trừng trừng; má tôi để hết tâm trí và cố gắng phi thường để thoát khỏi sự hôn mê mà ngoi lên trên mặt những hồ ánh sáng đen; bà nhìn tôi một cách chăm chú thảm đạm, như bà mới phát minh ra cái nhìn. “Má nhìn thấy con!”. Mỗi lúc má tôi lại phải đoạt lấy cái nhìn ấy trong cõi tối tăm. Nhờ cái nhìn đó, má tôi bấu víu lấy cuộc sống như móng tay bấu víu lấy khăn nệm, để khỏi lăn xuống vực thẳm. “Sống! Phải sống!”.
Chiều thứ tư này, ngồi trong tắc-xi đưa tôi đi, tôi buồn làm sao! Tôi thuộc lòng đường đi qua những khu phố đẹp đẽ: Lacôme, Houbigant, Hermès, Lanvin. Thường thường một cái đèn đỏ làm tôi phải ngừng lại tiệm Cardin: tôi trông thấy trưng bày mũ nỉ, áo ghi-lê, khăn quàng, giày cụt cổ, giày có cổ, những đồ vật không mấy lịch sự. Xa xa, là những chiếc áo mặc trong nhà lông xù, màu dịu dàng; tôi nghĩ: “Mình sẽ mua cho má một cái để thay thế cái áo choàng đỏ”. Nước hoa, áo lông, quần áo, nữ trang: sự ngạo mạn xa xỉ trong một thế giới không có chỗ cho sự chết; nhưng sự chết phủ phục sau cái mặt tiền ấy, trong sự bí ẩn xám xịt của những bệnh viện, nhà thương, căn phòng kín cửa. Và tôi không biết chân lý nào khác.
Đến thứ năm, cũng như mọi ngày, sắc diện má tôi làm tôi giật mình: hốc hác và bối rối hơn hôm trước. Nhưng má tôi nhìn rõ. Má tôi nhìn kỹ tôi: “Má nhìn con, tóc con màu nâu – Vâng, má đã biết rồi mà – Con và em con, cả hai đứa đều có một món tóc trắng lớn. Như thế để má bám vào, khỏi ngã”. Má tôi cử động ngón tay: “Ngón tay hết sưng phải không?”. Má tôi đã ngủ. Khi mở mắt ra, bà nói: “Khi má thấy một cái tay áo trắng thì má biết rằng mình sắp tỉnh dậy. Khi ngủ, mình ngủ trong cái váy”. Những kỷ niệm gì, những ám ảnh gì đã quấy rối má tôi? Má tôi vẫn sống quay ra cuộc đời bên ngoài và tôi phải xúc động vì thấy má tôi bỗng lạc lõng trong thâm tâm mình. Má tôi không muốn người ta đưa mình ra ngoài nữa. Hôm ấy, một người bạn, cô Vauthier kể cho má tôi nghe chuyện một người nội trợ, cô ta nói nhiều quá. Tôi phải dắt cô ta đi khỏi vì má tôi đã nhắm mắt lại. Khi tôi trở lại, má tôi bảo: “Không nên nói những chuyện ấy với người bệnh, họ chẳng để ý gì đến cả”.
Đêm ấy tôi ở gần má tôi. Má tôi cũng sợ ác mộng như sợ sự đau đớn. Khi bác sĩ N đến, má tôi yêu cầu: “Cứ chích thuốc cho tôi, cần bao nhiêu thì cứ chích bấy nhiêu”. Vừa nói vừa giơ tay làm như nữ y tá đâm mũi kim chích. “À! Cụ muốn trở nên một người nghiện thuốc xái thực sự!”. Bác sĩ N nói thế và tiếp theo bằng giọng bỡn cợt: “Tôi có thể cung cấp a phiến cho cụ với giá rất rẻ”. Mặt ông sa sầm lại và nói với tôi giọng gay gắt: “Có hai điều mà thầy thuốc biết tự trọng không thể coi nhẹ được: thuốc phiện và thôi thai”.
Thứ sáu qua đi không có chuyện gì. Thứ bảy má tôi ngủ suốt ngày. Poupette nói: “Má nghỉ ngơi được như thế. Tốt lắm”. Má tôi thở dài: “Ngày hôm nay má không sống”.
Khi người ta yêu đời tha thiết như vậy mà phải chết thì cơ cực quá. Tối hôm ấy các y sĩ bảo tôi: “Cụ có thể chịu đựng được hai ba tháng nữa”. Như vậy, chúng tôi phải tổ chức cuộc sống, phải để cho mẹ tôi quen với sự vắng mặt của chúng tôi trong vài giờ. Hôm trước chồng dì nó qua Ba-lê, đêm ấy nó định để má tôi một mình với cô Cournot. Cô ta sẽ đến buổi sáng, Marthe vào lúc hai rưỡi, tôi, lúc năm giờ.
Đến năm giờ, tôi đẩy cửa vào. Mành mành đã hạ xuống, trong nhà gần tối đen. Marthe cầm tay má tôi, má tôi nằm nghiêng bên phải, vẻ mệt nhoài, thiểu não: vẩy mục ở mông bên trái tuột ra, nằm như thế bớt đau, nhưng khó chịu lắm. Má tôi lo âu mà đợi Poupette và Lionel đến tận mười một giờ, vì người ta đã quên gài dây chuông gọi vào nệm, nút chuông ở ngoài tầm với, mẹ tôi không có cách nào gọi người làm cả. Bạn của má tôi, bà Tardieu đã đến thăm, nhưng mẹ tôi vẫn bảo dì nó rằng: “Con để phó mặc má cho đồ súc vật!” (Má tôi ghét những cô y tá làm chủ nhật). Má tôi đã vui vẻ mà trêu chọc Lionel: “Anh muốn cho mẹ vợ khuất mặt đi cho rảnh phải không? Lại chưa phải lần này đâu”. Sau bữa cơm sáng, phải nằm một mình, má tôi lại khắc khoải. Má tôi nói giọng run run: “Không nên để má một mình, má còn yếu quá. Không nên phó mặc má cho đồ súc vật! – Từ nay con không để má một mình nữa”.
Marthe đi khỏi. Má tôi chợp ngủ rồi giật mình tỉnh dậy: mông bên phải đau. Bà Gontrand đặt má tôi nằm lại. Má tôi vẫn kêu đau. Tôi muốn bấm chuông gọi nữa: “Vô ích. Lại vẫn là Gontrand mà thôi. Bà ta không biết”. Không phải má tôi tưởng tượng ra mình đau đớn. Sự đau đớn có nguyên do thể chất đích xác. Tuy nhiên đau đớn dưới mức độ nào đó, cô Parent hay cô Martin có thể làm cho bớt đau; cũng vẫn một cách chăm nom mà bà Gontrand không làm được gì cho má tôi. Nhưng rồi má tôi cũng ngủ được. Đến sáu rưỡi, má tôi vui vẻ ăn được chút canh và chút kem. Rồi bất thần má tôi rên la, mông bên phải như lửa bỏng. Không có gì lạ cả. Người má tôi như bị lột da, dầm trong nước tiểu ri rỉ tiết từ trong người ra; đầu ngón tay các cô y tá bị phỏng vì thay nệm cho má tôi. Tôi hoảng hốt bấm chuông gọi hoài: sao giờ phút đi lâu thế! Tôi cầm tay, sờ trán má tôi, tôi nói: “Người ta sẽ chích thuốc cho má. Má sẽ hết đau. Một phút nữa thôi, chỉ một phút nữa thôi”. Má tôi gò người lại, rên la gần như gào thét: “Rát quá, ghê gớm quá, má chịu không nổi, má chết mất”. Má tôi nấc lên: “Khổ sở quá”, giọng như giọng con nít, như xé ruột xé gan tôi. Má tôi thật là cô đơn! Tôi sờ vào người má tôi, tôi nói với má tôi, nhưng không thể bước vào trong sự đau đớn của má tôi được. Tim má tôi đập dồn dập, mắt đảo ngược, tôi nghĩ: “Má chết mất” và má tôi khẽ nói: “Má ngất xỉu này!”. Rồi bà Gontrand tiêm cho một mũi a phiến. Không có kết quả.
Tôi bấm chuông gọi nữa. Tôi phải rùng mình khi nghĩ rằng cơn đau có thể xảy ra vào lúc sáng, lúc không có ai bên cạnh, không có cách gì để gọi ai cả: bây giờ không thể rời má tôi phút nào. Lần này y tá cho má tôi uống thuốc chỉ thống, thay nệm, thoa chỗ đau bằng thứ thuốc óng ánh kim khí. Đã hết rát; cơn đau chỉ độ 15 phút: tưởng như bất tận. Ông ta đã la hét trong mấy giờ đồng hồ. Má tôi nói: “Như thế thì hèn quá, hèn quá!”. Phải rồi: kêu khóc thì hèn quá. Tôi không hiểu được mấy ông bác sĩ nữa, không hiểu được em tôi và cả tôi nữa. Không có gì ở đời biện hộ cho những phút chịu cực hình vô ích như thế.
Sáng thứ hai, tôi nói chuyện bằng điện thoại với Poupette: Phút cuối cùng của má đã sắp đến. Chỗ thủy thủng không xẹp đi được; bụng không liền da được. Thầy thuốc nói với y tá rằng chỉ còn cách cho uống thuốc an thần để người u mê không biết gì nữa.
Đến hai giờ, trước cửa sổ 114, tôi gặp em tôi, nom như người mất hồn. Dì nó nói với cô Martin: “Xin đừng để cho má tôi đau như hôm qua – Thưa bà, tiêm nhiều thuốc thế chỉ để da khỏi tróc cứng chứ ngày nào đã lên cơn đau dữ thì a phiến không còn hiệu lực nữa”. Hỏi vặn thì cô ta nói rằng thường thường những trường hợp như má tôi, người bệnh chết trong những cơn đau đớn kinh khủng. Thương tôi với. Giết tôi đi. Thế ra bác sĩ P đã nói dối à? Tôi định tìm một khẩu súng bắn chết má tôi, hay bóp cổ cho má tôi chết. Mơ tưởng hão huyền và lãng mạn. Nhưng tôi không thể nghe má tôi la hét hàng giờ. “Thôi ta đến nói với bác sĩ P”. Ông ta đến và chúng tôi xoắn lấy ông ta: “Ông đã hứa là mẹ tôi không đau đớn gì – Cụ không đau đâu”. Ông nói cho biết rằng nếu muốn kéo dài để má tôi chịu cực hình một tuần nữa thì phải mổ lần nữa, truyền máu và chích thuốc khỏe. Phải, cả ông N cũng nói với Poupette sáng nay: “Chúng tôi đã làm tất cả những gì phải làm nếu còn một chút hy vọng. Bây giờ còn kéo dài cơn hấp hối thì chỉ là một hình thức bạo dâm”. Nhưng chúng tôi không đủ tin. Chúng tôi hỏi ông P: “Nếu đau đớn thái quá, a phiến có công hiệu gì không? – Chúng tôi sẽ tiêm những liều cần thiết”. Ông ta nói một cách cả quyết làm chúng tôi yên tâm. Chúng tôi bớt lo lắng. Ông ta vào buồng má tôi để buộc lại băng. Chúng tôi bảo ông: “Má tôi ngủ – Cụ không biết tôi có mặt ở đây”. Có lẽ má tôi vẫn còn ngủ khi ông ta đi ra. Nhưng tôi nhớ lại những nỗi khắc khoải của má tôi lúc ban sáng, tôi bảo Poupette: “Đừng để cho má mở mắt ra thấy mình trơ trọi không có ai cả”. Em tôi đẩy cửa ra, vội quay lại, mặt cắt không còn hột máu, ngã xuống ghế dài và thổn thức: “Tôi trông thấy bụng má rồi!”. Tôi vội đi kiếm thuốc an thần. Khi bác sĩ P trở lại, dì nó bảo ông ta: “Tôi đã trông thấy bụng má tôi rồi! Thật là kinh khủng! – Không có gì đâu, thế là thường”, ông ta trả lời, hơi có vẻ bối rối. Poupette nói: “Người má đã thối rữa tuy má còn sống.”, tôi không dám hỏi câu nào nữa. Chúng tôi hỏi chuyện nhau. Rồi tôi ngồi bên cạnh giường má tôi: tôi tưởng rằng má tôi đã chết nếu không có dải lụa đen phập phồng trên cái áo choàng trắng. Vào khoảng sáu giờ, má tôi mở mắt ra: “Mấy giờ rồi? Ta không biết nữa. Tối rồi đấy à? – Má ngủ suốt buổi chiều – Má ngủ bốn mươi tám tiếng à! – Đâu có”. Tôi kể lại những việc xảy ra hôm trước. Má tôi nhìn qua cửa kính ra ngoài xa, nhìn đêm tối và những biển quảng cáo đèn nê-ông. “Ta không hiểu”, má nhắc lại, vẻ bực tức. Tôi nói cho má tôi biết những người đến thăm, những người kêu điện thoại hỏi má. Má tôi nói: “Má chẳng thiết nữa”. Má tôi nhắc đi nhắc lại sự kinh ngạc của mình: “Mình nghe rõ thầy thuốc nói: phải làm cho u mê không biết gì nữa”. Họ đã thiếu sự ân cần vậy. Tôi giải thích: Không cần phải chịu đau như hôm qua; bây giờ để cho má ngủ nhiều đợi những chỗ tróc cứng lên da non. Má tôi nói, có vẻ trách móc: “Phải, nhưng mất bao nhiêu ngày trời!”.
“Hôm nay mình không sống – Mình mất bao nhiêu ngày trời”. Mỗi ngày đối với má tôi có một giá trị không gì thay thế được. Thế mà má tôi sắp chết rồi. Má tôi không biết, nhưng tôi, tôi biết. Nhân danh má tôi, tôi không chịu nhẫn nhục như thế.
Má tôi đã dùng một ít nước canh, chúng tôi đợi Poupette. Má tôi nói: “Nó ngủ ở đây thì vất vả cho nó quá – Không sao đâu má”. Má tôi thở dài: “Thì có rắc rối gì cho má đâu!”. Và sau một lúc suy nghĩ: “Điều má thắc mắc là giờ má không thiết gì nữa”. Trước khi ngủ má tôi còn hỏi, giọng nghi hoặc: “Nhưng có thể làm cho người ta mê man ngu muội như thế này được không?”. Má tôi có ý phản đối chăng? Tôi cho rằng má tôi muốn tôi an ủi cho má yên lòng: “Chỉ tại thuốc làm cho má mê muội một cách giả tạo thôi, không phải tinh thần má đã xuống đâu”.
Khi cô Cournot trở vào, má tôi mở mắt ra. Hai mắt đảo lia lịa, má tôi định thần lại nhìn chăm chú người canh gác một cách cám cảnh, còn hơn đứa trẻ khám phá ra cuộc đời: “Cô là ai vậy? – Cô Cournot đấy mà, má! – Sao cô lại ở đây vào giờ này? – Tối rồi má à”, tôi nhắc lại cho má tôi biết. Má tôi giương mắt hỏi cô Cournot: “Sao lại thế? – Cụ biết chứ, đêm nào tôi cũng ở đây, ngồi bên cụ”. Má tôi nói một giọng chê trách: “Này! Sao lại có ý nghĩ kỳ cục vậy!”. Tôi sửa soạn đi ra. “Con đi đấy à? – Con đi khỏi má có buồn không?”. Má tôi trả lời: “Không sao. Má không còn thiết gì nữa”.
Tôi không đi ra ngay; mấy người y tá ban ngày nói rằng có lẽ má tôi không qua khỏi đêm nay. Mạch máu nhảy từ bốn tám lên một trăm. Đến mười giờ thì ổn định. Poupette đã đi ngủ; tôi trở về nhà. Tôi chắc chắn là bây giờ bác sĩ P không lạm dụng chúng tôi nữa. Độ một hay hai ngày nữa má tôi sẽ tắt nghỉ mà không đau đớn lắm.
Má tôi thức dậy rất tỉnh táo. Khi đau thì cho thuốc chỉ thống. Tôi đến lúc ba giờ; má tôi ngủ, Chantal ở đấy với má tôi. Sau này má tôi bảo tôi: “Tội cho Chantal. Nó bận công kia việc nọ mà tao làm nó mất hết thì giờ. – Chantal muốn như thế mà, cô ấy yêu má lắm”. Má tôi suy nghĩ rồi nói với tôi ra vẻ ngạc nhiên và buồn nản: “Còn má, má không biết má có yêu mến ai không”.
Tôi nhớ lại má tôi thường tự hào: “Ai cũng ưa má vì má vui vẻ”. Dần dần nhiều người làm phiền cho má tôi vì săn sóc đến má tôi. Bây giờ trái tim của má tôi đã mỏi mệt rồi, sự mỏi mệt đã lấy hết của má tôi rồi. Tuy nhiên, không có lời âu yếm nào lại làm tôi xúc động bằng khi thấy má tôi tỏ ra không còn thiết gì nữa. Ngày xưa những câu nói thuộc lòng, những điệu bộ ước định đã che lấp tính tình chân thực của má. Tôi ước lượng được sự nồng nàn của những câu nói, những điệu bộ ấy khi vắng mặt chúng, má tôi trở nên lạnh lùng như thế.
Má tôi ngủ, hơi thở mong manh đến nỗi tôi ao ước: “Nếu hơi thở ngừng đi không một chút xao động”. Nhưng dải lụa đen còn đưa lên hạ xuống: bước nhảy không dễ dàng thế đâu. Đến năm giờ tôi đánh thức má tôi dậy theo ý muốn của bà để bà ăn sữa chua: “Tại em mày cứ muốn tao ăn, ăn sữa chua tốt lắm”. Má tôi ăn hai hay ba muỗng: tôi nghĩ đến những thức ăn mà tại một vài nơi người ta vẫn đặt lên mồ người chết. Tôi đưa cho má tôi ngửi một bông hồng của Catherine mang lại hồi hôm: “Bông hồng cuối cùng ở Meyngnac”. Má tôi chỉ ngó qua bằng hai mắt thờ ơ. Má tôi lại chìm vào giấc ngủ; má tôi tỉnh dậy vì đau rát ở mông. Tiêm a phiến: không có kết quả. Cũng như ngày hôm kia, tôi cầm tay má tôi, tôi khuyến khích: “Một phút nữa thôi. Mũi tiêm sẽ có hiệu lực. Một phút nữa sẽ hết đau. – Thật là một cực hình theo lối Tàu”, mẹ tôi nói một giọng không vui không buồn, mẹ tôi đã yếu quá không còn sức để phản kháng. Tôi lại bấm chuông gọi năn nỉ xin chích mũi thuốc thứ hai. Cô bé Parent thu dọn giường, để má tôi nằm nhích ra chỗ khác một chút, má tôi lại ngủ thiếp đi, hai tay lạnh giá. Mụ hầu phòng cằn nhằn vì tôi không ăn bữa cơm chiều mang lên lúc sáu giờ: thông lệ không tránh được ở các bệnh viện, nơi mà hấp hối và chết chóc xảy ra hàng ngày. Đến bảy giờ rưỡi má tôi nói: “À! Bây giờ má thấy dễ chịu thật sự. Đã lâu nay má không thấy dễ chịu như thế”. Đứa con gái lớn cô Jeanne đến và giúp cho má tôi ăn chút canh và cà phê kem. Thật là khó khăn vì má tôi ho quá: đã bắt đầu nghẹt hơi. Poupette và cô Cournot khuyên tôi nên đi ra ngoài. Chắc rằng đêm nay không xảy ra chuyện gì, vả chăng tôi có mặt ở đây sẽ làm cho má tôi thắc mắc. Tôi hôn má tôi và má tôi nhếch mép cười một cách thiểu não, bảo tôi: “Má rất bằng lòng rằng con thấy má khỏe khoắn như thế này!”.
Tôi ngủ vào lúc mười hai giờ rưỡi, sau khi uống thuốc an thần. Tôi tỉnh dậy: chuông điện thoại kêu: “Chỉ trong vài phút nữa thôi. Marcel đem xe đến đón chị đó”. Marcel – anh em họ của Lionel – đưa tôi đi hết tốc lực qua Ba-lê vắng tanh. Chúng tôi đã uống một ly cà phê ở một cái quán sáng lửa hồng gần cửa Champerret. Poupette đến trước mặt chúng tôi, trong vườn bệnh viện: “Thế là hết”. Chúng tôi đi lên. Thật là bất ngờ và không thể tưởng tượng được, cái xác chết kia nằm trên giường, chiếm chỗ của má tôi. Tay, trán đã lạnh giá. Vẫn là má tôi đấy nhưng má tôi đã vắng mặt vĩnh viễn. Một mảnh vải đỡ cái cằm, bịt quanh khuôn mặt không còn cử động. Em tôi muốn đi tìm quần áo ở phố Blomet: “Để làm gì? – Hình như người ta vẫn làm thế – Chúng ta không làm thế”. Tôi không nghĩ đến mặc áo, đóng giày cho má tôi như thể má tôi đi phố; và tôi cũng không nghĩ rằng má tôi muốn thế: má tôi thường nói rằng má tôi chẳng để ý gì đến cái xác chết của mình. Tôi bảo cô Cournot: “Thôi cứ mặc cho má tôi cái áo ngủ dài”. Poupette lấy nhẫn trong ngăn kéo bàn ra và hỏi: “Thế còn nhẫn cưới của má?”. Chúng tôi đeo nhẫn vào ngón tay cho mẹ. Tại sao thế? Có lẽ ở trái đất này không có chỗ nào cho cái vòng vàng cỏn con ấy.
Poupette đã kiệt sức. Sau khi nhìn lại một lần cuối cùng cái xác không còn phải là má mình nữa, tôi vội vàng dắt dì nó đi ra. Chúng tôi đến tiệm Dôme uống một ly với Marcel. Poupette kể lại:
Vào lúc chín giờ, bác sĩ N ở trong phòng ra nói một giọng đầy bực tức: “Lại sút một mối ghim nữa. Đã ráng sức làm cho bà cụ mà còn thế: thật là chán ngán!”. Ông ta bỏ đi làm em tôi kinh hoảng. Dù hai tay lạnh giá, má tôi vẫn kêu nóng và thở khó khăn. Người ta tiêm cho một mũi, rồi má tôi ngủ. Poupette cởi áo đi nằm và làm như đọc một quyển tiểu thuyết trinh thám. Đến nửa đêm, má tôi trằn trọc. Poupette và người canh gác đến bên giường. Má tôi mở mắt: “Các người làm gì đấy, tại sao lại ra vẻ xao xuyến thế? Tôi thấy dễ chịu lắm – Tại má vừa mê sảng”. Khi kéo lại chăn nệm, cô Cournot sờ chân má tôi: chân đã chết lạnh giá rồi. Dì nó e ngại, chưa muốn gọi tôi. Vào giờ này sự có mặt của tôi sẽ làm má tôi hoảng hốt, má tôi còn đầy đủ sáng suốt. Má tôi ngủ lại. Đến một giờ lại cựa mình. Bằng một giọng ngang tàng, má lẩm bẩm nhắc đến một câu mà xưa cha tôi hay hát: “Người đi, người bỏ chúng ta”. Poupette nói: “Đâu có! Con có bỏ má đâu”, và má tôi hơi nhếch mép cười. Mỗi lúc má tôi mỗi thêm khó thở. Sau một mũi tiêm khác, má tôi lẩm bẩm, đã hơi líu lưỡi: “Đừng... Để cái chết nó đến...”. Má tôi nhấn mạnh vào chữ chết và nói thêm: “Tôi không muốn chết – Nhưng má đỡ rồi mà!”. Rồi má tôi nói lan man: “Ta muốn có đủ thì giờ để trình bày quyển sách... Để đem lại cho người đời vài giọt sữa trong”. Em tôi đã mặc áo xong: má tôi gần như đã mất thần trí. Bất thần má tôi kêu: “Ngạt thở!”. Miệng há ra, mắt mở trừng trừng, giữa khuôn mặt chỉ còn trơ xương, hai mắt nom lớn vô chừng: một cơn đau nổi lên, má tôi đã hôn mê. Cô Cournot vội nói: “Thôi, gọi điện thoại đi”. Poupette gọi tôi nhưng tôi không trả lời. Nữ điện thoại viên cố gắng gọi trong nửa giờ tôi mới tỉnh dậy. Suốt trong khoảng thời gian ấy Poupette trở lại bên mẹ, mẹ đã vắng mặt rồi; tim còn đập, mẹ ngồi thở, hai mắt trong như thủy tinh không trông thấy gì nữa. Thế là hết: “Các y sĩ nói rằng má tôi sẽ tắt đi như ngọn nến: “Không phải thế, nhất định không phải thế, em tôi vừa nói vừa khóc – Nhưng, thưa bà, người canh gác trả lời, tôi cam đoan rằng, cụ chết một cách rất dịu dàng”.