I. Hoàng hậu cua đồng
Người con gái khả kính ấy tên là The, cái tên nghe đã quê rồi, quê một cục. Vậy mà The cứ là Hoàng hậu, vì bạn bè ai cũng gọi Mạnh (chồng The) là “ông vua ao”.
Bao nhiêu ao lớn, ao nhỏ, ở xó xỉnh nào trong thành phố này, Mạnh đều biết hết. Anh tự vẽ cả một tấm bản đồ về ao, trong đó ghi tỉ mỉ diện tích, đường vào và độ nông, sâu của từng cái ao một. Ngoài tấm bản đồ nói trên, Mạnh còn có cả một mạng lưới thông tin cực kỳ nhạy bén về ao. Ai bán ao và bán bao nhiêu? Mạnh là người biết sớm nhất.
Có lẽ không gì khó khăn bằng việc mua bán bất động sản ở Hà Nội, bởi người đẻ ra mỗi ngày một nhiều mà đất thì chẳng đẻ thêm tấc nào. Một cái ao bán, có hàng chục, hàng trăm người mua. Mỗi người đi một cửa riêng, cạnh tranh bằng trăm nghìn phương thức khác nhau, song, hầu hết các cuộc tranh mua ấy, Mạnh đều thắng.
Mua ao, san lấp, xây nhà rồi bán, đấy là một chuỗi công việc đẻ ra tiền, rất nhiều tiền.
Làm nghề này hẳn là giàu, tất nhiên. Chả thế mà mới hơn ba chục tuổi đầu, Mạnh đã thành vua.
Người ta bảo con mồ côi cha thường sớm khôn. Mạnh mất bố từ lúc nhỏ và phải kiếm sống ngay từ buổi còn cắp sách đến trường làng. Trường đời đã dạy anh sớm nên người. Thật bõ công bà Thoại (mẹ Mạnh) đứng vậy nuôi con từ khi góa chồng cho tới bây giờ. Bà thật không ngờ đời bà lại có lúc sung sướng như thế này. Quả là giời có mắt. Bà chỉ không hài lòng có mỗi một điều – con dâu bà không xứng đôi, vừa lứa với cậu con trai của bà.
Ngày Mạnh lấy vợ, cả phố ai cũng xì xầm bàn tán, chê ỏng chê eo cô dâu. Ngay trong tiệc cưới có kẻ rỗi hơi còn lên thách chàng rể một vế đối, như sau: “Ông vua ao, đi tát đầm, chép không, quả không, rô không, diếc không, tôm không, tép không, vớ mỗi cua đồng hai càng, tám cẳng”. Từ đấy, người ta gọi The là “Hoàng hậu cua đồng”.
Một lần, bà mẹ đẻ của The gửi biếu bà thông gia trên phố năm quả cà tiến. Năm quả cà màu hổ phách, trong như thạch, được bọc cẩn thận trong giấy bản. Xưa, dân làng của The, hàng năm thường dâng vua loại cà này nên gọi là cà tiến.
- Cà bát bánh tẻ, loại to, tròn, dày cùi, ít hạt và không một nốt sâu đục, ong châm mới làm cà tiến được mợ ạ – The say sưa kể với mẹ chồng – Cà hái về không rửa mà dùng giấy bản lau sạch đi mang phơi ba nắng cho héo rồi ngâm vào chum tương ba ngày, ba đêm. Sáng ngày thứ tư vớt cà ra, dùng giấy bản lau khô lại phơi ba nắng cho héo và lại để vào một chum tương khác, ngâm ba ngày, ba đêm, rồi lại vớt ra, lau sạch, phơi héo, lại ngâm tiếp vào một chum tương khác. Cứ như thế, qua năm ngâm, năm phơi, mất nửa tháng giời và năm chum tương thì mới được một mẻ cà tiến.
Bà Thoại nhọn mỏ, vuốt quết trầu và xì một tiếng rõ to:
- Đúng là cái trò dớ dẩn của dân cua đồng. Đã làm vua ai còn ăn cà muối mà vẽ vời rách việc.
Câu nói của bà mẹ chồng thừa tiền mà thiếu học khiến The ứa nước mắt. Cô tủi thân mình, tủi phận mình, tủi thêm cho cả mẹ cô ở làng quê.
II. Khi vua thất thế
“Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa
Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quét chùa”.
Ca dao Việt Nam từng có bốn câu như vậy, nó không chỉ nói về đẳng cấp và khát vọng hoàn cải của nhân dân mà còn nói về cái lẽ thăng trầm ở đời. Làm dân rất ít khi thất thế, chứ đã làm vua thì thật khó tránh khỏi cái họa thất thế. Vua càng lớn, sự thất thế càng khủng khiếp.
Ông “vua” Mạnh thất thế vào ngày rằm tháng ba năm Tân Mùi (1991), lúc ấy vào tầm bảy giờ sáng.
Tai họa bắt đầu từ chiếc xe con. Vua ngày xưa đi kiệu và xe tứ mã. Còn vua bây giờ cưỡi xe Met-xe-đét, Toyota, Peugeot. Vua Mạnh thích một loại xe tốc độ và dã chiến hơn: U-oát.
Ông vua nào cũng có rất lắm chuyện bí mật, nhất là trong vi hành. “Vua” Mạnh cũng thế. Những chuyến vi hành ban đêm của anh quả thật không nên để cho một ai biết, ngoài chính anh. Thế là Mạnh bèn mày mò tự học lái xe.
Một đêm xuân rạo rực. Mạnh đánh xe đi đâu đó và mãi sáng hôm sau mới trở về. Xe đang bon tốc độ 70 km/giờ thì một em bé từ ngõ phố chạy vụt ra. Tay lái của Mạnh nhoằng sang trái. Chiếc U-oát đâm sầm vào một quán phở sáng làm bốn người chết và mười người bị thương nặng. “Vua” Mạnh sợ mất vía, bỏ xe chạy trốn biệt tăm. Để một mình The giơ đầu chịu báng. Đô la, vàng, bạc dốc ra hết. Cả tòa biệt thự lộng lẫy cùng bao đồ gia đình đắt tiền cũng lần lượt đội nón ra đi. Chăm sóc, đền bù cho những người bị thương, bồi thường cho thân nhân những người thiệt mạng, chạy vạy để chồng không phải vào tù. Những việc ấy tiêu hết cả một núi tiền.
Khi đã yên ổn mọi bề, ông chồng quý hóa của The mới lò dò trở về, mặt hốc hác, đen nhẻm như con quỷ đói.
Vốn hết, cơ nghiệp không còn, giờ sống bằng gì? The dựng lều, mở quán cơm bình dân. Quán của The rặt những món quê: cá rô rán, canh cua, dưa chua, rau sống và một món đặc sắc ít ai có: cà tiến. Nhờ The nấu khéo, làm khéo, lại bán rẻ nên quán lúc nào cũng đông nghịt khách. Và, The đang từng bước gây dựng lại cơ nghiệp.
Khi tôi viết bài này, The đã xây dựng được ngôi nhà mới xinh xắn, mới sắm xe máy, ti vi màu, tủ lạnh.
Tôi ngồi vào bàn ăn và gọi món cà tiến. The thoăn thoắt thái cà, trao cho tôi. Tôi ăn thật chậm từng miếng cà màu hổ phách, trong như thạch, ngọt, thơm, đậm đà hương quê! Chao! Chả trách mà ngày xưa vua chúa ăn cà.
- Quán làm ăn khá chứ! Chị The!
- Cũng được anh ạ! Em đang cố gây dựng cho nhà em chút vốn để anh ấy tiếp tục kinh doanh bất động sản. The vừa bán cơm vừa tiếp chuyện tôi. Còn ông “vua ao” đang lúi húi giúp vợ rửa rau sống và dọn bát phía sau nhà.