I. Ông Trạng thời nay
Tôi quen Lê Bình chưa lâu, nhưng mà thân. Ở đời vẫn vậy, có người, ta sống với họ cả đời mà mối quan hệ vẫn không vượt quá mức xã giao thông thường. Ngược lại có người, chỉ ngay lần gặp thứ nhất là đã yêu mến. Với tôi, Bình thuộc trường hợp thứ hai.
Tôi tình cờ gặp Bình ở nhà một người bạn và được nghe anh hát. Anh hát không điêu luyện như các ca sĩ, nhưng qua giọng hát của Bình, tôi thấy một trái tim đang run rẩy. Vì thế, tôi mê giọng hát của Bình hơn tất thảy mọi ca sĩ lừng danh. Và Bình cũng rất yêu tôi. May mà cả hai chúng tôi đều là đàn ông chứ nếu không thì nguy, mối quan hệ của chúng tôi có thể chặt hơn nhưng không bền được cho đến bây giờ.
Bạn bè gọi Bình là “Trạng Bình”. Gọi như thế thật chẳng quá đáng một tí nào. Bình có bộ óc siêu việt. Hắn thuộc lòng hơn năm trăm số máy điện thoại tự động. Vốn kiến thức của Bình mênh mông và sâu, thuộc nhiều lĩnh vực. Bình có thể kể vanh vách từ một điển tích văn hóa Trung Quốc cổ đến số dân và đặc điểm ngôn ngữ của một hòn đảo Philippin. Hơn thế, Bình còn biết trước nhiều điều. Có lần, Bình bảo tôi: “Cậu phải chú ý, vợ cậu đẻ lần này là phải mổ đấy, không đẻ bình thường như mọi lần được đâu”.
Vợ tôi rất mê tử vi. Đã có hai ông thầy nói với nhà tôi: “Chị sẽ đẻ rơi dọc đường”.
Vì vậy khi thấy bụng vợ đã hơi thấp, tôi thồ bà xã đến ở nhờ một anh bạn cạnh bệnh viện C để phòng “vỡ đê” đột xuất. Ăn chực, nằm chờ cạnh bệnh viện tới mười sáu ngày mới nghe vợ bảo “Em thấy đau lâm râm ở ngang thắt lưng”. Tám giờ sáng, tôi đưa vợ đến phòng khám bệnh viện C và chờ ở đấy. Tôi thở phào: “Hú vía! Thế là thoát nạn đẻ rơi”. Mười chín giờ, vợ tôi vỡ ối và được đưa lên bàn đẻ. Nhưng lên rồi lại xuống. Rồi hai tay ôm mông, đi vòng quanh phòng và nhăn nhó: “Anh ơi! Sao mãi nó không ra!” Thương vợ quá, tôi nhảy đại qua cửa sổ, vào phòng đẻ, đứng cho vợ vịn một tí. Bà bác sĩ trực phòng đẻ trừng mắt quát: “Anh kia! Ai cho phép vào đây? Hả!”.
Hai mươi ba giờ, thằng cu vẫn ngoan cố chưa chịu bò ra. Sực nhớ lời căn dặn của Bình, tôi đề nghị các chị trực phòng đẻ: – Hay các chị mổ cho nhà tôi đi. Để lâu quá e không có lợi.
- Vâng! Mổ nhé.
Bà bác sĩ chấp nhận ngay và mười bảy phút sau, tôi đã nghe tiếng con trai tôi khóc váng cả phòng mổ.
Sau cú ấy, vợ tôi phục Bình sát đất. riêng tôi không phục lắm. chúng tôi xây dựng muộn. Hơn bốn mươi tuổi mới sinh lần đầu, phải mổ là chuyện bình thường, gì mà không đoán được: “Thầy bói nói dựa” mà.
Song cái việc Bình đi tù thì tôi phục quá.
Ngày đầu năm, Bình nói với tôi:
- Năm nay, tao bị Thiên Hình chiếu, Thiên Mã lại Ngộ Tuần, Triệt, ấy là cái thế chim trời trong làn đạn, vó ngựa trước vựa thẳm, rất nguy, không què tay, gãy chân thì cũng bị tù tội.
Và Bình nghỉ hẳn việc buôn bán trong một năm.
Nghề của Bình là buôn đồ cổ. Hình như trời sinh ra Bình là để làm nghề này. Cầm một chiếc lọ sứ, Bình có thể nói ngay nó thuộc đời nào và lò sứ của địa phương nào sản xuất. Về mặt này, Bình không bao giờ nhầm lẫn.
Hàng nào cũng có của thật và của giả. Thị trường vốn như thế. Mặt hàng đồ cổ vì rất đắt nên càng lắm hàng giả. Có ông ma mãnh đem đĩa, bát sứ Quảng Ninh vứt xuống sông Bạch Đằng rồi sau đó thuê người mò lên và quảng cáo rùm beng rằng: “Mò được đồ cổ từ thời Ngô Quyền”. Lại có người gọt tượng Phật Bà Quan Âm bằng gỗ mít, phết sơn ta rồi xông khói hương suốt mười mấy ngày và mang bán đấu giá. Đã có rất nhiều người mất tiền oan vì những thứ đồ cổ môđen chín mươi này. Nhưng, không một tay làm hàng giả cổ nào lừa được Bình. Hắn chỉ lườm qua là biết ngay thật giả.
Phương châm của Bình là thế này.
- Mình phải thật rành về đồ cổ để không bao giờ mang đồ cổ đi bán.
Bình nói như vậy và luôn làm đúng như vậy. Không đem bán thứ mới toe. Bình chỉ bán đồ cận đại, cỡ tám chục, một trăm năm. Với nhiều người, như thế đã là đồ cổ lắm rồi. Nhưng đấy hoàn toàn không phải là đồ cổ.
Đồ cổ thứ thiệt, Bình chỉ mua về chơi chứ không bao giờ bán. Một tâm hồn như Bình, không bao giờ mang những thứ quốc bảo đi bán kiến lời.
Buôn đồ cổ như thế thì không thể nào tù được. Đã thế Bình còn nghỉ hẳn việc buôn bán một năm. Cẩn thận như thế tưởng đã an toàn lắm. Vậy mà Bình vẫn phải ngồi tù. Án phúc thẩm của Bình là bốn năm tù giam. Thế đấy! Buôn bán quả là một nghề gay go lắm thay.
II. Ông thương gia người Bỉ và pho tượng Phật Bà Quan Âm
Một trong những thành công lớn của đạo Phật là hình tượng Phật Bà Quan Âm. Chưa một ai trông thấy Phật Bà Quan Âm bằng xương bằng thịt bao giờ, nhưng khi bà xuất hiện, dù ở đâu: chùa chiền, tranh ảnh hay trên màn ảnh mọi người đều nhận ngay ra Phật Bà Quan Âm.
Trong ý tưởng của mọi người, bà là một hình ảnh đẹp, một vẻ đẹp tâm linh vừa thần bí vừa cao quý, nhân từ, gần gũi.
Vì thế, tượng Phật Bà Quan Âm bao giờ cũng được mọi người quý chuộng.
Ông thương gia người Bỉ mua được một pho tượng Phật Bà Quan Âm ở Sài Gòn, do chính Lê Bình bán cho với giá 1.400 USD. Pho tượng bằng làm bằng gỗ mít, thiếp vàng. Phật Bà được tạo dáng khá hài hòa thanh thoát. Pho tượng bị gãy mất một đốt ngón tay út, bàn tay bên phải. Chính cái ngón tay bị gãy một đốt này làm ông thương gia người Bỉ tưởng rằng đây là hàng cổ chính cống. Ông đã gửi ảnh của pho tượng về Bỉ, khoe với bà vợ trẻ của ông.
Cả cán bộ hải quan của ta cũng nhầm tưởng đấy là đồ cổ thứ thiệt. Pho tượng bị giữ lại ở sân bay Tân Sơn Nhất. Ông khách người Bỉ chạy đến nhà Lê Bình.
- Tôi phải bỏ chuyến bay vì pho tượng của ông. Nếu tôi không mang được nó về Bỉ, vợ tôi sẽ không cho tôi vào nhà.
Lê Bình chạy ngay tới sân bay Tân Sơn Nhất. Và, bằng vốn hiểu biết đầy đủ của mình về các pho tượng cổ, anh chứng minh cho các cán bộ hải quan hiểu rằng đấy chỉ là mặt hàng cận đại chứ không phải đồ cổ. Hơn thế nữa, anh còn chỉ rõ nghệ nhân nào, ở đâu đã làm pho tượng này.
Ông thương gia người Bỉ được phép mang pho tượng đi nhưng mặt ông buồn thiu.
- Thì ra, tôi mắc lỡm ông, ông Lê Bình!
- Tôi có bao giờ nói với ông rằng đấy là tượng cổ đâu! Lê Bình đáp – Một pho tượng cổ không có giá như ông đã mua và tôi cũng không bao giờ bán tượng cổ.
Bình buôn bán như vậy, sòng phẳng và sành sỏi. Anh không bao giờ mua, bán hớ và cũng không bao giờ lừa bịp người khác. Khách mua hàng của Bình, sở dĩ có người thất vọng vì họ bị lòng tham đánh lừa. Mà người có lòng tham thì nhiều, nhiều lắm.
Lê Bình viết chữ nho khá đẹp. Ngày đầu xuân, Bình thường hay đi bán chữ.
Giấy điều loại ráp để viết cho ăn mực. Cây bút lông thật mềm, phẩy phát nào ra nhát ấy, chữ như rồng bay, phượng múa. Chữ nho viết một lần, hoặc là được, hoặc là bỏ. Loại chữ phải tô đi, đồ lại nom chẳng ra gì.
Bình thường viết sẵn chữ ở nhà rồi mang đi bán. Thường cũng chỉ có bốn chữ thôi – Phúc, Lộc, Thần, Đức.
Khách du xuân, mua chữ để thờ. Ai muốn trả bao nhiêu, tùy. Ai không sẵn tiền mà muốn có chữ để thờ, Bình biếu không. Cũng chẳng mong gì chuyện làm giàu ở cái trò bán chữ này, chỉ vui thôi, cũng là một thú chơi, một cách chơi.
Năm nào cũng vậy, chữ Lộc được người ta mua nhiều nhất và Bình bán hết veo trong buổi đầu. Còn chữ Đức thì ế hàng mớ. Số chữ ế ấy Bình mang về thờ. Thế mới biết lòng tham của người đời là nhiều và nặng lắm. Ngẫm cho đến cùng, người ta chết vì tham, vậy mà thật khó tránh cái tính tham.
Trong nghề buôn, lòng tham vừa là động lực thúc đẩy vừa là cạm bẫy khôn lường.
Bình thờ chữ Đức, anh biết dừng khi cần thiết. có lẽ nhờ thế mà khi anh phải ngồi tù, bạn bè vẫn nể, quý anh.
III. Bị cáo có vết son trên má
Trong khi tôi viết về Lê Bình thì một chuyến tàu của nước ta đang chở toàn bộ đồ cổ mò vớt được ở vùng biển Hòn Khoai sang Hà Lan bán đấu giá.
Chẳng biết vụ này Nhà nước thu được bao nhiêu đô la, nhưng Lê Bình thì xót xa.
- Tiếc đứt ruột! Nếu không bị ngồi tù, tôi sẽ xin mua một vài thứ mang về thờ và sẵn sàng cho các cơ quan văn hóa chuộc lại bất cứ lúc nào. Còn đã bán ra nước ngoài là không chuộc được nữa.
Con người Bình là thế, tâm huyết và dày dặn. Vậy mà vẫn phải ngồi tù. Chung quy tại bà vợ. Trong khi chồng quyết định ngừng buôn bán một năm để tránh cái họa Thiên Hình chính chiếu thì bà vợ vẫn ngấm ngầm rủ bạn bè buôn đồ cổ.
Những cọc tiền mới cứng, những tờ đô la sột soạt có ma lực ghê gớm, từ chối nó thật không dễ. Nhưng chị cũng không tham đến mức mang đồ quốc bảo đi bán. Chỉ phải cái kiến thức về đồ cổ của chị còn quá ít ỏi nên chị không phân biệt nổi đâu là đồ cổ chính cống, và đâu là hàng tầm tầm. Trong lô hàng của chị bị khui ra ở sân bay Tân Sơn Nhất có hai món đồ cổ đắt giá: Một tượng tròn Chàm và một tượng nhà mồ Tây Nguyên.
Bình đứng chết lặng trước lô hàng vừa được khui ra. Biết ăn nói làm sao bây giờ? Thế nào cũng có một người phải đi tù.
Ai? Chả nhẽ để vợ vào nhà đá. Bình phải cắn răng ký biên bản nhận lô hàng ấy là của mình.
Trong phòng thẩm vấn, cô công an phát hiện một vệt son trên má Bình.
- Trong khi người ta chở hàng ra sân bay, anh ở đâu? – Cô công an hỏi.
- Thưa, tôi ở nhà một người bạn.
- Bạn gái?
- Vâng.
“Anh này có bồ – cô công an nghĩ thầm – không thể tin được số hàng kia là của anh ta. Một lô hàng hơn hai trăm triệu đồng chưa đi lọt, chủ nhân của nó không thể bình tâm đến nhà bồ và hú hí với cô ta”.
- Anh có muốn chứng minh rằng mình vô can không? – Cô công an hỏi.
- Không.
- Thôi. Đành chịu. án của anh không dưới bốn năm tù, có lẽ thế. Nhưng anh là một ông chồng rất biết thương vợ.
Và, tập hồ sơ về vụ án Lê Bình đã được khép lại.