I. Gả bán
Mãi khi Lan lấy Gillbert Leung làm chồng bạn bè mới gọi cô là Lan “gà tây”. Còn trước đó, biệt hiệu của cô là Lan “gà mái ghẹ”.
Mẹ Lan – bà Hiền, chuyên buôn gà mái ghẹ. Con gà mái đến thì nhảy ổ, mào nó đỏ chót, lông nó mượt mà, thịt nó béo và thơm, lại có cả buồng trứng trong bụng, giá bán cao hơn hẳn các loại gà khác, ấy là gà mái ghẹ.
Cứ qua tay bà Hiền thì tất thảy gà mái, kể cả gà mái mẹ đang nuôi con, cũng đều thành gà mái ghẹ hết. Chải một chút lòng trắng trứng lên lông gà là có bộ lông óng ả, còn cái mào thì nhuộm đi. Khoản lãi thứ hai thì nằm trong nồi bánh đúc. Bột sắn trộn với bột đá, nấu thành bánh đúc, cắt miếng nhỏ bằng ngón tay, nhét vào miệng con gà, kéo cổ con gà cho thẳng lên rồi vuốt xuống, vuốt mãi cho tới khi bánh đúc đầy ứ lên đến tận miệng mới thôi. Như thế, chí ít mỗi gà cũng tăng trọng được vài, ba lạng.
Bà Hiền thừa biết rằng chỉ lừa người được một lần. Vâng! Thì những bà vợ vụng chợ cũng như gã đàn ông sống độc thân hãy cứ mắc lừa bà lấy mỗi người một lần, thế là bà đã sống đủ, ăn đủ rồi.
Từ ngày cô con gái rượu bỏ dở trường cao đẳng sư phạm, về đi chợ bán gà với mẹ, bà Hiền càng phất hơn. Các đấng mày râu, đến cửa hàng của bà, mắt cứ tít cả lại vì cô Lan xinh đẹp. Thế là gà tám lạng rưỡi, bà cân thành một ký, Lan mang biệt hiệu “Gà mái ghẹ” từ đấy.
Có khối chàng trai đã đầu đơn xin “bắt” con “gà mái ghẹ” của bà Hiền, nhưng bà chưa duyệt. Chung quy cũng chỉ tại lưng vốn của người mua còn mỏng. Con “gà” ấy bằng vàng, muốn mua được phải có nhiều tiền.
Và, anh chàng Gillbert Leung, người xứ Ôxtrâylia, đã vớ được con “gà mái ghẹ” của bà Hiền.
Đối với Leung, chuyến du lịch Việt Nam thật thú vị, và thú vị nhất là ba cái rẻ: ăn rẻ, ở rẻ, các cô gái rẻ.
Ôi! Những cô gái Á Đông xinh xắn và mềm mại như tơ lụa mà rẻ đến không ngờ. Chỉ với số tiền bằng nửa ngày trợ cấp cho người thất nghiệp ở Ôxtrâylia là đã có thể có một cô gái trên giường ngủ.
Song, mấy ngày cuối cùng ở Việt Nam, tại một nhà nghỉ vùng trung du, Leung lại bị lâm vào tình trạng “đói” gái. Đêm dài là đêm không bạn tình. Leung mấy lần tìm người lái xe, rỉ tai nhờ cậy nhưng đều được trả lời rằng NO.
Đang ngán ngẩm, mong cho chóng đến ngày bay về nước thì may sao, Leung lại gặp mẹ con bà Hiền vào nhà nghỉ bán gà.
- Ô kê! Leung reo lên.
Bà Hiền hiểu là ông tây đòi mua gà đen ( “ô” là đen, “kê” là gà).
- Sao ông khôn ăn thế – Bà nói với khách – Gà mái đen người ta dùng làm thuốc, ông không mua được đâu. Có gà mái ghẹ đây, ông thích ăn con nào thì tôi bán rẻ cho.
Ông Tây chẳng hiểu mô tê gì. Ông cứ chỉ đại vào Lan rặn mãi mới lòi ra được một câu tiếng Việt ngắn cũn và trọ trẹ.
- Đẹp, đẹp tuyệt!
Giờ thì bà Hiền hiểu là nó “ô-kê” con gái bà. Song, bà im lặng, tảng lờ.
Trong sổ tay du lịch của Leung có một câu “thần chú” mà những người đi trước đã truyền cho y, trước chuyến đi sang Việt Nam “Hãy mở các cánh cửa bằng đồng Mỹ kim”.
Leung đã nhiều lần dùng tới câu thần chú này và thấy nó hữu hiệu lắm. Bây giờ, Leung lại mở ví ra.
Bà Hiền không thể nắm mắt làm ngơ trước những tờ đô la ấy. Bà phải bán bao nhiêu gà mới được một tờ xanh xanh kia.
Song bà từ chối.
- Cám ơn ông! Ông không mua gà thì tôi cầm tiền của ông làm gì. Nếu không bận, mời ông đến nhà chúng tôi chơi, cũng gần đây thôi.
Được lời như cởi tấm lòng, Gillibert Leung lẽo đẽo theo bà Hiền về căn nhà nhỏ của cô gái xinh đẹp. Cuộc gặp gỡ thật ngắn ngủi. Khách đến một lúc rồi đi. Bà Hiền sai cô con gái cưng hái mười quả cam sành trong vườn nhà đem biếu khách. Bà con dân phố tưởng chuyện chỉ thế là hết. Phố ở kề khu du lịch, việc có người nước ngoài đến nhà âu cũng là sự thường. Song, chỉ riêng bà Hiền biết chuyện chưa hết, nó chỉ mới bắt đầu. Bằng con mắt lõi đời và từng trải, bà Hiền biết thằng Tây rất thèm con gái bà. Và bà cũng tỏ cho hắn hiểu rằng bà cũng “ô kê”. Vì thế, bà cứ thấp thỏm đợi chờ. Rồi cô Lan nhận được thư của Leung, một lá, hai lá, ba lá… Lan vẫn im lặng.
- Viết thư cho nó đi – Bà Hiền bảo con gái. – Mời nó sang đây.
- Mẹ buồn cười! Biết nó thế nào mà mời với mọc. Với lại, con không lấy chồng Tây.
- Ngu như chó! Lấy nó chẳng sướng bằng giời à. Người ta muốn đi thì phải sắm tàu, sắm thuyền vượt sóng, vượt gió. Còn mày đi bằng máy bay, sướng như bà hoàng. Mày sướng một đời mà mẹ cũng mát mày, mát mặt.
- Nhưng con không yêu nó. Mắt xanh lè, râu ria nhìn phát khiếp.
- Tùy chị. Không lấy nó thì chị ở vậy làm gái già. Tôi không gả cho thằng nào, đứa nào sất. Cả một lũ dập dìu, bìu ríu, đẹp mã nhưng tiền không có nghề ngỗng không có.
Những cuộc cãi vã như thế nổ ra như cơm bữa và bao giờ cũng kết thúc bằng những giọt nước mắt của Lan cùng sự dỗ dành ngon ngọt của bà mẹ tham lam, xem việc con gái lấy chồng cũng như một thứ dịch vụ ngoài chợ trời:
- Con dại lắm. Con lấy nó thì con sướng cái thân con mà mẹ thì cũng có thêm dăm, bảy chục triệu làm vốn. Vài nghìn đô đối với nó chả là cái gì, nhưng mẹ con mình thì cả đời đi bán gà cũng không có ngần ấy. Sang bên đó, nếu nó tử tế thì ở, bằng không thì làm đơn ra tòa ly hôn, chia một nửa gia tài rồi lấy thằng khác giàu hơn, trẻ, đẹp hơn. Nếu con thấy buồn thì làm giấy bảo lãnh, đón mẹ sang. Cùng lắm thì lại về nước. Bây giờ, người ta đi nước ngoài như đi chợ, miễn là có tiền.
Rồi Gillbert Leung sang Việt Nam lần thứ hai. Lần này, hắn được bà Hiên ra tận sân bay đón và đưa thẳng về nhà bà, ăn nghỉ như một thành viên chính thức của gia đình. Bà chăm sóc ông rể Tây hơi kỹ, trái cây để đầy bàn, chim cu nhốt hàng lồng, bà còn thuê cả đầu bếp xịn về nấu những bữa ăn hết ý, đãi Leung. Ông rể tương lại thích gì bà cũng chiều, trừ việc bước qua cửa buồng cô con gái rượu.
- Đấy là phong tục phương đông chúng tôi. Bà Hiền nói với Leung. Nhập gia tùy tục. Bao giờ ông làm lễ hỏi và tổ chức đám cưới thì nó mới là vợ ông.
- Ô kê!
Lễ hỏi của ông Tây đầy bia Heineken và thuốc lá ba số! Bà Hiền hớn hở như người bắt được vàng. Còn Lan thì cố nuốt nước mắt để ngồi bên cạnh ông Tây lạ hoắc. Cô lo sợ. Xứ sở Ôxtrâylia đối với Lan xa xôi như một hành tinh khác. Cô chỉ biết đất nước ấy qua tivi, trong những chương trình giới thiệu động vật, những đàn trâu rừng đếm không bao giờ hết, những bầy ngựa vằn phóng như bão cồn trên các bình nguyên. Và hổ, sói, sư tử… Còn phong tục, con người Ôxtrâylia thì Lan mù tịt. Tại sao người ta chỉ giới thiệu động vật mà không giới thiệu con người? Tại sao? Người ta kể rằng, ở đâu đó có thằng Tây lấy vợ Việt Nam, xài ít bữa rồi “sang tên” cho Tây khác. Câu chuyện đó ám ảnh Lan không dứt. Cả trong giấc ngủ cô cũng mơ thấy cảnh mình bị “sang tên”.
Cô chạy sang buồng mẹ, van vỉ:
- Con xin mẹ! Đừng bán con. Con sợ lắm. Đói no, sướng, khổ gì con cũng ở Việt Nam thôi.
- Vớ vẩn! Chỗ sướng không ưng, lại chỉ muốn đâm đầu vào chỗ khổ. Ngày cưới đã định rồi, con lo mà chuẩn bị cho kịp. Đừng sụt sùi nữa.
Có một điều bà Hiền không nói ra nhưng Lan biết thừa: “Mẹ cô thách cưới mười nghìn đô la. Leung đưa hẳn mười hai nghìn. Và mẹ cô đã nhận rồi”.
Trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam, có một từ ghép dành cho bà Hiền trong trường hợp này – từ “gả bán”. Còn bà Hiền thì nói khác, rất cớ chế thị trường: “Phát huy vốn tự có”.
II. Những tên giết người
Cảnh sát dẫn bọn chúng ra trước vành móng ngựa: Gillbert Leung, Frank Cheung và Perry.
Lan ngồi ở ghế nạn nhân. Khi các quan tòa đi ra, cô gượng đứng dậy, nhưng ông chánh án ra hiệu bảo cô cứ ngồi yên. Bởi vì cô còn yếu lắm, những vết thương ở ngực vẫn còn nhức nhối. Cô đưa cặp mắt buồn bã và mệt mỏi nhìn chồng, nhìn Frank Cheung và Perry, như cố lý giải một điều gì đó. Một tai họa khủng khiếp đã ập đến với cô. Điều này cô biết rồi, biết từ máu và nước mắt. Nhưng vì sao, vì lẽ gì mà những người kia giết cô? Điều này thì cô không hiểu, nó nằm ngoài sức tưởng tượng của cô.
Lan về quê chồng mới được có một tháng. Tuần trăng mật vừa thừa thãi, vừa thiếu thốn. Thừa tiền tiêu, thừa những cái hôn và những cuộc vật lộn trên giường ngủ. Và thiếu quê hương, thiếu mẹ, thiếu tiếng cười trong veo của mấy đứa em, thiếu cả bát riêu cua ăn với bún rối.
Leung suốt ngày ở ngoài đồng cỏ với đàn bò của anh. Mãi chiều anh mới về cả người lẫn ngựa đều ướt đẫm mồ hôi.
Không phải bao giờ Leung cũng về nhà một mình. Đôi khi có ba con ngựa cùng phi nước đại từ đồng cỏ về nhà cô.
- Frank Cheung và Perry bạn thân của anh – Leung giới thiệu khách với vợ.
Lan mang rượu ra nhưng không ngồi cũng với các bạn của chồng. Cô không chịu được cái nhìn của họ. Cái nhìn như xoáy vào thân thể cô, đe dọa nhiều hơn thân thiện. Như một thứ linh cảm mơ hồ, cái ý nghĩ bị “sang tên” lại lẻn về, dày vò Lan, khiến cô mất ăn mất ngủ.
Trong hoàn cảnh này, cách xử sự khôn ngoan nhất là phải hết sức chiều chồng. Ngoài tính dịu dàng ra, người đàn bà chẳng có gì để tự vệ.
Chiều chiều, cô ra cổng, đón chồng bên chân ngựa, tặng chồng những cái hôn âu yếm nhất. Các món ăn cũng được cô nấu khéo, ngon nhất. Cô đón từng ý nghĩ của chồng để chiều theo.
- Anh thân yêu! Em pha cho anh một cốc ca cao nhé!
Hoặc:
- Đôi giày của anh, em đánh xi rồi đấy. Anh xem có được không?
Và:
- Thượng đế của em! Đừng bắt em phải xa anh nhé! Không có anh, em sợ.
- Hằng ngày, anh phải ra đồng cỏ, Lan ạ! Cả em nữa, em cũng phải ra đồng cỏ. Hãy tập cưỡi ngựa đi.
- Cám ơn anh! Em thích cưỡi ngựa lắm. Nhưng bây giờ thì em không tập cưỡi ngựa được. Chúng ta sắp có con, anh thân yêu ạ!
- Ô! Đấy là một sự kiện. Nhưng em vẫn có thể tập cưỡi ngựa được, đi bước một thôi.
Chiều hôm ấy, Lan cưỡi ngựa trắng đi rất thong thả dọc bìa rừng. Cô thấy Fank Cheung và Perry ở phía trước.
- Lan! Vào đây với anh!
Perry gọi, còn Frank Cheung thì chạy ra, kéo Lan khỏi yên ngựa và bế thốc cô vào rừng. Lan đã chống cự quyết liệt. Song vô ích. Hai đứa thay nhau hiếp cô. Khi mũi dao găm dơ lên, Lan đã chắp tay lạy chúng nài xin:
- Đừng giết em, tội nghiệp. Hãy tha cho em!
Nhưng mũi dao vẫn cắm vào ngực cô. May thay, trong giây phút nguy hiểm nhất, một phát súng đã nổ. Ấy là phát súng của người gác rừng.
Trong bệnh viện, Lan luôn miệng gọi tên chồng. Ở xứ sở xa lạ này, chỉ có Leung là cô có thể trông cậy. Chỉ chồng cô, chỉ con người mà cô rất mực chiều chuộng ấy, may ra mới có thể che chở được cho cô. Cô không biết rằng cả Leung cũng đã bị bắt.
Giờ đây, bọn chúng đang đứng trước vành móng ngựa.
Ông chánh án hỏi Frank Cheung:
- Vì sao anh và Perry giết cô Lan?
- Chúng tôi được trả tiền, thưa ông.
- Ai trả?
- Chồng cô ta – Leung.
- Các anh được trả bao nhiêu về việc này?
- Một trăm nghìn đô la.
- Leung có viết giấy cam kết với các anh không?
- Có.
- Gillbert Leung! Anh hãy trả lời tòa! Anh có nghe rõ lời khai của Frank Cheung vừa rồi không?
- Tôi nghe rõ.
- Anh có bác bỏ lời khai đó không?
- Không.
- Vậy, vì sao anh thuê Frank Cheung và Perry giết vợ anh?
- Vì tôi đã mua bảo hiểm cho vợ tôi và khoản bồi thường trong trường hợp này là năm trăm nghìn đô la. Khoản tiền ấy bằng năm mươi cô gái Việt Nam.
Bây giờ, báo chí Ôxtrâylia vẫn chưa thôi nhắc về vụ án Leung giết vợ.
Tôi sợ ở một nơi nào đó trên đất nước ta, một Leung khác đã lại gặp một bà Hiền khác. Vì thế, tôi viết lại câu chuyện này – Chuyện một bà buôn gà Việt Nam gặp một tay buôn người phương Tây.
Hết