Tôi tưởng Spits sẽ bị nhức đầu khi thức dậy, nhưng ông ta tỉnh bơ nói, chưa bao giời bị khó chịu sau khi say. Suốt ngày hôm đó ông ta dọn dẹp ngăn nắp túp lều phòng khi trở lại. Lấy từ góc lều một bình rượu, ông ta bỏ cùng quần áo, tấm lưới, khoai tây, cá khô vào một cái túi sẽ đeo trên vai. Trong khi tôi và Harkat chỉ có mấy cái răng beo và những quả cầu dẻo, nên chúng tôi đề nghị san sẻ gánh nặng với ông ta. Nhưng Spits làu bàu:
“Mỗi người phải tự vác thánh giá của mình.”
Ban ngày chúng tôi làm vài việc lặt vặt. Tôi cắt tóc lòa xòa trước mắt bằng lưỡi dao cạo rỉ sét của Spits. Tôi và Harkat thay thế những con dao tự tạo đã bị mất trên hồ bằng những con dao thật của Spits bỏ quanh lều. Harkat vá víu lại những lỗ áo rách bằng mấy mẩu dây.
Đêm xuống, chúng tôi khởi hành, theo hướng đông nam, tiến tới một rặng núi xa xa. Spits tỏ ra buồn rầu đến không ngờ khi phải rời bỏ túp lều. Ông thở dài nói:
“Đây là thứ gần gũi với một mái ấm nhất, kể từ khi tôi bỏ nhà ra đi năm mười hai tuổi.“
Nhưng tới nửa đêm, sau nhiều ngụm rượu, ông ta lại hát ca đùa giỡn.
Tôi sợ Spits bị kiệt sức – hai chân ông ta lảo đảo còn hơn những quả cầu dẻo chúng tôi đeo theo – nhưng say bí tỉ, bước chân ông không hề nhầm lẫn, tuy nhiên luôn ngừng lại, để “xả nước đáy tàu ra”. Khi chúng tôi cắm trại dưới một cây rậm rạp vào buổi sáng, ông ta lăn đùng ra ngủ ngay, ngáy vang như sấm suốt ngày, chỉ thức dậy trước lúc mặt trời lặn, liếm môi, quơ tay tìm bình rượu.
Mấy đêm sau, khi chúng tôi ra khỏi đồng bằng để lên núi, thời tiết xấu dần. Mưa gần như liên tục, làm chúng tôi vừa lạnh vừa cực khổ vì quần áo luôn ướt sũng. Trừ Spits. Rượu làm ông ấm áp và vui vẻ bất kể hoàn cảnh nào. Tôi quyết định thử chút đặc sản gia truyền của Spits, xem có bớt phần nao u ám không. Chỉ sau một ngụm, tôi lăn lộn trên đất, thở hồng hộc, mắt trợn trừng. Trong khi Harkat đổ nước vào họng tôi, Spits cười hô hố thúc giục tôi uống thêm:
“Kinh khủng nhất là hớp đầu tiên thôi.”
Qua tiếng ho sặc sụa, tôi cương quyết từ chối.
Thật khó mà hiểu nổi Spits. Nhiều lúc ông ta như một thủy thủ già hài hước, chất phát và thô lỗ. Nhưng càng gần ông ta, tôi càng nghĩ rất nhiều kiểu cách nói năng của ông ta đều là … đóng kịch. Giọng nói hề hà là có chủ đích gây ấn tượng ông ta là con người vô tâm, hời hợt. Nhưng có những lúc, khi tâm trí u ám, ông ta lầm bầm đe dọa những kẻ đã phản bội mình.
Một đêm trong cơn say, ông ta làu nhàu nói:
“Chúng tưởng là quá cao…quá vĩ đại…hơn thằng già Spits ngu ngốc này. Bảo ta là đồ súc sinh, không đáng sống chung tàu với chúng. Ta sẽ cho chúng thấy. Khi tar a tay, chúng sẽ phải chịu đau khổ.”
Spits không bao giờ nói sẽ “ra tay với chúng” ra sao. Chúng tôi không nói với ông ta năm chúng tôi đến đây là năm nào, nhưng ông ta biết thời gian đã trôi qua – ông thường dùng câu “thế hệ các anh” hoặc “thời đại tôi mọi chuyện đều khác”. Tôi thấy không có cách nào để Spits trở lại, ông ta cũng vậy - điệp khúc thông thường của ông ta khi tự thương thân trách phận là: “Đây là nơi ta sống và đây cũng là nơi ta sẽ chết”. Tuy nhiên ông vẫn thề sẽ trở lại với “những kẻ đã tệ bạc với ta”, bất chấp sự thật những kẻ đó đã chết và mồ yên mả đẹp từ mấy thập kỷ trước rồi.
Đêm khác, trong khi đang nói về công việc trên tàu Hoàng tử Pariahs, Spits ngưng bặt trừng trừng nhìn chúng tôi bằng cặp mắt vô hồn, rồi nhỏ nhẹ nói:
“Đôi khi ta đã phải giết họ. Hải tặc là những con người lêu lỏng, không nhà. Nhưng chúng tôi không giết những kẻ bị chúng ta cướp bóc. Vậy mà đôi khi chúng phải giết. Đó là những kẻ không chịu đầu hàng. Chúng ta phải giết”.
Tôi nói:
“Nhưng tôi tưởng ông không lên những con tàu bị các ông tấn công? Ông kể là đã vớt những người nhảy xuống biển”.
Spits cười ảm đạm:
“Aaaa! Nhưng gã đàn ông dưới nước cũng chống cự quyết liệt như kẻ trên boong tàu. Một mụ đàn bà cũng thế. Đôi khi ta phải dạy cho chúng một bài học”.
Mắt hơi trong trẻo lại, Spits cười ngượng nghịu:
“Nhưng đó là trường hợp hiếm khi xảy ra. Tôi chỉ nhắc lại, để hai anh biết và tin vào tôi khi hữu sự. Không là kẻ sát nhân, nhưng tôi sẽ ra tay khi bị dồng đến đường cùng và để…cứu một người bạn”.
Hôm đó tôi và Harkat không ngủ nhiều. Luôn canh chừng khi Spits ngáy. Mặc dù chúng tôi mạnh hơn, nhưng ông ta vẫn là một mối nguy hiểm. Lỡ cái đầu say xỉn đó chợt nẩy ra ý tưởng giết người trong khi chúng tôi đang ngủ thì sao?
Harkat và tôi bàn tính khả năng bỏ tay cựu hải tặc này lại, nhưng có vẻ như không được đàng hoàng nếu để ông ta lâm vào tình thế khốn khổ trong núi. Dù vẫn theo kịp chúng tôi trên đường đi, nhưng Spits không biết phương hướng, sẽ bị lạc nếu bị bỏ lại một mình. Ngoài ra nếu tới được Hồ Linh Hồn, chúng tôi còn cần tới tài chài lưới của ông ta. Hai chúng tôi đều có thể bắt cá bằng tay, nhưng không biết nhiều về chuyện câu cá.
Sau cùng chúng tôi quyết định để ông ta đi cùng, nhưng cùng đồng ý phải canh chừng, chia phiên nhau ngủ, bỏ rơi ngay nếu thấy ông ta tỏ ra quá nguy hiểm.
Chúng tôi di chuyển chậm, nhưng chắc, qua rặng núi. Nếu thời tiết tốt hơn, chúng tôi đã có thể đi nhanh hơn, nhưng trời mưa làm đường bùn trơn trợt. Đời khi chúng tôi phải đổi hướng, đi vòng qua những vùng không thể vượt qua vì nước mưa và bùn.
Tôi hỏi Spits:
“Thường thường có mưa nhiều thế này không?”
“Nói thật, đây là một trong những năm khá đấy. Mùa hè ở đây nóng và kéo dài. Mùa đông rất tệ, chỉ thoáng qua một hoặc hai đếm. Hiếm khi nào mưa cả tuần vào thời gian này như năm nay.”
Dường như câu nói đó thấu tới trời. Sáng hôm sau, mưa tạnh. Trời trong xanh. Ban đêm, khi chúng tôi lên đường, đất khô ráo nhất kể từ khi tôi tới lều của Spits.
Đêm đó, chúng tôi lên tới đỉnh một ngọn núi nhỏ và đứng trên một một con dốc dẫn vào một đường nứt rộng và dài, kéo ra tới sườn núi. Đáy đường nứt đầy bùn và nước mưa, hai bên có gờ đủ rộng để bước qua. Xuống núi, chúng tôi ngừng lại một bờ đá rộng, buộc dây quanh người nối nhau như dây xích. Tôi đi trước, Spits ở giữa, sau cùng là Harkat, cùng lần từng bước qua con sông chảy xiết.
Lúc đó trời đã chạng vạng sang, chúng tôi không thấy một hang động nào, nhưng có nhiều kẽ nứt và những lỗ hổng lớn. Chúng tôi cởi dây, rồi mỗi người bò vào một lỗi hổng để nghỉ ngơi và tránh khỏi tầm nhìn của bất cứ con rồng nào bay qua. Dù không thoải mái chút nào, nhưng quá mệt mỏi vì leo trèo, tôi rơi ngay vào giấc ngủ một mạch cho tới cuối ngày.
Sau bữa ăn vội vàng - mấy miếng cá khô cuối cùng của Spits – chúng tôi lại buộc dây vào nhau và lên đường. Sau đó trời bắt đầu mưa phùn, nhưng trời trong suốt đêm, chúng tôi tiếp tục đi, không bị cản trở nào. Bờ đá không tời hết khe núi, nhưng có những gờ nhỏ, chúng tôi có thể bước qua. Trước khi trời sang, chúng tôi bò xuống một đồng bằng trải dài nhiều cây số. Cuối đồng bằng là một khu rừng tỏa sang hai bên tới mút tầm mắt.
Chúng tôi cân nhắc mọi khả năng. Vì không ai muốn ngủ trong lỗ hổng của vách đá nữa, và đường tới khu rừng rải rác bụi rậm, có thể làm nơi trú ẩn nếu rồng xuất hiện, nên chúng tôi quyết định tiến thẳng tới rừng cây. Chúng tôi ráng chạy qua cánh đồng trên đôi chân mỏi rả rời. Spist tự bồi dường bằng rượu, cố không để mất một giọt vì cánh tay co giật trong khi chạy.
Chúng tôi cắm trại ngay khi vừa qua khỏi bìa rừng.
Trong khi Harkat canh chừng Spits, tôi ngủ ngon lành cho tới xế chiều. Sau đó tôi và Harkat bắt được một con lợn rừng, và Spits hoan hỉ quay trên bếp lửa vừa mới nhóm. Chúng tôi ngốn ngấu món ăn nóng đầu tiên từ khi ra đi hơn hai tuần trước. Ngon không tả nổi! Sau đó, chúng tôi chùi sạch tay trên cỏ, rồi lại theo hướng đông bắc một cách chung chung - với cây cối rậm rạp che phủ - rất khó định hướng chính xác cho cuộc hành trình gian khổ xuyên rừng.
Chúng tôi đều ngạc nhiên khi ra khỏi rừng mấy giờ trước khi mặt trời lặn. Khu rừng rộng ngang nhưng không sâu. Đứng trên một vách đá nhỏ, chúng tôi nhìn xuống một cánh đồng. Tôi chưa từng thấy cỏ mọc cao và xanh mơn mởn đến thế bao giờ.
Nổi bật trên biển cỏ xanh là một ngôi nhà trắng to lớn cách chúng tôi chừng vài cây số. Ngôi nhà rực sáng như ngọn đèn pha dưới nắng chiều. Phấn khởi lẫn căng thắng, Harkat và tôi nhìn nhau cùng bật nói:
“Đến Quái Nhân!”
Spits trừng trừng nhìn ngôi nhà vẻ đầy nghi hoặc, rồi phun nước bọt xuống vách đá, khịt mũi:
“Rắc rối rồi!”