- Chúng đang bò lên đùi tôi.
Spits nói, run bần bật và vẫn chưa hạ chân xuống. Harkat cũng nói:
- Tôi cũng thế.
Tôi bảo:
- Cứ để chúng bò. Spits hạ chân xuống hết sức từ từ, cố gắng đừng đạp trúng con nhện nào.
Harkat hỏi:
- Cậu có thể nói với chúng và... điều khiển chúng được không?
- Tôi sẽ thử. Trước hết tôi cần tìm hiểu, đây có phải là tất cả số nhện chúng ta cần phải giải quyết không.
Ngày còn là một thằng nhóc, tôi rất mê loài nhện. Đó là lý do tôi bị liên can tới ông Crespley, qua màn trình diễn con nhện tarantula của ông – Quí bà Octa. Tôi có năng khiếu trao đổi thông tin với loài nhện và đã học cách điều khiển chúng bằng tư tưởng. Nhưng đó là chuyện trên Trái Đất. Liệu khả năng của tôi có hiệu quả với loài nhện tại đây hay không?
Tôi thăm dò bóng tối bằng tai. Hàng mấy trăm, có thể là mấy ngàn con nhện trong đường hầm, tràn ngập từ nền, vách tới mái trần. Tôi đang lắng nghe, một con rơi trúng đầu, và bắt đầu thăm dò da đầu tôi. Tôi để yên. Xét từ cách dò dẫm của con nhện trên đầu, tôi biết đây là những con tarantula trung bình. Nếu có con khổng lồ nào, cũng không nghe chúng di chuyển, hay có lẽ đang nằm chờ chúng tôi bước vào hang ổ?
Tôi thận trọng đặt mấy ngón tay lên thái dương. Chỉ vài giây sau con nhện đã phát hiện ra. Nó thăm dò mặt bằng mới, rồi bò lên tay tôi. Tôi hạ bàn tay và con nhện tới trước mặt (dù không thể nhìn thấy nó). Hít sâu một hơi, tôi tập trung sự chú ý vào con nhện, rồi bắt đầu thầm nói. Trước kia, khi làm chuyện này, tôi phải sử dụng một cây sáo để tập trung tư tưởng.
- Chào chú bé. Đây là nhà của chú hả? Chúng tôi không phải là những kẻ xâm lăng đâu. Chỉ đi qua thôi. Tôi có thể nói là chú rất xinh đẹp, lại thông minh nữa. Chú nghe được tôi ma, đúng không? Chú hiểu là chúng tôi sẽ không làm hại các chú. Chúng tôi chỉ mong có được một lối đi an toàn thôi.
Trong khi tiếp tục nói với con nhện – bảo đảm với nó về ý định hòa bình của chúng tôi, tán tụng nó và cố gắng thâm nhập vào đầu nó – tôi nới rộng giới hạn tư tưởng, phóng thẳng vào những con nhện chung quanh. Không cần thiết điều khiển hết cả một bầy khổng lồ, chỉ cần những con gần nhất. Nếu có tài và kinh nghiệm, người ta có thể dùng những con này để điều khiển những con còn lại. Tôi có thể làm được điều đó với những con nhện trên thế giới của tôi. Liệu có thành công tại đây, hay chúng tôi sẽ thành những con ruồi chết trong lưới nhện dưới mặt đất này?
Sau mấy phút, tôi thử trắc nghiệm khả năng mình. Cúi xuống, tôi để con nhện bò khỏi tay, xuống mặt đất, rồi nói với đám nhện xung quanh:
- Bây giờ chúng tôi cần tiếp tục đi, nhưng không muốn làm đau bất cứ chú em nào. Chúng tôi không nhìn thấy gì. Hãy tránh khỏi đường chúng tôi đi. Nếu tụ tập với nhau, chúng tôi không thể tránh né được các chú. Di chuyển đi, nhện xinh đẹp của tôi. Hãy tránh sang hai bên. Để cho chúng tôi đi thoải mái.
Không có gì xảy ra. Tôi đã lo sợ đến khả năng xấu nhất, nhưng vẫn cố gắng thuyết phục, thúc giục chúng tách ra. Với những con nhện bình thường, tôi có quyền lực hơn để ra lệnh cho chúng tránh đường. Nhưng không biết phản ứng của đám này ra sao, và tôi không muốn làm chúng nổi giận.
Nói suốt hai ba phút, cho đến khi tôi gần như muốn bỏ cuộc, tìm cách khác, Harkat bỗng nói:
- Chúng đang bò khỏi tôi.
Một lúc sau, Spits lên tiếng, giọng nghe như sắp khóc:
- Tôi cũng thế.
Chung quanh chúng tôi, đám nhện bắt đầu rút lui, từ từ nhích sang hai bên, nhưng tôi không cắt tư tưởng liên lạc với chúng, tiếp tục thầm nói trong đầu, cám ơn chúng, chúc tụng chúc, giữ cho chúng tiếp tục di chuyển.
Harkat hỏi:
- An toàn tiến tới được chưa?
- Được. Nhưng phải từ từ. Thăm dò bằng ngón chân mỗi khi bước.
Harkat nhích từng bước chân. Tôi theo sát sau, vẫn giữ liên lạc với những con nhện. Spits loạng choạng sau cùng, một tay níu áo tôi, một tay ôm bình rượu sát ngực.
Cứ như thế, chúng tôi đi trong một khoảng thời gian dài. Nhiều con nhện bò theo chúng tôi và một đám "lính mới" tham gia cùng chúng, đi dọc đường hầm. Không có giấu hiệu nào của những con khổng lồ. Kéo dài thời gian chuyện trò với chúng như vậy rất khó khăn, nhưng tôi vẫn cố tập trung. Sau chừng hai mươi phút, Harkat ngừng lại, nói:
- Tôi đã tới một cánh cửa.
Tiến lên bên anh ta, tôi đặt bàn tay lên mặt gỗ cứng, phủ đầy màng nhện. Nhưng lớp màng nhện đã cũ và khô, tôi phủi dễ dàng.
- Sao anh biết là một cánh cửa?
Tìm bàn tay tôi, Harkat đặt lên một quả nắm sắt. Tôi thì thầm:
- Mở được không?
- Phải thử mới biết.
Chúng tôi vặn quả nắm. Gần như không có sự cản trở nào. Cánh cửa bật mở vào trong ngay khi chốt cửa rút vào. Một âm thanh vo vo từ bên trong thoảng ra. Những con nhện quanh chúng tôi chạy ngược trở lại nửa mét.
- Có vẻ không ổn. Tôi vào một mình trước.
Vừa nói, tôi vừa lách qua Harkat, vào phòng và thấy mình đang đứng trên nền... gạch men cứng. Tôi gí mấy ngón chân trần mấy lần để biết chắc mình không lầm. Thấy tôi không tiến bước, Harkat hỏi:
- Sao vậy?
- Không có gì.
Nhớ đến lũ nhện, tôi nối liên lạc, bảo chúng đứng yên tại chỗ, rồi tiến lên một bước. Một thứ dài và mỏng lướt qua mặt tôi – cảm giác như một chân nhện khổng lồ! Tôi vội hụp người né tránh – đám nhện đã đưa chúng tôi vào bẫy! Chúng tôi sắp bị những con quái vật ăn tươi nuốt sống! Chúng tôi phải thoát thân cấp tốc khỏi đây, phải...
Nhưng... không có gì xảy ra. Không có cái chân dài lông lá nào vươn ra bắt tôi. Chẳng có âm thanh nào của một con nhện khổng lồ đang bò tới. Thật ra hoàn toàn không có một tiếng động nào, ngoài tiếng tim tôi đập thình thịch.
Từ từ đứng dậy, tôi dang hai tay sờ soạng. Tay trái chạm một sợi dây dài buông từ trên xuống, tôi giật nhẹ. Sợi dây như bị kẹt. Tôi giật lần nữa, mạnh hơn. Sau tiếng lách cách, ánh sáng chói chang tràn ngập gian phòng.
Tôi nhăn mặt, che hai mắt – sau bóng tối mịt mù trong hầm, ánh sáng này làm tôi lóa mắt. Phía sau, tôi nghe Harkat và Spits vội quay người tránh nguồn sáng chói lòa. Những con nhện không có phản ứng – sống trong bóng tối triền miên, chắc chúng đã không còn thị giác lâu rồi.
Harkat la lớn, hỏi:
- Cậu có sao không? Một cái bẫy hả?
- Không. Chỉ là một...
Tôi lẩm bẩm, mở hé mấy ngón tay, rồi buông tay xuống, sững sờ nhìn quanh.
- Darren!
Harkat kêu lên. Không thấy tôi trả lời, anh ta thò đầu vào phòng, hỏi:
- Cái gì mà...
Harkat ngừng bặt khi thấy những gì tôi đang lom lom nhìn. Chúng tôi đang ở trong một căn bếp rộng, giống như bất cứ nhà bếp hiện đại nào trên Trái Đất. Có một tủ lạnh – nơi phát ra tiếng vo vo – một bồn rửa bát, một tủ ly tách, một thùng rác, một siêu nấu nước, thậm chí trên bàn còn có cả một đồng hồ, dù kim đã đứng. Đóng cửa để ngăn lũ nhện, chúng tôi vội vàng lục soát tủ chén: cốc, đĩa, ly, nhiều lon đồ ăn và nước uống (không nhãn hiệu và hạn sử dụng). Tủ lạnh không có gì, nhưng vẫn hoạt động.
Spits tíu tít hỏi:
- Chuyện gì thế này? Những thứ này ở đâu ra? Còn... cái đó là gì?
Tới từ những năm 1930, chưa bao giờ ông ta thấy một tủ lạnh như thế này.
Vừa mở miệng trả lời, tôi chợt thấy một lọ muối trên bàn – dưới lọ muối là một mảnh giấy với những chữ viết nguệch ngoạc. Cầm mảnh giấy lên, tôi liếc qua rồi đọc lớn:
"Chúc quý ông một sáng tuyệt đối tốt lành. Nếu đã tới được đây, là các ngươi đang tỏ ra là rất xuất sắc. Sau vụ khó khăn đào thoát khỏi đền, các ngươi xứng đáng được giải lao – với sự cho phép của chủ nhân cũ nhà bếp này. Sau tủ lạnh có một đường hầm thoát hiểm bí mật, vài trăm mét dưới lòng đất. Sau đó, một con đường ngắn sẽ dẫn tới thung lũng, có Hồ Linh Hồn. Theo hướng nam, các ngươi sẽ tìm ra. Chúc mừng đã vượt qua những trở ngại cho đến lúc này. Hy vọng tất cả sẽ tốt đẹp cho tới hồi kết thúc. Bạn thân và ân nhân chân thành nhất của các ngươi – Desmond Tiny."
Trước khi bàn bạc về lá thư, chúng tôi đẩy tủ lạnh sang một bên, kiểm tra phía sau. Lão Tí Nị đã cho biết sự thật về đường hầm này, nhưng chưa thăm dò, chúng tôi không thể biết chắc nó sẽ đưa tới đâu.
Trong khi Spits quan sát cái tủ lạnh, luôn miệng xuýt xoa, tôi ngồi xuống, vừa rót một thứ nước uống có ga, vừa hỏi Harkat:
- Anh nghĩ sao?
- Chúng ta phải làm theo như... lời ông Tí Nị đã nói. Dù sao cũng phải đi về hướng nam.
- Tôi không thích câu "hy vọng tất cả sẽ tốt đẹp cho tới hồi kết thúc". Có vẻ như lão không tin là sẽ có một kết thúc tốt đẹp.
Harkat nhún vai:
- Có thể ông ấy chỉ nói để... làm chúng ta lo lắng. Ít ra, chúng ta cũng được biết là đã tới gần...
Hai chúng tôi giật thót người đứng bật dậy vì một tiếng la chói lói. Spits quay lưng lại tủ chén, Spits run rẩy, nước mắt đầm đìa.
Tôi hốt hoảng hỏi:
- Có chuyện gì?
Đưa lên một chai đầy chất lỏng vàng sậm, Spits cười như mếu:
- Một chai... một chai whisky!
Mặt ông ta e sợ như Kulashka quì gối trước thần Quái Nhân của họ.
Mấy tiếng sau, Spits uống tới say đứ đừ, nằm ngáy khò khò trên thảm sàn. Harkat và tôi sau bữa ăn no nê, ngồi dựa tường bàn tính về cuộc phiêu lưu của chúng tôi, về Tí Nị và căn bếp. Harkat nói:
- Tôi vẫn thắc mắc... những thứ này từ đâu tới. Tủ lạnh, đồ ăn, nước uống... tất cả đều là của thế giới chúng ta.
- Cả căn bếp nữa. Tôi thấy nó cứ như một buồng nguyên tử rơi ra.
- Cậu nghĩ ông Tí Nị đã chuyển toàn bộ căn buồng này tới đây?
- Có vẻ như thế. Tôi không biết vì sao lão làm như vậy. Nhưng chắc chắn Kulashka không dựng nên nơi này.
- Không.
Một lúc sau Harkat bỗng hỏi:
- Kulashka có làm cậu nhớ đến... ai không?
- Ý anh là sao?
- Hình dáng và cách nói của họ làm tôi... tôi nhớ ra rồi. Họ giống những Giám Hộ Máu.
Giám Hộ Máu là những con người kỳ lạ sống trong Núi Ma-cà-rồng, giải quyết việc những ma-cà-rồng chết để được lấy nội tạng. Mắt họ trắng dã như Kulashka, nhưng tóc không hồng, và nói một ngôn ngữ lạ lùng, mà bây giờ nghĩ lại, tôi thấy rất giống với ngôn ngữ của Kulashka.
Tôi ngập ngừng nói:
- Có nhiều tương tự. Nhưng tóc Kulashka màu hồng, mắt trắng đục hơn. Nhưng tại sao họ lại có thể là có mối quan hệ với nhau chứ?
- Ông Tí Nị có thể đã chuyển họ tới đây. Cũng có thể đây là nơi chính gốc của Giám Hộ Máu.
Ngẫm nghĩ về câu nói của anh ta một lúc, rồi tôi đứng dậy mở cửa. Harkat hỏi:
- Cậu làm gì vậy?
- Thử kiểm tra xem mình nghĩ đúng không.
Tôi lom khom nhìn quanh. Hầu hết nhện đã bỏ đi, chỉ còn ít con ở lại đang săn mồi hoặc nghỉ ngơi. Tôi liên lạc bằng tinh thần, gọi một con. Nó bò lên, nằm gọn lỏn trên bàn tay tôi. Đó là một con nhện lớn màu xám với những đốm xanh lục khác thường. Nâng nó lên chỗ sáng, tôi quan sát thật kỹ mọi khía cạnh, để hoàn toàn tin chắc, rồi đặt trả nó xuống sàn, đóng cửa lại. Tôi nói với Harkat:
- Nhện Ba'Shan. Quí bà Octa phối giống với nhện Ba'Helen trong Núi Ma-cà-rồng mà sinh ra chúng.
- Cậu chắc chứ?
- Chắc. Vì cụ Seba đã lấy tên tôi đặt cho chúng. Lão Tí Nị đã đem chúng tới đây, cũng như căn bếp, vì vậy tôi đoán lão cũng có thể đã đưa một số Giám Hộ Máu tới nơi này. Nhưng nhện Ba'Shan không mù và Giám Hộ Máu không có tóc màu hồng. Nếu thật sự lão Tí Nị đã làm điều đó, thì chắc là đã từ mấy thập kỉ trước, tính theo thời gian của thế giới này, hoặc có thể còn lâu hơn nữa... Vì phải cần một thời gian dài mới làm họ và những con nhện biến đổi đến thế.
- Có thể chính ông Tí Nị đã muốn Giám Hộ Máu xây dựng Đền Quái Nhân. Có thể căn bếp này chỉ là... một trò đùa. Nhưng còn nhện, đem tới đây làm gì?
- Tôi không biết. Khi nối kết chúng lại với nhau, không có gì ăn khớp. Phải còn một điều gì khác, một ý nghĩa lớn hơn mà chúng ta đã sơ ý bỏ qua.
- Có lẽ câu trả lời nằm trong căn bếp này.
Harkat đứng dậy, lần lượt quan sát nền gạch, bàn và tủ chén:
- Chi tiết đều ổn. Có thể câu trả lời được giấu đâu đó... giữa những thứ này.
Anh ta đi quanh phòng, rồi từ từ tiến tới cánh cửa tủ lạnh gắn đầy những tấm bưu ảnh. Đó là những điểm du lịch hấp dẫn trên khắp Trái Đất: Big Ben, Tháp Effel, Tượng Nữ Thần Tự Do v...v... Tôi đã nhìn thấy những tấm thiệp này nhưng không quan tâm. Harkat nói:
- May ra có manh mối hoặc hơn thế nữa, mặt sau có lời hướng dẫn...
Gỡ một tấm, lật mặt sau, Harkat thầm đọc, rồi hấp tấp gỡ thêm tấm nữa, tấm nữa.
- Harkat? Anh không sao chứ? Chuyện gì thế?
- Không
Thoáng nhìn tôi, anh ta nhét mấy tấm bưu ảnh vào dưới cái áo choàng xanh rách tả tơi, rồi với tay gỡ thêm những tấm khác.
Tôi hỏi:
- Cho tôi xem được không?
- Không. Sau này tôi sẽ cho cậu thấy. Bây giờ chúng ta đừng lãng trí vì bất cứ chuyện gì. Tiếc là chúng ta không có... chút nước thánh nào. Phải chi có một...
Harkat ngừng bặt khi thấy tôi tủm tỉm cười và đưa tay vào trong áo. Anh ta reo lên:
- Không thể!
Tôi đưa cao chai thủy tinh đã nhét vào trong áo trong vụ nổ ban thờ. Cười khà khà, tôi hỏi Harkat:
- Sao? Hơi bị khôn hả?
- Ôi! Nếu cậu là con gái... tôi sẽ hôn cậu ngay.
Trao cho anh ta cái chai và quên khuấy mấy tấm bưu ảnh, tôi hỏi:
- Sao anh nghĩ nó sẽ thành công? Với sức mạnh của nọc độc này, Quái Nhân chưa kịp nhe nanh đã bị nổ tung đầu rồi.
- Có thể nó sẽ không nổ nếu không gặp một thành phần trong không khí, làm nó thay đổi.
Lấy lại cái chai, tôi cười nói:
- Một thay đổi lớn. Sẽ sử dụng nó vào chuyện gì?
- Chắc phải có một thứ chúng ta cần... cho nổ. Chẳng hạn mặt hồ được che phủ, chúng ta phải nổ một lồi vào. Điều làm tôi suy nghĩ nát óc hơn là... những quả cầu dẻo.
Lấy từ trong áo ra một quả, Harkat vừa tung hứng vừa nói:
- Chắc chắn chúng phải có một mục đích, nhưng tôi nghĩ mãi không ra.
- Tôi tin chắc rồi mọi chuyện sẽ sáng tỏ.
Mỉm cười, tôi cất chai nọc độc, rồi chỉ vào Spits đang li bì ngủ:
- Chúng ta nên cám ơn khi nào ông ta tỉnh dậy.
- Cám ơn gì? Cám ơn giết cả đống người Kulashka, hay cám ơn vì chúng ta sém bị chết?
- Anh không thấy sao? Ông ta làm.... có mục đích. Lão Tí Nị muốn chúng ta tới đây, nhưng chúng ta sẽ không tới, nếu ông ta không xen vào. Không có ông ta, chúng ta đã không có nước thánh, chúng ta cũng không biết đặc tính gây nổ của nó, và... chúng ta đã bị nổ tan xác thành từng mảnh nhỏ.
Harkat cười:
- Cậu nói đúng. Nhưng một câu cám ơn cũng... vô ích. Ông ta chỉ quan tâm tới whisky. Bây giờ có chửi rủa hay tâng bốc lên tận mây xanh, ông ta cũng cóc cần.
- Chính xác.
Sau đó chúng tôi nằm nghỉ, và dành khoảnh khắc tĩnh lặng trước khi ngủ để suy nghĩ về những chuyến phiêu lưu của chúng tôi, về những vấn đề đầy khó hiểu của thế giới này, và tự hỏi còn những trắc trở, nguy nan nào nữa đang chờ chúng tôi cuối đường, trong thung lũng Hồ Linh Hồn.